1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn

80 2,5K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Thúy Liễu
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 403,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyềnthừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủthể hưởng thừa kế di sản chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc.- Đối với cá nhân người để lại tài sản

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa giáo dục chính trị

Trong quỏ trỡnh làm Khúa luận tốt nghiệp, bản thõn đó nỗ lực cố gắng

để hoàn thành tốt khúa luận Tuy nhiờn, trong thời gian thực hiện khúa luậntốt nghiệp bản thõn cũng đó nhận được sự giỳp đỡ nhiệt tỡnh và hiệu quả cả vềvật chất lẫn tinh thần hay những tiền đề lý luận cần thiết của bạn bố, gia đỡnh,những người thõn thớch, cỏc thầy cụ giỏo Đặc biệt, được sự giỳp đỡ nhiệt

Trang 2

tình của giáo viên hướng dẫn Phạm Thị Thúy Liễu đã giúp tôi hoàn thành tốtkhóa luận này.

Vì thế, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:

- Trường Đại học Vinh, khoa Giáo dục chính trị, khoa Luật và các thầy

cô giáo đã cho tôi những tiền đề lý luận cần thiết để thực hiện việc nghiên cứu

đề tài và hoàn thành tốt khóa luận này

- Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Thúy Liễu – người trực tiếp hướngdẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận này

- Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần,luôn sát cánh bên tôi giúp tôi hoàn thành tốt công việc của mình

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận do năng lực và trình

độ có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót mong quý thầy cô

và bạn đọc có những phản hồi bổ sung để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục của đề tài 4

CH ƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ THEO DI CHÚC 5

1.1 Thừa kế và các nguyên tắc về thừa kế 5

1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 5

1.1.3 Các nguyên tắc thừa kế 6

1.2 Phân loại thừa kế 12

1.2.1 Thừa kế theo di chúc 12

1.2.2 Thừa kế theo pháp luật 14

Tiểu kết chương 1 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC 18

2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc 18

2.1.1 Về chủ thể 18

2.1.3 Về nội dung của di chúc 28

2.1.4 Về hình thức của di chúc 33

Trang 4

2.2 Hiệu lực của di chúc 41

2.3 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 46

2.4 Một số nhận xét, đánh giá về tình hình áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc 58

2.4.1 Đánh giá và nhận xét chung 58

2.4.2 Những hạn chế trong việc giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc 60

2.4.3 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại trong quá trình giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc 60

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC 63

3.1 Một số định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện các quy định để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc 63

3.2 Một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chế định thừa kế hiện nay 64

3.2.1 Sự đồng ý của cha, mẹ đối với con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi cần có trước khi người con lập di chúc, sự đồng ý đó phải bằng văn bản và khi cha mẹ đã đồng ý rồi thì không có quyền thay đổi 64

3.2.2 Về tính hợp pháp của di chúc miệng 65

3.2.3 Cần hướng dẫn cụ thể hơn về di chúc chung của vợ, chồng 67

3.2.4 Di chúc bị thất lạc 69

Tiểu kết chương 3 72

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thừa kế tài sản là một chế định pháp luật quan trọng trong Bộ luậtDân sự Việt Nam năm 2005, thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước đối với quyền

sở hữu tài sản riêng của cá nhân Di sản thừa kế của công dân được để lại rấtphong phú về chủng loại, đa dạng về tính năng sử dụng; bao gồm: động sản,bất động sản Trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội phát triển về mọi mặt,trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ để tạo ra của cảivật chất Tài sản của mỗi cá nhân được xác lập do hoạt động sản xuất kinhdoanh, cung ứng dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế ngày càng lớn và đadạng Do vậy, khi một cá nhân qua đời thì việc lập di chúc và việc hưởng disản của người đó trở thành một vấn đề lớn trong xã hội, được nhiều ngườiquan tâm Di chúc là sự bày tỏ ý chí của người để lại di sản nhằm định đoạttoàn bộ hoặc một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mìnhcho một hoặc nhiều người sau khi người đó chết Bộ Luật Dân sự Việt Namgiành cả một Chương (Chương XXIII) với 28 Điều (từ Điều 646 đến 673) quyđịnh về thừa kế theo di chúc

Tuy nhiên, các quy định về thừa kế theo di chúc vẫn còn nhiều điểm gâytranh luận cả về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó dẫn đến nhữngtranh chấp xảy ra xoay quanh vấn đề thừa kế theo di chúc là không ít trong xãhội hiện nay Những khó khăn thường được thể hiện trong việc xác định phải

có những điều kiện gì thì di chúc mới được coi là hợp pháp, điều kiện củangười lập di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội dung của di chúc và hìnhthức của di chúc Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về các điềukiện có hiệu lực của di chúc, hiệu lực của di chúc hay cách phân chia 2/3 suấtcủa những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc… còn cónhững cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giốngnhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về thừa kế theo

di chúc

Trang 6

Hàng năm có hàng ngàn vụ án kiện về thừa kế mà Tòa án nhân dân cáccấp phải giải quyết, nhưng pháp luật về thừa kế và những quy định pháp luậtkhác liên quan đến thừa kế chưa thật sự đồng bộ và thống nhất, vì thế nhiều vụtranh chấp thừa kế đã phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao.Nhiều bản án, quyết định của Tòa án vẫn bị coi là chưa "thấu tình đạt lý" Từ

thực trạng này, việc lựa chọn vấn đề "Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo

di chúc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn " để nghiên cứu và thực hiện đề

tài khoá luận tốt nghiệp là đáp ứng được yêu cầu về tính cấp thiết trong lýluận và trong thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Thừa kế theo di chúc vừa là vấn đề rộng và phức tạp, vừa có lịch sửhình thành và phát triển khá phong phú Chế định thừa kế nói chung và thừa kếtheo di chúc nói riêng được qui định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã hoànthiện hơn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu khoa học về thừa kế theo dichúc cũng không nhiều Một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, trên cácbáo mới chỉ dừng ở mức độ trả lời các câu hỏi về áp dụng pháp luật vào quan

hệ thừa kế cụ thể hoặc mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh như: Về thờiđiểm mở thừa kế, về điều kiện của những người được hưởng di sản không phụthuộc vào nội dung của di chúc, về quyền thừa kế của người con nuôi hay phântích một tranh chấp để xác định chủ thể hưởng di sản thừa kế theo pháp luật…

Vấn đề thừa kế nói chung còn được nghiên cứu khái quát ở một số

sách chuyên khảo có tính chất phổ thông, như: Thừa kế của công dân Việt

Nam từ 1945 đến nay, NXB Tư Pháp 2004, sách chuyên khảo của T.S Phùng

Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội 2007, sách chuyên khảo của

T.S Phùng Trung Tập Ngoài ra, trong thời gian qua đã có một số công trìnhnghiên cứu ở bậc sau đại học, các luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị

Vĩnh về "Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hồng Bắc về "Vấn đề thừa kế theo pháp luật ở Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Tuấn về "Những qui định chung về quyền

Trang 7

thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Duy

Thanh về "Chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Chế Mỹ Phương Đài về "Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự

Việt Nam" Những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chủ yếu

mới dừng ở phạm vi phân tích các quy định của pháp luật và đưa ra nhữngtình huống giả thiết để bình luận các quy định của pháp luật

Việc chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để tìm hiểu về vấn đề này một cách hệ

thống toàn diện cả về lý luận và thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ nội dung, cơ sở lý luận vàthực tiễn của các quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc thông qua việcphân tích các quy định của Pháp luật Dân sự hiện hành về di chúc, hình thức dichúc, các điều kiện có hiệu lực của di chúc, đánh giá thực trạng những tranhchấp dân sự liên quan đến thừa kế theo di chúc và đưa ra các kiến nghị hoànthiện pháp luật về giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc ở nước ta

3.2 Nhiệm vụ

Nhằm mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài dự kiến có các nhiệm vụnghiên cứu sau đây:

- Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra như:

+ Các vấn đề lý luận về pháp luật thừa kế;

+ Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật thừa kế theo di chúc;+ Một số vấn đề về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc;

- Đánh giá thực trạng các tranh chấp Dân sự về tài sản thừa kế liên quanđến thừa kế theo di chúc

- Nghiên cứu tham khảo tài liệu đã công bố liên quan đến đề tài

- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về việcgiải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc

Trang 8

4 Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạmpháp luật Việt Nam về thừa kế theo di chúc và thừa kế nói chung trong Bộluật Dân sự 2005 Do mức độ phức tạp trong lĩnh vực thừa kế nói chung vàvấn đề thực tiễn của nước ta nói riêng, trong đề tài khoá luận tốt nghiệp nàykhông thể đề cập và giải quyết được vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tốnước ngoài Cùng với việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật, trong đề tàikhoá luận cũng đề cập và phân tích thực tiễn thi hành và áp dụng các quyphạm thừa kế theo di chúc, nhất là thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kếtrong ngành Toà án nhân dân Ngoài ra, khi phân tích các quy định cụ thể,cũng tham khảo thêm một số quy định tương ứng trong pháp luật một số nước

để so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị có tính tham khảo nhất định

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh về Nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó,những phương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống

kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra

Một số vụ án giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc cũng được sửdụng có chọn lọc để bình luận và các số liệu thống kê của ngành Tòa án nhândân cũng được tham khảo để việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khoá luậnđược kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật thừa kế

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thừa

kế theo di chúc

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả

áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc

Trang 9

CH ƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ THEO DI CHÚC

1.1 Thừa kế và các nguyên tắc về thừa kế

1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

Thừa kế là quan hệ tài sản, nhưng là quan hệ tài sản có tính đặc thù.Trong các quan hệ dân sự khác, các bên chủ thể đều còn sống và ý chí của cácbên được thể hiện đồng thời khi xác lập giao dịch, còn quan hệ thừa kế di sảnchỉ phát sinh khi bên có tài sản chết hoặc được xác định là đã chết Vậy, thừa

kế được hiểu là "sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống".

Quyền thừa kế là chế định pháp luật và quan hệ thừa kế là quan hệ phápluật dân sự được các quy phạm pháp luật điều chỉnh phù hợp với những điềukiện, trình tự để lại di sản và nhận di sản của các chủ thể tham gia vào quan

hệ đó Nếu thừa kế tồn tại trong mọi hình thái kinh tế - xã hội thì quyền thừa

kế chỉ phát sinh khi xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước Pháp luật vềthừa kế phản ánh bản chất giai cấp tồn tại trong mỗi chế độ xã hội nhất định

và có thể thay đổi phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhấtđịnh của mỗi quốc gia

Tất cả sự quy định của nhà nước nhằm tác động, điều chỉnh quá trìnhdịch chuyển tài sản từ một người đã chết sang người còn sống sẽ hình thànhkhái niệm quyền thừa kế theo nghĩa khách quan của nó

Quyền thừa kế là một chế định của ngành luật dân sự bao gồm một tổnghợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điềuchỉnh quá trình dịch chuyển những lợi ích vật chất từ người chết cho nhữngngười còn sống khác

Việc ghi nhận và xác định các quyền, nghĩa vụ nói trên không phải hoàntoàn do ý chí chủ quan tuyệt đối của giai cấp lãnh đạo xã hội, dù rằng phápluật là ý chí của giai cấp đó Bằng ý chí chủ quan của mình trên cơ sở dựa vàođiều kiện vật chất của xã hội, Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền cũng như

Trang 10

xác định các nghĩa vụ trong lĩnh vực thừa kế cho các cá nhân và các chủ thểkhác.

Pháp luật của bất kỳ nhà nước nào cũng phải xuất phát từ cơ sở kinh tế,phù hợp với thực tế khách quan và do cơ sở kinh tế của xã hội quyết định Khichế độ kinh tế thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong sự quy địnhcủa pháp luật

Thừa kế nói chung là quá trình dịch chuyển di sản từ người đã chết chongười còn sống Nếu quá trình dịch chuyển này được thực hiện dựa trên ý chícủa người đã chết thể hiện trong di chúc mà họ để lại sẽ được gọi là: Thừa kếtheo di chúc Mặt khác, nếu sự dịch chuyển trên được thực hiện “Theo hàngthừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định” sẽ được gọi là:Thừa kế theo pháp luật

1.1.3 Các nguyên tắc thừa kế

Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chungcho cả hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật đã xuấthiện ngay từ khi có những văn bản pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam dânchủ cộng hoà

Dựa trên những nguyên tắc về quyền dân sự cơ bản của công dân đượcquy định trong Hiến pháp năm 1946 Sác lệnh số 97- SL ngày 22/5/1950 đã

quy định những nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ: “Đàn bà ngang quyền

với đàn ông về mọi phương diện” Nguyên tắc này được coi như định hướng

chủ đạo trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệdân sự nói chung và quan hệ thừa kế tài sản nói riêng trong các văn bản phápluật sau này

Những nguyên tắc pháp luật thừa kế đã thể hiện rõ bản chất và nhữngđặc trưng pháp luật về thừa kế ở nước ta, vì vậy từ năm 1945 đến nay, nhìnchung những nguyên tắc đó không thay đổi Những nguyên tắc pháp luật vềthừa kế ở Việt Nam có thể kể đến cụ thể như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế.

Trang 11

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là côngdân, tổ chức Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thểnhất định, đó là chủ thể để lại tài sản và chủ thể hưởng thừa kế di sản Quyềnthừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủthể hưởng thừa kế di sản (chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc).

- Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợppháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thể hiệnquyền định đoạt tài sản của bản thân sau khi họ chết Di chúc là hình thức xácđịnh ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu củamình trước khi chết Quyền của người lập di chúc bao gồm:

1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia disản

Quyền định đoạt của người có tài sản lập di chúc chỉ có hiệu lực khiviệc định đoạt bằng di chúc thoả mãn các điều kiện về di chúc hợp pháp đượcquy định tại điều 652 Bộ luật dân sự Nếu người lập di chúc không tuân theonhững điều kiện của di chúc hợp pháp thì di chúc đó bị xác định là không hợppháp

Tuy ý chí của người có tài sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọngnhưng quyền định đoạt của người có tài sản không phải là tuyết đối Trongmột số trường hợp, pháp luật có quy định quyền của những người thừa kế cóliên quan tới người lập di chúc, đó là quyền của những người thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung của di chúc Như vậy, quyền định đoạt tài sản củangười để lại di chúc không vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật thừa kế

Quyền tự do ý chí của cá nhân được thể hiện không những trong việclập di chúc để định đoạt tài sản của họ mà còn thể hiện ngay trong việc họkhông lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi họ chết Đây cũng là cách

Trang 12

thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để định đoạt tài sảncủa họ mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để di sản của họ cho những người cóquyền thừa kế theo pháp luật.

Quyền từ chối nhận di sản thừa kế được pháp luật cho phép nếu phùhợp với điều kiện, nguyên tắc, thời hạn theo quy định trên Nhưng nếu ngườithừa kế từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của bản thân

cá nhân họ với người khác thì pháp luật không chấp nhận Điều kiện kinh tếcủa người có quyền hưởng thừa kế trước khi nhận di sản là không thoả mãncho việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người đó với người khác nhưng domuốn trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản đó mà đã thể hiện quyền tự

do ý chí của mình bằng việc không nhận di sản thì không được pháp luật thừanhận, người thừa kế này buộc phải nhận di sản để thực hiện nghĩa vụ tài sảnđối với người có quyền

Từ chối quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc cũng là sự thể hiện ýchí của người được chỉ định thừa kế theo di chúc đã không nhận thừa kế theo

sự định đoạt của người để lại di sản

Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thuộchàng thừa kế theo luật được hưởng di sản thì việc thể hiện ý chí của người đó

có thể xảy ra các trường hợp sau:

1.Chỉ từ chối hưởng thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyềnhưởng thừa kế theo pháp luật, nếu di sản chia theo pháp luật, người này vẫnthể hiện ý chí nhận kỉ phần di sản được thừa kế theo pháp luật;

2 Chỉ từ chối hưởng thừa kế theo pháp luật mà không từ chối quyềnhưởng thừa kế theo di chúc;

3 Từ chối cả quyền hưởng thừa kế theo di chúc và từ chối quyềnhưởng thừa kế theo pháp luật

Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế.

Trang 13

Sác lệnh số 97- SL có quy định quyền định đoạt của những người cóquyền thừa kế trong việc hưởng di sản Theo quy định tại Điều 11 Sác lệnh

này thì: “Trong lúc sinh thời, người chồng goá hay người vợ goá, các con đã

thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung”.

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, “vợ và chồng có địa vị bình đẳng

trong gia đình” Với tư cách đồng sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản

chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân hợp pháp thì: “Vợ, chồng có

quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung” Ở nước ta, quyền của

người vợ luôn được tôn trọng bảo vệ Trong trường hợp chồng chết trước,người vợ dù đã kết hôn với người khác vẫn được chia thừa kế di sản củachồng: Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thìchia đôi Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật

về thừa kế Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau Những quy định trêncủa pháp luật nước ta đã đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc

để lại di sản thừa kế và nhận di sản thừa kế

- Các con trong gia đình không phân biệt nam, nữ, độ tuổi, có năng lựchành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự đều được thừa kếnhững phần ngang nhau, nếu được hưởng thừa kế theo pháp luật

- Pháp luật còn quy định con nuôi có quyền và nghĩa vụ như con đẻtrong việc nhận di sản thừa kế Nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trongviệc để lại di sản thừa kế nhằm bảo vệ những quyền , lợi ích chính đáng củacông dân trong quan hệ tài sản nhằm củng cố tình đoàn kết trong gia đình,dòng họ và phủ định tư tưởng trọng nam khinh nữ, phân biệt đối xử giữa cácthành viên trong gia đình và xã hội

Thứ ba, nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm

mở thừa kế.

Quan hệ thừa kế hình thành với những đặc thù riêng của nó Đặc thù đóđược ghi nhận ngay trong các quy định của pháp luật như là một nguyên tắc

Trang 14

Nguyên tắc này đã được quy định tại Điều 11 Sắc lệnh số 97- SL: “Trong lúc

sinh thời, người chồng goá hay người vợ goá, các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung”.

Pháp luật không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế

mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng di sản Do vậy, người cónăng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được nhận di sảnthừa kế theo pháp luật phần ngang nhau nếu họ cùng thuộc hàng thừa kế đượchưởng

Đối với người đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì chưa có năng lựcpháp luật dân sự Bởi vì, theo quy định của pháp luật thì năng lực pháp luậtdân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.Pháp luật cũng có quy định bảo vệ quyền thừa kế của người con ra đời sau khingười cha chết mà người con đó được hưởng di sản của cha Quy định tại điều

635 Bộ luật dân sự phù hợp và thống nhất với điều 63 Luật hôn nhân và gia

đình: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong

thời kì đó là con chung của vợ chồng” Cũng theo nguyên tắc trên, tại điều

685 Bộ luật dân sự có quy định: “Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế

cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra thì được hưởng ; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng” Pháp luật còn quy định: trong trường hợp

đứa trẻ sinh ra được 24 giờ trở lên rồi sau đó chết thì đứa trẻ đó vẫn là ngườiđược thừa kế

Người thừa kế là người có khả năng được hưởng di sản theo quy địnhcủa pháp luật và là người phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế để đượchưởng di sản Nguyên tắc này đã loại trừ những người có quyền thừa kế disản của nhau nhưng đều chết trong cùng thời điểm hoặc được coi là chết trongcùng một thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ

Trang 15

không được thừa kế di sản của nhau Những người theo quy định tại khoản 1Điều 643 Bộ luật dân sự cũng không phải là người thừa kế theo pháp luật do

đã bị tước quyền thừa kế Những người từ chối nhận di sản thừa kế hợp phápcũng không được hưởng thừa kế di sản Người thừa kế theo quy định của Bộluật dân sự không thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác,như đã từng được quy định tại Điều 31 Pháp lệnh thừa kế

Thứ tư, nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản

Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại không phải là di sản thừa kế

Di sản thừa kế chỉ là những tài sản do người chết để lại được đem chia thừa

kế Sự thanh toán nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại chính là xác định disản để chia thừa kế hoặc không còn di sản để chia Di sản thừa kế là những tàisản của người chết để lại được chia cho những người có quyền hưởng theo dichúc hoặc theo pháp luật Tuy nhiên, những quyền tài sản và nghĩa vụ về tàisản gắn liền với thân nhân người chết thì không phải là di sản thừa kế, vìnghĩa vụ gắn liền với thân nhân người chết chấm dứt cùng thời điểm mở thừa

kế Người hưởng di sản theo quy định của pháp luật chỉ phải thanh toán nghĩa

vụ về tài sản trong phạm vi di sản của người đó Nguyên tắc này cũng được

quy định: “Khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng không có

quyền đòi nợ quá số di sản để lại” Và: “Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”.

Trang 16

1.2 Phân loại thừa kế

1.2.1 Thừa kế theo di chúc

Điều 646 Bộ luật Dân sự quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá

nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”

Di chúc còn được gọi là chúc thư do cá nhân còn sống tự nguyện lập ravới mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người cònsống khác, sau khi người lập di chúc chết Người lập di chúc dựa vào ý chí vàtình cảm của mình (mang tính chủ quan), định đoạt cho người khác đượchưởng di sản sau khi qua đời Do tính chất chủ quan của ý chí và mục đíchchuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác hưởng sau khi chết đãphản ánh tính độc lập và tự định đoạt của người lập di chúc Theo quy địnhnày thì di chúc phải có các yếu tố sau:

- Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thểnào khác;

- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình chongười khác;

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Di chúc là hành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc, do đó dichúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung

và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, một người muốn địnhđoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của phápluật về thừa kế theo di chúc

Như vậy, di chúc theo quy định của pháp luật dân sự phải nhằm chuyểntài sản của người lập di chúc cho người lập khác sau khi người lập di chúcchết Xét về tính chất của giao dịch dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí đơnphương, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc

mà không có bất kì sự lệ thuộc vào bất kỳ ý kiến của ai, do vậy di chúc là giaodịch dân sự một bên Giao dịch dân sự này là loại giao dịch đặc biệt, tuy rằngcác điều kiện của chủ thể lập di chúc, ý chí của chủ thể, nội dung và hình thức

Trang 17

của di chúc đều phù hợp với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lựccủa di chúc nhưng di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thi hành sau khi người để lại

di chúc chết Do hành vi đơn phương của người lập di chúc và nội dung của

di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho ai, truất quyền thừa kế của ai, để lại tàisản dùng vào việc thờ cúng, để lại di tặng nhằm tặng cho một hoặc nhiềungười vẫn không chắc chắn vì khi còn sống, người lập di chúc có quyền thayđổi ý chí của mình trong việc lập di chúc, theo đó nội dung của di chúc cũng

bị thay đổi theo Ý chí của cá nhân người lập di chúc có tính khả biến, vì ý chítrước hết do tâm lý, tình cảm của người lập di chúc chi phối và cung bậc tìnhcảm đối với những người được chỉ định thừa kế theo di chúc lại rất khácnhau Khi yếu tố tình cảm và ý chí của người lập di chúc được thể hiện ra bênngoài dưới hình thức khách quan thì bản di chúc đó chỉ được thực hiện saukhi người lập di chúc qua đời

Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết chongười khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thểhiện trong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ địnhngười thừa kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ,giao cho họ nghĩa vụ tài sản…

Thừa kế theo di chúc chỉ phát sinh khi người để lại di chúc chết vì khi

đó di sản của người lập di chúc mới được mang ra chia cho những người đượchưởng di sản trong di chúc Hay nói cách khác thì đó là việc cụ thể hoá dichúc, hay thực hiện di chúc của người để lại di sản Người được thừa kế theo

di chúc chỉ có quyền nhận tài sản của người lập di chúc sau khi người lập dichúc chết Người thừa kế theo di chúc nhận di sản và làm chủ sở hữu của disản được hưởng và thừa kế theo di chúc là căn cứ xác lập quyền sở hữu tàisản của người thừa kế Tuy nhiên, di chúc thể hiện ý chí chủ quan của ngườilập, do vậy ý định của ngườ lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình chongười khác sau khi chết có thể không thực hiện được do tài sản được địnhđoạt trong di chúc cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế của

Trang 18

người để lại di chúc đó hoặc những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo

di chúc đã chết trước, chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đềukhông có quyền hưởng, từ chối quyền hưởng di sản… thì mục đích nhằmchuyển tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế không đạt được Phầncủa di chúc không thể thực hiện được là phần di chúc vô hiệu

1.2.2 Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết chonhững người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế dopháp luật quy định (được quy định tại Điều 674 Bộ luật Dân sự)

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật: Theo quy định tại Điều 675

Bộ luật Dân sự, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợpsau:

- Không có di chúc;

- Di chúc không hợp pháp;

- Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước người lập di chúc;

cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm

mở thừa kế;

- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không

có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản;

Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sauđây:

- Phần di sản không được định đoạt rong di chúc;

- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lựcpháp luật;

- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng

họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặcchết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chứcđược nhận di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế

Trang 19

Cá nhân có quyền sở hữu với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sảncòn lại được chia đều cho những người thừa kế Người được thừa kế theopháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệnuôi dưỡng.

Những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật khôngphụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi Mọi người bình đẳng trong việchưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưathực hiện trong phạm vi di sản nhận

Pháp luật quy định người lập di chúc phải đáp ứng được các vấn đề vềchủ thể về năng lực hành vi để đảm ảo sự tự nguyện và minh bạch cho dichúc Còn đối với những người được hưởng di sản thừa kế thì không quy định

về năng lực hành vi, ai cũng có quyền được hưởng di sản của người chết đểlại theo hàng thừa kế, mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa

kế Khác với việc hưởng di sản thừa kế theo di chúc thì các phần được chia cóthể không đều nhau tuy theo ý chí của người để lại di chúc, còn với thừa kếtheo pháp luật mọi người đều được hưởng phần di sản bằng nhau, không ai cóquyền hưởng nhiều hơn người khác

Phạm vi những người thừa kế rất rộng, vì vậy pháp luật quy định thànhnhiều hàng thừa kế Trong đó, hàng thừa kế thứ nhất là những người có quan

hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác Các hàng thứhai, thứ ba là những hàng dự bị nếu như người chết không còn những người ởhàng thứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không có quyền nhận.Thừa kế theo di chúc thì có thể là bất kì ai cũng có quyền hưởng di sản thừa

kế nếu họ được người lập di chúc cho hưởng trong di chúc, còn đối với thừa

kế theo pháp luật thì chỉ có những người thân thích có quan hệ hôn nhân,huyết thống gần gũi với người để lại di sản thừa kế Pháp luật cũng quy địnhcác hàng thừa kế theo pháp luật thể hiện mức độ gần gũi của những ngườithừa kế với người để lại di sản nhằm đảm bảo quyền hưởng di sản của nhữngngười thừa kế

Trang 20

Tóm lại, thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của ngườichết cho những người còn sống mà không phụ thuộc vào ý chí của người đểlại di sản mà chính là việc nhà nước thể hiện ý chí của mình trong đó để bảođảm quyền lợi cho những người thừa kế có quan hệ gần gũi với người để lại

di sản

Trang 21

Tiểu kết chương 1

Toàn bộ chương 1 đã thể hiện một cách trình tự các vấn đề lý luận vềpháp luật thừa kế ở nước ta Nội dung của chương này đã chỉ ra các nguyêntắc về pháp luật thừa kế của nước ta, đó là những nguyên tắc nhằm đảm bảocho quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào quan hệ thừa

kế, cũng như đảm bảo cho quá trình lập pháp và hành pháp trong các chế định

về thừa kế ở nước ta Đồng thời, cũng đã đưa ra một số khái niệm và phântích, làm rõ các khái niệm đó như khái niệm về thừa kế, quyền thừa kế… Bêncạnh đó, trong nội dung của chương này cũng đã trình bày cách phân loạithừa kế theo pháp luật về thừa kế của nước ta hiện hành Đó là việc phân loạithừa kế thành hai loại: thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc, từ đócũng giới thiệu và phân tích một số vấn đề về thừa kế theo di chúc và thừa kếtheo pháp luật

Bằng việc xắp xếp trình tự trình bày cũng như đưa ra và phân tích một

số vấn đề về lý luận về thừa kế giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan vàtoàn diện hơn về thừa kế ở nước ta hiện nay

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO DI

CHÚC 2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của người lập dichúc, do đó để di chúc có hiệu lực pháp luật thì phải tuân thủ các điều kiện cóhiệu lực của giao dịch dân sự nói chung còn phải tuân thủ các điều kiện đểđược coi là di chúc hợp pháp Các điều kiện có hiệu lực của di chúc bao gồm:

2.1.1 Về chủ thể

Thứ nhất, người lập di chúc phải có năng lực chủ thể.

Một cá nhân khi còn sống có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản củamình cho bất kì ai Người lập di chúc bao giờ cũng là cá nhân, không thể là tổchức Pháp luật không quy định cá nhân có thể lập bao nhiêu bản di chúc Vì

di chúc chỉ phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ khi người lập di chúc chết vànếu một người để lại nhiều bản di chúc thì bản di chúc cuối cùng có hiệu lựcthi hành

Người lập di chúc chỉ định một người hoặc nhiều trong di chúc và cho

họ hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình Nếu trong di chúc có nhiềungười thì việc phân chia cho mỗi người được hưởng bao nhiêu phụ thuộc vào

ý chí của người có tài sản Người có tài sản thể hiện ý chí của mình nhưng ýchí đó có được thực hiện hay không phụ thuộc vào hình thức biểu lộ ý chí

Theo quy định của pháp luật thừa kế của nước ta thì người đã thànhniên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc cácbệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Theoquy định của pháp luật thì cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, không tâm thần hoặcmắc các bệnh khác không thể làm chủ hành vi của mình có quyền lập di chúc

để định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế Người trưởng thành

và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sảncủa mình đồng thời có quyền thực hiện các hành vi dân sự hợp pháp, một

Trang 23

trong các hành vi đó là hành vi lập di chúc Khác với người từ đủ 15 tuổi đếnchưa đủ 18 tuổi, người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân

sự có quyền lập di chúc, không cần bất kì sự đồng ý của cha mẹ hoặc ngườigiám hộ hợp pháp Theo quy định tại khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự thì:

“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” Cá nhân ở độ tuổi theo quy

định này cũng có quyền lập di chúc với điều kiện được cha, mẹ hoặc ngườigiám hộ đồng ý cho lập di chúc Ngược lại, nếu người ở độ tuổi này lập dichúc nhưng không được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp phápthì di chúc được lập ra không có giá trị pháp lý Quy định tại khoản 2 Điều

647 Bộ luật dân sự là tình huống đã được các nhà làm luật dự liệu, có thể cótrong cuộc sống tuy rằng tình huống này rất hạn hữu Cá nhân từ đủ mười lămtuổi đến dưới mười tám tuổi thường không có tài sản và đang được cha, mẹhoặc người giám hộ hợp pháp nuôi dưỡng nhưng cũng có cá nhân trong độtuổi này có khối lượng tài sản do được thừa kế, do được tặng cho hoặc cánhân tạo lập do lao động trong các tổ chức kinh tế, dịch vụ thương mại…Pháp luật đã dự liệu cho người ở độ tuổi này lập di chúc là đã xem xét đếnkhả năng thực tế có thể có trường hợp bị mắc bệnh hiểm nghèo mà không thểkéo dài sự sống được nữa…

Một vấn đề đặt ra và cần được làm rõ đó là trường hợp cá nhân dướimười lăm tuổi, thông minh, có tài sản riêng và làm chủ hành vi của mìnhtrong việc lập di chúc và cũng được cha , mẹ hoặc người giám hộ hợp phápđồng ý thì di chúc do người này lập ra có hiệu lực pháp luật không? Câu trảlời là di chúc do người trong độ tuổi này lập ra, cho dù người lập di chúc làmchủ được hành vi của mình thì di chúc này cũng không có giá trị pháp lý Vìpháp luật không cho phép người ở độ tuổi này lập di chúc

Thứ hai, người lập di chúc tự nguyện.

Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc; không bị lừa dối, đedoạ hoặc cưỡng ép Tự nguyện của người lập di chúc là sự thống nhất giữa ý

Trang 24

chí và bày tỏ ý chí của họ Sự thống nhất trên chính là sự thống nhất giữamong muốn chủ quan – mong muốn bên trong của người lập di chúc với hìnhthức thể hiện ra bên ngoài sự mong muốn đó Vì vậy, việc phá vỡ sự thốngnhất giữa mong muốn bên trong và việc thể hiện ra bên ngoài làm mất đi tính

tự nguyện của người lập di chúc Sự thống nhất này có thể bị phá vỡ trongnhững trường hợp người lập di chúc bị cưỡng ép, đe doạ hoặc di chúc do họlập trên cơ sở bị lừa dối

Cưỡng ép có thể là sự cưỡng ép về thể chất (đánh đập, giam giữ…)hoặc về tinh thần (như doạ làm một việc có thể làm mất danh dự, uy tín củangười lập di chúc…) Người lập di chúc có thể bị lừa dối bằng những thủđoạn như: làm tài liệu giả để cho người có tài sản tin rằng một người đã chếthay đã mất tích nên không lập di chúc để lại di sản cho người đó mà để lại disản cho người làm tài liệu giả…

Chính vì thế, pháp luật đã quy định nếu di chúc mất đi tính tự nguyệncủa người lập di chúc cũng như người lập di chúc không có năng lực chủ thểthì bản di chúc đó cũng không có giá trị pháp lý và bị toà án tuyên vô hiệu

Ví dụ: Tại phiên toà sơ thẩm của toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá ( Thanh Hoá) ngày 20 tháng 6 năm 2009 đã giải quyết vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc giữa anh Đặng Văn Kiên với các đồng thừa kế khác Những đồng thừa kế cho rằng anh Đặng Văn Kiên đã cưỡng ép ông Đặng Văn Nam là cha của mình lập di chúc để lại toàn bộ tài sản của ông cho anh Kiên với tư cách là con trưởng và có công chăm sóc ông Nam khi còn sống Các đồng thừa kế cũng đưa ra được các bằng chứng buộc tội anh Kiên đã có những hành vi đe doạ đánh đập ông Nam khi đang còn sống cùng với gia đình anh Kiên.

Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá đã xem xét các chứng cứ, xét hỏi và đi đến quyết định: tuyên bố bản di chúc vô hiệu và truất quyền thừa kế của anh Đặng Văn Kiên, đồng thời tài sản của ông Nam được chia theo luật.

Trang 25

(Nguồn: Hồ sơ các vụ án về thừa kế từ năm 2005 – 2012 của Tòa án nhân

dân tỉnh Thanh Hóa)

Tóm lại, di chúc phải do cá nhân lập ra và để di chúc có giá trị pháp lýthì chủ thể lập di chúc phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.Người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi cũng có thể lập di chúcvới điều kiện được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Cá nhân dưới mườilăm tuổi và những người không có năng lực hành vi dân sự lập di chúc thì dichúc đó không được thừa nhận, cũng như việc lập di chúc của chủ thể lập dichúc mất đi tính tư nguyện thì bản di chúc đó cũng không được chấp nhận

Đây là những quy định pháp luật mà những nhà làm luật đã định liệutới nhằm bảo vệ quyền lập di chúc của công dân, cũng như bảo đảm quyềnđược hưởng di sản của những người thừa kế Và việc đảm bảo công tác xét xửcủa toà án trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc đặcbiệt là liên quan tới việc đảm bảo các điều kiện về chủ thể của việc lập dichúc đang được triển khai rất tốt và ngày càng chất lượng hơn

Bên cạnh những điều kiện cần để một chủ thể có thể được lập di chúcthì pháp luật cũng quy định cho những người lập di chúc là cá nhân có đầy đủnăng lực hành vi có các quyền sau đây:

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân tổ chứcnào Người được nhận di sản có thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kếtheo quy định của pháp luật hoặc cũng có thể là Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội…

Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông quaviệc họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật(như: cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, em ruột…) mà không nhất thiết phải nêu

lý do, người lập di chúc có thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theopháp luật không được hưởng di sản thừa kế của mình

Trang 26

Việc truất quyền hưởng di sản thừa kế có thể được thực hiện theo haihình thức như sau:

1 Truất trực tiếp: Người lập di chúc nêu rõ trong di chúc là truất(không cho) một cá nhân nhất định không được hưởng di sản

2 Truất gián tiếp: Người lập di chúc khi định đoạt phần di sản khôngchỉ một cá nhân nhất định để nhận di sản

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

Phân định phần di sản cho từng người thừa kế trong trường hợp cónhiều người cùng được thừa kế Người lập di chúc có quyền phân chia di sảncho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau và không cần phải nêu lý do.Nếu không phân định di sản trong di chúc thì di sản được chia đều cho nhữngngười được chỉ định trong di chúc

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

 Di sản dùng vào việc thờ cúng

Nhà nước tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, cho nên, trong phấplệnh thừa kế trước đây và ngày nay Điều 670 Bộ luật Dân sự quy định về disản dung vào việc thờ cúng như sau:

“1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dung vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ địnhtrong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng”.

Vấn đề đặt ra: Thế nào là một phần di sản, vấn đề này có thể được giảithích dựa vào lịch sử lập pháp và theo tư duy logic:

Theo pháp luật của các Nhà nước phong kiến Việt Nam, như bộ luậtHồng Đức, hương hoả là 1/20 điền sản, theo Bộ dân luật Bắc Kì năm 1931 và

Bộ dân luật Trung Kì năm 1936, hương hoả là 1/5 điền sản (ruộng đất).Hương hoả được giao cho tôn trưởng quản lý dung vào việc phụng tự Như

Trang 27

vậy, hương hoả chỉ là một phần nhỏ điền sản của người chết để lại cho concháu để sử sụng, thu hoa lợi dùng vào việc thờ cúng.

Theo tư duy logic, nếu khối di sản được chia thành hai hay nhiều phầnthì chỉ được dùng một phần đó để thờ cúng, phần còn lại chia thừa kế theo dichúc hoặc theo pháp luật

Trong trường hợp người để lại di sản không quy định người quản lý disản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.Trường hợp này tuy người lập di chúc không chỉ định người quản lý di sảnthờ cúng nhưng trong di chúc vẫn xác định rõ dành một phần di sản cho việcthờ cúng (như một khoản tiền, một gian nhà…) thì những người thừa kế vẫnphải cử một người để quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chếtthì phần di sản dung vào việc thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp

di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật

“2 Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dung vào việc thờ cúng”.

Quy định này để bảo vệ quyền lợi cho người có quyền lợi trong quan

hệ dân sự với người để lại di chúc, khi di sản còn lại chưa đủ để thanh toánnghĩa vụ tài sản của người chết để lại

Thờ cúng là một nếp sống văn hoá lâu đời của nhân dân ta, thể hiệnlong tôn kính đối với người đã chết Giáo dục người xung quanh kính trọngnhững người bậc trên đã chết và nhớ công ơn của họ Vì vậy, Nhà nước tôntrọng và bảo hộ các truyền thống tốt đẹp đó, cho phép cá nhân dành một phầntài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng Phần tài sản này không coi là disản thừa kế

Di sản dùng vào việc thờ cúng được để lại theo ý nguyện của người lập

di chúc, di sản này không chia mà được giao cho một người quản lý Di sảnnày có thể là một tài sản cụ thể (cây lâu năm, nhà ở…) Nếu là tài sản hoặc

Trang 28

cây lâu năm, người quản lý có quyền thu hoa lợi, lợi tức và dùng nó để thựchiện việc thờ cúng Người quản lý không được sử dụng vào mục đích củariêng mình Không có quyền định đoạt di sản này Trường hợp người đangquản lý di sản dùng vào việc thờ cúng mà không có điều kiện để tiếp tục quản

lý di sản đó, những người thừa kế sẽ thoả thuận giao cho người khác quản lý

Điều 670 Bộ luật dân sự không có quy định về tính chất của di sảndùng vào việc thờ cúng (không định tính) mà chỉ định lượng phần di sản dùngvào việc thờ cúng Vì vậy, người lập di chúc có thể định đoạt bất cứ tài sảnnào trong khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để dùng vào việc thờcúng

Quy định này để bảo vệ quyền lợi cho người có quyền lợi trong quan

hệ dân sự với người để lại di chúc, khi di sản còn lại chưa đủ để thanh toánnghĩa vụ tài sản của người chết để lại

 Di tặng

Di tặng là một phần (hiểu như di sản thờ cúng) tài sản mà người lập dichúc tặng cho người khác với một ý nghĩa kỉ niệm

Với ý nghĩa trên, giữa người lập di chúc và người được hưởng tài sản

có mối quan hệ thân thiết nhất định Người có tài sản muốn giữ tình cảm tốtđẹp đó bằng cách tặng một “món quà” làm kỉ niệm Người được hưởng di sản

di tặng có quyền sở hữu với phần tài sản đó mà không phải gánh chịu nghĩa

vụ của người chết để lại Trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanhtoán các nghĩa vụ, phần tài sản thuộc di tặng được dùng để thực hiện nghĩa vụcòn lại của người đã chết

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản.

Người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế( như giao cho người thừa kế được hưởng một căn nhà nhưng phải để lại chomột người bạn thân bi tàn tật mà trước đây vẫn sống nương nhờ vào người đểlại di sản được ở một phần căn nhà ấy cho đến khi người này chết hoặc giao

Trang 29

cho người thừa kế phải trả một món nợ Nhà nước mà người để lại di sản chưatrả…).

Người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ cho một người mà không cho

họ hưởng di sản Trường hợp này không bắt buộc người được giao nghĩa vụphải thực hiện nghĩa vụ đó Nếu giao nghĩa vụ và cho hưởng di sản thì ngườiđược giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi di sản đượchưởng đó

- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Bộ luật dân sự quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người giữ

di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản Việc chỉ định người giữ

di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản là hoàn toàn theo ý chí

tự nguyện của người lập di chúc Người lập di chúc có thể cử một người vừagiữ di chúc, đồng thời vừa quản lý di sản và phân chia di sản Nhưng ngườilập di chúc vẫn có thể cử nhiều người, mỗi người làm một việc riêng (như: cửông A giữ di chúc, anh B quản lý di sản, bà C phân chia di sản…)

Người lập di chúc có thể chỉ định người thừa kế, người được chỉ định

có thực hiện hay không tuỳ thuộc vào ý chí chủ quan của họ Đây không phải

là nghĩa vụ pháp lý mà nó biểu hiện tinh thần tự nguyện, đoàn kết giúp đỡngười khác

- Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ di chúc.

 Sửa đổi di chúc

Người lập di chúc thay đổi một phần quyết định cũ của mình đối vớicác phần trong di chúc trước đó Thông thường sự sửa đổi di chúc đã lập đượcbiểu hiện ở những mặt sau đây:

Sửa đổi người được hưởng thừa kế: Có nghĩa là một di chúc đã được

lập có thể đã chỉ định một số người được hưởng là Q M N sau đó người lập

di chúc sửa đổi không cho M hoặc N nữa mà chỉ định K thay vào vị trí của Mhoặc N để hưởng di sản

Trang 30

Sửa đổi về quyền và nghĩa vụ cho người thừa kế: Sửa đổi di chúc còn

được thể hiện qua việc sửa đổi về quyền và nghĩa vụ cho người thừa kế, cóthể bớt hoặc tăng them quyền và nghĩa vụ mà người thừa kế phải thực hiện

Sửa đổi câu chữ: Trong di chúc có thể có những câu khó hiểu hoặc có

từ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Người lập di chúc có quyền sửa đổinhững câu, chữ cho rõ ràng , tránh sự hiểu nhầm sau này ảnh hưởng đếnquyền lợi của những người thừa kế

 Bổ sung di chúc

Người lập di chúc có quyền bổ sung di chúc đã lập Phần bổ sung làphần thêm vào nội dung của di chúc (như di chúc trước đã lập không cho Ahưởng di sản nay bổ sung cho A hưởng một phần di sản)

Cũng như việc sửa đổi di chúc, phần bổ sung cũng có thể không hợppháp nếu như lúc bổ sung di chúc người đó không còn minh mẫn hoặc nộidung của nó trái với pháp luật, đạo đức xã hội

Nếu người lập di chúc bổ sung di chúc, mà phần di chúc bổ sung vẫnhợp pháp thì di chúc đã lập và phần di chúc bổ sung vẫn đều có hiệu lực phápluật Tuy nhiên, có những trường hợp nếu phần di chúc đã lập và phần di chúc

bổ sung mâu thuẫn với nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.Trường hợp này được coi là sửa đổi di chúc

 Thay thế di chúc

Thay thế di chúc là việc người để lại di sản lập di chúc khác thay thếcho di chúc cũ vì họ cho rằng những quyết định của mình trong di chúc trướckhông còn phù hợp với ý chí của họ nữa Do đó, di chúc trước coi như không

có, vì chính người lập di chúc huỷ bỏ nếu như việc thay thế di chúc trong lúc

họ còn minh mẫn sáng suốt Một người lập nhiều di chúc vào các thời điểmkhác nhau mà nội dung của các di chúc không phủ định lẫn nhau trong trườnghợp này tất cả di chúc đều có hiệu lực Ngược lại, nếu nội dung phủ định lẫnnhau thì coi đó là thay thế di chúc

 Huỷ bỏ di chúc

Trang 31

Là việc người để lại thừa kế từ bỏ di chúc của mình bằng cách không côngnhận di chúc do mình lập ra là có giá trị trường hợp này được coi là không có

di chúc Do vậy, di sản thừa kế sẽ được giải quyết theo quy định của phápluật

Việc huỷ bỏ di chúc có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:

- Người lập di chúc tự tiêu huỷ tất cả các di chúc đã lập;

- Người lập di chúc lập một di chúc khác tuyên bố huỷ di chúc đã lập.Pháp luật bảo vệ quyền định đoạt của chủ thể lập di chúc nhưng trongthực tiễn xét xử đôi khi có những quyết định của tòa án vẫn đang vấp phảimột số nhầm lẫn dẫn đến việc ra quyết định cuối cùng là chưa chính xác

Ví dụ: Ông Trần Văn Bôi trước khi chết để lại di chúc giao ngôi nhà bốn gian của ông cho ông Trần Văn Tiệp (em trai ông Bôi) để sửa sang lại làm nhà thờ họ Khi ông chết vào thời điểm mở thừa kế đã nảy sinh tranh chấp giữa bà Hoàng Thị Lan ( là vợ của ông Bôi) với ông Trần Văn Tiệp Bà Lan không chịu bàn giao lại căn nhà cho ông Tiệp tu sửa làm nhà thờ Ông Tiệp gửi đơn lên tòa án nhân dân Thị xã Tam Điệp (Ninh Bình) nhờ tòa án giải quyết.

Trong quá trình xét xử, tòa án nhân dân Thị xã Tam Điệp nhận thấy di chúc của ông Bôi là hợp pháp và ra quyết định yêu cầu bà Lan bàn giao nhà

và giấy chứng nhận quyền sở dụng đất cho ông Tiệp sở hữu, ông Tiệp có tránh nhiệm đi đến cơ quan có thẩm quyền làm giấy tờ chuyển quyền sử dụng đất và căn nhà sang tên ông

(Nguồn: Công văn xét xử của tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp – Ninh

Trang 32

Bên cạnh đó, liên quan đến việc bảo vệ quyền của người lập di chúcvẫn còn có những vụ án mà tòa án vẫn còn lúng túng trong việc giải quyết cáctranh chấp đó, như việc đảm bảo quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế trongphạm vi di sản.

Ví dụ: Ông Trần Cao Sơn trước khi chết để lại di chúc cho vợ là bà Lê Thị Minh được hưởng 1/2 di sản của mình và anh Trần Cao Long (là con của ông Sơn) hưởng 1/2 di sản của mình với điều kiện anh Long phải đưa ông sau khi chết về an táng tại quê hương (Như Xuân – Thanh Hóa) nhưng anh Long lại chôn cất ông tại nơi ông sống cuối cùng (thành phố Thanh Hóa – Thanh Hóa).

Khi phát sinh tranh chấp tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn xét cho anh Long được hưởng di sản của ông Sơn Tại phiên tòa phúc thẩm ở tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa lại không cho anh Long hưởng di sản vì cho rằng anh Long đã không thực hiện nghĩa vụ mà ông Sơn để lại, phần tài sản của ông Sơn để lại cho anh Long được chia theo pháp luật.

(Nguồn: Hồ sơ các vụ án về thừa kế từ năm 2005 – 2012 của Tòa án

nhân dân tỉnh Thanh Hóa)

Về chủ thể lập di chúc để xác định điều kiện có hiệu lực của di chúcthường thì trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp các tòa án đều thực hiệnđúng với các quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫnphát sinh việc xác định không đúng hay đang còn vấp phải những nhầm lẫn,lúng túng trong quá trình xét xử, chưa đảm bảo tính nhất quán trong việc giảiquyết các tranh chấp nói trên

2.1.3 Về nội dung của di chúc

Nội dung di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc địnhđoạt tài sản của mình cho những người thừa kế Người lập di chúc chỉ địnhngười thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, phân định di sản thừa kế, đưa

ra các điều kiện để chia di sản thừa kế… Ý chí của người lập di chúc phải phùhợp với ý chí của Nhà nước, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định tại điểm 3

Trang 33

Điều 8 Bộ luật dân sự (sử dụng di sản vào mục đích bất hợp pháp, chuyểngiao tài sản cho các tổ chức bất hợp pháp…) vi phạm điều đó di chúc sẽ bị vôhiệu.

Nội dung của di chúc bằng văn bản được quy định tại Điều 653 Bộ luậtDân sự năm 2005 Điều luật này quy định di chúc phải ghi rõ:

Ví dụ: Trong phiên toà xét xử sơ thẩm tại toà án nhân dân huyện Quảng Xương (Thanh Hoá) ngày 27 tháng 11 năm 2006 xảy ra vụ án tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc Ông Hoàng Đình Phiệt trước khi chết để lại di chúc cho anh Hoàng Đình Tài và anh Hoàng Đình Trung mỗi người được nhận 1/2 di sản của mình Tuy nhiên, di chúc của ông lại không có ngày, tháng, năm lập di chúc Các thừa kế khác cho rằng di chúc của ông Phiệt là không có hiệu lực nên yêu cầu toà chia thừa kế theo pháp luật.

Xem xét vào lời khai và các bằng chứng của các bên đưa ra, toà án nhân dân huyện Quảng Xương đã tuyên di chúc của ông Phiệt là vô hiệu và chia di sản của ông theo pháp luật.

Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá lại chấp nhận bản di chúc này là hợp pháp vì xem xét dưới khía cạnh là bản

di chúc lập ra là duy nhất nên có thể bỏ qua vấn đề thiếu xót là không ghi rõ

Trang 34

ngày, tháng, năm lập di chúc và cho chia di sản của ông Phiệt theo di chúc

để đảm bảo quyền định đoạt của người đã chết.

(Nguồn: Hồ sơ các vụ án về thừa kế từ năm 2005 – 2012 của Tòa án

nhân dân tỉnh Thanh Hóa)

Từ vụ án trên ta có thể nhận thấy rằng việc phiên toà sơ thẩm bác bỏ dichúc trên và cho là không có hiệu lực pháp luật được xem là đúng với quyđịnh của pháp luật và việc toà phúc thẩm công nhận bản di chúc trên cũngđược xem là hợp tình hợp lý vì tuy rằng di chúc để lại không đáp ứng đượcđầy đủ nội dung di chúc cần có mà pháp luật quy định, tuy nhiên đó là donhười để lại di chúc còn kém hiểu biết nên đang còn thiếu xót, hơn nữa dichúc lập ra chỉ duy nhất một bản thể hiện ý chí cuối cùng của người chết và

nó không ảnh hưởng quá nhiều đến tính hợp pháp của di chúc Vì vậy, việccho di chúc trên là hợp pháp nhằm đảm bảo quyền của người lập di chúc vàquyền lợi của người thừa kế là điều dễ hiểu và cần linh động Điều đáng nói ởđây là việc không đồng nhất và không có sự liên kết, chỉ đạo từ toà án cấptrên và toà cấp dưới gây ra việc mỗi toà tuyên mỗi kiểu làm ảnh hưởng khôngtốt tới uy tín của các toà đối với nhân dân

- Họ, tên và nơi cư trú cuối cùng của người lập di chúc.

Với tư cách là chủ thể lập di chúc, người lập di chúc phải ghi rõ họ tên vànơi cư trú của mình, để có căn cứ xác định di chúc đó do ai lập ra, người đó

có quyền lập di chúc hay không có quyền lập di chúc và việc đồng ý của cha,

mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dướimười tám tuổi lập di chúc Chủ thể lập di chúc luôn luôn phải được xác địnhthông qua các yếu tố họ, tên, nơi cư trú của người đó Ngược lại, nếu khôngbiết rõ ai là người lập di chúc thì di chúc vô hiệu do không xác định đượcngười để lại di sản là ai

Ở nội dung này trên thực tế ít có trường hợp xảy ra nên cũng không nảysinh những tranh chấp về việc có hiệu lực hay không có hiệu lực của bản dichúc

Trang 35

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.

Cũng như việc xác định họ, tên người lập di chúc, việc xác định họ, tênngười, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản cũng là điều rất quan trọng Bởi lẽ,phải ghi rõ họ, tên của cá nhân, tên cơ quan, tổ chức thì khi phân chia di sảnkhi người đó chết mới có thể được thực hiện vì không ghi rõ sẽ không biết disản đó sẽ chia cho ai, cơ quan, tổ chức nào

Thực tế vấn đề trên cũng đã xảy ra một số tranh chấp hi hữu làm mất điquyền lợi của một số người được hưởng di sản

Ví dụ: Ông Lê Văn Đại trước khi chết lập di chúc để lại toàn bộ tài sản của mình cho người con trai trưởng Tuy nhiên trong di chúc ông chỉ ghi là cho người con trai trưởng hưởng toàn bộ di sản của mình mà không ghi rõ họ tên người này Đến khi mở thừa kế phát sinh tranh chấp vì có một người là anh Lê Văn Quỳnh đến tự xưng là con trai ông Đại (con ngoài giá thú) và anh Quỳnh cũng đưa ra đầy đủ chứng cứ để chứng minh mình là con trai ông Đại Trên giấy tờ, anh Quỳnh lại là người cao tuổi nhất so với những người con còn lại của vợ chồng ông Đại.

Phiên toà sơ thẩm của toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) ngày 12 tháng 03 năm 2010 đã chia toàn bộ di sản của ông Đại cho anh Quỳnh vì anh Quỳnh được xem là con cả của ông Đại.

Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá (phiên toà phúc thẩm) lại cho rằng di chúc của ông Đại đã không ghi rõ họ tên người hưởng di sản là sai quy định của pháp luật và tuyên di chúc vô hiệu, di sản của ông Đại được chia theo pháp luật.

(Nguồn: Hồ sơ các vụ án về thừa kế từ năm 2005 – 2012 của Tòa án

nhân dân tỉnh Thanh Hóa)

Vụ án này lại một lần nữa chứng tỏ sự không nhất quán giữa toà cấptrên và cấp dưới Và việc áp dụng các chế định pháp luật về thừa kế theo dichúc của các toà án vẫn còn nhiều hạn chế Việc hấp nhận bản di chúc trên là

Trang 36

hợp pháp và chia cho anh Quỳnh toàn bộ tài sản là không hợp tình cũng nhưkhông hợp lý Vì: khi di chúc không ghi rõ họ tên người hưởng di sản thìkhông thể biết chính xác là ai sẽ được hưởng, việc xảy ra những tranh chấpnhư trên là rất hạn hữu tuy nhiên, các nhà làm luật cũng đã dự liệu được khảnăng có thể xảy ra những tranh chấp này nên đã quy định phải bắt buộc ghi họtên của người được hưởng di sản tránh những tranh chấp này Về tình mà nói,việc anh Quỳnh tuy là con của ông Đại nhưng từ khi ông Đại còn sống chẳngbao giờ anh xuất hiện đến khi mở thừa kế lại về tranh chấp và đòi toàn bộ tàisản của ông Đại là không hợp tình trong dư luận.

- Di sản để lại và nơi có di sản.

Việc ghi rõ di sản để lại thừa kế và nơi có di sản đó để xác định đượcngười để lại di sản có những di sản nào của mình để thừa kế cho những ngườitrong di chúc và di sản đó ở nơi nào để tiện cho việc xác định di sản và di sản

đó có thực là tài sản hợp pháp của người để lại di sản thừa kế hay không Bêncạnh đó, việc xác định di sản để lại để có căn cứ xác định xuất thừa kế củamỗi người là bao nhiêu đối với những di chúc không chỉ định người thừa kếnhận những di sản cụ thể

Việc di chúc không nêu rõ di sản để lại và nơi có di sản cũng hay xảy ratrên thực tế Giải quyết các di chúc này thường thì các toà án đều cho rằng dichúc không có hiệu lực và chia di sản thừa kế theo pháp luật

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung nghĩa vụ.

Trong những trường hợp người lập di chúc trước khi chết còn có nhữngnghĩa vụ cần phải thực hiện cho người khác nhưng chưa làm được thì trong dichúc phải ghi rõ người sẽ thay mình thực hiện nghĩa vụ đó cho mình để đảmbảo cho nghĩa vụ đó sẽ được thực hiện Bên cạnh đó, cũng phải ghi rõ nộidung nghĩa vụ đó là những gì để người thực hiện nghĩa vụ đó mới có thể thựchiện được và thực hiện đúng với nghĩa vụ mà nếu còn sống người đó phảithực hiện

Trang 37

Ngoài việc phải ghi rõ các thông tin như đã nêu ở trên thì pháp luật cònquy định nội dung của di chúc phải đảm bảo không được viết tắt hoặc viếtbằng kí hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh sốthứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.Quy định này nhằmbảo đảm cho việc hiểu đúng di chúc và đảm bảo tính công khai và hợp phápcủa di chúc.

Tóm lại, việc di chúc thể hiện đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quyđịnh về nội dung của di chúc còn rất hạn chế, thường thì mỗi di chúc lại vấpphải mỗi sai xót nhất định làm cho di chúc mất đi hiệu lực của nó mà đáng rakhông đáng có gây ra các tranh chấp giữa các bên làm mất đi tình đoàn kếttrong gia đình và dư luận trong xã hội, đồng thời cũng làm mất đi quyền địnhđoạt của chủ thể để lại di chúc Bên cạnh đó, việc công nhận hay không côngnhận di chúc hợp pháp của các toà án về nội dung di chúc còn gặp nhiều bấtcập và không đồng bộ gây ảnh hưởng không tốt trong dư luận xã hội về đảmbảo công bằng cho các chủ thể tham gia tranh chấp

2.1.4 Về hình thức của di chúc

Hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập dichúc (nội dung của di chúc); là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kếtheo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong

di chúc Vì vậy, di chúc phải được lập dưới một hình thức nhất định

Theo quy định tại các Điều 649 và 651 Bộ luật Dân sự thì di chúc đượcthể hiện bằng văn bản hoặc dưới hình thức miệng Điều 649 Bộ luật Dân sự

quy định: “Di chúc phải được lập bằng văn bản; nếu không thể lập được di

chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc bằng tiếng nói của mình” Về di chúc miệng được quy định tại Điều 651 Bộ

luật Dân sự: “1 Trong tình trạng tính mạng một người bị cái chết đe doạ do

bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng 2 Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà

Trang 38

người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ”.

Di chúc bằng văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết(viết tay, đánh máy, in) có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơquan nhà nước có thẩm quyền

Hình thức di chúc bằng văn bản bao gồm các loại sau:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655 Bộ luậtDân sự) quy định: Người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào bản di chúc vàphải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về nội dung của di chúc bằngvăn bản quy định tại Điều 653 Bộ luật Dân sự Di chúc này phải do chínhngười lập di chúc tự tay viết bằng chữ viết của mình và kí vào bản di chúc.Quy định này nhằm xác định đúng người có tài sản lập di chúc bằng chữ viếtcủa mình, tránh sự gian lận trong việc lập di chúc và là chứng cứ chứng minh

di chúc do chính người có tài sản lập ra mà không phải do người khác

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656 Bộ luật Dân sự)

là trường hợp người lập di chúc có nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất

là hai người làm chứng Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản dichúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhậnchữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và kí vào bản di chúc Tuy nhiên,không phải bất kì ai cũng có thể là người làm chứng việc lập di chúc củangười khác Người làm chứng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân

sự (từ đủ mười tám tuổi, không bị tâm thần hoặc mắc các bệnh khác màkhông làm chủ được hành vi của mình) Người thừa kế theo di chúc, ngườithừa kế theo pháp luật của người lập di chúc không được làm chứng cho việclập di chúc Ngoài ra, người làm chứng không phải là người có quyền vànghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung của di chúc Những người thừa kế, cácchủ nợ, các con nợ của người lập di chúc không thể là người làm chứng choviệc lập di chúc của người để lại di sản Bởi vì, những người này có thể vì lợi

Trang 39

ích của mình mà áp đặt ý chí đối với người lập di chúc hoặc cũng vì lợi íchcủa mình mà đe doạ, lừa dối người lập di chúc khiến cho người lập di chúckhông hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự định đoạt trong việc chỉ định người thừa

kế và di sản để lại cho người thừa kế

- Di chúc có công chứng hoặc chứng thực (Điều 657 Bộ luật Dân sự)Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận bản

di chúc của mình hoặc có quyền yêu cầu uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thựcbản di chúc của mình lập ra Người lập di chúc phải tự mình mang bản dichúc đến công chứng nhà nước yêu cầu công chứng Pháp luật không chophép người lập di chúc uỷ quyền cho người khác mang di chúc của mình đếncông chứng nhà nước yêu cầu công chứng Công chứng viên có nghĩa vụcông chứng bản di chúc theo yêu cầu của người lập di chúc Tuy nhiên, yêucầu của người lập di chúc có thể bị công chứng viên từ chối trong trường hợp

có sự nghi ngờ người lập di chúc đã không làm chủ được hành vi lập di chúc

do có dấu hiệu của bệnh tâm thân, có dấu hiệu của bệnh khác không thể nhậnthức và làm chủ được hành vi của mình hoặc di chúc được lập ra do bị ngườikhác lừa dối, doạ nạt, áp đặt ý chí đối với người lập di chúc Những tìnhhuống trên được áp dụng đối với uỷ ban nhân dân nơi người lập di chúc yêucầu chứng thực di chúc Tuy nhiên, những nghi ngờ của công chứng viênhoặc thư kí uỷ ban nhân dân có thể được giải toả bằng những minh chứng của

cơ quan giám định xác minh theo yêu cầu của người lập di chúc

Việc công chứng hoặc chứng thực di chúc bằng văn bản phải tuân theoquy định của pháp luật về người không được công chứng, chứng thực di chúcđược quy định tại Điều 659 Bộ luật Dân sự

- Di chúc bằng văn bản còn được lập ra trong những trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, theo quy định tại điều 658 Bộ luật Dân sự thì thủ

tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã theonhững thủ tục: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước côngchứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của uỷ ban nhân dân cấp

Trang 40

xã (phường, thị trấn) Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực

có nghĩa vụ ghi chép đầy đủ và trung thực nội dung do người lập di chúc công

bố Người lập di chúc kí tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhậnbản di chúc đã được ghi chép đầy đủ và chính xác thể hiện trung thực ý chí tựđịnh đoạt của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thựccủa uỷ ban nhân dân xã kí vào bản di chúc

Đối với di chúc được lập theo thủ tục trên, tại khoản 2 Điều 658 Bộ luật

Dân sự quy định: “Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc

không nghe được bản di chúc, không kí hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải kí xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc

và người làm chứng” Theo quy định tại Điều 659 Bộ luật Dân sự, công

chứng viên, người có thẩm quyền của uỷ ban nhân dân cấp xã không đượccông chứng, chứng thực di chúc nếu họ là người thừa kế theo di chúc hoặctheo pháp luật của người lập di chúc; người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con làngười thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người

có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan đến nội dung di chúc

Người không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không kíhoặc không điểm chỉ được vào bản di chúc là người mù chữ, cụt cả hai taynhưng họ phải là người hiểu và làm chủ được hành vi của mình, người có đầy

đủ năng lực hành vi dân sự hoặc người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mườitám tuổi không tâm thần, không mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức

và làm chủ hành vi của mình Với quy định này, pháp luật luôn coi trọng vàbảo hộ ý chí của người lập di chúc, còn các khiếm khuyết về thể chất củangười lập di chúc không phải là điều kiện để cấm đoán người này định đoạttài sản theo di chúc

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Giáo trình luật Dân sự Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
8. Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2005), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2005)
Tác giả: Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
9. Thừa kế của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay, Nxb Tư pháp 2004, sách chuyên khảo của t.s Phùng Trung Tập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay
Nhà XB: Nxb Tư pháp 2004
10. Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội 2007, sách chuyên khảo của t.s Phùng Trung Tập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hà Nội 2007
11. Luật sư Lê Kim Quế (1994), 90 câu hỏi – đáp pháp luật về thừa kế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 90 câu hỏi – đáp pháp luật về thừa kế
Tác giả: Luật sư Lê Kim Quế
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
12. Luật sư Trần Hữu Bền và tiến sĩ Đinh Văn Thanh (1995), Hỏi đáp về pháp luật thừa kế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về pháp luật thừa kế
Tác giả: Luật sư Trần Hữu Bền và tiến sĩ Đinh Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1995
14. Ph. Ăngghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1961
16. Từ điển giải thích luật ngữ luật học (1999), trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích luật ngữ luật học (1999)
Tác giả: Từ điển giải thích luật ngữ luật học
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
1. Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 Khác
2. Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 Khác
5. Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
19. Http: // Www.vietlaw.biz 20. Http: // tailieu.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w