1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại tòa án nhân dân thành phố vinh, thực trạng và giải pháp luận văn tốt nghiệp đại học

77 5,4K 84
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại tòa án nhân dân thành phố vinh, thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Minh Duệ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục chính trị
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 448 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường về kỹ thuật lập pháp, sửa đổi một số từngữ, tách một số phần trong các điều của Pháp lệnh thành các điều luật khác nhau.BLDS 1995 bổ sung thêm các điều luật về di chúc, quyền

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

===  ===

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO DI CHÚC TẠI TAND TP VINH –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Minh Duệ Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hiền

VINH - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đãnhận được sự giúp đỡ tận tình của Hội đồng khoa học của khoa, các Thầy côgiáo trong tổ bộ môn Luật dân sự, các Thầy cô khoa Giáo dục chính trị, các Thầy

cô khoa Luật trường Đại học Vinh Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cácthầy cô đã giành nhiều thời gian và tâm huyết truyền đạt những kiến thức quýbáu giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đoàn Minh Duệ

đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, đã hướng dẫn và đóng gópnhững ý kiến quý báu để em hoàn thiện khóa luận này Đó cũng là nguồn độngviên lớn lao để cổ vũ và tiếp thêm nghị lực cho em hoàn thành tốt khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị là cán bộ của ngànhTòa án nhân dân thành phố Vinh đã giúp đỡ, chỉ bảo và cung cấp những tài liệuquý báu để giúp em hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và những bậc sinhthành đã có công sinh thành và nuôi dưỡng em đến ngày hôm nay, những ngườiluôn hết lòng tận tụy, chăm sóc và động viên em trong lúc khó khăn cũng nhưtrong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Dù cố gắng hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp nhưng trong quá trìnhnghiên cứu do năng lực bản thân còn hạn chế không tránh khỏi những thiếu sót

Em mong nhận được sự thông cảm và tận tình chỉ bảo của thầy cô và các bạn

Vinh, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 3

TAND TP Vinh Tòa án nhân dân Thành phố Vinh

MỤC LỤC

Trang

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 6

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa của đề tài 9

6.1 Ý nghĩ lý luận 9

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 9

7 Bố cục của đề tài 9

PHẦN NỘI DUNG Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc Chương 1 1.1.Một số khái niệm chung 11

1.1.1 Khái niệm thừa kế 11

1.1.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc 12

1.1.3 Khái niệm tranh chấp thừa kế theo di chúc 13

1.2 Tiến trình phát triển quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết các tranh chấp thừa kế theo di chúc từ 1945 đến nay 14

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1990 15

1.2.2 Giai đoạn từ 1990 đến 1996 18

1.2.3 Giai đoạn từ 1996 đến nay 19

1.3 Các loại tranh chấp thừa kế theo di chúc 26

1.3.1 Tranh chấp liên quan đến người lập di chúc 27

Trang 5

1.3.2 Tranh chấp về nội dung của di chúc 29

1.3.3 Tranh chấp về người thừa kế theo di chúc 43

1.3.4 Tranh chấp về hình thức của di chúc 45

1.3.5 Tranh chấp về hiệu lực của di chúc 47

Tiểu luận chương 1 49

Chương 2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại Tòa án nhân dân Thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay 2.1 Thực trạng giải quyết các tranh chấp thừa kế theo di chúc tại TAND TP Vinh trong giai đoạn hiện nay 50

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thành phố Vinh 50

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 50

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 51

2.1.2 Tình hình giải quyết tranh chấp dân sự tại TAND TP Vinh 52

2.1.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại TAND TP Vinh58 2.2 Nguyên nhân 66

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp thừa kế theo di chúc tại TAND TP Vinh trong giai đoạn hiện nay 68

Tiểu kết chương 2 72

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế là một chế định xuất hiện từ rất sớm Ngay từ khi xã hội loài ngườimới hình thành và nhất là giai đoạn có sự xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất Theo

đó việc một cá nhân để lại di sản của mình sau khi chết cho các thành viên kháctrong gia đình hoặc trong gia tộc, bộ lạc của mình là vấn đề thường xuyên diễn ra.Cho đến ngày nay, quan hệ thừa kế vẫn là quan hệ pháp luật phổ biến trong xã hội.Đặc biệt là khi nền kinh tế xã hội càng phát triển thì số lượng và giá trị tài sản của

cá nhân ngày càng tăng lên đa dạng và phong phú hơn dẫn đến xảy ra các tranhchấp về di sản thừa kế cũng tăng lên đáng kể

Để hạn chế những tranh chấp về di sản thừa kế trong thực tế đời sống xã hội,luật pháp của các nước trên thế giới nói chung và luật pháp của Việt Nam nói riêng

đã có những quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật về thừa kế

Trên thế giới từ trước đến nay, hầu hết các nước đều có những quy định vềthừa kế và thừa kế theo di chúc Ví dụ như: Bộ luật dân sự Napolêon, Bộ luật LaMã trong các bộ luật đó quan niệm rằng, thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyểntài sản từ người chết cho người còn sống, theo quyết định của người đó trước khichết

Ở Việt Nam, trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam qua các thời kỳ đềuquy định: Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản được nhà nước bảo hộ

Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam năm 1995 và năm 2005 ra đời đã kế thừa

và phát triển các quan niệm về thừa kế, thừa kế theo di chúc trong pháp luật của cácnước trên thế giới và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ Bộ luật dân sự đã đáp ứngđược các yêu cầu bức thiết của xã hội đặt ra trong giai đoạn hiện nay về việc giảiquyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc Tuy nhiên thực tiễn cũng chỉ ra nhiềubất cập và khó khăn trong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc.Những khó khăn đó thể hiện ở nhiều dạng tranh chấp như tính hợp pháp của dichúc, điều kiện của người lập di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội dung của dichúc, hình thức của di chúc và hiệu lực của di chúc

Trang 7

Trong thực tiễn thực hiện quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa

kế theo di chúc có nhiều bất cập như khi chấp hành hay áp dụng pháp luật về thừa

kế có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhầm lẫn, hiểu sai và áp dụng saihoặc không đầy đủ các quy phạm đó Từ đó dẫn tới việc có nhiều dạng tranh chấp

di sản thừa kế Mặt khác các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền giảiquyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc cũng còn nhiều hạn chế về năng lực vàtrình độ chuyên môn, nên cùng một vụ án tranh chấp nhưng lại có các hướng giảiquyết khác nhau Những vấn đề tồn tại trong việc giải quyết các tranh chấp thừa kếtheo di chúc không chỉ ảnh hưởng tới tình cảm gia đình, mà còn gây sự mất tintưởng đối với cơ quan chức năng mà cụ thể là cơ quan tòa án Đồng thời còn ảnhhưởng tới đời sống kinh tế - xã hội đất nước

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh

chấp thừa kế theo di chúc tại Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - thực trạng và giải pháp” nhằm làm rõ các quy phạm pháp luật về thừa kế theo di chúc được quy định

trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 và 2005 Thực tiễn các tranh chấp về thừa

kế và cách giải quyết các tranh chấp đó tại TAND Thành phố Vinh trong thời giangần đây Việc nghiên cứu đề tài còn nhằm chỉ ra những bất cập trong lý luận vàthực tiễn để đưa ra những kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định

về thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là đề tài được các nhà khoa học pháp lý, các luật gia, các giáo sư, tiến sĩ,thạc sĩ, các nghiên cứu sinh cũng như sinh viên trên thế giới và trong nước lựa chọnlàm đề tài nghiên cứu Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, Bộ luật dân sự của các nướcđều quy định về quyền định đoạt bằng di chúc của chủ sở hữu tài sản nhằm chuyểndịch tài sản của mình cho người khác Quyền định đoạt bằng di chúc là quyền dân sựđược Nhà nước bảo hộ, được ghi nhận trong Hiến pháp của Nhà nước ta và của cácnước khác trên thế giới

Trang 8

Ở nước ta, việc nghiên cứu về thừa kế theo di chúc nói chung và nghiên cứu vềcác tranh chấp về di chúc nói riêng đã có từ xa xưa Chúng ta có thể kể đến nhiều bộluật như: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, Dân luật Bắc Kỳ, Dân luật TrungKỳ

Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các tranh chấp về thừa kếtheo di chúc cũng đã được các nhà lập pháp nghiên cứu, nhưng những quy định đócòn đơn giản và chưa đầy đủ Trong số các loại văn bản này, đáng chú ý là Thông

tư số 81 - TATC ngày 24/07/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giảiquyết tranh chấp thừa kế (đúc kết từ thực tiễn xét xử của ngành Tòa án nhân dân) vàPháp lệnh Thừa kế ngày 10/9/1990 Chỉ khi Bộ luật dân sự năm 1995 và năm 2005được ban hành thì vấn đề tranh chấp thừa kế theo di chúc mới được quy định rõràng hơn Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Bộ luật này, cũng còn nhiều vấn đềcần phải trao đổi

Tính đến thời điểm hiện nay cũng đã có nhiều công trình khoa học nghiêncứu về thừa kế, nhưng chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về thừa kế theo di

chúc Đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu này, phải kể đến đề tài: “Thừa kế

theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của tiến sĩ Phùng

Trung Tập; đề tài: “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt

Nam” của tiến sĩ Phạm Văn Tuyết; cuốn sách: “Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam” của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; “Một số vấn đề thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế tại TAND trong thời gian qua”của Tưởng Lương

Bằng;“Giải quyết tranh chấp về thừa kế, thực trạng và giải pháp” của Đào Tuân Tiến

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đây đã nêu ra được những vấn đềbất cập cả trong lý luận và thực tiễn, và từ đó đã nêu ra các kiến nghị, giải phápnhằm hạn chế các tranh chấp diễn ra trong thực tế đời sống; nâng cao hiểu biết vềpháp luật cho quần chúng nhân dân; nâng cao trình độ lý luận, hiểu biết của các cán

bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc

Trang 9

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên chỉ mới dừng lại ở tầm khái quátchung, mà chưa đi sâu vào thực tiễn cụ thể của một huyện, thành phố, tỉnh

Đề tài nghiên cứu “Giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc tại

TAND Thành phố Vinh, thực trạng và giải pháp” kế thừa và bổ sung một số lý luận

về tranh chấp thừa kế theo di chúc Đồng thời, chỉ ra thực trạng các tranh chấp vàgiải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại TAND thành phố Vinh Từ đó đưa racác giải pháp

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số khái niệm khoa học về thừa kế theo di chúc, các loạitranh chấp thừa kế theo di chúc

- Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về thừa kế theo di chúc giai đoạn 1945 đếnnay

- Nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc của cơquan thực thi là TAND thành phố vinh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đặt

ra như sau:

- Phân tích các tranh chấp thừa kế theo di chúc

- Phân tích thực trạng giải quyết các tranh chấp thừa kế theo di chúc tạiTAND Thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả, hợp lý, đúng phápluật các tranh chấp thừa ké theo di chúc

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu như:

- Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu: phân tích các nguồn tư liệu có sẵn

về thực trạng giải quyết các tranh chấp tại TAND Thành phố Vinh

Trang 10

- Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp và so sánh hệ thống văn bảnpháp luật về thừa kế theo di chúc của Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến nay.

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: đề tài giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã

đề ra ở mục 3

Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Khoảng 5 tháng

6 Ý nghĩa của đề tài

lý luận

Các giải pháp giải quyết tranh chấp có tác dụng giảm thiểu các tranh chấptrong thực tế đời sống xã hội và nâng cao năng lực của cơ quan, cá nhân có thẩmquyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc

Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụng làmtài liệu tham khảo trong nghiên cứu của các sinh viên các khóa học sau này cũngnhư những người quan tâm

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo khoahọc gồm 2 chương:

Trang 11

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế theo di

chúc

Chương 2: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp

thừa kế theo di chúc ở Tòa án nhân dân thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

Trang 12

Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm thừa kế

Thừa kế là một chế định xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loàingười, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, gắn liền với quyền sở hữu về tư liệusản xuất Với ý nghĩa đó, thừa kế là một phạm trù kinh tế

Quan hệ thừa kế là một quan hệ xã hội được pháp luật dân sự điều chỉnh vàtrở thành một quan hệ pháp luật Quan hệ pháp luật thừa kế quy định các quyền vànghĩa vụ của các chủ thể thuộc quan hệ thừa kế

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được phápluật của quốc gia ghi nhận Tuy vậy ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, haytrong cùng một hình thái nhưng thể chế chính trị khác nhau, hay cùng thể chế chínhtrị nhưng các quốc gia khác nhau lại có sự quy định khác nhau

Quyền thừa kế mang bản chất giai cấp, vì quyền thừa kế có mối quan hệ chặtchẽ với quyền sở hữu Trong chế độ tư hữu, khi để lại thừa kế giai cấp thống trịkhông những để lại những di sản mang tính kinh tế mà cả quyền lợi về chính trị.Nhưng trong chế độ công hữu, quyền lợi của giai cấp thống trị (giai cấp công nhân)cũng là quyền lợi của toàn thể quần chúng nhân dân, lợi ích của toàn dân tộc nênquyền thừa kế còn khuyến khích công dân làm việc tạo ra của cải cho bản thân, giađình và xã hội

Quyền thừa kế có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với quyền sở hữu

Từ chỗ pháp luật quy định cho công dân có quyền sở hữu tài sản và cũng dựa vào

đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong quan hệ thừa kế

Công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quền sở hữu của mìnhcho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa

kế của công dân (trừ trường hợp vi phạm điều 646 BLDS năm 2005) Mặt khác,Nhà nước khuyến khích công dân bằng sức lao động của mình tạo ra nhiều của cải

Trang 13

cho xã hội, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ

văn minh”.

Tóm lại, thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo dichúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền và nghĩa

vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Thừa kế theo di chúc là một loại của thừa kế và được pháp luật các nước ghinhận và bảo vệ nhằm đảm bảo quyền của người để lại thừa kế và người được nhận

thừa kế

1.1.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc được quy định tại Điều 646 BLDS năm 2005: “Di chúc

là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau:

- Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nàokhác;

- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình chongười khác;

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúcphải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và các điềukiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sảncủa mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo

di chúc

Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho ngườikhác còn sống theo quyết định của người đó trước khi người đó chết và được thểhiện trong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa

kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa

vụ tài sản,…

Trang 14

1.1.3 Khái niệm tranh chấp thừa kế theo di chúc

Tranh chấp thừa kế theo di chúc là một cụm từ ghép, trong đó: “tranh chấp

là sự tranh giành cái gì đó”[II,1, 87] Sự tranh giành đó cho ta thấy số lượng cá thể

tham gia và sự thể hiện của nó ra bên ngoài Tranh chấp nào cũng có ít nhất hai cáthể trở lên Tranh chấp là sự xung đột các quyền và lợi ích của các cá thể trong xãhội

Tranh chấp thừa kế theo di chúc là một trong các loại tranh chấp diễn ra phổbiến trong xã hội Nó được sử dụng từ khi xuất hiện quan hệ thừa kế và cho đếnngày nay lại diễn ra đa dạng và phong phú hơn về các loại tranh chấp Quan hệ thừa

kế xuất hiện ở đâu thì tất yếu có sự tranh chấp về thừa kế ở đó

Tranh chấp thừa kế theo di chúc là những tranh chấp về quyền và lợi ích củacác chủ thể tham gia vào quan hệ thừa kế về các vấn đề như: Phân chia di sản,người nhận di sản thừa kế, hình thức của di chúc, hiệu lực của di chúc

Dấu hiệu của tranh chấp thừa kế theo di chúc: Một tranh chấp thừa kế theo dichúc thể hiện ra bên ngoài qua các hình thức nhất định Không thể có tranh chấpthừa kế theo di chúc tồn tại trong tư duy, suy nghĩ của các chủ thể tranh chấp màtranh chấp đó phải được bộc lộ ra bên ngoài thành các hành vi tranh chấp Các chủthể tranh chấp thể hiện thái độ, hành vi của mình về vấn đề tranh chấp và khi đếncực đỉnh là đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tranh chấp đó

Như vậy, để phân biệt tranh chấp về thừa kế theo di chúc với các loại tranhchấp khác, cần lưu ý một số điểm sau:

Tranh chấp thừa kế theo di chúc phải là sự xung đột giữa các chủ thể trongquan hệ thừa kế theo di chúc

- Sự xung đột đó diễn ra trong thời điểm di chúc có hiêu lực (từ thời điểm mở

di chúc, di chúc không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội), vàtrong thời hạn khởi kiện

- Sự xung đột giữa các bên tranh chấp phải gắn với quyền và lợi ích của cácchủ thể liên quan đến di chúc và người để lại di chúc

Trang 15

- Xung đột giữa các chủ thể phải thể hiện qua một hình thức nhất định vàbiểu đạt qua việc yêu cầu của các chủ thể về sự giải quyết tranh chấp thừa kế theo dichúc đó (thông qua các hình thức giải quyết như: thương lượng, hòa giải, giải quyếttại tòa án)

Khác với các loại tranh chấp khác, tranh chấp thừa kế theo di chúc diễn rachủ yếu giữa các thành viên trong gia đình Do đó, hậu quả của việc tranh chấpkhông chỉ ảnh hưởng tới nền kinh tế, sự ổn định của xã hội như các tranh chấp khác

mà còn tác động tới đạo đức, lối sống của gia đình Làm cho mối quan hệ giữa cácthành viên bị rạn nứt Do vậy, việc giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc có ýnghĩa hết sức quan trọng

1.2 Tiến trình phát triển quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết các tranh chấp thừa kế theo di chúc từ 1945 đến nay.

Pháp luật thành văn Việt Nam xuất hiện khá muộn so với các quốc gia trênthế giới Cho nên, các tư liệu về pháp luật nước ta thời kỳ trước 1945 rất ít Chếđịnh thừa kế ở Việt Nam đã được điều chỉnh từ thời phong kiến Việt Nam qua các

bộ luật, chiếu, chỉ dụ, lệnh của vua…, đặc biệt là Bộ luật Hồng Đức (1483) và Bộluật Gia Long (1815)

Trong các bộ luật này, các quy phạm pháp luật điều chỉnh khá đầy đủ và chitiết các quan hệ trong đời sống xã hội lúc bấy giờ Trong đó, có những quy định vềthừa kế theo di chúc

Bộ luật Hồng Đức quy định các con (con trai, con gái, con nuôi) đều cóquyền thừa kế di sản của cha mẹ để lại và mọi người đều có quyền để lại hương hỏa

cho con cháu Điều 390 BL Hồng Đức quy định: “Cha mẹ làm chúc thư phân chia

tài sản, thiết lập hương hỏa trong chúc thư”.

Bộ luật Gia Long lại không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chú

trọng đến quyền lợi của con trai Điều 388 BL Gia Long quy định: “Nếu có mệnh

lệnh của cha mẹ, phải theo đúng Vi phạm điều này sẽ mất phần của mình”.

Trang 16

Mặc dù, BL Hồng Đức ra đời trước nhưng lại thể hiện sự tiến bộ hơn BL GiaLong Nó thể hiện sự bình đẳng giữa những người được hưởng thừa kế, không phânbiệt nam nữ, con trai hay con gái Là quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợiích của công dân, là nền tảng giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc trongthời kỳ này BL Hồng Đức, BL Gia Long là những văn bản luật cho các nhà làmluật, các nhà khoa học pháp lý hiện nay kế thừa và pháp triển.

Đến thời kỳ Pháp thuộc, nước ta áp dụng các bộ luật sau: Dân luật Namkỳ(1883), Dân luật Bắc kỳ (1931), Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1933) Trong các

bộ luật này đều có quy định về thừa kế theo di chúc

Trong lĩnh vực dân sự, ngày 22/5/1950, Hồ chủ tịch ký Sắc lệnh 97/SL vềviệc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong luật dân sự, quy định một số nguyêntắc mới để áp dụng trong điều kiện của nền dân chủ nước ta Riêng trong lĩnh vựcthừa kế, Sắc lệnh đã quy định tại một số điều: Điều 10, Điều 11 của Sắc lệnh

Điều 10, Sắc lệnh 97 quy định: “Con cháu hoặc vợ chồng của người chết

không bắt buộc phải nhận thừa kế của người ấy; khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại”.

Điều 11, Sắc lệnh 97 quy định: “Trong lúc còn sinh thời người chồng goá vợ

hay vợ goá, các con đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung”.

Sắc lệnh 97 đã có những quy định mới so với các bộ luật và dân luật trướcđây, sắc lệnh đã công nhận vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai,

Trang 17

con gái, con nuôi đều có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ; quyền không nhận thừa

kế, nghĩa vụ trả nợ thay cho người chết trong phạm vi di sản được nhận thừa kế

Mặc dù còn chưa đầy đủ và hoàn thiện nhưng Sắc lệnh 97 đã đáp ứng đượcnhu cầu thực tiễn lúc bấy giờ, giúp cơ quan tòa án giải quyết các tranh chấp về thừa

kế theo di chúc có hiệu quả hơn

Năm 1959 đánh đấu trong hệ thống pháp luật Việt Nam là việc ban hànhHiến pháp 1959 quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong đó,Hiến pháp đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc, Điều 19 Hiến pháp 1959

quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công

dân”.

Vấn đề thừa kế còn được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm

1959 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Các con đều có quyền lợi và nghĩa vụ

ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi”.

Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã mở rộng các chủ thể được nhận thừa

kế, không phân biệt con trai, con gái, con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồngđều có quyền nhận thừa kế của người để lại di chúc Cũng chính sự đổi mới đó đãlàm cho các tranh chấp giữa con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú diễn ra ngày càngnhiều hơn

Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cũng như nâng cao công tác xét xử trongphạm vi chức năng do Luật Tổ chức Tòa án quy định, TAND Tối cao đã ban hànhmột số Thông tư hướng dẫn Ví dụ như: Thông tư số 549/NCPL ngày 27/8/1968hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa kế; Thông tư số 02/TATCngày 02/8/1973 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản liệt sĩ;

Cũng như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 cũng thừa nhận quyền thừa kế là

quyền cơ bản của công dân Điều 27, Hiến pháp năm 1980 ghi nhận: “Pháp luật

bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”.

Trang 18

Để phục vụ công tác xét xử giải quyết các tranh chấp về thừa kế, đồng thời

bổ sung một số điểm cho phù hợp với Hiến pháp mới, qua tổng kết rút kinh nghiệmcông tác xét xử, TANDTC đã ban hành Thông tư 81 ngày 24/7/1981 Hướng dẫngiải quyết các tranh chấp về thừa kế

Thông tư 81 đã quy định chi tiết về các nguyên tắc chung về việc giải quyết

các tranh chấp về thừa kế Ví dụ như: “Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của

công dân”, nam nữ có quyền bình đẳng để lại thừa kế và nhận di sản thừa kế; Tôn

trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản; Việc thừa kế phát sinh từthời điểm mở thừa kế; Người thừa kế có quyền nhận hoặc không nhận thừa kế; Khigiải quyết việc thừa kế cần kiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và phát triểntình đoàn kết, thương yêu trong nội bộ gia đình, bảo đảm sản xuất và công tác

Về di sản thừa kế, Thông tư 81 quy định: Các tài sản thuộc quyền sở hữu củangười để thừa kế và thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt vànhững công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.Đặc biệt Thông tư đã đề cập đến các di sản như: Đất đai, nhà thờ họ, tư liệu sảnxuất và nhà thuộc diện cải tạo, tư liệu sản xuất của xã viên hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp hoặc thủ công nghiệp, đồ dùng mượn của cơ quan, vàng, bạc, bạch kim vàkim cương

Về thừa kế theo di chúc, Thông tư 81 quy định cụ thể về hình thức di chúc,quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc

Qua hơn 9 năm thực hiện thông tư về hướng dẫn giải quyết các tranh chấp vềthừa kế, thông tư đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn về giải quyết các tranh chấp vềthừa kế theo di chúc, đảm bảo được quyền thừa kế của công dân

Tiếp đó, Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 đã quy định một sốđiều liên quan đến quyền thừa kế của vợ, chồng (Điều 14, Điều 16, Điều 17 )

Pháp luật thừa kế giai đoạn này đã có nhiều điểm đổi mới Các quy phạm vềthừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng đã căn bản giải quyết được cáctranh chấp thừa kế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, do xã

Trang 19

hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội mới nảy sinh các quy định của phápluật thừa kế giai đoạn này không còn đáp ứng được nhu cầu cuat thự tiễn, buộc cácnhà làm luật phải có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những quy định mới.

1.2.2 Giai đoạn từ 1990 đến 1996

Khi số lượng các vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc diễn ra ngày càngphổ biến, đa dạng hơn thì các nhà làm luật dự liệu và ban hành các văn bản phápluật nhằm giải quyết các tranh chấp đó một cách có hiệu quả nhất nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Khi nền kinh tế- xã hội càng phát triển thì các quan hệ xã hội mới cũng phápsinh đòi hỏi các nhà làm luật, các nhà khoa học pháp lý phải dự thảo, thông qua vàban hành những văn bản luật mới thay thế các văn bản cũ đã lỗi thời không còn đápứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn

Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam đã thôngqua Pháp lệnh Thừa kế Pháp lệnh thừa kế ra đời là sự kế thừa các văn bản như:Hiến pháp 1980, Thông tư 81 năm 1981 đồng thời sửa đổi, bổ sung một số điềuvề: quy định chi tiết về các hình thức của di chúc; Những người được hưởng di sảnkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc; Việc thừa kế của những người được coi

là chết trong cùng một thời điểm; Những người thừa kế không có quyền hưởng disản; di chúc hợp pháp (Điều 6,7,12,13,20 Pháp lệnh thừa kế)

Pháp lệnh thừa kế năm 1990 là văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết

về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng đầy đủ nhất từ trước nhất đếnnay Là nền tảng để Nhà nước ta xây dựng các Bộ luật dân sự sau này và nhất là cácquy phạm về chế định thừa kế Thực tế cho thấy BLDS 1995 và 2005 trên cơ sở củaPháp lệnh thừa kế 1990 sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện BLDS cả về kỹ thuật lậppháp và nội dung của một số điều còn chưa hợp lý

Qua hơn 5 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế và thực tiễn xét xử cho thấypháp lệnh này đã đi vào cuộc sống, về cơ bản vẫn phù hợp với thực trạng quan hệthừa kế hiện nay, bảo đảm được quyền thừa kế của công dân được các tầng lớp

Trang 20

nhân dân đồng tình, chấp nhận Pháp lệnh là nền tảng để cơ quan tòa án giải quyếtcác tranh chấp có hiệu quả, bảo vệ quyền thừa kế của công dân, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế.

1.2.3 Giai đoạn 1996 đến nay

Giai đoạn này vấn đề giải quyết tranh chấp về thừa kế đã đáp ứng được nhucầu cấp bách của xã hội, khi nhà nước ban hành hai BLDS năm 1995 và 2005

Sự phát triển của chế định thừa kế trong BLDS 1995

Chế định thừa kế được quy định tại phần thứ tư BLDS 1995, với những quyđịnh chung tại chương I, thừa kế theo di chúc tại chương II và thừa kế theo phápluật tại chương III

BLDS 1995 đã có sự hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp Tại chương I nhữngquy định chung, BLDS có một số điều chỉnh như sau:

Về quyền thừa kế, pháp lệnh thừa kế quy định công dân có quyền để lại thừa

kế thì BLDS 1995 đã có sự điều chỉnh thành cá nhân Như vậy, BLDS đã chỉ rõ chỉ

có cá nhân mới có quyền để lại thừa kế chứ không phải là bất kỳ một chủ thể nàokhác

Về di sản thừa kế, ngoài những di sản mà Pháp lệnh đã quy định, BLDS đã

bổ sung quyền sử dụng đất vào di sản thừa kế tại khoản 2, Điều 637: “Quyền sử

dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này”.

BLDS 1995 đã bổ sung một số điều về người quản lý di sản, quyền và nghĩa

vụ của người quản lý di sản và quyền từ chối nhận di sản của người được nhận thừa

kế, thời hiệu khởi kiện thừa kế (quy định tại Điều 641, 642, 643, 645) Sự bổ sungnhững điều luật này có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thực tiễn vềnhững tranh chấp liên quan đến các vấn đề nói trên, phù hợp với thực tiễn xã hộingày càng phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người để lại di chúc vàngười thừa kế di chúc

Trang 21

Chương II phần thứ tư BLDS 1995 quy định về thừa kế theo di chúc Tạichương này BLDS 1995 cũng có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nhu cầucủa thực tiễn Cụ thể như sau:

BLDS 1995 đã bổ sung pháp lệnh thừa kế 1990: quy định rõ di chúc là gì?

“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” (Điều 649),

BLDS 1995 còn quy định về năng lực chủ thể của người lập di chúc Nhữngtrường hợp nằm ngoài các trường hợp dưới đây thì cá nhân nào lập di chúc, di chúc

đó sẽ không được công nhận Như vậy, BLDS 1995 đã có sự quy định khác về nănglực của người lập di chúc so với Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đó là: ngoài cá nhân

đã thành niên từ đủ 18 tuổi không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự, cánhân khi lập di chúc tự nguyện, minh mẫn không bị lừa dối, cưỡng ép thì pháp lệnh

công nhận di chúc đó là hợp pháp Ngoài ra, Pháp lệnh quy định “Di chúc cũng

được coi là hợp pháp nếu do người từ đủ mười sáu tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười tám tuổi tự nguyện lập trong khi minh mẫn, được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đỡ đầu, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật” BLDS

1995 mở rộng phạm vi cá nhân có quyền lập di chúc là từ 15 tuổi trở lên “Người từ

đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” ( Khoản 2 Điều 650, BLDS 1995)

Về quyền của người lập di chúc, thực tiễn cho thấy trong nội dung di chúccủa một số cá nhân có phần di tặng (tặng cho) di sản cho những người nằm ngoàinhững người được hưởng di sản thừa kế, di tặng một phần trong khối di sản để lạicủa người đó sau khi chết Khoản 4 Điều 651, BLDS 1995 đã bổ sung về phần disản dùng để di tặng, phần mà Pháp lệnh thừa kế năm 1990 không đề cập đến

Về di chúc miệng, Pháp lệnh Thừa kế 1990 thừa nhận giá trị của di chúcmiệng nhưng không qui định thủ tục ghi chép lại di chúc miệng Khi tranh tụng tạitòa án, hầu hết các di chúc miệng đều bị tòa án bác bỏ vì không có cơ sở để tin cậynếu chỉ dựa vào lời khai đơn phương của một bên nhân chứng hoặc khi các nhân

Trang 22

chứng có lời khai mâu thuẫn Khắc phục bất cập này, BLDS 1995 qui định về thủ

tục lập nội dung di chúc miệng là: những người làm chứng “phải ghi chép lại bằng

văn bản ngay sau đó” Nhưng “ngay sau đó” là bao lâu thì không thể xác định

được, nên thực tế có nhiều người làm chứng đã để rất lâu sau mới chịu lập văn bảnghi nội dung di chúc miệng Điều này đã gây ra khó khăn cho tòa án trong việcthẩm định giá trị của di chúc miệng và muốn bác bỏ nó thì cũng thiếu cơ sở pháp lý

rõ ràng

Như vậy, BLDS 1995 đã có sự điều chỉnh các quy định về thừa kế theo dichúc cho phù hợp với thực tiễn Tăng cường về kỹ thuật lập pháp, sửa đổi một số từngữ, tách một số phần trong các điều của Pháp lệnh thành các điều luật khác nhau.BLDS 1995 bổ sung thêm các điều luật về di chúc, quyền của người lập di chúc,quyền thừa kế quyền sử dụng đất, người quản lý di sản BLDS 1995 đã đáp ứngđược nhu cầu thực tiễn xã hội, tăng cường công tác xét xử của cơ quan Tòa án giảiquyết nhanh chóng có hiệu quả các tranh chấp về thừa kế theo di chúc

Trong vòng 10 năm thực hiện BLDS 1995 về các quy định về thừa kế theo dichúc, thực tiễn cho thấy cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thựctiễn phát triển của xã hội BLDS 2005 ra đời đã khắc phục được những hạn chế củaPháp lệnh về thừa kế 1990 và BLDS 1995

Sự phát triển của chế định thừa kế trong BLDS 2005

So với BLDS 1995, các quy định về thừa kế trong BLDS 2005 đã có nhiềuđiểm mới Về cơ cấu, bố cục của các chương mục và số lượng các điều luật không

có sự thay đổi lớn, ngoài việc tăng thêm một số điều luật mới (Điều 687) Về nộidung có một số điểm mới sau:

Phần những quy định chung có tất cả 14 điều, nhưng có 7 điểm mới được sửađổi, bổ sung Ngoài sửa đổi mang tính kỹ thuật tại Điều 635 thì việc sửa đổi, bổsung trong 6 trường hợp còn lại đã làm thay đổi căn bản về nội dung các điều luật

Về di sản thừa kế, có một số sửa đổi Khoản 2 Điều 637, BLDS 1995 quiđịnh quyền sử dụng đất là một loại di sản thừa kế Điều 634 BLDS 2005 bỏ qui định

Trang 23

tại khoản 2 của Điều luật tương ứng và chỉ qui định thành 1 đoạn: “Di sản bao gồm

tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” Điều này không có nghĩa là từ nay, pháp luật không thừa nhận quyền

sử dụng đất là một loại di sản Quyền sử dụng đất vẫn là một loại di sản thừa kế vìtheo BLDS 2005 và Luật Đất đai 2003 thì quyền sử dụng đất là một loại tài sản vàđược để lại thừa kế Đồng thời, việc thừa kế quyền sử dụng đất dần dần đã được xãhội chấp nhận Vì thế, BLDS 2005 không cần thiết phải qui định thêm về di sản làquyền sử dụng đất Sự sửa đổi này là tích cực và tiến bộ hơn về kỹ thuật lập pháp sovới Luật cũ vì nó làm cho điều luật trở nên tinh gọn hơn nhưng vẫn không làm ảnhhưởng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật

Về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, BLDS 1995 qui định người thừa

kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong “phạm vi di sản” mà họ được hưởng BLDS 2005 đã bổ sung cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

vào cuối khoản 1 và cuối khoản 3 Về nguyên tắc, nghĩa vụ của người thừa kế đốivới khoản nợ do người chết để lại vẫn nằm trong giới hạn và theo tỷ lệ di sản mà họnhận được từ người chết, nhưng phạm vi này có thể không tương ứng với tỷ lệ disản, thậm chí có thể lớn hơn phần di sản mà người thừa kế thực tế được hưởng, nếucác bên có thỏa thuận khác Quy định này vừa bảo vệ được quyền lợi chính đángcủa những người thừa kế và quyền lợi chính đáng của chủ nợ

Về quyền từ chối nhận di sản thừa kế, khoản 3, điều 642, BLDS 2005 bổ

sung qui định: “Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di

sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế” Bổ sung này không làm thay đổi tinh thần

Điều luật, nhưng làm rõ hơn tính chất “mặc nhiên” và “tự động” của quyền thừa

kế; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để xác định những vấn đề có liên quan trongviệc giải quyết nợ của người chết, xác định kỷ phần thừa kế bắt buộc, tiến hành cácthủ tục phân chia di sản, xác định tư cách tố tụng trong việc kiện chia di sản… Việc

bổ sung điều luật là một trong những yếu tố giúp cơ quan xét xử giải quyết cáctranh chấp về thừa kế theo di chúc trong thực tiễn

Trang 24

Về di sản không có người thừa kế thì thuộc về Nhà nước, điều 647, BLDS

1995 qui định Nhà nước hưởng di sản không có người thừa kế nhưng Nhà nướckhông phải là người thừa kế sau cùng Tuy nhiên, Điều luật đã không qui định rõ làNhà nước phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nên đã dẫn đến nhiềucách hiểu và vận dụng không nhất quán Nhiều trường hợp, cơ quan chức năngkhông quan tâm đến nghĩa vụ của người chết đối với người khác, nên đã làm thiệthại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan Khắc phục điểm yếunày, Điều 644 BLDS 2005 bổ sung như sau:

“Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc

có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước.”

Qui định này vẫn không làm thay đổi nguyên tắc Nhà nước được hưởng disản không người thừa kế, nhưng xác định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan nhà nướckhi nhận di sản không người thừa kế: phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại,qua đó thể hiện sự tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng củacác chủ thể có quyền và lợi ích liên quan đến di sản

Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, điều

648 BLDS 1995 không qui định về thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại.Thông tư liên ngành số 03/1996 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhândân Tối cao dựa vào Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội để hướng dẫn thời

hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là “không hạn chế thời gian” Qui định

này đã gây ra những bất cập, khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp về thừa kế.Thực tế cho thấy quy định đó không chỉ gây khó khăn cho tòa án trong việc điềutra, xác minh tìm chứng cứ và gây ra sự bất ổn trong các quan hệ dân sự, mà còn đedọa xâm phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế, những người đãthực hiện nghĩa vụ từ rất lâu, nhưng không lưu giữ được chứng từ… Khắc phục

nhược điểm này, BLDS 2005 đã bổ sung qui định: “về thời hiệu khởi kiện đòi thực

Trang 25

hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là 3 năm, tính từ ngày mở thừa kế” Có

nghĩa, sau 3 năm kể từ ngày mở thừa kế, các chủ nợ không đòi nợ người thừa kế thìquyền đòi nợ chấm dứt

Chương XXIII, quy định về thừa kế theo di chúc gồm 28 điều luật, trong đó

có 7 điều luật được sửa đổi, bổ sung Ngoài những sửa đổi mang tính kỹ thuật tạikhoản 3 Điều 650 và Điều 657, thì 5 điểm mới còn lại đều có những thay đổi cơ bản

về mặt nội dung

Về quyền của người lập di chúc, khoản 4, Điều 648, BLDS 2005 qui định vềquyền của người lập di chúc cơ bản vẫn giữ nội dung gần giống như Luật cũ, nhưng

bỏ đi cụm từ “trong phạm vi di sản” Quy định này dẫn đến nhiều tranh chấp giừa

người nhận thừa kế (người có ngĩa vụ trả nợ) với ý chí của người lập di chúc, vì cóthể họ phải trả nợ thay cho người chết ngoài phạm vi di sản thừa kế mà họ đượcnhận

Về di chúc miệng, khoản 1 Điều 651, BLDS 2005 bỏ đoạn cuối trong khoản

1 của Điều 654 BLDS 1995 và nội dung này được chuyển thành khoản 5 của Điều

652 BLDS 2005 Sự sửa đổi này không làm thay đổi nội dung mà chỉ có tác dụnglàm cho Điều luật tinh gọn

Khoản 2 của Điều 651 bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên”, làm cho Điều luật

trở nên rõ nghĩa hơn Theo Luật cũ, di chúc miệng cũng được coi là bị hủy bỏ sau 6tháng kể từ ngày lập mà người di chúc vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, sáng suốt,nhưng không qui định thủ tục để hủy bỏ và ai có quyền tuyên bố hủy bỏ di chúc

miệng Bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên” nhằm xác định rõ phạm vi áp dụng của

Điều luật, tránh làm cho Điều luật được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng khôngthống nhất

Về điều kiện để công nhận di chúc hợp pháp, điều 652 BLDS 2005 có một bổ

sung rất quan trọng: “Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể

hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực” Chính sự

Trang 26

bổ sung này đã làm hạn chế các tranh chấp thừa kế theo di chúc về hình thức của dichúc và là cơ sở để cơ quan Tòa án xác minh tính hợp pháp của di chúc

Nhà làm luật còn qui định thêm về thời hạn xác định và thủ tục để lập bảnghi chép nội dung di chúc miệng Luật mới xác định chính xác khoảng thời gian mà

người làm chứng phải viết lại nội dung di chúc miệng là “5 ngày, sau khi người di

chúc miệng thể ý chí sau cùng” Với quy định này, pháp luật ngăn ngừa sự thể hiện

ý chí chủ quan của người làm chứng, tăng cường trách nhiệm của người làm chứng

di chúc Qui định này cũng thể hiện quyết tâm của nhà lập pháp nhằm loại bỏ khảnăng người làm chứng có thể tự ý sửa chữa, viết lại nhiều lần hay đánh tráo văn bảnghi nội dung di chúc miệng

Về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng, điều 671, BLDS 1995 qui định:

“Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có người chết trước, thì chỉ

phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó” Quy định này gây

khó khăn cho việc thi hành di chúc vì chỉ có một giao dịch, nhưng có đến hai thờiđiểm có hiệu lực khác nhau Khắc phục nhược điểm này, Điều 668 BLDS 2005 qui

định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết

hoặc thời điểm vợ, chồng cùng chết” Qui định này tỏ ra hợp lý hơn so với qui định

tương ứng trong BLDS 1995, vì một di chúc chỉ có thể có một thời điểm có hiệulực

Về công bố di chúc, khoản 3, Điều 672, BLDS 2005 bỏ đoạn “bản sao di

chúc phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế” Phù hợp với thực trạng pháp luật

công chứng, chứng thực hiện nay, luật không bắt buộc phải công chứng, chứng thựcbản sao tờ di chúc Qui định này tỏ ra thông thoáng, thể hiện tính thực tiễn cao, làmcho Điều luật mang tính khả thi hơn, tạo điều thuận lợi hơn cho việc công bố di

Trang 27

chúc mà vẫn bảo đảm sự minh bạch vì tại khoản 4 của Điều luật đã qui định quyềnđược đối chiếu bản sao di chúc với bản gốc của nó.

Như vậy, qua thực tiễn đời sống và công tác xét xử các tranh chấp tại Tòa ánnhân dân các cấp Nhà làm lập đã sửa đổi, bổ sung và thông qua việc ban hànhBLDS 2005 BLDS 2005 đã khắc phục được những hạn chế về kỹ thuật lập pháp vànội dung của BLDS 1995 về chương thừa kế theo di chúc

Qua hơn 5 năm thực hiện BLDS 2005, thực tiễn cho thấy BLDS 2005, sửađổi, bổ sung đã phần nào làm giảm bớt các tranh chấp xảy ra về thừa kế theo dichúc, giảm bớt chi phí tố tụng, hạn chế được sự bất bình ổn về xã hội do xung đột

về quyền lợi và nhất là bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thamgia quan hệ thừa kế theo di chúc

Tóm lại, sự phát triển về các quy định về thừa kế nói chung và thừa kế theo

di chúc nói riêng qua các thời kỳ càng khẳng định, chế định thừa kế đã có sự pháttriển tương ứng với sự phát triển của xã hội Buộc các nhà làm luật phải ban hànhcác quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế và các vấn đề liên quan đếnthừa kế Và để giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc buộc các chủ thểtham gia quan hệ thừa kế phải tuân theo những quy định của pháp luật về thừa kếtheo di chúc Cũng dựa trên cơ sở pháp luật, cơ quan xét xử Tòa án tiến hành giảiquyết các tranh chấp đó

1.3 Các loại tranh chấp về thừa kế theo di chúc

Các tranh chấp về thừa kế theo di chúc là do sự bất đồng, xung đột về ý chícủa những người thừa kế hoặc những người thuộc diện, hàng thừa kế pháp luật theoquy định của pháp luật Hoặc là do sự quy định không chặt chẽ của pháp luật về vấn

đề thừa kế theo di chúc BLDS 2005 đã dự liệu các trường hợp tranh chấp có thể sẽdiễn ra trong thực tế, cũng trên cơ sở các quy phạm pháp luật đó, cơ quan Tòa ángiải quyết các tranh chấp

1.3.1 Tranh chấp liên quan đến người lập di chúc

Trang 28

Trong thực tiễn hiện nay cho thấy tranh chấp về thừa kế theo di chúc diễn rangày càng đa dạng và phức tạp Và một trong những tranh chấp đó liên quan đếnngười lập di chúc Cụ thể là: năng lực hành vi của người lập di chúc; người lập dichúc tự nguyện, minh mẫn; quyền định đoạt của người lập di chúc.

Khi các chủ thể trong quan hệ thừa kế nhận thấy di chúc do người chết để lại

có sự bất ổn hoặc có sự sai phạm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp chua họ,dẫn đến tranh chấp xảy ra, các chủ thể đó yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp Đểgiải quyết tranh chấp đó, cơ quan xét xử Tòa án phải dựa trên những quy định cụthể của pháp luật về thừa kế theo di chúc

Tranh chấp liên quan đến năng lực hành vi của người lập di chúc

Theo quy định của pháp luật tại điều 647 BLDS năm 2005, người có thể lập

Pháp luật nước ta công nhận người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên

Vì vậy, không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, thành phần,… Người từ đủ 18 tuổi đều

có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế Người lập dichúc phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị hạn chế năng lực hành vidân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự (quy định tại Điều 22, 23 BLDS năm2005)

Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (người có năng lực hành

vi một phần) có thể lập di chúc nhưng với điều kiện “lập thành văn bản và phải

được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” Sự đồng ý ở đây là sự đồng ý cho họ

lập di chúc Còn về phần nội dung di chúc, họ được toàn quyền quyết định Tuynhiên đa số những người này có số lượng tài sản rất ít, do số năm lao động không

Trang 29

nhiều, còn phụ thuộc vào cha mẹ hoặc số tài sản có được là do cha mẹ để lại Dovậy, di chúc của những người thuộc nhóm độ tuổi này sẽ có nhiều vấn đề cần quantâm: tính hợp pháp của di chúc, di sản để lại có thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhânhay không, dẫn đến nhiều tranh chấp có thể xảy ra.

Nhưng thực tế cho thấy không phải bất cứ lúc nào khi người lập di chúc đápứng điều kiện về năng lực hành vi thì di chúc của họ sẽ hợp pháp, mà di chúc đókhông được trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, đồng thời người lập di chúcphải tự nguyện, minh mẫn, không bị lừa dối, bị cưỡng ép

Người lập di chúc tự nguyện, minh mẫn

Theo khoản 1 Điều 652 BLDS 2005: “Người lập di chúc tự nguyện, minh

mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép” Tự

nguyện của người lập di chúc là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của họ.Mặt khác, chúng ta thấy rằng sự thống nhất đó là sự thống nhất về mong muốn chủquan, mong muốn của người lập di chúc với hình thức thể hiện ra bên ngoài sựmong muốn đó Vì vậy, việc phá vỡ sự thống nhất làm mất đi tính tự nguyện củaviệc lập di chúc Sự phá vỡ đó là do người lập di chúc bị cưỡng ép hoặc di chúc của

họ lập trên cơ sở bị lừa dối

Cưỡng ép có thể là sự cưỡng ép về thể chất (đánh đập, giam giữ ) hoặccưỡng ép về tinh thần (đe dọa tính mạng của người thân trong gia đình người lập dichúc ) Người lập di chúc còn có thể bị lừa dối bằng những thủ đoạn như: Làm tàiliệu giả để cho người đó tin rằng một người đã chết hoặc mất tích nên không lập dichúc để lại di sản cho người đó mà để lại tài sản cho người làm tài liệu giả

Đây là trường hợp diễn ra nhiều trong thực tế, vì muốn người lập di chúc đểlại tài sản cho mình mà những người khác có những hành vi trái pháp luật, trái đạođức xã hội nhằm có được di sản của người thừa kế Và khi những người khác pháthiện và chứng minh được di chúc đó không hợp pháp do trái pháp luật thì tất yếu sẽ

có sự xung đột và tranh chấp giữa các chủ thể liên quan

Trang 30

Quyền định đoạt của người lập di chúc

Để bảo vệ quyền định đoạt của người lập di chúc, và hạn chế các tranh chấpliên quan đến quyền định đoạt của người lập di chúc, BLDS năm 2005 đã quy địnhchi tiết về quyền của người lập di chúc

Tôn trọng và bảo vệ quyền năng của một cá nhân đối với tài sản của họ,BLDS 2005 của nhà nước ta đã ghi nhận quyền của người lập di chúc tại các điềuluật sau đây:

Điều 631: Quyền thừa kế của cá nhân

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Theo quy định của pháp luật, khi xét về thừa kế theo di chúc thì cá nhân cóquyền lập di chúc và hưởng di sản thừa kế theo ý chí của người lập di chúc Nhưvậy, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhà nướckhông có quyền để lại di sản thừa kế Về đối tượng thừa kế theo di chúc thì ngoài cánhân, còn có tổ chức, nhà nước

Quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 648, 662, 664 BLDS2005

Quyền của người lập di chúc sẽ được chúng tôi phân tích cụ thể ở phần nộidung của di chúc Nói rõ hơn về các tranh chấp về nội dung của di chúc Tóm lại,các tranh chấp liên quan đến người lập di chúc phải chịu sự quy định của pháp luậtliên quan đến vấn đề này

1.3.2 Tranh chấp về nội dung của di chúc

Nội dung của di chúc là tổng hợp ý chí của người lập di chúc, thể hiện ởquyền định đoạt của người lập di chúc Người lập di chúc chỉ định người thừa kế;giao nghĩa vụ cho người thừa kế, phân định di sản thừa kế, đưa ra các điều kiện đểchia di sản thừa kế Ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với ý chí của Nhànước, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định tại điểm 3 Điều 4 BLDS 2005 Vi phạm

Trang 31

các điều đó di chúc sẽ vô hiệu Nội dung của di chúc được quy định tại Điều 648,

cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ “công dân có quyền sở hữu về thu

nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân ” (Điều 58 Hiến

Pháp 1992)

Tài sản riêng của người chết

Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợppháp( như tiền lương, tiền được trả công lao động, tiền thưởng, tiền nhuận bút )tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng( như quần áo, giường tủ,

xe máy, ô tô ) nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn để sản xuất kinh doanh

Tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được dùng để làm đồ trang sức hoặcđược dùng làm của để dành

Nhà ở, diện tích mà người có nhà bị cải tạo XHCN, được Nhà nước để lạicho để ở và xác định là thuộc quyền sở hữu của người đó Nhà do được thừa kế,tặng cho, mua, trao đổi hoặc tự xây dựng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chophép và đã làm thủ tục sang tên, trước bạ

Trang 32

Vốn, cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của những người sản xuất cá thể, hoặccác tư nhân được sản xuất kinh doanh hợp pháp.

Tài liệu, dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu

Cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đất đó.Quyền về tài sản do người chết để lại Đó là các quyền dân dân sự được phátsinh từ các quan hệ hợp đồng do việc bồi thường thiệt hại mà trước khi chết họ đãtham gia vào những quan hệ này (như quyền đòi nợ, đòi lại tài sản cho thuê, hoặccho mượn, chuộc lại tài sản đã thế chấp, cầm cố, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng )

Ngoài những quyền nói trên quyền về tài sản của người chết được để lại như:quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp

Việc quy định về tài sản do người chết để lại là di sản thừa kế, góp phần bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường tinh thần trách nhiệm củacác chủ thể khi tham gia vào các quan hệ PLDS Tuy nhiên các quyền tài sản gắnliền với nhân thân cuả người chết (quyền hưởng trợ cấp, tiền lương hưu) không là disản thừa kế

Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, Nhà nước là người quản lý toàn bộ đấtđai và giao cho tổ chức và cá nhân sử dụng lâu dài để tạo điều kiện cho cá nhân, tổchức đầu tư công, sức vào sản xuất nhà nước cho phép cá nhân có 5 quyền, trong đó

có quyền để lại thừa kế, quyền sử dụng đất, tùy loại đất khác nhau mà quyền thừa

kế cũng có quy định khác nhau

Vấn đề đất đai trong thừa kế ngày càng trở nên quan trọng hơn khi đa số cácloại tranh chấp về thừa kế theo di chúc thường liên quan đến quyền sử dụng đất.Vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai là di sản thừa kế càng khó giải quyết hơn khiLuật Đất đai có nhiều văn bản hướng dẫn, dẫn tới sự chồng chéo trong quá trìnhgiải quyết

BLDS 2005 quy định di sản thừa kế nói chung và di sản thừa kế theo di chúcnói riêng, làm căn cứ để xác định người để lại di chúc có quyền phân chia di sản

Trang 33

thừa kế, di tặng, quyền giao nghĩa vụ thừa kế trong phạm vi di sản thừa kế hợppháp.

Quyền phân định di sản cho từng người thừa kế

Người lập di chúc có quyền phân chia một cách cụ thể cho người thừa kế nàohưởng phần di sản là bao nhiêu hoặc hưởng di sản là vật gì Người lập di chúc cóquyền phân chia di sản cho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau mà khôngcần phải nêu lý do, nếu không phân định Vì vậy, quyền phân định di sản của ngườilập di chúc được xem xét dưới ba góc độ và qua từng góc độ đó, việc phân chia disản theo di chúc được tiến hành cho phù hợp với ý nguyện của người để lại di sản

- Phân định tổng quát : Là trường hợp người lập di chúc không xác định rõphần di sản mà từng người thừa kế được hưởng Theo góc độ này nếu trong di chúcchỉ có một người thừa kế thì toàn bộ di sản sẽ thuộc về người đó Nếu di chúc chỉđịnh nhiều người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người có tên trong dichúc Nếu những người này có sự thỏa thuận về việc hưởng di sản thì việc phânchia di sản sẽ tuân theo sự thỏa thuận đó

- Phân định theo tỷ lệ: Là trường hợp trong di chúc đã nói rõ mỗi người thừa

kế được hưởng một phần di sản theo một tỷ lệ nhất định so với tổng giá trị tài sản

Vì vậy, khi phân chia di sản theo di chúc thì mỗi người thừa kế được hưởng phần disản theo tỷ lệ đã được xác định trên tổng giá trị khối tài sản đang còn vào thời điểmphân chia Chẳng hạn, nếu di chúc xác định rằng cho A hưởng 1/5 di sản và sau khiđịnh giá đã xác định được tổng giá trị di sản là 400 triệu đồng thì sẽ A được hưởngphần di sản là: 400 triệu : 5 = 80 triệu

- Phân định cụ thể: Là trường hợp người để lại di sản đã xác định rõ trong dichúc người thừa kế nào được hưởng di sản là hiện vật gì Vì vậy khi di sản được

phân chia, các thừa kế được nhận hiện vật theo sự xác định trong di chúc “kèm theo

hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản” “Nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người

Trang 34

khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại” (Điều 684 BLDS 2005).

Do việc xác định tổng tài sản của người lập di chúc không thể hiện rõ ràngtrong di chúc cho nên khi những người liên quan đến quan hệ thừa kế đó sẽ có cáchxác định di sản của người đã chết khác nhau, dẫn đến việc phân định di sản thừa kếcũng khác nhau tất yếu dẫn đến tranh chấp, buộc họ phải yêu cầu tòa án giải quyết

Việc phân chia di sản là một trong những tranh chấp diễn ra phổ biến nhấttrong các tranh chấp về thừa kế theo di chúc vì nó tác động đến quyền và lợi ích củacác chủ thể được nhận thừa kế

Quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế

Nghĩa vụ được xét đến trong mục này là những nghĩa vụ về tài sản

Theo sự chỉ định trong di chúc, người thừa kế phải thực hiện một công việc

vì lợi ích chất của người khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thựchiện như trả nợ, bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, người thừa kế không phải thựchiện những nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản

Cũng giống như việc phân định tài sản, việc phân định nghĩa vụ cũng đượchiểu theo ba góc độ sau đây:

- Trong trường hợp người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ về tài sảnnhưng trong di chúc không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện nghĩa vụ đó thìtheo quy định của pháp luật, ai hưởng thừa kế người đó phải thực hiện Tuy nhiên,người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm

vi di sản thừa kế

- Trong trường hợp hợp để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từngngười thừa kế phải thực hiện thì mỗi người phải thực hiện phần đó trong phạm vi disản mà mình được hưởng Phần nghĩa vụ vượt quá di sản người này được hưởng sẽchia đều cho những người thừa kế khác thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ

đã nhận

Trang 35

- Nếu người lập di chúc đã giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế thì riêngngười được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó Tuy nhiên, nếu có phần nghĩa

vụ vượt quá số di sản mà người đó được hưởng thì những người thừa kế khác phảithực hiện tương ứng với phần di sản mà họ được hưởng Ví dụ: Ông A lập di chúc

để định đoạt khối tài sản của mình trị giá 120 triệu đồng như sau: cho M hưởng 30triệu đồng, N hưởng 30 triệu đồng, P hưởng 60 triệu đồng Khi ông A chết còn nợcủa người khác một khoản tiền là 54 triệu đồng Ông A giao cho M phải thay ôngtrả khoản nợ đó Như vậy, trong thực tế coi như M không được hưởng di sản theo dichúc Ngoài 30 triệu đồng mà M được hưởng đã dùng để thanh toán nghĩa vụ,khoản nợ vẫn còn lại 24 triệu đồng Khoản nợ này do N và P cùng phải thực hiệnnhưng tương ứng với phần di sản mà mỗi người được hưởng (do di sản của N đượchưởng = 1/2 di sản mà P được hưởng) Vì vậy N = 30 triệu đồng trừ 8 triệu đồng(1/3 của 24 triệu đồng) còn 22 triệu đồng; P = 60 triệu đồng trừ 16 triệu đồng (2/3của 24 triệu đồng) còn 44 triệu đồng

Như vậy, những người thừa kế không chỉ được nhận di sản thừa kế mà cònphải gánh vác nghĩa vụ cho người để lại thừa kế Đây cũng là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến tranh chấp Vì tâm lý của người thừa kế là chỉ muốn hưởngquyền mà không muốn phải gánh vác nghĩa vụ thay cho người đã chết Họ cho rằngngười nào nợ thì phải có nghĩa vụ trả nợ không thể buộc người khác phải trả nợthay Xuất pháp từ tâm lý và suy nghĩ như vậy mà người thừa kế theo di chúc sẽ từchối nhận thừa kế hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho nhau dẫn đến xung đột

Trang 36

chỉ được thực hiện sau khi người tặng cho đã chết) nên họ được hưởng di sản màkhông phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Tuy nhiên, để bảo vệquyền lợi chính đáng cho các chủ nợ của người chết, pháp luật nước ta quy định:

“Trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này” (Khoản 2 Điều 671 BLDS 2005).

Thực tiễn cho thấy đây là vấn đề có nhiều tranh cãi vì người được di tặng sẽgách vác ít nghĩa vụ trả nợ hơn so với những người được hưởng di sản thừa kế Đặcbiệt là các trường hợp toàn bộ di sản đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, khi đó sẽ có

sự bất đồng xảy ra

Quyền được để lại di sản dùng vào việc thờ cúng

Con người Việt Nam cổ truyền vốn coi việc thờ phụng tổ tiên là bổn phận hếtsức thiêng liêng và hệ trọng của con, cháu Khi một gia đình có kinh tế khá giả baogiờ người ta cũng quan tâm thi hành bổn phận ấy bằng cách dành ra một số tài sản

để lo việc xây dựng nhà thờ, tài sản trong nhà thờ và thờ cúng hàng ngày Các tàisản này có thể bao gồm nhiều loại với tên gọi khác nhau, nhưng chung quy đó là

các “Di sản dùng vào việc thờ cúng” mà các bộ dân luật cũ gọi là “hương hỏa”

Tôn trọng và ghi nhận truyền thống đó của dân tộc, Pháp lệnh Thừa kế trướcđây và BLDS hiện nay của nước ta đều ghi nhận quyền để lại di sản dùng vào việcthờ cúng của người lập di chúc Đồng thời, tại Điều 670, BLDS 2005 đã ghi rõ:

“1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trang 37

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2 Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”.

Như vậy, việc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng là do ý muốncủa người để lại thừa kế Không ai có thể buộc một người phải dành một số di sảnkhi chết để con cháu lo việc cúng giỗ cho họ và tổ tiên của họ nhưng nếu bằng dichúc, người để lại di sản thể hiện ý nguyện như vậy thì ý nguyện đó phải được tôntrọng

Ý nguyện thật sự của người để lại di sản thờ cúng là phần di sản đó phảiđược những người về sau này lưu giữ mãi mãi, truyền từ đời này sang đời khác,những người thừa kế chỉ thay nhau quản lý để phục vụ cho công việc phụng tự.Phỏng đoán theo ý chí truyền thống, pháp luật nước ta quy định: phần di sản dùngvào việc thờ cúng không được chia thừa kế

Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của người lập di chúc, pháp luậtnước ta cho phép người đó dành một phần di sản để dùng việc thờ cúng và cũngkhông cần quy định cụ thể “phần” đó là tỷ lệ bao nhiêu so với giá trị khối tài sản.Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho những người có quyền tài sản liên quan đến disản của người đã chết, pháp luật nước ta cũng đã hạn chế quyền dành di sản vàoviệc thờ cúng của người lập di chúc bằng việc quy định tại Khoản 2 Điêu 670

BLDS: “Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán

nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”.

Theo quy định trên dù người lập di chúc đã thể hiện ý chí dành một phần disản của mình vào việc thờ cúng nhưng ý chí đó không được pháp luật thừa nhận nếu

Trang 38

những phần tài sản còn lại để thờ cúng phải dùng để thanh toán các khoản còn lạicủa người lập di chúc.

Mặt khác, nếu việc để lại di sản vào việc thờ cúng của người lập di cúng ảnhhưởng đến quyền lợi chính đáng của những người thừa kế theo Điều 669 BLDS thìquyền định đoạt đó bị hạn chế để bảo đảm những người thừa kế nói trên đượchưởng phần di sản ít nhất là bằng hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật

Chỉ định người thừa kế

Thông thường, một người bao giờ cũng mong muốn rằng, sau khi chết, tàisản của mình sẽ được dịch chuyển cho những người gần gũi, thân thiết nhất Mongmuốn này thường được thể hiện trong di chúc mà họ đã lập trước khi chết

Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chứcnào Họ có thể là con, cha, mẹ, vợ, chồng… của người thuộc diện thừa kế theo luậtdựa trên các quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ huyết thống; vàcũng có thể là người nằm ngoài phạm vi nói trên, như Nhà nước, tổ chức kinh tế, xãhội… Vì đó là ý chí thực sự tự nguyện của người lập di chúc

Việc chỉ định người thừa kế theo ý chí của người lập di chúc dẫn đến sự xungđột về ý chí của người thừa kế đáng được hưởng thừa kế nếu chia thừa kế theo phápluật với ý chí của người lập di chúc Tuy nhiên, pháp luật công nhận di chúc là hợppháp và cần phải tôn trọng người đã chết Cho nên khi giải quyết tranh chấp, cơquan Tòa án phải dựa trên tinh thần của di chúc để giải quyết (với điều kiện di chúchợp pháp)

Truất quyền hưởng di sản

Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ

có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật (như: Cha, mẹ, vợ,chồng, con, anh, em ruột…) mà không nhất thiết phải nêu lý do, người lập di chúc

có thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theo luật không được hưởng di sảnthừa kế của mình

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2001) 2. Bộ Luật dân sự năm 2005 Khác
5. Nghị quyết số 02/2004/NQ/HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình Khác
6. Pháp lệnh thừa kế năm 1990 của Hội đồng nhà nước số 44 – LCT/HĐNN8 ngày10/09/1990 về thừa kế Khác
7. Thông tư 81 – TANDT/C 24/07/1981 hướng dẫn giải quyết một số tranh chấp về thừa kế Khác
8. Thông tư số 02/TATC 02/08/1973 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế Khác
9. Thông tư số 594/NCPL 27/08/1968 tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn đường lối xét xử việc tranh chấp thừa kế.II. Sách tham khảo 1. Từ điển Tiếng Việt Khác
2. Giáo trình Luật dân sự - trường Đại học Luật Hà Nội - xuất bản năm 2009 Khác
3. Báo cáo tổng kết hàng năm của TTP. Vinh giai đoạn 1/10/2005 đến 30/9/2010 Khác
4. Báo cáo tổng kết hàng năm của phòng kiểm sát án dân sự Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 đến 2010 Khác
5. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Nghệ An khóa XXI nhiệm kỳ 2010 - 2015.III. Các bài viết tham khảo Khác
1. Giáo sư, tiến sĩ Phùng Trung Tập - Hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay Khác
2. Ts. Phạm Ánh Tuyết - Thừa kế theo di chúc theo quy định BLDS Việt Nam - năm 2003 Khác
3. Ts. Nguyễn Ngọc Điện - Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong BLDS năm 2005 Khác
4. Ths. Nguyễn Hải An - Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam - năm 2004 Khác
5. Ths. Nguyễn Hồng Nam - Các điều kiện có hiệu lực di chúc năm 2005 Khác
6. Đào Tuân Tiến - Giải quyết tranh chấp về thừa kế, thực trạng và giải pháp Khác
7. Thạc sĩ Nguyễn Văn Mạnh - Hoàn thiện chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự (phần 2) khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà nội - Tạp chí khoa học pháp lý số 3/2002 Khác
8. Thạc sỹ. Lê Minh Hùng - Những điểm mới trong Bộ luật dân sự năm 2005 - Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh - Tạp chí khoa học pháp lý năm 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TỪ VIẾT TẮT - Giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại tòa án nhân dân thành phố vinh, thực trạng và giải pháp luận văn tốt nghiệp đại học
BẢNG TỪ VIẾT TẮT (Trang 3)
Bảng 2: Số lượng các vụ tranh chấp thừa kế (chia theo pháp luật và chia theo  di chúc) giai đoạn 1/10/2005 đến 30/9/2010 - Giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc tại tòa án nhân dân thành phố vinh, thực trạng và giải pháp luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2 Số lượng các vụ tranh chấp thừa kế (chia theo pháp luật và chia theo di chúc) giai đoạn 1/10/2005 đến 30/9/2010 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w