1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Nhập môn khoa học tự nhiên: Chương trình bồi dưỡng giáo viên môn Khoa học tự nhiên

48 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Nhập môn khoa học tự nhiên: Chương trình bồi dưỡng giáo viên môn Khoa học tự nhiên với các nội dung khái quát về môn Khoa học Tự nhiên; các nguyên lí chung và chương trình của môn KHTN-các nguyên lý chung của KHTN trong chương trình môn KHTN...

Trang 1

TP HỒ CHÍ MINH 6 – 2020

Trang 2

1.1.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên

31.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ khoa học tự nhiên

3Lĩnh vực nghiên cứu của Vật lý học

4Lĩnh vực nghiên cứu của Hóa học 6 Lĩnh vực nghiên cứu của Sinh học 7

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên 8

Chương 2 Các nguyên lí chung và chương trình của môn KHTN- Các nguyên lý chung của KHTN trong chương trình môn KHTN 10

2.1 Các nguyên lí chung của KHTN 10

2.1.1 Tính cấu trúc

102.1.2 Sự đa dạng

10

2.1.3 Sự tương tác 10

2.1.4 Tính hệ thống 11

2.1.5 Năng lượng - Sự vận động và biến đổi 11

2.2 Các chủ đề môn khoa học tự nhiên 14

2.3 Giới thiệu chương trình môn KHTN 14

Trang 3

2.3.1 Đặc điểm môn học 14

2.3.2 Quan điểm 15

2.3.3 Nội dung chương trình 17

2.3.4 Mục tiêu chương trình 28

2.3.5 Yêu cầu cần đạt 29

2.3.6 Phương pháp – Hình thức – Kĩ thuật tổ chức dạy học 32

2.3.7 Đánh giá kết quả giáo dục 33

2.4 Sự phát triển nội dung môn KHTN 35

2.4.1 Chương trình môn KHTN lớp 4-5 35

2.4.2 Nội dung giáo dục khái quát 37

Tài liệu tham khảo 39

Trang 5

Chương 1 Khái quát về môn Khoa học Tự nhiên

I Mục tiêu

Học xong chương này học viên:

1 Xác định được, vai trò, đặc điểm, các lĩnh vực khoa học tự nhiên (KHTN);

2 Trình bày được mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên;

3 Phân tích được mối liên hệ giữa khoa học tự nhiên với chương trình môn Khoa học Tự nhiên ở trường trung học phổ thông

II Nội dung

1.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu KHTN

1.1.1 Đối tượng

Khoa học: (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng

và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được

về vũ trụ Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực

đã được hệ thống hóa

Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự

nhiên (tiếng Anh: nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất "Tự

nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong

vũ trụ Nghiên cứu về tự nhiên là một mảnh ghép lớn trong thế giới khoa học Dù cho con người hiển nhiên là một phần của tự nhiên, nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt rạch ròi khỏi những hiện tượng tự nhiên

Từ nature có nguồn gốc từ natura trong tiếng Latin, có nghĩa là "phẩm chất thuần khiết, thiên hướng bẩm sinh", và trong thời cổ đại nó có nghĩa đen là "sự sinh nở" Natura

Trang 6

quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật và những đặc trưng khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép lại Khái niệm tự nhiên theo nghĩa tổng thể, hay

vũ trụ vật chất, là một trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách thông hiểu trọng tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó Cách sử dụng này dần được chấp nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế kỷ qua

Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, "tự nhiên" cũng nhắc đến địa chất và thế giới hoang dã Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác – cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ

mà chúng cấu thành lên Khi hiểu theo nghĩa là "môi trường tự nhiên" hoặc vùng hoang dã – động vật hoang dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị tác động của con người thay đổi hoặc phản kháng trước những tác động của con người Ví dụ, các sản phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi là thuộc về tự nhiên, trừ khi được định nghĩa thành những lớp lang phù hợp, ví dụ, "bản chất con người" (nhân tính) hay "toàn thể tự nhiên" Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với những thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người Phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ "tự nhiên" cũng có thể khác hẳn với từ "không tự nhiên" hay "siêu nhiên"

Khoa học tự nhiên, hay Tự nhiên học (tiếng Anh:Natural science) là một nhánh

của khoa học, có mục đích nhận thức, mô tả, giải thích và tiên đoán về các hiện tượng và quy luật tự nhiên, dựa trên những dấu hiệu được kiểm chứng chắcchắn Trong khoa học tự nhiên, giả thuyết được sử dụng rộng rãi để xây dựng những lý thuyết khoa học thuyết khoa học

1.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Khoa học tự nhiên tìm hiểu về thế giới quanh chúng ta và vũ trụ 5 phân ngành chính là: Hóa học, Thiên văn học, Khoa họcTrái Đất, Vật lý học, Sinh học

Trang 7

Các ngành Toán học, Thống kê và Tin học cung cấp nhiều công cụ và khung làm việc được sử dụng trong các ngành khoa học tự nhiên Ở Việt Nam, ba ngành này được xếp vào loại khoa học tự nhiên Tuy nhiên, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nói tiếng Anh, không có quan điểm như vậy

• Thiên văn học, nghiên cứu về các thiên thể và hiện tượng bên ngoài bầu khí quyển Trái Đất, ví dụ sao, thiên hà, v.v

• Sinh học, nghiên cứu về sự sống

• Hóa học, nghiên cứu cấu tạo, các phản ứng hóa học, cấu trúc, và các tính chất của vật chất và các biến đổi lý hóa mà chúng trải qua

• Khoa học Trái Đất, nghiên cứu về Trái Đất, các chuyên ngành gồm có:

• Vật lý học, nghiên cứu các thành phần cơ bản của vũ trụ, các lực và tương tác của chúng, và các kết quả của các lực này

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên

1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ khoa học tự nhiên

Khoa học tự nhiên với nhiệm vụ nghiên cứu lý giải các sự vật hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, từ đó xây dựng các luận cứ, giải pháp làm cơ sở xây dựng những công trình ứng dụng cũng như sử dụng những lợi thế tự nhiên đem lại, góp phần cải tạo và nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như bảo vệ con người trước những tác động tiêu cực của tự nhiên gây ra cho con người cũng như môi trường sống của con người

Vật lý học (tiếng Anh: Physics, từ tiếng Hy Lạp cổ: φύσις có nghĩa là kiến thức về

tự nhiên) là một môn khoa học tự nhiên tập trung vào sự nghiên cứu vật chất và chuyển

động của nó trong không gian và thời gian, cùng với những khái niệm liên quan như năng lượng và lực Vật lý học là một trong những bộ môn khoa học lâu đời nhất, với mục đích tìm hiểu sự vận động của vũ trụ Vật lý học là một trong những ngành hàn lâm sớm nhất,

và có lẽ là sớm nhất khi tính chung với thiên văn học Trong hai thiên niên kỷ vừa qua, vật

lý là một phần của triết học tự nhiên cùng với hóa học, vài nhánh cụ thể của toán học và sinh học, nhưng trong cuộc Cách mạng khoa học bắt đầu từ thế kỷ XVII, các môn khoa học tự nhiên nổi lên như các ngành nghiên cứu riêng độc lập với nhau Vật lý học giao

Trang 8

nhau với nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên môn ngành khác nhau, như vật lý sinh học và hóa học lượng tử, giới hạn của vật lý cũng không rõ ràng Các phát hiện mới trong vật lý thường giải thích những cơ chế cơ bản của các môn khoa học khác đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới trong các lĩnh vực như toán học hoặc triết học

Vật lý học cũng có những đóng góp quan trọng qua sự tiến bộ các công nghệ mới đạt được

do những phát kiến lý thuyết trong vật lý Ví dụ, sự tiến bộ trong hiểu biết về điện từ học hoặc vật lý hạt nhân đã trực tiếp dẫn đến sự phát minh và phát triển những sản phẩm mới, thay đổi đáng kể bộ mặt xã hội ngày nay, như ti vi, máy vi tính, laser, internet, các thiết bị gia dụng, hay là vũ khí hạt nhân; những tiến bộ trong nhiệt động lực học dẫn tới sự phát triển cách mạng công nghiệp; và sự phát triển của ngành cơ học thúc đẩy sự phát triển phép tính vi tích phân

Lĩnh vực nghiên cứu của Vật lý học

Vật lý vật chất ngưng tụ

Vật lý vật chất ngưng tụ là một ngành của vật lý học nghiên cứu các tính chất vật lý

vĩ mô của vật chất Đặc biệt, nó xét đến các pha "ngưng tụ" xuất hiện bất cứ khi nào số hạt trong hệ là rất lớn và tương tác giữa chúng là mạnh

Những ví dụ quen thuộc nhất của pha ngưng tụ đó là chất rắn và chất lỏng, chúng xuất hiện do lực điện từ liên kết giữa các nguyên tử Những pha ngưng tụ kỳ lạ bao gồm trạng thái siêu chảy và ngưng tụ Bose–Einstein xuất hiện trong những hệ nguyên tử cụ thể

ở nhiệt độ rất thấp gần 0K, pha siêu dẫn thể hiện bởi các electron dẫn trong một số vật liệu,

và vật liệu sắt từ và phản sắt từ do tính chất spin trong mạng tinh thể nguyên tử

Vật lý vật chất ngưng tụ là một trong những ngành lớn nhất của vật lý học hiện nay

Về mặt lịch sử, ngành này bắt đầu trưởng thành từ ngành vật lý trạng thái rắn, và hiện nay

được các nhà khoa học coi là chủ đề chính của vật lý vật chất ngưng tụ Thuật ngữ vật lý vật chất ngưng tụ do Philip Anderson nêu ra khi ông đổi tên nhóm nghiên cứu của ông — trước đó là lý thuyết trạng thái rắn — vào năm 1967 Năm 1978, Nhóm Vật lý Trạng thái

Rắn của Hội Vật lý Mỹ đổi tên thành Nhóm Vật lý Vật chất Ngưng tụ Ngành này bao quát rất nhiều lĩnh vực bao gồm hóa học, khoa học vật liệu, công nghệ nano và kỹ thuật

Vật lý nguyên tử, phân tử, và quang học

Trang 9

Vật lý nguyên tử, phân tử, và quang học (AMO) nghiên cứu tương tácgiữa vậtchất–vật chất

và ánh sáng–vật chất trên cấp độ nguyên tử và phân tử Cả ba ngành này có sự trao đổi qua lại lẫn nhau, chúng có thể sử dụng phương pháp nghiên cứu tương tự nhau, giống nhau về mức năng lượng của hệ nghiên cứu Cả ba ngành đều có cách tiếp cận bao gồm của vật lý

cổ điển, bán cổ điển và lượng tử; các nhà vật lý có thể xét ba lĩnh vực này từ cấp độ vi mô (ngược với quan điểm vĩ mô)

Vật lý nguyên tử nghiên cứu các lớp vỏ electron trong nguyên tử Những nghiên cứuhiện tại tập trung vào điều khiển lượng tử, làm lạnh và bẫy nguyên tử và ion, động lực học va chạm giữa những hệ nhiệt độ thấp và hiệu ứng tương quan eletron trên cấu trúc và động lực của hệ Vật lý nguyên tử cũng bị ảnh hưởng bởi kết quả nghiên cứu của vật lýhạt nhân (ví dụ như, cấu trúc siêu tinh tế), nhưng các hiệu ứng liên hạt nhân như phân hạch và tổng hợp hạt nhân được xem là thuộcvề lĩnh vực vật lý năng lượng cao

Vật lý phân tử tập trung vào các cấu trúc đa nguyên tử và những tương tác nội và ngoại phân tử với vật chất và ánh sáng Vậtlýquanghọc vàngành con quang học lượng tử khác với quang học cổ điển đó là nó không nghiên cứu cách điều khiển trường ánh sáng bằng phương pháp vĩ mô, thay vào đó là nghiên cứu các tính chất cơ bản của trường quang học

và tương tác của chúng với vật chất trong thang vi mô

Vật lý năng lượng cao (vật lý hạt) và vật lý hạt nhân

Vật lý hạt nghiên cứu các hạt cơ bản cấu tạo nên vật chất và năng lượng, cũng như tương tác giữa chúng Thêm vào đó, các nhà vật lý hạt cùng phối hợp với các kỹ sư nhằm thiết kế và lắp đặt các máy gia tốc, máy dò hạt, và các chương trình phần mềm chạy trên siêu máy tính nhằm phân tích dữ liệu thu được Ngành này còn được gọi là "vật lý năng lượng cao" bởi vì nhiều hạt cơ bản không xuất hiện hay tồn tại "lâu" trong tự nhiên, và để nghiên cứu chúng các nhà vật lý phải bắn những hạt có năng lượng cao va chạm với nhau

để sinh ra những hạt này

Hiện nay, các tương tác của những hạt cơ bản và trường được miêu tả khá hoàn chỉnh trong Mô hình chuẩn Trong mô hình này có 12 hạt cơ bản cấu thành lên thế giới vật chất (quark và lepton), chúng tương tác với nhau thông qua các hạt truyền tương tác của

ba loại tương tác mạnh, yếu, và điện từ Những tính chất của các tương này được miêu tả

Trang 10

bởi các hạt trao đổi boson gauge (tương ứng các gluon, boson W và Z, và photon) Mô hình chuẩn cũng tiên đoán tồn tại hạt boson Higgs, hạt có vai trò giải thích tại sao các hạt cơ bản lại có khối lượng thông qua "cơ chế phá vỡ đối xứng tự phát" Ngày 4 tháng 7 năm

2012, cơ quan CERN, phòng thí nghiệm châu Âu về vật lý hạt, thông báo phát hiện một hạt có những tính chất giống với boson Higgs, và dường như đây chính là hạt mà bấy lâu nay các nhà thực nghiệm vật lý hạt săn lùng

Vật lý hạt nhân là ngành nghiên cứu thành phần cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử như proton, neutron và tương tác giữa các hạt nhân Ứng dụng được biết đến nhiều nhất của ngành này đó là năng lượng hạt nhân sinh ra trong các lò phản ứng hạt nhân và công nghệ

vũ khí nguyên tử, nhưng nó cũng xuất hiện trong những ngành khác như xạ trị ung thư trong y học hạt nhân, chụp cộng hưởng từ, cấy ghép ion trong khoa học vật liệu, phương pháp xác định niên đại bằng các nguyên tố phóng xạ trong địa chất và khảo cổ học, nghiên cứu tạo ra các nguyên tố siêu urani và đảo bền những nguyên tố này

Vật lý thiên văn

Thiên văn học và thiên văn vật lý là một ngành ứng dụng các lý thuyết và phương pháp của vật lý học để nghiên cứu cấu trúcsao, tiến hóa sao, nguồn gốcvà sự hình thành HệMặtTrời, sự hình thành các hành tinh, thiên hà, cho đế nnhững cấu trúc lớn trong vũ trụ

Nó cũng nghiên cứu lịch sử khởi đầu và kết thúc của vũ trụ Thiên vănvậtlý là một ngành rộng, các nhà vật lý thiên văn phải áp dụng nhiều nhánh của vật lýhọc bao gồm cơ học thiên thể, điện từ học, cơ họcthống kê, nhiệt động lực học, cơ họclượng tử, thuyết tương đối, vật lý hạt

Hóahọc, một nhánh của khoa học tự nhiên, là ngành nghiên cứu về thành phần, cấu

trúc, tínhchất, và sự thay đổi của vật chất Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên

tử, phân tử, và các phản ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó

Lĩnh vực nghiên cứu của Hóa học

Hóa phân tích là sự phân tích các mẫu vật để thu được sự hiểu biết về thành phần và

cấu trúc hóa học của chúng Hóa phân tích kết hợp các phương pháp thực nghiệm đã được chuẩn hóa trong hóa học Những phương pháp này có thể được sử dụng trong tất

cả các môn học của ngành hóa học, trừ lý thuyết thuần túy

Trang 11

Hoá sinh học là nghiên cứu về các hóa chất, phản ứng hóa học và tương tác hóa học

diễn ra trong các sinh vật sống Hoá sinh học và hóa học hữu cơ có liên quan chặt chẽ, như trong hóa dược học hoặc hóa học thần kinh Hóa sinh cũng liên quan đến sinh học phân tử và di truyền

Hoá học vô cơ là nghiên cứu các tính chất và phản ứng của các hợp chất vô cơ Sự

phân biệt giữa các nguyên tắc hữu cơ và vô cơ không phải là tuyệt đối và có sự trùng lặp nhiều, đặc biệt nhất là trong phân ngành phụ: hóa học kim loại hữu cơ

Hóa học vật liệu là chuẩn bị, mô tả và tìm hiểu về các chất với chức năng hữu ích

Lĩnh vực này là một phạm vi nghiên cứu mới trong các chương trình sau đại học, và nó kết hợp các yếu tố từ tất cả các lĩnh vực cổ điển của hóa học với trọng tâm vào các vấn

đề cơ bản độc đáo cho vật liệu Các hệ thống nghiên cứu chính bao gồm hóa học các pha cô đặc (rắn, chất lỏng, polyme) và các pha chuyển giao giữa các pha khác nhau

Hóa học thần kinh là nghiên cứu của chất hóa học thần kinh; bao gồm chất dẫn truyền,

peptide, protein, lipid, đường và acid nucleic; tương tác của chúng và vai trò của chúng trong việc hình thành, duy trì và sửa đổi hệ thần kinh

Hóa học hạt nhân là nghiên cứu về cách các hạt hạ nguyên tử kết hợp với nhau và tạo

nên hạt nhân Chuyển đổi hạt nhân (Nuclear transmutation) là một phần quan trọng

trong hóa học hạt nhân, và bảng các hạt nhân là một kết quả và công cụ quan trọng cho lĩnh vực này

Hoá học hữu cơ là nghiên cứu các cấu trúc, tính chất, thành phần, cơ chế và phản ứng

của các hợp chất hữu cơ Một hợp chất hữu cơ được định nghĩa là bất kỳ hợp chất nào dựa trên bộ xương cacbon

Hóa học vật lý là nghiên cứu cơ sở vật chất và cơ bản của các hệ thống và quá trình

hóa học Đặc biệt, năng lượng và động lực của các hệ thống và quá trình như vậy là mối quan tâm của các nhà hóa lý Các lĩnh vực nghiên cứu quan trọng bao gồm nhiệt động học hóa học, động học hóa học, hóa điện, cơ học thống kê, quang phổ, và gần đây

là hóa học vũ trụ Hóa học vật lý có sự chồng chéo lớn với vật lý phân tử Hóa học vật

lý thường liên quan đến việc sử dụng vô số các tính toán trong phương trình dẫn xuất

Nó thường được kết hợp với hóa học lượng tử và hóa học lý thuyết Hóa lý học là một

Trang 12

phân ngành riêng biệt với vật lý hóa học, nhưng một lần nữa, có sự chồng chéo rất mạnh

Hóa học lý thuyết là nghiên cứu hóa học thông qua lập luận lý thuyết cơ bản (thường

là trong toán học hoặc vật lý) Đặc biệt, việc áp dụng cơ học lượng tử vào hóa học được gọi là hóa học lượng tử Kể từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai, sự phát triển của máy tính

đã cho phép phát triển có hệ thống hóa học tính toán, đó là bộ môn phát triển và áp dụng các chương trình máy tính để giải quyết các vấn đề hóa học Hoá học lý thuyết có

sự chồng chéo lớn (cả ý thuyết và thực nghiệm) với vật lý vật chất ngưng tụ và vật lý phân tử

Sinh học là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng Anh: biology bắt nguồn từ Hy

Lạp với bios là sự sống và logos là môn học) Nó là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập

trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật (ví dụ: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống), cách thức các cá thể và loài tồn tại (ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bổ của chúng)

Lĩnh vực nghiên cứu của Sinh học

Sinh học bao hàm nhiều ngành học khác nhau được xây dựng dựa trên những nguyên lý riêng Có 4 nguyên lý tạo thành nền tảng cho sinh học hiện đại: lý thuyết tế bào,

tiến hóa, di truyền và cân bằng nội môi (homeostasis ) Các môn học này có mối

quan hệ qua lại với nhau, giúp ta hiểu về sự sống với các mức độ, phạm vi khác nhau

Ngày nay, sinh học trở thành một môn học chuẩn và bắt buộc tại các trường học và Đại học trên khắp thế giới Rất nhiều bài báo được công bố hằng năm ở trên khắp các tạp chí chuyên ngành về y và sinh

Việc phân loại các ngành con của sinh học rất đa dạng Ban đầu, chúng được phân loại theo chủng loại các cá thể làm đối tượng nghiên cứu Ví dụ: thực vật học, nghiên cứu

về cây; động vật học, nghiên cứu về động vật; và vi sinh học, nghiên cứu về các vi sinh vật Tiếp đến, chúng lại được chia nhỏ dựa trên quy mô của các cá thể và phương pháp nghiên cứu chúng: hóa sinh nghiên cứu về hóa cơ bản của sự sống; sinh học phân tử nghiên cứu các tương tác phức tạp giữa các hệ thống của các phân tử sinh học; sinh học tế bào tìm hiểu các cấu trúc cơ bản tạo thành mọi sự sống Như vậy, sự sống ở mức độ nguyên tử và

Trang 13

phân tử được nghiên cứu thông qua sinh học phân tử, hóa sinh và di truyền phân tử Ở mức

độ tế bào, nó được hiểu biết thông qua sinh học tế bào và mức độ đa bào thì thông qua sinh

lý học, giải phẫu học và mô học Sinh học phát triển nghiên cứu sự sống ở các giai đoạn

phát triển khác nhau hoặc phát triển cá thể (ontogeny) của sinh vật

Với mức độ lớn hơn, di truyền học quan tâm đến tính di truyền giữa cha mẹ và con

cái Phong tục học (ethology) nghiên cứu nhóm hành vi của một tập hợp cá thể Di truyền học quần thể (population genetics) xem xét toàn bộ quần thể và hệ thống học quan tâm đến

sự tiến hóa của nhiều loài thuộc các nhánh tiến hóa (lineage) Mối quan hệ qua lại giữa các

quần thể với nhau và với ổ sinh thái của chúng là đối tượng của sinh thái học và sinh học

tiến hóa Một lĩnh vực tương đối mới là sinh học vũ trụ (astrobiology hoặc xenobiology)

nghiên cứu về khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên

Phương pháp nghiên cứu khoa học là sử dụng một bộ các kỹ thuật nhằm nghiên cứu các

hiện tượng, mục đích là để thu được kiến thức mới, hoặc chỉnh sửa và gắn kết với các kiến thức trước Để được coi là khoa học, phương pháp điều tra phải được dựa vào việc thu thập chứng cứ thực nghiệm hoặc chứng cứ đo lường được, tuân thủ theo những nguyên tắc lý luận cụ thể Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa phương pháp khoa học là: "một phương pháp hay thủ tục đặc trưng của khoa học tự nhiên từ thế kỷ 17, bao gồm quan sát có hệ thống, đo lường, và thí nghiệm, và xây dựng, kiểm định và sửa đổi các giả thuyết"

Phương pháp khoa học so với các cách thức thu thập kiến thức khác là việc các nhà khoa học cố gắng để thực tế chứng minh cho thực tế, ủng hộ một lý thuyết khi những dự đoán về một lý thuyết được xác nhận và thách thức một lý thuyết khi những dự đoán đó là sai Cách thức tiến hành của các phương pháp nghiên cứu rất đa dạng, nhưng phương pháp khoa học có những đặc trưng có thể nhận diện so với những phương pháp nghiên cứu khác Các nhà khoa học đề xuất các giả thuyết như là những lý giải cho hiện tượng, và thiết kế các nghiên cứu thực nghiệm để kiếm định các giả thuyết này thông qua những dự đoán từ chúng Những bước này đều phải lặp lại nhằm ngăn chặn những sai lầm hoặc lúng túng trong bất cứ một thí nghiệm cụ thể nào

Trang 14

Nghiên cứu khoa học phải thật khách quan hết mức có thể nhằm giảm thiểu những diễn giải thiên vị về kết quả Một điều nữa là các phương pháp luận và dữ liệu nghiên cứu nên được lập thành tài liệu, lưu trữ và chia sẻ để các nhà nghiên cứu khác có thể xem xét, tạo điều kiện để xác minh kết quả

Phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên: Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hoá học, Sinh học, khoa học Trái đất … sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học thực nghiệm là chủ yếu

Các bước cơ bản trong phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên

1 Quan sát sự vật, hiện tượng;

2 Đặt vấn đề nghiên cứu;

3 Đặt giả thuyết hay sự tiên đoán;

4 Thu thập thông tin hay số liệu thí nghiệm;

5 Kết luận

* Hiện nay trong Vật lý học sử dụng cách tiếp cận phương thức luận nhằm so sánh kết quả tiên đoán của lý thuyết với những giá trị thu được từ thí nghiệm hay quan trắc kiểm chứng nó; và do vậy hỗ trợ các nhà khoa học đi đến quyết định lý thuyết đó là đúng trong một phạm vi nhất định hay phải loại bỏ nó và đi tìm một lý thuyết khác lý giải các kết quả thực nghiệm

Khi dạy học môn KHTN thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành và phòng học bộ môn, ở thực địa và các cơ sở sản xuất là phương pháp chủ yếu

2.1.2 Sự đa dạng

Chương trình môn KHTN được tổ chức theo 4 chủ đề khoa học chính, gồm:

Trang 15

+ Chất và sự biến đổi của chất: chất có ở xung quanh ta, cấu trúc của chất, chuyển hoá

hoá học các chất

+ Vật sống: sự đa dạng trong tổ chức và cấu trúc của vật sống; các hoạt động sống; con

người và sức khoẻ; sinh vật và môi trường; di truyền, biến dị và tiến hoá

+ Năng lượng và sự biến đổi: năng lượng, các quá trình vật lí, lực và sự chuyển động + Trái Đất và bầu trời: chuyển động nhìn thấy của Mặt Trời, chuyển động nhìn thấy

của Mặt Trăng, hệ Mặt Trời, Ngân Hà, chu trình các chất trong hệ sinh thái, Sinh quyển Nội dung các chủ đề khoa học được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, có kết hợp ở mức độ nhất định với cấu trúc đồng tâm, đồng thời có thêm một số chủ đề liên môn, tích hợp nhằm hình thành các nguyên lí, quy luật chung của thế giới tự nhiên

2.1.3 Sự tương tác

Sự phát triển của KHTN gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với tiến bộ của

kĩ thuật và công nghệ và do vậy có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất Việc giảng dạy môn KHTN có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh trung học một hệ thống kiến thức cơ bản

về KHTN ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành cho học sinh những kĩ năng và thói quen làm việc khoa học; hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, rèn luyện cho học sinh tư duy logic và tư duy biện chứng, hình thành ở họ niềm tin về bản chất khoa học của các hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhận biết của con người, khả năng ứng dụng khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống; qua đó góp phần hình thành và phát triển ở họ các năng lực nhận thức, năng lực hành động và các phẩm chất và nhân cách mà mục tiêu giáo dục đề ra; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục tham gia lao động sản xuất, có thể thích ứng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, học nghề, trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung học phổ thông

2.1.4 Tính hệ thống

Trong quá trình dạy học, các mạch nội dung được tổ chức sao cho vừa tích hợp theo nguyên lí của tự nhiên, vừa bảo đảm logic bên trong của từng mạch nội dung Chương trình môn KHTN được xây dựng dựa trên sự kết hợp của 3 trục cơ bản là:

+ Chủ đề khoa học

+ Các nguyên lí/ khái niệm chung của khoa học

Trang 16

+ Hình thành và phát triển năng lực

Trong đó, các nguyên lí/ khái niệm chung sẽ là vấn đề xuyên suốt, gắn kết các chủ đề khoa học của chương trình

2.1.5 Năng lƣợng - Sự vận động và biến đổi

- Thế giới quan khoa học hiện đại thực chất là thế giới quan duy vật biện chứng, bao gồm các vấn đề về sự tồn tại của vật chất, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và các quy luật tổng quát của sự vận động của vật Ví dụ trong dạy học vật lý ở trường phổ thông, ta không đưa ra tường minh những khái niệm, quan niệm triết học về các vấn đề trên, nhưng

có nhiều cơ hội để đưa ra các cơ sở thực tiễn của những quan niệm trên, làm cho học sinh cảm nhận được và tin tưởng ở sự đúng đắn của các bằng chứng thực tiễn, góp phần hình thành những quan niệm trên Thế giới quan vật chất tồn tại khách quan: KHTN là một môn học nghiên cứu về tự nhiên Việc đầu tiên là phải quan sát tự nhiên, nhận biết sự tồn tại của thế giới tự nhiên bằng các giác quan của mình Tiếp theo là phải xây dựng khái niệm

để phản ánh những thuộc tính bản chất của thế giới khách quan KHTN xây dựng trên những khái niệm đó Bởi vậy, ngay từ khi học những khái niệm đầu tiên, đã phải chú ý làm sáng tỏ cơ sở thực tiễn, nguồn gốc vật chất của các khái niệm

Ví dụ: khi xây dựng khái niệm ―lực‖, cần luôn luôn chú ý là nổi bật ý ―lực là đại lượng đặc trưng tương tác giữa vật này và vật khác‖ Khi nói rằng: có một lực tác dụng lên vật A thì có nghĩa rằng chắc chắn phải có vật B (một thực thể vật chất) thực hiện tác dụng

đó Trong mọi trường hợp khi nói có vật tác dụng lên, ta đều phải chỉ ra được ―vật tác dụng‖ đó Điều này sẽ làm cho học sinh ngày càng tin tưởng là: không có lực phi vật chất Hay: Ngày nay, nhờ có các phương tiện hiện đại, ta có thể quan sát thấy những thực thể,

mà trước đây ta chỉ phỏng đoán về sự tồn tại của chúng Ví dụ bằng kính hiển vi điện tử,

ta đã trông thấy các phân tử của nhiều chất

- Vật chất vận động không ngừng: Để khảo sát các hiện tượng trong tự nhiên Có thể chỉ cho học sinh biết rằng: mọi hiện tượng Vật lí điều do sự chuyển động và tương tác của các phần tử vật chất mà sinh ra Không có vật nào tuyệt đối đứng yên, chuyển động vốn là thuộc tính cố hữu, luôn gắn liền với vật thể Ngay cả khi ta thấy mặt nước trong chậu yên lặng thì thực ra ở đó đang diễn ra một sự biến đổi giữa nước và hơi nước, luôn luôn có sự

Trang 17

vận động theo hai chiều trái ngược nhau của các phân tử nước qua các mặt thoáng của nước

- Sự vận động có quy luật của thế giới vật chất: Hầu hết các hiện tượng nghiên cứu trong tự nhiên đều dẫn đến các định luật hay dẫn đến nhận xét có tính quy luật khách quan;

Ví dụ: hiện tượng rơi của các vật quanh ta xảy ra rất phức tạp và rất khác nhau như hòn đá, cái lá, cái nút chai, giọt mưa,… Thế nhưng, tất cả các vật rơi lại tuân theo một định luật rất đơn giản: khi sức cản của môi trường không đáng kể so với trọng lượng của vật thì ở cùng một nơi, các vật đó đều rơi với cùng một gia tốc Các định luật do con người xây dựng lên

để phản ánh những quy luật của tự nhiên Sự phản ánh đó đúng đến đâu, chính xác đến đâu

là do trình độ con người Bởi vậy, quy luật của tự nhiên tồn tại vĩnh viễn, trong khi những định luật do con người xây dựng lên thì có thể thay đổi để ngày càng phản ánh đúng hơn quy luật của tự nhiên, ngày càng tiến dần đến chân lý khách quan

- Nhiều hiện tượng tự nhiên, là những biểu hiện cụ thể của những quy luật biện chứng của sự vận động và phát triển của thế giới vật chất Trong một hiện tượng tự nhiên thực, không chỉ có một dạng chuyển động của vật chất, một quy luật chi phối mà thường có nhiều dạng chuyển động cùng tồn tại, nhiều mối quan hệ, nhiều quy luật cùng tác động

Do đó, các định luật thường rất đơn giản nhưng biểu hiện của chúng trong thực tế lại rất phức tạp Chẳng hạn như: hiện tượng nhiệt có liên quan đến sự cọ xát của các vật vĩ mô chuyển động nhưng thực chất, nguyên nhân sâu xa của hiện tượng nhiệt là do chuyển động của các phân tử tạo thành vật, chuyển động của các phân tử cũng là một loại chuyển động

cơ học Trong hiện tượng giãn nở vì nhiệt, chuyển động hỗn loạn của các phân tử lại chuyển hóa thành chuyển động theo một hướng xác định của vật thể Cũng chính trong hiện tượng giãn nở đó, một chất khí vừa tuân theo định luật áp suất, vừa tuân theo định luật tăng thể tích của lượng khí Thực ra, những biến đổi đó luôn xảy ra đồng thời, chúng ta đã tách ra từng mặt cho dễ nghiên cứu mà thôi

- Quy luật thực tế khách quan tồn tại ngoài ý muốn của con người Chúng có từ trước khi loài người xuất hiện và sẽ tồn tại cùng với thế giới vật chất Khoa học do con người xây dựng nên để phản ánh thực tế khách quan Những định luật vật lý là do con người xây dựng lên để phản ánh các quy luật của thực tế khách quan

Trang 18

Ví dụ: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng chiếm một vị trí quan trọng trong thế giới quan khoa học hiện đại Định luật có tính chất tổng quát, áp dụng cho mọi quá trình biến đổi trong tự nhiên Đó là một trong những cơ sở đầu tiên để đánh giá sự đúng đắn của những phát minh vật lý mới Định luật này cũng là sự phản ánh tính thống nhất của các dạng chuyển động khác nhau của vật chất và được hình thành dần dần trong nhiều giai đoạn của giáo trình vật lý Tư tưởng của định luật này được phát triển một cách tuần tự qua việc khảo sát các hiện tượng thuộc nhiều lĩnh vực Trong dạy học vật lý, đặc

biệt cần nhấn mạnh đến hai khía cạnh cơ bản sau:

• Là biểu hiện của đặc tính không tự sinh ra và cũng không tự mất đi của chuyển động của vật chất, chỉ có sự chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác Mỗi dạng năng lượng đều gắn với một dạng chuyển động của vật chất

• Sự chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác mà không mất đi của nó chính là một biểu hiện của sự bảo toàn vật chất Định luật này biểu hiện trong mọi tương tác của các phần tử vật chất, trong mọi hiện tượng tự nhiên

- Sự phản ánh đó không thể đầy đủ, chính xác ngay từ đầu mà hoàn thiện dần theo trình độ nhận thức của con người Cùng một sự kiện, hiện tượng của thực tế khách quan nhưng các nhà khoa học có thể xây dựng những quy luật khác nhau để phản ánh nó

Ví dụ: Mặt Trời, Trái Đất, Mặt Trăng, các vì sao vẫn thấy từ hàng nghìn năm nay, nhưng Aristốt cho rằng: Mặt Trời, Mặt Trăng, các vì sao quay quanh Trái Đất, còn Côpecnic lại cho rằng: Trái Đất quay quanh Mặt Trời Bây giờ, chúng ta thấy Côpecnic đúng, vì ông đã quan sát tỷmỷ hơn và đã phản ánh đúng hơn thế giới khách quan Ngày nay, chúng ta không còn ngạc nhiên khi các nhà bác học phát hiện ra một số định luật của cơ học Niutơn không còn đúng với các hạt vi mô như phân tử, nguyên tử, nuclêon, electron ; do đó, phải xây dựng cơ học lượng tử để phản ánh đúng hơn

Các nguyên lý chung, khái quát của KHTN là nội dung cốt lõi của môn KHTN Nội dung Vật lý, Hóa học, Sinh học, Trái Đất và bầu trời được tích hợp, xuyên suốt trong các nguyên lý đó Có thể hiểu kiến thức Vật lý, Hóa học, Sinh học, Trái Đất và bầu trời là cứ liệu vừa làm sáng tỏ các nguyên lý tự nhiên, vừa tích hợp theo các logic khác nhau trong hoạt động khám phá tự nhiên, trong giải quyết vấn đề công nghệ, các vấn đề tác động đến đời sống của cá nhân và xã hội hiểu biết về các nguyên lý của tự nhiên, cùng với hoạt động

Trang 19

khám phá tự nhiên, vận dụng kiến thức KHTN vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn là yêu cầu cần thiết để hình thành và phát triển năng lực KHTN của học sinh.Sự phù hợp của mỗi chủ đề Vật lý, Hóa học, Sinh học, Trái Đất và bầu trời với các nguyên lý chung của khoa học được lựa chọn ở các mức độ khác nhau Có nguyên lý cần được thể hiện ở mức độ cao, nhưng cũng có nguyên lý chỉ thể hiện ở mức độ thấp

2.2 Các chủ đề môn khoa học tự nhiên - Oxi

và không khí, chống ô nhiễm không khí

- Hợp chất của lưu huỳnh và vấn đề mưa axit

- Phân bón và rau an toàn

- Mắt

- Nhiệt và truyền nhiệt

- Nâng cao sức khỏe trong trường học

- Dung dịch

- Môi trường và biến đổi khí hậu

- Sinh vật với môi trường sống

- Các phép đo và kỹ năng thí nghiệm

- Nhiệt và tác động của nó đối với sinh vật

- Lực và máy cơ đơn giản

2.3 Giới thiệu chương trình môn KHTN

2.3.1 Đặc điểm môn học

Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Khoa học tự nhiên là môn học bắt buộc, được dạy ở trung học cơ sở, giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành

Trang 20

và phát triển ở cấp tiểu học; hoàn thiện tri thức, kĩ năng nền tảng và phương pháp học tập

để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động Môn Khoa học tự nhiên được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học vật lí, hoá học, sinh học và khoa học Trái Đất Đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên Trong Chương trình môn Khoa học tự nhiên, nội dung giáo dục về những nguyên lí

và khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được tích hợp theo nguyên lí của tự nhiên, đồng thời bảo đảm logic bên trong của từng mạch nội dung

Đối tượng nghiên cứu của môn Khoa học tự nhiên gần gũi với đời sống hằng ngày của học sinh Bản thân các khoa học tự nhiên là khoa học thực nghiệm Vì vậy, thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành và phòng học bộ môn, ở thực địa và các cơ sở sản xuất có vai trò, ý nghĩa quan trọng và là hình thức dạy học đặc trưng của môn học này Thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm, môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh khám phá thế giới tự nhiên, phát triển nhận thức, tư duy logic và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Khoa học tự nhiên luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại Do vậy, giáo dục phổ thông phải liên tục cập nhật những thành tựu khoa học mới, phản ánh được những tiến bộ của các ngành khoa học, công nghệ và kĩ thuật Đặc điểm này đòi hỏi chương trình môn Khoa học tự nhiên phải tinh giản các nội dung có tính mô tả để tổ chức cho học sinh tìm hiểu, nhận thức các kiến thức khoa học có tính nguyên lí, làm cơ sở cho quy trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn

Khoa học tự nhiên là môn học có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của học sinh, có vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của học sinh cấp trung học cơ sở Cùng với các môn Toán học, Công nghệ và Tin học, môn Khoa học tự nhiên góp phần thúc đẩy giáo dục STEM – một trong những hướng giáo dục đang được quan tâm phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam, góp phần đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực trẻ cho giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

2.3.2 Quan điểm

Chương trình môn Khoa học tự nhiên cụ thể hoá những mục tiêu và yêu cầu của Chương

trình tổng thể, đồng thời nhấn mạnh các quan điểm sau:

Trang 21

2.3.2.1 Dạy học tích hợp

Chương trình môn Khoa học tự nhiên được xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp Khoa học tự nhiên là một lĩnh vực thống nhất về đối tượng, phương pháp nhận thức, những khái niệm và nguyên lí chung nên việc dạy học môn Khoa học tự nhiên cần tạo cho học sinh nhận thức được sự thống nhất đó Mặt khác, định hướng phát triển năng lực, gắn với các tình huống thực tiễn cũng đòi hỏi thực hiện dạy học tích hợp Chương trình môn Khoa học tự nhiên còn tích hợp, lồng ghép một số nội dung giáo dục như: giáo dục kĩ thuật, giáo dục sức khoẻ, giáo dục bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,

2.3.2.2 Kế thừa và phát triển

Chương trình môn Khoa học tự nhiên bảo đảm kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình môn học đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Khoa học tự nhiên của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học với nhau và liên thông với chương trình các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học ở cấp tiểu học, Vật lí, Hoá học, Sinh học ở cấp trung học phổ thông và chương trình giáo dục nghề nghiệp

2.3.2.3 Giáo dục toàn diện

Chương trình môn Khoa học tự nhiên góp phần hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực học sinh thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, thể hiện tính toàn diện, hiện đại và cập nhật; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; thông qua các phương pháp, hình thức

tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh; các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục Chương trình bảo đảm sự phát triển năng lực của học sinh qua các cấp học, lớp học; tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi giữa các giai

đoạn trong giáo dục; tạo cơ sở cho học tập suốt đời 2.3.2.4 Kết hợp lí thuyết với thực hành và phù hợp thực tiễn Việt Nam

Thông qua hoạt động thực hành trong phòng thực hành và trong thực tế, chương trình môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh nắm vững lí thuyết, đồng thời có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng khoa học tự nhiên vào thực tiễn đời sống

Trang 22

Môn Khoa học tự nhiên quan tâm tới những nội dung kiến thức gần gũi với cuộc sống hằng ngày của học sinh, tăng cường vận dụng kiến thức, kĩ năng khoa học vào các tình huống thực tế; góp phần phát triển ở học sinh khả năng thích ứng trong một thế giới biến đổi không ngừng

Chương trình môn Khoa học tự nhiên bảo đảm tính khả thi, phù hợp với các nguồn lực để thực hiện chương trình như giáo viên, thời lượng, cơ sở vật chất,

2.3.3 Nội dung chương trình

- Môn KHTN được xây dựng dựa trên sự kết hợp các chủ đề khoa học; chất và sự biến đổi của chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi, trái đất và bầu trời; các nguyên lí, khái niệm chung về thế giới tự nhiên

- Các chủ đề được sắp xếp theo logic tuyến tính, có kết hợp ở mức độ nhất định với cấu trúc đồng tâm, đồng thời có thêm một số chủ đề liên môn, tích hợp nhằm hình thành các nguyên lý, qui luật củ thế giới tự nhiên

Mạch nội dung của chương trình:

Trang 23

Khoa học

tự nhiên Các lĩnh vực chủ yếu của Khoa học

tự nhiên – Một số dụng cụ

đo và quy tắc an toàn trong phòng

- Sử dụng được một số dụng cụ đo trong môn Khoa học tự nhiên 7

- Một số phương pháp trong học tập môn Khoa học tự nhiên (Phương

pháp tìm hiểu tự nhiên; kĩ năng tiến

– Dụng cụ, hoá chất, – thiết bị điện trong nội dung môn Khoa học tự nhiên 8 – Quy tắc sử dụng hoá chất an toàn, sử dụng điện an toàn

Dụng cụ và hoá chất trong nội dung môn Khoa học tự nhiên 9 – Viết và trình bày báo cáo về một vấn đề khoa học

CHẤT VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CHẤT quan sát, trình:

(Deoxyribonucle

ic

– Một số vật liệu, nhiên liệu, nguyên liệu, lương thực,

– Dung dịch – Tách chất ra khỏi hỗn hợp

.- Trao đổi nước ở sinh vật

acid) và RNA (Ribonucleic acid) và gene

Trang 24

Cấu trúc của

chất

– Nguyên tố hoá học

– Sơ lược về bảng tuần

hoàncácnguyên tốhoáhọc – Phân tử; đơn chất; hợp chất

– Sơ lược về liên

–Ethylic alcohol

– Nồng độ dung dịch acetic acid

– Tốc độ phản ứng và – Lipid –

Ngày đăng: 16/07/2021, 09:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2018), Tài liệu hướng dẫn dạy môn KHTN lớp 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn dạy môn KHTN lớp 9
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2018
4. Nguyễn Đức Chính (Chủ biên) (2015), Phát triển chương trình giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2015
5. Nguyễn Văn Khôi (2010), Phát triển chương trình giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2010
6. Nguyễn Văn Nhã (2009), Xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Nhã
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
7. Nguyễn Đức Thâm – Nguyễn Ngọc Hưng – Phạm Xuân Quế (2002), Phương pháp dạy học Vật lý trường phổ thông, Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Vật lý trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm – Nguyễn Ngọc Hưng – Phạm Xuân Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm
Năm: 2002
8. Hà Thị Thúy (chủ biên) (2018), Dạy học môn KHTN THCS theo hướng phát triển năng lực HS , Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học môn KHTN THCS theo hướng phát triển năng lực HS
Tác giả: Hà Thị Thúy (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
9. Mai Sĩ Tuấn (chủ biên) – Bùi Phương Nga – Lương Việt Thái (2019), Hướng dẫn dạy học môn khoa học theo chương trình giáo dục phổ thông mới, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy học môn khoa học theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Tác giả: Mai Sĩ Tuấn (chủ biên) – Bùi Phương Nga – Lương Việt Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2019
1. Bộ Giáo dục Đào tạo (2018), Chương trình chương trình giáo dục phổ thông môn khoa học tự nhiên Khác
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2019), Tài liệu tập huấn Hướng dẫn thực hiện chương Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w