Đối với disản ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lâu nay, các nhà Việt ngữ học đãquan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện với những mức độ khác nhau.Các tác giả Hoàng Tuệ 1976, Lê Anh Hi
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Trong các di sản tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cómột di sản vô cùng quý giá đó là di sản ngôn ngữ việc tìm hiểu, học tập disản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ngôn ngữ là một công việc khó khăn đòihỏi công sức của nhiều ngời, nhiều thế hệ tiếp nối Bởi vậy có thêm mộtngiên cứu về ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là góp thêm một cáchtiếp cận để chúng ta kế thừa và phát huy cái di sản quý báu đó
1.2 một cá nhân không thể tạo ra đợc cả một ngôn ngữ nhng có ngờithông qua vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình, nhất là có những sáng tạocủa mình về từ ngữ, về cách diễn đạt… có thể đóng góp tích cực cho sự có thể đóng góp tích cực cho sựphát triển của một ngôn ngữ, thậm chí thông qua những chủ trơng sángsuốt, những quan điểm đúng đắn, sáng suốt và có ảnh hởng lớn có thể tác
động đến chiều hớng phát triển của một ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minhcủa chúng ta chính là ngời nh thế Sự phát triển của ngôn ngữ, theo chúngtôi bao gồm hai mặt là mặt cấu trúc ngôn ngữ và mặt chức năng xã hội của
nó Về mặt cấu trúc, đó là sự tăng thêm về mặt số lợng âm vị, từ ngữ, quytắc ngữ pháp Về mặt chức năng xã hội, đó là sự mở rộng các chức năng xãhội của ngôn ngữ Sự phát triển về các chức năng xã hội sẽ thúc đẩy sự pháttriển về cáu trúc ngôn ngữ và ngợc lại, sự phát triển về cấu trúc ngôn ngữ sẽtạo khẳ năng mới cho ngôn ngữ thực hiện đầy đủ các chức năng xã hội của
nó ở cả hai mặt đó tiếng Việt hiện đại đều có sự phát triển mạnh mẽ và sựphát triển đó không thể tách rời khỏi sự cống hiến hết sức to lớn của Chủtịch Hồ Chí Minh
1.3 Lâu nay, giới Việt ngữ học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ngôn ngữ Hầu hết các ý kiến đềukhẳng định rằng tiếng Việt đã cung cấp những phơng tiện phong phú đểChủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt những t tởng, tình cảm còn Ngời thì đã cócông lớn là góp phần làm cho tiếng Việt thêm phong phú Có điều, sự đánhgiá này chỉ xuất hiện rải rác trong các công trình nghiên cứu khi các tác giảtìm hiểu khảo sát ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các bài nói, bàiviết ở các thể loại văn bản khác nhau chứ cha có công trình nào đặt vấn đềnghiên cứu nh một đối tợng độc lập Vì vậy, chúng tôi trên tinh thần thụ h-ởng những kết quả của những ngời đi trớc tập trung tìm hiểu cách Chủ tịch
Trang 2Hồ Chí Minh vận dụng tiếng Việt và qua hoạt động ngôn ngữ của ngờitiếng Việt thực sự có một bớc phát triển mạnh mẽ.
2 Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu các di sản tinh thần trong đó có di sản ngôn ngữ của Chủtịch Hồ Chí Minh là công việc của nhiều ngời, của nhiều thế hệ Đối với disản ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lâu nay, các nhà Việt ngữ học đãquan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện với những mức độ khác nhau.Các tác giả Hoàng Tuệ (1976), Lê Anh Hiền (1980), Nguyễn Nh ý(1988),
Lê Anh Trà (1990), Nguyễn Lai (1996),… có thể đóng góp tích cực cho sự đã tìm hiểu phong cách ngônngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bài nói, bài viết của Ngời Các tácgiả nh Nguyễn Phan Cảnh (1965), Nguyễn Kim Thản (1970), Đào Thản –Hoàng Văn Hành (1980), Lý Toàn Thắng – Nguyễn Hồng Cổn (1988),… có thể đóng góp tích cực cho sự
đi sâu khám phá những nét đặc sắc trong ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh.Các tác giả nh Hoàng Tuệ (1980), Lê Kinh Khiên (1980), Nguyễn ThiệnGiáp (1988), … có thể đóng góp tích cực cho sự tìm hiểu những bài học về cách viết cách dung phơng thứctập Kiều, cách dùng thành ngữ trong các bài viết của Chủ tịch Hồ ChíMinh Còn các tác giả nh Nguyễn Văn Tu (1980), Cù Đình Tú (1980), ĐáiXuân Ninh (1988), Nguyễn Đức Dân (1988),… có thể đóng góp tích cực cho sự khảo sát các mặt từ vựng,ngữ pháp trong các bài viết của Ngời Sự đa dạng trong ngôn ngữ do sự tiếpxúc với các ngôn ngữ nớc ngoài trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh cũng đợc cáctác giả nh Đặng Anh Đào (1980), Phan Văn Các (1988), Nguyễn HuyThông (1988),… có thể đóng góp tích cực cho sự đặt vấn đề nghiên cứu Đây đó trong các công trìnhnghiên cứu về ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số tác giả đãkhẳng định cách sữ dụng tiếng Việt của Hồ Chí Minh là linh hoạt, sáng tạo
do đó đã làm cho tiếng Việt phát triển Đặc biệt, có tác giả nh Nguyễn Lai(2003) đã khẳng định là có một tiếng Việt thời đại Hồ Chí Minh Trongcông trình “Tiếng Việt và nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh”, giáo s NguyễnLai đã phân tích một số cấu trúc định danh mở rộng trong các bài viết Chủtịch Hồ Chí Minh, qua đó khẳng định đó là cống hiến của Ngời trong việcphát triển của tiếng Việt Nh vậy, có thể nhận thấy từ trớc đến nay cha cómột công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu cống hiến của Chủ tịch Hồ ChíMinh đối với sự phát triển của tiếng Việt hiện đại nh một đối tợng độc lập
Do vậy, bớc đầu tìm hiểu cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiếng Việt hiện đạilàm khoá luận tốt nghiệp đại học.
Trang 33 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Có thể nói rằng những bài nói, bài viết và những ý kiến Chủ tịch HồChí Minh về ngôn ngữ là một nguồn t liệu không bao giờ cạn cho ngànhViệt ngữ học và những ngành khoa học liên quan ở khoá luận này, chúngtôi tập trung tìm hiểu cách Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng ngôn ngữ tiếngViệt trong một số bài nói, bài viết, qua đó có đóng góp tích cựu cho sự pháttriển của tiếng Việt hiện đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khoá luận nhiệm vụ phải giải quyết những vấn
đề sau đây:
- Tìm hiểu những chủ trơng, chính sách ngôn ngữ quyết định phơnghớng phát triển của tiếng Việt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời đề xớng,thực hiện và kiên trì với chính sách đó
- Qua cách sử dụng tiếng Việt tài tình, linh hoạt, sáng tạo, khoá luậnlàm sáng tỏ những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự pháttriển của tiếng Việt hiện đại
- Phác vạch những đờng nét căn bản về tiếng Việt thời đại Hồ ChíMinh
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Tài liệu đợc sữ dụng trong khoá luận khai thác từ hai nguồn:
- Các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Hồ Chí Minhtoàn tập” gồm 12 tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2002 Khoá luậnchỉ thu thập t liệu từ tập 3 đến tập 12 (viết bằng tiếng Việt) và không khảosát các văn bản nghệ thuật (thơ, truyện, kịch… có thể đóng góp tích cực cho sự)
- Sử dụng t liệu trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Chủtịch Hồ Chí Minh của các nhà Việt ngữ học đã công bố ở sách báo, tạp chíchuyên ngành
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, khoá luận áp dụng các phơng pháp nghiêncứu sau đây:
- Dùng phơng pháp thống kê ngôn ngữ học để xác định những trờnghợp Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, sáng tạo
Trang 4- Dùng phơng pháp phân tích, miêu tả để nhận xét, đánh giá cách sửdụng tiếng Việt của Chủ tịch Hồ Chí Minh có cống hiến to lớn vào sự pháttriển của tiếng Việt hiện đại.
- Dùng phơng pháp hệ thống để khái quát hoá nhũng mặt phát triểncủa tiếng Việt hiện đại
5 Đóng góp của khoá luận
Khoá luận góp phần làm sáng rõ những đóng góp to lớn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiếng Việt trên cả hai mặt chức năngxã hội và cấu trúc ngôn ngữ tiếng Việt, qua đó chứng minh hùng hồn Chủtịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới Các kết quả của khoá luận
có thể là những tham khảo bổ ích cho việc giảng dạy bộ môn tiếng Việttrong nhà trờng, là bài học quý báu cho chúng ta trong hoạt động giao tiếpbằng ngôn ngữ
6 Bố cục của khoá luận
Toàn văn khoá luận gồm 75 trang Ngoài phần mở đầu và kết luận,nội dung khoá luận đợc triển khai thành ba chơng
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Sự phát triển các mặt chức năng xã hội của tiếng Việt
Chơng 3: Sự phát triển về mặt cấu trúc tiếng Việt
Trang 5Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Hồ Chí Minh – danh nhân văn hoá thế giới
Hồ Chí Minh là tinh hoa của dân tộc ta Ngời tiêu biểu cho tất cảnhững gì cao đẹp nhất, quý báu nhất mà khí phách anh hùng và trí sáng tạocủa nhân dân ta nung đúc trong bốn nghìn năm lịch sử Ngời tiêu biểu chotâm hồn và trí tuệ của dân tộc Việt Nam Ngời là nhà cách mạng yêu nớctriệt để nhất, tiên tiến nhất Hồ Chí Minh còn là một nhà văn hoá lớn củadân tộc Việt Nam và của loài ngời, với ý nghĩa đầy đủ nhất của danh hiệunhà văn hoá ở Hồ Chí Minh, nhà văn hoá lớn gắn liền với nhân văn lớn,phát huy truyền thống của một dân tộc “văn hiến” Chủ tịch Hồ Chí Minh làmột nhhà văn hoá lớn vì cuộc đời và sự nghiệp của Ngời là tấm gơng vềnhân sinh quan và thế giới quan caio đẹp Năm 1990 tổ chức Khoa học -Giáo dục - Văn hoá (viết tắt UNESCO) đã quyết định tổ chức kỉ niệm 100năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở khắp các nớc trên thế giới và sự
đánh giá tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam, đợc nhândân cả nớc Việt Nam đón nhận nh một niềm tự hào lớn, một sự động viênlớn trên con đờng tiếp tục sự nghiệp cách mạng mà Ngời đã chọn Năm
1990, Tổ chức UNESCO đã công nhận Ngời là danh nhân văn hoá thế giới
Khi một con ngời đã đi vào văn hoá, đã trở thành văn hoá thì t tởng
và sự nghiệp con ngời đó cũng trở thành bất tử, vợt qua mọi giới hạn củakhông gian – thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những ngời
nh vậy Điều đó đã đợc thể hiện trong lời phát biểu của Tiến sĩ M át Mét,giám đốc UNESCO khu vực Châu á - Thái Bình Dơng, đại diện đặc biệtcủa Tổng giám đốc UNESCO tại cuộc hội thảo kĩ niệm lần thứ 100 ngàysinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990: Ngời sẽ đợ ghi nhớkhông phải chỉ là ngời giải phóng cho Tổ quốc và cho nhân dân bị đô hộ,
mà còn là một nhà hiền triết hiện đại mang lại cho những ngời đang dấutranh không khoan nhợng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng kỏi trái đất nàymột viễn cảnh và một niềm hi vọng mới
Hồ Chí Minh là nhà chiến lợc, nhà lãnh đạo, nhà t tởng đồng thời lànhà văn hoá, nhà báo, nhà thơ lớn Ngời đã để lại cho chúng ta một giá trị ttởng lớn T tởng văn hoá Hồ Chí Minh là một t tởng văn hoá vô giá, lànhững giá trị vĩnh cửu mà Ngời đã để lại cho dân tộc mình và cho cả nhânloại Những t tởng ấy không phải nằm trong toàn bộ hoạt động thực tiễn
Trang 6trong cuộc sống trong con ngời Hồ Chí Minh và quan trọng hơn là trongcách mạng của cả một dân tộc, trong sự nghiệp vĩ đại mà Ngời đã cùng vớidân tộc mình tạo dựng nên trong thế kỉ XX, trong sự lay động con tim, khối
óc của hàng triệu con ngời trên thế giới Chính vì vậy mà UNESCO đã nhận
định: Những t tởng của ngời là hiện thân của những khát vọng của các dântộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc trong việc khẳng định bản sắcdân tộc mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau Cùng vớitinh thần ấy, có ngời đã đánh giá Hồ Chí Minh không còn còn chỉ thuộc vềdân tộc Việt Nam mà trở thành tài sản của nhân loại
1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ngôn ngữ
Trong những di sản tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại chochúng ta có di sản vô cùng phong phú, Hồ Chí Minh không phải là nhàngôn ngữ học nhng vì chủ trơng dựa vào quần chúng để vận động cáchmạng nên ngời luôn luôn định hớng mọi ngời sử dụng tiếng việt sao chophát huy đợc tốt hiệu quả giao tiếp Hồ Chí Minh không những là ngời tạo
điều kiện và tiền đề về mặt xã hội cho ngôn ngữ với t cách là một nhà khoahọc phát triển mà còn trực tiếp tạo ra những mẫu mực thực hành tiếng Việtnăng động hơn và phong phú thêm cùng với quá trình hoạt động cáchmạng Từ tầm nhìn thực tiễn và sâu sắc về một định hớng và phát triển chotiếng Việt Ngời có quan điểm rất rõ ràng về ngôn ngữ luôn coi ngôn ngữ làmột phơng tiện vô cùng quan trọng để trực tiếp thức tỉnh quần chúng vận
động quần chúng làm cách mạng
Ngôn ngữ của Hồ Chí Minh do vậy đã trở thành một đối tợng vôcùng phong phú cho giới Việt ngữ học khai thác GS Nguyễn Kim Thản đãkhẳng định: “Những bài nói, bài viết của Hồ Chủ tịch là nguồn tài liệukhông bao giờ cạn cho ngôn ngữ học của nớc ta và những ngành khoa họcliên quan… có thể đóng góp tích cực cho sựtìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ tịch chắc chắn là chúng takhông thể không tìm hiểu vai trò phát triển của ngôn ngữ đối với sự pháttriển của xã hội, cụ thể là đối với việc giải thích chân lí cách mạng, tổ chứclực lợng cách mạng và tổ chức đấu tranh cách mạng, cũng nh tất cả nhữnggì liên quan đến việc duy trì và phát triển những truyền thống lịch sử vốn cócủa dân tộc”
T tởng cách mangj thể hiện trong quan điểm ngôn ngữ của Hồ ChíMinh đó là: Ngời luôn luôn quan tâm tiếng Việt trong t cách nó là phơng
Trang 7tiện đắc lực để truyền bá t tởng nhằm thức tỉnh và phát động quảng đại quầnchúng nhân dân đứng lên làm lại cách mạng.
Trong quan điểm phát triển ngôn ngữ của Hồ Chí Minh chúng ta thấyngôn ngữ tiếng Việt phát triển theo một đờng lối quần chúng rõ ràng HồChí Minh hiểu rằng tính chấ xã hội về ngôn ngữ không dừng lại đơn thuần
về mặt lí thuyết mà luôn luôn xác định trực tiếp và cụ thể bằng hiệu lực
đích thực của quá trình gaio tiếp, một thứ hiệu lực giao tiếp luôn gắn kiềnvới định hớng thức tỉnh và nâng cao dân trí để phát động quần chúng hớngquảng đại quần chúng đứng vào hàng ngũ đấu tranh cách mạng Do đó,Ngời dạy chúng ta “khi nói, khi viết phải làm cho quần chúng đều tin đềuhiểu đều quyết tâm làm theo lời của mình” Nh vậy, có một số sự chuyểnhoá đờng lối quần chúng trong cách mạng thành đờng lối quần chúng trongngôn gnữ Hồ Chí Minh
Chúng ta nên nhớ rằng: khi tìm hiểu đờng lối quần chúng trong ngônngữ của Hồ Chí Minh không nên hiểu thu hẹp vào khái niệm quen dùng: làtỉnh quần chúng đợc hiểu đơn thuần nôm dễ hiểu trong hình thức diễn đạtngôn từ đờng lối quần chúng trong ngôn ngữ của Hồ Chí Minh trớc hết là
sự quan tâm sâu sắc của Ngời đến đối tợng tiếp nhận Do vậymô hình điềuhành ngôn ngữ do Ngời xác lập là: Viết gì? Viết cho ai? Viết nh thế nào? đãchạm đến nhiều vấn đề thuộc chiều sâu của lí thuyết
Ngời từng nói rằng “khi nói, khi viết làm thế nào cho quần chúng đềuhiểu đều tin Phải làm thế nào cho mỗi câu nói, mỗi chữ viết tỏ ra cái t tởng
và lòng ớc ao của quần chúng”
Quan tâm đến đối tợng tiếp nhận, Ngời thờng nhắc nhở chúng ta
“muốn nói cho quần chúng hiểu thì phải hiểu cách nói của quần chúng”.Ngời đòi hỏi “mỗi t tởng, mỗi câu nói , mỗi chữ viết phải tỏ rõ các t tởng vàlòng ớc ao của quần chúng” Quan tâm đến đối tợng tiếp nhận gắn với việcthực thi đờng lối quần chúng trong ngôn ngữ của Hồ Chí Minh dù khônghiển ngôn nhng rõ ràng đã mở ra cho giới ngôn ngữ điều kiện bớc vào mộtcơ chế tạo nghĩa mới giàu tính dự báo vừa năng động của tích cực theo h-ớng đi của ngôn ngữ nghĩa học hiện đại
Với việc xác lập cơ chế điều hành ngôn ngữ bằng ba câu hỏi “Viếtgì? Viết cho ai? Viết nh thế nào?”, Hồ Chí Minh đã là ngời mẫu mực trongviệc thực hành cơ chế này đã góp phần làm cho Tiếng Việt trong sáng theo
Trang 8một phong cách Tiếng Việt văn hoá thời đại Hồ Chí Minh – một thứ TiếngViệt trực tiếp gắn với thực tiễn vô cùng năng động của một xã hội đang pháttriển Những câu hỏi Ngời đặt ra “Viết gì? Viết cho ai? Viết nh thế nào?” t-ởng nh đơn giản dễ trả lời nhng đều là cơ chế điều hành ngôn ngữ đợc HồChí Minh lần đầu tiên xác lập theo mô hình Mô hình điển hình chỉ có tám
từ trong ba câu hỏi nhng xét cơ chế liên hoàn trong mối quan hệ giữa ba vếthì từ chiều sâu về mặt này sẽ gặp này sẽ góp phần nhắc nhở chúng ta nhiềuvấn đề cần phải suy nghĩ Trớc hết đó là trách nhiệm xã hội của ngời viếtcùng với mối quan hệ hai chiều trong quá trình xác lập thông tin là hạt nhânquan trọng của mô hình Nó thể hiện đờng lối quần chúng trong quá trìnhxác lập nội dung thông tin là điều kiện để ngời nói thực thi trách nhiệm xãhội của mình bằng cách thâm nhập vào đối tợng ngời nghe, quyết định hiệuquả giao tiếp
Quan tâm đến đối tợng tiếp nhận, Hồ Chí Minh quan tâm đến cáchxác lập thông tin hai chiều theo nguyên tắc: “Muốn nói quần chúng hiểu tr-
ớc hết chúng ta phải hiểu quần chúng” Tuy không hiển ngôn nhng lợngthông tin hai chiều ở đây đợc xác lập: Nghe quần chúng nói trớc khi nóicho quần chúng nghe và phải hiểu quần chúng trớc khi nói cho quần chúnghiểu
Với Hồ Chí Minh, đờng lối, quan điểm quần chúng trong ngôn ngữkhông tách rời mạch kế thừa truyền thống văn hoá của dân tộc Ngợc lại,mạch kế thừa hoá truyền thống, trong tính hiện thực của nó không thể táchrời khỏi định hớng phục vụ của nó cho quá trình thể hiện tính quần chúngcủa ngôn ngữ qua thực tiễn giao tiếp
Nh vậy: Nghiên cứu quan điểm ngôn ngữ của Hồ Chí Minh chúng tathấy đợc mối quan hệ mật thiết của tính quần chúng trong mạch truyềnthống văn hoá của dân tộc Dù bận trăm công nghìn việc, nhng Hồ ChíMinh đã có nhng tình cảm yêu quí tin tởng rất chân thành ở Tiếng Việt, vớiNgời “Tiếng Việt là thứ tiếng nói vô cùng lâu đời” và “vô cùng phong phúcủa dân tộc ta” Ngời luôn luôn tôn trọng và có ý thức giữ gìn Tiếng Việt,luôn luôn xem Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng quý báu của dân tộc.Không chờ cho đến khi Tiếng Việt có đủ thuật ngữ để giải thích các t tởng
và khái niệm mới mà ngay từ những năm hoạt động cách mạng đầu tiên,Ngời đã dùng Tiếng Việt một cách nhuần nhuyễn để giảng giải những
Trang 9nguyên lí cao sâu của chủ nghĩa Mác – Lênin, để viết báo, viết sách cáchmạng.
1.3 Tấm gơng thực hành ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đa ra những quan điểm đúng đắn,chính xác về ngôn ngữ mà qua những bài báo, bài viết và những áng thơ văncủa Ngời ngoài những bài học mới mẻ, sâu sắc về t tởng, ý chí và tình cảmcách mạng, chúng ta còn tìm thấy ở đấy những mẫu mực thực hành hết sứcsinh động, tinh tế và giàu tính sáng tạo về mặt ngôn ngữ Tiếng Việt Ngờihiểu tính chất xã hội của ngôn ngữ không chỉ dừng lại đơn thuần về mặt lýthuyết mà luôn luôn xác định trực tiếp và cụ thể bằng hiệu lực đích thực củaquá trình giao tiếp Một thứ hiệu lực giao tiếp luôn hớng thức tỉnh và nângcao dân trí của quần chúng, để phát động quần chúng hớng quảng đại quầnchúng trực tiếp đứng vào hàng ngũ đấu tranh cách mạng Chủ tịch Hồ ChíMinh là ngời có khả năng ứng xử xã hội và ứng xử ngôn ngữ rất lớn Đặcbiệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có ý thức sâu sắc rằng “dân chúng khôngnhận luận nh nhau” Đối tợng giao tiếp là công chúng rộng lớn nh vậy vàphức tạp về thành phần dân tộc, thành phần xã hội cho nên muốn tuyêntruyền, giác ngộ cách mạng có kết quả Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tìm đợccách nói, cách viết sao cho “lọt tai” họ, để họ “tin” và “làm theo” mình.Chúng ta nhớ khi Lênin nói về công tác tuyên truyền về chủ nghĩa xã hội,Ngời cũng nhắc cán bộ tuyên truyền rằng “không thể nói về chế độ mộtcách giống nhau trong các cuộc mít tinh ở các nhà máy với nông dânCôdắc, trong một buổi học của các sinh viên và trong nhà của nông dân”
Những tác phẩm văn thơ những bản tuyên ngôn, tuyên bố, những lờikêu gọi cho đến những bài nói chuyện, những bức th nhỏ của Ngời … có thể đóng góp tích cực cho sự đềutoát lên một tấm gơng vĩ đại về cách nói, cách viết giản dị và trong sáng về
ý thức giữ gìn và làm giàu thêm cho “thứ của cải lâu đời” - Tiếng Việt
Một trong những đặc điểm quan trọng trong việc dùng ngôn ngữ của
Hồ chủ tịch là Ngời đã tận dụng những lối diễn đạt hết sức quen thuộc vớinhân dân trong mọi hoàn cảnh nói năng và với mọi đối tợng một cách cóhiệu quả nhất.Yêu cầu trớc tiên của Hồ Chí Minh khi nói và viết là sao chomọi ngời Việt Nam ai cũng hiểu đợc Thực hiện yêu cầu này thực ra không
đơn giản Muốn nói và viết dễ hiểu thì nhất thiết phải vận dụng nhuầnnhuyễn mọi phơng tiện ngôn ngữ có sức sống lâu đời và đợc dùng quen
Trang 10thuộc trong nhân dân Những phơng tiện này không những dễ hiểu mà còn
có giá trị gợi cảm, có khả năng đi sâu vào lòng ngời Thực tế sử dụng ngônngữ của Hồ Chí Minh đã chứng minh điều đó Chủ tịch Hồ Chí Minh baogiờ cũng chú ý phát huy những khả năng tiềm tàng của tiếng nói dân tộc tr-
ớc hết là về mặt từ vựng Ngời luôn luôn dùng các từ và quán ngữ, thànhngữ dễ hiểu, quen thuộc với ngôn ngữ hàng ngày của quần chúng Lớp từvựng làm nền cho đối tợng này là bộ phận từ thuần Việt,thờng gặp trongngôn ngữ đối thoại đời sống, phần lớn là từ đơn, các quán ngữ cửa miệng,các thành ngữ quen thuộc dễ hiểu dể cảm đối với với quần chúng, dù làquần chúng mù chữ, hoặc mới biết đọc, biết viết … có thể đóng góp tích cực cho sự
- “Sinh hoạt xa hoa tiêu xài bừa bãi Tiền bạc đó ở đâu ra? Khôngxoay của Đảng thì xoay của đồng bào Việc dễ thì tranh lấy mình Việc khóthì đùm cho ngời khác Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách trốn tránh” (Sửa
đổi lối làm việc)
- “Kéo bè kéo cánh, bà con bạn hữu không tài năng gì cũng chức nàychức nọ Ngời có tàin có đức nhng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”
- “Xem nhiều sách để loè, để làm ra ta đây, thế không phải là biết líluận”
- “ở vùng đồng bào Mán, mật thám Pháp, mật thám Nhật, mật thámBảo Đại nh rơi”
Các quán ngữ, các thành ngữ đợc Bác dùng trong giao tiếp đối vớiquần chúng bao giờ cũng có nội dung quen thuộc, gần gũi với những hiệnthực của đời sống hàng ngày:
- “Đạo đức cách mạng không phải là từ trên trời rơi xuống”
- “Trong cán bộ, có những đồng chí tốt, miệng nói tay làm, nhngcũng có một số đồng chí chỉ tay năm ngón, không chịu làm”
- “Phong trào cần phải liên tục có nội dung thiết thực, không nên chỉ
có hình thức, càng không nên có đầu voi đuôi chuột”
- “Mỗi ngời phải ra sức góp công góp của để xây dựng nớc nhà, chớnên ăn cỗ đi trớc, lội nớc đi sau”
Có những từ ngữ Tiếng Việt đã cũ, tởng nh sẽ không bao giờ còn lặplại trong ngôn ngữ hiện nay bởi những lí do lịch sử, xã hội nhất định nhngtrong văn của Ngời nó vẫn đợc sống lại và có chỗ đứng mới
Trang 11- “Cụ thật xứng đáng bốn chữ “lão dơng ích tráng” Cụ là một tợngtrng phúc đức của nớc nhà.” (“Th gửi cụ Nguyễn Ban” Hồ Chí Minh toàntập – tập V).
Chính do yêu cầu nói “thấm thía”, nói cho “lọt tai quần chúng” trongngôn ngữ giao tiếp với đối tợng có trình độ hiểu biết cha cao, tất cả các đơn
vị từ vựng, cha quen thuộc khó hiểu đối với quần chúng tức cha có trongvốn ngữ nghĩa của quần chúng thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thay bằngmột hình thức biểu đạt dễ cảm nhận hơn
VD “Ngày hôm nay nhân buổi mở trờng của các cháu, Bác chúc cáccháu một năm đầy vui vẻ và đạt kết quả tốt đẹp” (Tuyển tập, II, trang 111)
Có thể nói rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gơng sáng về thực hànhngôn ngữ Ngôn ngữ trong tác phẩm của Hồ Chí Minh là ngôn ngữ mẫumực của một ngời Mác xít dùng làm vũ khí đấu tranh cách mạng Nó vừa rõràng trong sáng vừa súc tích tinh vi khiến cho câu nói của Ngời có hiệu quảrất cao Ngời đã từng dạy “viết để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình đểphục vụ quần chúng” nên Ngời đặc biệt chú ý đến quan hệ hiểu biết giữangời viết và ngời đọc Nhằm mục đích ấy, Ngời chủ trơng viết ngắn gọn, rõràng vắn tắt lời ít mà ý nhiều”, ngay cả khi Ngời trình bày những vấn đề líluận cao sâu, phức tạp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những bài học quý báu
về cách nói cách viết Một trong những bài học đó là về mối quan hệ giữa ý
và lời Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách xử lí mối quan hệ giữa ý
và lời, ý và lời bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thận trọng, cân nhắc,biểu hiện rất rõ cái ý thức trách nhiệm muốn làm sao chữ phải diễn tả đợc
đúng, đợc hết, đợc hay ý tình định nói trong lời văn Ngời đã từng nêunhững yêu cầu nh thế đối với ngời viết, một yêu cầu Ngời gắn với việc rènluyện và tu dỡng đạo đức cách mạng “trớc khi nói phải nghĩ cho chín, phảisắp đặt cẩn thận, sau khi viết rồi phải xem đi xem lại ba, bốn lần Nếu làmột tài liệu quan trọng thì phải xem đi xem lại chín mời lần” (sửa đổi lốilàm việc – trang 96) và chính Ngời làm mẫu mực cho chúng ta trong việcthực hiện yêu cầu đó
Về mặt cú pháp, câu văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thờng rất ngắn.Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên bảo chúng ta “Nhiều ngời tởng: mình viết gì,nói gì ngời khác cũng hiểu đợc cả Thật ra hoàn toàn không nh thế Dùng cả
Trang 12đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗicâu dài dằng dặc, thì quần chúng hiểu sao đợc” Bác thờng viết và nói câungắn nh vậy là do Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn cho quần chúng dễ hiểu, dễnhớ, nhất là khi trình độ văn hoá của quần chúng công nông còn cha cao.
VD “Cái gì cũng dùng mệnh lệnh ép dân chúng làm” (sửa đổi lốilàm việc, trang 80)
Buffon đã từng nói “phong cách tức là con ngời” Điều đó đúng –muốn tìm hiểu cách nói cách viết của Hồ Chủ tịch chúng ta không thể táchrời nó với lí tởng, đạo đức, tác phong, lối sống của Ngời Mặt khác muốntìm hiểu cách nói, cách viết của Ngời thì không thể tách hình thức ra nộidung
Về mặt nội dung, lời nói bài viết của Ngời bao giờ cũng sôi nổi, cótính chiến đấu cao, sâu sắc, chính xác, chắc nịch về logic, đồng thời luônluôn toát ra thái độ ung dung về mặt hình thức, Ngời hay dùng câu đơn và
từ ngữ dễ hiểu, lời nói bài viết của Ngời bao giờ cũng mộc mạc nh “hạt lúa,
củ khoai”, giản dị nh lời nói hàng ngày của mọi ngời lao động, từng câu vàcả bài ngắn gọn, không có một chữ thừa, câu thừa tiết kiệm lời nói mà dồidào ý tứ, nhiều hình ảnh, hay dùng lối so sánh,… có thể đóng góp tích cực cho sự Phân tích bất kì bài nóibài viết nào của Ngời ta cũng thấy đợc điều đó Hồ Chủ tịch là một tấm g-
ơng sáng về thực hành ngôn ngữ Ngời luôn luôn có ý thức dùng ngôn ngữtiếng Việt, tiếng mẹ đẻ trong việc tuyên truyền giáo dục cán bộ, quần chúngnhân dân về những quan điểm và t tởng cách mạng Ngôn ngữ của bác làthứ ngôn ngữ vừa giản dị, ngôn ngữ hàng ngày của quần chúng vừa trongsáng mang nét hiện đại Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, cống hiến cuộc
đời cho sự nghiệp gải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc tanhững di sản quý trong đó có di sản về ngôn ngữ
1.4 Tiếng Việt thời đại Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đã sáng lập thời đại mới của dân tộc Việt Nam, bộ phậncủa thời đại mới của loài ngời, quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xãhội trên toàn thế giới, mở đầu bằng cách mạng tháng mời Nga Thời đạimới đang hình thành con ngời Việt Nam mới với những giá trị t tởng và giátrị tinh thần cao quý Trong những giá trị tinh thần của thời đại mới ấychúng ta không thể không nhắc đến tiếng Việt – di sản ngôn ngữ mà HồChí Minh đã để lại cho dân tộc
Trang 13Tiếng Việt thời đại ngày nay tính từ khi cách mạng tháng Tám thànhcông đợc gọi là tiếng Việt thời đại Hồ Chí Minh Tiếng Việt thời đại HồChí Minh là tiếng Việt đợc phát huy tối đa của các công cụ phục vu xã hội.
Do đó, nó trở thành một đối tợng nghiên cứu đa dạng và phong phú cho giớingôn ngữ học Với Hồ Chí Minh tiếng Việt là công cụ để mở rộng và nângcao dân trí cho quần chúng nhân dân; để thức tỉnh hành động cách mạngcho quần chúng, hớng quảng đại quần chúng tự giác đứng lên làm cáchmạng Tiếng Việt trong hơn nữa thế kỉ qua, nhiều phơng diện không phải làmột thứ tiếng Việt có sẵn từ trớc Về điều này, giới ngôn ngữ học Việt Nam
rừ lâu đã sớm có những ghi nhận thống nhất: tiếng Việt đã cung cấp nhữngphơng tiện phong phú để Hồ Chủ tịch diễn đạt t tởng tình cảm, còn Ngời thì
đã có công lớn góp phần làm cho tiếng Việt phong phú Với vật liệu sẵn cócủa tiếng ta, Ngời đã sáng tạo ra một thứ từ ngữ mới nh giặc đói, giặc dốt,giặc lụt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, dân quân gái, vùng biển vùngtrời đánh thọc sâu, chữ thập đỏ; một số ca dao, tục ngữ mới mà hiện naymọi ngời chúng ta vẫn quen dùng: “nghị quyết túi áo, thông cáo túi quần;thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi; tự mãn, tự túc là co mình lại;ngời đi trớc rớc ngời đi sau, ngời đi sau theo mau ngời đi trớc; quan sơnmuôn dặm một nhà, bốn phơng vô sản đều là anh em; ruộng rẫy là chiến tr-ờng, cuốc cày là vũ khí… có thể đóng góp tích cực cho sự;Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền;
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công”.Ngời đã đóng góp cho sự phát triển ngôn ngữ, thậm chí có ảnh hởng rất lớn
đến chiều hớng phát triển của ngôn ngữ
Hồ Chí Minh chẳng những tạo điều kiện và tiền đề về mặt xã hội đểhình thành và phát triển một tiếng Việt văn hoá phát triển năng động trongmột cơ chế mở Hơn thế nữa chính Ngời trực tiếp là ngời tạo ranx mẫu mựcthực hành cụ thể góp phần làm cho tiếng Việt văn hoá phát triển năng độnghơn và phong phú thêm cùnh với quá trình phát triển cách mạng mvà gaiotiếp ngôn ngữ
Với Hồ Chí Minh, ngôn ngữ dù trong chức năng giao tiếp hay nhậnthức và dù ở vị trí tiền đề hay kết quả thì cuối cùng nó phải kích thích cho
đợc quần chúng đấu tranh để đổi mới xã hội Sức mạnh ngôn ngữ của HồChí Minh là sức mạnh của một thứ ngôn ngữ luôn luôn hớng về quầnchúng lao động, tới sự kích thích hành động cách mạng cho quần chúng
Trang 14làm tiền đề để đứng lên đấu tranh cách mạng Ngôn ngữ Hồ Chí Minh còn
là sức mạnh của một thứ ngôn ngữ bình dị về hình thức, phong phú đa dạng
về nội dung theo hớng kế thừa truyền thống và phát huy giá trị truyềnthống Ngôn ngữ Hồ Chí Minh không đơn thuần là ngôn ngữ nôm na, dễdãi trong tính chân thực dụng của nó mà là thứ ngôn ngữ có bề rộng vàchiều sâu của truyền thống văn hoá dân tộc, là ngôn ngữ của một nhân cáchlớn Sáu mơi năm là thời gian hoạt động của cả một đời ngời, nhng lại thậtngắn ngủi trong lịch sử của một dân tộc và trong diễn biến của một thời đại.Nhìn về quá khứ và nhìn ra thế giới , trong khoảng thời gian ấy những điều
mà Hồ Chí Minh đã mang lại cho dân tộc và cùng dân tộc thực hiện thật lớnlao, đứng là một cuộc đổi đời Trong đó có ngôn ngữ - tiếng Việt thời đại
Hồ Chí Minh
1.5 Tiểu kết
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam,ngời anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Ngời đã đểlại cho chúng ta một di sản ngôn ngữ vô cùng quý giá Qua các bài nói, bàiviết của Ngời, chúng ta nhận biết một đờng lối ngôn ngữ đại chúng hoá,mẫu mực thực hành ngôn ngữ tiếng Việt tài tình Chủ tịch Hồ Chí Minh đãbằng hành động thực tiễn làm phong phú cho tiếng Việt, góp phần thúc đẩy
sự phát triển tiếng Việt hiện đại – một tiếng Việt thời đại Hồ Chí Minh
Trang 15Chơng 2 Sự phát triển các chức năng x hội của Tiếngã hội của Tiếng
Việt hiện đại
2.1 Dẫn nhập
2.1.1 Hiểu rõ hơn ai hết vai trò và chức năng của ngôn ngữ trong sựnghiệp đấu tranh cách mạng và phát triển văn hoá dân tộc, hết sức tự hàovới tiếng mẹ đẻ và hoàn toàn tin tởng ở khả năng to lớn của nó, Hồ Chủ tịchkhẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báucủa dân tộc” “phải giữ gìn và quý trọng nó” Lời dạy này của Hồ Chủ tịchcàng làm chúng ta thấm thía khi đi vào nghiên cứu ngôn ngữ trong nhữngtác phẩm chính luận, những bản tuyên ngôn, tuyên bố, những chỉ thị hay lờikêu gọi cho đến những bài nói chuyện, những bức th nhỏ của Ngời Trớcmắt ta, tất cả đã hiển hiện ra nh một tấm gơng vĩ đại về cách nói, cách viếtgiản dị và trong sáng, về ý thức giữ gìn và làm giàu thêm cho “thứ của cảilâu đời” ấy Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân ta, ngờichiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, mặc dù bậntrăm nghìn công việc hệ trọng có quan hệ đến vận mệnh của đất nớc vẫn rấtchú ý đến ngôn ngữ, đến tiếng Việt và đã vận dụng một cách sáng tãon t t-ởng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nớc ta, soi sángnhiều vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn hẹp này
Nhìn lại cả 4000 năm lịch sử, tiếng Việt cha bao giờ gánh vác đủ cácchức năng xã hội của một ngôn ngữ văn hoá - ngôn ngữ có khả năng biểu
đạt các giá trị tinh thần của một dân tộc đã đạt tới trình độ văn minh tơng
đối cao, có ảnh hởng đến một số hay nhiều dân tộc khác – nh trong vòng
40 năm trở lại nay Không những tiếng Việt tiếp tục đảm nhiệm chức nănglàm công cụ giao tiếp của nhân dân cả nớc trong đời sống gia đình, xã hội
mà còn đảm nhiệm các chức năng: làm công cụ sáng tác của một nền vănhọc phong phú cả về nội dung lẫn thể loại; làm công cụ của sự nghiệp giáodục ở mọi cấp từ tiểu học đến đại học và trên đại học ở mọi ngành nghề;làm công cụ sáng tạo khoa học, kỹ thuật dù là ngành khoa học kỹ thuật mớinhất, sâu nhất và khó nhất; làm công cụ của mọi ngành thông tin, báo chí,truyền thanh, truyền hình, xuất bản; làm công cụ giao tiếp giữa 54 dân tộcgắn bó với nhau trong một Tổ Quốc Việt Nam; làm công cụ giao tiếp quốc
tế ở một phạm vi không phải là hẹp đặc biệt, chúng ta phải kể đến những
Trang 16năm tháng của cuộc đàm phán Pari giữa Việt Nam với Mĩ, đến hội nghịquốc tế về Việt Nam ở Pari … có thể đóng góp tích cực cho sự
2.1.2 Vai trò quyết định đối với sự phát triển các chức năng xã hội
ấy của tiếng Việt trong thời gian vừa qua là cuộc cách mạng dân tộc – dânchủ nhân dân và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản ViệtNam tổ chức và lãnh đạo Nói nh thế cũng là đã nói đến cống hiến của HồChủ tịch đối với sự phát triển của tiếng Việt về các mặt chức năng xã hộirồi
Nhng, nếu chỉ nói thế thôi thì quả là không đầy đủ Bởi vì sự pháttriển của một ngôn ngữ còn chịu ảnh hởng của một chính sách ngôn ngữnhất định Về mặt này, nh chúng ta đã biết, Đảng ta mà đứng đầu là Chủtịch Hồ Chí Minh đã có một loạt chủ trơng, chính sách về ngôn ngữ, chữviết Và chúng ta có thể khái quát hoá thành một chính sách ngôn ngữ đúng
đắn có hiệu quả nhất quán, chính sách đó quyết định phơng hớng phát triểncủa tiếng Việt, tác động thêm vào các nhân tố xã hội là tiền đề cho sự pháttriển của tiếng Việt Và chúng ta có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làngời đã đề xớng, thực hiện kiên trì chính sách về ngôn ngữ đó
Trong mấy chục năm qua, đặc biệt là trong 25 năm trở lại đây, tiếngViệt đã có đợc những bớc phát triển rất lớn Sự phát triển ấy một mặt thểhiện ở những sự biến đổi trong nội bộ nh: hệ thống từ vựng phong phúthêm, tinh tế thêm, có nhiều từ mới xuất hiện Mặt khác, sự phát triển ấycòn đợc thể hiện ở những biến đổi về các chức năng xã hội của các thứtiếng đó nh: phạm vi sử dụng rộng hơn, số ngời sử dụng tăng thêm Sự pháttriển ấy trớc hết là do công lao của đồng bào cả nớc, là do công cuộc cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh
động viên mọi tầng lớp nhân dân đứng lên làm biến đổi sâu sắc mọi mặtcủa xã hội nớc ta từ chính trị, kinh tế đến t tởng, văn hoá và đời sống hàngngày – nâng cao trí tụê và trau dồi tâm hồn tâm hồn của mỗi ngời dân ViệtNam Đặc biệt, phải nói đến vai trò vô cùng quan trọng của cuộc cách mạngtháng Tám 1945, nó mở đầu cho thời kì tiếng Việt giành lại địa vị xứng
đáng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nói nh thế tức là nói đến cônglao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hồi sinh cho tiếng nói dân tộc Chúng ta
có thể khẳng định rằng sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà đứng
Trang 17đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nửa thế kỉ này là nhân tố quan trọnghàng đầu khiến cho tiếng Việt đợc phổ biến phát triển rộng rãi nh hiện nay.
Tóm lại, từ cách mạng tháng Tám đến nay, tiếng Việt có sự phát triểnmạnh mẽ về các mặt chức năng xã hội của nó Sự phát triển đó không thểtách rời khỏi sự cống hiến lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.1.3 Qua sự tìm hiểu cha thực sự đầy đủ, chúng tôi nghĩ rằng: cóthể tóm tắt chính sách của Hồ Chủ tịch đối với tiếng Việt thành một số
điểm sau đây và đây cũng chính là sự phát triển của các mặt chức năng xãhội của tiếng Việt
Thứ nhất, Hồ Chủ tịch đã mạnh dạn dùng tiếng nói hàng ngày củaquần chúng lao động làm công cụ truyền bá lí luận cách mạng Và khi đã
có đủ điều kiện lịch sử – xã hội thì Ngời đã mạnh dạn mở rộng các chứcnăng xã hội ấy của ngôn ngữ
Thứ hai, trong khi cùng Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dântộc, giành đợc độc lập chủ quyền về cho đất nớc, Hồ Chủ tịch đã đề ra chủtrơng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ tronggiáo dục và trong nhiều lĩnh vực khác
Thứ ba, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu gơng vàgiáo dục cán bộ phấn đấu làm cho lời nói, câu văn của mình gần gũi với lời
ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân
Thứ t, cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo đuổi chủ
tr-ơng đấu tranh cho việc giữ gìn và thống nhất tiếng Việt
Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cải tiến chữ Quốc ngữ làm cho
nó giản tiện hơn hợp lí hơn, phục vụ nhân dân lao động tốt hơn Đây cũng
là một chủ trơng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo đuổi suốt đời
2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự phát triển các chức năng xã hội của tiếng Việt
2.2.1 Chức năng làm công cụ giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Trớc cách mạng, tiếng Việt chỉ đợc dùng vào công việc giáo dục ởcác lớp đầu cấp tiểu học, chính xác hơn chỉ dùng công cụ dạy học là chủyếu ở lớp đồng ấu (tơng đơng lớp một ngày nay); còn còn học ở lớp dự bị vàlớp sơ đẳng (tơng đơng với lớp hai và lớp ba ngày nay) học sinh phải họctheo chế độ song ngữ Việt – Pháp ở một số lớp trên việc dạy và học chủ
Trang 18yếu theo tiếng Pháp, còn tiếng Việt đợc học nh một ngoại ngữ cùng vớinhững chính sách ngu dân khác của tực dân Pháp nh “lập nhà tù nhiều hơntrờng học” (Hồ Chí Minh) đã làm cho giáo dục đào tạo ngày càng kém pháttriển, dẫn đến 95% dân số Việt Nam mù chữ Nhận đợc nguy cơ đó từ năm
1930, trong “chính cơng vắn tắt” Hồ Chủ tịch đã đề ra nhiệm vụ thứ ba, đòihỏi phải “phổ thông giáo dục theo công nông hoá” Sau đó trong “chơngtrình hoạt động”, Đảng mà đứng đầu là Hồ Chủ tịch chủ trơng “hết thảy concái nhà lao động đợc học tới 16 tuổi bằng tiếng mẹ đẻ” Điều đáng chú ý
Hồ Chủ tịch đang có chú ý đến những chủ trơng này nhng chỉ coi nó là chủtrơng phục tùng nhiệm vụ chính trị: giải phóng dân tộc
Liền sau cách mạng tháng Tám, việc quan tâm đầu tiên của Hồ Chủtịch và chính phủ cách mạng là quét sạch nạn mù chữ, tiến hành sự nghiệpgiáo dục ở mọi cấp bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt thay thế ngay lập tức,thay thế hoàn toàn tiếng Pháp Đảng là một chủ trơng mạnh dạn và sángsuốt vì những ngày sau cách mạng những ngời trí thức còn hoài nghi liệu cóthể dùng tiếng Việt có thể thay thế hoàn toàn thay thế ngay lập tức tiếngPháp trong mọi hoạt động xã hội trong đó có giáo dục đào tạo và nghiêncứu khoa học Cùng với trung ơng Đảng và chính phủ Hồ Chủ tịch đã chủtrơng giao trách nhiệm cho các trí thức yêu nớc vừa làm nền xây dựng hệthống thuật ngữ của các nghành khoa học, từ phổ thông đến chuyen sâu, từ
ít đến nhiều Nhắc đến sự kiện này thủ tớng Phạm Văn Đồng đã khẳng định
“so với tình hình ở nhiều nớc nh ở nớc ta, đây là một kì công của nớc ta vàmột kì công của ý thức chúng ta” [trang 4 – 5] Nhờ chủ trơng dùng tiếngViệt để làm công cu dạy học từ phổ thông cho đến đại học của Hồ Chủ tịch,
sự nghiệp giáo dục nớc ta đã có một bơcá phát triển vợt bậc Không nhữngnạn mù chữ đợc thanh toán tơng đối nhanh chóng mà số học sinh, giáoviên, các trờng phổ thông, đại học cũng tăng lên đáng kể Về thành côngcủa việc dạy học bằng tiếng Việt trong giáo dục, thủ tớng Phạm Văn Đồngcho rằng “vì chúng ta có ý thức sâu sắc đối với tiếng nói của dân tộc chonên từ khi thành lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, chúng ta đã làm đợcnhững việc rất có ý nghĩa và đem lại những kết quả to lớn” [trang.5] ý thứctiếng Việt phải là công cụ để tổ chức giao tiếp trong lĩnh vực giáo dục - đàotạo trở thành chủ trơng của Đảng và chính phủ là khởi phát từ Chủ tịch HồChí Minh và Ngời đã kiên trì thực hiện điều đó Kết quả la chúng ta không
Trang 19những tiêu diệt đợc “giặc dốt” mà chúng ta còn đào tạo đợc một đội ngũcán bộ khoa học kĩ thuật có trình độ dại học và trên đại học đông đảo vềsốn lợng và đảm bảo về mặt chất lợng Nhờ có chủ trơng đúng đắn của Chủtịch Hồ Chí Minh mà tiếng Việt đã rở thành ngôn ngữ khoa học, có đủ hệthống thuật ngữ cần thiết để viết luận án phó tiến sĩ, tiến sĩ khoa học Cácnhà khoa học có tầm cỡ thế giới đến nớc ta diễn giảng giao lu khoa học đãthấy tiếng Việt cóa thể truyền đạt mọi t tởng cao sâu, hiện đại nhất trongcác ngành khoa học kĩ thuật Đó là điểm cha từng thấy trong lịch sữ pháttriển của tiếng Việt, Nh vậy từ một ngôn ngữ bị chèn ép, tồn tại bất bình
đẳng với ngôn ngữ nớc ngoài, tiếng Việt đã trở thành công cụ biểu hiệntrong giao tiếp ở lĩnh vực giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học của
đất nớc
2.2.2 Chức năng trao đổi những vấn đề chính trị – xã hội
Suốt hàng nghìn năm lích sử, tiếng Việt đồng hành với những bớcthăng trầm của lịch sử dân tộc Nhng địa vị của tiếng Việt chỉ là sau luỹ trexanh, dùng để bàn “việc làng”, “việc xóm” chứ không có vai trò để bàn
“việc nớc” Tất cả những hoạt động gaio tiếp của quen phơng là phải dùngtiếng Hán, chữ Hán và sau này là tiếng Pháp, chữ Pháp Do hàng nghìn năm
bị chèn ép nên tiéng Việt không có điều kiện để phát triển Khi cách mạngtháng Tám thành công, tiếng Việt lúc đó còn nghèo nàn về các từ ngữ chínhtrị, kinh tế, các thuật ngữ khoa học hiện đại, lối văn biến ngẫu kiểu cách vớinhững đăng đối gò bó vẫn còn thịnh hành Mặc dù vậy Chủ tịch Hồ ChíMinh vẫn tin vào khả năng phát triển về tiếng Việt Một mặt, Ngời dùng sẵnnhững từ ngữ sẵn có trong tiếng Việt để tuyên truyền, huấn luyện lí luậncách mạng cho cán bộ, quần chúng, mặt khác Ngời tạo ra những cách diễn
đạt mới, những đối ngữ mới hoặc tiếp thu những ngôn ngữ cần thiết củatiếng nớc ngoài mà chủ yếu là tiếng Hán Có thể nói rằng ở thời điểm nhànớc còn non trẻ thì việc dùng ngôn ngữ vào tuyên truyền lí luận cách mạng,trao đổi những vấn đề về lập trờng, t tởng là có ảnh hởng quyết định đếnvận mệnh của dân tộc, đấ nớc Ta thấy rằng chủ trơng dùng tiếng việt đểbàn bạc, trao đổi mnhững vấn đề chính trị – xã hội trong đời sống là chủtrơng hết sức sáng suốt, đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thế là đãgánh vác đầy đủ chức năng làm công cụ trao đổi ý kiến trong đời sốngchính trị – xã hội của cả nớc; “chức năng ấy ngày càng đợc phát huy theo
Trang 20đà cách mạng thức tỉnh và đa những tầng lớp sâu xa của nhân dân lên vũ đàichính trị, động viên mọi ngời tham gia hai cuộc kháng chiến cứu nớc chốngPháp và chống Mỹ” [trang.11] Hệ quả là trong tiếng Việt xuất hiện lớp từngữ chính trị Phần lớn những từ ngữ này đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh sửdụng trong các bài nói, bài viết đợc tập hợp công khai trên sách báo côngkhai của Đảng hoặc đợc truyền miệng trong các lớp huấn luyện, các cuộchọp sau đó đợc vận dụng hàng ngày, hàng giờ trong giao tiếp xã hội Nhvậy trong cách sử dụng của Ngời, lớp từ ngữ chính trị đã đi vào đời sốngngôn ngữ , trở thành bộ phận tích cực của từ vựng tiếng Việt, đợc quầnchúng sử dụng phổ biển trong giao tiếp hàng ngày Kết quả là quần chúngnhân dân đã có rình độ giác ngộ chính trị và những hiểu biết về xã hội caohơn nhiều so với trớc cách mạng Tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngờihiểu rõ vai trò ngôn ngữ đối với sự phát triển xã hội, đối với việc giải thíchchân lí cách mạng, tổ chức lực lợng cách mạng và tổ chức đấu tranh cáchmạng để dành độc lập, tự do cho dân tộc hạnh phúc cho nhân dân Chủ tr-
ơng dùng ngôn ngữ tiếng Việt để trao đổi ý kiến, t tởng, những vấn đề chínhtrị – xã hội của đất nớc của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng khẳng định đợc
địa vị quan trong của tiếng Việt trong đời sống xã hội
2.2.3 Chức năng phục vụ hành chính - pháp luật
Nừu nh trớc cách mạng tháng Tám, tiếng Việt khó trở thành công cụcông tác ành chính – pháp luật thì sau cách mạng tiếng Việt có thêm chứcnăng xã hội quan trọng là ngôn ngữ hành chính- pháp luật Nừu ta biết trớc
đây phần lớn giấy tờ đều làm bằng tiếng Pháp thì từ đây Chủ tịch Hồ ChíMinh chủu trơng phải sử dụng tiếng Việt Từ quốc hội chính phủ đến hội
đồng nhân dân và các uỷ ban nhân dân các cấp thấp nhất khi tổ chức cácvăn bản pháp lệnh, nghị quyết, ngị định, công văn, chỉ thị, báo cáo, đềuphải dùng tiếng Việt ở các khâu soạn thảo, công bố Mọi công dân, khitiếp xúc, làm việc với cơ quan công quyền đều phải sữ dụng tiếng Việt đểgiao tiếp Là ngời đề ra chủ trơng nhng chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngờithực hiện triệt để chủ trơng đó Điều đáng quan tâm ở đây là ngôn ngữ hànhchính – pháp luật tuy thuộc hệ thống thuật ngữ chuyên môn khá xa lạ nh-
ng qua cách sử dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại trở thành quen thuộc,gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động, khác với lốinói, lối viết nữa Tây nữa Tàu trớc đây Mặt khác tiếng Việt không chỉ đợc
Trang 21sử dụng trong mọi loại giấy tờ, văn bản hành chính nhà nớc mà còn vanglên trên các diễn đàn quốc tế từ á sang Âu Qua hoạt động ngoại giao củaChủ tịch Hồ Chí Minh, tiếng Việt đợc dùng trong các hiệp ớc hiệp định,nghị định, các bức th điện giữa nớc ta với các nớc khác Nh vậy, lần đầutiên trong lịch sử tiếng Việt có quyền bình đẳng hoàn toàn với các ngôn ngữquốc tế Công lao ấy thuộc về lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Thực tế cho thấy, không một đạo luật nào trong hiến pháp cũng nhkhông có một văn bản pháp quy nào ghi rằng tiếng Việt là ngôn ngữ quốcgia song do khả năng to lớn của tiếng Việt làm cho chức năng xã hội củatiếng Việt đợc mở rộng thêm: làm công cụ giao tiếp cho tất cả các dân tộcanh em chung sống trên đất nớc Việt Nam Các dân tộc thiểu số Việt Nam
đều tự nguyện làm công cụ giao tiếp giữa các dân tộc Việt Nam trên tất cảcác lĩnh vực đời sống xã hội Tiếng Việt có đợc địa vị cao quý đó là dochính sách ngôn ngữ đúng đắn của Đảng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời
đứng đầu
2.2.4 Chức năng làm công cụ sáng tác văn học
Trớc cách mạng, nền văn học của ta là sự phát triển kế tục nền vănhọc bằng tiếng Việt trớc đó nhng cha hoàn toàn đầy đủ Ngôn ngữ trong tácphẩm và ngôn ngữ của quần chúng đông đảo còn có một khoảng cách lớn.Cách mạng không chỉ giải phóng cho nhà văn khỏi gông xiềng nô lệ màcòn định hình một nền văn học mới nó phản ánh cuộc sống cuộc sốngmuôn màu muôn vẻ của một dân tộc đang thực hiện một cuộc cách mạngvung trời chuyển đất Hiện thực đời sống muôn màu muôn vẻ là nguồn gốccảm xúc vô tận cho những ngời sáng tác từ đây, đề tài, chủ đề trong sángtác văn học hết sức đa dạng, phong phú Các nhà văn lại đợc sáng tác bằngtiếng Việt, đợc khai thác các phơng tiện biểu đạt của tiếng Việt, chính vìthế tiếng Viêtj trở thành công cụ đắc lực trong sáng tác văn học, trở thànhngôn ngữ cách mạng đem lại mà ngời đại diện tiêu biểu là Chủ tịch Hồ ChíMinh Cũng phải nói thêm rằng sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh cũng làmột minh chứng hùng hồn cho việc mở rộng chức năng xã hội – chứcnăng làm công cụ sáng tác văn học của tiếng Việt Chủ tịch Hồ Chí Minhlàm thơ, viết văn không phải là để trở thành nhà thơ, nhà văn mà Ngời làm
Trang 22văn học là để làm cách mạng Ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học củaChủ tịch Hồ Chí Minh giản dị nh tâm hồn của nhân dân Ngôn ngữ trongcác tác phẩm của Hồ Chí Minh thể hiện đúng con ngời của Bác mà chúng tahằng ngữỡng vọng Đó là con ngời của dân tộc, của quần chúng nhân dâncủa thời đại cách mạng vô sản Từ việc sử dụng các phơng tiện có sẵn trongtiếng Việt, Ngời đã nâng lên thành cái mới cái hiện đại nhng là cái mới cáihiện đại dựa trên cơ sở cái có sẵn cử tiếng Việt Dùng tiếng Việt để sáng tácvăn học, Hồ Chí Minh đã làm cho nó ngày càng sắc bén, đa dạng và giàu cóhơn bao giờ hết để cuối cùng tiếng Việt trở thành công cụ hữu hiệu cho mộtnên văn học tiếng Việt phát triển đầy đủ, đa dạng về đề tài về hình tợng vàthể loại, gắn bó với ngôn ngữ đời sống của ngời đọc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi ở chúng ta một văn phong mang tính
Đảng và tính nhân dân sâu sắc Theo quan điểm của Ngời, nói và viếtkhông phải là kỹ thuật về chủ nghĩa mà là vấn đề có liên quan đến côngviệc của Đảng, đến t cách của cán bộ, đảng viên
Thật vậy, trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Ngời đã coi việc chốngthói ba hoa và trau dồi cách nói, cách viết là một trong những nội dung t t-ởng và rèn luyện về phẩm chất t cách cán bộ, đảng viên Những lời dạy củaNgời trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong nhiều bài viết khác đã soi đờng
Trang 23cho mọi ngời cầm bút hoặc những ngời có nhiệm vụ diễn giảng trớc quầnchúng
Trong bài “Ngời tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Ngời viết: “ Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực Phải có đầu có đuôi sao cho aicũng hiểu đợc nhớ đợc Chớ dùng những danh từ lạ ít ngời hiểu Chớ nói rangoài đề, chớ lắp đi, lắp lại Chớ nói quá, một tiếng đồng hồ vì nói dài thìngời ta chán tai, không thích nghe nữa Muốn tránh những khuyết điểm đótrớc khi nói phải viết một dàn bài rõ ràng rồi cứ xem đó mà nói” (Hồ ChíMinh toàn tập – Tập 4)
Hoặc trong th gửi Đại hội báo giới, Ngời đã từng đề ra nhiệm vụ nhsau: “Ngoài ra, lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đờng hoàng, vui vẻ, làm chongời xem báo có thú vị mà lại bổ ích” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 4)
Trớc đây, hiện nay và cả sau này, Ngời đã từng viết: “Tục ngữ nói:
“Đàn gảy tai trâu” là có ý chê ngời nghe không hiểu Song những ngờituyên truyền mà viết và nói khó hiểu thì chính ngời đó là “trâu”” Xuất phát
từ quan điểm đó, Ngời đã giáo dục chúng ta:
“1 Phải học cách nói của quần chúng Chớ nói nh giảng sách Mỗi ttởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái t tởng và lòng ớc ao của quầnchúng
2 Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực
và dễ hiểu
3 Khi viết và khi nói phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu
đ-ợc Làm cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quan tâm theo lời kêu gọicủa mình Bao giờ cũng phải tự hỏi: Ta viết cho ai xem? Ta nói cho ainghe?
4 Cha điều tra, cha nghiên cứu, cha biết rõ chớ nói, chớ viết
5 Trớc khi nói phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận Phải nhớcâu tục ngữ “Chó ba năm mới nằm, ngời ba năm mới nói” Sau khi viết rồiphải xem đi, xem lại ba bốn lần Nếu là một tài liệu quan trọng phải xem đi,xem lại chín, mời lần Làm đợc nh thế - đảng viên và cán bộ ta phải quyếtlàm nh thế – thì thói ba hoa sẽ bớt dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch, màcông việc của Đảng, t cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tăng lên
Cái bí quyết dảm bảo cho chúng ta có một phong cách nói và viết tốt,một văn phong thoả mẵn đợc các yêu cầu mà Hồ Chủ tịch đã nêu ra là ở sự
Trang 24khổ công học tập và rèn luyện Ngời nói: “Muốn tiến bộ, muốn viết tốt,viết hay thì phải cố gắng học hỏi, ra công rèn luyện Ngời từng nhắc nhởchúng ta rằng: “Khi nói, khi viết phải làm thế nào cho quần chúng đều hiểu,
đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình” “Mỗi câu nói, mỗichữ viết phải tỏ rõ cái t tởng và lòng ớc ao của quần chúng” Chúng ta cóthể khẳng định rằng: Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôn ngữ dù trong chứcnăng giao tiếp hay nhận thức, cuối cùng hiệu lực đích thực mà nó cần hớngtới là thức tỉnh và kích thích cho đợc quảng đại quần chúng để quảng đạiquần chúng tự nguyện đứng lên đấu tranh làm cách mạng đổi mới xã hội
2.3.2 Suốt đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo đuổi chủ trơng đấutranh cho việc giữ gìn và thống nhất tiếng Việt
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gơng sáng chói về lòng yêu mến, quýtrọng tiếng Việt, tin tởng ở khả năng to lớn của tiếng Việt Thủa nhỏ HồChủ tịch học chữ nho trong nhiều năm Từ năm hai mốt tuổi Ngời bôn ba từChâu á sang Châu Âu, từ Châu Phi sang Châu Mỹ, sống xa Tổ quốc ba mơinăm ròng Trong thời gian đó, Ngời đã phải dùng nhiều thứ tiếng nớc ngoài
để hoạt động cách mạng: tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng
Đức, tiếng ý, tiếng Xiêm và một số thứ tiếng khác Trong mấy chục năm
đầu thế kỉ XX, tiếng Việt còn cha đủ thuật ngữ xã hội – chính trị để diễn
đạt những t tởng và khái niệm mới Bình thờng, một số ngời ở nớc ngoài lâu
nh thế, biết thạo tiếng nớc ngoài nh thế và ở vào thời kì tiếng mẹ đẻ còn ít
nh thế thì dễ nghi ngờ khả năng của tiếng dân tộc mình dễ nói và viết theohơi văn nớc ngoài Nhng Hồ Chủ tịch lại không nh vậy Suốt cuộc đời, Ngờichủ trơng dùng những từ ngữ mà tiếng ta sẵn có và chỉ vay mợn tiếng nớcngoài khi thật cần thiết Ngời cho rằng “tiếng ta còn thiếu, còn thiếu nênnhiều lúc phải mợn tiếng nớc khác nhất là tiếng Trung Quốc nhng phải cóchừng mực.Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta.Nhng sẽ “tả” quá nếunhững chữ chữ Hán đã hoá thành tiếng ta ai cũng hiểu,mà cố ý khôngdùng.Thí dụ: Độc lập mà nói “đứng một”, du kích thì nói “đánh chơi” Thếcũng là tếu
Chúng ta không chống mợn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy
đủ thêm.Nhng chúng ta phải chống cách mợn không phải lối mợn đến nỗi
bỏ ca tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu.”
Trang 25Ngời còn nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùngquí báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó, lam cho nó phổbiến ngày càng rộng khắp” (Trích từ bài “Nâng cao hơn nữa chât lợng củabáo chí”- Báo Nhân dân –Số ra ngày 09-09-1962).
Không những Ngời chỉ yêu tiếng Việt, mà Ngời đã phấn đấu suốt đờicho độc lập, tự do của Tổ quốc, là điều kiện đầu tiên để khôi phục địa vịxứng đáng của tiếng Việt, để làm giàu thêm tiếng Việt Chủ tịch Hồ ChíMinh còn dạy cán bộ một cách ân cần, tỉ mỉ, kiên trì về cách nói, cách viết,cách dùng tiếng Việt cho sáng Nh vậy, suốt cuộc đời, Hồ Chủ tịch đã đấutranh cho sự phát triển lành mạnh cho sự thống nhất cao độ của tiếng Việt
2.3.3 Cải tiến chữ Quốc ngữ, làm cho nó giản tiện hơn, hợp lí hơn,phục vụ nhân dân lao động tốt hơn cũng là một trong những chủ trơng mà
Hồ Chủ tịch theo đuổi suốt đời:
Chữ Quốc ngữ bắt đầu hình thành vào giữa thế kỉ XVII đợc ổn định
và phát triển ở hai thế kỉ tiếp sau Chữ quốc ngữ - một một thành tựu đặcsắc của tiếng Việt: “Một báu vật vô cùng quý giá đã lọt vào tay ngời ViệtNam chúng ta Nó đã tỏ rõ sức mạnh quảng đại thần thông trong nhiều thập
kỉ Còn đứng về gái trị, có thể nói nó có giá trị hơn hết những giá trị đợc gọi
là phát minh trong vòng 100 năm nay trên đất nớc ta Cái gì mà ghê gớm
nh thế Xin tha ! đó là chữ quốc ngữ (trích: Báo lao động chủ nhật – tếtNhâm Thân - 1992)
Thế nhng các nhà lãnh đạo của Đảng mà trớc hết là Chủ tịch Hồ ChíMinh đã sớm nhận thấy chổ bất hợp lí của chữ quốc ngữ, những cái đó gâykhó khăn cho việc học của quần chúng
Ngay từ khi viết cuốn “Đờng cách mệnh” – tài liệu bằng tiếng Việtsớm nhất mà ta còn giữ đợc, đến khi viết di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đều viết chữ Quốc ngữ mà tự mình Ngời đã cải tiến: thay “ph” bằng “f”,thay “gi” và “d” bằng “2”, đôi khi bỏ “h” trong “ngh” … có thể đóng góp tích cực cho sự Những cải tiến ấycủa Ngời là hoàn toàn phù hợp với khoa học về ngôn ngữ, với cách phát âmhiện nay của ngời Việt Trong những bản thảo viết tay hay đánh máy của
Hồ Chí Minh, ngời cũng đã có cải tiến nh vậy Rõ ràng đây là một việc làm
có tính chất cách mạng và vì quyền lợi của quần chúng Lâu nay, nhiều cán
bộ đã viết theo ngời
Trang 26Có lần nói chuyện về việc này, ngời nói “chữ quốc ngữ do các cố đạongời ngoài đặt ra có những chỗ bảo thủ lạc hậu, không hợp lý (… có thể đóng góp tích cực cho sự) Từ mấymơi năm nay Bác viết chữ quốc ngữ có sửa đổi một ít Lý do: vì thấy thếtiện hơn ngời ta dễ đọc hơn, dễ học hơn mà lại viết ngắn gọn ít tốn giấy”(Tạp chí ngôn ngữ số 3 năm 1970).
Những ngời làm ngôn ngữ học ở nớc ta ngày nay đã vô cùng khâmphục những sử đổi nói chung của ngời, vì những điều đó của ngời tuykhông phải do một nhà âm vị học đề ra – khoa âm vị học mới chỉ hìnhthành năm 1928 – nhng rất phù hợp với những nguyên lý của âm vị học,rất phù hợp với sự phát triển của tiếng Việt hiện đại
Nhận thức đợc rằng chữ viết là một công cụ sắc bén để nâng cao giácngộ chính trị và sự hiểu biết chung của quần chúng nên từ lâu Đảng ta mà
đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rằng cần phải phổ cập chữ quốcngữ và đấu tranh chống lại mù chữ Dới sự lãnh đạo của Đảng, của chủ tịch
Hồ Chí Minh, Hội truyền bá chữ quốc ngữ đã ra đời, phong trào dạy và họcchữ quốc ngữ lên cao trong thời kỳ 1936 – 1939 đã bắt rễ vào quần chúng,thực dân Pháp tuy căm ghét những phong trào nmày nhng vẫn không tàinào bóp chết đợc nó
Trong “Đề cơng văn hoá” (1943) Đảng ta mà đứng đầu là chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng đa đa ra chủ trơng “Cải cách chữ quốc ngữ” Chủ trơngnày đợc nhiều ngời hởng ứng Đại hội văn hoá toàn quốc năm 1948 đã nhấttrí tán thành chủ trơng đó
Năm 1959, khi biết có cuộc hộim nghị bàn về cải tiến chữ quốc ngữ,
Hồ Chủ Tịch đã gặp ban lãnh đạo hội nghị và phát biểu một số ý kiến vềmục đích, phơng hớng và phơng châm cải tiến chữ quốc ngữ theo hớng giảntiện hợp lí hơn Ngời cho rằng chữ quốc ngữ cần phải cải tiến, vì” có nhữngchỗ bảo thủ lạc hậu, không hợp lí” Trên thực tế từ mấy mơi năm nay, HồChủ Tịch đã sửa đổi một ít vì ngời thấy rằng nh thế tiện hơn dễ đọc hơn màlại ít tốn giấy”
Theo quan niệm của Hồ Chủ Tịch, chữ quốc ngữ cần đợc cải tiếntheo ba phơng hớng sau đây:
- Trong chữ quốc ngữ, có những cái thừa nên bỏ đi, thí dụ: “h” trong
“ngh”
Trang 27- Đồng thời có những cái thiếu nên thêm vào vì trong quá trình tiếpxúc với các nớc ta phải mợn các tiếng của nớc ngoài đa vào cho nên phảinghiên cứu dùng thêm một số để viết cho tiện.
- Và “có những chỗ bất hợp lý cần phải sử”
Ngời đã đa ra các phơng châm chỉ đạo cải tiến chữ quốc ngữ
+ Phải nghiên cứu cẩn thận, làm chắc chắn
+ Phải làm dần dần đừng xáo trộn quá, làm thế nào vẫn dùng sách vở
đạo là chủ tịch Hồ Chí Minh Nói nh thế cũng là nói đến cống hiến của chủtịch Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiếng Việt về phơng diện cácchức năng xã hội
Trang 28Chơng 3 Sự phát triển của tiếng Việt hiện đại
về mặt cấu trúc
3.1 Dẫn nhập
Trong cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôncoi ngôn ngữ là thứ “của cải vô cùng lâu đời, là công cụ vô cùng quý báucủa dân tộc”, phải quý trọng giữ gìn và phát triển, là công cụ không thểthiếu trong công tác tuyên truyền giác ngộ ý thức giai cấp, không nhữngthế, Ngời còn có những cống hiến rất to lớn đối với sự phát triển của tiếngViệt về mặt cấu trúc
Tứ cách mạng tháng Tám đến nay, cơ cấu của Tiếng Việt đã pháttriển mạnh mẽ Nó có đủ từ ngữ để diẽn đạt các tởng cao sâu, các khái niệmtrừu tợng của các lĩnh vực nh chính trị, khoa học, văn hoá … có thể đóng góp tích cực cho sự Tiếng Việt có
đầy đủ khả năng làm công cụ để truyền bá trí thức khao học và chủ nghĩa
M Lênin vào quần chúng nhân dân để Tiếng Việt có đợc sự phát triểnphong phú về từ vựng, đa dạng về hình thái cấu trúc, chúng ta không thểkhông nhắc tới công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta biết đếnNgời trớc hết với t cách là một lãnh tụ thiên tài, nhà chiến lợc cách mạng vĩ
đại, nhà văn hoá kiệt xuất của dân tộc và nhân loại Ngời còn có đóng góplớn lao cho sự phát triển về mặt cấu trúc về Tiếng Việt căn hoá Xuất phát
từ thực tiễn đấu tranh cách mạng và nhãn quang chính trị uyên bác, trongcác bài nói, bài viết của mình, Ngời đã có những cách thức sử dụng TiếngViệt rất tài tình, sáng tạo Chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu đã cho rằngTiếng Việt nớc ta từ năm 1945 trở lại nay đợc ghọi là Tiếng Việt thời đại
Hồ Chí Minh Với Ngời, ngôn ngữ cũng là vũ khí Ngời đã có quan điểmtích cực, đúng đắn đối với việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt: vừagiữ gìn vừa phát triển để Tiếng Việt đáp ứng những đòi hỏi những bức thiếttrong giáo dục trong giao tiếp xã hội
Cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của TiếngViệt về mặt cấu trúc đợc biểu hiện trên hai phơng diện lớn:
Trang 29rõ nhất Cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt từ ngữ đợc thể hiệntrên các phơng diện sau:
- Ngời đã làm giàu thêm “hàm lợng ngữ nghĩa” của một loạt từ trongTiếng Việt
- Ngời đã sáng tạo ra một loạt thành ngữ, tục ngữ mới
- Ngời tạo ra những kết hợp từ mới
- Ngời đã mở rộng cách dùng của hàng loạt từ
- Ngời sán tạo ra một số từ mới
- Ngời mạnh dạn và khéo léo đa một số từ khẩu ngữ vào phong cáchchính luận
- Ngời đã sử dụng tài tình từ vựng để đả kích địch
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm giàu thêm “hàm lợng ngữ nghĩa” củamột loạt từ trong Tiếng Việt
Trờng hợp Ngời dùng các từ “trung” “hiếu” là một ví dụ điển hìnhcho sự đổi mới về nghĩa Xét nghĩa nổi bật nhất của nó nằm trong ý niệm vàtrong tâm của mọi ngời trong xã hội củ
Ngày xa “trung” có nghĩa là một lòng một dạ bvới vua, theo đạo đứcnho gia, còn “hioêú” có nghĩa là lòng kính hiếu và biết ơn cha mẹ, chămsóc cha mẹ những cách hiểu này ngày nay không còn phù hợp và ngời ta ítdùng hơn Tuy nhiên, đây lại là những từ đã quen thuộc đối với ngời ViệtNam gắn với những quan niệm về đạo đức của xã hội phong kiến Việt Nam
từ rất lâu Ngày xa, “trung” ở đay chỉ đến mối quan hệ vua – tôi, bề tôitrung thành với triều đình, một lòng một dạ với vua, phụng sự hết mình chotriều đình theo đạo nho gia “Hiếu” trong xã hội phong kiến là lòng kínhyêu và biết ơn cha mẹ, chăm sóc cha mẹ, là tiểu hiếu Có thể nói đếnNguyễn Trải, ý nghĩa của “hiếu” mới đợc nâng lêncao thành đại hiếu, tức làhiếu là phục vụ nhân dân, đem cuộc sống yên ổn thái bình về cho nhân dân
Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa các nhà văn hoá trớc mình về đại hiếu Với ýnghĩa thuộc về phạm trù đạo đức nh vậy nên “trung”, “hiếu” vẫn sống đợctrong mỗi con ngời Việt Nam nhng với điều kiện là nó phải mạng một kháiniệm mới, rông rãi hơn, cao quý hơn: “trung với nớc hiếu với dân” Kế thừachuẩn mực của đạo đức phong kiến, Ngời đã có sự sáng tạo phát triển nghĩacủa “trung”, “hiếu” sang phạm trù phục vụ hết mình, một lòng một dạ, tậntuỵ cống hiến, hy sinh cho tổ quốc, nhân dân theo phơng châm “bình cũ rợu
Trang 30mới” Nghĩa mới này đợc Hồ Chủ tịch phát triển ra Nó đã đợc ghi nhận vàtrong ngữ cảm của ngời Việt nam ngày nay ai cũng thấy rằng đó là một sựphát triển nghĩa rất tự nhiên
Có thê nói nh đồng chí Trờng Chinh, ở Hồ Chủ tịch lòng yêu, yêumến nhân dân đã trởng thành “một sự say mê mãnh liệt, tinh thần đó đã đợcNgời thu gọn trong câu “trung với nớc hiếu với dân Đó là châm ngôn màNgời nêu cho mình và cho cán bộ của Đảng và của nhà nớc” Câu nói bất
hủ này đẫ trởng thành tiêu chuẩn hàng đầu của đạo đức cách mạng đã đợctoàn đảng, toàn dân ta thấm nhuần ngày càng sâu sắc và ra sức thực hiện ở
đây, Hồ Chủ tịch đã có một sự kế thừa cái cũ cà sáng tạo ra cái mới rất khéoléo Nh đồng chí Lê Duẫn đã nhận xét “Hồ Chủ tịch nói phải trung với nớc,hiếu với dân Nói nh thế là rất nghệ thuật Nh thế là không đoạn tuyệt vớicái cũ mà đa nội dung mới vào cái cũ, cách chuyển cũ qua mới này rất tinh
vi Cần phải nói trung, hiếu, tất cả những ngời Việt Nam đều có t tởngtrung, hiếu đó là những tình cảm sôi nổi, trung có thể chết đi đợc, hiếu cóthể chết đi đợc với triều đình với cha mẹ Bây giờ ta truyền tình cảm đó quanội dung mới là trung với nớc, hiếu với dân Đó là cách vận dụng rất nghệthuật”
Trung với nớc bhết lòng hết sức, phục vụ tận tuỵ cho tổ quốc Hiếuvới dân sẵn sàng là ngời đầy tớ trung thành của nhân dân Hồ Chủ tịch đãcung cấp cho “trung”, “hiếu” một hàm lợng ngữ nghĩa, rất mới mà lại rấtgắn bó với truyền thống củ đó là điều mà bất cứ ngời đọc nào ai cũng nhận
ra nhng không dể gì “đa nội dung mới vào cái củ” và “chuyển củ qua mới”một cách khéo léo, nhuần nhị đợc ở Hồ Chủ tịch sự kiến thức và sáng tạoluôn đi đôi với nhau T tởng “trung với nớc, hiếu với dân” đợc Ngời đa racho bản thân mình thực hiện cho cán bộ của Đảng, của nhà nớc T tởng ấyphải đợc thấm nhuần sâu sắc trong máu thịt của mỗi ngời cán bộ của Đảngcủa nhân dân
Hồ Chủ tịch đã tạo cho những từ có vốn t Việt một nét nghĩa hoàntoàn mới Trờng hợp Ngời dùng từ “cần”, “kiệm”, “liêm”, “chính”, cũng
nh vậy
- Từ “cần” trong vốn từ cơ bản có nghĩa là chỉ sự siêng năng, chămchỉ Còn Hồ Chủ tịch cho rằng “Chữ cần chẳng những có nghĩa hẹp nh tay