Tuy nhiên, từ đầu những năm 90, cuộc khủng hoảng toàn diện ở cácnước Đông Âu và Liên Xô đã dẫn tới sự sụp đổ của CNXH ở khu vực này.Nhiều nhà khoa học chính trị Châu Âu đã cho rằng sự th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ YẾN
c«ng cuéc c¶i tæ cña liªn x« (1985 - 1991)
vµ bµi häc lÞch sö sau 20 n¨m nh×n l¹i
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Vinh - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ YẾN
c«ng cuéc c¶i tæ cña liªn x« (1985 - 1991)
vµ bµi häc lÞch sö sau 20 n¨m nh×n l¹i
Trang 3Luận văn được thực hiện và hoàn thành tại trường Đại học Vinh, dưới
sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Công Khanh, khoa Lịch sử - Trường
Đại học Vinh
Trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhậnđược sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình chu đáo của PGS TS Nguyễn CôngKhanh Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS.Nguyễn Công Khanh, người đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức,hướng dẫn tận tình, giúp tác giả trong thời gian qua
Qua đây, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo khoa Lịch
sử, khoa Sau Đại học - Trường Đại học Vinh, Viện Nghiên cứu châu Âu,Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Thông tấn xã Việt Nam, Thư viện Quốc gia,Thư viện Quân đội, Thư viện Trường Đại học Vinh, khoa Lịch sử Trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâusắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, tạo mọi điềukiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình làm luận văn
Với thời gian và kiến thức có hạn nên quá trình hoàn thành luận văncủa tác giả còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của các thầy,
cô giáo cùng bạn đọc để luận văn của tác giả được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 8
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 9
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Bố cục của luận văn 11
B NỘI DUNG 12
Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CÔNG CUỘC CẢI TỔ 12
1.1 Tình hình thế giới 12
1.1.1 Cuộc khủng hoảng năng lượng 1973 12
1.1.2 Sự phát triển mạnh mẽ của các nước tư bản 13
1.1.3 Cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc 14
1.2 Tình hình Liên Xô vào đầu những năm 80 của TK XX 16
1.2.1 Về kinh tế 16
1.2.2 Về chính trị - xã hội 22
1.3 Quá trình hình thành chủ trương cải tổ 26
1.3.1 Chủ trương chung 26
1.3.2 Đường lối cụ thể: Về kinh tế, về chính trị - xã hội, về đối ngoại 30
Tiểu kết chương 42
Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ KẾT QUẢ CỦA CÔNG CUỘC CẢI TỔ Ở LIÊN XÔ (1985 - 1991) 43
2.1 Nội dung của công cuộc cải tổ (1985 - 1991) 43
Trang 52.1.2 Giai đoạn 2 (6/1987 - 1989) 56
2.1.3 Giai đoạn 3 (1990 - 12/1991) 67
2.2 Kết quả của công cuộc cải tổ 81
2.2.1 Về kinh tế 81
2.2.2 Về chính trị - xã hội 87
2.2.3 Về ngoại giao 90
Tiểu kết chương 92
Chương 3 ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG CUỘC CẢI TỔ VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 94
3.1 Một số đánh giá 94
3.1.1 Cải tổ là tất yếu, song quá trình thực hiện đã đi chệch định hướng XHCN 94
3.1.2 Công cuộc cải tổ của Liên Xô gắn liền với vai trò của Goocbachốp .103
3.1.3 Cải tổ đặt nền móng cho việc xoá bỏ những sai lầm, hạn chế tích tụ trong quá trình xây dựng CNXH ở Liên Xô 115
3.1.4 Cải tổ và sự thất bại của nó có tác động sâu sắc đến lịch sử thế giới 119
3.2 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 125
3.2.1 Sự cần thiết phải giữ vững vai trò lãnh đạo chính trị và sự thống nhất, đoàn kết trong Đảng 125
3.2.2 Phải tôn trọng lịch sử khách quan 127
3.2.3 Phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải tổ chính trị và cải cách kinh tế 129
3.2.4 Coi trọng giải quyết vấn đề dân tộc 132
C KẾT LUẬN 134
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 6E PHỤ LỤC
Trang 7Chữ viết tắt Nội dung
BCH TW Ban chấp hành Trung ương
CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CT HĐBT Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
ĐCS Đảng Cộng sản
G7 Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển
GS, VS Giáo sư, Viện sĩ
INF Hiệp ước phòng thủ tên lửa tầm trungKGB Ủy ban An ninh quốc gia Liên XôNATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây DươngNXB Nhà xuất bản
PGS, PTS Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ (Liên Xô cũ)TBCN Tư bản chủ nghĩa
TS, TSKH Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học
TTXVN Thông tấn xã Việt Nam
USD Đô la Mỹ
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 8Tuy nhiên, từ đầu những năm 90, cuộc khủng hoảng toàn diện ở cácnước Đông Âu và Liên Xô đã dẫn tới sự sụp đổ của CNXH ở khu vực này.Nhiều nhà khoa học chính trị Châu Âu đã cho rằng sự thất bại hoàn toàn củaCNXH trên phạm vi thế giới là không thể tránh khỏi, vì nguyên nhân của sựsụp đổ này nằm trong bản chất của CNXH, mà về bản chất CNXH là khôngthể đổi mới được Nhưng từ thực tế, chúng ta thấy rằng nhìn phạm vi toànthế giới, những nhận xét trên là hoàn toàn không có căn cứ xác đáng bởi ởnhững nước lựa chọn con đường XHCN như Trung Quốc, Việt Nam hiệnnay vẫn còn tồn tại và phát triển Sau quá trình đổi mới, các nước này khôngnhững đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng mà chế độ XHCN còn đượccũng cố, kinh tế, chính trị ổn định và có bước tiến rõ rệt Đời sống nhân dânđựơc cải thiện đáng kể Rõ ràng chúng ta không thể nhận định rằng CNXH
là vô vọng, không thể đổi mới được như nhiều nhà nghiên cứu phương Tây
đã khẳng định
Như vậy ta thấy ở đây toát lên vấn đề: Cái gì chi phối thành công haythất bại của chế độ XHCN trong điều kiện của cuộc khủng hoảng chung củaCNXH vào những năm 80 của thế kỷ XX? Theo dõi diễn biến các sự kiệndiễn ra tại các nước XHCN ở châu Á lẫn châu Âu trong những năm 80 cho tathấy: Để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ, hội nhập với thế giới thìhầu hết tất cả các nước này đều bắt tay vào công cuộc cải cách, mở cửa, đổi
Trang 9mới, cải tổ đất nước Song đường lối cải cách, cải tổ, đổi mới ở các nướcnày đều có sự khác biệt Trung Quốc, Việt Nam ưu tiên hàng đầu cải cáchkinh tế và coi đó là trọng tâm của cuộc cải cách còn đổi mới cải cách chính trị
về thực chất chỉ tạo điều kiện, thúc đẩy cải cách kinh tế mà thôi Ở Liên Xô
và Đông Âu tình hình lại khác hẳn Sau một vài năm tiến hành cải cách kinh
tế không mấy thắng lợi, các nước này đã quay sang tiến hành cải cách chínhtrị và coi đó là khâu then chốt, quyết định cho công cuộc cải cách Kết quả đạtđược đó là Trung Quốc, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trìtrệ và đi lên phát triển còn Đông Âu và Liên Xô thì rơi vào trì trệ khủnghoảng và sụp đổ Từ luận điểm này chúng ta thấy rằng nguyên nhân thất bạicủa chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu nằm chính trong đường lối, bước đicủa công cuộc cải tổ
Chính vì vậy, nghiên cứu công cuộc cải tổ ở Liên Xô để có những cáchnhìn khách quan về sự thực lịch sử từ đó thấy những sai lầm và có thể rút ranhững kinh ngiệm cho các nước vẫn kiên định con đường CNXH Mặt khác
cả Liên Xô và Việt Nam đều lựa chọn con đường đi lên CNXH Ở Liên XôCNXH thường đạt được những thành tựu to lớn, điển hình nhưng cuối cùnglại đi đến sụp đổ Còn ở Việt Nam chúng ta đang trên đường quá độ lênCNXH, Đảng và nhân dân ta học tập rút ra được kinh nghiệm gì từ thất bạicủa công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu? Nghiên cứu và tìmhiểu về công cuộc cải tổ ở Liên Xô phần nào giúp chúng ta tránh khỏi nhữngbước đi sai lầm và vững tin hơn trên con đường đi lên CNXH mà Đảng vànhân dân ta đã lựa chọn
Là một giáo viên giảng dạy môn lịch sử ở trường trung học phổ thôngkhi nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi tự tin hơn trong giảng dạy, trong việcđánh giá, nhận xét một cách khách quan hơn về sự sụp đổ của CNXH ở Liên
Xô và các nước Đông Âu tránh bóp méo, xuyên tạc sự thật lịch sử để chúng ta
Trang 10luôn có niềm tin vào CNXH và vững bước đi lên con đường XHCN mà Đảng
và nhân dân ta đã lựa chọn Đó cũng là những lý do khi tôi chọn vấn đề côngcuộc cải tổ ở Liên Xô từ 1985 - 1991 và bài học lịch sử sau 20 năm nhìn lại”làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình
1 V.I Bô din, sự sụp đổ của thần tượng - những nét chấm phá chân
dung M.X.Goocbachốp, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002 Tác giả là
người thân cận của Goocbachốp nên ông được chứng kiên trực tiếp những sựkiện diễn ra ở thời điểm đó Cuốn sách là những suy nghĩ của ông vềGoocbachốp Lúc đầu ông có ấn tượng rất tốt về Goocbachốp thế nhưng dầndần thần tượng đó đã bị sụp đổ
2 V.A Métvêđép (1996), Êkíp Goobachốp nhìn từ bên trong, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Métvêđép là một nhân vật chủ chốt trong ê kíp
Goocbachốp trong thời kỳ những năm cải tổ Thông qua các cuộc tranh luậntrong giới thân cận Goocbachốp qua các cuộc luận chiến với các lực lượngchính trị khác nhau, tác giả đã đánh giá, xem xét, lý giải những mốc chínhtrong thời kỳ cải tổ
3 Vichto Aphaniep - Quyền lực thứ tư và bốn đời tổng thống, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Trong cuốn sách tác giả giành một phần
Trang 11viết về “Goocbachốp và công cuộc cải tổ” Tác giả trình bày quan điểm củamình về công cuộc cải tổ, về con người và phẩm chất của Goocbachốp.
4 Rưscốp Nhicôlai Ivanôvich, cải tổ: Lịch sự của những sự phản bội,
Tổng cục 2, Bộ quốc phòng, 1992 Là một người được cử làm chủ tịch hộiđồng bộ trưởng Liên Xô trong 6 năm “cải tổ chính thức”, Ông có điều kiệntiếp xúc trực tiếp với những gì đang diễn ra trong thời điểm cải tổ Chủ đềxuyên suốt tác phẩm là: Cải tổ, các sự kiện diễn ra trong thời kì cải tổ, sựphản bội của Goocbachốp, qua đó tác giả đưa ra một loạt hệ thống quan điểmcủa mình
5 Trong cuốn, Sự phản bội của Goobachốp, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội năm 1978 Do tập thể các tác giả biên soạn trong đó có phần “Sự phảnbội của Goocbachốp” ở đây tác giả dường như lần theo các sự kiện bắt đầu từtháng 3 năm 1985 khi Goocbachốp chính thức làm tổng bí thư tiến hành cải tổ
và đến tháng 8 năm 1991 hì cải tổ bị sụp đổ, qua quá trình đó cuối cùng diđến kết luận về sự phản bội của Goocbachốp
6 V.Paplốp, A.lakianốp,V.Criuscốp: Goocbachốp - Bạo loạn, sự kiện
tháng Tám nhìn từ bên trong, NXB Chính trị Quốc gia, 1994 Ba tác giả là
những thành viên của uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp, trực tiếp thamgia công cuộc cải tổ, cuốn sách cung cấp cho chúng ta những tư liệu vềnguyên nhân dẫn đến công cuộc cải tổ đi chệch quỹ đạo XHCN, các tư liệuvăn bản, chứng cứ, lập luận có tính phản biện xung quanh sự kiện 19/8/ 1991
7 A.Đôbrunhin - Đặc biệt tin cậy, vị đại sứ ở Oasingtơn qua 6 đời
tổng thống Mỹ, NXB chính trị Quốc gia 2001 Tác giả cuốn sách nguyên là
bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, nhà ngoại giao chuyên nghiệp kỳcựu, cựu đại sứ Liên Xô tại Mỹ qua 6 đời Tổng thống Mỹ Cuốn sách chứađựng những thông tin tư liệu chưa hề công bố, trình bày lịch sử quan hệ ngoạigiao giữa Liên Xô và Mỹ trong những năm 1960 đến năm 1990, thông qua đótrình bày đầy đủ mối quan hệ Xô - Mỹ đầy phức tạp
Trang 128 Osepov.G.V - Những huyền thoại của cuộc cải tổ và hiện thực sau
cải tổ đăng trên tài liêu phục vụ nghiên cứu, số TN 93 - 13, Hà Nội 1993 Tác
giả là viện sĩ, viện trưởng viện nghiên cứu chính trị thuộc Viện hàn lâm khoahọc Nga Bài viết là sự mổ xẻ thực tiễn, đó là sự suy ngẫm về những sự kiện
có tầm quan trọng trong xã hội về công cuộc cải tổ và sau cải tổ
Ngoài những tư liệu trên đây còn có một số tư liệu khác của các nhà
nghiên cứu Liên Xô như Iu.N.A phanaxiep- (1989), Không có con đường nào
khác, NXB Sự Thật, Hà Nội; X.X.Satalin - Chương trình 500 ngày chuyển sang kinh tế thị trường, Viện kinh tế, Viện thông tin khoa học xã hội, 1991
2.2 Các học giả phương Tây
1 Suman Son có tác phẩm “Những ông chủ Kremlin, quyền lực và số
phận” trong đó giành một phần viết về Goocbachốp với cái nhìn mới mẽ về
con người này
2 Peter J.Boettke, Wy perestroika failed? - NXB london and New York
1993 Tác giả lý giải tại sao công cuộc cải tổ của Goocbachốp lại bị thất bại
3 Các nhà khoa học Phương Tây vơí công cuộc cải tổ ở các nước
XHCN và Đảng cộng sản Pháp với công cuộc cải tổ ở các nước XHCN là
hai bài được đăng trên tạp chí “Thông tin khoa học xã hội”, số 1, số 2
-1991 Bài thứ nhất chủ yếu phản ánh ý kiến của các nhà khoa học phươngTây thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau về công cuộc cải tổ ở Liên Xô vàcác nước XHCN Bài thứ hai phản ánh thái độ của Đảng Cộng sản Pháp vớicông cuộc cải tổ
4 Geard Duchene - Một số ý kiến đánh giá đường lối cải tổ ở Liên Xô
- Bản tin tham khảo nội bộ số 20 - 1990 Tác giả là nhà kinh tế học ngườiPháp đã điểm lại trên nhiều khía cạnh tình hình phát triển kinh tế của Liên
Xô từ khi phát động công cuộc cải tổ và cũng từ đó đưa ra những kết luận,đánh giá về nó
Trang 135 A.I Idum mob - Nền kinh tế Liên Xô dưới con mắt phương Tây đăng
trên bản tin chọn lọc, số 6, 1989 Tác phẩm này trình bày tổng quát cách nhìnnhận về cải tổ kinh tế ở Liên Xô của các nhà Xô Viết phương Tây Trong bàinày có sử dụng tư liệu được nghe ở Quốc hội Mỹ, các thông tin đánh giá củacác chuyên gia chính phủ, các sách chuyên đề và các bài viết của các nhànghiên cứu nổi tiếng ở phương Tây, thông tin của các báo, tạp chí, các tư liệuqua các cuộc thảo luận của tác giả với chuyên gia phương Tây
2.3 Các học giả Trung Quốc
1 Đào Lộc Bình - Nói chuyện về công cuộc cải tổ ở Liên Xô, NXB Sự
thật, 1998 Trong cuốn sách này tác giả đề cập đến các vấn đề về cải tổ nhưvấn đề khao học kỹ thuật quản lý kinh tế, cải tổ nông nghiệp, dân chủ hóa xãhội, chăm lo đời sống nhân dân Đây là một tác phẩm viết vào thời điểm côngcuộc cải tổ đang diễn ra, được dịch năm 1987 nên chỉ dừng lại nghiên cứu ởgiai đoạn một của công cuộc cải tổ này
2 Du Thuý - Mùa đông và mùa xuân Matxcơva, chấm dứt một thời đại,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Đây là công trình chuyên khảo đi sâuvào những chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội gây nên tình trạng rối loạn trong xã hội, kinh tế suy sụp, đời sống nhân dânkhó khăn là người ngoài viết về một sự kiện đang diễn ra ở nước khác, nêntrong cách nhìn nhận đánh giá của tác giả không thể tránh khỏi những hạn chếnhất định Tuy nhiên cuốn sách này nó cung cho chúng ta những tư liệu hếtsức quý báu để tìm hiểu đề tài này
3 Tiêu Phong - Hai chủ nghĩa một trăm năm, NXB Chính trị Quốc gia
2004, được dịch nguyên bản từ tiếng Trung Quốc Cuốn sách này được nhậngiải thưởng sách hay toàn Trung Quốc năm 2002 Tác giả là một nhà nghiêncứu nổi tiếng ở Trung Quốc, là cố vấn uỷ ban chuyên ngành CNXH thế giớithuộc học hội chủ nghĩa khoa học Trung Quốc Trong cuốn sách tác giả dành
Trang 14một phần đề cập đến sự tồn tại và phát triển của CNXH và CNTB nguyênnhân dẫn đến sự thay đổi của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu Trong sách tácgiả đã dẫn một số tư liệu và sự kiện khác với tư liệu và sự kiện chúng ta hiện
có Song đó cũng là nguồn tài liệu hết sức quý báu để tìm hiểu đề tài này
4 Lương Văn Đồng (1993), Chiến lược diễn biến hoà bình của Mỹ, Tổng cục II - Bộ Quốc phòng Thông qua cuốn sách này tác giả trình bày hết
sức cô đọng về ý đồ bá quyền thế giới của Mỹ qua chiến lược ngăn chặn,chiến lược diễn biến hoà bình Cuốn sách này giúp ta hiểu về sự chống phácủa chủ nghĩa Đế quốc với công cuộc cải tổ ở Liên Xô
2.5 Các học giả Việt Nam
1 Nguyễn Khắc Viện - “Liên Xô 70 năm trên con đường khai phá”
1987 và “Liên Xô mô hình mới của CNXH” - 1988 Hai cuốn sách này đề cập
đến tính tất yếu của công cuộc cải tổ Cải tổ là cách mạng và không có conđường nào khác ngoài công cuộc cải tổ
2 Năm 1988, Viện kinh tế thế giới có xuất bản thông tin chuyên đề
“Cải tổ ở Liên Xô” Cuốn sách giới thiệu một số bài viết và trả lời phỏng vấn
của các viện sĩ, viện trưởng về công cuộc cải tổ đang diễn ra
3 Sóng Tùng, Vì sao chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô
sụp đổ, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 2, 1992 Bài viết có đề cập đến sự sụp
đổ của CNXH ở Liên Xô trong đó nguyên nhân trực tiếp của nó là công cuộccải tổ (1985-1991) gây ra
4 Nguyễn Thị Hoa, Nhìn lại công cuộc cải tổ ở Liên Xô trước đây đăng
trên tạp chí cộng sản số 114, 2006 Bài viết tổng hợp nguyên nhân thất bại củacải tổ và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm từ sự thất bại của công cuộc cải tổ
5 Quang Lợi, tác giả của bài bút kí “Cải tổ - vùng mắt bão” Bài viết
được ghi lại từ những cảm nhận của tác giả khi ông trực tiếp sang thăm Liên
Xô vào thời gian cuối của cuộc cải tổ, khi đất nước Liên Xô lâm vào tình
Trang 15trạng khủng hoảng Bài viết cung cấp cho ta số liệu về cuộc khủng hoảng kinh
tế ở Liên Xô
Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu công cuộc cải tổ ở Liên Xô từ1985-1991 với nhiều góc độ khác nhau Hầu hết trước đây các quan điểm đềunhằm chỉ trích Goocbachốp và cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự khủnghoảng và sụp đổ của CNXH ở Liên Xô là do Ông Ngày nay, sau 20 năm nhìnlại có lẽ mỗi chúng ta cần có một cách nhìn, cách suy nghĩ, đánh giá kháchquan hơn về tổng thể của cuộc cải tổ này và đồng thời qua đó cũng rút rađược những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu để đất nước ta vững bướctrên con đường CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Tuy nhiên hầuhết các công trình nghiên cứu chỉ mới chú ý đề cập đến từng hiện tượng, từngkhía cạnh mà chưa có sự đánh giá một cách tổng quát Chính vì vậy chúng tôimong muốn được đi sâu nghiên cứu hơn nữa trong luận văn này
Mặc dù trên đây tôi mới chỉ nêu ra được một số nguồn tài liệu songnhững công trình tôi đề cập đó là những nguồn tài liệu hết sức quý báu cho tôitham khảo để hoàn thành luận văn của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công cuộc cải tổ của Liên Xô diễn ra từ năm 1985-1991 và bài học lịch
sử sau 20 năm nhìn lại
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục tiêu
Đề tài nhằm tìm hiểu công cuộc cải tổ của Liên Xô từ năm 1985 đếnnăm 1991 và bài học lịch sử sau 20 năm nhìn lại Chính vì vậy cần làm rõhoàn cảnh ra đời của cuộc cải tổ, quá trình thực hiện và kết quả của công cuộccải tổ từ đó đánh giá, nhận xét và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho quátrình xây dựng CNXH ở Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu trên nhiệm vụ của đề tài là cần làm rõnhững nội dung sau:
4.2.1 Hoàn cảnh lịch sử và đường lối của cuộc cải tổ
- Tình hình trong nước và thế giới của công cuộc cải tổ ở Liên Xô từnăm 1985 đến năm 1991
- Mục tiêu, nhiệm vụ, đường lối của công cuộc cải tổ
4.2.2 Quá trình thực hiện và kết quả của công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985-1991)
- Quá trình cải tổ diễn ra qua 3 giai đoạn
- Kết quả của công cuộc cải tổ
4.2.3 Đánh giá, nhận xét về công cuộc cải tổ và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
- Đánh giá, nhận xét về công cuộc cải tổ
- Những bài học kinh nghiệm
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình sưu tầm tài liệu phục vụ cho đề tài, ngoài những tài liệunhư sách, báo, tạp chí, văn bản, tư liệu chúng tôi còn cố gắng tìm kiếm vàsưu tầm các tài liệu trên Internet Những nguồn tài liệu sưu tầm được phânloại như sau:
Trang 175.1.1 Nguồn tư liệu gốc
1 Một số văn kiện chính thức: Nghị quyết của các hội nghị Trung ương
và Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô trong thời kìdiễn ra công cuộc cải tổ Báocáo chính trị Đại hội XXVII và XXVIII của Đảng
2 Một số bài phát biểu của những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản
3 Các hồi kí, ghi chép của những nhân chứng lịch sử Liên Xô đãđược công bố như Bôdin, Rưscốp, Páplốp, Lukianốp, Aphanaxép, Métvêđép,Bôrits Enxin
5.1.2 Các nguồn tài liệu tham khảo khác
1 Những bài nghiên cứu của các tác giả đăng trên các tạp chí như tạp chíQuốc phòng Châu Á, Lịch sử Đảng, Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu lịch sử, Tạpchí Công tác tư tưởng văn hoá, Tạp chí Thông tin những vấn đề lý luận
2 Các bài viết đăng trên các báo như Báo Quân đội nhân dân, Quân độinhân dân thứ bảy, Văn nghệ, đại đoàn kết
3 Các bài nghiên cứu, tổng thuật liên quan đến đề tài của các tác giảLiên Xô, Trung Quốc, Phương Tây, Việt Nam được đăng trên tài liệu thamkhảo đặc biệt, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, Phụ trương bản tin Liên Xô ngàynay, Liên Xô ngày nay, Liên Xô: Báo và ảnh xã hội chính trị
Ngoài những nguồn tài liệu cần thiết trên đây còn có các tin tức được
đưa trên cuốn “Liên Xô ngày nay và phụ trương bản tin Liên Xô ngày nay”,
các tài liệu của Ban đối ngoại Trung ương, Viện Mác - LêNin và một số bàiluận văn, luận án đề cập đến công cuộc cải tổ ở Liên Xô và những nhận xétđánh giá và các bài học kinh nghiệm được rút ra từ công cuộc cải tổ này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, phản ánhmột cách trung thực quá trình cải tổ ở Liên Xô, nhìn nhận, đánh giá một cáchkhách quan và rút ra những bài học kinh nghiệm sau 20 năm nhìn lại
Trang 18Nội dung của đề tài liên quan đến lịch sử chính trị chính vì vậy luậnvăn được thể hiện theo tình tự thời gian, kết hợp phương pháp lịch sử vớiphương pháp lôgic để trình bày và giải thích rõ quá trình cải tổ
Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu dựa trên những phương phápphân tích, đối chiếu, so sánh nhằm làm nổi bật những sự kiện quan trọng vàđánh giá nhận xét một cách khách quan về công cuộc cải tổ
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày những nét chính về hoàn cảnh lịch sử để hình thànhđường lối cải tổ, nội dung, kết quả và những đánh giá của công cuộc cải tổgiúp người đọc có những suy nghĩ nhìn nhận khách quan hơn về một giaiđoạn lịch sử quan trọng ở Liên Xô
Từ công cuộc cải tổ ở Liên Xô để so sánh, đối chiếu với các nướcXHCN khác Từ đó giúp chúng ta rút ra được những bài học bổ ích, tránh đượcnhững sai lầm đáng tiếc xẩy ra trên con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam
Toàn bộ luận văn với những nguồn tài liệu thu thập được nó đã góp phầnlàm phong phú thêm kho tàng tư liệu đặc biệt nó phục vụ tốt hơn cho công tácgiảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử thế giới ở trường trung học phổ thông
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1 Hoàn cảnh ra đời của công cuộc cải tổ ở Liên Xô
Chương 2 Quá trình thực hiện và kết quả của công cuộc cải tổ ở Liên
Xô (1985- 1991)
Chương 3 Một số đánh giá, nhận xét về công cuộc cải tổ và bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trang 191.1.1 Cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973
Bước vào thập kỷ 70, tình trạng khủng hoảng năng lượng đã diễn ratrên tồn thế giới và cĩ xu hướng ngày càng gia tăng Cuộc khủng hoảngchính thức bùng nổ vào năm 1973 mang tính tồn cầu, trước tình hình đĩ dầu
mỏ và khí đốt trở nên khan hiếm
Cuộc khủng hoảng năng lượng đã đặt ra cho nhân loại những vấn đềbức xúc cần giải quyết: Sự bùng nổ dân số và nguy cơ vơi cạn nguồn tàinguyên thiên nhiên cung cấp cho sự sống, những hiểm hoạ ơ nhiễm mơitrường đe doạ đến hành tinh chúng ta cần khắc phục, yêu cầu phải đổi mới đểthích nghi với nền kinh tế, chính trị trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộccách mạng khoa học kỹ thuật
Trước tình hình đĩ, các nước TBCN đã tập trung vào phát triển khoahọc kỹ thuật Cũng chính nhờ lợi dụng những thành tựu khoa học kỹ thuậtcùng với những biện pháp điều tiết của nhà nước, chủ nghĩa tư bản đã vượtqua cuộc khủng hoảng bước vào thời kỳ phục hồi và phát triển kinh tế
Lúc đầu cuộc khủng hoảng năng lượng đã khơng tác động mạnh mẽđến Liên Xơ vì Liên Xơ là một nước giá tài nguyên thiên nhiên Thế nhưng,sau khi các nước tư bản đã ổn định được tình hình thì lúc đĩ Liên Xơ mớichịu tác động mạnh mẽ do giá dầu mỏ giảm Tình hình đĩ đặt ra cho Liên Xơ
Trang 20trước những thách thức của sự phát triển nhanh chóng cuả cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật.
1.1.2 Sự phát triển mạnh mẽ của các nước tư bản mà đặc biệt là các nước tư bản trẻ đã đặt cho Liên Xô trước những thách thức mới
Chính nhờ phương pháp quản lý kinh tế có hiệu quả, tập trung vào pháttriển khoa học kỹ thuật nên thực lực của các nước tư bản tăng lên nhanhchóng Đứng trước tình hình đó, vị trí của Liên Xô - cường quốc kinh tế lớnthứ hai thế giới bị đe doạ Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đếnkhoảng cuối thập kỷ 50, tốc độ tăng trưởng của Liên Xô chiếm khoảng 10%.Bắt đầu từ năm 1946 đến năm 1950, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămcủa tổng giá trị sản phẩm xã hội là 14,2% Từ năm 1951 đến năm 1960 là10% Nhưng từ thập kỷ 60 bắt đầu giảm [74; 8, 9] Thu nhập quốc dân củaLiên Xô từ năm 1966 đến năm 1970 là 7,5%, đến kế hoạch 5 năm (1981-1985) giảm xuống chỉ còn 3,5% [81; 9]
Đứng trước thực trạng đó, vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốckinh tế lớn thứ hai thế giới bị Nhật Bản thách thức nghiêm trọng Theo số liệuthống kê từ 1960 - 1965, thu nhập quốc dân của Nhật Bản tăng 5,4 lần, giá trịsản lượng công nghiệp tăng 6,5 lần, năng suất lao động công nghiệp tăng 4,3lần Cùng thời kỳ này, chỉ tiêu tăng trưởng tương ứng của Liên Xô là thu nhậpquốc dân tăng 3,9 lần, giá trị sản lượng công nghiệp tăng 4,8 lần, năng suấtlao động công nghiệp tăng 3 lần Trong lúc đó, đến năm 1986, giá trị sảnphẩm xã hội của Mỹ là 3900 tỷ USD, Liên Xô là 1800 tỷ USD, Nhật Bản là
1700 tỷ USD [74; 9] Vị trí của Liên Xô đứng trước sự thách thức nghiêmtrọng Trước tình hình đó, Liên Xô nếu không đổi mới, cải tổ thì sẻ bị bỏ lạiphía sau
Thực tế kinh tế của các nước lớn phương Tây tăng lên chủ yếu dựa vàokhoa học kỹ thuật tiên tiến Liên Xô vốn là nước có tiềm lực về khoa học kỹ
Trang 21thuật rất lớn chỉ đứng sau Mỹ Nhưng chính do cơ chế quản lý kinh tế củaLiên Xô quá yếu kém lại nhiều khâu trung gian nên chỉ có 1/4 thành quả kỹthuật tiên tiến được áp dụng trong nền kinh tế quốc dân Thời gian tự nghiêncứu đến ứng dụng một hạng mục kỹ thuật mới kéo dài từ 10 đến 12 năm Hơnnữa nhiều phát minh khoa học không được sử dụng trong nước mà được đưa
ra phục vụ nước ngoài
Mặt khác, trong khoa học kỹ thuật lại có sự mất cân đối, trong ngànhcông nghiệp thì công nghiệp quân sự phát triển mạnh còn công nghiệp dândụng lại lạc hậu Theo thống kê vào giữa thập kỷ 80 trình độ khoa học kỹthuật chung của Liên Xô quá lạc hậu so với các nước phát triển ở phương Tâykhoảng 15 năm [74; 9]
Chính Goócbachốp phải thừa nhận rằng “Phát triển theo chiều rộng về
cơ bản đã làm hao mòn tiềm lực” vì vậy “Căn bản không có con đường nàokhác” ngoài con đường phát triển khoa học kỹ thuật
1.1.3 Cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc và xu thế cải cách ở một
số nước XHCN ở Đông Âu
Ở Trung Quốc: Bước vào những năm 70, đứng trước sự thay đổi của
tình hình thế giới đòi hỏi cần phải tiến hành cải cách Trước tình hình đó năm
1978, Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành cải cách, mở cửa với nội dung lấyphát triển kinh tế làm trung tâm tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nềnkinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường XHCN, nhằm xâydựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc
Nhờ có những biện pháp, phương châm và chính sách đúng đắn nênqua những năm tháng bước đầu cải cách Trung Quốc đã đạt được nhữngthành tựu hết sức to lớn Từ năm 1980 đến năm 1985, tổng giá trị sản phẩmcông nghiệp bình quân hàng năm là 12% Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệpbình quân hàng năm là 8,1% Tổng giá trị sản phẩm quốc dân bình quân 10%
Trang 22[74; 11, 12] Mức sống của nhân dân Trung Quốc được nâng cao rõ rệt, thunhập và mức tiêu dùng của người dân tăng lên nhanh chóng.
Thể chế kinh tế xơ cứng đã được đổi mới đầy sức sống, năng động,thích ứng với yêu cầu mới của xã hội Nền kinh tế từ chỗ kinh tế khép kín đãchuyển sang nền kinh tế thị trường XHCN, tích cực lợi dụng mở rộng quan hệtrao đổi ra bên ngoài
Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa với những thành tựu bước đầuhết sức to lớn nó là nguồn động lực để thúc đẩy Liên Xô cải tổ bởi vì nếukhông cải tổ thì Liên Xô sẻ đi đến tình trạng khủng hoảng và sụp đổ
Ở Đông Âu: Trong xu thế cải cách mở cửa của các nước XHCN thì một
số nước Đông Âu cũng đã nhận thấy rằng muốn tồn tại và phát triển thì không
có con đường nào khác ngoài con đường cải cách, mở cửa
Vào tháng 7 năm 1948, tại Đại hội đại biểu lần thứ V liên đoàn Nhữngngười Cộng sản Nam Tư đã chỉ ra rằng không thể rập khuôn theo kinhnghiệm của Liên Xô Chính vì thế từ thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, Nam Tư bắtđầu thực hiện một số cải cách quan trọng như thành lập Hội đồng công nhân,loại bỏ một số bộ chủ quản Liên bang và mở rộng quyền cho các xí nghiệp,giao tư liệu xản xuất cho tập thể điều hành và những năm tiếp theo Nam Tư
đã mở rộng hơn nữa quyền tự chủ kinh doanh ngoại thương của xí nghiệp,tiến hành cải cách giá cả, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Khi xuất hiện cuộckhủng hoảng kinh tế năm 1983, Nam Tư đề ra “Chương trình phát triển ổnđịnh kinh tế ”
Bên cạnh công cuộc cải cách của Nam Tư, vào năm 1956, ở Hungaribước vào cải cách trước hết là cải cách thể chế quản lý kinh tế, điều chỉnh cơchế kinh tế quốc dân, kịp thời điều chỉnh tỷ lệ giữa nông nghiệp, công nghiệpnhẹ và công nghiệp nặng, loại bỏ phát triển công nghiệp nặng, coi trọng pháttriển công nghiệp nhẹ, đặt phát triển nông nghiệp lên hàng đầu
Trang 23Đến năm 1979, Hungari lại tiếp tục tiến hành cuộc cải cách tiếp theoloại bỏ tơrớt, khuyến khích cạnh tranh giữa các xí nghiệp, phát huy tính dânchủ, cải cách thể chế giá cả, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể
Nhìn chung, nhiều nước Đông Âu trong cải cách đều chú ý tăng cườngquản lý ở tầm vĩ mô, mở rộng quyền tự chủ của xí nghiệp, kết hợp cải cáchkinh tế với cải cách thể chế chính trị, thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuậtphát triển
1.2 Tình hình Liên Xô vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX
Như chúng ta đã biết, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã trởthành cường quốc thứ hai trên thế giới Sự lớn mạnh của Liên Xô là bằngchứng không thể chối cãi về bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên kể từ đầu những năm 1970, tốc độ phát triển của Liên Xô bắt đầuchậm lại và rơi vào tình trạng trì trệ Đúng như Goocbachốp đã thừa nhận
“Cách nhìn trung thực và không thiên kiến dẫn chúng ta đến kết luận chắc
chắn rằng: Đất nước đang ở trong tình trạng tiền khủng hoảng” [27; 32].
1.2.1 Kinh tế
Vào những năm 70, 80 nền kinh tế Liên Xô lâm vào tình trạng trì trệ,nguyên nhân của tình trạng này là do nền kinh tế không kịp thời chuyển từquỹ đạo phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu mà phát triển theo chiềurộng chủ yếu dựa vào cách làm tăng sức lao động, tăng xí nghiệp và thiết bị,còn tài nguyên thiên nhiên khai thác thì “không tiếc tay” Đáng lẽ ra phải hiệnđại hoá máy móc và quy trình công nghệ thì lại mở rộng thêm và xây dựngcác nhà máy Hơn nữa thiết bị giá cũ, máy móc không được tận dụng phảidùng một khối lượng nhân công quá lớn để sửa chữa Việc xây dựng các xínghiệp mất nhiều thời gian, giữa thiết kế và thi công lại mất một khoảng thờigian dài từ 8 đến 10 năm Đến lúc hoàn thành và đi vào hoạt động thì các nhàmáy đó đã lạc hậu về mặt kỹ thuật [10; 8] Liên Xô cho xây dựng hàng loạt tổ
Trang 24hợp sản xuất khổng lồ theo lãnh thổ như tổ hợp sản xuất miền Tây Xi bianhằm mục đích khai thác dầu và khí đốt Khi trên thế giới giá dầu lữa tăng vọtthì ở Xi bia giá thành lại hạ do dầu tự phun lên Trong những năm 70 lượngkhai thác dầu ở Xi bia tăng gấp 10 lần, đứng trước tình hình đó, ở Liên Xôban lãnh đạo tự tạo ra ảo giác về sự vô tận của nguồn tài nguyên thiên nhiên.Những ảo giác đó về thu nhập từ xuất khẩu dầu lửa và khí đốt đã dẫn đến sựsai lầm trong nhận thức kinh tế của giới lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô.
Bước vào những năm 70, việc khai thác than cũng được đẩy mạnh Hai
tổ hợp khai thác than là Pavôlôđarơxcơ - Ekibaturơxki và Canxcô Achinxki.Các tổ hợp công, nông nghiệp cũng được xây dựng như nhà máy ô tô Camxkibên bờ sông Chennắc
Qua đó ta thấy việc phát triển kinh tế theo chiều rộng và sử dụng mộtcách tối đa các lợi thế tự nhiên, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp và các thiết bịlao động đã làm cho tiềm lực của Liên Xô ngày càng cạn kiệt, nguồn tàinguyên bị lãng phí nghiêm trọng Những điều đó chính sau này Goocbachốpcũng phải thừa nhận rằng:
“Chúng ta đã tiêu phí và đến nay vẫn còn tiêu phí nhiều nguyên liệu,
năng lượng, những nguồn tài nguyên khác trên đơn vị sản xuất hơn rất nhiều
so với các nước phát triển khác Của cải của nước ta đã nuông chiều chúng
ta, nói một cách thô bạo là đã làm hư hỏng chúng ta ” [27; 26].
Chính những điều đó đã dẫn tới nền kinh tế Liên Xô vẫn ở trong giaiđoạn phát triển nền công nghiệp trong khi đó nền kinh tế của các nước pháttriển đã chuyển sang giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ Nếu như ởcác nước phát triển, chính sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
nó quy định đến sự phát triển chung thì ở Liên Xô vào đầu những năm 80 mớichỉ có từ 10% đến 15 % các xí nghiệp tự động hoá hoặc cơ giới hoá đồng bộ,chỉ có khoảng 10% đến 15% công nhân có trình độ chuyên môn cao Còn lao
Trang 25động chân tay vẫn chiếm từ 70 đến 75% trong nông nghiệp Nguồn dự trử sứclao động cũng giảm dần Tính từ năm 1960 đến năm 1970, sức lao động bổsung là 23,2 triệu trong thập niên 70 chỉ còn 17,8 triệu và lại tiếp tục giảmtrong những năm 80 [35; 228].
Trong lĩnh vực nông nghiệp tình hình lại càng tồi tệ hơn, thiên tai hạnhán mất mùa vào năm 1972 và năm 1975 buộc phải nhập một khối lượng lớnngũ cốc từ Bắc Mỹ và các nước phương Tây sang Chăn nuôi chưa bao giờđáp ứng đủ nhu cầu trong nước Tính từ năm 1970 đến năm 1987, lượnglương thực và thực phẩm nhập khẩu tăng lên không ngừng, cụ thể: Mỡ độngvật tăng 183,2 lần, ngũ cốc tăng 13,8 lần, dầu thực vật tăng 12,8 lần năm
1985, nhập khẩu lương thực chiếm 21% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu củaLiên Xô [2; 381]
Việc tăng quân số và tăng cường chạy đua vũ trang nhằm giành thế cânbằng với Mỹ làm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nó mang đặc trưng quân
sự rõ rệt, ngành công nghiệp nhẹ và nông nghiệp luôn là khâu yếu trong toàn
bộ nền kinh tế Do vậy, nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm và hàngtiêu dùng của toàn thể nhân dân không được đáp ứng
Liên Xô lúc bấy giờ tỷ lệ giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ mấtcân đối vì ưu tiên phát triển công nghiệp nặng là nguyên tắc bất biến trongchính sách của Liên Xô thời kỳ này Theo số liệu thống kê năm 1985, tỷ trọnggiá trị sản lượng của công nghiệp nhóm A là 74,8 %, công nghiệp nhóm Bchiếm 75,3 % trong tổng sản phẩm nó tương tương với tỷ trọng sản lượng côngnghiệp nặng năm cao nhất của thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai [74; 21]
Chính sự mất cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp cũng ngày cànggia tăng Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp tụt xa so với công nghiệp Năm
1960 đến năm 1975, giá trị sản lượng công ngiệp tăng 3,2 lần còn giá trị sảnlượng nông nghiệp chỉ tăng 0,4 lần Trong những năm Brêgiơnhép cầm quyền
Trang 26sản lượng lương thực bình quân theo đầu người hàng năm từ 570 kg tăng lênkhoảng 800 kg, vốn sản xuất cố định tăng 4 lần Tuy nhiên, hiệu quả đầu tưkhông cao, thức ăn cho gia súc thiếu thốn, khả năng chống thiên tai kém, mỗinăm Liên Xô nhập khẩu từ 30 - 40 triệu tấn lương thực [74; 22].
Liên Xô trong suốt quá trình xây dựng CNXH, một cơ chế quản lý kinh
tế đã hình thành Đó là cơ chế kế hoạch hoá một cách cứng nhắc, bộ máyhành chính quan liêu, khuynh hướng bình quân chủ nghĩa Chính cơ chế đó nó
đã làm cản trở sự phát triển và tính tự chủ của các cơ sở sản xuất Từ sau năm
1970, số lượng chỉ tiêu kế hoạch phân bổ cho các xí nghiệp ngày càng tăng,những cơ sở sản xuất chỉ lo thực hiện các chỉ tiêu, không có điều kiện tự hạchtoán cũng như phát huy sáng kiến của cá nhân Cả đất nước không kịp thờixoay chuyển theo đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại
Xét một cách công bằng trong thời kỳ chiến tranh (1941- 1945) với cơchế quản lý đó đã góp phần giúp Liên Xô xây dựng thành công đất nước,giành thắng lợi trong việc chống chủ nghĩa phát xít Sau Chiến tranh thế giớithứ hai, cơ chế đó vẫn được duy trì nó giúp Liên Xô phục hồi sức lực củamình trong một thời gian dài và đạt được những thành tựu to lớn
Mặc dù đạt được những thành tựu như thế nhưng lúc hoàn cảnh thế giới
và trong nước có sự thay đổi, việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng đã làmảnh hưởng tới các ngành công nghiệp khác Thêm vào đó các hình thức quản
lý kỷ luật mang tính chất quân sự vẫn còn tồn tại trong lúc các động lực củađời sống kinh tế đã có sự thay đổi như kích thích người lao động bằng vậtchất, chất lượng lao động và đã đánh giá cao vị trí người lao động Cơ chếquan liêu mệnh lệnh đã được minh chứng thông qua sự kiện N.C Baibacốp đã
kể lại trong cuốn sách của mình như: trong công cuộc đấu tranh vì nhữngcông nghệ mới ở Liên Xô vào những năm 80, A.I.But một kỷ sư đã từng làmviệc ở Uỷ ban kỹ thuật nông nghiệp nhà nước Liên Xô đã phát minh ra
Trang 27phương pháp “ô dôn hoá” đó là chiếc máy phun khí ôdôn để diệt trùng bảo vệrau quả Với việc ứng dụng phương pháp này sẽ làm giảm đáng kể những tổnthất trong quá trình bảo quản rau quả nhưng bản thân ông A.I.But không chờđợi được đến khi phương pháp này được đưa ra áp dụng vào thực tiễn.
Một minh chứng tiếp theo cho cơ chế quan liêu đó là trường hợp củatiến sỹ I.A Hintơ, ông đã sáng chế ra máy nghiền công nghệ cao và đã đượcban giám định cấp quốc gia thừa nhận là có khả năng ứng dụng với hiệu quảkinh tế cao Thế nhưng những sáng chế đó đã không được Liên Xô áp dụng.Trước tình hình đó các nước phương Tây đã mua bằng phát minh và đã đíchthân mời ông đến để tổ chức sản xuất Biabacốp - người đã được chứng kiến
trực tiếp điều đó ông đã rất chua xót và kết luận rằng: “Trên khắp thế giới các
nhà quản lý kinh tế đều chạy theo các chuyên gia, còn ở nước ta thì các chuyên gia bị sưng trán vì va phải cánh cửa của những nhà quản lý kinh tế”
[2; 346] Thực tế trong nhiều năm qua nếu như cơ chế đó bảo đảm được mộtnhịp độ phát triển vững chắc, thì từ nay phải trả một giá rất đắt [10; 9]
Với những đặc điểm của sự phát triển ở Liên Xô trong những năm 70đầu những năm 80 đã chứng minh cho ta thấy về sự sụp đổ toàn bộ và hết sứcnặng nề của nền kinh tế Liên Xô
Trong những năm 70 đầu những năm 80, thu nhập quốc dân giảmxuống 2,5 lần, tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người chỉ bằng 37 % củaMỹ, sản xuất công nghiệp giảm 2,5 lần, nông nghiệp giảm 3,5 lần Từ năm
1980 đến năm 1985, Liên Xô đã không đạt được vị trí số một trên thế giớinhư đã từng tuyên bố vào năm 1961 là về sản phẩm tính theo đầu người sẽcao nhất thế giới [70; 449]
Mức tăng năng suất giảm 2 lần và đang có nguy cơ tiến về con số 0, cáckhoản chi phí như chi phí điện năng, nhiên liệu và kim loại cho một đơn vịthu nhập quốc dân cao hơn nước Mỹ từ 1,5 đến 2 lần [81; 9]
Trang 28Về tốc độ phát triển trong thời kỳ trước khi tiến hành công cuộc cải tổđang theo xu hướng chậm dần.
Nội dung 1961 - 65 1966- 70 1971- 75 1975-80 1981-1985
Thu nhập quốc dân 6,5 7,8 5,7 4,3 3,6 Công nghiệp 8,6 8,5 7,4 4,4 3,7 Nông nghiệp 2,3 3,8 2,3 1,7 1,4 Đầu tư 5,4 7,3 6,7 3,2 3,7
[2; 25]
Theo con số từ thống kê khác về thu nhập quốc dân của Liên Xô: 1966
1970 tăng 7,1%; 1971 1975 tăng 5,1%; 1975 1980 tăng 3,9%; 1981
-1985 tăng 2,6% [74; 9]
Dù cho con số có chênh lệch nhưng đều có biểu hiện chung: tốc độ pháttriển của Liên Xô tụt xuống tới mức gần như dừng lại và có biểu hiện “tiềnkhủng hoảng” Kế hoạch năm năm lần thứ XI không được hoàn thành Tronglịch sử đây là lần đầu tiên trong lịch sử kế hoạch 5 năm không được hoànthành Vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế bị thách thứcnghiêm trọng Nhật Bản, Tây Âu ngày càng lớn mạnh Năm 1986, tổng sảnphẩm xã hội của Mỹ là 3900 tỷ USD, Liên Xô là 1800 tỷ USD, Nhật Bản là
1700 tỷ USD Đầu 1988, quan chức Nhật chính thức công bố Nhật đã vượtLiên Xô, trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới [74; 9]
Như vậy, nền kinh tế Liên Xô có biểu hiện giảm sút nghiêm trọng,
nhận xét về tình trạng đất nước thời kỳ này, Rưscôp viết: “Tình hình đất
nước, tôi xin nhắc lại, đang làm tôi lo sợ, những năm cuối thời kỳ Brêgiơnhép
đã kể lại cho chúng tôi một di sản khủng khiếp, chỉ một ví dụ Năm 1982, mức tăng trưởng thu nhập thực tế của nhân dân - lần đầu tiên từ sau chiến tranh
Trang 29đã tụt xuống số không Phải dứt khoát không được trùng trình, làm ngay lập tức bằng những con đường nào, phương pháp nào đưa nền kinh tế quốc dân tiến về trước” [67; 51].
Trước tình hình đó yêu cầu cải tổ được đặt ra cấp thiết
1.2.2 Chính trị - xã hội
Như đã nêu trên, nền kinh tế Liên Xô đang ở giai đoạn “tiền khủnghoảng” trước tình hình đó về chính trị - xã hội của Liên Xô cũng không có gìkhả quan không có gì sáng sủa hơn
Vấn đề đầu tiên mà chúng ta rất dễ dàng nhận thấy đó là thời kỳ này uytín, vị trí của Đảng Cộng sản Liên Xô bị giảm sút trên trường quốc tế Bêncạnh đó trong nội bộ Đảng lại không rõ ràng mà lại có sự lẫn lộn về lãnh đạogiữa quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản và quyền lãnh đạo của Chính phủ, từ
đó đã dẫn tới khuynh hướng Đảng trị Hơn nữa trong vấn đề lãnh đạo thì cáccán bộ giữ vai trò lãnh đạo Không phải lúc nào cũng từ bỏ được những đặcquyền, đặc lợi của mình từ đó sẽ làm giảm sút lòng tin của nhân dân
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cũng đã dần dần bị suy yếu Hầu hếtcác sáng kiến của các cán bộ trong Đảng lại dần mất đi, hầu hết tất cả mọingười đều thấy được rằng trong quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản đãbiểu hiện rõ sự trì trệ Cũng chính do sự trì trệ này đến một giai đoạn nào đókhông xa nó sẽ làm suy yếu khả năng làm việc của Bộ Chính trị, của Ban Bíthư Trung ương Đảng, thậm chí của cả toàn thể bộ máy Đảng và Nhà nướcLiên Xô Tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm của các cán bộ Đảng viên đãbiểu hiện của sự đi xuống Trong nội bộ Đảng Cộng sản thì các cán bộ đãthực hiện những biện pháp và tiến hành những cuộc vận động phô trương đểtìm mọi cách che dấu tình trạng trên như mở ra nhiều cuộc hội hè ở cả trungương xuống địa phương
Ở địa phương, nhiều tổ chức Đảng đã không cương quyết chống cáchiện tượng tiêu cực lại có lối bao che tuỳ tiện và tình trạng ý thức kỷ luật
Trang 30kém diễn ra khá phổ biến Nhiều nguyên tắc bình đẳng giữa các Đảng viên
bị vi phạm, nhiều cán bộ Đảng viên giữ các chức vụ lãnh đạo Đảng và Nhànước đã đặt mình ra ngoài sự kiểm soát và không hề chú ý gì đến sự phêbình góp ý của nhân dân Chính Métvêđép, người đã từng làm Uỷ viên của
Bộ Chính trị, Uỷ Ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, uỷ viên hội đồng
Tổng thống Liên Xô, ông đã đánh giá rằng: “Trên thực tế, các nhà lãnh đạo
hoàn toàn không bị kiểm tra từ dưới lên - không chỉ từ nhân dân, mà cả từ các tổ chức Đảng Tuy về phương diện hình thức họ được bầu ở các hội nghị và hội nghị toàn thể Ban chấp hành các cấp, thủ tục này bị cắt xén đến mức trên thực tế nó đảm bảo việc bầu bán theo mỗi điều kiện miễn là được cấp trên tán thành” [50;15].
Bên cạnh đó, tình trạng xuống dốc của một số bộ phận Đảng viên còn
được chính Goocbachốp thừa nhận rằng: “Trong một số khâu lãnh đạo nảy
sinh thái độ coi thường pháp luật, dung dưỡng cho nhiều việc làm dối trá, hối
lộ, lấy lòng, nịnh hót Hành vi của những cán bộ sau khi được tín nhiệm và được giao quyền hành đã lợi dụng quyền lực trấn áp, kiếm chác, làm giàu, gây nên sự phẫn nộ chính đáng của người lao động” [27; 31].
Như vậy, chúng ta xem xét trong toàn bộ hoạt động thực tiễn, các tổchức Đảng và Nhà nước Liên Xô lúc bấy giờ đã hoàn toàn lạc hậu so với yêucầu của thời điểm thực tại Chính vì thế cần có những đổi mới trong nội bộĐảng để lấy lại uy tín trong lòng nhân dân, từ đó đưa đất nước Liên Xô vữngbước đi lên trên con đường CNXH
Hơn thế nữa trong đời sống chính trị của Liên Xô lúc bấy giờ là tìnhtrạng lên “cơn sốt” bởi vì sự thay đổi thường xuyên trong giới những nhà lãnhđạo cấp cao Vào tháng 1- 1982, Xuxlốp - nhà tư tưởng chủ yếu của đất nướcLiên Xô qua đời Đến tháng 11- 1982, Brêgiơnhép qua đời, tiếp đó vào tháng2- 1984 Anđrôpốp lại qua đời Cũng từ đó nhân dân Liên Xô cảm thấy thực
sự chán ghét với các hình ảnh: “Những nhà lãnh đạo già nua, ốm yếu, tính
Trang 31hiếu danh và thích những lời tâng bốc, sự ban phát huân chương một cách hào phóng và tự khen thưởng - tất cả đã tạo nên tâm lý nặng nề, khó chịu Trong đất nước hình thành nên sự cai trị của giới quan chức già nua, bám lấy chiếc ghế quyền lực” [50; 14].
Brêgiơnhép với hình ảnh về một con người đã nâng cao mức sống chonhân dân và đóng góp to lớn cho hoà bình nhưng gần đến cuối đời hoạt độngchính trị của mình do đã vượt qua lứa tuổi minh mẫn, ông đã trở thành đốitượng hài hước và bị chế nhạo Sau khi Brêgiơnhép qua đời thì Iu.Anđrôpốplên thay, khi lên thay ông đã nhận thấy được thực trạng xã hội lúc bấy giờđang trong tình trạng hết sức trì trệ và ông nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới
đất nước Ông thấy rằng: “Công việc của chúng ta đang chết dí tại chỗ.
Người ta đã tranh cãi nhau quá nhiều và đã đến lúc phải bắt tay vào giải quyết cụ thể các vấn đề”.
Chính Anđrôpốp đã cố gắng đưa ra những chính sách gần gũi với nhândân, thế nhưng với những biện pháp mà ông đưa ra chỉ giúp xã hội yên ắngtrong một thời gian, sau đó Anđrôpốp lại có những sai lầm Ông chú ý đếnchủ nghĩa hình thức, công việc đổi mới đất nước đang tiến hành dang dở thì bịbệnh tật dày vò và vào tháng 1 năm 1984, ông đã qua đời
Sau khi Iu.Anđrôpốp qua đời, Trécnencô nối tiếp lãnh đạo Đảng vàNhà nước Liên Xô đã tiếp tục công cuộc cải cách của Anđrôpốp Ông nói:
“Ta tiếp tục thúc đẩy bằng cố gắng tập thể sự nghiệp được bắt đầu dưới sự
lãnh đạo của Anđrôpốp” Ông cũng khẳng định một cách dứt khoát “thay đổi
cơ chế kinh tế đòi hỏi người ta phải tiến công vào những vấn đề đáng lẽ ra phải giải quyết từ trước”
Đến năm 1984, mức tăng trưởng của nền kinh tế Liên Xô chậm lại
“Bệnh tật đã làm Trécnencô xa rời dần cuộc sống công cộng trong lúc đất nước phải đương đầu trên lĩnh vực quốc tế cũng như nội trị và hàng ngàn đòi
Trang 32hỏi mới, Mátxcơva lúc bấy giờ dường như đang sống trong thời kỳ chờ đợi Những cuộc họp thông báo bị hoãn lại, các sáng kiến được dự định cũng tạm đình lại” [26; 44].
Như vậy, một lần nữa ở Liên Xô lại mất đi nhà lãnh đạo tối cao của đấtnước Trước tình hình đó quần chúng nhân dân đã cảm thấy nghi ngờ chánchường và mất lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng
Bên cạnh những biến đổi của tình hình chính trị thì trong xã hội lúc nàycũng không được khả quan, đời sống của người dân không được cải thiện, cácbiểu hiện tiêu cực và các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Tính tích cựcnăng nỗ của công dân bị giảm sút, sự thờ ơ trong tâm lý mỗi người dân tănglên, tâm lý nặng nề, ngột ngạt và không thoã mãn trong xã hội cứ lan tràn
Một ví dụ điển hình cho đời sống nhân dân chậm được cải thiện đó là
sự thiếu thốn về lương thực hay là sự khan hiếm về hàng hoá được thể hiện
trong cuốn “Ê kíp Goocbachốp, nhìn từ bên trong”của Métvêđép: “Hàng năm
người ta phải phấn đấu giành giật lấy mùa màng song tình hình thị trường lương thực không được cải thiện là bao Mọi người đã phải chịu đựng vài thập kỷ những cảnh quầy hàng trống rỗng, xếp hàng dài, sản xuất hàng tiêu dùng, lĩnh vực dịch vụ nghỉ ngơi, giải trí ở tình trạng nghèo nàn” [50; 13].
Đời sống của nông dân ngày càng thiếu thốn, khổ cực họ không thểmua nhà để ở vì xã hội không quan tâm đến sản xuất Nền kinh tế trì trệ
“Người nông dân cái gì cũng thiếu tiền tệ người nông dân làm ra không
thể mua hoặc xây nhà vì không đủ vật liệu xây dựng, nông dân không có khả năng mua tủ lạnh vì anh ta buộc phải bán lúa mì, thịt và các loại nông phẩm khác dù biết là lỗ vốn bởi vì chính sách giá cả nó như vậy” [54; 37].
Bên cạnh đó trong bộ máy chính quyền cũng như trong xã hội biểuhiện tình trạng quan liêu, độc đoán Theo lời của A Xakharôp trong cuốn
“Không có con đường nào khác” đã nhận xét như sau: “Tệ nạn quan liêu
Trang 33hoàn toàn không vụ lợi Nấp dưới lời lẽ hoa văn, nó chà đạp lên công bằng
xã hội trong mọi lĩnh vực đời sống vật chất như vấn đề nhà ở, chất lượng bảo vệ sức khoẻ, giáo dục, tiền lương đặc biệt hạ thấp trong những ngành nghề đại chúng nhất Tiền hưu của phần lớn những người hưu trí ít ỏi một cách đáng xấu hổ” [1; 63].
Những bệnh tệ nạn quan liêu, tham nhũng đã làm cho xã hội suy đồi,nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Liên Xô Chính
đó cũng là điều kiện tốt để các thế lực thù địch có cơ hội chống phá Chính
bản than một học giả Phương Tây đã thừa nhận “Phương Tây sẽ có ít lợi hơn
nếu như nền kinh tế Xô Viết có hiệu quả Thà rằng nền kinh tế đó cứ ngắc ngoải dưới sức nặng của những vấn đề quan liêu” [52; 13].
Như vậy tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Liên Xô trong cuốinhững năm 70 đầu những năm 80 có biểu hiện của sư trì trệ, thụt lùi, xuốngdốc nếu các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô không có những chínhsách, biện pháp phù hợp để làm thay đổi tình hình thì sẻ đưa đất nước Liên
Xô lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về mọi mặt
Tóm lại: Tình hình trong nước và thế giới như thế đã đặt ra cho Liên
Xô trước những khó khăn thách thức buộc Liên Xô phải lựa chọn một tronghai con đường: Một là tiến hành công cuộc cải tổ để đưa đất nước thoát khỏitình trạng khủng hoảng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế đi lên Hai là vẫn giữnguyên hiện trạng đất nước
1.3 Quá trình hình thành chủ trương cải tổ
1.3.1 Chủ trương chung
Xuất phát từ tình hình thực tiễn đất nước, các nhà lãnh đạo Liên Xô bắt
tay vào công cuộc đổi mới đất nước “Mục tiêu của công cuộc cải tổ là khôi
phục hoàn toàn về lý luận và thực tiễn quan niệm của Lê nin về CNXH, trong
đó người lao động với tư tưởng và quyền lợi của anh ta cùng với những giá
Trang 34trị nhân đạo trong nền kinh tế trong quan hệ xã hội và chính trị, trong văn hoá được đặt lên hàng đầu một cách không thể chối cãi nổi” [29;56].
Sau đó M.Goocbachốp đã xác định: Chủ trương của cuộc cải tổ đã rõràng đó là sự đổi mới sâu sắc tất cả các mặt sinh hoạt của đất nước, đem lạicho CNXH những hình thức nhân đạo của chế độ chúng ta trong tất cả mọikhía cạnh quyết định của nó kinh tế, chính trị- xã hôi và đạo đức
Để thực hiện công cuộc cải tổ, Goocbachốp đã xác định nhiệm vụ của
cuộc cải tổ là để nhằm “Chấm dứt tình trạng cứng nhắc của đất nước chấm
dứt tình trạng cứng nhắc cuả khoa học kỹ thuật và tạo cho nó địa bàn hoạt động rộng rãi vĩnh viễn khắc phục hậu quả của thứ độc quyền về lý luận phát triển của xã hội” Cải tổ cũng phải “phá vỡ một cách kiên quyết và mạnh mẽ những trở ngại đã hình thành đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, những trật tự lỗi thời trong quản lý kinh tế, những khuôn sáo giáo điều trong tư duy” [27;79].
Công cuộc cải tổ của Liên Xô xuất phát từ tư tưởng cách mạng củaV.Lênin, những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã tìm tới tác phẩm
của Lênin và họ coi đây là cái nguồn “không cạn của chủ nghĩa biện chứng sáng
tạo, của sự phong phú về lý luận và của sự sáng suốt về chính trị” [27;35].
Goocbachốp nhìn nhận một cách tích cực về những lý luận của V.Lênin,
ông cho rằng “Chúng ta đang học ở Lênin cách tiếp cận lý luận và thực tiễn
xây dựng CNXH một cách sáng tạo, lấy phương pháp luận khoa học của người làm vũ khí, nắm chắc nghệ thuật phân tích cụ thể tình hình” [27;68].
Goocbachốp cũng khẳng định rằng “Đưa công cuộc cải tổ tiến lên
chúng ta đã và đang thường xuyên trở lại các tác phẩm của Lênin đặc biệt tôi xin nhắc lại những tác phẩm cuối cùng của người” [27;68]
Qua đó ta thấy rằng, Goocbachốp rất chú ý quan tâm đến những vấn đề,những tác phẩm cuối cùng của Người vì tính tích cực của chủ nghĩa Mác-
Trang 35Lênin “Chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là học thuyết sáng tạo không phải
là một tập đơn thuốc kê sẵn và một tập chỉ thị có tính chất giáo điều Trái ngược với chủ nghĩa giáo điều hẹp hòi, chủ ngĩa Mác- Lênin bảo đảm sự tác động lẫn nhau tích cực giữa tư tưởng lý luận đổi mới với thực tiễn, với bản thân tiến trình đấu tranh cách mạng” [29;16].
Cũng qua một quá trình lâu dài tìm hiểu trở lại với chủ nghĩa
Mác-Lênin, Goocbachốp cũng đã có những nhận xét hết sức quan trọng: “Các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin trong di sản của các ông đã để lại cho chúng ta những đặc trưng cơ bản chủ yếu của chủ nghĩa xã hội Các ông không rơi vào chỗ chi tiết hoá, không tìm cách vẽ ra một bức tranh chi tiết về CNXH Các ông đã nói những giai đoạn có thể nhìn thấy được về mặt lý luận Còn chỉ ra giai đoạn hiện nay phải như thế nào thì đó là nhiệm vụ của chúng
ta Chúng ta đang phải trải qua cả về mặt thực tiễn giai đoạn ấy mà không gạt sang một bên những vấn đề phức tạp Điều mà các nhà kinh điển dạy chúng ta không phải là phương pháp thực tiễn mà là phương pháp luận” [27;68].
Chính cũng xuất phát từ tư tưởng cách mạng của Lênin Goocbachốp đã
đề ra đường lối cải tổ, ông nói: “Cải tổ là một quá trình cách mạng, bởi vì đó
là bước nhảy vọt trong sự phát triển của CNXH, trong việc thực hiện những đặc trưng bản chất của nó Ngay từ đầu chúng ta đã nhận thức được rằng: Không có thời gian để giao động Điều rất quan trọng là không được “ngồi lì”ở nơi xuất phát, khắc phục sự lạc hậu, bứt ra khỏi vũng lầy của tính bảo thủ, phá vỡ sức ỳ của sự trì trệ Không thể làm việc đó bằng con đường tiến hoá, bằng những cải cách chậm như rùa” [27;78].
Như vậy Theo Goocbachôp, cải tổ là:
- Khắc phục một cách kiên quyết những quá trình trì trệ, phá vỡ cơ chếkìm hãm, sáng tạo cơ chế đáng tin cậy và có hiệu quả để đẩy nhanh sự pháttriển kinh tế - xã hội, đem lại cho sự phát triển ấy tính năng động cao
Trang 36- Phát triển theo chiều sâu một cách toàn diện nền kinh tế Xô viết, khôiphục và phát triển những nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tếquốc dân, áp dụng những phương pháp kinh tế của người quản lý ở tất cả mọinơi, từ bỏ lối mệnh lệnh và hành chính, khuyến khích bằng mọi cách sự đổimới và năng lực kinh doanh XHCN.
- Chuyển một cách kiên quyết theo hướng khoa học biết đặt mọi sángkiến trên cơ sở vững chắc Đó là kết hợp những thành tựu của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật với nền kinh tế có kế hoạch
- Phát triển ưu tiên lĩnh vực xã hội nhằm thoả mãn ngày càng đầy đủhơn nhu cầu của nhân dân Xô viết về lao động, sinh hoạt nghỉ ngơi, giáo dục
và phục vụ y tế Đó là sự chăm lo thường xuyên, sự phong phú về tinh thần,văn hoá của mỗi con người và của toàn xã hội Xô viết
- Dựa vào sự sáng tạo sinh động của quần chúng nhân dân, đó là sựphát triển toàn diện về nền dân chủ, là sự khuyến khích tính sáng kiến, tínhchủ động, tăng cường kỷ luật và trật tự, mở rộng tính công khai dân chủ, có ýthức phê bình và tự phê bình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó
là sự tôn trọng được nâng cao đối với giá trị phẩm giá của con người
- Kiên quyết tránh cho xã hội khỏi sự xuyên tạc đạo đức của CNXH,thực hiện nhất quán những nguyên tắc về công bằng xã hội Đó là sự thốngnhất giữa lời nói và việc làm, về quyền lợi và nghĩa vụ Đó là đề cao lao độngtrung thực, có chất lượng cao, khắc phục khuynh hướng bình quân chủ nghĩatrong trả công lao động chạy theo tiêu dùng [27; 49,50,51]
Thông qua những luận điểm nêu trên chúng ta thấy rằng: Xuất phát từquan điểm đường lối cải tổ ở Liên Xô từ năm 1985 đến năm 1991 là chủ nghĩaMác - Lênin Nó phản ánh sự cần thiết, đúng đắn, biện chứng của lịch sử
Khi phân tích đường lối chung của cuộc cải tổ chúng ta đã thấy sựkhách quan và đúng đắn Nó xuất phát từ hiện thực khách quan lại mang tư
Trang 37tưởng duy vật biện chứng của Lênin Cải tổ đáp ứng cơ bản lợi ích của nhândân Liên Xô, nó có tác dụng nhằm thúc đẩy xã hội tiến lên Chính vì thế tưtưởng cải tổ nhận được sự đồng tình ủng hộ của đại đa số các cán bộ đảngviên và của tất cả các tầng lớp nhân dân.
Công cuộc cải tổ kinh tế được Goocbachốp coi là một trong hai nhiệm
vụ cơ bản quyết định vận mệnh của công cuộc cải tổ Điều này đã được thểhiện trong báo cáo của Hội nghị toàn thể Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản
Liên Xô tháng 8/1985: “Sử dụng rộng rãi các thành tựu của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật, làm cho hình thức kinh doanh XHCN phù hợp với nhu cầu
và điều kiện hiện tại, chúng ta cần phải đạt được một sự tăng tốc đáng kể tiến
bộ kinh tế xã hội Không có con đường nào khác”.
Trong bản báo cáo còn nêu một loạt các biện pháp để tăng tốc pháttriển nền kinh tế Cho đến đại hội lần thứ XXVII của Đảng Cộng sản Liên Xôtháng 3 / 1986, chính sách cải tổ kinh tế đã được cụ thể hoá và được chínhthức thông qua Trong đại hội XXVII, vấn đề xây dựng và cải cách kinh tế làvấn đề thảo luận trọng tâm
Đại hội đã xác định chiến lược phát triển tăng tốc kinh tế, nêu lênnhững tư tưởng và biện pháp cải cách quản lý kinh tế Chiến lược tăng tốc làmột trong những đặc điểm quan trọng nhất của kỳ đại hội Vậy chúng ta phảicần hiểu thế nào là chiến lược tăng tốc
Liên Xô đã từng là một nước có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Trong những năm từ 1960 đến năm 1985,
Trang 38vốn cố định trong nền kinh tế quốc dân tăng 7 lần, thu nhập quốc dân tănggần 4 lần, sản phẩm công nghiệp tăng lên 5 lần, năng suất lao động tăng lên 3lần, quỹ tiêu dùng xã hội tằng lên gấp 5 lần [14;16].
Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao như vậy trong một thời gian nhưng đếnnhững năm 70, 80, tốc độ phát triển kinh tế của Liên Xô chậm lại Năm 1982nhịp độ phát triển kinh tế giảm đến mức báo động: Tổng sản phẩm xã hộigiảm khoảng 3,3 %, năng suất lao động giảm khoảng 2,9%
Việc giảm nhịp độ phát triển kinh tế tất nhiên sẽ giảm đi các khả năngthực hiện các chương trình xã hội ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớpnhân dân, làm giảm vị trí của Liên Xô trên trường quốc tế Chính vì vậy muốnkhắc phục tình trạng này không có con đường nào khác Liên Xô buộc phải tăngtốc Tăng tốc đó là đặc tính khách quan của CNXH mà xã hội đó như
Goocbachốp đã chỉ ra trong bài trả lời tạp chí Revolution Afican: “Về bản chất
của mình nó có khả năng thường xuyên đổi mới, thường xuyên hoàn thiện”.
Chiến lược phát triển tăng tốc có vai trò quan trọng, sự cần thiết phảităng tốc, tiến bộ kinh tế xã hội của đất nước đã trở thành những nhu cầu đểđảm bảo tính độc lập hoàn toàn về kỹ thuật và quy trình công nghệ đối vớicác nước tư bản chủ nghĩa Chiến lược tăng tốc còn giúp Liên Xô cũng nhưcác nước XHCN cũng cố sức mạnh phòng thủ Do vậy việc tăng tốc phát triểnkinh tế là một nhu cầu cấp thiết và tất yếu của xã hội Xô viết lúc này
Ngay từ thời Khơrupsốp, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng đã đưa ra đườnglối phát triển kinh tế với tốc độ cao nhưng không đạt kết quả Thời kỳBrêgiơnhép cầm quyền, trong nhiều kỳ đại hội Đảng đã nêu lên vấn đề này,
lúc thì “Sự phát triển to lớn” và “Tốc độ cao ổn định”, lúc thì “Rất nhanh
chóng”, “Phát triển theo tỷ lệ”, lúc thì phát triển “Ổn định nhưng tiến nhanh lên phía trước” tất cả những biện pháp có thể được đưa ra nhưng đều không
cứu vãn được xu thế tốc độ của sản xuất bị giảm Khi Anđrôpốp được bầu làm
Trang 39Tổng bí thư, ông đã ra sức xoay chuyển tình hình kinh tế của Liên Xô nhưngmới có hiệu quả bước đầu Khi Goocbachốp lên cầm quyền tiếp tục cách làm
của Anđrôpốp đặt trọng điểm vào nhiệm vụ chiến lược “phát triển tăng tốc”
kinh tế Liên Xô
Sự tăng tốc theo Goocbachốp trước hết đó là “sự nâng cao nhịp độ
phát triển kinh tế Nhưng không phải chỉ có vậy Thực chất của nó là ở sự phát triển mới về chất: Phát triển sản xuất theo chiều sâu về mọi mặt trên cơ
sở của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tổ cơ chế của nền kinh tế thực hiện những hình thức quản lý có hiệu quả, tổ chức và khuyến khích lao động”.
Không chỉ quan niệm của Goocbachốp mà theo một quan niệm khác,tăng tốc về bản chất là nâng cao nhịp độ phát triển kinh tế với chất lượng mớicủa nó, chuyển toàn bộ nền kinh tế sang việc tổ chức cao và có hiệu quả vớinhững lực lượng sản suất phát triển và với những quan hệ sản xuất XHCN đãchín muồi với một cơ chế quản lý năng động
Lại theo một quan niệm khác của viện sỹ A.G.Agabieghan ở Liên Xô
khi trả lời phỏng vấn ông cho rằng: “Không nên hiểu quan điểm tăng tốc một
cách máy móc, chỉ về số lượng, khởi đầu là tốc độ sau đó là phụ thêm vào từng đơn vị thời gian ” cũng không phải là sự “mở rộng quy mô tăng số lượng sản phẩm, Khai thác đá nhiều hơn, dầu nhiều hơn” Mà tăng tốc là
“Đưa nền kinh tế của chúng ta lên con đường phát triển theo chiều sâu ” phải “tăng năng suất, tiết kiệm nguyên vật liệu, chất đốt nhiều hơn, phải tăng
tốc độ hoàn vốn lên 3 lần” [84; 26,27].
Qua đó chúng ta thấy rằng, tăng tốc là tăng tốc độ phát triển và tốc độphát triển trên cơ sở của sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và tăng năng suấtlao động
Tại Đại hội VII nêu mục tiêu chiến lược “Phát triển tăng tốc”đến cuối
thế kỷ này cần phải tăng thu nhập quốc dân lên 2 lần trong khi tăng tiềm lực
Trang 40sản xuất lên từ 2,3 đến 2,5 lần, mức tiêu hao năng lượng của thu nhập quốcdân hạ xuống 1,4 lần và mức tiêu hao kim loại giảm xuống gấp 2 lần Đó sẽ làmột bước ngoặt mạnh mẽ tiến tới phát triển sản xuất theo chiều sâu, nâng caochất lượng và hiệu quả [7;37].
+ Giai đoạn 2:
Trong giai đoạn một của công cuộc cải tổ đã trôi qua dù có nhữngchuyển biến nhỏ nhưng vẫn không mang lại kết quả như những người laođộng hằng mong muốn Như vậy, mục đích tăng tốc trong một thời gian ngắn
đã không đạt được cũng từ đó một chính sách mới được hình thành đó làchính sách cải tổ
Chính sách cải tổ bắt đầu được thực hiện vào giữa năm 1987 Tăng tốckhông bị loại bỏ mà trở thành mục đích đạt tới, còn cải tổ được xem nhưphương tiện để đạt được mục đích đó Trong những năm 1987 và năm 1988,cải tổ được thực hiện với những cải cách tiến bộ và lan rộng ra trên nhiềulĩnh vực
Từ ngày 25 đến ngày 26/6/1987 của Hội nghị toàn thể Uỷ ban Trung
ương Đảng Cộng sản Liên Xô họp đã thông qua nghị quyết “Những nguyên
tắc cơ bản trong cải cách quản lý kinh tế”và “Những nhiệm vụ của Đảng trong việc cải tổ căn bản công tác quản lý kinh tế”.
Tiếp theo từ ngày 29 đến ngày 30 / 6 /1987, đoàn chủ tịch tối cao Xô
viết đã họp và thông qua “Luật xí nghiệp quốc doanh” Hội nghị này có tầm
quan trọng đặc biệt bởi vì nó thông qua chương trình cải cách căn bản công
tác quản lý kinh tế, tạo ra “đòn bẩy mạnh mẽ và có hiệu quả cho việc đẩy
nhanh cải tổ” Nó có ý nghĩa chính trị to lớn ở chỗ “Nó đưa ra những tư tưởng cải tổ vào lĩnh vực thực tiễn” [30; 165,167].
Hội nghị đã xác định “Thực chất căn bản của cải cách quản lý kinh tế
nhà nước là chuyển từ các phương pháp hành chính là chủ yếu sang các