1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại toà án nhân dân tỉnh nghệ an thực trạng và giải pháp

68 2,3K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại toà án nhân dân tỉnh nghệ an thực trạng và giải pháp
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 353 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau để biểu đạt loại tranh chấp nay,măc dù không xây dựng được một khái niệmchuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng pháp l

Trang 1

trò của Tòa án và Viện kiểm sát rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ ánnhằm đem lại hòa bình, an ninh trật tự, bảo vệ được chế độ, bảo vệ được tínhmạng và tài sản của nhân dân.

Hơn nữa, Toà án là một thiết chế của Nhà nước; hoạt động của Toà án làmột hoạt động rất đặc biệt và mang tính kỹ năng nghề nghiệp cao; vì lẽ đó,hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chínhxác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo dài, dễ gâyphiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về kinhdoanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp Mặt khác khi nước ta đãgia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Nhiều quan hệ kinh tế cũngmang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú củacác quan hệ này, các tranh chấp kinh tế ngày càng muôn hình muôn vẻ và với

số lượng lớn Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọn cho mình hình thứcgiải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo

vệ có hiệu quả nhất các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sửdụng cơ chế thương lượng, hoà giải

Do vậy, việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh tế,thương mại tại Toà án được nhiều người quan tâm Đồng thời việc giải quyết

Trang 2

giỏo bộ mụn tụi mạnh dạn chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh tế,

thương mại tại Tũa ỏn nhõn dõn Tỉnh Nghệ An Thực trạng và giải phỏp”

làm đề tài khúa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Án kinh tế, thương mại là loại ỏn phức tạp và tương đối mới trong nhữngnăm gần đõy, trước dõy nú chỉ quy định trong cỏc hợp đồng kinh tế, phỏp lệnh

về thủ tục giải quyết cỏc tranh chấp kinh tế (1994), hay là tranh chấp thương

mại trong luật thương mại (1997) Từ khi BLTTDS năm 2004 ra đời nú đó qui

định cụ thể giải quyết ỏn kinh tế, thương mại tại tũa ỏn

Việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại tũa ỏn nú cú ý nghĩaquan trọng đối với việc đỏnh giỏ chất lượng vụ ỏn Vỡ vậy, nghiờn cứu đề tàinày cũng đó cú nhiều độc giả nghiờn cứu tại Tũa ỏn địa phương mỡnh, và dướinhiều gúc độ khỏc nhau, được thể hiện trong cỏc giỏo trỡnh như: Luật tố tụngdân sự Việt Nam - Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia HàNội ; Giỏo trỡnh luật thương mại, tập 2 - Đại học luật Hà nội” Các sách bìnhluận, các tạp chí, các sách báo pháp lý Có thể kể đến một số công trình củacác tác giả tiêu biểu sau đây: “Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật

tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng” của Ts Lê Thu Hà (2006); ngo i ra ài ra cũn

Trang 3

sâu cụ thể qua các năm Vì vậy đề tài nghiên cứu “Giải quyết tranh chấp

kinh tế, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An Thực trạng và giải pháp” là công trình nghiên cứu đầu tiên làm rõ cả về lý luận và thực tiễn và

các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế thươngmại tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục đích của Luận văn

Luận văn nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc giải quyết các tranhchấp kinh tế thương mại bằng con đường tòa án, trên cơ sở phân tích, đánhgiá thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại tòa án nhân dântỉnh Nghệ An từ năm (994 đến nay) nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việcgiải quyết các vụ án kinh tê, thương mại tại tòa án nhân dân tỉnh Nghệ Anhiện nay

3.2 Nhiệm vụ của Luận văn

- Làm sáng tỏ cơ sỏ lý luận của việc giải quyết tranh chấp kinh tế thươngmại bằng con đường Tòa án

- Tìm hiểu thực trạng, thu thập các tài liệu trong việc giải quyết tranhchấp kinh tế, thương mại tại Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An

- Từ đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giảiquyết các vụ án kinh tế, thương mại tạ tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

4 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Trang 4

4.1 Cơ sở khoa học

Đề tài được thực hiện trên cơ sở các báo cáo, tổng hợp các tài liệu củaTòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An từ năm 1994 đến nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp như: phươngpháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Phạm vi không gian

Luận văn nghiên cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thươngmại bằng con đường tòa án mà cụ thể là tại Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An,theo sự điều chỉnh của BLTTDS năm 2004

5.2 Phạm vi thời gian

Luận văn phân tích, đánh giá khái quát thực trạng giải quyết các tranhchấp về kinh tế, thương mại tại tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An từ năm 1994đến nay

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc giải quyết tranhchấp kinh tế, thương mại bằng con đường tòa án

Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho các cơ quan thực thipháp luật, các sinh viên chuyên ngành luật Chính trị - luật

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luậnđược chia làm 2 chương, 6 tiết

NỘI DUNG

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

KINH TẾ THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN

1.1 Khái niệm về tranh chấp kinh tế, thương mại và việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án

Các vụ án phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại đa dạng vàphức tạp Quyền lựa chọn phương thức giải quyết của các đương sự trong vụtranh chấp cũng rộng hơn, có thể thoả thuận với nhau lựa chọn con đườngToà án hoặc Trọng tài

1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh tế, thương mại

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, một trong những công việc đầutiên mà Toà án cần làm là xem xét tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền củamình hay không, và việc xác định thế nào là tranh chấp kinh tế có ảnh hưởnglớn đến thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp này Trên

thực tế, “tranh chấp kinh tế” có nhiều cách hiểu, nhưng trong khoa học pháp

lý, khái niệm “tranh chấp kinh tế” có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khác

nhau như: từ góc độ pháp luật nội dung, từ góc độ pháp luật hình thức

Trong khoa học pháp lý Việt Nam, thuật ngữ “Tranh chấp kinh tế” được

sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, bên cạnh thuật ngữ này còn có các thuật

ngữ khác như “Tranh chấp thương mại”, “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” Có

quan điểm cho rằng, tranh chấp kinh tế trong kinh doanh phần nào có sự khác

biệt với tranh chấp kinh tế nói chung Bởi lẽ, khái niệm “kinh tế” cũng như

“Quan hệ kinh tế” thông thường được hiểu rộng hơn khái niệm “Kinh doanh”, “Quan hệ kinh doanh” Kinh doanh chỉ là hoạt động vì mục tiêu lợi

nhuận và mang tính nghề nghiệp như sản xuất, buôn bán, dịch vụ v.v… Trongkhi đó, kinh tế có sự bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác

Trang 6

tranh chấp phát sinh từ vi phạm hợp đồng kinh tế.

Dưới góc độ pháp luật nội dung, “Tranh chấp kinh tế” là những tranh

chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế

Tuy nhiên, với khái niệm “Tranh chấp kinh tế” như vậy khó có thể cho phép

phân biệt được với các loại tranh chấp với các loại tài sản khác như tranhchấp dân sự vì nội hàm của nó quá rộng

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau

để biểu đạt loại tranh chấp nay,măc dù không xây dựng được một khái niệmchuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế ngày 16/3/1994 và Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 cũng đã liệt kêcác tranh chấp được coi là tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa án kinh tế, vàtrọng tài kinh tế Theo các văn bản pháp luật này, các tranh chấp kinh tế baogồm: (Điều 12 Pháp lệnh về thủ tục gải quyết các vụ án kinh tế 1994)

- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữapháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;

- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, thành lập, hoạtđộng, giải thể của công ty;

- Các tranh chấp lien quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;

- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật

Dưới góc độ pháp luật tố tụng hiện hành ở Việt Nam hiện nay, tranhchấp kinh tế (hay tranh chấp thương mại) bao gồm những tranh chấp phátsinh trong nội bộ công ty, trong hoạt động kinh doanh v.v… Có thể nói cách

Trang 7

tranh chấp thương mại theo luật thương mại 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấpkhông được coi là tranh chấp thương mại.

Luật thương mại 2005 định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại là

“hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 Điều 3, luật thương mại 2005).

Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 cũng đã liệt kê các tranh chấp

về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án gồm có:

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các

cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợinhuận, bao gồm: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện;đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vậnchuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa;đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ

có giá khác nhau; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khaithác

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cánhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thànhviên của công ty với nhau lien quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

Trang 8

Tập 2 - Trường Đại học luật Hà Nội).

“Tranh chấp kinh tế” là hệ quả phát sinh từ các quan hệ kinh tế- các

quan hệ có tính chất tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời Tính chất, đặcđiểm của các tranh chấp kinh tế bị chi phối bởi tính chất nội dung của cácquan hệ kinh tế Hay nói cách khác, cơ sở phát sinh của các tranh chấp kinh tế

là các hoạt động kinh tế giữa các chủ thể

“Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại” được hiểu là các hình thức,

các phương pháp nhằm giải quyết các bất đồng về quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể kinh doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợ pháp của các chủ thể có tranhchấp

1.1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng con đường Toà án

Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam thế giới cũng như ở Việt Nam,tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại cơ bản đólà: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại, tòa án

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại thì giải quyếttranh chấp kinh tế, thương mại được thực hiện bằng một trong hai con đường

cơ bản: Một là, giải quyết tại Toà án Nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh

Trọng tài thương mại, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 củaChính phủ

Như vậy, khi xảy ra tranh chấp các bên có thể đưa vụ việc ra toà án hoặctrọng tài để giải quyết Hai con đường này có sự khác biệt cơ bản, tuy kết quả

Trang 9

Trong khi đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, chỉnhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản vềviệc chọn trọng tài Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc

“phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Pháp lệnh trọng tài thương

mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn Thủ tục giảiquyết có nhiều mặt ngược với tố tụng toà án

1.1.2.1 Khái niệm, ý nghĩa phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại theo thủ tục tòa án

Giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án là phương thức giải quyếttranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hànhtheo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của tòa

án về vụ tranh nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hànhbằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

- Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng tòa án:

Đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng kịp thời, chính xác,nghiêm minh, đúng pháp luật

Đảm bảo các cho các phán quyết của Toà án được thực thi một cáchnghiêm chỉnh đúng pháp luật Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự giánđoạn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tranh chấp

Trang 10

Được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế.

a Cơ cấu của toà án kinh tế:

Toà án kinh tế được tổ chức thành tòa chuyên trách trong hệ thống tòa ánnhân dân như: Tòa dân sự, Toà hình sự, gồm có: Tòa kinh tế Tòa án nhân dântối cao, Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Thẩm phán chuyên tráchxét xử các vụ án kinh tế ở Toà án cấp Huyện

- Ở Trung Ương: Toà án nhân dân tối cao có toà án kinh tế tồn tại độc

lập và song song với các toà chuyên trách khác như: Toà hình sự, Toà dân sự,Toà lao động… Cơ cấu tổ chức của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm

có Chánh toà, các Phó Chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà

- Ở Địa phương: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp Tỉnh

gồm có: Chánh toà, Phó chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà

- Ở Toà án nhân dân cấp Huyện: không có tòa chuyên trách về kinh tế

song TAND cấp Huyện vẫn có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và

có các Thẩm phán kinh tế đảm nhận xét xử các vụ án kinh tế

b Chức năng và nhiệm vụ của toà án kinh tế:

Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cónhững nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: (Khoản 3, Điều 30, Luật Tổ chức Tòa

án nhân dân 2/4/2002 qui định)

+ Sơ thẩm những vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng;+ Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quyđịnh của pháp luật tố tụng;

+ Giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật

Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có 2 chức năng chủ yếu

sau:

+ Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo qui định của pháp luật Đây là

Trang 11

chức năngchủ yếu thường xuyên mang tính truyền thống của một cơ quan xét

xử, toà án có thẩm quyền nhân danh nước CHXHCN Việt Nam để tuyên án

và kết quả của việc xét xử là bản án hoặc quyết định

+ Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Toà án nhân dân cấp Tỉnh,Toà án nhân dân tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên

bố phá sản doanh nghiệp

- Nhiệm vụ của toà án kinh tế:

Giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế nhằm bảo vệ lợi íchcủa Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, pháp nhân; Nhiệm vụ bảo vệpháp chế XHCN; Nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;Nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng kịp thời các vụ án kinh tế

Thực tiễn hoạt động kinh doanh yêu cầu đặt ra là phải có phương thứcgiải quyết tranh chấp kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường, cần giảiquyết tranh chấp kinh tế kịp thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, khôngchỉ giảm bớt những tổn thất về kinh tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôiphục quyền lợi của các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh, tạo ra động lựcthúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

Mặt khác khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong nước cũng như ởnước ngoài yên tâm bỏ vốn để đầu tư phát triển đất nước

Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủtục giải quyết các vụ án kinh tế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật tổ chức tòa án nhân dân, từ ngày 1/7/1994 giải quyết tranh chấp kinh tếđược chuyển sang tòa kinh tế - Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhândân Ngày28/6/1996 Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tốicao đã ban hành thông tư liên ngành số 04 TTLT hướng dẫn áp dụng Pháplệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, trong đó quy định tổ chứctoà kinh tế nằm trong hệ thống tòa án nhân dân với vai trò như những tòachuyên trách khác, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinhtrong nền kinh tế thị trường

Trang 12

1.1.2.3 Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế, thương mại

Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo đốivới việc giải quyết các vụ án kinh tế được các quy phạm pháp luật về tố tụngkinh tế ghi nhận qua những nội dung và đặc trưng cơ bản của tố tụng kinh tế.Việc tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng kinh tế là cơ sở cho việc đảm bảogiải quyết vụ án kinh tế khách quan, các nguyên tắc cụ thể được qui địnhtrong BLTTDS năm 2004 bao gồm các nhóm nguyên tắc: Các nguyên tắc thểhiện tính pháp chế XHCN; Các nguyên tắc về tổ chức hoạt động xét xử củatòa án; Các nguyên tắc đảm bảo quyền tham gia tố tụng của các đương sự, cácnguyên tắc thể hiện vai trò trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chứctrong tố tụng dân sự Trong các nhóm nguyên tắc đó thì có các nguyên tắc cơbản mà trong quá trình tố tụng vụ án cần phải tuân thủ:

* Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận

Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế, nó xuất phát từ quyền tự

do kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh Theonguyên tắc này, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định cho đương sựđược quyền khởi kiện, quyền yêu cầu toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp, có quyền lựa chọn Trong các mối quan hệ các bên hoàn toàn tựnguyện, không bên nào được áp dặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cảnbên nào

Toà án giải quyết tranh chấp trong những trường hợp nhất định Nguyênđơn được quyền thay đổi nội dung đơn kiện, quyền rút đơn kiện, cũng nhưđương sự có quyền hoà giải, thương lượng trong quá trình giải quyết vụ án

* Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh:

Trong tố tụng kinh tế, toà án không có nghĩa vụ phải điều tra xác minh sựthật của vụ án, mà các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp thu thập tài liệuchứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Có thể nói, sự thất bại trong một vụtranh tụng tại toà án phụ thuộc nhiều vào việc đương sự có cung cấp đầy đủcác chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình hay không

Trang 13

* Nguyên tắc hoà giải:

Khi có tranh chấp kinh tế xảy ra các bên đương sự phải chủ động gặp gỡnhau để hoà giải, thương lượng, khi sự thương lượng đó không đem lại kếtquả thì bên bị vi phạm có quyền khởi kiện vụ án kinh tế ra toà án nhân dân cóthẩm quyền Trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế toà án có nhiệm vụ phảihoà giải giữa các bên đương sự, hoà giải là bắt buộc trong tố tụng kinh tế, nếunhư khi giải quyết vụ án kinh tế Toà án không hoà giải giữa các bên thì coinhư đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Toà án chỉ đưa ra xét xử khi hoà

giải không thành Xét về nguyên tắc, hoà giải không chỉ giải quyết "Ai đúng,

Ai sai" mà chính là khuyến khích các bên thừa nhận quyền lợi chung Thực

tiễn xét xử cho thấy rằng phần lớn các vụ án kinh tế thành công ở giai đoạnhoà giải Hoà giải thật sự có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai bên đương sự

và với cả toà án, nó giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng đạt được yêu cầucủa cả hai bên và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những thoả thuận

đó sau này

* Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời:

Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng vụ án kinh tế, bởi lẽ nó chi phốitất cả các thời hạn tố tụng trong việc giải quyết vụ án kinh tế, nhanh chóng vềthời gian là đòi hỏi của các chủ thể kinh doanh khi giải quyết vụ án

* Nguyên tắc xét xử công khai:

Đây là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của toà án Trong một sốtrường hợp pháp luật cho phép toà án được xử kín: Khi xét xử các vụ án kinh

tế, toà án có thể xét xử kín nếu xét thấy cần giữ bí mật Nhà nước hoặc bí mậtcủa đương sự

1.1.2.4 So sánh phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng con đường trọng tài và con đường tòa án:

Tranh chấp kinh tế - thương mại giữa các doanh nghiệp, các công ty ViệtNam đều có thể được một trong các bên lựa chọn hình thức trọng tài hay toà

Trang 14

án giải quyết Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết phụ thuộc vào thoảthuận của các bên Tuy nhiên, không phải tranh chấp nào cũng được trọng tàigiải quyết Chỉ những tranh chấp mà trong hợp đồng các bên có thoả thuậntrọng tài hoặc mặc dù trong hợp đồng các bên không thoả thuận nhưng trongtiến trình giải quyết tranh chấp (trước khi đưa đến Toà án) các bên có thốngnhất thoả thuận trọng tài giải quyết thì khi đó cơ quan trọng tài có thẩm quyềngiải quyết Những trường hợp còn lại, Toà án đương nhiên có thẩm quyền giảiquyết

Song, không phải cứ có thoả thuận trọng tài là cơ quan trọng tài đó cóthẩm quyền giải quyết Các thoả thuận trọng tài phải là hợp lệ, đúng phápluật Những trường hợp thoả thuận trọng tài không hợp pháp thì cơ quan Toà

án sẽ có thẩm quyền giải quyết

Ta có thể so sánh giữa hai phương thức theo một số tiêu chí dưới đây:

Tiêu chí so sánh Phương thức tòa án Phương thức trọng tài

Hiệu lực thi hành

quyết định

Hiệu lực thi hành quyếtđịnh cao, được cưỡngchế thi hành bằng quyềnlực nhà nước

Hiệu lực thi hành khôngcao, nếu không thi hành quyếtđịnh thì phải có sự hỗ trợ củaTòa án

Trang 15

giá trị và được thực thi Nên trong thực tế hiện nay các bên tranh chấp chủyếu chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng tòa ánmặc dù phương thức này nặng nề, phiền toái hơn nhưng bảo đảm hiệu lực thihành

Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại cónhững ưu điểm vượt trội so với giải quyết tranh chấp tại toà án Những ưuđiểm đó là:

Thứ nhất: Đề cao ý chỉ tự do thoả thuận của các bên tranh chấp, các bên

được tự mình đưa ra những ý kiến, sự lựa chọn của mình trước hội đồng trọngtài; Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên Cách thức lựa chọntrọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quátrình tố tụng;

Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp, có chuyên môn sâu vàkinh nghiệm giải quyết đối với lĩnh vực của vụ tranh chấp; Quyết định trọngtài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất vềtiền, hàng trong kinh doanh thương mại Quyết định trọng tài là quyết địnhcuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của toà án;

Tố tụng trọng tài không bị ràng buộc về mặt lãnh thổ, nghĩa là các bênmuốn chọn trung tâm trọng tài nào cũng được, bất kể địa chỉ của họ ở đâu;Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thihành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì cóthể kiện ra toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án; Quyết định giải quyếttranh chấp thương mại bằng trọng tài phải được các bên thi hành nhanhchóng, trong thời hạn 30 ngày Quá hạn đó, bên được thi hành có quyền làmđơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh, nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi cótài sản của bên phải thi hành quyết định trọng tài; Việc thắng, thua trong tốtụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh

Trang 16

chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa cácđối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện;

Thứ hai: Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không có

nhiều công đoạn tố tụng, nhanh, gọn, linh hoạt đáp ứng đòi hỏi hoạt độngthương mại của các bên có liên quan; Nội dung tranh chấp và danh tính củacác bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại.Điều đó, có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh;

Thứ ba: Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ

chức phi Chính phủ, nhưng được hỗ trợ, đảm bảo về pháp lý của toà án trêncác mặt sau: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếunại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hànhquyết định trọng tài Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợiích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơnyêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: Bảo toàn chứng

cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biêntài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sảntranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêmphong tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài khoản tại ngân hàng

Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộnghơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏnhững vấn đề nhạt cảm Trong khi đó, toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng

bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có

cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên cácchứng cứ “pháp lý”

Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế qua con đường trọng tài cũng có nhữngnhược điểm so với tranh chấp tại toà án kinh tế Đó là:

Trang 17

Thứ nhất: Cơ quan trọng tài kinh tế không có quyền ra lệnh kê biên khẩn

cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp Việc kê biên chỉ đượcthực hiện thông qua toà án trên cơ sở yêu cầu của trọng tài Quá trình kê biêntheo trình tự này có thể kéo dài, không đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời đểphòng ngừa việc tẩu tán tài sản; Phán quyết của trọng tài, tuy là chung thẩm,nhưng bên bị đơn có thể yêu cầu toà án xem xét lại Như vậy, phán quyết củatrọng tài nhiều lúc làm cho bên “thắng kiện” không yên tâm

Thứ hai: Trọng tài kinh tế là tổ chức phi Chính phủ Chúng ta sống trong

hệ thống chính trị mà người dân nghĩ rằng chỉ có các quyết định của Đảng vàNhà nước mới có hiệu lực và tính khả thi Với chiều dài của lịch sử, với thựctiễn cuộc sống đã làm cho dân ta nhận thức một cách không đầy đủ về xã hộidân sự Đây là nhận thức về bề nổi, nhưng lại ảnh hưởng quan trọng đến hoạtđộng của tổ chức phi Chính phủ Thực trạng này, phần lớn cũng do các yếu tốpháp lý gây nên Pháp lệnh về trọng tài vẫn còn có những hạn chế, làm giảmhiệu lực hoạt động của các trung tâm trọng tài Một phán quyết của trọng tài

dù có chính xác đến đâu cũng cần phải có một quyết định công nhận và chothi hành của Toà án hoặc quyết định của cơ quan thi hành án Quy định này,làm tăng thêm tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi sử dụng trọng tài đểphân xử tranh chấp

Thứ ba: Tồn tại trong bản thân của các trung tâm trọng tài, mạng lưới

trọng tài của chúng ta lại quá thưa thớt Đến thời điểm hiện nay, chúng ta chỉ

có thể đếm trên đầu ngón tay Hoạt động của các trung tâm trọng tài chỉ dựavào nguồn vốn tự có của các nhà sáng lập, nguồn thu từ các vụ tranh chấp.Nhưng các vụ tranh chấp quá ít ỏi, nguồn thu quá hạn hẹp, hạn chế khả năngphát triển công nghệ, mạng lưới, tuyên truyền, đào tạo…

Thực tiễn các tranh chấp kinh doanh - thương mại tại Việt Nam giữa cácdoanh nghiệp Việt Nam thường được giải quyết bằng con đường toà án vìnhững lý do sau:

Trang 18

Một là: các bên không có thoả thuận trọng tài giải quyết trước hoặc trong

quá trình phát sinh tranh chấp Có khi có thoả thuận trọng tài nhưng điềukhoản thoả thuận này vô hiệu Và khi nhắc tới cụm từ “trọng tài thương mại”

cả hai bên đều cảm thấy bỡ ngỡ vì chưa quen và cảm thấy nó lớn quá, nêntheo thông dụng chỉ chọn giải quyết bằng con đường Tòa án như thong dụng

ở nước ta

Hai là: Trước đây không có cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết của

trọng tài thương mại Vì thế, các phán quyết này khi được ban hành không cóhiệu lực thực tế Các bên tranh chấp do đó lại phải mang đến cơ quan toà ángiải quyết Vì vậy, trong một thời gian dài, giải quyết tranh chấp thương mạibằng con đường trọng tài ở Việt Nam là không hiệu quả Nhưng hiện nay, với

sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự thì cơ chế đảm bảo thi hành phán quyếttrọng tài đã có hiệu lực Nhờ đó, số lượng các tranh chấp giải quyết bằng conđường trọng tài ngày càng tăng do nó có những ưu điểm nhất định (thời gian,thủ tục, kinh tế, )

Ba là: Mặc dù đã có cơ chế bảo đảm thi hành nhưng tâm lý các doanh

nghiệp Việt nam khi có tranh chấp vẫn ngại mang ra cơ quan trọng tài sau baonăm hoạt động ỳ trệ Trong quá trình thực tiễn chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệpkhông có văn hoá kinh doanh nên nếu đem tranh chấp ra cơ quan trọng tàigiải quyết thì lại phải tiếp tục nhờ đến toà án can thiệp để bảo đảm cưỡng chếthi hành phán quyết, tốn kém tiền bạc và thời gian

Đó là lý do vì sao các tranh chấp kinh doanh - thương mại giữa cácdoanh nghiệp Việt Nam ít được giải quyết tại cơ quan trọng tài (rất khác lạ sovới các nước tiên tiến trên thế giới)

1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án

Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại hiện nay đòi hỏi phải có nhữnghình thức, thủ tục đa dạng, linh hoạt, trong khuôn khổ pháp luật kinh tế, dựa

Trang 19

trên sự tôn trọng quyền định đoạt của đương sự, bảo đảm thời gian, bảo đảm

bí mật kinh doanh và uy tín của của các bên đương sự, phù hợp với thông lệ

và tập quán quốc tế

Ngày 01/07/1994, Toà kinh tế, một Toà chuyên trách của Toà án nhândân đã được ra đời, có chức năng giải quyết và xét xử các vụ án kinh tế Phápluật nội dung trong thời gian qua ở nước ta đã có nhiều bước tiến đáng kểtheo hướng văn minh, hiện đại Việc xác định một vụ việc tranh chấp có phải

là tranh chấp về kinh tế, thương mại và vụ việc đó có thuộc thẩm quyền giảiquyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Toà án không? Nó có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong việc thụ lý, chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh chấpcũng như việc thi hành quyết định, bản án của Toà án

Thẩm quyền dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc

và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủtục Tố tụng dân sự của tòa án

Ở các nước khác nhau, có thể có sự khác nhau trong việc xác định thẩmquyền giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa án Một số nước trao thẩmquyền xét xử mọi tranh chấp, trong đó có các tranh chấp trong thương mại tòa

án thường (tòa dân sự) Một số nước khác lại trao thẩm quyền xét xử tranhchấp thương mại cho tòa án thương mại – Tòa chuyên trách trong cơ quan tưpháp Các tòa án thương mại chỉ xét xử sơ thẩm, nếu có kháng án sẽ được đưa

ra xét xử tại tòa thượng thẩm dân sự Có nước thành lập hệ thống tòa án độclập gọi tòa án trọng tài để giải quyết tranh chấp

Ở Việt Nam, tranh chấp thương mại chủ yếu thuộc thẩm quyền xét xửcủa Tòa kinh tế - Tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án nhân dân

Thẩm quyền của tòa án về giải quyết các tranh chấp kinh tê, thương mạiđược pháp luật phân định theo cấp của tòa án, theo lãnh thổ, theo sự lựa chọncủa nguyên đơn

Trang 20

1.2.1 Thẩm quyền theo cấp tòa án

Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các cấp của tòa án bảo đảm choviệc giải quyết vụ án được chính xác, đúng pháp luật Ở Việt Nam, hệ thốngtòa án được tổ chức theo đơn vụ hành chính lãnh thổ Trong các tòa án chỉ cótòa án nhân dân cấp huyện và tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử

sơ thẩm các vụ án dân sự Do vậy việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩmgiữa tòa án các cấp được thực hiện đối với Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa

án nhân dân cấp tỉnh

1.2.1.1 Tòa án cấp huyện:

Tuy không thành lập phân tòa kinh tế ở tòa án nhân dân cấp huyện nhưngtheo Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 tòa án nhân dân cấp huyện vẫnđược trao thẩm quyền sơ thẩm một số tranh chấp kinh tế, thương mại quyđịnh tại các điểm a, b, c, d, e, g, h và i khoản 1 điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2004

Tòa án cấp huyện chủ yếu tập trung giải quyết sơ thẩm các tranh chấp vềkinh tế, thương mại cho tòa kinh tế cấp Tỉnh Các tranh chấp về kinh tê,thương mại không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp huyện gồm có:Tranh chấp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 điều 29

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoàihoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài,

cho tòa án nước ngoài; Tranh chấp vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng

đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá

khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; Tranh chấp

về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với

nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa công ty với các thành

viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau lien quan đến việcthành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình

Trang 21

+ Tòa kinh tế tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm tất cả cáctranh chấp về kinh doanh, thương mại, trừ tranh chấp thuộc thẩm quyền củatòa án cấp huyện.

Khi cần thiết, tòa kinh tế tòa án nhân dân cấp tỉnh còn có thể lấy lên đểgiải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa áncấp huyện (khoản 2 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004)

Ngoài thẩm quyền sơ thẩm, tòa kinh tế tòa án nhân dân cấp Tỉnh còn cóthẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩmchưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.+ Ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốcthẩm, tái thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệulực pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị theo trình tự tốtụng

1.2.1.3 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân tối cao thuộc Tòa kinh tế,Tòa phúc thẩm và Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

+ Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, táithẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa ánnhân dân cấp tỉnh bị kháng nghị theo trình tự tố tụng

+ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền phúc thẩm đốivới những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luậtcủa tòa án cấp tỉnh bị kháng nghị, kháng cáo

Trang 22

+ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốcthẩm, tái thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định của các tòa án nhândân tối cao bị kháng nghị theo trình tự tố tụng

1.2.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ:

Việc phân định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ là sự phân địnhthẩm quyền sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các tòa án cùng cấp với nhau TheoĐiều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, tòa án có thẩm quyền sơ thẩm tranhchấp về kinh tế, thương mại là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn

là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức) Tòa ánnơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản

Bộ luật tố tụng dân sự còn cho phép đương sự có quyền thỏa thuận vớinhau bằng văn bản yêu cầu tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn (nếu

bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức)giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại

1.2.3 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Để thuận lợi nhất cho nguyên đơn trong việc giải quyết các vụ tranh chấpcũng như xác định thẩm quyền của tòa án cụ thể, pháp luật dành cho nguyênđơn được quyền chọn tòa án để giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thươngmại trong những trường hợp sau đây:

Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn

có tài sản giải quyết; Nếu tranh chấp phát sinh từ chi nhánh tổ chức thìnguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức cóchi nhánh giải quyết; Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở ViệtNam thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi mình cư trú, làm việc giảiquyết; Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thểyêu cầu tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết; Nếu các bị đơn cư trú,làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa

án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết; Nếu tranh

Trang 23

chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thìnguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi có một trong các bất động sản giảiquyết

1.2.4 Chuyển vụ án dân sự cho tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, nhập và tách vụ án dân sự

- Chuyển vụ án dân sự cho tòa án khác

Về nguyên tắc, vụa án dân sự phải do tòa án có thẩm quyềng giải quyết

vì vậy, tòa án phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho tòa án cấp cóthẩm quyền giải quyết nếu sau khi thụ lý vụ án dân sự mà phát hiện thấykhông thuộc thẩm quyền của mình

- Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền:

Theo pháp luật tố tụng dân sự, các tranh chap về thẩm quyền giữa các tòa

án đuợc giải quyết như sau:

Tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa án nhân dân cấp huyện trongcùng một tỉnh do chánh án tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết

Tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa án nhân dân cấp huyện thuôctỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các tòa án nhândân cấp tỉnh do chánh án tòa án nhân dân tối cao giải quyết

- Nhập và tách vụa án dân sự

Về nguyên tắc, việc tách vụ án chỉ thực hiện trong trường hợp vụ án cónhiều quan hệ pháp luật có thể giải quyết độc lập mà không ảnh hưởng tớiviệc giải quyết các quan hệ pháp luật khác; Việc nhập vụ án chỉ thực hiệntrong trường hợp có nhiều quan hệ pháp luật cần giải quyết và việc nhập cácquan hệ pháp luật trong cùng một vụ án vẫn đảm bảo đúng pháp luật vàkhông ảnh hưởng tới kết quả giải quyết các quan hệ pháp luật đó

1.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án

Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án cũng giốngnhư thủ tục giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động (gọi

Trang 24

chung là thủ tục giải quyết vụ án) áp dụng thủ tục tố tụng theo tinh thần Bộluật Tố tụng dân sự năm 2004 gồm có:

- Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm: gồm: Khởi kiện và thụ

lý vụ án; hòa giải và chuẩn bị xét xử; phiên tòa sơ thẩm

- Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm

- Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao gồm: thủtục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm

Bộ luật TTDS 2004 quy định thủ tục giải quyết các vụ án dân sự baogồm các thủ tục cụ thể sau đây

1.3.1 Thủ tục giải quyết vụ án cấp sơ thẩm

1.3.1.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

a Khởi kiện.

Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân,cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thểkhác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu toà án cóthẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác

- Ý nghĩa của việc khởi kiện:

Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và cácchủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lýlàm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Không có hoạt độn khởi kiệnthì không có quá trình tố tụng dân sự cho các giai đoạn tiếp theo Tòa án chỉthụ lý vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của chủ thể

- Điều kiện khởi kiện:

Điều 161 Bộ luật TTDS không những quy định về quyền khởi kiện mà

còn quy định về điều kiện khởi kiện của vụ án dân sự "cá nhân,cơ quan tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ

án (sau đây gọi chung lầ người khởi kiện) tại toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình".

Trang 25

Chủ thể khỏi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của phápluật được tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự; Vụ án được khởikiện phải đúng thẩm quyền giải quyết của Toà án

Tức là:

Vụ án mà họ khởi kiện phải thuộc phạm vi giải quyết của Toà án quyđịnh tại các Điều 25, 27, 29, 31 của BLTTDS 2004; Vụ án khởi kiện phảiđúng với cấp toà án có thẩm quyền quy định tai Điều 33, 34 của BLTTDS2004; Vụ án được khởi kiện phải đúng thẩm quyền của toà án theo lãnh thổquy định tại Điều 35 BLTTDS 2004; Sự việc chưa được giải quyết bằng mộtbản án hoặc quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện việckhởi kiện vụ án phải đựơc tiến hành trong thời hiệu khởi kiện

- Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự

Để đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự của toà án được nhanhchóng và đúng đắn, BLTTDS quy định phạm vi khởi kiện vụ án dân sự, theođiều 163 BLTTDS quy định:

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cánhân,cơ quan, tổ chức khác về một hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quanđến nhau trong cùng một vụ án; Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùngkhởi kiện đối với một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức

- Hình thức khởi kiện và việc gửi đơn khởi kiện

Vụ án dân sự phát sinh chủ yếu là do cá nhân, pháp nhân thực hiện quyềnkhởi kiện của mình bằng việc nộp đơn khởi kiện tại toà án Theo điều 164 Bộluật TTDS 2004, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.Đơn khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết vụ án phải rõ ràng, đầy đủ Nội dungđơn khởi kiện phải trình bày được những vấn đề cơ bản theo quy định tạikhoản 2 Điều 164 Bộ luật TTDS 2004

Trang 26

Theo quy đinh tại diều 167 Bộ luật TTDS 2004 toà án phải nhận đơnkhởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại toà án hoặc gửi qua bưu điện và phảighi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiệntoà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết.,Chuyển đơn khởi kiện cho toà án có thẩm quyền, hoặc trả lại đơn khởi kiệncho người khởi kiện

1.3.1.2 Hoà giải, tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

a Hòa giải

Hoà giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do toà án tiến hành nhằm giúp

đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết các vụ án dân sự

Cơ sở của hoà giải vụ án dân sự là quyền tự định đoạt của đương sự Đểgiải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, toà

án không chỉ xét xử mà còn hòa giải vụ án dân sự Điều 10 BLTTDS 2004quy định toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi

để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quiđịnh của bộ luật này Hoạt động hoà giải được tiến hành trước khi xét xủ vụ

án sơ thẩm vụ án dân sự Để giải quyết vụ án toà án tiến hành giải thích phápluật nhằm giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thoả thuận với nhau vềviệc giải quyết các vấn đề của vụ án dân sự có tranh chấp

Trang 27

- Nguyên tắc tiến hành hoà giải

Theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật TTDS, việc hoà giải vụ án dân sự phảiđược tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

Tôn trọng sự tự nguyện, thoả thuận của đương sự, tránh lối hoà giải mộtcách gò bó, cưỡng ép đối với một bên hoặc cả hai bên đương sự Cấm dùng

vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực để bắt buộc các đương sự phải thoả thuận tráivới ý chí của họ

Việc hoà giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; nộidung sự thỏa thuận của các đưong sự không được trái pháp luật và đạo đức xãhội

Ngoài các nguyên tắc hoà giải trên, để hoà giải được vụ án, việc hoà giảicòn phải tích cực, vừa kiên trì, để có thể giải quyết được nhanh chóng không

để việc hoà giải kéo dài vô ích, cho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giảiquyết vụ án và đi sâu giải quyết các vưóng mắc trong tâm tư tình cảm của họ

- Phạm vi và nội dung hoà giải vụ án dân sự

Tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật TTDS 2004 quy định trách nhiệm hoà giảicủa toà án, hoà giải tiến hành đối với việc giải quyết hầu hết các vụ án dân sự,trừ những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp luật quy định khôngđược hoà giải Theo Điều181 BLTTDS 2004, toà án không hoà giải đối vớinhững yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, những

vụ án dân sự phát sính từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

b Tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật qui định đểtạm ngừng, hoặc ngừng giải quyết vụ án dân sự thì tòa án se quyết định tạmngừng (tạm đình chỉ) hoặc ngừng (đình chỉ) giải quyết vụ án dân sự

- Tạm đình chỉ.

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc toà án quyết định tạmngừng giải quyết vụ án dân sự do pháp luật quy định

Trang 28

Đặc điểm của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là cơ quan tiếnhành tố tụng chỉ tạm thời cho ngừng việc giải quyết vụ án dân sự chứ khôngphải cho ngừng hẳn Tính chất gián đoạn tạm thời này sẽ được khắc phục vàđược khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa

Theo điều 189 BLTTDS 2004, các căn cứ tạm đình chỉ việc vụ án dân sựgồm có:

Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia tách,giải thể mà chưa có các nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tốtụng của các nhân, cơ quan, tổ chức đó; Một bên đương sự là cá nhân mấtnăng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế; Cầnđợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan, hoặc sự việc hoặc pháp luậtquy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyếtđược vụ án; Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định

Theo qui định tại Điều 194 BLTTDS 2004, khi phát hiện thấy có mộttrong số các căn cứ nêu trên thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ ándân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ Quyết định tạm đình chỉphải được lập thành văn bản trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày raquyết định tạm đình chỉ toà án phải gửi quyết định đó cho đương sự và việnkiểm sát cùng cấp

Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, pháp luật không quy định

cụ thể Tuy nhiên, sau khi có quyết định tạm đình chỉ, nếu thấy lí do hay căn

cứ tạm đình chỉ không còn thì toà án lại tiếp tục giải quyết vụ án

- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc toà án quyết định ngừng việcgiải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định

Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được qui định cụ thể tại:Điều 192 BLTTDS các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự gồm có:

Trang 29

Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họkhông được thừa kế; Cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản màkhông có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của

cơ quan tổ chức đó; Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được toà án chấpnhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; Cơ quan, tổ chức rútvăn bản trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầukhông tiếp tục giải quyết vụ án; Các đương sự đa tự thoả thuận và không yêucầu toà án tiếp tục giải quyết vụ án; Nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ 2

mà vẫn vắng mặt; Đã có quyết định của toà án mở thủ tục phá sản đối vớidoanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết

vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xá đó; Cáctrường hợp khác mà pháp luật có quy định

Theo quy định tại điều 194 BLTTDS 2004 khi phát hiện có một trongcác căn cứ nêu trên thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự cóthẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Quyết định đìnhchỉ phải được lập thành văn bản trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày raquyết định đình chỉ, toà án phải gửi quyết định đó cho đương sự và viện kiểmsát cùng cấp Đối với các trường hợp toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ

án theo quy định tại điều 168 BLTTDS 2004 thì toà án trả lại đơn khởi kiệncùng tài liêu, cùng chứng cứ kèm theo cho đương sự

Khi toà án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sựkhông có quyền khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết lại vụ án đó, nếu việckhởi kiện vụ án sau không có gì khác so với vụ án trước Khi khởi kiện lại vụ

án đã bị toà án đình chỉ, người khởi kiện phải tuân thủ các quy định về khởikiện và phải nộp tiền tạm ứng án phí như mới khởi kiện lần đầu

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử:

Khi việc hoà giải vụ án không đạt được kết quả và không có căn cứ đểtạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án thì toà án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét

Trang 30

xử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết địnhnày Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung theo quy định tạiKhoản 1, Điều 195 BLTTDS 2004 Quyết định này phải được gửi cho cácđương sự, viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định

1.3.1.3 Phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án lần đầu của toà án.Tất cả các vụ án nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải trải qua việc xét

xử tại phiên toà sơ thẩm Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trong một thờiđiểm, thời gian nhất định Tại đây, tập trung các hoạt động tố tụng của nhữngngười tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, toà án phải giảiquyết tất cả những vấn đề của vụ án

Theo điều 15 BLTTDS 2004, việc xét xử của vụ án phải được tiến hànhcông khai trừ những trường hợp phiên toà đặc biệt yêu cầu giữ bí mật Vì vây,mọi hoạt động tố tụng tại phiên toà phải được công khai hóa mọi người đều

có quyền tham dự phiên toà Toà án chỉ được căn cứ vào những tài liệu, chứng

cứ đã được thẩm tra, xem xét, đánh giá tại phiên toà để giải quyết vụ án chứkhông được căn cứ vào những tài liệu, tin tức chưa được xem xét taị phiêntoà Hội đồng xét xử quyết định giải quyết mọi vấn đề thuộc về nội dung vụ

án cũng như thuộc về thủ tục tố tụng toà bằng việc biểu quyết theo đa số

- Ý nghĩa của phiên toà sơ thẩm:

Quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án, xác định thẩm quyền vànghĩa vụ của đương sự, làm cơ sở cho việc thi hành án; Là nơi toà án thựchiện việc giáo dục pháp luật từ đó nâng cao được ý thức pháp luật; Thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của cơ quan xét xử, thực hiện đuờng lối chính sách củaĐảng và Nhà nước.quyết vụ án dân sự thực hiện theo quy định tại điều 210BLTTDS 2004

- Nội quy phiên tòa.

Nội quy phiên tòa là các quy định về quy tắc xử sự của các chủ thể ở tạiphiên tòa Những quy định cụ thể của nội quy phiên tòa được quy định tại

Trang 31

điều 209 BLTTDS 2004 Trước khi khai mạc phiên tòa, theo điều 212BLTTDS 2004, thư ký tòa án có nhiệm vụ phổ biến nội quy phiên tòa chonhững người tham gia tố tụng và tham dự phiên tòa tòa biết để họ thực hiện

- Bản án sơ thẩm.

Bản án sơ thẩm dân sự là văn kiện được tuyên nhân danh Nhà nướcCHXHCN Việt Nam, khi có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhànước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọicông dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải chấp hành nghiêmchỉnh (điều 136 hiến pháp 1992, điều 12 LTCTAND và điều 19 BLTTDS 2004).Bản án kết thúc toàn bộ quá trình tố tụng xét xử, xác định những vấn đềchủ yếu của vụ án cần phải giải quyết Bản án giúp cho mọi người nhận thức

rõ đường lối và pháp luật được vận dụng vào thực tiễn, là công cụ bảo vệ chế

độ, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân Bản án

có tác dụng giáo dục đương sự, giáo dục quần chúng tin tưởng vào hoạt đọngxét xử, nâng cao ý thức pháp luật, vì vậy bản án được hội đồng xét xử thảoluận và thông qua tại phòng nghị án

- Biên bản phiên tòa

Biên bản phiên tòa sơ thẩm phản ánh mọi diễn biến của phiên tòa, là mộttrrong những căn cứ quan trọng để viện kiểm sát, tòa án có thẩm quyền kiểmtra, kiểm sát lại việc xét xử của tòa án nên phải được ghi vào những giấy tờriêng lưu vòa trong hồ sơ vụ án

- Nghị án và tuyên án.

Nghị án là việc hội đồng xét xử, quyết định giải quyết vụ án Việc nghị

án được thực hiện hiện theo tinh thần đồi mới hoạt động tư pháp đã đề ratrong nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính Trị

trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét

xử vào phòng nghị án để thảo luận quyết định giải quyết vấn đề của vụ án.Điều 236 BLTTDS 2004 quy định các thức tiến hành nghị án

Trang 32

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử

để tuyên án Điều 239 BLTTDS 2004 quy định về thủ tục tuyên án

1.3.2 Thủ tục giải quyết vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại tại tòa

án cấp phúc thẩm

Sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên thì bản án, quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực ngay mà còn một thời hạn để các đương sự có thểkháng cáo hoặc kháng nghị Nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản

án, quyết định sơ thẩm thì tòa án cấp trên trực tiếp sẽ tiến hành xét xử lại vụ

án Thủ tục xét xử lại vụ án này được gọi là phúc thẩm dân sự

- Ý nghĩa của phúc thẩm dân sự:

Việc phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có

ý nghĩa quan trọng trong việc khắc phục những sai lầm có thể có trong nhữngbản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án, bảo đảm cho quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các lợi ích công cộng được thựchiện trong thực tế, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN

Thông qua phúc thẩm, tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xửcủa tòa án cấp dưới, qua đó có thể rút kinh nghiệm, hướng dẫn công tác xét

xử, bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong hoạt động xét xử tại cáctòa án

1.3.3 Thủ tục xét lại bản án, quyết định giả quyết vụ án dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm dân sự)

1.3.3.1 Thủ tục giám đốc thẩm dân sự

Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luậttrong việc giải quyết vụ án

Thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt của Tố tụng dân sự được tiếnhành trên cơ sở của người có thẩm quyền phát hiện có sai lầm, vi phạm trong

Trang 33

việc giải quyết vụ án, Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luậttheo thủ tục giám đốc thẩm do tòa án có thẩm quyền thực hiện tính chất củagiám đốc thẩm được qui định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự

Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giámđốc thẩm có ý nghĩa giúp cho tòa án cấp trên thấy được những sai lầm, viphạm của Tòa án cấp dưới Trên cơ sở đó có hướng khắc phục, sữa chữanhững sai lầm, vi phạm của tòa ná cáo dưới trong việc giải quyết vụ án, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, bảo đảm tính pháp chếXHCN trong công tác xét xử của Tòa án

Tái thẩm dân sự có ý nghĩa quan trọng đối với cả việc giải quyết vụ ándân sự của tòa án và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Việcxét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm giúp cho tòa ánkhắc phục được những thiếu sót trong những bản án

Tiểu kết chương 1: Để làm rõ cơ sở lý luận về tranh chấp kinh tế, thương

mại tại tòa án phần này đã dựa trên khái niệm về tranh chấp kinh tế, tranhchấp thương mại, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằngcon đường tòa án Làm rõ cơ cấu, nguyên tắc hoạt động của tòa án, thẩmquyền của tòa án và các thủ tục giải quyết án kinh tế, thương mại ở Việt Namtheo BLTTDS 2004

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI

TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại tại tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An

2.1.1 Khái quát chung về mức độ, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp trên đại bàn Tỉnh Nghệ An

Nghệ An là một Tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội,điều đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở Nghệ An phát triển mạnh trongnhững năm gần đây, được biểu hiện bằng việc có nhiều doanh nghiệp, công tymới được thành lập trong thời gian ngắn:

Nếu tính trong 8 năm thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty

từ năm 1992 - 1999 chỉ đăng ký kinh doanh được: 328 DN thì chỉ trong vòng

5 năm thực hiện Luật doanh nghiệp con số đó là:

Nếu tính từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2004 toàn Tỉnh số lượng DNđược thành lập và đăng ký là: 2068 DN Trong đó năm 2000 thành lập: 281

DN, năm 2001: 237 DN, năm 2002: 371 DN, năm 2003: 445 DN, riêng năm2004: 734 DN Số lượng doanh nghiệp thành lập trong 5 năm tăng gấp 6,3 lần

so với thành lập trong 8 năm trước đây và nếu tính số lượng doanh nghiệpđăng ký kinh doanh thành lập bình quân hàng năm trong thời kỳ 1992 - 1999(cả nước 3,75 lần), đưa tổng số doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Tỉnh tađến hết tháng 11 năm 2004 là: 2396 Doanh nghiệp và đến tháng 11/2007 toàntỉnh Nghệ An đã có trên 4500 Doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanhnghiệp như vậy riêng 2 năm 2006 và năm 2007 mỗi năm B/Q trên 1000 DN rađời gồm các: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty

cổ phần

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. TS. Lê Thu Hà (2006), Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Tác giả: TS. Lê Thu Hà
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
16. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật thương mại, tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mạ
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
18. Bùi Lê Tuấn (1997), Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta. Thực trạng và giải pháp, Khoá luận tốt nghiệp đại học, Trường đại học ngoại thương Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta. Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Bùi Lê Tuấn
Năm: 1997
1. Bộ luật dân sự Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia Khác
2. Bộ luật tố tụng dân sự Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2004, Nxb Chính trị quốc gia Khác
4. Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Khác
5. Luật doanh nghiệp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2005 Khác
6. Luật thương mại Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1997 Khác
7. Luật thương mại Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2005 Khác
8. Luật tổ chức Toà án nhân dân tối cao năm 2002 Khác
9. Nghị quyết 08/NQ - TW của Bộ chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới&#34 Khác
10. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 Khác
11. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An (2008), Báo cáo tổng kết ngành toà án năm 2008 (BC - TA) Khác
12. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An (2009), Báo cáo tổng kết ngành toà án năm 2009 (BC -TA) Khác
13. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An (1997 - 2007), Báo cáo tổng kết Toà kinh tế từ năm 1997 - 2007 Khác
14. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An (2009), Bản án số 13/2009/KDTM-ST ngày 31/12/2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ........................................................................................................................ - Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại toà án nhân dân tỉnh nghệ an thực trạng và giải pháp
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w