Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinhNGUYỄN NGỌC ANH CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN TINH TUYỂN 60 NĂM BÁO VĂN NGHỆ 1.1... Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung và T
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
NGUYỄN NGỌC ANH
CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN TINH
TUYỂN 60 NĂM BÁO VĂN NGHỆ
1.1 Truyợ̀n ngắn là mụ̣t trong những thờ̉ loại phát triờ̉n mạnh của văn
học Viợ̀t Nam hiợ̀n đại, đặc biợ̀t là ở nửa sau thờ́ kỷ XX Đã có hàng trăm tọ̃p
Trang 2truyện ngắn của nhiều tác giả do nhiều nhà xuất bản ấn hành… Riêng truyện
ngắn được đăng tải trên tờ báo Văn nghệ suốt hơn nửa thế kỷ qua cũng có thể
cho ta thấy những nét chính của diện mạo và thành tựu của truyện ngắn Việt
Nam hiện đại, thời kỳ từ 1945 đến nay Nhân kỷ niệm 60 năm báo Văn nghệ (1948 – 2008), Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Truyện ngắn tinh tuyển
60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008) Bộ truyện ngắn tinh tuyển này không
chỉ cho thấy hành trình hơn nửa thế kỷ của một tờ báo văn học – nghệ thuật,mà còn cho thấy hành trình của một thể loại rất năng động của văn xuôi tự sự
Việt Nam hiện đại, từ sau 1945 Có thể xem Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm
báo Văn nghệ (1948 - 2008) là một thành tựu rất đáng kể của thể loại truyện
ngắn nói riêng, văn học Việt Nam hiện đại nói chung Bộ truyện ngắn tinhtuyển cho thấy nhiều vấn đề cần được tìm hiểu, nghiên cứu
1.2 Lần theo hành trình của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn
nghệ (1948 - 2008), có thể thấy được dấu ấn của thời đại, dấu ấn của Cách
mạng, dấu ấn của hiện thực Việt Nam, dấu ấn của quan niệm nghệ thuật vềcon người Việt Nam qua từng chặng đường, từ sau Cách mạng tháng Tám đến
nay Một trong những vấn đề rất cơ bản của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm
báo Văn nghệ (1948 -2008) là vấn đề nhận thức và phản ánh con người thời
đại Con người trong Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948
-2008) thực sự là một vấn đề hết sức thú vị Tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này
không chỉ để thấy được hình tượng con người Việt Nam suốt cả một quá trìnhdài trong lao động, sản xuất, chiến đấu, trong cả cuộc sống đời thường, đời tưvới bao nỗi buồn vui, hạnh phúc và khổ đau, thành công và thất bại… Có thểnói giá trị nhận thức, phản ánh và tương ứng với nó là giá trị nghệ thuật củabộ tinh tuyển truyện ngắn là hết sức lớn lao (tuy nhiên các truyện ngắn trongbộ tinh tuyển này vẫn không tránh khỏi những hạn chế ở mặt này, mặt khác)
…
Trang 31.3 Một số tác phẩm trong Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn
nghệ (1948 - 2008) đã từng được chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ văn
ở trường phổ thông (Đôi mắt của Nam Cao, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương, Bông Cẩm Thạch của Nguyễn Sáng, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn
Thành Long, v.v Tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này có nghĩa giúp ích, phục
vụ cho công tác dạy - học Ngữ văn ở trường phổ thông (những tác phẩm liên
quan đến Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008) nói
riêng, truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung) được tốt hơn, trước hết làcho tác giả luận văn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung và Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ nói riêng
2.1.1 Về truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung
Truyện ngắn Việt Nam từ sau 1945 đến nay, chiếm một khối lượng tácgiả, tác phẩm đồ sộ, đa dạng và phong phú Đã có nhiều công trình nghiêncứu, đánh giá, nhận xét về thể loại truyện ngắn qua từng thời kỳ, từng giaiđoạn lịch sử Trước hết phải kể đến các công trình là giáo trình lịch sử văn
học, tiêu biểu như Văn học Việt Nam 1945- 1975 các tác giả Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội; Văn học Việt Nam thế kỷ XX (do Phan Cự Đệ chủ biên), Văn học trên hành trình của thế kỷ XX của Phong Lê, v.v… đặc
biệt đáng kể nhất là một số chuyên luận về thể loại truyện ngắn
Bùi Việt Thắng là người luôn theo sát sự vận động của truyện ngắn ViệtNam hiện đại Tác giả đã có nhiều công trình bàn về thể loại truyện ngắn như:
Bình luận truyện ngắn (Nxb Văn học, 1999), Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000), Một bước
đi của truyện ngắn (Nxb Văn học, 2000), …Ngoài ra, trên các báo, tạp chí
chuyên ngành cũng có nhiều bài viết của ông về thể loaị này Trong cuốn Một
Trang 4bước đi của truyện ngắn, Bùi Việt Thắng đã nói đến sự phong phú về tác
phẩm và tác giả trong sự kế tục của các thế hệ, cũng như phát hiện nhữngkhuynh hướng mang phong cách cổ điển, phong cách trữ tình, phong cáchhiện thực
Trong bài viết “sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học
thời kỳ đổi mới” (Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 2/2002), tác giả Lý Hoài
Thu cho rằng: “trong nhịp độ của đời sống công nghiệp hiện đại, dưới sức épcủa phương tiện nghe nhìn, truyện ngắn đã phát huy đựơc ưu thế của mìnhmột cách hiệu quả” [67]
Hay ở bài “khả năng của truyện ngắn trong việc thể hiện con người”
(Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5/2006), Vũ Thị Tố Nga đánh giá: “có thể
nói, chưa bao giờ trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng, conngười lại được khai thác ở nhiều chiều kích và bình diện đến vậy Tiếp cậnvới thế giới nhân vật trong các sáng tác, người đọc như được tiếp xúc vớinhững con người thực ở ngoài đời, cũng sinh động, phong phú và không kémphần phức tạp Với ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, truyện ngắn góp phần làm cânbằng hài hoà trở lại cách nhìn nhận con người về mặt cộng đồng tập thể củagiai đoạn văn học trước” [45]
Với bài “ Những thành tựu đạt được của truyện ngắn sau 1975” (Tạp
chí Văn học, số 9 - 1996), tác giả Bích Thu nhận định: “sự phát triển của
truyện ngắn từ 1975 đến nay là một hiện tượng mang tính tất yếu, không chỉbởi sự phát triển nội tại của bản thân thể loại mà còn do sự tác động củanhững đổi mới về mọi phương diện của môi trường sáng tạo mới, của sự giaolưu rộng rãi với văn hoá thế giới” [66] Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến sựcách tân về phương diện chủ đề, kết cấu, tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệthuật về con người và ngôn ngữ trần thuật,…của truyện ngắn sau 1975
Trang 5Bên cạnh các công trình nghiên cứu, bài viết trên các báo và tạp tríchuyên ngành, thể loại truyện ngắn còn là đối tượng nghiên cứu của nhiềukhoá luận Tốt nghiệp đại học, luận văn Thạc sĩ, lụân án Tiến sĩ như: Lê Thị
Hường với đề tài Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai
đoạn 1975- 1995 (luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hà
Nội, 1995), Nguyễn Thị Kim Hoa với Con người cá nhân trong truyện ngắn
Việt Nam sau 1975 (luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2007), Trương Thị Chính
với đề tài Cảm hứng phê phán trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000 (luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2008), Trần Thị Hương Sen với đề tài Dấu
ấn thời đại qua Truyện ngắn tinh tuyển báo Văn nghệ 1948 - 2008 (luận văn
Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2010), v.v…
2.1.2 Về bộ Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 –
2008)
Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ là một tập hợp tuyển chọn
truyện ngắn được đăng tải trên báo Văn nghệ từ 1948 đến 2008 do Nxb Hội
Nhà văn ấn hành Những người sưu tầm và tuyển chọn cho biết: “Nhân kỷniệm tờ báo tròn 60 tuổi (1948 - 2008), chúng tôi muốn ghi lại đây mốc sontrong quá trình phát triển của nó bằng cách bước đầu giới thiệu rộng rãi cùng
bạn đọc một bộ tinh tuyển truyện ngắn từng đăng tải trên Văn nghệ thuộc
nhiều thời kỳ khác nhau Sở dĩ chọn thể loại truyện ngắn – mà chưa phải làthơ hay bút ký, phóng sự… vì đây là thể loại sớm được khẳng định trên báo,được nhiều nhà văn sử dụng, nó cũng là cánh cửa vào đời văn của nhiều thếhệ cầm bút” [52, tr.5- 6]
Do tập truyện ngắn tinh tuyển này mới xuất hiện nên việc tìm hiểu,nghiên cứu về nó còn quá ít ỏi Ngoài lời giới thiệu của nhóm sưu tầm vàtuyển chọn, mới chỉ thấy một công trình là luận văn Thạc sĩ bàn về nó ởphương diện phản ánh thời đại (luận văn của Trần Thị Hương Sen với đề tài
Trang 6Dấu ấn thời đại qua Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 –
2008), Đại học Vinh, 2010)
Trong lời giới thiệu, nhóm sưu tầm và biên soạn viết: “Phải nói rằng, bút
pháp và phong cách truyện ngắn của các tác giả trên Văn nghệ ngày càng đa
dạng, thể hiện trách nhiệm tìm tòi sáng tạo của các nhà văn và góp phầnkhẳng định vị trí của thể loại truyện ngắn trong nền văn học nước nhà, bêncạnh nhà thơ và các thể loại khác Từ khi nước nhà thống nhất, đặc biệt là từĐổi mới, một lớp nhà văn trẻ xuất hiện (Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh,Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Hồ Anh Thái…), đã đưa thể loại truyệnngắn lên một tầm mới Nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu,
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập… khi xuất hiện trên Văn nghệ đã
được người đọc đón nhận nồng nhiệt, nhiều lúc gây tranh cãi sôi nổi tronggiới phê bình và người đọc… Có thể khẳng định rằng, trong một phạm vi nhất
định, những thành tựu về sáng tác, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn trên Văn
nghệ cũng chính là phản ánh sự phát triển và thành tựu của nền văn học nước
ta hơn nửa thế kỷ qua”[52, tr.8] Tác giả luận văn Dấu ấn thời đại qua Truyện
ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 – 2008) cũng đã tìm hiểu, nghiên
cứu sự nhận thức và phản ánh thời đại của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm
báo Văn nghệ (1948 - 2008) một cách khá công phu…
2.2 Vấn đề con người trong Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn
nghệ (1948 - 2008)
Vấn đề con người trong sáng tạo văn học nghệ thuật nói chung và trongtruyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng là vấn đề đã được bàn luận nhiều…Sáng tạo văn học nghệ thuật là một sự lý giải, cắt nghĩa về con người.Con người được nhận thức, phản ánh trong văn học gắn liền với quan niệm vềcon người của nhà văn Trần Đình Sử là người có công giới thiệu nhiều côngtrình về vấn đề này, và đấy cũng là vấn đề cốt lõi trong các công trình nghiên
Trang 7cứu của ông Theo Lã Nguyên, “Xuyên suốt tất cả các công trình đã công bốtrong vài chục năm nay của Trần Đình Sử, ta thấy ông không ngừng hoàn
thiện cho mình một khái niệm công cụ, ấy là “quan niệm nghệ thuật về con
người” Khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người” với một nội hàm cụ
thể, lần đầu tiên được ông đề xuất trong cuốn Thi pháp Tố Hữu, in năm 1987.
Trong cuốn sách này, phù hợp với nhiệm vụ phân tích thi pháp, Trần Đình Sử
đưa ra khái niệm “hình thức quan niệm” và nêu yêu cầu hết sức quan trọng về sự cần thiết phải phân biệt “hình thức quan niệm” với hình thức cụ thể,
cảm tính Phạm trù “quan niệm nghệ thuật” và hệ thống khái niệm công cụthường được sử dụng trong các công trình của Trần Đình Sử tự chúng nói lênmột tư tưởng khoa học có tính chất bao trùm Hơn hai mươi năm nay, nhànghiên cứu thuỷ chung với quan niệm cho rằng, mọi cách tân nghệ thuật suycho đến cùng đều gắn liền với sự cách tân trong quan niệm nghệ thuật về conngười Quan niệm nghệ thuật về con người chi phối cách lựa chọn đề tài, chủđề, cách tổ chức hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện trong sáng tác
của một nhà văn.…” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9/2004, tr.63-74)…
Từ phạm trù quan niệm nghệ thuật về con người, nhiều công trìnhnghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại đã đi sâu khảo sát, tìm hiểu nó ởnhiều thể loại, trong đó có truyện ngắn Chẳng hạn như Phùng Ngọc Kiếm với
tiểu luận Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 đã nhận xét:
“Truyện ngắn là một thể loại có đóng góp nổi bật trong văn học 1945 - 1975.Hình tượng nghệ thuật về con người trong truyện ngắn cũng tiêu biểu choquan niệm con người của văn học 30 năm sau cách mạng” [26, tr 302]…
Riêng vấn đề con người trong truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn
nghệ còn là vấn đề chưa được nghiên cứu Có thể xem luận văn của chúng tôi
là công trình đầu tiên tìm hiểu quan niệm về con người trong Truyện ngắn
tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 – 2008) với một cái nhìn hệ thống.
Trang 83 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Con người trong Truyện ngắn
tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008)
3.2 Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát toàn bộ truyện ngắn trong Truyện ngắn tinh tuyển 60
năm báo Văn nghệ (1948 - 2008)
Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào Truyện ngắn tinh
tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008), gồm 5 tập:
Tập I: Con đường sống, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2008
Tập II: Bút máu, Nxb, Hội nhà văn, Hà Nội, 2008
Tập III: Mầm sống, Nxb, Hội nhà văn, Hà Nội, 2008
Tập IV: Muối của rừng, Nxb, Hội nhà văn, Hà Nội, 2008
Tập V: Nợ trần gian, Nxb, Hội nhà văn, Hà Nội, 2008
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đưa ra một cái nhìn chung về Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo
Văn nghệ (1948 - 2008) trong bối cảnh của truyện ngắn Việt Nam đương đại.
4.2 Khảo sát, phân tích, xác định những biến chuyển trong quan niệm
về con người của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ qua từng
chặng đường (tương ứng với từng tập)
4.3 Khảo sát, phân tích, xác định những thay đổi trong nghệ thuật xây
dựng nhân vật (tương ứng với quan niệm về con người qua từng chặng
đường) của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008) Cuối cùng rút ra một số kết luận về Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo
Văn nghệ (1948 - 2008) xoay quanh về vấn đề trung tâm là quan niệm về con
người
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đócó các phương pháp chủ yếu: phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê -phân loại, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phươngpháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp
Luận văn là công trình đầu tiên tìm hiểu những biến chuyển trong quan
niệm về con người của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ với cái
nhìn tập trung và hệ thống Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài
liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm
báo Văn nghệ nói riêng và truyện ngắn Việt nam hiện đại nói chung.
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương
Chương 1 Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008)
trong bối cảnh của truyện ngắn Việt Nam đương đại
Chương 2 Con người trong nhận thức của một hành trình truyện ngắnhơn nửa thế kỷ (1948 - 2008)
Chương 3 Quan niệm về con người với phương thức thể hiện của
Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008)
Chương 1 TRUYỆN NGẮN TINH TUYỂN 60 NĂM BÁO VĂN NGHỆ TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Tổng quan về văn học Việt Nam đương đại
1.1.1 Thời đương đại và văn học Việt Nam đương đại
Trang 10Khái niệm thời đương đại, chúng tôi tạm quy ước, giới hạn từ 1945 đếnnay Đây là thời kỳ thứ hai của văn học Việt Nam thuộc phạm trù hiện đại.Kể từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến nay, đất nước ta đã diễn ranhiều biến cố lịch sử to lớn, tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống xã hội vàcon người Ba mươi năm ròng, dân tộc ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để bảo vệ nền độc lập, tự do và thốngnhất đất nước Từ sau tháng 4 - 1975, cả hai miền đất nước lại phải đương đầuvới thử thách mới không kém phần khắc nghiệt: vừa bảo vệ Tổ quốc, vừa xâydựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Văn học Việt Nam từ sauCách mạng tháng Tám đã nảy nở, phát triển trong bối cảnh lịch sử ấy Nóđược nuôi dưỡng, tiếp sức và gắn bó mật thiết với những bước đi của cáchmạng, với vận mệnh của dân tộc và đời sống nhân dân Phải chăng văn họcViệt Nam đã thực hiện tốt vai trò và chức năng xã hội - lịch sử của nó (phục
vụ những mục tiêu cao cả của cách mạng, phục vụ công cuộc chiến đấu sốngcòn của dân tộc) Trong một hoàn đặc thù - hoàn cảnh chiến tranh, văn nghệphải phục vụ chính trị, phục vụ công nông binh, có lẽ đó là điều tất yếu! Thựctế giới văn nghệ tự nguyện chấp nhận và coi đó là nhiệm vụ, là trách nhiệm vàlương tâm nghệ sĩ của mình Ngay sau Cách mạng tháng Tám và trong nhữngnăm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, một thế hệ cầm bút mới đã có ýthức tìm kiếm, đổi mới để khẳng định tiếng nói nghệ thuật của thời đại mình.Nhìn bao quát diện mạo của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám cóthể thấy sự biến đổi toàn diện từ mối quan hệ văn học với đời sống nhà văn vàcông chúng, đến các quan niệm nghệ thuật, các thể tài, thể loại và thi pháp.Hướng vào đời sống xã hội rộng lớn với những biến cố trọng đại, vănhọc thời kì này đã ghi lại được những hình ảnh không thể phai mờ của mộtthời kì lịch sử đầy gian lao, thử thách, nhiều hy sinh nhưng cũng hết sức vẻvang của dân tộc ta Với hai cuộc chiến tranh vĩ đại, văn học đã sáng tạo được
Trang 11những hình tượng nghệ thuật cao đẹp về Tổ quốc và nhân dân, về các tầnglớp, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống vừa thấmsâu tinh thần của thời đại Ở phương diện này, văn học thực sự là một chứngnhân của một quá trình lịch sử hết sức hào hùng Về nội dung tư tưởng, vănhọc thời kì này đã kế thừa và phát huy những nét cơ bản trong truyền thốngcủa dân tộc, là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân đạo Có thể nói chưa cóthời kì nào mà tình cảm dân tộc, ý thức cộng đồng, tình yêu quê hương đấtnước, tình đồng bào, đồng chí, lại được thấm nhuần sâu rộng và biểu hiệnphong phú, nhiều vẻ như ở văn học giai đoạn này Chủ nghĩa yêu nước vừa làmột truyền thống sâu xa lại vừa là nét nổi bật trong tinh thần thời đại mới,được thể hiện ở niềm tự hào và ý thức làm chủ đất nước của quần chúng, ở tưtưởng đất nước là đất nước của dân, ở lý tưởng độc lập, tự do gắn liền với chủnghĩa xã hội Tinh thần nhân đạo truyền thống thể hiện ở lòng nhân ái, tìnhnghĩa thủy chung, ở khát vọng giải phóng con người Chủ nghĩa nhân đạo củanền văn học mới hướng về quần chúng lao động, đề cao ý thức và tình cảmgiai cấp, khẳng định con đường giải phóng và trưởng thành của quần chúngnhân dân trong cách mạng Tình hình đó đã góp phần tạo ra công chúng mớicho văn học, một công chúng rộng rãi và dân chủ hơn rất nhiều so với trướccách mạng tháng Tám Một đội ngũ nhà văn đông đảo, nhiều thế hệ và khônghiếm tài năng năng được đào luyện trong cách mạng và kháng chiến đó là mộtthành tựu to lớn của nền văn học mới Các thể loại văn học giai đoạn nàycũng phát triển khá toàn diện mà nổi trội nhất là thơ và truyện ngắn, truyệnvừa Về cấu trúc của từng thể loại cũng có những biến đổi đáng kể.
Có thể thấy, bên cạnh những thành quả đã đạt được, văn học giai đoạn
1945 - 1975, cũng có không ít những phần hạn chế Những hạn chế của vănhọc giai đoạn này một phần do điều kiện lịch sử, trình độ ý thức của thời đạivà cũng có phần do các nguyên nhân chủ quan của bộ phận quản lí, lãnh đạo,
Trang 12từ công tác lý luận phê bình và cả hạn chế trong tài năng và bản lĩnh củangười sáng tác.
Từ sau tháng 4 - 1975, ước mơ tự do, độc lập, thống nhất mới thực hiệnhoàn toàn trên cả hai miền đất nước Song, gần như liền ngay sau đó, kẻ thùlại gây hấn ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc Một lầnnữa hành trình chiến đấu bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ thiêng liêng của Tổquốc lại phải kéo dài cho đến hết năm 1989 mới thực sự kết thúc
Sau chiến tranh, giải quyết vấn đề thời hậu chiến là cả một thách thứclớn Đối với dân tộc ta cuộc kháng chiến kéo dài quá lâu, thậm chí đã làmthay đổi thói quen, nhịp sống, đảo lộn trật tự, thiết chế xã hội Tổ chức lại xãhội trở về với nhịp sống bình thường cũng là một thách thức lớn đối với đấtnước Bên cạnh đó Liên bang Xô viết sụp đổ cùng với sự tan rã của phe Xãhội chủ nghĩa là cuộc khủng hoảng lớn về niềm tin lý tưởng, tạo nên nhữngxáo trộn trong tư tưởng, những băn khoăn lo lắng, các thế lực thù địch đã lợidụng cơ hội này gieo rắc hoang mang trong nhân dân Có thể nói, những nămđầu thập niên 80 của thế kỷ trước, đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng;trước hết là khủng hoảng kinh tế, do sự tàn phá của chiến tranh để lại, do cơchế quan liêu bao cấp cũng lộ ra những điểm lạc hậu, bất cập trong điều kiệnhoàn cảnh mới Đáng lo ngại hơn cả là sự khủng hoảng về tư tưởng Trướchoàn cảnh như vậy, Đảng đã thể hiện bản lĩnh chèo lái con thuyền vượt quasự khủng hoảng này Từ sau Đại hội VI đến nay, nhiều chủ trương, đường lối,chính sách đúng đắn, hợp lý trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xãhội và dần đưa đất nước vào ổn định và bước vào thời kỳ phát triển mới Về văn hóa, tư tưởng, trong chiến tranh giữ nước và giải phóng dân tộc,tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng được phát huy cao độ Lý tưởng đượcgiác ngộ hồi ấy là mỗi người cần sẵn sáng hy sinh mọi nhu cầu cá nhân Mỗingười tự giác gác lại hoặc tạm quên đi cái riêng tư, nhường chỗ cho cái chung
Trang 13tập thể, đất nước, dân tộc Giờ đây, hòa bình lập lại, con người trở về với đờisống thường nhật, cái đời thường phồn tạp, muôn vẻ, lẫn lộn cả tốt lẫn xấu,trắng đen, bi hài Ý thức cá nhân với nhu cầu cá nhân cá thể thức tỉnh trở lại.Những chuẩn mực giá trị trước đây được coi trọng, như đức hy sinh, tinh thầnxung kích, sự cao cả, vị tha, trung thực v.v… có nguy cơ bị tổn thương, maimột Trong khi đó, các giá trị mới chưa hình thành, ổn định Đời sống văn hóa
- tư tưởng diễn ra khá phức tạp Không hiếm sự phê phán những hạn chế bấtcập của một thời đã được đẩy lên thành phủ định sạch trơn những giá trịtruyền thống Cũng không ít những người có thể rơi vào tình thế lưỡng nan,trở thành kẻ lạc thời, không tìm thấy chỗ đứng trong xã hội mới
Công cuộc đổi mới đất nước cũng đồng nghĩa với mở cửa hội nhập vớithế giới Hoàn cảnh đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu ngày càngrộng rãi về văn hóa, văn học với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới.Sự bùng nổ công nghệ thông tin càng khiến cho nhịp cầu giao lưu được mởrộng Sự thức tỉnh ý thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn đến con người trongtính cụ thể, cá biệt, với những nhu cầu trong thời bình, là bước chuyển tất yếucủa ý thức xã hội Con người được miêu tả trong tất cả tính đa dạng, đa chiềucủa nó đã tạo thành nét chính trong sự định hướng về giá trị của công chúng
văn học hôm nay Nói cách khác, tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân bản là
những đặc điểm nổi bật của văn học thời kỳ đổi mới Sự thay đổi này dẫn đếnnhững đổi thay về đề tài, chủ đề nhân vật và thể loại, về phương thức trầnthuật và cách biểu hiện trữ tình Những chuyển động của văn học những nămgần đây, có thể coi là một quá trình tự nhận thức để đưa văn học phát triển lênmột tầm cao mới
1.1.2 Bối cảnh văn hóa, xã hội… của văn học Việt Nam đương đại
1.1.2.1 Giai đoạn 1945 - 1975
Trang 14Đây là một giai đoạn đặc biệt của lịch sử Việt Nam - giai đoạn 30 nămchiến tranh vệ quốc Cách mạng tháng Tám thành công, đưa đất nước sangmột kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thủ tiêu nền thống trị của thựcdân phong kiến, tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội Ngày 2 tháng 9 năm
1945, chủ tich Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước ViệtNam dân chủ cộng hòa
Những năm đầu của nền độc lập, Việt Nam phải đối diện với hàng loạtkhó khăn, đặc biệt là nạn thù trong giặc ngoài Ngày 23 tháng 9 năm 1945,thực dân Pháp với sự đồng lõa của thực dân Anh, quay trở lại gây hấn ở NamBộ Các thế lực thù địch, đối lập núp bóng quân đội của Tưởng Giới Thạch,quay trở lại, tìm mọi cách phá hoại khối đoàn kết dân tộc và chính phủ ViệtNam non trẻ Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến chống Pháp chínhthức bùng nổ Chín năm kháng chiến gian khổ và anh dũng của nhân đượcđánh dấu bằng một loạt chiến thắng: chiến thắng Thu Đông 1947, năm 1948liên tục mở các chiến dịch tấn công địch trên tất cả các mặt trận, và đỉnh caolà chiến thắng Điện Biên Phủ (1954)
Sau 1954, bối cảnh lich sử Việt Nam đã có những thay đổi hết sức cơbản Miền Bắc được giải phóng và bắt đầu xây dựng cuộc sống mới, conngười mới Còn miền Nam, vẫn chìm trong máu lửa, quyết không chịu cúiđầu, vùng lên giải phóng, càng làm tăng thêm tính chất quyết liệt của cuộcđấu tranh cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Ngày 30 tháng 4 năm 1975,chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi vẻ vang, mở ra một kỷ nguyênmới, một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc: miền Nam hoàn toàn đượcgiải phóng, cả nước được hòa bình, độc lập và thống nhất, quá độ tiến lên xâydựng Chủ nghĩa xã hội
Về kinh tế, giai đoạn 1945 - 1975 cũng là một giai đoạn đầy khó khănđối với đất nước ta Mặc dù đã giành được độc lập, nhưng dân tộc ta lại rơi
Trang 15vào tình trạng nghèo nàn, chậm phát triển, kho dự trữ kiệt quệ, nạn đói hoànhhành Đến năm 1953, Hồ Chủ Tịch ra sắc lệnh giảm tô và cải cách ruộng đất.Nông dân thực sự được làm chủ “tài nguyên” của mình Vết thương chiếntranh đang đang dần được hàn gắn Nền kinh tế được khôi phục Từ 1958 -
1960, nhân dân ta thực hiện kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bướcđầu phát triển kinh tế Đến năm 1960, đất nước căn bản hoàn thành việc cảitạo xã hội chủ nghĩa, bắt đầu xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội,nhưng gặp phải hàng loạt khó khăn cả về chủ quan lẫn khách quan Thắng lợicủa kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ nhất ở miền Bắc, đã góp phần cơbản để cải thiện đời sống kinh tế của nông dân, công nhân, viên chức v.v…Về văn hóa, văn nghệ, giai đoạn 1945 - 1975, tất cả đều phục vụ chonhững nhiệm vụ chính trị lớn lao của đất nước, của dân tộc, mà nhiệm vụtrung tâm là đấu tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Có thể nóigiai đoạn 1945 -1975, Việt Nam đã trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóngdân tộc vô cùng ác liệt Sau hơn 80 năm nô lệ, nhân dân Việt Nam đã giànhlại được độc lập, chủ quyền của dân tộc Bối cảnh xã hội thời kỳ này có tácđộng trực tiếp đến lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, tạo nên những biến đổi trongnhận thức, tư tưởng, tình cảm của tầng lớp tí thức, văn nghệ sĩ
1.1.2.2 Giai đoạn 1975 đến nay
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước thống nhất sau baonhiêu năm chia cắt Việt Nam bước vào thời kỳ mới - thời kỳ khôi phục vàphát triển đất nước với nhiều thuận lợi và khó khăn Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VI (1986), đã vạch ra con đường đưa nước ta thoát ra khỏi sự khủnghoảng và bước vào thời kỳ phát triển mới Việt Nam kiên định đi theo conđường xã hội chủ nghĩa, nhưng trên tinh thần dân chủ, xây dựng một nhànước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân
Trang 16Về kinh tế, sau khi đất nước thống nhất, vấn đề đặt ra là phải kế hoạchxã hội hóa toàn bộ kinh tế miền Nam, nhằm hợp nhất với nền kinh tế miềnBắc Đến năm 1986, nhà nước chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường,ngày càng hòa nhập với thế giới, phấn đấu để có một đất nước giàu mạnh Saumột thời gian, khủng hoảng kinh tế được ngăn chặn, sự giao lưu với các nướcngày càng được mở rộng Nền kinh tế phát triển mạnh, tiến lên công nghiệphóa, hiện đại hóa.
Sau 40 năm, trải qua hai cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều thế hệngười Việt Nam đã chung sức đồng lòng, hy sinh tất cả để bảo vệ đất nước.nhưng bước sang thời kỳ hậu chiến, đặc biệt từ Đổi mới (1986) đến nay bêncạnh những thành tựu, đất nước ta cũng phải chịu nhiều thử thách và bộc lộnhiều hạn chế, yếu kém Đời sống con người càng ngày càng phức tạp, đadiện, đa chiều Tất cả vấn đề đó đều ảnh hưởng, chi phối, sâu sắc đến văn học,nghệ thuật
1.1.3 Một thời kỳ văn học đa dạng, phong phú và phát triển mạnh về
thể loại
Cách mạng tháng Tám thành công đánh dấu sự khởi đầu của thời đạimới trong lịch sử của dân tộc, đồng thời mở ra một thời kỳ văn học mới vớinhững biến đổi sâu rộng trên mọi mặt của đời sống văn học Một nền văn họcmới, phải đối mặt với những khó khăn và thử thách của hiện thực xã hội Vănhọc phải nhận thức, phản ánh được bản chất của hai cuộc chiến tranh chốngPháp, chống Mỹ và đặc biệt là vấn đề giải quyết hậu quả sau chiến tranh.Chính những thử thách đó, đã hun đúc nên những thế hệ nhà văn vững mạnhvề tư tưởng và phẩm chất nghệ sỹ của mình, góp phần tạo nên sức mạnh chomột nền văn học mới Có thể thấy rằng, đây là một thời kỳ phát triển của vănhọc Việt Nam, phát triển cả về số lượng, chất lượng tác phẩm lẫn thành phần
Trang 17tác gia tham gia Một thời kỳ văn học với sự đa dạng, phong phú và phát triểnmạnh về thể loại, đặc biệt là truyện ngắn
Với dung lượng gọn, truyện ngắn là một thể tài gắn với báo chí, để cómặt kịp thời trước sự chuyển biến của đời sống Mấy chục năm qua, đời sốngcủa dân tộc đã trải qua bao nhiêu biến chuyển to lớn, phong phú Truyện ngắnrất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, phản ánh và nêu ý kiến trướcvấn đề mới, nóng bỏng, đang đặt ra trước xã hội Nó ít khi quay về với nhữngvấn đề đã qua (dù có lấy đề tài ở quá khứ thì thường cũng là một cách tiếp cậnvới những vấn đề của ngày hôm nay) Có thể nói truyện ngắn là thể tài “xungkích” giàu tính năng động, như là người lính trinh sát trên các bước chuyểncủa đời sống văn học
Trong nền văn học sau Cách mạng, ở giai đoạn nào cũng có nhiều truyệnngắn và không ít những truyện hay Thể tài này phát triển mạnh và đạt đượcnhững thành tựu khá đều ở từng chặng đường của văn học Truyện ngắn ViệtNam hơn sáu mươi năm qua đã phát triển khá mạnh và đang được tiếp tục mở
ra những hướng tìm tòi sáng tạo mới, làm phong phú thêm cho khả năng củathể tài tự sự loại nhỏ này Góp phần tích cực trong sự nghiệp phát triển củanền văn học Việt Nam hiên đại
1.1.4 Truyện ngắn trong bức tranh chung của thể loại văn học Việt
Nam đương đại
Cách mạng tháng Tám 1945 đã đưa nước ta bước sang một thời kỳ lịchsử mới: thời kỳ độc lập, tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội Chủ tịch Hồ ChíMinh ra lời kêu gọi toàn dân diệt giặc đói, diệt giặc dốt, giặc ngoại xâm Nạn
mù chữ được giả quyết trên diện rộng, số người biết chữ ngày một tăng lên.Đời sống nhân dân được đổi mới kích thích và nâng cao dần nhu cầu hưởngthụ và sáng tạo nghệ thuật Hòa chung với tiến trình lịch sử, một nền văn họcmới ra đời Các mối quan hệ giữa sáng tác và nhiệm vụ bức thiết của dân tộc,
Trang 18giữa tác giả và độc giả, giữa tác phẩm và hiện thực cuộc sống, giữa nội dungvà hình thức, giữa tính dân tộc và tính giai cấp,… gắn bó với nhau mật thiết.Để có được điều đó là cả một quá trình tìm tòi, suy nghiệm, vật lộn, đấu tranh,tự cải tạo và xây dựng ở ngay chính bản thân của mỗi cá nhân.
Bên cạnh những khó khăn về vật chất, đời sống văn hóa tinh thần cũnggặp rất nhiều khó khăn Việc cấp bách hàng đầu buộc các cấp lãnh đạo phảilàm, là xóa mù chữ cho hơn 95% dân số, rồi mới có thể trang bị cho họ cáivốn chữ văn chương, nghệ thuật Trước thực trạng đó, mỗi địa phương tự tổchức lấy đời sống văn hóa, văn nghệ sao cho phù hợp với nhu cầu và đặcđiểm của từng vùng, từng miền, nhưng cũng không quá xa rời hoặc lạc hậuvới tình hình chung của đất nước Từ phong trào thơ, ca, hò, vè, kịch,… diễn
ra khắp mọi vùng miền, từ các bài văn ngắn trên các báo tay, báo tường củacác đơn vị bộ đội và phân xưởng, các cuộc thi văn thơ trên các báo, hoặc từnhững sáng tác không chuyên, đến những sáng tác chuyên nghiệp,… đã gópphần cho đời sống văn hóa – văn nghệ đạt tới những giá trị, những thành tựu
to lớn Và, trong lịch sử văn học đã xuất hiện dần các tác giả, tác phẩm đạtchất lượng cao
Buổi đầu kháng chiến chống Pháp, đối với các thế hệ nhà văn là nhữngchuyến đi đến chiến trường, đi theo bộ đội kháng chiến Chiến trường phâncách, sự giao lưu giữa các vùng miền rất khó khăn nhưng vẫn không ngừngthôi thúc mọi người lên đường Đó là cả một kho chất liệu quý báu trong việcthực hiện triệt để “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” Chínhnhững chuyến đi này, đã đưa lại những thành tựu mở đường cho một nền vănhọc mới Để đến được số đông độc giả là quần chúng lao động vừa thoát rakhỏi nạn mù chữ, đang khao khát sự hiểu biết, một bộ phận cán bộ trí thức đivào cách mạng, tự nguyện làm nhiệm vụ trung gian, chuyển tải nội dung vănhọc kháng chiến đến với quần chúng nhân dân Nhà văn phải xem việc sáng
Trang 19tác nghệ thuật như một hoạt động cách mạng, phải viết làm sao để quần chúnglao động hiểu và yêu thích tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt đề cập đến nhữngvấn đề mà họ đang có nhu cầu quan tâm.
Cùng với các thể loại khác, truyện ngắn cũng hình thành và phát triểntrong nền văn học cách mạng non trẻ, hòa nhập vào cuộc sống kháng chiến
Những tác phẩm như Thư nhà của Hồ Phương, Con đường sống của Minh Lộc, Làng của Kim Lân,… từ các góc nhìn khác nhau về đời sống chiến tranh
xuất hiện Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đối với một số nhà vănthực sự là một cuộc “nhận đường” Qua các tác phẩm của mình, đội ngũ nhàvăn tái tạo hiện thực theo xu hướng nhằm khẳng định: chỉ có đi theo cáchmạng, đi theo kháng chiến, con người mới có thể có được cuộc sống đíchthực Truyện ngắn lúc này chủ yếu xoay quanh cuộc đấu tranh chống lại địachủ phong kiến Cốt truyện được chú trọng Nhân vạt thường hiện lên trong
vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm, thái độ kiên quyết chống lại kẻ thù xâm lược
Tiêu biểu đó là truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao - tác phẩm được xem như
là tuyên ngôn nghệ thuật của một lớp nhà văn trong buổi đầu đi theo cáchmạng và kháng chiến
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu rộng và triệt để nhấttrong lịch sử dân tộc Việt Nam Nó tác động tới mọi lĩnh vực của cuộc sống,làm cho con người phát triển về mọi mặt Con người của thời đại mới, phải cósự biến đổi sâu sắc về nhận thức và tình cảm, phải quan tâm tới nhiều vấn đềcủa xã hội, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Chính vì vậy, đòi hỏi nhà vănphải có sự hiểu biết sâu rộng, và phản ánh được hiện thực phong phú, sinhđộng thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó, những lớp bồi dưỡngngười viết văn trẻ cũng được mở rộng Nhiều cuộc hội nghị trao đổi ý kiến,kinh nghiệm sáng tác được tổ chức Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo.Điều kiện in ấn và xuất bản dễ dàng hơn, độc giả được mở rộng không ngừng
Trang 20Việc tiếp xúc rộng rãi với văn học nước ngoài, đã ảnh hưởng lớn đến đời sốngvăn học trong nước Văn học nghệ thuật từ đây, thực sự trở thành tài sản tinhthần của dân, và vì dân Đề tài của truyện ngắn giai đoạn 1954 -1964 bámchắc vào ba chủ đề chính: truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc tronglịch sử và kháng chiến, công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, sựnghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.
Những truyện ngắn tiêu biểu như Cái hom giỏ của Vũ Thị Thường, Phù
sa của Đỗ Chu, Chuyện thường gặp của Nguyễn Thị Tĩnh,… không chỉ bám
sát hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội, phản ánh cuộc đấu tranh giữa haicon đường đang diễn ra quyết liệt, phức tạp ở nông thôn, mà còn đề cập đếnnhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn như đưa nông thôn từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn, chuyển người nông dân từ vị trí làm chủ cá thể sang làm chủtập thể Nhân vật trong các tác phẩm là những gương mặt mới: thanh niên say
mê, gắn bó với phong trào tập thể Khung cảnh những vụ mùa gặt hái tấp nập,trại nuôi tôm, máy bơm nước, sinh hoạt của hợp tác xã, mua bán , tình yêumới mẻ,… cũng được đưa vào trong tác phẩm Trước những biến đổi của xãhội, đội ngũ nhà văn là những người đã đóng góp phần giáo dục độc giả mởrộng nhận thức, nâng cao tâm hồn để tiếp nhận thực tế mới của cách mạng.Bên cạnh đề tài nông thôn, đề tài về công nghiệp, khoa học kỹ thuậtcũng có sức hút lớn đối với mỗi nhà văn Hàng loạt truyện ngắn xuất hiện,
như truyện ngắn Rẻo cao của Nguyên Ngọc, Tốc độ của Lưu Nghiệp Quỳnh,
Một sáng kiến nhỏ của Hà Minh Tuấn, Đạo diễn không chuyên của Trần Huy
Quang, v.v…
Có thể thấy dù hướng vào phạm vi nào của đời sống xã hội, đội ngũ nhàvăn cũng đều nói lên được sức vươn dậy của chủ nghĩa xã hội và những vẻđẹp mới của con người trong thời kỳ xây dựng hòa bình Các tác phẩm vănhọc thời kỳ này đã khơi dậy truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc
Trang 21Việt Nam, khích lệ lòng tự hào dân tộc, xây dựng niềm tin cho độc giả bướcvào thời kỳ mới.
Giai đoạn 1965 - 1975 là giai đoạn cả nước đấu tranh chống Mỹ xâmlược Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phát huy sức mạnh của toàndân tộc, giành được nhiều thắng lợi lớn trên chiến trường và xây dựng hậuphương vững mạnh Hơn 10 năm làm chủ một đất nước độc lập, được sự hậuthuẫn của phe xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam đi vào chiến tranh vớithái độ bình tĩnh, tự tin với lý tưởng lớn, đi từ ý thức tự phát đến ý thức tựgiác
Hiện thực cuộc sống đã tạo cho đội ngũ nhà văn một kho tàng chất liệuđể sáng tác nghệ thuật Hơn nữa, bản thân họ là những người đã trải qua, điqua hai cuộc kháng chiến, có nhiều người còn trực tiếp tham gia hoạt độngcách mạng, cho nên họ có nhiều kinh nghiệm sáng tác Văn học xã hội chủnghĩa bước vào cuộc kháng chiến hào hứng và nhanh nhạy Một số nhà vănđã vào chiến trường để chia sẻ, đồng cam cộng khổ cùng với nhân dân đangsống trong vùng có chiến tranh Một số nhà văn khác, lại đi đến những nôngtrường, hợp tác xã sản xuất, nơi mặt trận giao thông nguy hiểm, lên nhữngvùng miền núi xa xôi hiểm trở Trên tất cả mọi vùng miền của Tổ quốc, đềucó mặt của các nhà văn Chính vì vậy, thời kỳ này có nhiều tác phẩm đạt chấtlượng cao, đội ngũ sáng tác phong phú Đặc biệt, sự xuất hiện của lực lượngsáng tác trẻ, đã tạo nên sự đa dạng về mặt thể loại
Truyện ngắn thời kỳ chống Mỹ trên đà đi lên trước một nền văn học đãbước vào chặng đường vừa vận động, vừa phát triển Từ chỗ phản ánh hiệnthực cuộc sống một cách cụ thể, gian đơn, kết thúc truyện một cách có hậu,nhẹ nhàng, dần dần, truyện ngắn “trưởng thành” hơn, nhận thức và phản ánhđời sống trong tính phức tạp, bề bộn của nó
Trang 22Sau ngày độc lập, dân tộc ta bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng là thời kỳ mà toàn dân phải đương đầu vớinhững khó khăn và phức tạp mới Cuộc sống thời hậu chiến không hề đơngiản, thuận chiều, mà xô bồ phức tạp hơn nhiều so với những năm thángchiến tranh Hậu quả của chiến tranh để lại đã đè nặng lên nỗi đau của mỗicuộc đời con người Trong chiến tranh, hầu hết các tác phẩm đều mang cảmhứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, những tấm gương chiến đấu hy sinh anhdũng để cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu cho nhân dân Khi chiến tranhkết thúc, sự đa dạng và phức tạp của cuộc sống đã trở thành đối tượng phảnánh mới của văn học, được các nhà văn hướng đến.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và công cuộc đổi mới đấtnước được tiến hành trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóanghệ thuật Giờ đây, văn học nghệ thuật không còn được hiểu đơn giản như làcông cụ của chính trị, là vũ khí của công tác tư tưởng, là phương tiện tuyêntruyền, giáo dục quần chúng, mà là thế giới tinh thần Qua thế giới tinh thầnấy, con người thể hiện khát vọng, tâm tư tình cảm của mình đối với cuộc sốngmới Đội ngũ nhà văn tự tin hơn trong những tìm tòi sáng tạo khi viết về cácvấn đề phức tạp của cuộc sống, mạnh dạn đưa ra những lý giải của mình trướcnhững tình huống, những sự kiện và tính cách được miêu tả trong tác phẩm,phản ánh những mặt tiêu cực nội bộ trong xã hội, những tổn thất nặng nềtrong chiến tranh Bên cạnh miêu tả hiện thực cuộc sống, nhà văn còn miêu tảsố phận con người, mang đến cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũngnhư sự từng trải, làm phong phú thêm vốn sống cho mỗi cá nhân Cuộc đờicon người được miêu tả trong tác phẩm chân thực hơn, không phải chỉ cóhạnh phúc, chiến thắng, mà còn đầy rủi ro, nhiều khi thất bại và đau khổ.Thay vào đó, cái buồn và nỗi đau được xem như những phạm trù của văn học.Các nhà văn nhận ra sức mạnh của tác phẩm không chỉ ở việc miêu tả đời
Trang 23sống hiện thực mà còn phụ thuộc vào sự nghiền ngẫm, kinh nghiệm sống,chiều sâu tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm qua tác phẩm của mình Tínhchất mới mẻ của văn học nghệ thuật, còn được bộc lộ ở sự thay đổi về đề tài,từ con người lý tưởng sang con người đời thường, sự quan tâm đến cái đaukhổ, mất mát của con người, sự chú ý đến thế giới bên trong,… Đời sống vănhọc gắn với đời sống xã hội, đổi mới và trở nên sinh động hơn.
Truyện ngắn sau 1975 có khác nhiều so với truyện ngắn giai đoạn trướcnhưng về cơ bản vẫn phát triển trên cái nền của những thành tựu truyện ngắn
1945 - 1975 đã đạt được Những nhược điểm, hạn chế đáng tiếc của giai đoạntrước là bài học kinh nghiệm nghệ thuật cho giai đoạn sau Sự nỗ lực đổi mớicủa truyện ngắn Việt Nam hơn ba mươi năm thì thấy, truyện ngắn đã cónhững đổi mới quan trọng từ các hướng khai thác, đề tài, chủ đề với bakhuynh hướng chính: khuynh hướng sử thi, khuynh hướng thế sự - đời tư vàkhuynh hướng triết lý, triết luận Nhìn chung cao trào đổi mới của truyệnngắn nói riêng, văn xuôi nói chung đã thực sự ổn định trên tinh thần cái mớiđã được khẳng định và đang dần hình thành trên quỹ đạo của nguyên tắc sángtác mới Truyện ngắn vẫn là sân hội tụ được nhiều niềm đam mê văn chươngnghệ thuật Đã có rất nhiều cuộc thi truyện ngắn cấp trung ương được mở ra.Giờ đây, truyện ngắn đã trở thành món ăn tinh thần của dân tộc và trở thànhthể văn “dân tộc” Nó xứng đáng là người bạn đồng hành không thể thiếutrong đời sống tinh thần của người Việt Nam
1.2 Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ (1948 - 2008) – một thành tựu quan trọng của văn học Việt Nam đương đại
Trang 241.2.1 Hành trình 60 năm báo Văn nghệ và hệ thống truyện ngắn
được đăng tải
Tháng 3 năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc, cùng với sự ra đời của HộiVăn nghệ Việt Nam, là sự khai sinh ra tạp chí Văn nghệ, tiền thân của báo
Văn nghệ - cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vượt lên nhữngkhó khăn, thử thách, tuần báo Văn nghệ vẫn luôn giữ bản lĩnh, phong cáchcủa nền văn học cách mạng Việt Nam Bằng sự xuất hiện những tác phẩmmang sức sống mãnh liệt của thời đại, truyện ngắn đã khẳng định được chủnghĩa anh hùng và phẩm chất cao quý của dân tộc
Chiến tranh kết thúc, trong xu thế chung của thời đại, báo Văn nghệbước vào thời kỳ đổi mới Với nhiều tác phẩm xuất sắc, tuần báo đã tham giamạnh mẽ vào công cuộc chống tham nhũng, quan liêu, tiêu cực Và, đã gâyđược sự chú ý đặc biệt đối với đông đảo bạn đọc Nhiều tác phẩm trên báoVăn nghệ trở thành món ăn tinh thần cho toàn thể cộng đồng, đồng thời, đượctuyển chọn vào các tuyển tập văn học, được chọn để dạy - học trong nhàtrường, được chuyển thành kịch bản sân khấu, điện ảnh, v.v…
Với những thành tích đạt được, tuần báo Văn nghệ vinh dự được Đảngvà Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý qua các thời kỳ.Trước 1945, thể loại truyện ngắn đã có nhiều tác giả tiêu biểu như NamCao, Bùi Hiển, Vũ Bằng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân,… Sau cách mạng thángtám, họ vẫn chung thủy và có những đóng góp tích cực cho thể loại này Bêncạnh đó, sự xuất hiện một đội ngũ nhà văn mới (thế hệ nhà văn chống Pháp),ngày càng được khẳng định như Nguyễn Khải, Hồ Phương, Võ Huy Tâm,Trần Đăng, Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Thành Long,… với các tác phẩm tiêu
biểu như Thư nhà, vv…
Trang 25Đến 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc Tòa soạn báo Văn nghệ chuyển
từ chiên khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội, đã tập hợp đông đảo đội ngũ sáng tácvà có điều kiện thuận lợi để phát triển tờ báo ngày càng mạnh hơn Trên
chặng đường phát triển, báo Văn nghệ đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm
nhưng vẫn giữ được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực văn học
Bên cạnh đó, báo Văn nghệ còn rất coi trọng việc phát hiện và bồi dưỡng
những tài năng trẻ Tuần báo đã có một hoạt động đều đặn và hết sức hiệu quảlà vài ba năm một lần, báo lại tổ chức các cuộc thi sáng tác truyện ngắn, bút
ký, phóng sự, thơ,… Cho đến nay, báo vẫn đang thu hút được rất nhiều ngòibút trẻ đầy triển vọng tham gia dự thi sáng tác Các cuộc thi đã phát hiệnnhiều tài năng, đóng góp một phần không nhỏ trong tiến trình sáng tạo vănhọc và được đông đảo bạn đọc yêu mến Nhiều người trong số này, đã trởthành những cây bút trụ cột của nền văn học Việt Nam hiện đại như Bùi Đức
Ái - Anh Đức, Ngô Ngọc Bội, Chu Văn, Lê Lựu, Nguyễn Thị Như Trang, MaVăn Kháng, Nguyễn Khải,… Có những nhà văn chuyên viết truyện ngắn như
Nguyễn Thành Long, Bùi Hiển, Kim Lân, Vũ Thị Thường (Truyện ngắn Cái
hom giỏ đã đưa Vũ Thị Thường đến với con đường văn nghiệp, đồng thời đây
cũng là tác phẩm đạt giải Nhất trong cuộc thi truyện ngắn do báo Văn nghệ tổ
chức năm (1958)
Từ thế hệ này qua thế hệ khác, lực lượng sáng tác tập hợp xung quanh tờ
báo Văn nghệ ngày càng đông đảo, bút pháp thể hiện truyện ngắn của các tác
giả đa dạng, phong phú Điều này đã minh chứng cho sự tìm tòi sáng tạo củacác nhà văn và góp phần khẳng định chỗ đứng của thể loại truyện ngắn trongnền văn học Việt Nam
1.2.2 Diễn trình của Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ
1.2.2.1 Truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1955
Trang 26Cách mạng tháng Tám giải phóng dân tộc, đồng thời giải phóng cho vănhọc thoát khỏi những trói buộc của quan niệm nghệ thuật cũ, đưa văn học vàomột bước chuyển mới trên định hướng: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa, Khoahọc hóa; tạo những nền tảng cơ bản cho văn học phát triển thành một nền vănhọc hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Trước 1945, thể loại truyện ngắn đã có nhiều tác giả tiêu biểu như NamCao, Bùi Hiển,Vũ Bằng, Nguyễn Tuân,… Sau Cách mạng tháng Tám họ vẫnchung thủy và có nhiều đóng góp cho thể loại này Bên cạnh đó, còn xuất hiệnmột đội ngũ nhà văn mới (thế hệ chống Pháp) và ngày càng được khẳng địnhnhư Nguyễn Khải, Hồ Phương, Võ Huy Tâm, Trần Đăng, Nguyễn Văn Bổng,Nguyễn Thành Long, vv…
Đội ngũ nhà văn giai đoạn này, vừa là người cầm bút, vừa là chiến sỹcầm súng nơi mặt trận Họ xông pha trên mọi nẻo đường của đất nước, nhậpcuộc với hiện thực cuộc sống, đã phác họa được bức tranh cuộc sống sinhđộng Với đề tài đa dạng, từ người lính trên chiến trường đến công nhân, tríthức, từ nông thôn đến vùng cao,… truyện ngắn đã thể hiện một cách sinh
động cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc Truyện ngắn Đôi mắt của Nam
Cao được Tô Hoài đánh giá như là “Tuyên ngôn nghệ thuật” của cả một thếhệ nhà văn cùng thời Bằng hình tượng nghệ thuật đặc sắc, và bút pháp châmbiếm tinh tế, Nam Cao đã kiên quyết phủ định con người trí thức cũ, lạc hậuvà thấp hèn, đồng thời, chân thành biểu dương mẫu người trí thức cách mạng.Không gian trong truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1954 mở rộng hơn Từkhông gian gia đình, làng quê, nơi làm việc, nay được đưa vào không giankháng chiến, được xác định bởi mối liên hệ giữa nó với nhân dân và thời đại
Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân, đã đưa người nông dân của
mình vượt qua khỏi lũy tre làng, đến với cuộc kháng chiến rộng lớn Và, trong
Thư nhà của Hồ Phương, nhân vật lượng đã ý thức được nỗi đau của mình
Trang 27được chia sẻ bởi niềm vui chiến thắng của đất nước Tuy nhiên, số truyệnngắn như thế này không nhiều Nhân vật trong truyện ngắn giai đoạn này vẫnlà nhân vật đám đông Nhà văn khi xây dựng nhân vật, đã chú ý nhiều đếnphương diện hoạt động, mà ít chú ý đến thế giới nội tâm và diễn biến tâm lýphức tạp của nhân vật Thi pháp truyện ngắn còn đơn giản: thiếu cốt truyệnsắc bén, tình tiết và chi tiết chưa hấp dẫn, lối kết thúc mở, vv…
Nhìn chung, truyện ngắn thời kỳ này ít nhiều đã làm tròn vai trò xungkích của nó trong thể loại văn xuôi Có khuynh hướng mở rộng quy mô vàdung lượng phản ánh, so với truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám.Truyện ngắn 1945 - 1954, đã mở đầu cho mùa truyện ngắn hiện thực xã hộichủ nghĩa vào những năm 60 và đặt nền móng cho những mùa gặt mới trongtương lai
1.2.2.2 Truyện ngắn giai đoạn 1955 - 1975
Truyện ngắn giai đoạn này từng bước được khẳng định Các sáng tác
mang dấu ấn vùng miền được thể hiện rõ qua các sáng tác như Về làng của Phan Tứ, Bông cẩm thạch của Nguyễn Sáng, là những truyện ngắn tiêu biểu,
đã phản ánh tinh thần yêu nước của nhân dân miền Nam với những gươngmặt dũng cảm, anh hùng và lòng tin của họ đối với cách mạng Những cảnhđời, những sự việc bình thường trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người dânđược các nhà văn thể hiện trong tác phẩm của mình một cách sâu sắc
Các truyện ngắn Cái hom giỏ của Vũ Thị Thường, Rẻo cao của Nguyên Ngọc, Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long,… là những tác phẩm tiêu biểu
ở miền Bắc, có nội dung chủ yếu là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạngtrong công cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và trong lao động sản xuấtcủa nhân dân
Điều đáng nói ở giai đoạn này, các tác giả truyện ngắn như NguyễnThành Long, Anh Đức, Đỗ Chu đã có giọng văn riêng cho chính mình
Trang 28Truyện ngắn loại bỏ dần chất ký, cốt truyện đầy kịch tính, trong truyện cóchất thơ Thành tựu đó đã góp phần quan trọng trong bước phát triển củatruyện ngắn chống Mỹ.
Trong thời kỳ này, báo Văn nghệ tổ chức ba cuộc thi sáng tác truyện
ngắn, phát hiện và bồi dưỡng một loạt các tác giả mới như Lý Biên Cương,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Như Trang,… Đội ngũ nhà văn này, bổ sung cholực lượng sáng tác truyện ngắn ngày càng mạnh Những sáng tác của họ, đemlại cho thể loại truyện ngắn một diện mạo mới, trẻ khỏe, đa dạng Tất cảnhững điều ấy, đã minh chứng cho truyện ngắn vẫn là thể loại có nhiều đónggóp hơn cả trong các thể loại văn xuôi Việt Nam
Ngay buổi ban đầu, văn học giai đoạn 1945 - 1975, đã xác định chomình hướng đi là phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng, là vũ khí tưtưởng, góp phần tích cực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ đấtnước Trong điều kiện chiến tranh gian khổ và khắc nghiệt, lĩnh vực văn họcvẫn tự thân vận động để khẳng định mình, trở thành một trong những lĩnh vựctiên phong trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ Thành tựu của thể loạitruyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975, được đánh dấu bằng bề dày của những tácphẩm xét trên hai phương diện, số lượng và chất lượng Tuy nhiên, truyệnngắn giai đoạn này cũng có nhiều phần non yếu, sơ lược về công thức Nộidung truyện ngắn chủ yếu nói đến những chiến công, mà chưa đi sâu vào sốphận, hạnh phúc cá nhân của con người Con người được nhìn nhận, đánh giáchủ yếu ở thời đại chính trị, ở tư cách là công dân của một xã hội chủ nghĩa
1.2.2.3 Truyện ngắn giai đoạn 1975 đến nay
Từ 1975 - 1985, báo Văn nghệ tổ chức hai cuộc thi sáng tác truyện ngắn,
nhận được 2901 truyện dự thi và đã in trên báo 203 truyện Những tác giả mớinhư Nguyễn Mạnh Tuấn, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân,… được đánh giá cao
Trang 29Bên cạnh đó, các tác phẩm của thế hệ đi trước như Nguyễn Kiên, NguyễnMinh Châu, Nguyễn Khải,… có phần linh hoạt và sâu sắc hơn trước Nộidung chủ yếu là miêu tả thực trạng xã hội thời hậu chiến với nhiều biến động.Ngoài những mặt tích cực, truyện ngắn đã phản ánh được những mặt tiêu cựcnội bộ của xã hội, những tổn thất nặng nề của chiến tranh để lại như cái đaubuồn của đời sống, chuyện đời tư, chuyện tình yêu đôi lứa, tình dục Vấn đềcách mạng và xã hội chủ nghĩa không còn được chú trọng như ở giai đoạntrước, thay vào đó là vấn đề đời tư thế sự Những vấn đề trước đây bị né tránhnhư sự khốc liệt của chiến tranh, những khó khăn, thất bại, những sai lầmthiếu sót và cả sự tha hóa, phản bội không chỉ trong hàng ngũ của địch, mànằm ngay trong hàng ngũ của ta,… nay được xuất hiện trong truyện ngắn.
Truyện ngắn Hai người trở lại trung đoàn (1976) của nhà văn Thái Bá Lợi
được đánh giá là tác phẩm mở đầu cho phong trào đổi mới Và, Nguyễn MinhChâu được xem là một trong những nhà văn đi tiên phong trong công cuộcđổi mới văn học ấy
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã định hướng thay đổi toàn bộ bộmặt của xã hội, đặc biệt là sự dân chủ hóa trong sáng tác, đã giúp cho nhà vănnói chung và truyện ngắn nói riêng đạt được nhiều thành tựu đáng kể Mật độcác cuộc thi sáng tác truyện ngắn đã khẳng định tên tuổi nhà văn và phát hiệnthêm nhiều tác giả mới như Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài, Y Ban,Nguyễn Thị Thu Huệ,… Trong đó, Nguyễn Huy Thiệp được đánh giá là mộthiện tượng văn học cuối thế kỷ XX Cùng với sự phát triển đa dạng về độingũ sáng tác, truyện ngắn giai đoạn này đã mở rộng biên độ, nội dung phảnánh, cách viết và hình thức truyện cũng hết sức đa dạng Đây là giai đoạn pháttriển mạnh nhất và đạt được nhiều thành tựu nhất của thể loại truyện ngắn
1.2.3 Một cái nhìn chung về thành tựu của Truyện ngắn tinh tuyển
60 năm báo Văn nghệ
Trang 30Sáu mươi năm với bao biến cố và những thăng trầm của lịch sử, thì
truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung, Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm
báo Văn nghệ nói riêng đã từng bước khẳng định mình và ghi được những
thành tựu nhất định góp phần vào sự phát triển chung của nền văn học ViệtNam hiện đại
Trước 1945, thể loại truyện ngắn đã có nhiều tác giả tiêu biểu như NamCao, Bùi Hiển,Vũ Bằng, Nguyễn Tuân,… Sau Cách mạng tháng Tám họ vẫnchung thủy và có nhiều đóng góp cho thể loại này Bên cạnh đó, còn xuất hiệnmột đội ngũ nhà văn mới (thế hệ chống Pháp) và ngày càng được khẳng địnhnhư Nguyễn Khải, Hồ Phương, Võ Huy Tâm, Trần Đăng, Nguyễn Văn Bổng,Nguyễn Thành Long, vv…
Đội ngũ nhà văn giai đoạn này, vừa là người cầm bút, vừa là chiến sỹcầm súng nơi mặt trận Họ xông pha trên mọi nẻo đường của đất nước, nhậpcuộc với hiện thực cuộc sống, đã phác họa được bức tranh cuộc sống sinhđộng Với đề tài đa dạng, từ người lính trên chiến trường đến công nhân, tríthức, từ nông thôn đến vùng cao,… truyện ngắn đã thể hiện một cách sinh
động cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc Truyện ngắn Đôi mắt của Nam
Cao được Tô Hoài đánh giá như là “Tuyên ngôn nghệ thuật” của cả một thếhệ nhà văn cùng thời Bằng hình tượng nghệ thuật đặc sắc, và bút pháp châmbiếm tinh tế, Nam Cao đã kiên quyết phủ định con người trí thức cũ, lạc hậuvà thấp hèn, đồng thời, chân thành biểu dương mẫu người trí thức cách mạng.Không gian trong truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1954 mở rộng hơn Từkhông gian gia đình, làng quê, nơi làm việc, nay được đưa vào không giankháng chiến, được xác định bởi mối liên hệ giữa nó với nhân dân và thời đại
Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân, đã đưa người nông dân của
mình vượt qua khỏi lũy tre làng, đến với cuộc kháng chiến rộng lớn Và, trong
Thư nhà của Hồ Phương, nhân vật Lượng đã ý thức được nỗi đau của mình
Trang 31được chia sẻ bởi niềm vui chiến thắng của đất nước Tuy nhiên, số truyệnngắn như thế này không nhiều Nhân vật trong truyện ngắn giai đoạn này vẫnlà nhân vật đám đông Nhà văn khi xây dựng nhân vật, đã chú ý nhiều đếnphương diện hoạt động, mà ít chú ý đến thế giới nội tâm và diễn biến tâm lýphức tạp của nhân vật Thi pháp truyện ngắn còn đơn giản: thiếu cốt truyệnsắc bén, tình tiết và chi tiết chưa hấp dẫn, lối kết thúc mở, vv…
Nhìn chung, truyện ngắn thời kỳ này ít nhiều đã làm tròn vai trò xungkích của nó trong thể loại văn xuôi Có khuynh hướng mở rộng quy mô vàdung lượng phản ánh, so với truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám.Truyện ngắn 1945 - 1954, đã mở đầu cho mùa truyện ngắn hiện thực xã hộichủ nghĩa vào những năm 60 và đặt nền móng cho những mùa gặt mới trongtương lai
Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, truyện ngắn từng bướcđược khẳng định Các sáng tác mang dấu ấn vùng miền được thể hiện rõ qua
các sáng tác như Về làng của Phan Tứ, Bông cẩm thạch của Nguyễn Sáng,
là những truyện ngắn tiêu biểu, đã phản ánh tinh thần yêu nước của nhân dânmiền Nam với những gương mặt dũng cảm, anh hùng và lòng tin của họ đốivới cách mạng Những cảnh đời, những sự việc bình thường trong cuộc sốnghằng ngày của mỗi người dân được các nhà văn thể hiện trong tác phẩm củamình một cách sâu sắc
Những năm sau chiến tranh chống Mỹ, truyện ngắn tiếp tục nở rộ cả về
số lượng lẫn chất lượng Chỉ tính riêng hai lần tổ chức của tuần báo Văn nghệ,
đã có ngót ba nghìn truyện ngắn dự thi của hàng nghìn tác giả ở khắp mọimiền Tổ quốc Sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tác giả đối với thể loại năngđộng này báo hiệu những tín hiệu bất ngờ Người ta vẫn thấy xuất hiện nhữngtên tuổi quen thuộc Những cái tên đã đi dọc hành trình truyện ngắn hơn nửathế kỷ như: Bùi Hiển, Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Nguyễn Phan Hách… Tiếp đó là
Trang 32những gương mặt đã trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến: Nguyễn ThànhLong, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi, NguyễnVăn Bổng, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Kiên,Nguyễn Thị Ngọc Tú v.v… Điều đáng kể là giờ đây, những cây bút ấy đềuhướng suy nghĩ và cảm xúc của mình sang phạm vi mới của hiện thực đờisống, đó là những vấn đề nhân sinh, gắn liền với sinh hoạt đời thường Có thểnhận ra sự dè dặt hoặc lúng túng trong sự chuyển đổi này, nhưng nhìn chung,truyện ngắn đã sẵn sáng cho một cuộc đổi mới Sự chuyển hướng đề tài là dấuhiệu đầu tiên của quá trình khởi động cho một hành trình đổi mới Với các tác
phẩm Cái mặt, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cơn giông, Dấu vết
nghề nghiệp, bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu; Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi, người đọc đã thực sự thấy sự thay
đổi rõ rệt trong cách khám phá và phản ánh hiện thực Trong công cuộc đổimới này, lực lượng viết trẻ cũng đóng góp một cách tích cực Lợi thế của sứctrẻ khiến đề tài trong sáng tác của họ khá đa dạng và cập nhật Kể cả khi phảnánh hiện thực đã qua, họ vẫn tìm được cách thể hiện mới mẻ và hấp dẫn do
cách nghĩ khác hoặc cách kết cấu khác: Có một đêm như thế của Phạm Thị Minh Thư, Ngôi nhà trên cát của Dương Thu Hương, Vĩnh biệt con người của
Nguyễn Mạnh Tuấn, v.v… Tuy nhiên, đề tài về thực tại vẫn là quan tâm sốmột của đối tượng viết trẻ Nhu cầu khám phá và phản ánh cái mới, đang xảy
ra và có khả năng thích ứng sớm nhất với những đổi mới đã khiến cho tên tuổicủa lực lượng trẻ này nhanh chóng chiếm lĩnh văn đàn, nhanh chóng trở nên
quen thuộc với độc giả: Lê Minh Khuê với Một buổi chiều muộn, Bầu trời
trong xanh, bước hụt, Ký sự những mãnh đời trong ngõ; Dương Thu Hương
với Ngôi nhà trên cát, Chân dung người hàng xóm; Phạm Thị Minh Thư với
Có một đêm như thế; Hà Nguyên Huyến với Hạc trắng và thăm thẳm đường đời; Thùy Linh với Mặt trời bé con của tôi v.v…
Trang 33Như vậy là trong khoảng những năm đầu, trước thềm của công cuộc đổimới toàn diện của đất nước, truyện ngắn đã vận động và có sự thay đổi Mặc
dù sự thay đổi này chưa này chưa đủ mạnh để tạo nên những đột biến, nhữngbước ngoặt nhưng đây cũng là tiền đề để truyện ngắn phát triển thành cao tràođổi mới
Cương lĩnh đổi mới đất nước tại Đại hội Đảng VI đã mở ra thời cơ mớicho văn học nước nhà Sự đua nở của rất nhiều giọng điệu, cá tính nghệ thuật,và trong đội thể loại, truyện ngắn nổi lên như một đại diện tiêu biểu về cả sốlượng và chất lượng Chỉ tính riêng trong năm 1986 đã có khoảng trên đướ 50tập truyện ngắn được in tại các nhà xuất bản Trung ương mà chiếm đa số làcủa các cây bút trẻ Đáng chú ý là sự xuất hiện của một dàn những cây bút nữtài hoa và năng động, như: Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, LýLan, Phan Thị Vàng Anh v.v… Họ mạnh mẽ và cá tính trong việc tìm ranhững hướng khám phá mới của hiện thực, đặc biệt là đi sâu khám phá nhữngcung bậc, ngõ ngách thầm kín trong đời sống bên trong cử tâm hồn con
người: Hậu thiên đường, Tình yêu ơi của Nguyễn Thị Huệ; Người sót lại của
rừng cười, Hồn trinh nữ, Làn môi đồng trinh của Võ Thị Hảo; Thư gửi mẹ Âu
cơ, Miếu hoang của Y Ban, v.v… Không chỉ đông về số lượng, những hiện
tượng làm sôi nổi văn đàn cũng hầu như thuộc về lực lượng mới này Đó là
những trường hợp Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri của Nguyễn Quang Lập, Con chó và vụ ly hôn của Dạ Ngân, Cánh buồm lúc hoàng hôn của Dương Thu Hương, Nước mắt gỗ của Khuất Quang Thụy, Bước qua lời
nguyền của Tạ Duy Anh, Gió giật trên cánh tay của Hồ Anh Thái, Đồng đô la
vĩ đại, Bi kịch nhỏ, Một ngày đi trên đường của Lê Minh Khuê, cùng với sự
xuất hiện hàng loạt của truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoàiv.v…người đọc nhận ra rằng một thời đại mới của truyện ngắn đã đến Mộtchân trời mới của truyện ngắn đã bừng sáng từ những lối viết thực sự mới lạ
Trang 34Từ sau 1975 đến nay, truyện ngắn Việt Nam nói chung và truyện ngắn
tinh tuyển 60 năm trên báo văn nghệ nói riêng, đã từng bước khắc phục
những hạn chế về mặt nội dung, chủ đề, đề tài, kết cấu của những giai đoạntrước đó, từng bước đổi mới và hoàn thiện về mặt thể loại, góp phần quantrọng vào công cuộc đổi mới văn học Việt Nam nói chung và thể loại vănxuôi tự sự nói riêng
Chương 2 CON NGƯỜI TRONG NHẬN THỨC CỦA MỘT HÀNH TRÌNH TRUYỆN NGẮN HƠN NỬA THẾ KỶ
2.1 Con người trước những lựa chọn và xác lập con đường sống
2.1.1 Bối cảnh sinh thành và khả năng bao quát hiện thực của
Truyện ngắn tinh tuyển 60 năm báo Văn nghệ, tập I (1948 - 1954)
Trang 35Truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung, truyện ngắn tinh tuyển 60
năm báo Văn nghệ nói riêng, nhìn chung ra đời muộn Vừa mới ra đời, đã gặp
không ít những khó khăn, phải chứng kiến những biến động lớn của xã hội, sựthay đổi về cơ cấu và hình thái xã hội, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống
Pháp Tập truyện ngắn Con đường sống của báo Văn nghệ đã ra đời trong
hoàn cảnh này Ra đời trong bối cảnh như vậy, nhưng nó đã nhanh chóng hòanhập cùng sự phát triển của một nền văn học mới, và cũng là bước đầu đặtnền móng cho sự phát triển chung của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại.Mặc dù chỉ xuất hiện với con số khiêm tốn về số lượng tác phẩm nhưngvề cơ bản, truyện ngắn giai đoạn này đã phác họa được toàn cảnh bức tranhsinh động của đời sống xã hội, tái hiện một cách trung thực hiện thực đờisống cách mạng và kháng chiến, theo sát các chặng đường, các bước pháttriển của cuộc kháng chiến Khả năng bao quát của truyện ngắn giai đoạn nàylà khá lớn Chúng ta có thể hình dung một khung cảnh rộng lớn của cuộckháng chiến ở mọi miền đất nước, ở tiền tuyến và hậu phương, trong vùngchiến khu và cả vùng địch tạm chiếm, từ núi rừng cho đến đồng bằng, từnhững người có địa vị thấp bé cho đến những người có địa vị cao trong xãhội, từ những người nông dân chân lấm tay bùn cho đến những người trí thức,tất cả họ, đều tham gia và có mặt trong các sáng tác giai đoạn này Họ là đốitượng, nguồn cảm hứng lớn cho văn học nói chung và cho truyện ngắn nóiriêng
2.1.2 Vấn đề “nhận đường” và xác định lý tưởng sống
Ở chặng đường đầu tiên của nền văn học mới - từ 1945 đến 1954, cácthể loại văn học Việt Nam nói chung và truyện ngắn nói riêng, đã có nhữngbiến đổi hết sức quan trọng cả về nội dung và hình thức thể loại theo địnhhướng của một nền văn học hướng về hiện thực cách mạng và đại chúng nhândân Có lẽ vậy, Cách mạng tháng Tám, rồi tiếp đó là cuộc kháng chiến chống
Trang 36thực dân Pháp, là những biến cố trọng đại với vận mệnh cả dân tộc, nó khơidậy và làm bùng lên những sức mạnh to lớn và tiềm tàng trong lòng dân tộcvà mỗi người dân Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập, tự do,tinh thần cộng đồng, chủ nghĩa anh hùng… Nhà văn, với tư cách một côngdân và một nghệ sỹ phải thấy được sức mạnh lớn lao và vẻ đẹp của cả dântộc, đang trỗi dậy trong đời sống cộng đồng Nếu như quá trình hiện đại hóacủa văn học Việt Nam trong mấy chục năm đầu thế kỷ XX đã gắn liền với sựthức tỉnh và phát triển ý thức cá nhân với cái “tôi” cá nhân - cá thể, thì vănhọc ở chặng đường đầu tiên 1945 - 1954, đã nảy sinh và phát triển trên nềntảng ý thức cộng đồng Bởi cách mạng, không chỉ giải phóng cho con ngườikhỏi những xiềng xích của thực dân, phong kiến, khỏi thân phận nô lệ, màcòn tập hợp, liên kết kết mọi người trong cộng đồng dân tộc, trong các đoànthể quần chúng, tạo nên sức mạnh to lớn của cả dân tộc Cách mạng làm thứctỉnh ở mỗi con người tình cảm dân tộc, ý thức công dân, đưa con người vàovới đời sống cộng đồng, tham gia trực tiếp với biến cố của lịch sử Từ cơ sởhiện thực ấy, truyện ngắn cũng như các thể loại văn học khác cũng đã cónhững biến đổi rất cơ bản về thể tài Từ thể tài sinh hoạt và thế sự, đời tư,chuyển sang thể tài lịch sử dân tộc, hướng vào khai thác hiện thực đời sốngcách mạng và kháng chiến.
2.1.3 Con người trước yêu cầu của Cách mạng và kháng chiến
Người trí thức trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao là nói đến sự lựa
chọn của họ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp Sự lựa chọn củahọ có thể là tiến lên hay đào thải, hoặc hòa nhập cùng nhân dân kháng chiếnhay trở thành vật cản đường của cuộc kháng chiến đều phụ thuộc vào quyếtđịnh của họ Hoàng và Độ là hai thái cực, cuộc gặp gỡ giữa hai người là cuộcgặp gỡ của hai cái nhìn, hai phong cách sống trái ngược nhau Độ có cái nhìntích cực, sống gắn bó với cuộc kháng chiến, ngược lại Hoàng là người đứng
Trang 37ngoài cuộc thờ ơ với cuộc kháng chiến Độ luôn đầy ắp những suy tư, cònHoàng thì đầy ắp ngôn ngữ giễu cợt, châm biếm Một chi tiết rất đắt trong tácphẩm, đó là Độ đã từng ngủ chung với công nhân xưởng in nên khi nămchung với Hoàng, Độ lo ngay ngáy mấy con rận trong bộ quần áo Tây củamình “du lịch” sang chiếc chăn bông thoang thoảng mùi nước hoa của Hoàng.Một chi tiết nhỏ đó cũng tạo nên sự khác biệt và đối lập giữa hai cách sống.Song, đó chưa phải là điển hình, chưa phải là đặc sắc nhất của sự tương phản.Nét đặc sắc nhất là tác giả đã để cho họ đứng trước một tình huống: anh nôngdân đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” Hoàng thì ra sức khinh bỉ, Độ chỉ lặng
lẽ nhận xét “Anh có trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giaiđoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi đểngăn quân thù” [51, tr.20] Nhận xét của Độ, đã chỉ ra sự khác biệt giữa haikiểu tư duy: Hoàng thiên về cái nhìn bên ngoài hời hợt, bi quan, tàn nhẫn; Độhướng đến bản chất bên trong nên thông cảm và tin yêu nhân dân Cái nhìncủa Độ thể hiện một quá trình phát triển từ phiến diện đến toàn diện Khimiêu tả quá trình chuyển hóa của Độ, ngòi bút Nam Cao tăng thêm sức mạnhchân thực giàu tính thuyết phục Độ thuộc lớp nhà văn cũ đi theo kháng chiến,đã rũ bỏ tư tưởng lạc hậu để có cái nhìn mới, tình cảm mới Độ hòa nhập vớicuộc kháng chiến của dân tộc Sự tương phản của Độ và Hoàng chính là sựtương phản giữa cái cũ và cái mới Qua sự tương phản đó, Nam Cao nhằmtăng sức phê phán cái cũ, khẳng định cái mới
Truyện ngắn Những ngày cuối năm của Trần Đăng là sự thể hiện niềm
lạc quan, niềm tin vào cách mạng, vào kháng chiến Càng cận kề những ngàycuối năm, nhân dân trong làng càng hoang mang trước cuộc sống thực tại.Thời gian này, quân giặc ném bom càn quét, nhân dân rơi vào tình trạng khốnđốn, lo sợ Mọi người ai cũng muốn làm việc để có cái ăn cái mặc Nhưngchúng đã cắt đứt đi cái ăn của họ, chúng ném bom tàn phá, chúng chắn các
Trang 38cống nước lại làm cho “những cánh đồng thật khô nẻ, gãy xuống như cái rơm,cái rác” Trong thời điểm nước sôi lửa bỏng này, Minh từ chiến khu Việt Bắctrở về làng Sự trở về của anh như thổi một luồng sinh khí mới, tiếp thêm sứcmạnh cho người dân trong làng Sau khi nhe kể về chuyện kháng chiến,chuyện cách mạng ở Việt Bắc, mọi người lạc quan hơn, tin tưởng và đón chờmột thắng lợi lớn của dân tộc Ông giáo Liên đã thay đổi thói quen, không đicâu nữa mà tích cực viết tờ bích báo cho năm mới, để sáng mùng một dán ởtrụ sở Chị Liên cùng mọi người trong gia đình, từ già đến trẻ hăng say làmbông Dường như, tất cả mọi người đang làm bù cho những ngày không cóviệc Có thể thấy sự hiện diện của Minh như là sức mạnh, sức mạnh của cáchmạng, sức mạnh của cuộc kháng chiến đã gieo vào lòng người dân một niềmtin mãnh liệt vào công cuộc kháng chiến
Tình yêu làng, tình yêu đất nước và tự hào đối với cách mạng với khánglà phẩm chất tốt đẹp của người nông dân trong kháng chiến Ông Hai trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân là một người như vậy Xuất thân từ một làng
quê, làng Dầu, phủ Từ Sơn, luôn gắn bó với làng Làng ông nay đã bị giặcchiếm, nên ông phải ra khỏi làng để sống với thân phận của kẻ ngụ cư, hễ códịp là ông lại nói chuyện say sưa về cái làng của mình Có thể nói, trước Cáchmạng tháng Tám, người nông dân chỉ sống quanh quẩn bên lũy tre làng, tầmnhìn xa không hơn cái đình làng của họ Cách mạng bùng nổ, họ chuyển vàođời sống cách mạng rồi kháng chiến, họ trở thành người nông dân yêu nướctản cư Giờ đây ông Hai yêu quê hương trong tình yêu đất nước, gắn bó vớilàng trong sự gắn bó với kháng chiến, gắn bó với cách mạng, với cụ Hồ.Chính lẽ đó, ông Hai rất đau xót khi nghe tin làng mình theo giặc và sungsướng nghe tin cải chính Trạng thái tâm lý của ông được nhà văn Kim Lânmiêu tả khá thành công Ông Hai chính là một điển hình tiêu biểu của người
Trang 39nông dân trong buổi đầu kháng chiến, và tình cảm của ông cũng như baongười nông dân khác đã tạo nên một sức mạnh tinh thần dân tộc lớn lao.
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này nói chung, tập truyện ngắn Con
đường sống nói riêng và đặc biệt là những truyện Đôi mắt, Những ngày cuối năm, Làng của các tác giả Nam Cao, Trần Đăng, Kim Lân như thổi bùng ý
thức cách mạng vào tâm hồn của mỗi người Mặc dù, họ có những suy nghĩkhác nhau, hành động có khác nhau nhưng cũng đi đến một kết luận cuốicùng, chỉ có con đường cách mạng mới có thể giải quyết được nổi khổ Họ đãthức tỉnh, giác ngộ được cách mạng, sẵn sàng hy sinh cho cuộc kháng chiếncủa dân tộc
Để có thể thắng lợi trong cuộc cách mạng đòi hỏi phải có sự đồng thuậncủa cả dân tộc, như vậy mới tạo thành một làn sóng cách mạng Muốn đạtđược điều đó trước hết, mỗi người cần phải ý thức được sứ mệnh và lý tưởngđộc lập, tự do của đất nước Bởi, cách mạng là khắc phục mọi trở ngại để cảitạo cuộc sống, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, tiến lên chủ nghĩa xã hội.Việt Nam là một nước nghèo nàn lạc hậu muốn tồn tại và phát triển cần phảicó một sức mạnh tập thể Sức mạnh của mỗi cá nhân cũng như của cả dân tộclà tổng hợp của sức mạnh của thể chất, với ý chí quyết tâm, với lòng căm thùgiặc, với ý thức làm chủ đất nước, làm chủ cuộc sống và tin tưởng vào cuộckháng chiến của dân tộc
Với sứ mệnh của một cán bộ được Đảng và cách mạng giao phó đồng
chí Tư trong truyện ngắn Tào Lường của Tô Hoài, đã ý thức được trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình Qua chuyến đi công tác, tiếp xúc trực tiếp với ngườidân địa phương, Tư đã hiểu ra rằng “chúng ta phải làm cho anh em Mán đủ
ăn, được học, có áo mặc rét và hiểu biết Phải có những cán bộ chịu khó, kiêntâm Bởi vì anh em người Mán lang thang trên các đỉnh núi, mà cán bộ ta:đồng chí xuôi lên thì ít chịu tìm hiểu, đồng chí ngược thì chủ quan” [51,
Trang 40tr.55] Mặc dù đời sống khó khăn, người Mán đói, rét, chết khô trên các mỏmnúi, nhưng họ vẫn hăng say giúp đỡ cách mạng, họ đã đi theo cách mạng vàlàm cách mạng Khi nghe tin giặc Pháp tiếp tục xâm chiếm nước ta lần nữa,Hoàng đã cười và nói: “Vây người ta 80 năm còn không được, còn vây cái gì?Thằng Pháp dốt quá” [51, tr.58] Với tinh thần yêu nước, bộ đội đã cùng vớinhân dân địa phương phối hợp để chống giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sốngấm no cho dân tộc.
Những người nông dân trong truyện ngắn Đánh trận giặc lúa của
Nguyễn Khải họ là những người nông dân chân chất làm ăn nhưng bọn giặcPháp chúng không để cho họ yên Chúng không chỉ tàn phá làng mạc màchúng còn móc miếng cơm từ cổ họng của người dân Không chấp nhận sựtàn phá của giặc, “nông dân Vân Tập không chịu thua trời, không chịu thuagiặc” [51, tr.80] Giặc càng đánh phá bao nhiêu, mọi người càng hăng say sảnxuất bấy nhiêu Đến ngày lúa chín, nhân dân trong làng phối hợp cùng vớidân quân du kích “đánh trận giặc lúa” Quân đội Việt Minh chính là “thần giữcủa cho đồng bào” Khi mùa gặt cấy, khi có giặc về quấy nhiễu, các anh lại vềbên cạnh để che chở, bảo vệ cho nhân dân Xong việc, các anh lại âm thầm,lặng lẽ ra đi, để lại niềm thương nơi nhớ nơi người dân, nhất là bà Mảng -người mẹ của nhân dân
Trước những biến động của xã hội, con người đã biết vươn mình, đổiđời, thoát khỏi cảnh áp bức, bóc lột, thân phận nô lệ Người nông dân trong
truyện ngắn Con đường sống của Minh Lộc đã dám đứng lên bảo vệ tài sản
của mình, cứu đàn bò khỏi bị bọn giặc giết thịt Bởi, đối với người nông dântrâu bò vốn là tài sản vô giá đối với họ Cuộc sống trồng trọt, chăn nuôi đềuphải dựa vào sức lực của trâu, bò để lao động sản xuất Chính lẽ đó, họ yêuquý chúng như người thân “Nhớ những năm còn khá: trong nhà hai đôi trâu,một đôi bò, ruộng mần đôi ba trăm công, gà vịt, heo cúi rần rần” [51, tr.142]