1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án nhân dân tỉnh nghệ an thực trạng và giải pháp luận văn tốt nghiệp đại học

69 2,9K 52

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thực trạng và giải pháp
Tác giả Hà Văn Hải
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Thị Tuyết
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Cử nhân luật
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 351 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy,tất cả những công trình vẫn chủ yếu là nêu lên những quan điểm chung vàtrong pham vi rộng thiếu tính cụ thể tại một địa phơng nhất định để tìm hiểu đợc những vấn đề đợc nêu lên v

Trang 1

Trờng đại học vinh

Khoa luật -

Vinh - 2011

Trang 2

Trờng đại học vinh

Khoa luật -

Giải quyết tranh chấp thơng mại tại toà án nhân dân tỉnh nghệ an

Thực trạng và giải pháp

Chuyên ngành: cử nhân luật

Giảng viên hớng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Tuyết Sinh viên thực hiện: Hà Văn Hải

Lớp: 48B1 - Luật

MSSV: 0655031197

Vinh - 2011

Trang 3

LờI CảM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự có gắng nỗ lực củabản thân, tôi đã nhận đợc sự quan tâm, hớng dẫn của các thầy cô giáo trongkhoa Luật, Trờng Đại Học Vinh cùng các cô chú trong Tòa kinh tế - Tòa ánnhân dân tỉnh Nghệ An, đặc biệt là cô Đặng Thị Hơng Lan - Thẩm phán Tòakinh tế, đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hớng dẫn ThS Nguyễn ThịTuyết, đã tận tình hớng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, ngờithân đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 05 năm 2011

Sinh viên

Hà Văn Hải

Trang 4

Danh môc tõ viÕt t¾t

Blttds: Bé luËt tè tông d©n sùBlds: Bé luËt d©n sù

DN: Doanh nghiÖpXhcn: X· héi chñ nghÜaTand: Tßa ¸n nh©n d©n Tandtc: Tßa ¸n nh©n d©n tèi cao TNHH: Tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n

Trang 5

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở khoa học và phơng pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khoá luận 5

7 Kết cấu của khoá luận 6

Chơng 1 Cơ sở lý luận về phơng thức giải quyết tranh chấp bằng toà án 7

1.1 Khái niệm tranh chấp thơng mại và các phơng thức giải quyết tranh chấp thơng mại 7

1.2 Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Toà án nhân dân……… 19

1.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thơng mại của Toà án 25

1.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp thơng mại bằng Toà án……… 30

Chơng 2 Thực trạng giải quyết tranh chấp thơng mại tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An……… 41

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế thơng mại tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An……… 41

2.2 Một số hạn chế, vớng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp th-ơng mại tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An……… 55

2.3 Nguyên nhân của những vấn đề đang gặp phải trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế tại tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An………… 64

2.4 Một số giải pháp và kiến nghị về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án kinh tế tại tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An……… 66

Kết luận……… 73

Tài liệu tham khảo 74

Trang 6

Mở đầu

1 Tớnh cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện kinh tế ng y c ng phát triày càng phát tri ày càng phát tri ển, các tranh chấp về kinhdoanh, thương mại ng y c ng ày càng phát tri ày càng phát tri đa dạng v phày càng phát tri ức tạp Mặt khác khi nước ta đãgia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Nhiều quan hệ kinh tế cũngmang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú củacác quan hệ n y, các tranh chày càng phát tri ấp kinh tế ng y c ng muôn hình muôn vày càng phát tri ày càng phát tri ẻ vày càng phát trivới số lượng lớn Ở Việt Nam nói chung cũng như ở tỉnh Nghệ An nói riêngcác đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế bằng

To án nhày càng phát tri ư một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả nhất các quyền vày càng phát trilợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoày càng phát trigiải Chính vì vậy, To án có vai trò vô cùng quan trày càng phát tri ọng Hơn nữa, To án lày càng phát tri ày càng phát trimột thiết chế của Nh này càng phát tri ước; hoạt động của To án l mày càng phát tri ày càng phát tri ột hoạt động rất đặcbiệt v mang tính kày càng phát tri ỹ năng nghề nghiệp cao; vì lẽ đó, hoạt động xét xử của

To án phày càng phát tri ải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác v kày càng phát tri ịp thời tránhtình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo d i, dày càng phát tri ễ gây phiền h , mày càng phát tri ệt mỏi chocác bên đương sự Do vậy, việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấpkinh tế, thương mại tại To án ày càng phát tri được nhiều người quan tâm Đồng thời việcgiải quyết tranh chấp n y cũng góp phày càng phát tri ần đảm bảo quyền v lày càng phát tri ợi ích của đương

sự, đảm bảo môi trường kinh doanh l nh mày càng phát tri ạnh v an ninh quày càng phát tri ốc gia

Dới quan điểm của các nhà kinh tế học, nền kinh tế thị trờng đã tạo điềukiện cho việc thu hút các ngành đầu t trong và ngoài nớc để thúc đẩy nền sản xuấthàng hoá nớc ta phát triển Song dới quan điểm của các nhà luật học thì chính nềnsản xuất hàng hoá phát triển cao đã làm phát sinh nhiều mối quan hệ kinh tế phứctạp giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh với nhau Trong những biểu hiện của nó

là các tranh chấp kinh tế khi mà hai bên không thể thoả thuận đợc Trong trờnghợp đó, việc giải quyết tranh chấp này ở đâu? và đợc thực hiện bởi cơ quan nào?

để cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh đó yên tâm, tin tởng vào đờng lối phát triển

Trang 7

kinh tế trong thời kỳ đổi mới mà Đảng, Nhà nớc ta đã đặt ra là vấn đề hết sức cầnthiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay ở nớc ta.

Trên quan điểm đó không ít những công trình nghiên cứu đã và đang

đợc nghiên cứu tìm hiểu để đa ra những giải pháp hữu ích quan trọng đối vớivấn đề giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh hiện nay Tuy vậy,tất cả những công trình vẫn chủ yếu là nêu lên những quan điểm chung vàtrong pham vi rộng thiếu tính cụ thể tại một địa phơng nhất định để tìm hiểu

đợc những vấn đề đợc nêu lên và nhận xét tìm ra một giải pháp, hớng đi cụ thểcho công tác giải quyết tranh chấp kinh tế, thơng mại tại một Toà án cấp tỉnh.Với sự tìm hiểu những vấn đề u việt của công tác giải quyết vấn đề tranh chấp

để từ đó tìm hiểu để làm sáng tỏ thêm những hạn chế trong công tác thực hiệngiải quyết những tranh chấp về kinh tế để đa ra những giải pháp hữu ích choviệc ổn định phát triển nền kinh tề của một địa phơng nhất định cũng nh ở cảnớc chúng ta hiện nay

Vì vậy, vấn đề đặt ra l cày càng phát tri ần phải có sự nghiên cứu giải quyết vấn đềtranh chấp kinh tế tại Toà án một cách to n diày càng phát tri ện, đầy đủ, có hệ thống cả về lýluận v thày càng phát tri ực tiễn tại một Toà án nhân dân cấp tỉnh nhất định, nhằm nâng caohiệu quả của công tác xử lý các vụ án tranh chấp về kinh tế, tránh để xảy ranhững sai lầm, thiếu sót trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, thươngmại tại Toà án v l m phong phú thêm lý luày càng phát tri ày càng phát tri ận về giải quyết tranh chấp kinh

tế tại Toà án nói chung Xét thấy, công tác giải quyết tranh chấp kinh tế tạimột Toà án cấp tỉnh là rất quan trọng và có ý nghĩa lớn trong công tác bổ sung

lý luận cho hệ thống pháp luật, và tìm ra những giải pháp mới và hoàn thiệnhơn trong cách thức giải quyết các vụ án tranh chấp kinh tế

Đáp ứng yêu cầu đó, Nhà nớc ta đã thực hiện cuộc cải cách sâu sắctrong việc tổ chức các cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế Trong đó có việcthành lập Toà án kinh tế - một Toà chuyên trách trong Hệ thống Toà án nhândân có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết các yêu cầutuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật tổ chức Toà án nhân dân đợc Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 và cóhiệu lực ngày 01/07/1994 Từ đó đến nay, phơng thức giải quyết tranh chấpkinh tế phổ biến nhất, quan trọng nhất là Toà án

Trang 8

Trải qua các thời gian khác nhau của xã hội và sự phát triển đi lêncủa nền kinh tế, các Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân đã đạt đ ợc nhữngkết quả nhất định Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà

án đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện phápluật về nội dung và pháp luật về tố tụng cũng nh về tổ chức các Toà kinh tếthuộc Toà án nhân dân

Xuất phát từ yêu cầu khách quan đổi mới phơng thức giải quyết tranhchấp kinh tế ở Toà án nhân dân nói chung và Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An

nói riêng, tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Giải quyết tranh chấp Thương

mại tại Tũa ỏn nhõn dõn Tỉnh Nghệ An - Thực trạng và giải phỏp” làm đề

tài khoá luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội luôn là vấn đề đặt ramột cách thiết yếu để đa đến một kết luận phù hợp đúng với bản chất của vấn

đề, trong hoạt động của cuộc sống hằng ngày của xã hội chung ta luôn cónhững vớng mắc đòi hỏi có một cách thức thoả đáng cho hai bên đó là giảiquyết tranh chấp, với những lĩnh vực giải quyết tranh chấp thì cách thức giảiquyết tranh chấp kinh tế, thơng mại tại toà án luôn đợc quan tâm và có nhữngcách thức nghiên cứu khác nhau

Một số công trình nghiên cứu cũng đề cập vấn đề giải quyết tranhchấp kinh tế tại Toà án l : ày càng phát tri Giáo trình Luật thơng mại (2008) của Trường Đại

học Luật H Này càng phát tri ội; Giáo trình luật thơng mại Việt Nam (2008) của Khoa Luật,

Đại học Quốc gia H Này càng phát tri ội; đề t i "ày càng phát tri Các phương pháp giải quyết tranh chấp

kinh tế ở Việt Nam" thuộc Dự án VIE/94/003 của Bộ Tư pháp; Luận văn thạc

sĩ của Đ o Vày càng phát tri ăn Hội (1996) về đề t i "ày càng phát tri Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà

án "; Đề tài khoa học cấp bộ của Bộ Tư phỏp "Cỏc phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay" (1999)…

Đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp kinh doanh - thơng mại tạiTòa án nói chung đã đựơc một số công trình khoa học tiếp cận ở những góc độkhác nhau Tuy nhiên giải quyết tranh chấp kinh doanh - thơng mại Tòa ántỉnh Nghệ An thì hiện nay cha có Vì vậy, đây là công trình khoa học đầu tiên

Trang 9

nghiên cứu về vấn đề này với đề tài: “Giải quyết tranh chấp Thương mại tại

Tũa ỏn nhõn dõn Tỉnh Nghệ An - Thực trạng và giải phỏp” là một công

trình nghiên cứu trong phạm vi tại một địa phơng cụ thể về giải quyết tranhchấp kinh tế một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về hoạt động giảiquyết tranh chấp kinh tế tại TAND cấp tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của khoá luận

Khoá luận nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận của công tác giải quyết

tranh chấp kinh tế của Toà án nhân dân cấp tỉnh thông qua thực tiễn giải quyếtcác vụ án về kinh tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An và hớng tới những phơng hớnggiải pháp để nâng cao thêm trình độ cũng nh cách thức khác nhau trong côngtác xử lý tranh chấp kinh tế

3.2 Nhiệm vụ của khoá luận

Làm sáng tỏ các vấn đề tranh chấp kinh tế giải quyết tại Toà án vớinhững nhiệm vụ cơ bản là:

Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà

Nhận xét, đánh giá v nêu phày càng phát tri ương hướng cũng như một số biện pháp

cụ thể nhằm xây dựng v ho n thiày càng phát tri ày càng phát tri ện pháp luật về việc giải quyết các tranhchấp kinh tế tại Toà án

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Khoá luận nghiên cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp thơng mạibằng Toà án ở một địa phơng, cụ thể đó là TAND Tỉnh Nghệ An

Trang 10

Đề tài đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận của đề tài là dựa vàoquan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và chính sách, quan

điểm chủ trơng đờng lối của Đảng Nhà nớc về pháp luật

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

Các phơng pháp chủ yếu của đề tài là dự trên các phơng pháp phân tích,tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn, số liệu thu thập đợc liên quan đến phápluật và thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án ởTAND Tỉnh Nghệ An

6 Đóng góp của khoá luận

Khoá luận góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc giải quyết tranhchấp thơng mại tại TAND cấp tỉnh

Với kết quả nghiên cứu đạt đợc của khoá luận có thể áp dụng vào công tácgiải quyết các tranh chấp về kinh tế, thơng mại tại toà án

Khoá luận có thể dùng làm t liệu tham khảo cho các cơ quan thực thipháp luật, sinh viên chuyên ngành Luật, Chính trị - Luật và tất cả những aiquan tâm

7 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận bao gồm 2

ch-ơng 8 tiết

Trang 11

Chơng 1 Cơ sở lý luận về phơng thức giải quyết tranh chấp bằng

toà án

1.1 Khái niệm tranh chấp thơng mại và các phơng thức giải quyết tranh chấp thơng mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp thơng mại

Tranh chấp thơng mại hay tranh chấp kinh doanh là một thuật ngữ quenthuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nớc trên thế giới Khái niệm này mới đựơc

sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nớc ta trong mấy năm gần đây cùng sự nhờng bớccủa khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạchhoá đã ăn sâu trong tiềm thức và t duy pháp lý của ngời Việt Nam

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau đểbiểu đạt loại hình tranh chấp này Mặc dù không xây dựng đựơc một khái niệmchuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

từ ngày 16/3/1994 và Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 cũng đã liệt kê các tranhchấp đựơc coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án kinh tế

và trọng tài kinh tế Theo các văn bản pháp luật này, các tranh chấp kinh tế bao gồm:

- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữapháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh

- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thànhviên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty

- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu

- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật

Dới góc độ pháp luật tố tụng hiện hành ở Việt Nam hiện nay, tranh chấp

th-ơng mại bao gồm những tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty, trong hoạt độngkinh doanh v.v… Có thể nói cách tiếp cận này có phạm vi nội hàm hẹp nên không

Trang 12

thể bao quát hết tranh chấp đã và đang phát sinh trong nền kinh tế thị trờng ở nớc tahiện nay.

Khái niệm tranh chấp thơng mại lần đầu tiên đợc đề cập trong luật thơng mại

10/5/1997 song theo luật thơng mại, tranh chấp thơng mại là tranh chấp phát sinh

do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng thơng mại (Điều 238,

Luật thơng mại 1997) Tuy nhiên quan niệm về tranh chấp thơng mại theo Luật

th-ơng mại 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấp không đợc coi là tranh chấp thth-ơng mại

Luật thơng mại 2005 và pháp lệnh Trọng tài thơng mại 2003 không đa khái

niệm tranh chấp thơng mại mà chỉ đa ra khái niệm hoạt động thơng mại hoạt động

nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu t, xúc tiến thơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác ” (khoản 1 Điều 3,Luật thơng mại 2005)

Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng đã liệt kê các tranh chấp vềkinh doanh, thơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án gồm có:

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thơng mại giữa các cánhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, baogồm: Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lý; ký gửi; thuê;cho thuê; thuê mua; xây dựng; t vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành kháchbằng đờng sắt, đờng bộ, đờng thuỷ nội địa; đờng hàng không, đơng biển; Mua bán

cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác nhau; đầu t, tài chính, ngân hàng; bảohiểm; thăm dò, khai thác

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cánhân, tổ chức với nhau và đều có mục đính lợi nhuận

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viêncông ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợpnhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thơng mại mà pháp luật có quy định.Tranh chấp thơng mại có các đặc trng cơ bản sau:

+ Tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thơng mại

+ Có mục đích sinh lợi

+ Chủ yếu do thơng nhân thực hiện

Nh vậy tranh chấp kinh tế” hay “tranh chấp thơng mại” cần đợc hiểu là

những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong

Trang 13

quá trình hoạt động thơng mại (Giáo trình Luật thơng mại - Tập 2 - Trờng Đại học

luật Hà Nội)

Tranh chấp kinh tế

“ ” là hệ quả phát sinh từ các quan hệ kinh tế - cácquan hệ có tính chất tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời Tính chất,

đặc điểm của các tranh chấp kinh tế bị chi phối bởi tính chất nội dung củacác quan hệ kinh tế Hay nói cách khác cơ sở phát sinh của các tranh chấpkinh tế là hoạt động kinh tế giữa các chủ thể

Giải quyết tranh chấp kinh tế, th

ph-ơng pháp nhằm giải quyết các bất đồng về quyền và nghĩa vụ cả các chủ thể kinhdoanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có tranh chấp

1.1.2 Các phơng thức giải quyết tranh chấp thơng mại

Trên thế giới cũng nh ở Việt Nam, tồn tại bốn phơng thức giải quyết tranhchấp thơng mại cơ bản, bao gồm:

ơng thức giải quyết tranh chấp này thờng đựơc giới thơng nhân lựa chọn mỗi khi

có tranh chấp phát sinh, bởi sự đơn giản của phơng thức thực hiện, ít tốn kém, lạikhông bị ràng buộc bởi những thủ tục pháp lý phức tạp, uy tín cũng nh bí mật trongkinh doanh đợc bảo đảm tối đa và mức độ phơng hại đến mối quan hệ hợp tác giữacác bên cũng thấp, thẩm chí còn tơng cờng sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi th-

ơng lợng thành công

Bản chất của thơng lợng đựơc thể hiện qua các đặc trng cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, phơng thức giải quyết tranh chấp này đợc thực hiện bởi cơ chế tựgiải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải

Trang 14

quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợgiúp hay ra phán quyết.

- Thứ hai, quá trình thơng lợng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộccủa bất kỳ nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào củapháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dùng lại

ở việc ghi nhận thơng lợng là một phơng thức giải quyết tranh chấp thơng mại màkhông có bất kỳ quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thơng mạibằng thơng lợng

- Thứ ba, việc thực thi kết quả thơng lợng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tựnguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảmviệc thực thi đối với thoả thuận của các bên trong quá trình thơng lợng

1.1.2.2 Phơng thức hoà giải

Hoà giải là phơng thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ balàm trung gian hoà giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giảipháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh

Bản chất của hòa giải đợc thể hiện qua các đặc trng cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp thơng mại bằng hoà giải đã có sự hiệndiện của bên thứ ba (do các bên tranh chấp lựa chọn) làm trung gian để trở giúp cácbên tìm kiếm giải pháp tối u nhằm loại trừ tranh chấp

Điểm khác biệt cơ bản giữa hoà giải và thơng lợng là trong hoà giải luôn có

sự xuất hiện của ngời thứ ba tham gia vào qúa trình giải quyết tranh chấp thơng lợng

là sự tự giải quyết tranh chấp giữa các bên mà không có sự xuất hiện của ngời thứba

Tuy nhiên, bên thứ ba làm trung gian hoà giải không có quyền quyết địnhhay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp Quyền quyết địnhcuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp khi họ thống nhất đợc ý chí với nhau vềgiải quyết vụ tranh chấp trên cơ sở hớng dẫn, trợ giúp của ngời thứ ba làm trunggian hoà giải

Tuy cùng có sự tham gia của bên thứ ba vào quá trình giải quyết tranh chấpnhng hoà giải khác với phơng thức tranh chấp thơng mại tài trọng tài hay toà án bởi

Trang 15

vai trò của ngời thứ ba Trọng tài hay toà án với t cách ngời thứ ba tham gia vào vụgiải quyết vụ tranh chấp lại có quyền ra phán quyết để ràng buộc các bên tranh chấp.

- Thứ hai, quá trình hoà giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi phốibởi các quy định của tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hoà giải

Cũng giống nh thơng lợng, pháp luật hiện hành của Việt Nam không có quy

định nào ràng buộc, chi phối đến có chế hoà giải ngoài các quy định có tính chất ghinhận thơng lợng, hoà giải là những phơng thức giải quyết tranh chấp đợc các bêntranh chấp u tiên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh

- Thứ ba, kết quả hoà giải thành đợc thực thi cũng hoàn toàn phù thuộc vào sự

tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào đảm bảothi hành những cam kết của các bên trong quá trình hoà giải

Cũng giống nh thơng lựơng giải quyết tranh chấp thơng mại bằng hoà giảithực chất vẫn đợc thực hiện bằng cơ chế tự giải quyết và hoàn toàn dựa trên cơ sở tựnguyện của các bên tranh chấp

1.1.2.3 Phơng thức trọng tài thơng mại

Trọng tài thơng mại tồn tại dới hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc (trọng tàiad- hoc) và trọng tài thờng trực

* Trọng tài vụ việc:

Trọng tài vụ việc là phơng thức trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuậnthành lập để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồntại khi giải quyết xong vụ tranh chấp

Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất, đợc sử dụng rộngrãi ở các nớc trên thế giới Pháp luật về trọng tài của các nớc trên thế giới đều ghinhận sự tồn tại của hình thức trọng tài này Tuy nhiên, quy định của pháp luật các n-

ớc về hình thức trọng tài này cũng ở mức độ sâu, rộng khác nhau

Bản chất của trọng tài vụ việc đựơc thể hiện qua các đặc trng cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ đựơc thành lập khi phát sinh tranh chấp và tựchấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp

Tính chất “vụ việc” hay “lâm thời” của hình thức trọng tài này thể hiện ở chỗtrọng tài chỉ đựơc thành lập theo thoả thuận của các bên tranh chấp để giải quyết vụtranh chấp cụ thể giữa các bên Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trongthời gian giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên, khi giải quyết xong vụ tranh chấp,trọng tài tự chấm dứt hoạt động

Trang 16

- Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thờng trực, không có bộ máy điềuhành (vì chỉ đựơc thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo sự thoả thuận của cácbên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.

Trọng tài viên đựơc các bên lựa chọn hoặc đợc chỉ định có thể là ngời có têntrong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào

- Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.Trọng tài vụ việc chỉ đợc các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp bên quytắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải đựơc các bên thoả thuận xây dựng Tuynhiên, để tránh lãng phí thời gian cũng nh công sức đầu t vào việc xây dựng quy tắc

tố tụng, các bên tranh chấp có thể thoả thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụngphổ biến nào, mà thông thờng là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài ở trongnớc và quốc tế

* Trọng tài thờng trực:

ở các nớc trên thế giới, trọng tài thờng trực thờng đựơc tổ chức dới nhữnghình thức đa dạng nh: Các trung tâm trọng tài (trung tâm trọng tài quốc tếsinggapore, trung tâm trọng tài thơng mại quốc tế Australia, trung tâm trọng tài quốc

tế Hồng Kông… ), các hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ, hiệp hội trọngtài Nhật Bản) hay các viện trọng tài (Viện trọng tài Stockholm- Thuỷ Điện) nhngchủ yếu và phổ biến đợc tổ chức dới dạng các trung tâm trọng tài

Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thờng trực đợc tổ chức dới dạng các trungtâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có t cách pháp nhân, cócon dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định

Các trung tâm trọng tài có một số đặc trng cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong

hệ thống cơ quan Nhà nớc

Các trung tâm trọng tài đợc thành lập theo sáng kiến của các trọng tài viênsau khi đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền cho phép, chứ không phải đựơc thànhlập bởi Nhà nớc Các trung tâm trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lýNhà nớc (nh trọng tài kinh tế Nhà nớc trớc đây) Cũng không thuộc hệ thống cơ quanxét xử Nhà nớc (nh toà án kinh tế hiện nay)

Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trại mà không

đựơc cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nớc

Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lựcNhà nớc mà nhân danh ngời thứ ba độc lập ra phán quyết

Trang 17

Là tổ chức phi chính phủ nhng các trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dới sựquản lý và hỗ trợ của Nhà nớc Nhà nớc là chủ thể quản lý đối với mọi mặt của đờisống xã hội Nhà nớc quản lý đối với các trung tâm trọng tài thông qua việc banhành các văn bản pháp luật tạo sơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của cáctrung tâm trọng tài Ngoài ra, việc quản lý Nhà nớc đối với trọng tài thơng mại còn

đợc thực hiện thông qua hoạt động quản lý của hệ thống các cơ quan Nhà nớc cóthẩm quyền trong việc cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, giấy

đăng ký của các trung tâm trọng tài…

- Thứ hai, các trung tâm trọng tài có t cách pháp nhân, tồn tại độc lậpvới nhau

Trung tâm trọng tài là tổ chức thoả mãn đầy đủ các điều kiên của pháp nhân,bao gồm:

hệ thống các cơ quan tài phán Nhà nớc Sự khác biệt này về tổ chức của trọng tài

th-ơng mại (cơ quan tài phán t) so với hệ thống tổ chức của toà án (cơ quan tài pháncông) dẫn đến tính đặc thù của tố tụng trọng tài trong việc áp dụng nguyên tắc xét

xử một lần

- Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ.Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tàiviên của trung tâm trọng tài

Ban điều hành của trung tâm trọng tài gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủtịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng th ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trungtâm trọng tài cử

Bên cạnh ban điều hành, trung tâm trọng tài còn có các trọng tài viên trongdanh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài Các trọng tài viên tham gia vào việcgiải quyết tranh chấp khi đựơc chọn hoặc chỉ định

Trang 18

- Thứ t, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quytắc tố tụng riêng

Mỗi trung tâm trọng tài tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình tuỳ thuộcvào khả năng chuyên của đội ngũ trọng tài viên và phải đợc ghi rõ trong điều lệ củatrung tâm trọng tài Trong quá trình hoạt động, các trung tâm trọng tài có quyền mởrộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động nhng phải đựơc sự chuẩn thuận của cơquan Nhà nớc có thẩm quyền

- Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài đựơc tiến hành bởi cáctrọng tài viên của trung tâm

Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về trọng tài viên của trungtâm Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia hội đồng trọng tài hoặc trọngtài viên duy nhất để giải quyết vụ tranh chấp chỉ đợc giới hạn trong danh sách trọngtài viên của trung tâm trọng tài Vì vậy hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ

đợc tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm Đặc điểm này có sự khácbiệt so với giải quyết tranh chấp thơng mại tại trọng tài vụ việc

1.1.2.4 Phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thơng mại bằng con đờng Toà án

Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam thế giới cũng nh ở Việt Nam, tồn tạibốn phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thơng mại cơ bản đó là: Thơng lựơng,hoà giải, trọng tài thơng mại, toà án

Trong thực tiễn giải quýêt tranh chấp kinh tế thơng mại thì giải quyết tranhchấp kinh tế, thơng mại đợc thực hiện bằng một trong hai con đờng cơ bản: Một là,giải quyết tại toà án nhân dân theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Hai là, giảiquyết bằng trọng tài theo quy định của pháp lệnh trọng tài thơng mại, Nghị quyết số25/2004/ NĐ-CP Ngày 15/11/2004 của Chính phủ

Nh vậy, khi xẩy ra tranh chấp các bên có thể đa vụ việc ra toà án hoặc trọngtài để giải quyết Hai con đờng này có sự khác biệt cơ bản, tuy kết quả cuối cùng đều

có thể đợc thực thi bằng cơ quan thi hành án - cơ quan thực hiện cuối cùng của một

vụ án

Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nớc, nhân danh nớc CHXHCN Việt Namquyết định đa tranh chấp ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự đợc quy định trong Bộluật tố tụng dân sự Quá trình tố tụng nh vậy phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục tố tụngrờm rà, thời gian kéo dài; Xét xử công khai; án đợc tuyên không tuỳ thuộc ý chí các

Trang 19

bên mà là kết quả nghị án của hội đồng xét xử Vì vậy nên ph ơng thức giải quyếtbằng con đờng toà án nếu xét toàn diện về mọi mặt thì cũng không phải là phơngthức chiếm u thế

Trong khi đó, trọng tài thơng mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận giảiquyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc chọn trọngtài Quá trình giải quyết, đợc thực hiện theo nguyên tắc “phân sự trọng tài” phù hợpvới quy định trong pháp lệnh trọng tài thơng mại và quy chế của tổ chức trọng tài màcác bên đã lựa chọn Thủ tục giải quyết đã có nhiều mặt ngợc với tố tụng toà án

1.1.3 ý nghĩa của phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế thơng mại theo thủ tục toà án

Giải quyết tranh chấp bằng con đờng toà án là phơng thức giải quyết tranhchấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nớc, đựoc tiến hành theo trình tự,thủ tục ngiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của toà án về vụ tranh chấpnếu không có xử tự nguyện tuân thủ sẽ đợc bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cỡngchế của Nhà nớc

- ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thơng mại bằng toà án:

Đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng kịp thời, chính xác, nghiêmminh, đúng pháp luật

Đảm bảo cho các phán quyết của toà án đợc thực thi một cách nghiêm chỉnh

đúng pháp luật Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự gián đoạn trong hoạt độngkinh doanh của các chủ thể tranh chấp Đợc đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cỡngchế của Nhà nớc

1.1.4 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế

a Cơ cấu của toà án kinh tế

Toà án kinh tế đựoc tổ chức thành toà chuyên trách trong hệ thống toà ánnhân dân nh: Toà dân sự, tòa hình sự, gồm có: Toà án kinh tế toà án nhân dân tốicao, toà kinh tế thuộc toà án nhân dân cấp tỉnh, thẩm phán chuyên trách xét xử các

vụ án kinh tế ở toà án cấp huyện

- ở Trung ơng: Toà án nhân dân tối cao có toà án kinh tế tồn tại độc lập vàsong song với các toà chuyên trách khác nh: Toà hình sự, toà dân sự, toà lao độngv.v… Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế tào án nhân dân tối cao gồm có chánh toà, cácphó chánh toà, các thẩm phán và th ký toà

Trang 20

- ở địa phơng: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh gồmcó: Chánh toà, phó chánh toà, các thẩm phán và th ký toà

- ở toà án nhân dân cấp huyện: Không có toà chuyên trách về kinh tế songTAND cấp huyện vẫn có chức năng giải quyế các tranh chấp kinh tế và có các thẩmphán kinh tế đảm nhận xét xử các vụ án kinh tế

b Chức năng và nhiệm vụ của toà án kinh tế

Toà kinh tế toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng có nhữngnhiệm vụ và quyền hạn sau đây: (Khoản 3 Điều 30 luật tổ chức toà án nhân dân2/4/2002 quy định)

+ Sơ thẩm những vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng;

+ Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm mà cha cóhiệu lực pháp luật của toà án cấp dới bi kháng cáo, kháng nghi theo quy định củapháp luật tố tụng;

+ Giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật

Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có hai chức năng chủ yếu sau:+ Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật Đây làchức năng chủ yếu thờng xuyên mang tính truyền thống của một cơ quan xét xử, toà

án có thẩm quyền nhân danh nớc Cộng Hòa XHCN Việt Nam để tuyên án và kếtquả của việc xét xử là bản án hoặc quyết định

+ Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Toà án nhân dân cấptỉnh, toà án nhân đân tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầutuyên bố phá sản doanh nghiệp

- Nhiệm vụ của Toà án kinh tế

Giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích củaNhà nớc, quyền và lợi ích của cá nhân, pháp nhân; Nhiệm vụ bảo vệ pháp chếXHCN; Nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; Nhiệm vụ giảiquyết nhanh chóng kịp thời các vụ án kinh tế

Thực tiễn hoạt động kinh doanh yêu cầu đặt ra là phải có phơng thức giảiquyết tranh chấp kinh tế kịp thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảmbớt những tổn thất về kinh tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi cácdoanh nghiệp, các nhà kinh doanh, tạo ra động lực thúc đẩy kinh doanh phát triển

Mặt khác khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong nớc cũng nh ở nớcngoài yên tâm bỏ vốn để đẩu t phát triển đất nớc

Trang 21

Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chứctoà án nhân dân Ngày 28/6/1996 Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân tốicao đã ban hành thông t liên ngành số 04 TTLT hớng dẫn áp dụng pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, trong đó quy định tổ chức toà kinh tế nằmtrong hệ thống toà án nhân với vai trò nh các toà chuyên trách khác, có thẩm quyềngiải quyết các tranh chấp phát sinh trong nền kinh tế thị trờng

1.2 Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Toà án nhân dân

Xuất phát từ yêu cầu quản lý kinh tế bằng pháp luật và yêu cầu lợi íchkinh tế của chính các nhà doanh nghiệp, việc giải quyết các tranh chấp kinh tếtrong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi hiện nay đòi hỏi phải đáp ứng đợc cácyêu cầu sau:

- Nhanh chóng và đúng đắn, hạn chế đến mức tối đa sự gián đoạn củaquá trình sản xuất, kinh doanh

- Đảm bảo dân chủ, công khai, quyền tự định đoạt của các bên trongquá trình giải quyết tranh chấp

- Đảm bảo yếu tố bí mật trong kinh doanh

- Đảm bảo uy tín cho các bên trong thơng trờng

- Đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi íchhợp pháp của các bên tham gia tranh chấp

Để tạo điều kiện cho Toà án kinh tế tiến hành tố tụng một cách nhanhchóng đồng thời đảm bảo cho các đơng sự có điều kiện thực hiện đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ, trên cơ sở đó ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật,những biểu hiện tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án thì hoạt động củaToà án kinh tế phải dựa trên các nguyên tắc của tố tụng kinh tế

Lý luận Mác - Lê nin về Nhà nớc và pháp luật đã chỉ ra rằng nguyên tắccủa pháp luật xã hội chủ nghĩa là những t tởng chỉ đạo bao trùm lên toàn bộcác quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật và hệ thống các ngành luật cụthể Theo đó nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế là những t tởng pháp lý chỉ

đạo chi phối toàn bộ hệ thống chế định pháp luật trong Bộ luật tố tụng dân sự

2004, làm kim chỉ nam định hớng xuyên suốt cho toàn bộ quá trình hoạt độnggiải quyết tranh chấp của Toà án kinh tế

Trang 22

Tất cả các hành vi đợc tiến hành trong quá trình tố tụng nh khởi kiện, raquyết định, bản án đều phải thực hiện trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc đã

đề ra Bất cứ một hành vi nào vi phạm các nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh

tế đều đợc coi là bất hợp pháp và phải bị loại bỏ

Khi đi vào nghiên cứu các nguyên tắc có thể thấy rõ hoạt động của tốtụng kinh tế cũng nh các hoạt động tố tụng khác Trong quá trình giải quyếttranh chấp kinh tế Toà kinh tế phải tuân theo các nguyên tắc chung về tố tụng

đợc quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân nh: nguyên tắckhi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo phápluật; Toà án xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Toà án

đảm bảo cho đơng sự đợc dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trớc toà

Đây là các nguyên tắc chung về tố tụng nhng trong tố tụng kinh tế cũng cócác nguyên tắc đặc thù riêng Vì vậy giới hạn trong nội dung của phần nàychúng tôi chỉ trình bày một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế

1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đơng sự

Đây là nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế Nguyên tắc này phát sinh

từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, Nhà nớc không can thiệp vàocác hoạt động kinh doanh đúng pháp luật Khi xảy ra tranh chấp, Toà án chỉtham gia giải quyết nếu đơng sự có đơn yêu cầu Việc yêu cầu Toà án giảiquyết tranh chấp là quyền của các chủ thể kinh doanh Các cơ quan Nhà nớc,

tổ chức xã hội không có quyền khởi kiện, khởi tố các tranh chấp kinh tế

Quyền tự định đoạt của đơng sự đợc thể hiện ở những nội dung sau:

- Quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện

- Quyền xác định phạm vi yêu cầu

- Quyền đợc thay đổi, bổ sung nội dung yêu cầu

- Quyền đề xuất bổ sung chứng cứ

- Quyền rút đơn kiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng.Trong toàn bộ các quyền kể trên thì quyền khởi kiện hoặc không khởikiện là quan trọng nhất Bởi vì kinh doanh là một công việc có tính chất riêng

t, các tranh chấp phát sinh trong kinh doanh phải do chính các nhà doanhnghiệp tự quyết định Trong nền kinh tế thị trờng các bên tham gia vào quan

hệ kinh tế với mục đích làm sao kiếm đợc lợi nhuận cao nhất trên cơ sở pháthuy mối quan hệ kinh doanh tốt đối với các bạn hàng, mở rộng thị trờng và tạo

uy tín lớn Do đó, khi tranh chấp kinh doanh xảy ra việc đa ra Toà án giải

Trang 23

quyết phải đợc các bên cân nhắc kỹ lỡng, đây là biện pháp cuối cùng khi cácbên tranh chấp không tìm đợc cách giải quyết nào tốt hơn.

đợc hởng các quyền cũng nh phải thực hiện nghĩa vụ nh nhau theo quy địnhcủa pháp luật

Theo nguyên tắc này không một cá nhân, một cơ sở sản xuất kinhdoanh nào có đặc quyền đặc lợi trớc Toà án Họ đều ở vị trí bình đẳng về tốtụng và đều phải tuân theo pháp luật Nếu có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theopháp luật

Nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng kinh tế đảm bảo cho việc xét xử

đ-ợc công bằng, đúng pháp luật Nguyên tắc này khuyến khích các thành phầnkinh tế ngoài quốc doanh nói riêng và mọi thành phần kinh tế nói chung mạnhdạn đầu t vào hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế nó có ý nghĩa quan trọngtrong việc phát triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta

1.2.3 Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ

Đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của tố tụng kinh tế, theo nguyêntắc này các đơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệquyền lợi của mình Toà án không tự điều tra, thu thập chứng cứ nh trong việcgiải quyết các vụ án dân sự

Trong tố tụng dân sự, nhiều trờng hợp đơng sự là ngời cha thành niên,ngời có nhợc điểm về thể chất hoặc tâm thần tức là những ngời này bị hạnchế hoặc không có năng lực hành vi Nếu có phát sinh tranh chấp và đợc giảiquyết bởi Toà án thì trong nhiều trờng hợp các đơng sự này không thể tựchứng minh cho các yêu cầu của mình nên Toà án phải tiến hành điều tra, thuthập thêm chứng cứ

Trang 24

Còn trong kinh doanh, các nhà kinh doanh phải có đủ một số điều kiện

mà pháp luật quy định cho họ nh: phải từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi

đầy đủ, có trình độ chuyên môn phù hợp với ngành nghề kinh doanh Vì thếkhi xảy ra tranh chấp các nhà kinh doanh đều có đủ khả năng để tự thu thậptài liệu chứng cứ chứng minh nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Mặt khác,trong vụ án kinh tế yêu cầu Toà án giải quyết là hoàn toàn do đơng sự tự định

đoạt một cách chủ động, không có trờng hợp nào Viện kiểm sát hoặc tổ chứcxã hội can thiệp vào việc đa ra yêu cầu đồng thời làm thay đổi việc cung cấpchứng cứ chứng minh

Việc nâng cao trách nhiệm tự chứng minh của các đơng sự là đảm bảocho việc giải quyết các vụ án kinh tế đợc nhanh chóng, chính xác và kháchquan Toà án chỉ giải quyết trên cơ sở chứng cứ mà đơng sự cung cấp Toà ánkhông tiến hành xét hỏi mà nghe các bên trình bày và xác minh chứng cứ Cácbên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết để chứngminh và bảo vệ quyền lợi của mình Trong trờng hợp đơng sự cung cấp chứng

cứ cha đầy đủ hoặc chứng cứ đó cha chính xác thì Toà án sẽ yêu cầu đơng sựcung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh sự chính xác của chứng cứ

1.2.4 Nguyên tắc Toà án chỉ thụ lý đơn kiện khi các bên đã tiến hành thơng lợng, hoà giải

Nguyên tắc hoà giải phải gắn liền với nguyên tắc tự định đoạt của đơng

sự Các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào các quan hệ kinh tế là dựa trên cơ

sở bình đẳng, tự nguyện Do đó khi phát sinh tranh chấp các bên phải chủ

động tiến hành thơng lợng, hoà giải với nhau để cùng một biện pháp giảiquyết Chỉ khi nào có văn bản chứng tỏ việc thơng lợng, hoà giải không thànhhoặc không thể tiến hành vì sự thiếu thiện chí của một bên lúc đó Toà án mớithụ lý hồ sơ và giải quyết

Hoà giải là việc các bên tự thơng lợng giải quyết tranh chấp với nhau

mà không cần có phán quyết của Toà án Nguyên tắc này xuyên suốt quá trìnhgiải quyết vụ án kinh tế Khi các đơng sự đã yêu cầu Toà án can thiệp hoặctrong quá trình xét xử Toà án cũng luôn tìm các biện pháp để các bên có thểhoà giải với nhau nhằm giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án, làm giảm đinhững mâu thuẫn căng thẳng, giảm phí tổn, thời gian trong quá trình tranhtụng, tiết kiệm tiền của cho các bên tranh chấp

Trang 25

1.2.5 Nguyên tắc Toà án giải quyết vụ án kinh tế nhanh chóng, kịp thời

Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng rất năng động, linhhoạt thời gian đối với các nhà kinh doanh có ý nghĩa sống còn Do đó, khi cótranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, các nhà kinh doanh cần ở cáccơ quan giải quyết tranh chấp không những giải quyết đúng pháp luật, thấutình đạt lý mà còn phải nhanh chóng kịp thời và dứt điểm tránh dây da kéo dàigây lãng phí thời gian và tiền của Bởi vậy, BLTTDS 2004 quy định đây lànguyên tắc đặc trng của tố tụng vụ án kinh tế, bởi lẽ nó chi phối tất cả các thờihạn tố tụng trong việc giải quyết vụ án kinh tế, nhanh chóng về thời gian là

đòi hỏi của các chủ thể kinh doanh khi giải quyết các tranh chấp Trong quátrình giải quyết vụ án, Toà án không cần qua giai đoạn điều tra thu thập, xácminh chứng cứ, hạn chế thấp nhất việc quay vòng vụ án để xét xử nhiều lần

Nh vậy, với những quy định nh trên thì nguyên tắc Toà án xét xử nhanhchóng, dứt điểm các vụ án kinh tế là một nguyên tắc tiến bộ Nếu đợc Toà ánquán triệt sâu sắc trong hoạt động xét xử thì nó sẽ góp phần không nhỏ vàoviệc bảo vệ quyền lợi của các nhà kinh doanh, hạn chế những hậu quả không

đáng có xảy ra cho họ

1.2.6 Nguyên tắc Toà án xét xử công khai

Nguyên tắc Toà án tiến hành xét xử công khai là một nguyên tắc Hiến

định của Toà án Nguyên tắc này đảm bảo cho nhân dân giám sát đợc côngviệc xét xử của Toà án, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong quátrình xét xử đồng thời đề cao trách nhiệm của ngời làm công tác xét xử Quaviệc xét xử công khai này, Toà án có thể tuyên truyền giải thích pháp luật Tại phiên Toà các chứng cứ, tài liệu, mọi vật chứng của vụ án đều phải

đợc đọc, xem xét công khai Nếu ngời tham gia tố tụng vắng mặt phiên Toàvẫn đợc tiến hành thì phải đọc lời khai của họ trong hồ sơ vụ án

Tuy nhiên khi xét xử các vụ án kinh tế, pháp luật cho phép Toà án đợcquyền xét xử kín trong trờng hợp cần giữ bí mật Nhà nớc, hoặc giữ bí mật của

đơng sự theo yêu cầu chính đáng của họ Đây là một nguyên tắc thể hiện tínhmềm dẻo, linh động của tố tụng kinh tế phù hợp với nhu cầu, tâm lý của cácbên đơng sự Bởi trong nền kinh tế thị trờng mục đích hàng đầu của các nhàkinh doanh là lợi nhuận thì bí mật trong kinh doanh ( bí mật nghề nghiệp, phátminh, sáng chế, giải pháp kỹ thuật ) là những yếu tố đóng vai trò quan trọng

Trang 26

trong chiến lợc phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp Nhiều khi giá trịtranh chấp trong kinh doanh không thể so sánh đợc với giá trị của bí mật kinhdoanh và hệ quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp không thể bảo vệ đợc quyền lợicủa mình thông qua Toà án và họ sẽ tìm đến phơng thức giải quyết tranh chấpkinh tế khác Nh vậy sẽ làm ảnh hởng đến chính sách quản lý kinh tế của Nhànớc bằng pháp luật.

ở đây Toà án là ngời có thẩm quyền trong việc quyết định đa vụ án raxét xử công khai hay xét xử kín

1.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thơng mại của Toà án

Giải quyết tranh chấp kinh tế, thơng mại hiện nay đòi hỏi phải có những hìnhthức, thủ tục đa dạng, linh hoạt, trong khuôn khổ pháp luật kinh tế, dựa trên sự tôntrọng quyền định đoạt của đơng sự, bảo đảm thời gian, bảo đảm bí mật kinh doanh

và uy tín của các bên đơng sự, phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế

Ngày 01/07/ 1994 Toà án kinh tế một toà án chuyên trách của Toà án nhândân đã đợc ra đời, có chức năng giải quyết và xét xử các vụ án kinh tế Pháp luật nộidung trong thời gian qua ở nớc ta đã có nhiều bớc tiến đáng kể theo hớng văn minh,hiện đại Việc xác định một vụ việc tranh chấp có phải là tranh chấp về kinh tế, th-

ơng mại của Toà án không? Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thủ lý,chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh chấp cũng nh việc thi hành quyết định, bản án củatoà án

Thẩm quyền dân sự của Toà án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc vàquyền hạn ra quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục Tố tụngcủa toà án

ở các nớc khác nhau, có thể có sự khác nhau trong việc xác định thẩmquyền giải quyết các tranh chấp thơng mại tại toà án Một số nớc trao thẩmquyền xét xử mọi tranh chấp, trong đó có tranh chấp trong thơng mại toà án th-ờng (Toà dân sự) Một số nớc khác lại trao thẩm quyền xét xử tranh chấp th-

ơng mại cho toà án thơng mại - Toà chuyên trách trong cơ quan t pháp Cáctoà án thơng mại chỉ xét xử sơ thẩm, nếu có phúc thẩm sẽ đợc đa ra xét xử tạitoà thợng thẩm dân sự Có nớc thành lập hệ thống toà án độc lập gọi toà ántrọng tài để giải quyết tranh chấp

ở Việt Nam, tranh chấp thơng mại chủ yếu thuộc thẩm quyền xét xử củaToà kinh tế - Toà chuyên trách trong hệ thống toà án nhân dân

Trang 27

Thẩm quyền của toà án về giải quyết các tranh chấp kinh tế, th ơngmại đợc pháp luật phân định theo cấp của toà án, theo lãnh thổ, theo sự lựachọn của nguyên đơn

1.3.1 Thẩm quyền theo cấp Toà án

Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các cấp của Toà án bảo đảm choviệc giải quyết vụ án đựơc chính xác, đúng pháp luật ở Việt Nam, hệ thống Toà án

đợc tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ Trong các Toà án chỉ có TAND cấphuyện và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử vụ án dân sự Do vậy, việc phân

định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa toà án các cấp đợc thực hiện đối với TANDcấp huyện và TAND cấp tỉnh

a Toà án cấp huyện

Tuy không thành lập phân toà kinh tế ở TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnhnhng theo Điều 33 TTBLDS năm 2004.TAND cấp huyện vẫn đợc trao thẩm quyềnsơ thẩm một số tranh chấp kinh tế, thơng mại quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h và

i khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2004

TAND cấp huyện chủ yếu tập trung giải quyết các tranh chấp về kinh tế,

th-ơng mại cho toà án kinh tế cấp tỉnh Các tranh chấp về kinh tế, thth-ơng mại khôngthuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện gồm có: tranh chấp quy định tạicác điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2004 mà có đơng sựhoặc tài sản ở nớc ngoài hoặc cần uỷ thác t pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam

ở nớc ngoài, cho Toà án nớc ngoài; tranh chấp vận chuyển hàng hoá, hành kháchbằng đờng hàng không, đờng biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ cógiá khác; đầu t, tài chính, ngân hàng; thăm dò bảo hiểm, khai thác; tranh chấp vềquyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghiệp giữa các cá nhân và đều có mục đíchlợi nhuận; tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việcthành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thứccủa công ty; các tranh chấp khác về kinh doanh, thơng mại mà pháp luật có quy

Trang 28

+ Các tranh chấp kinh doanh thơng mại có yếu tố nớc ngoài.

+ tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, giữa thành viên công ty vớinhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể,chuyển đổi hình thức công ty

+ Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cánhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

+ Tranh chấp vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đờng hàng không, ờng biển, mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác nhau; đầu t, tài chính,ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác

đ-Khi cần thiết, Toà kinh tế TAND cấp tỉnh còn có thể lấy lên để giải quyếttheo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện (khoản

2 Điều 34 BLTTDS năm 2004)

Ngoài thẩm quyền sơ thẩm, Toà kinh tế TAND cấp tỉnh còn có thẩm quyềnphúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm cha có hiệu lực phápluật của Toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

- uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm

đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật củaTAND cấp huyện bị kháng nghị theo trình tự tố tụng

c Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thơng mại của TAND tối cao thuộc Toà kinh tế, Toà phúc thẩm và hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

- Toà kinh tế, TAND tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm nhữngbản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh bị kháng nghị theotrình tự tố tụng

- Toà phúc thẩm TAND tối cao có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ

án mà bản án, quyết định sơ thẩm cha có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh bịkháng nghị, kháng cáo

- Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm

đối với những vụ án mà bản án, quyết định của TAND tối cao bị kháng nghị theotrình tự tố tụng

1.3.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ

Việc phân định thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ là sự phân định thẩmquyền sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Toà án cùng cấp với nhau Theo Điều 35BLTTDS năm 2004, Toà án có thẩm quyền sơ thẩm tranh chấp về kinh tế, thơng mại

là Toà án nơi bị đơn c trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở

Trang 29

(nếu bị đơn là cơ quan tổ chức) và nếu đối tợng tranh chấp là bất động sản thì là nơi

có bất động sản đó

BLTTDS năm 2004 còn cho phép đơng sự có quyền thoả thuận với nhaubằng văn bản yêu cầu Toà án nơi c trú, làm việc của nguyên đơn(nếu bị đơn là cánhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan tổ chức) giải quyết tranh chấpkinh tế, thơng mại

1.3.3 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Để thuận lợi nhất cho nguyên đơn trong việc giải quyết các vụ tranh chấpcũng nh xác định thẩm quyền của toà án cụ thể, pháp luật dành cho nguyên đơn đợcquyền chọn toà án để giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thơng mại trong nhữngtrờng hợp sau đây:

- Nguyên đơn không biết chính xác nơi c trú, làm việc của bị đơn

- Vụ tranh chấp có nhiều bị đơn c trú ở nhiều nơi khác nhau

- Đối tợng của tranh chấp là những bất động sản ở nhiều nơi khác nhau

+ Nếu không biết nơi c trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn cótài sản giải quyết

+ Nếu tranh chấp phát sinh từ chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêucầu toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết

+ Nếu bị đơn không có nơi c trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn

có thể yêu cầu toà án nơi mình c trú, làm việc giải quyết

+ Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêucầu toà án nơi hợp đồng đợc thực hiện giải quyết

+ Nếu các bị đơn c trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thìnguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi một trong các bị đơn c trú, làm việc, cótrụ sở giải quyết

+ Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phơngkhác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi có một trong các bất độngsản giải quyết

1.3.4 Chuyển vụ án dân sự cho toà án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, nhập và tách vụ án dân sự

- Chuyển vụ án dân sự cho toà án khác

Về nguyên tắc, vụ án dân sự phải do toà án có thẩm quyền giải quyết Vì vậy,toà án phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho toà án cấp có thẩm quyền

Trang 30

giải quyết nếu sau khi thụ lý vụ án dân sự mà phát hiện thấy không thuộc thẩmquyền của mình

- Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

Theo pháp luật tố tụng dân sự, các tranh chấp về thẩm quyền giữa các toà án

đợc giả quyết nh sau:

Tranh chấp về thẩm quyền giữa các toà án nhân dân cấp huyện trong cùngmột tỉnh do chánh án toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết

Tranh chấp về thẩm quyền giữa các toà án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh,thành phố trực thuộc trung ơng khác nhau hoặc giữa các toà án nhân dân cấp tỉnh dochánh án toà án nhân dân tối cao giải quyết

- Nhập và tách vụ án dân sự

Về nguyên tắc, việc tách vụ án chỉ thực hiện trong trờng hợp vụ án có nhiềuquan hệ pháp luật có thể giải quyết độc lập mà không ảnh hởng tới việc giải quyếtcác quan hệ pháp luật khác; Việc nhập vụ án chỉ thực hiện trong trờng hợp có nhiềuquan hệ pháp luật cần giải quyết và việc nhập các quan hệ pháp luật trong cùng một

vụ án vẫn đảm bảo đúng pháp luật và không ảnh hởng tới kết quả giải quyết cácquan hệ pháp luật đó

1.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp thơng mại bằng Tòa án

1.4.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

a Khởi kiện

Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thểkhác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn theo yêu cầu tòa án cóthẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của ngời khác

- ý nghĩa của việc khởi kiện:

Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân vàcác chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp

lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Không có hoạt động khởikiện thì không có quá trình tố tụng dân sự cho các giai đoạn tiếp theo Tòa ánchỉ thụ lý vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của chủ thể

Điều kiện khởi kiện:

Điều 161 BLTTDS không những quy định về quyền khởi kiện mà còn

quy định về điều kiện khởi kiện của vụ án dân sự cá nhân, cơ quan tổ chức

có quyền tự mình hoặc thông qua ngời đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau

Trang 31

đây gọi chung là ngời khởi kiện) tại tòa án để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho mình

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của phápluật đợc tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự; vụ án đựợc khởi kiệnphải đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tức là:

Vụ án mà họ khởi kiện phải thuộc phạm vi giải quyết của Tòa án quy

định tại các Điều 25,27,29,31 của BLTTDS 2004; vụ án khởi kiện phải đúngvới cấp tòa án có thẩm quyền quy định tại Điều 33, 24 của BLTTDS 2004; vụ

án đợc khởi kiện phải đúng thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Điều 35BLTTDS 2004; sự việc cha đợc giải quyết bằng một bản án hoặc quyết địnhcủa Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền đã có hiệulực pháp luật; vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện, việc khởi kiện vụ án phải đợctiến hành trong thời hiệu khởi kiện

- Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự

Để đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự của tòa án đựơc nhanhchóng và đúng đắn, BLTTDS quy định phạm vi khởi kiện vụ án dân sự, theo

- Hình thức khởi kiện và việc gửi đơn khởi kiện

Vụ án dân sự phát sinh chủ yếu là do cá nhân, pháp nhân thực hiệnquyền khởi kiện của mình bằng việc nộp đơn khởi kiện tại tòa án Theo Điều

164 BLTTDS 2004 cá nhân, cơ quan, tổ chức, khởi kiện phải làm đơn khởikiện Đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ án phải rõ ràng, đầy đủ Nộidung đơn khởi kiện phải trình bày đợc những vấn đề cơ bản theo quy định tạikhoản 2 Điều 164 BLTTDS 2004

Trang 32

của quá trình tố tụng Thụ lý vụ án dân sự bao gồm hai hoạt động cơ bản lànhận đơn khởi kiện, xem xét vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết.

Theo quy định tại Điều 167 BLTTDS 2004 Tòa án phải nhận đơn khởikiện do đơng sự nộp trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua bu điện và phải ghi vào

sổ nhận đơn Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện tòa án phảixem xét và có một trong những quyết định là:

Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết;chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền, hoặc trả lại đơn khởi kiệncho ngời khởi kiện

1.4.1.2 Hòa giải, tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

định tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các

đơng sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của

bộ luật này Hoạt động hòa giải đựơc tiến hành trớc khi xét xử sơ thẩm của vụ

án dân sự, để giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật nhằm giúp

đỡ các đơng sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về việc giải quyếtcác vấn đề của vụ án dân sự có tranh chấp

- Nguyên tắc tiến hành hòa giải

Theo khoản 2 Điều 180 BLTTDS 2004 việc hòa giải vụ án dân sự phải

đợc tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

Tôn trọng sự tự nguyện, thỏa thuận của đơng sự, tránh lối hòa giải mộtcách gò bó, cỡng ép đối với một bên hoặc cả hai bên đơng sự Cấm dùng vũlực hoặc đe dọa dùng vũ lực để bắt buộc các đơng sự phải thỏa thuận trái với ýchí của họ

Trang 33

Việc hòa giải phải đựơc tiến hành theo đúng quy định của pháp luật;nội dung sự thỏa thuận của các đơng sự không đợc trái với những quy địnhcủa pháp luật và đạo đức xã hội.

Ngoài các nguyên tắc hòa giải trên, để hòa giải đợc vụ án, việc hòa giảicòn phải tích cực, vừa kiên trì, để có thể giải quyết đợc nhanh chóng không đểviệc hòa giải kéo dài vô ích, cho đơng sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết

vụ án và đi sâu giải quyết vớng mắc trong tâm t tình cảm của họ

- Phạm vi và nội dung hòa giải vụ án dân sự

Tại khoản 1 Điều 180 BLTTDS 2004 quy định trách nhiệm hòa giải củaTòa án, hòa giải tiến hành đối với việc giải quyết hầu hết các vụ án dân sự, trừnhững trờng hợp không hòa giải đợc hoặc pháp luật quy định không đợc hòagiải Theo Điều 181 BLTTDS 2004 tòa án không hòa giải đối với những yêucầu đòi bồi thờng gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nớc, những vụ án dân sựphát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

b Tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật quy định

để tạm ngừng, hoặc ngừng giải quyết vụ án dân sự thì tòa án sẽ quyết định tạmngừng (tạm đình chỉ) hoặc ngừng (đình chỉ) giải quyết vụ án dân sự

đựơc khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa

Theo Điều 189 BLTTDS 2004 các căn cứ tạm đình chỉ việc vụ án dân

sự gồm có:

Đơng sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia tách,giải thể mà cha có các cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tốtụng của của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó; một bên đơng sự là cá nhânmất năng lực hành vi dân sự mà cha xác định đợc ngời đại diện theo pháp luật;chấm dứt đại diện hợp pháp của đơng sự mà cha có ngời thay thế; cần đợi kếtquả giải quyết vụ án dân sự khác có liên quan, hoặc sự việc hoặc pháp luật

Trang 34

quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trớc mới giải quyết đợc

vụ án; các trờng hợp khác mà pháp luật quy định

Theo quy định tại Điều 194 BLTTDS 2004, khi phát hiện thấy có mộttrong số các căn cứ nêu trên thì thẩm phán đợc phân công giải quyết vụ án dân

sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ Quyết định tạm đình chỉ phải

đ-ợc lập thành văn bản trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết địnhtạm đình chỉ tòa án phải gửi quyết định đó cho đơng sự và Viện kiểm sát cùngcấp

Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, pháp luật không quy

định cụ thể Tuy nhiên, sau khi có quyết định tạm đình chỉ, nếu thấy lý do haycăn cứ tạm đình chỉ không còn thì tòa án lại tiếp tục giải quyết vụ án

- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định ngừng việcgiải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định

Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đợc quy định cụ thể tại

Điều 192 BLTTDS 2004 các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự gồm có:

Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà có quyền và nghĩa vụcủa họ không đợc thừa kế; cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc bị tuyên bố phásản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào thừa kế quyền, nghĩa vụ tốtụng của cơ quan tổ chức đó; ngời khởi kiện rút đơn khởi kiện và đợc Tòa ánchấp nhận hoặc ngời khởi kiện không có quyền khởi kiện; cơ quan, tổ chức rútvăn bản trong trờng hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầukhông tiếp tục giải quyết vụ án; các đơng sự đã tự thỏa thuận và không yêucầu tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; nguyên đơn đã đợc triệu tập lần hai màvẫn vắng mặt; đã có quyết định của tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanhnghiệp, hợp tác xã là một bên đơng sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án cóliên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, của hợp tác xã đó; các trờnghợp khác mà pháp luật có quy định

Theo quy định tại Điều 194 BLTTDS 2004 khi phát hiện có một trongcác căn cứ nêu trên thì thẩm phán đợc phân công giải quyết vụ án dân sự cóthẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Quyết định đìnhchỉ phải đợc lập thành văn bản trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày raquyết định đình chỉ, tòa án phải gửi quyết định đó cho đơng sự và viện kiểmsát cùng cấp Đối với các trờng hợp tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w