ở trong cũng nh ngoài nớc, toàn thể nhân dân Việt Nam cần coi đây là mộtnhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc” [2,1] Để
Trang 1Trờng đại học vinh
Nguyễn thị quỳnh hoa
Cộng đồng ngời việt ở lào
và đóng góp của họ đối với lào và
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ, khuyến khích về mọi mặt của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS.TS Phan Văn Ban - Ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị công tác ở Uỷ ban về ngời Việt Nam
ở nớc ngoài, Viện Nghiên cứu Đông Nam á, Th viện Quốc gia đã giúp đỡ tôi rất nhiều về nguồn t liệu để thực hiện đề tài
Trang 2Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Đào tạo Sau đại học, Khoa Lịch sử - trờng Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, góp ý cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.
Xin cảm ơn sự động viên, cổ vũ của bạn bè, đồng nghiệp và của gia đình tôi.
Vinh, tháng 12/2009
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trang 3sự di c của những cá thể, những tập thể là điều không tránh khỏi Sự di c của conngời trên thế giới mà chúng ta đặt ra ở đây đợc giới hạn trong một giai đoạn lịch
sử nhất định Lịch sử đã chứng kiến những cuộc di dân lớn đã diễn ra có tầm ảnhhởng lớn đến sự phát triển nhân loại Đó là vào thế kỷ XVII, nhân loại đã từngbiết đến những cuộc di c đầy ngoạn mục của ngời Anh đến vùng Bắc Mỹ giàucó; sự ra đi của ngời Hoa đến tất cả các nơi trên thế giới, cho đến sự di c hàngloạt của ngời Do Thái tránh sự diệt chủng Vấn đề không đơn giản khi mà cácnhà nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc thống kê số lợng ngời di c đến quốcgia này hoặc quốc gia khác Tìm hiểu số ngời di c ở các nớc trên thế giới sẽ tạo
ra những cơ sở hết sức quan trọng góp phần định hớng cho đờng lối ngoại giaotrên trờng quốc tế nói chung và từng quốc gia nói chung Phạm vi đề tài nàykhông bàn đến tất cả những luồng di c ấy mà chỉ đợc giới hạn bởi cuộc di c củacộng đồng ngời Việt đến đất nớc Lào với thời gian của nhiều thế kỷ
Với vị trí địa lý nằm án ngữ trên những trục đờng giao thông quốc tế lớncủa loài ngời trong quan hệ Đông -Tây - Nam - Bắc, Việt Nam là quốc gia phải
đối mặt với nhiều thế lực ngoại bang xâm lợc Những cuộc xung đột liên tục xẩy
ra, bao ngời dân lơng thiện của đất Việt bị xô đẩy vào vòng lao lý Di c là một
động thái của ngời Việt Nam cũng trở thành một vấn đề không tránh khỏi Trảidài theo năm tháng, ngời Việt di c ra nớc ngoài cũng là câu chuyện bình thờngcủa lịch sử Qua từng thời kỳ lịch sử, di c liên tục diễn ra, cho đến nay cộng đồngngời Việt Nam ở nớc ngoài có khoảng trên 3 triệu ngời Cộng đồng ngời Việt đãsinh sống ở trên gần 90 nớc và vùng lãnh thổ, trong đó có hơn 80% sống ở các n-
ớc phát triển Với bản tính cần cù, lơng thiện, chịu thơng chịu khó, ngời ViệtNam ở nớc ngoài đã tạo ra cho mình một cuộc sống ổn định, có tiềm lực kinh tế
Trang 4nhất định, có nhiều trí thức với nền học vấn và trình độ chuyên môn cao Quacác thời kỳ lịch sử, cộng đồng ngời Việt đã có nhiều đóng góp về tinh thần, vậtchất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nh sự nghiệp đổi mới xây dựng của
đất nớc trong giai đoạn hiện nay
Đối với ngời Việt ta ở nớc ngoài, quan điểm của Đảng và Nhà nớc Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam coi họ là một bộ phận không thể tách rời của dântộc Việt Nam Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhà nớcluôn tạo điều kiện cho kiều bào hởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của mình
đối với đất nớc Những quan điểm của Đảng và nhà nớc không chỉ dừng lại ởnhững lời phát biểu của các nhà lãnh đạo mà đã xây dựng hệ thống văn bảnmang tính Pháp quy chặt chẽ Ngày 26/3/2004 Bộ chính trị Trung ơng Đảngcộng sản Việt Nam đã có nghị quyết số 36 NQTƯ về công tác đối với ngời ViệtNam ở nớc ngoài nh sau: “Cộng đồng ngời Việt Nam ở nớc ngoài có tiềm lựckinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp tổ chức trong nớc.Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao, một số ngời giữ vị tríquan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu
Mặc dù sống xa tổ quốc, đồng bào ta luôn nuôi dỡng, phát huy tinh thầnyêu nớc trong niền tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hoá và hớng về cộinguồn dòng tộc, gắn bó với gia đình và quê hơng Nhiều ngời đã có những đónggóp về tinh thần, vật chất và cả xơng máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,thống nhất đất nớc Tuy nhiên, ngời Việt Nam ở một số nớc còn khó khăn trongviệc ổn định cuộc sống, cha đợc hởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn
bị kỳ thị Một số đồng bào ta cha có dịp về thăm đất nớc để tận mắt thấy đợcnhững thành tựu của công cuộc đổi mới, hoặc do thành kiến mặc cảm, nên chahiểu lắm về tình hình đất nớc Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫnnhau trong cộng đồng cha cao Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng
đất nớc, nhất là về tri thức cha xứng với tiềm năng của cộng đồng ngời Việt ở
n-ớc ngoài
Nguyên nhân dẫn đến những tình trạng trên là do một bộ phận cán bộ cáccấp các ngành, các đoàn thể nhân dân cha nhận thức đầy đủ và sâu sắc các quan
điểm chỉ đạo sâu sắc của Đảng về công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài.Nhiều cấp uỷ Đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp cha quan tâm đúng mức vàcha thờng xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện công tác này
Công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệthống chính trị, của toàn dân Các tổ chức Đảng, nhà nớc, Mặt trận tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ơng đến địa phơng
Trang 5ở trong cũng nh ngoài nớc, toàn thể nhân dân Việt Nam cần coi đây là mộtnhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc” [2,1]
Để những mục tiêu bảo vệ và xây dựng đất nớc nêu trên biến thành hiệnthực, các nhà khoa học Việt Nam cần phải coi việc nghiên cứu, tìm hiểu cáccộng đồng ngời Việt đang sinh sống, làm ăn ở nớc ngoài là một việc làm nghiêmtúc mang tính khoa học
1.2 Trong số những c dân sinh sống ở nớc ngoài, cộng đồng ngời Việt ởLào là một cộng đồng thật đặc biệt Sự đặc biệt đó không những bởi sự gần gũi
về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, quá trình phát triển củalịch sử, mà còn bởi mối quan hệ hữu nghị bền chặt giữa hai nớc L o - Việà m t Nhìnvào bản đồ, ngời ta có thể hình dung ngay hai dân tộc Lào - Việt có dãy TrờngSơn nh nóc của một ngôi nhà chung vậy Cũng có thể nói hai dân tộc Lào - Việt
nh một cơ thể con ngời, mà dãy Trờng Sơn trụ xơng cột sống Hai dân tộc Lào Việt cũng đã từng có một quá khứ hào hùng, đùm bọc cu mang nhau trớc baothảm hoạ của kẻ xâm lợc Phải dựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển đã trởthành cơng lĩnh sống cho cả hai dân tộc Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đấtnớc hai nớc luôn kề vai sát cánh bên nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời xây
-đắp nên “mối quan hệ đặc biệt” Việt - Lào trong quá trình đấu tranh cách mạng.Mối quan hệ đặc biệt ấy cũng đã trở thành mối quan hệ chủ đạo của hai nớc Việt
- Lào cho đến tận ngày hôm nay Đây là tài sản tinh thần vô giá để hai dân tộc
b-ớc vào thời kỳ xây dựng và phát triển đất nb-ớc với một sự lựa chọn đầy quả cảm,khai phá chung con đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội cha từng có tiền lệ trong lịch
sử nhân loại Do vậy vấn đề đặt ra trong nghiên cứu về quan hệ đặc biệt hai nớckhông thể bỏ qua việc nghiên cứu về vai trò của cộng đồng ngời Việt tại Lào
Điều này sẽ không chỉ đóng góp vào bức tranh nghiên cứu chung về vai trò củacộng đồng ngời Việt ở nớc ngoài mà còn góp phần làm rõ hơn những đặc trngcủa của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào Hơn nữa, cộng đồng ngời Việt ởLào là một cộng đồng có số lợng khá đông đảo, có lịch sử tơng đối dài và cónhiều đóng góp cho hai đất nớc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nh trongcông cuộc xây dung đất nớc Đây là một trong những cộng đồng đáng quan tâmtìm hiểu để từ đó đề ra những chính sách cụ thể, sát thực nhằm phát huy tối unguồn lực này phục vụ cho sự nghiệp phát triển của hai nớc trong thời kỳ đổimới
1.3 Là ngời nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở trờng trung học phổ thôngchúng tôi mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu Cộng đồng ngời Việt ở Lào và những
Trang 6đóng góp của họ trong các lĩnh vực, mà những đóng góp đó là chiếc cầu nối chotình hữu nghị Việt Nam - Lào Cũng từ những kết quả nghiên cứu có thể cungcấp cho học sinh những hiểu biết về cộng đồng ngời Việt ở Lào nói riêng và ởcác nớc trên thế giới nói chung, cũng nh những đóng góp của họ đối với nớc sởtại cũng nh đối với quê hơng.
Vì những lý do trên đây, học viên lựa chọn đề tài “Tìm hiểu Cộng đồngngười Việt ở Lào và đóng góp của họ đối với hai nớc Việt Nam - Lào” để làmluận văn thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu các cộng đồng ngoại kiều nh Hoa kiều, ấn kiều đã đợcnhiều học giả trên thế giới lu tâm và đã có nhiều công trình đợc công bố Tuynhiên, nghiên cứu về cộng đồng ngời Việt ở nớc ngoài hầu nh mới chỉ đợcnghiên cứu trong những năm gần đây Do đó tìm hiểu Cộng đồng ngời Việt ởLào thực sự là một vấn đề còn hết sức mới mẻ Trong điều kiện cho phép, chúngtôi mới chủ yếu tiếp cận đợc các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tácgiả trong nớc Nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc gồm nhiều dạng: sáchtham khảo, sách chuyên khảo, khóa luận, luận án, các bài viết đăng trên các báo,tạp chí (Nghiên cứu quan hệ quốc tế, Nghiên cứu lịch sử các dân tộc, Nghiêncứu lịch sử các nớc Đông Nam á) …, báo Nhân dân, báo Công an nhân dân, tliệu của Thông tấn xã Việt Nam, các tài liệu liệu lu hành nội bộ tại phòng đốingoại tỉnh Nghệ An, Liên hiệp tổ chức hữu nghị Việt - Lào tỉnh Nghệ An 2.2 Các công trình nghiên cứu cụ thể về cộng đồng ngời Việt ở Lào màchúng tôi tiếp cận đợc gồm có:
Trớc tiên phải kể đến tác phẩm: Việt kiều Lào - Thái với quê hơng xuất bản
năm 2004 của Trần Đình Lu (Trần Đình Riên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.Công trình này đã trình bày những đóng góp của Việt kiều Lào - Thái Lan trongcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Công trình: Vai trò của cộng đồng ngời Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào của PGS.TS Phạm Đức Thành xuất bản năm 2008, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội Công trình đã đề cập đến vai trò của cộng đồng ngời Việt trêncác lĩnh vực kinh tế - xã hội
Ngoài ra còn phải kể đến công trình: Di c và chuyển đổi lối sống của cộng
đồng ngời Việt ở Lào xuất bản năm 2008, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Đây làcông trình của nhóm nghiên cứu ở Viện nghiên cứu Đông Nam , thuộc ViệnKHXHNV phối hợp với Viện nghiên cứu Lào thực hiện do TS Nguyễn Duy
Trang 7Thiệu chủ biên Cuốn sách cũng đã bắt đầu nghiên cứu và giới thiệu về nhữngchuyển đổi về đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngời Việt ở Lào Bên cạnh đó gần đây có một số bài viết của các tác giả đăng trên các Tạp
chí nghiên cứu của Việt Nam liên quan đến đề tài luận văn nh Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với sự hội nhập khu vực của Nguyễn Thị Quế, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, (1999-số 6); Vai trò của kinh tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội Lào của Trần Cao Thành, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, (1995, số 3); Các chơng trình và triển vọng hợp tác quốc tế phát triển kinh tế tiểu vùng sông
Mê Công của Trần Cao Thành, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, (1996, số5); Chùa của ngời Việt ở Lào của Nguyễn Lệ Thi, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam
á,(số 2,2007); Tài liệu lu trữ thời thuộc địa liên quan đến đề tài Cộng đồng ng“
-ời Việt ở Lào ” của Nguyễn Hào Hùng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, (2007,
số2) Cộng đồng ngời Việt Nam ở nớc ngoài của Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb
Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 1997
Trên cơ sở những t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc chúng tôi nhận thấynhững tài liệu đó đã nêu lên quá trình hình thành, một số đóng góp trên từng lĩnhvực mà cha bao quát hết một cách toàn diện sự đóng góp của cộng đồng ngờiViệt trên các lĩnh vực đối với hai nớc Việt Nam - Lào Tuy nhiên đây là nhữngtài liệu hết sức quý giá mà luận văn quan tâm
3 Đối tợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng, nhiệm vụ
Luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu về cộng đồng ngời Việt ở Lào từkhi hình thành cho đến nay Luận văn phục dựng lại toàn bộ quá trình hình thànhcộng đồng ngời Việt ở Lào và những đóng góp của họ đối với hai đất nớc Lào -Việt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nớc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu một khoảng thời gian xuyên suốt từnăm 545 đến hiện nay (năm 2009) Chúng tôi chọn mốc mở đầu vào năm 545bởi theo th tịch cổ ghi chép đầu tiên về quan hệ Việt - Lào dới thời Vạn Xuâncủa nhà Tiền Lý, trong thời gian này những c dân ngời Việt đầu tiên đã đến sinhsống tại đất Lào Còn mốc kết thúc năm 2009 là thời điểm hoàn thành luận văncủa học viên Nh vậy, việc hình thành cộng đồng ngời Việt ở Lào đã có độ dàylịch sử gần hai thiên niên kỷ
Về không gian, mặc dù cộng đồng ngời Việt sống tập trung chủ yếu ở cácvùng đô thị, nhng luận văn cũng tìm hiểu toàn bộ không gian 18 tỉnh thành củaLào và có khảo sát một số tỉnh ở Việt nam có đông ngời di c sang Lào
Trang 84 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp thêm một phần lịch sử của cộng đồng ngời Việt ở nớc ngoài,
cụ thể là cộng đồng ngời Việt Nam ở Lào và những đóng góp to lớn của cộng
đồng ngời Việt ở Lào vào tiến trình lịch sử của hai dân tộc
- Là một công trình nghiên cứu khá chi tiết về cộng đồng ngời Việt ở Lào,giúp cho chúng ta cái nhìn khách quan và hiểu biết hơn về đời sống của đồng bào
ta ở nớc ngoài nói chung và ở Lào nói riêng Từ đó tăng cờng sự đoàn kết, tơngthân tơng ái giữa đồng bào trong nớc với kiều bào ở nớc ngoài trong sự nghiệpxây dựng đất nớc Việc nghiên cứu sâu hơn về cộng đồng ngời Việt với những
đặc điểm, truyền thống văn hoá, tâm t nguyện vọng của đồng bào góp phầnlàm cơ sở giúp cho nhà nớc ta ban hành những chính sách sát thực hơn, qua đóthu hút sự đóng góp về vật chất và trí tuệ của kiều bào đối với đất nớc ta trongthời kỳ hiện nay
- Luận văn này có thể góp thêm nguồn t liệu khoa học cho việc nghiên cứu,giảng dạy, học tập và những ngời quan tâm
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn t liệu
- Các văn kiện của Đảng và nhà nớc nh:Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ
IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Nghị quyết 08 và 36 của TƯ Đảng Cộngsản Việt Nam khoá VIII và khoá IX về công tác đối với ngời Việt Nam ở nớcngoài
- Các tuyên bố chung, các thông cáo báo chí, các bản tuyên bố của Bộ ngoạigiao Việt Nam về vấn đề Việt kiều ở Lào
- Các bài diễn văn, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạo hainớc của các tỉnh Xiêng Khoảng, Nghệ An, Quảng Trị
- Các t liệu lịch sử viết về các nhân vật lịch sử: Hồ Chí Minh, CayxỏnPhômvihản của các học giả trong và ngoài nớc
- Các tài liệu của học giả Lào và nớc ngoài nghiên cứu về cộng đồng ngờiViệt ở Lào
- T liệu hồi cố: Lời kể của Việt kiều ở Lào về nớc hoặc những ngời Việt ờng xuyên sang Lào làm ăn buôn bán
th Các tài liệu sách báo, tranh ảnh, các phóng sự tài liệu, bản đồ
5.2 Phơng pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phơng pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, t tởng Hồ Chí Minh,chúng tôi sử dụng các phơng pháp chuyên ngành nh phơng pháp lịch sử và lôgic,phơng pháp so sánh sử học Chúng tôi còn sử dụng phơng pháp su tầm, tập hợp
Trang 9t liệu có liên quan đến đề tài tại th viện của các trờng đại học, các trung tâm lugiữ quốc gia, các Viện nghiên cứu
- Các phơng pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dùng phơngpháp tổng hợp thống kê, đánh giá sự kiện lịch sử một cách chân thực khách quan,
so sánh thẩm định đối chiếu giữa các nguồn tài liệu
- Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng những phơng pháp phỏng vấn gặp gỡnhững nhân vật Việt kiều trở về nớc thăm quê hơng, những ngời đã có thời giancông tác lâu năm ở Lào, những ngời có trách nhiệm nghiên cứu về Việt kiềutrong Uỷ ban về ngời ngời Việt ở nớc ngoài
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung luận văn
đợc triển khai qua 3 chơng:
Chơng 1: Quá trình hình thành của cộng đồng ngời Việt ở Lào
Chơng 2: Đời sống kinh tế và văn hoá của cộng đồng ngời Việt ở Lào Chơng 3: Đóng góp của cộng đồng ngời Việt ở Lào đối với Lào và Việt
Nam trong các lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế và văn hoá
NộI DUNG
Trang 10Chơng 1 QUÁ TRèNH HèNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở LÀO
1.1 Một số nột chớnh về đất nước Lào
Lào là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam á, nằm trên bán đảo Trung
-ấn, (diện tích 236.000 km2) lãnh thổ Lào hẹp trải dài trên 1.000 km tạo nên sự đadạng về tự nhiên, với hơn 70% đất đai là rừng và đồi núi Lào có số dân6.521.000 ngời (tháng 7 năm 2008) thuộc 68 bộ tộc anh em sinh sống ở 17 tỉnh
và một thành phố; trong đó ngời Lào Lùm chiếm 60%, ngời Lào Thơng chiếmkhoảng 25% và ngời Lào Xủng chiếm khoảng 15 % dân số, ngôn ngữ chủ yếu làtiếng Lào Lào cũng đợc biết đến nh một quốc gia Phật giáo với hơn 65% dân sốtheo đạo Phật Lào có chung đờng biên giới với Việt Nam ở phía Đông, vớiTrung Quốc ở phía Bắc, với Mianma ở phía Tây Bắc, với Thái Lan ở phía Tây,với Campuchia ở phía Nam Đặc biệt, cả Lào và Việt Nam đều tựa lng vào dãyTrờng Sơn hùng vĩ nh một cái xơng sống chung của hai nớc kéo dài dọc biên giớihai dân tộc
Lào là quốc gia láng giềng với Việt Nam với vị trí địa lý đặc biệt cũng nhmối quan hệ lịch sử thật đặc biệt Tình hữu nghị đặc biệt đó đã ăn sâu vào máuthịt của dân tộc Lào và đã hình thành nên truyền thuyết về cội nguồn của tìnhnghĩa Lào - Việt Truyền thuyết kể lại rằng xa kia nàng Chăm Pa xinh đẹp của
đất nớc Lào đã thầm yêu trộm nhớ chàng trai ngời Việt tài giỏi tên là Đào từ xứ
sở phơng Đông đến sau một đêm hội làng Trải qua bao khó khăn thử thách cuốicùng Chăm Pa và Đào đã vợt Trờng Sơn sang phía bên kia Hai ngời đi nhanh
đến nỗi không có một ai, không có một thứ gì có thể đuổi kịp mà chỉ có ngọn giónóng bức theo sát gọi là gió Lào Nàng Chăm Pa bớng bỉnh đó đã làm dịu cơngió nóng bức bằng cách biến thành dòng sông Mã xuyên qua dãy núi Trờng Sơnsâu thẳm và cao vút về với chàng Đào đất Đại Việt Tình hữu nghị Việt - Lào bắtnguồn từ đó “Núi có thể cạn, sông có thể mòn nhng mối tình Lào - Việt sẽkhông bao giờ phai bởi nó đã trở thành một phần xơng máu trong mỗi chúng ta”[49]
Đất nớc Lào có lịch sử văn hoá lâu đời Ngay từ thế kỷ XIV, Pha Ngừm,một thủ lĩnh ở vùng thợng lu sông Mê Công đã thống nhất các tiểu vơng quốcthành lập quốc gia Lạn Xạng (Triệu Voi) hùng mạnh, làm nên một thời kỳ rực rỡtrong lịch sử phong kiến Lào Trong khoảng thời gian từ 1893 - 1945 Lào bị thựcdân Pháp đô hộ Ngày 12/10/1945, dới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách
Trang 11mạng Lào, nhân dân Lào đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và tuyên bố
độc lập Năm 1953, đế quốc Mĩ lại nhảy vào dựng lên chính phủ bù nhìn ở nớcnày Kề vai sát cánh, anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mĩ cùng nhân dân ViệtNam, ngày 12/12/1975 nhân dân Lào đã lật đổ chế độ quân chủ lập hiến, lập nênnớc CHDCN Lào Từ đó ngày này đã trở thành ngày quốc khánh của đất nớc hoaChăm Pa
Thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, tạo tiền đề từng bớc tiến lên chủ nghĩaxã hội, năm 1986 dới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, đất nớcLào đã tiến hành đổi mới và giành đợc nhiều thành tựu kinh tế, chính trị quantrọng Trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đề ra từ năm 1993, Đảng Nhândân Cách mạng Lào xác định phát triển kinh tế theo cơ chế thị trờng, có sự điềutiết của nhà nớc, mở rộng quan hệ hợp tác với nớc ngoài, thu hút vốn đầu t, khaithác thế mạnh là nguồn tài nguyên phong phú về nông lâm, khoáng sản và thuỷ
điện
Nhờ chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác, đặc biệtcoi trọng quan hệ với các nớc láng giềng, khu vực, đến nay đã có gần 100 nớclập quan hệ ngoại giao với Lào Tháng 7/1997 Lào đã trở thành thành viên chínhthức của Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN) Vị trí của nớc Cộng hoà Dânchủ Nhân dân Lào ngày càng đợc nâng cao trên trờng quốc tế
Về mặt hành chính, hiện nay Lào có 18 tỉnh, thành phố đó là: thủ đô ViêngChăn (là thành phố lớn nhất nớc Lào), tỉnh Bokeo, Boli Khămxay, Chăm Pasăc,Hủa Phan, Khăm Muộn, Luông Namtha, Luông Phabăng, Âuđomxay,Phôngsalì, Xaravăn, Xavannakhẹt, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn (tỉnh), Sầm Na,
Sê Công, Xai Nabôli, Xai Somboun (khu vực hành chính đặc biệt giải thể năm2006)
1.2 Quỏ trỡnh di cư của người Việt sang Lào
1.2.1 Giai đoạn từ thế kỷ VI đến 1802
Ngay từ thế kỷ VI ngời Việt đã xuất hiện ở Lào Chính xác hơn “vào năm
545, khi nớc Vạn Xuân của Lý Nam Đế bị quân Lơng đàn áp, những ngời Việt
đầu tiên do Lý Thiên Bảo dẫn đầu đã tìm đờng di c sang Lào, lập căn cứ chốnggiặc ngoại xâm và đợc ngời Lào hết lòng giúp đỡ” [53] Không giống nh một sốnớc láng giềng khác, từ xa xa Lào và Việt Nam đã có mối quan hệ khá đặc biệt.Trong đó yếu tố địa lý đã đóng vai trò quan trọng, đã tác động đến mối quan hệ
đặc biệt của nhân dân hai nớc nhất là dọc biên giới Tây Bắc Việt Nam với cáctỉnh của Lào từ Phôngsalì xuống đến Hủa Phan, Xiêng Khoảng, Khăm Muộn,thậm chí tiến sâu vào Luông Phabăng, kéo dài đến tận vùng núi Thanh Hoá,
Trang 12Nghệ An của Việt Nam Điều kiện địa lý thuận lợi này chính là yếu tố quantrọng dẫn đến sự hiện diện của cộng đồng ngời Việt trên đất Lào từ rất sớm Tấtnhiên sự hiện diện của cộng đồng ngời Việt ở vùng biên giới nói trên vào thời kỳ
đó diễn ra một cách tự nhiên, đơn thuần là sự giao lu qua lại giữa c dân vùng biêngiới, hoàn toàn cha liên quan gì đến mối bang giao giữa hai vơng triều phongkiến Việt Nam và Lào
Với biên giới Việt - Lào dài 2.067km, sinh sống dọc biên giới là các tộc
ng-ời rất gần gũi nhau về văn hoá nên hai nớc đã có mối quan hệ lâu đng-ời xa xa về
địa lý văn hoá và lịch sử Hơn nữa, cả hai nớc vốn đã có thời gian cùng nằmtrong một thể chế hành chính chung, thể chế Liên bang Đông Dơng thuộc Pháp.Sau này đến thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ mỗi nớc do có cùng kẻ thùchung nên cả hai cùng là một chiến trờng Chính vì vậy từ trong quá khứ đếnhiện tại, có thể nói việc ngời Lào đến Việt Nam làm ăn cũng nh ngời Việt Nam
đến Lào làm ăn là chuyện thờng xuyên diễn ra Tuy nhiên, khác với các đợt di ckhác của ngời Việt ra nớc ngoài tuỳ theo lực đẩy hay lực hút mạnh hơn, các đợt
di c của của ngời Việt đến Lào chủ yếu do các hoàn cảnh và nhân tố trong nớctác động là chính
Quá trình di dân của ngời Việt diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử phát triểncủa đất nớc và mở mang bờ cõi Nh chúng ta đã biết thì từ thế kỷ VI đã có nhữngngời Việt đầu tiên đến sinh sống trên đất Lào Từ sau khi nớc Việt độc lập đếntriều Lý, nhà nớc phong kiến một mặt ổn định tình hình trong nớc, mặt khác lochuẩn bị lực lợng chống Tống nên đặc biệt quan tâm đến vùng biên giới phía Tây
của đất nớc Nhà Lý thực hiện chính sách nhu viễn (mềm mỏng đối với phơng
xa) và dùng biện pháp hôn nhân để nắm các tù trởng địa phơng Thông qua đó,triều đình quản lý vùng biên ải cũng nh giao thiệp với bên ngoài Nhà Lý đã balần mang quân giải quyết các xung đột ở biên cơng Việt - Lào vào những năm
1048 (Lý Thái Tôn), năm 1159 (Lý Anh Tôn) và năm 1183 (Lý Cao Tôn) Dớitriều Lý, các tù trởng Lào vẫn thờng xuyên sang Đại Việt triều cống Tuy nhiên,
do những quyền lợi đất đai nên mặc dù chịu thần phục, các tù trởng Lào vẫn ờng hay sang quấy nhiễu, bởi vậy mới có các cuộc dẹp loạn trên
th-Sang đến thời Trần, triều đình đã có các cuộc động binh sang Lào vào cácnăm 1290, 1294, 1334 và 1335 nhng chủ yếu chỉ nhằm mục đích phòng vệ vàtìm kiếm đồng minh nên các cuộc động binh của nhà Trần không làm tổn hại
đến mối quan hệ giữa hai bên Chính vì vậy mà khi nhà Trần bị Hồ Quí Lychiếm ngôi, nhiều quí tộc triều Trần đã sang Lào lập căn cứ nuôi dỡng lực lợnglàm nơi nơng tựa để tìm đờng khôi phục vơng triều
Trang 13Từ thế kỷ XIV, khi vơng quốc Lạn Xạng độc lập ra đời, quan hệ giữa hai
n-ớc nhanh chóng đợc thiết lập Mối quan hệ ngày càng trở nên gắn bó hơn trn-ớcnguy cơ xâm lợc của nhà Minh Những ngày đầu phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn,trong nghĩa quân của Lê Lợi có một số tớng lĩnh thông thạo tiếng Lào và các con
đờng sang Lào Từ căn cứ Lam Sơn lại hết sức thuận lợi nên Lê Lợi đã sai cácviên tớng đó sang Lào mua voi và vũ khí chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Vua Làohết lòng ủng hộ Lê Lợi Trên thực tế thì quân dân Việt - Lào đã cùng liên minhchiến đấu để chống lại quân Minh xâm lợc Trong lịch sử Việt Nam còn ghi rõnhững ngời Việt Nam thế hệ sau đến Lào là những binh lính của vua Lê ThánhTông đã từng tấn công sang Lào
Chính vua Lê Thánh Tông đã hai lần thân chinh cầm quân sang Lào Lầnthứ nhất vào tháng 6 năm 1479 Do phía Lào không chuẩn bị lực lợng nên quân
đội nhà Lê đã nhanh chóng tiến vào thủ đô Luông Phabăng và truy đuổi quân độiphong kiến Lào đến tận biên giới Mianma mới trở về Lần thứ hai vào tháng 10cùng năm đó, vua Lê Thánh Tông lại tập hợp quân mã tiến sang Lào Nhng lầnnày các châu, mờng địa phơng của Lào đã biết trớc ý đồ đó của vua Lê ThánhTông nên đã tập hợp nhau lại để chống đỡ Do quân lính đi xa mỏi mệt lại gặpphải quân đội các châu, mờng Lào chống đỡ nên quân đội nhà Lê lần này khôngvào đợc Luông Phabăng Vua Lê bèn sai rút quân Lần này quân đội nhà Lê một
số bị tử trận, một số bị thơng hoặc bị bắt làm tù binh Nhiều ngời trong số tù binhViệt đó đã đợc nhân dân Lào chạy chữa vết thơng và sau đó đợc phép ở lại Làolàm ăn sinh sống Những ngời này đã lấy vợ Lào đồng thời làm ăn sinh sốngluôn ở Lào
Đầu thế kỷ XVI, Mạc Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê Các quân thần nhà Lê
đã chạy sang Lào và đợc vua Lào che chở, giúp đỡ “Năm Kỷ Sửu (1529), khi ấybọn Thanh Hoa hữu vệ điện tiền tớng quân An Thành hầu Nguyễn Kim chạysang Ai Lao, quốc vơng nớc ấy là Sa Đẩu mới cấp cho đất và dân Sầm Châu (naythuộc vùng Sầm Na - Thợng Lào) để ở Từ đó nuôi dỡng quân lính, lập mu khôiphục” [49]
Vào thời Lê - Trịnh năm 1564, vua Lạn Xạng đã cử ngời mang tặng phẩm
và bốn con voi, xin cầu hôn công chúa Ngọc Hoa Vua Lê đã đồng ý gả côngchúa cho vua Lào để kết hoà hiếu giữa hai nớc
Cuối thế kỷ XVII, nớc Lào có biến, một hoàng tử Lào là Triều Phúc đã chạysang Việt Nam lánh nạn Năm 1696, chúa Trịnh đã cho quân đa Triều Phúc về n-
ớc và lập làm vua Năm 1718, chúa Trịnh lại gả một ngời con gái thuộc dòng họtôn thất cho vua Lào
Trang 14Một đặc điểm lớn của vơng quốc Lạn Xạng là nhà nớc quân chủ đợc xâydựng trên cơ sở sức mạnh quân sự và yêu cầu chống giặc ngoại xâm hơn là trêncơ sở thống nhất về kinh tế - xã hội Nguy cơ hình thành các thế lực cát cứ địaphơng luôn có thể xảy ra Cuối thế kỷ XVIII, Lào bị chia cắt làm ba tiểu quốc:Viêng Chăn, Luông Phabăng và Chăm Pasắc Trong bối cảnh đó, các tiểu quốc
đã cấu kết với các thế lực bên ngoài (Việt Nam, Thái Lan, Campuchia) để có chỗdựa và tăng cờng thêm thế mạnh nhằm giữ đợc quyền lợi của mình
Khi phong trào Tây Sơn thắng lợi, vua Quang Trung đã sai sứ giả sang Làotìm sự hợp tác chống Nguyễn ánh Nớc Lào thời kỳ này đang chịu sự lệ thuộcvào vơng quốc Xiêm Vua Xiêm lại đang giúp Nguyễn ánh chống lại Tây Sơnnên vua Lào không dám quan hệ với Tây Sơn Vua Lào đã bắt giữ đoàn sứ giảTây Sơn cùng tất cả cờ trống họ mang theo đa sang cho vua Xiêm cầm tù Trớctình hình đó, vua Quang Trung đã cử đốc trấn Nghệ An Trần Quang Diệu đem 3vạn quân đi dẹp trấn phía Tây nớc Lào Đây có thể nói là một hành động tự vệchính đáng, góp phần chặn đứng sự bành trớng của Xiêm sang Lào và đã giúpcho nhân dân vùng biên giới và nhân dân Mờng Phuôn thoát khỏi sự đô hộ củaXiêm Ngời Mờng Phuôn, Xiêng Khoảng sau đó có một bài vè ca ngợi Tây Sơn.Sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn ánh ráo riết tìm mọi cách chống lạitriều đại Tây Sơn Vua Lào đã cho sứ giả đến Huế xin đợc đa quân đội từ ThợngLào xuống đánh Tây Sơn, nhng Nguyễn ánh không chấp nhận Sau khi dẹpxong phong trào Tây Sơn, Nguyễn ánh đã đền ơn giúp đỡ vua Lào bằng cách cửngời Việt sang Luông Phabăng giúp vua Lào xây dựng Hoàng cung Lào
Có thể thấy, mặc dù một số thời kỳ đã có những cuộc động binh lớn vàxung đột nhng nhìn chung quan hệ giữa Việt Nam và Lào ít bị phơng hại và pháttriển tốt đẹp Tuy nhiên, việc di dân đến Lào trong suốt các triều đại phong kiếntrớc thời Nguyễn diễn ra lẻ tẻ và không trở thành các cuộc di c cụ thể Bớc sangthế kỷ XIX khi Gia Long lên cầm quyền, thiết lập chế độ phong kiến nhà
Nguyễn các cuộc thiên di của ngời Việt sang Lào mới diễn ra trên quy mô lớn
1.2.2 Giai đoạn phong kiến Nhà Nguyễn (từ 1802 đến 1884)
Để có thể hình dung lại quá trình di dân của ngời Việt sang Lào thì những
ký ức lu giữ cũng góp phần không nhỏ trong việc tái hiện lại các đợt di c này.Trong thực tiễn di dân thì ngời Việt đã đến Lào từ nhiều đời nay, những ngời giànhất nay còn sống ở Lào hầu nh không phải là đời di c đầu tiên nhng ký ức sống
động về cuộc di c của cha ông họ hiện vẫn còn lu giữ Họ cũng đã sống gần mộtthế kỷ trên đất Lào với nhiều biến động Những biến động không chỉ phản ánhcuộc đời của bản thân họ mà còn thể hiện đợc phần nào sự thăng trầm và những
Trang 15biến cố mà cộng đồng ngời Việt ở Lào phải đối mặt suốt các đợt di c sang Lào.Những ký ức làm sống lại cả một thời kỳ dài di dân của cộng đồng ngời Việt đãgiúp chúng ta bớc đầy tìm hiểu về quá trình di c của ngời Việt sang Lào.
“Vào đời Gia Long có 270 thanh niên trai tráng ngời Việt đã theo lệnh vuasang Lào Đầu tiên họ đến Xiêng Khoảng, từ Xiêng Khoảng họ đi bộ đến LuôngPhabăng và ở lại đó giúp vua Lào xây dựng kinh đô Những ngời thợ Việt khôngchỉ giúp công sức xây dựng kinh đô mà họ còn phải trở về Việt Nam khai thácmột số gỗ quí ở Nghệ An, đóng thành bè, vận chuyển theo các dòng sông suối
đến tận sông Mê Công sau đó đến Luông Phabăng sử dụng vào việc xây dựngkinh thành Những ngời thợ này đa số ở lại Lào, lấy vợ Lào và sinh cơ lập nghiệptrên đất Lào” [1]
Nh chúng ta đã nói, quá trình di dân của ngời Việt đến Lào tạo thành các
đợt di c lớn bắt đầu diễn ra từ thời phong kiến Nhà Nguyễn Ngời Việt sang Lào
để tránh bị đàn áp bởi chính sách Bình Tây, sát Đạo của Nhà Nguyễn Đây có
thể coi nh giai đoạn đầu tiên bắt đầu quá trình di dân lâu dài tạo thành các Cộng
đồng ngời Việt tại Lào
Giai đoạn đầu của Gia Long không cấm đạo để “trả ơn” Pháp đã giúp đỡtrong quá trình lên nắm chính quyền Tuy nhiên vì quyền lợi của nớc Pháp, Hộitruyền giáo của Pháp đã sớm xúc tiến việc điều tra tình hình ở các xứ để thựchiện mu đồ chính trị qua tấm áo choàng tu sĩ Dần dần các giáo sĩ Pháp đẩymạnh việc phát triển cơ sở đạo Thiên chúa trong dân chúng Việt Nam, thu nạpnhiều giáo dân nhằm khuyếch trơng thế lực chính trị cho nớc Pháp Điều này dầnkhiến vua Gia Long lo ngại, thêm vào đó là sự phản đối ngấm ngầm việc chọnngời nối ngôi của nhà vua Kể từ đó, vua Gia Long đối với đạo Cơ đốc chỉ còn có
“khinh bỉ và hận thù” [30,53]
Đến thời Minh Mạng, vì cho rằng các giáo sĩ Pháp đã lợi dụng danh nghĩatruyền giáo để dò xét tình hình, gây mâu thuẫn lơng giáo và xúi bẩy giáo dânchống triều đình, Nhà Nguyễn đã thực thi các biện pháp cứng rắn và ra lệnh cấm
đạo Dụ cấm đạo thứ nhất của vua Minh Mạng ban hành vào tháng 2-1825 Sau
đấy là hàng loạt các Dụ cấm đạo khác nh Dụ cấm đạo thứ hai ban hành vào ngày
6 tháng 1 năm 1838 với các biện pháp đối phó cứng rắn với đạo Thiên chúa nhcác giáo sĩ buộc phải về nớc trong thời hạn 3 tháng, các nhà thờ bị huỷ, kinhthánh bị đốt, dân chúng bị nghiêm cấm theo đạo Chính vì vậy mà dới thờiMinh Mạng đạo Thiên chúa đã phát triển rất chậm
Chính sách này của nhà Nguyễn đã lên đến đỉnh điểm của sự hà khắc vàothời vua Tự Đức (1848-1883) Các đạo dụ cấm đạo Thiên chúa ban hành vào các
Trang 16năm 1848, năm 1851 và tháng 7 năm 1857 với những qui định nghiêm khắc nhbuộc đá vào cổ rồi ném xuống sông những ngòi giảng đạo hay thích chữ vào mặtrồi đày đi rừng sâu nớc độc, phanh thây những ngời không chịu bỏ đạo hoặcchứa chấp các giáo sĩ nớc ngoài Điều này đã làm phát động cả một phong tràocấm và giết đạo trên khắp cả nớc khiến nhiều linh mục bị sát hại, nhiều nhà thờ
định c ở tỉnh này khá tập trung, nhng về sau họ tản đi các vùng khác để kiếmsống Một số ngời ở lại Nam Lào, một số đi kiếm sống dọc theo sông Mê Công
và dần dần đến lập nghiệp ở những vùng nh Noỏng Xẻng (Nạkhon Phạnôm), BảnThà (Uthon Thani) và Thà Rẹ (Sakol Nạkhon) Thái Lan Một số khác di c đếnLuông Phabăng và các miền khác của Lào Chính những ngời Việt Nam đếnLuông Phabăng vào thời kỳ này đã hình thành nên cộng đồng ngời Việt theoThiên chúa giáo ở Lào
Theo lời kể của những ngời lãnh đạo Hội ngời Việt tại Luông Phabăng thìtại cố đô nàyđã từng có một làng ngời Việt theo Thiên chúa giáo từ lâu đời nhngsau khi cách mạng Lào thắng lợi (1975), họ lo sợ những ngời cộng sản Làokhông chấp nhận Thiên chúa giáo nên cả làng đó đã di c ra nớc ngoài Nhiều ng-
ời trong cộng đồng Thiên chúa giáo này hiện nay vẫn có quan hệ với ngời Việt ởLuông Phabăng Hàng năm họ vẫn về thăm cố đô và góp tiền xây dựng trờng học
và nghĩa trang của ngời Việt ở Luông Phabăng
Hiếm có ở đâu mà các tôn giáo khác nhau lại có thể chung sống một cáchhoà bình và hoà hợp với nhau không có xung đột, mâu thuẫn nh ở đất Lào này
ở xứ hoa Chăm Pa này, các đạo và tôn giáo khác nhau không có hiềm khích
và sự ngăn cách, mọi ngời đợc hành lễ và theo đuổi đức tin của mình một cách tựnguyện, tự do và ít bị sức ép cũng nh nh ràng buộc mang tính lễ nghĩa hìnhthức Đây cũng có thể là một trong những lý do khiến ngời Việt công giáo tránh
Bình tây sát đạo nên di dân sang Lào từ rất lâu trong lịch sử.
Trang 17Ngoài lý do trên thì thiên tai, mất mùa, đói kém và su cao thuế nặng dớithời Nguyễn cũng khiến ngời Việt phải bỏ quê hơng di c sang Lào.
Cho dù trong suốt chiều dài lịch sử cùng với các triều đại phong kiến khácnhau đã có nhiều biện pháp khác nhau để ngăn ngừa và khắc phục thiên tai nhngtình trạng lụt lội và hạn hán hầu nh năm nào cũng xảy ra dới thời Nguyễn, nhất
là ở vùng đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ và Trung bộ Đặc biệt, nạn vỡ đê lụtlội liên tiếp xảy ra dới thời vua Tự Đức Riêng đê sông Hồng ở Khoái Châu (HảiHng) bị vỡ 18 năm liền, biến cả một vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ, dân ctrù phú đông đúc thành bãi lầy hoang vắng, nông dân đói khổ phải bỏ làng đi ănxin khắp nơi Điều này còn đợc lu giữ đậm nét trong ký ức của nhiều ngời cho dù
là những thế hệ sau của ngời Việt đợc sinh ra trên đất Lào
Trong những năm dới triều Nguyễn, có hàng chục vụ đói kém lớn xảy ra ởnhiều tỉnh Nghiêm trọng nhất là dới thời Tự Đức, mất mùa đói kém xảy ra liêntục, cứ dăm bảy năm lại xảy ra một nạn đói hoặc một nạn dịch lớn, làm chếtnhiều ngời nh trong nạn đói năm 1858, sử triều Nguyễn chép “Dân lu tán ở cáctỉnh Bắc kỳ nhiều ngời chết, có ngời bán mình bán con”[1, 58]
Tình hình ngập lụt do vỡ đê không chỉ xảy ra dới thời phong kiến mà ngaycả thời Pháp thuộc cũng không tránh khỏi Nhiều tai hoạ xảy ra nhiều lần và liêntiếp đã làm bần cùng hoá ngời nông dân và đẩy cuộc sống của họ càng trở nênkhốn khó, chẳng hạn nh những năm cuối thế kỷ XIX ở tỉnh Hng Yên đã xảy ra
26 vụ vỡ đê làm thiệt mùa màng Có thể tính đợc ở vùng này, cứ bốn vụ mùa thì
có một vụ mùa bị mất vì lụt Từ năm 1900 trở đi đã xảy ra những vụ vỡ đê lớnnăm 1902, 1903, 1904, 1905,1911, 1913, 1915, 1917, 1918, 1923, 1924, 1926trong đó lũ năm 1915 là đặc biệt nghiêm trọng Năm đó đã xảy ra 48 vụ vỡ đê và
ớc tính làm ngập tới 365.000ha, tức một phần t khu vực châu thổ sông Hồng.Không chỉ thiên tai, mất mùa mà trong thời kỳ này các loại bệnh dịch cũnghoành hành đặc biệt là dịch tả Nh năm 1920 bệnh dịch tả phát ra từ mùa thu quamùa đông làm chết 206.835 ngời Rồi trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam
kỳ 16.000 ngời Tháng 4 năm 1840, bệnh dịch tả lại phát ra ở khu vực Bắc kỳkhiến số ngời chết lên tới 67.000 ngời, riêng ở tỉnh Hải Dơng chết 23.000 ngời,tỉnh Quảng Ninh chết 21.000 ngời Trong hai năm 1848 - 1850, bệnh tả lạihoành hành từ Bắc chí Nam làm chết 589.000 ngời chỉ riêng tỉnh Vỉnh Long có43.000 ngời chết và tỉnh Quảng Bình có 23.300 ngời chết
Thêm vào đó hàng loạt các loại su cao thuế nặng đợc đặt ra khiến ngời dâncàng lâm vào tình trạng đói khổ, buộc nhiều ngời Việt phải chạy sang Lào để tìm
kế sinh nhai Có thể nói chế độ tô thuế dới thời Nguyễn nửa sau thế XIX hết sức
Trang 18nặng nề Chính sách ruộng đất của Tự Đức với các đạo vào các năm 1862, 1869,
1871 hay năm 1873 đã khiến cho nhiều nông dân không thể nộp thuế phải bỏruộng đồng ra đi Không những nộp thuế đất, thuế thân đánh vào đầu dân đinhcũng rất cao Triều Nguyễn thu một quan tiền tơng đơng với 14 xu một suất đinh.Ngoài thuế thì chế độ lao dịch thời Nguyễn cũng rất lạc hậu và hà khắc.Hàng năm ngời dân làm lao dịch tăng gấp đôi để phục vụ nhu cầu xây dựng dồndập các thành luỹ, dinh thự, lăng mộ… của vua quan Reynaud, một đại điền chủ của vua quan Reynaud, một đại điền chủngời Pháp đã viết th cho Bộ trởng Bộ thuộc địa vào ngày 24 tháng 8 năm 1908
nh sau: “ở Trung Kỳ (phong trào chống thuế của nông dân Quảng Nam năm1908) hoặc ở Hà Nội mới đây (mu đầu độc binh lính), những phong trào nàynhằm chống lại chính phủ hay chính quyền bảo hộ vì su thuế, tạp dịch quá nặng,ngời bản xứ không còn chịu nổi phải di c đi nơi khác để kiếm sống”[1,59] Tuynhiên những nhóm di c này không nhiều lắm chủ yếu chỉ tập trung ở miền Trungnơi tiếp giáp biên giới với Lào
Nh vậy, có thể thấy chế độ tô thuế, lao dịch, bệnh dịch nặng nề, hạn hán, lụtlội, mất mùa thờng xuyên đã khiến hàng ngàn hàng vạn gia đình nông dân khôngthể còn sống và bám trụ ở quê hơng Thêm vào đó với mảnh đất khẩu phần ít ỏi
và xơng xẩu của chế độ công điền ở nửa cuối thế kỷ XIX càng thúc đẩy họ phảirời xứ sở đi lu vong, phiêu tán Trong một báo cáo viết ngày1/9/1893 Delanesan
có viết: “Những ngời bản xứ đã bỏ đồng ruộng, làng mạc ra đi Dân c ngày càngtha thớt” hay “tôi sửng sốt về tình trạng bỏ hoang của cả một vùng Ngời ta chỉnhìn thấy hai bên đờng những làng mạc bị đốt phá, hoang tàn và đồng ruộng bị
bỏ hoang, đầy cỏ dại” Có thể thấy, nạn phiêu tán đã trở thành hiện tợng phổbiến, thờng xuyên, nhất là Bắc kỳ và Trung kỳ trong ba thập niên của thế kỷXIX Nhiều ngời trong số họ đã di c sang Lào sống tập trung ở miền Trung vàNam Lào
Hơn thế nữa, việc di c của ngời Việt còn diễn ra trong bối cảnh rối ren vớihàng loạt các cuộc nổi dậy chống triều đình và các khởi nghĩa nông dân Từ năm
1802 đến năm 1883, theo Đại Nam thực lục chính biên đã có gần 500 cuộc khởi
nghĩa của nông dân Có thể thấy thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX là thời kỳ “rối renthờng xuyên, trên khắp cả nớc”[29,60] Đến thời kỳ tiếp theo, sau khi triều đìnhnhà Nguyễn ký các hiệp ớc đầu hàng thực dân Pháp, các phong trào chống Pháp
nổ ra khắp nơi Tiêu biểu là phong trào Cần Vơng
Phong trào Cần Vơng bắt đầu với cuộc tấn công của phái kháng Pháp doTôn Thất Thuyết cầm đầu vào các căn cứ của Pháp vào đêm mồng 4 tháng 7 năm
1885 Giặc Pháp phản công chiếm kinh thành Huế buộc vua Hàm Nghi phải
Trang 19chạy lánh nạn về Quảng Trị Từ sơn phòng này, ngày 13 tháng 7 năm 1885Chiếu Cần Vơng kêu gọi chống Pháp đợc phát ra trong cả nớc Nghĩa quân khắp
ba kỳ Bắc, Trung, Nam dới sự lãnh đạo của các văn thân và sĩ phu đã nổi dậy
đánh Pháp khắp mọi nơi Phong trào Cần Vơng đã kéo dài trên 10 năm đến năm
1896 thì bị thực dân Pháp dập tắt Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, vua Hàm Nghi bịbắt một số ngời theo vua Hàm Nghi chống Pháp trong phong trào Cần Vơng đãchạy sang Lào lánh nạn để tránh sự tàn sát
Các cuộc lánh nạn diễn ra ở hầu khắp cả nớc từ miền Bắc qua miền Trung
đến miền Nam Từ Nam Kỳ, một số nghĩa quân trớc kia theo Trơng Công Định,Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Lê Tấn Kế, Nguyễn Bờng chốngPháp từ hồi năm 1860 đến 1880 về sau chạy xuyên rừng trốn qua Hạ Lào, có lần
họ cũng kéo quân về đánh Pháp ở các tỉnh Pắc Sế và Attap thuộc Hạ Lào Từ Bắc
Kỳ, nghĩa quân của Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Tít sau nhiều năm chiến đấungoan cờng thì có bộ phận chạy sang Trung Quốc, có bộ phận nghĩa quân chạysang Lào và họ cũng tham gia đánh Pháp ở Viêng Chăn
Từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh một số nghĩa quân của Phan
Đình Phùng, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Cầm Bá Thớc sau 10 nămkháng chiến kiên cờng ở Ba Đình (Thanh Hoá) hay Vụ Quang (Hà Tĩnh) đã rútqua Lào Đặc biệt từ các tỉnh miền Trung của Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên một số nghĩa quân củaTôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Lê Trực sau thất bại của phong trào Cần V-
ơng đã chạy qua các tỉnh ở Trung Lào
Những ngời Việt lánh nạn sang Lào đầu tiên tập trung sinh sống ở khu vựcXiềng Vang tỉnh Khăm Muộn của Lào Hiện nay nơi đây vẫn còn giữ đợc và bảotồn gần nh nguyên vẹn nhiều di tích phong tục tập quán và ngôn ngữ Việt cũng
nh lu giữ nhiều hồi niệm về quá trình di c sang Lào của cha ông họ: “Tôi cònnhớ ông bà tôi kể lại là họ đến Xiềng Vang này từ năm 1892 đấu tranh theophong trào Cần Vơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX, liền sau đó ông bà tôi vànhiều ngời nữa tiếp tục theo cụ Phan Bội Châu chống Pháp nên bị truy đuổi phảichạy trốn một số ở Lào, một số sang Thái Những ngời đó chủ yếu từ QuảngBình sang đây” [1,61]
Chạy tị nạn sang Lào sau thất bại của các cuộc kháng Pháp không chỉ cónhững ngời yêu nớc trong giới bình dân mà còn có cả một số ngời trong hoàngtộc của vơng triều nhà Nguyễn - những ngời đã từng tham gia trong phong tràoCần Vơng do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo Tuy nhiên, ngời Việtsang Lào làm ăn, c trú và trở thành kiều dân chủ yếu vào cuối thế kỷ XIX Khi
Trang 20nớc Lào - xứ Ai Lao bị thực dân Pháp sáp nhập vào Liên bang Đông Dơng từnăm 1899 thì việc đi lại và di chuyển giữa các xứ trong cùng Liên bang trở nên
dễ dàng và thuận tiện Đó cũng là lí do vì sao số ngời Việt di c sang Lào gia tăngtrong khoảng thời gian này
1.2.3 Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945) 1945)
Trong một thời kỳ dài từ năm 1858 đến năm 1896, thực dân Pháp tiến hànhxâm lợc và bình định Đông Dơng Sau khi ổn định Đông Dơng đặc biệt ở cácvùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ, từ năm 1897 đến những năm đầu của thế kỷ
XX, thực dân Pháp dới thời toàn quyền Poul Doumer nhiệm kỳ 1897 - 1902 đã
tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất với tên gọi: “Chơng trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất” Trong chính sách của mình, toàn quyền
Doumer nêu lên những điểm chính trong công cuộc khai thác thuộc địa Đông
D-ơng đó là: “ xây dựng cho Đông DD-ơng một hệ thống đờng sắt, đờng bộ, sông
đào, bến cảng, những cái cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dơng” và “đẩymạnh sản xuất thơng mại bằng việc phát triển công cuộc thực dân của ngời Pháp
và lao động của ngời bản xứ” [1,62]
Trong thời kỳ này, số lợng ngời Việt di c sang Lào đã tăng lên nhanh chóngcả chính thức và phi chính thức do Pháp điều động sang hoặc di dân tự phát.Nhiều dòng ngời di c Việt Nam đã đổ sang Lào tập trung ở các tỉnh Trung vàNam Lào Các con đờng sang Lào mà di dân đã đi đợc những thế hệ sau ghi nhớ
từ lời kể của cha mẹ họ đã tái hiện đợc những dòng di c chủ yếu qua Lào nh sau:
“Trớc đây các cụ sang đây thờng đi theo đờng 9 từ Quảng Trị qua Lao Bảo đếnbản Đen ở Sa Vẳn rồi về thị xã SaVẳn hoặc đi theo đờng 8 qua Hơng Sơn, HàTĩnh lên mỏ Phông Tịu cách Thà Khẹc khoảng 60 km ở bên phải ” [30,63].Theo những con đờng nh vậy, ngời Việt Nam đã di c sang Lào theo nhiềugiai đoạn trong thời kỳ Pháp thuộc Các giai đoạn đó có thể đợc chia ra từ khi bắt
đầu khai thác thuộc địa cho đến khi đẩy mạnh khai thác trên toàn cõi Đông Dơngcủa thực dân Pháp
1.2.3.1 Giai đoạn thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa
Để tiến hành khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã lờng trớc đợc những khókhăn ở xứ sở Triệu Voi này Lào là một quốc gia đất rộng ngời tha, không thể
đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhân công lao động Thời kỳ Liên bang Đông Dơng,thực dân Pháp không những đa ngời Việt đi phục vụ công cuộc khai thác thuộc
địa ở hải ngoại mà ngay cả những thuộc địa gần cũng cần nhân lực ngời Việttrong quá trình khai phá và xây dựng của Pháp giai đoạn này
Trang 21Do vậy thời kỳ này, nhân công ngời Việt đợc ngời Pháp đa sang Lào với sốlợng đông đảo, lao động trong hầu hết các lĩnh vực đặc biệt trong xây dựng cơ sởhạ tầng, đờng sá Không chỉ có những ngời lao động trực tiếp, thực dân Pháp còn
đa sang cả những ngời quản lý lao động ngời Việt
Trong giai đoạn đầu, việc xây dựng đờng sá phục vụ quá trình khai thácthuộc địa gần nh chiếm vị trí u tiên trong các chính sách cuả Pháp nên việc đanhân công ngời Việt sang Lào làm công nhân và phu “lục lộ” đóng một vai tròkhá quan trọng nh ví dụ dới đây đợc một Việt kiều kể lại có thể minh chứng điều
đó: “ Bác quê ở Bình Định, đấy là quê bố còn quê mẹ ở Quảng Bình Bố mẹ bácsang đây từ thời Pháp Hồi đấy, Pháp đa ông cụ thân sinh ra bác sang bên này lái
xe lu đờng, làm đờng 13 từ Việt Nam sang đây rồi đến tận Campuchia, nối với ờng 15 B ” [30,63]
đ-Có thể thấy giai đoạn đó, hàng ngàn ngời Việt Nam làm phu đắp đờng mởnhững con đờng chiến lợc sang Lào nối liền Viêng Chăn - Hà Nội (đờng số 6);Sài Gòn - Krachiê - Pắc Sế - Luông Phabăng (đờng 13); Thà Khẹc - Hạ Lào (đ-ờng 12); Luông Phabăng - Phủ Diễn Châu - Nghệ An (đờng số 7); Vinh - ThàKhẹc (đờng 8) và đặc biệt là con đờng nổi tiếng đờng 9 Nam Lào từ Đông Hà,Quảng Trị sang Savannakhẹt
Cho đến năm 1912, Đông Dơng cha có những đờng giao thông chung nốiliền các xứ trong Liên bang Do vậy, toàn quyền Albbert Sarraut đã đa ra chơngtrình chung quy hoạch về mạng lới đờng Trong nghị định ngày 18 tháng 6 năm
1918 đã đa ra qui định về việc sắp xếp các đờng thuộc địa ( do ngân sách Liênbang xây dựng và bảo dỡng) và đờng hàng xứ (do các xứ chịu trách nhiệm)
Hệ thống đờng sá thuộc địa nói chung của Đông Dơng cha phát triển thì hệthống đó tại xứ Lào lại là nơi kém phát triển nhất trong toàn bộ các xứ và các kìthuộc Pháp Do vậy, Pháp đã tăng cờng nhiều nhân công đặc biệt là đa nhân côngngời Việt sang Lào làm phu đờng nhằm mở mang đờng sá phục vụ cho côngcuộc khai thác thuộc địa tại xứ Lào
Ngoài làm phu “lục lộ”, ngời Việt còn bị Pháp đa sang đây làm culi đồn
điền trồng các cây công nghiệp Từ xa xa, ngời Việt đã có truyền thống giỏi làmnông nghiệp và trồng trọt nên ngời Pháp đã đa nhiều công nhân đồn điền ngờiViệt sang Lào cùng với họ là cả một đội quân quản lý cũng của ngời Việt “ở
Đông Đản này, trớc kia cũng có nhiều đồn điền trồng chè của ngời Pháp mà đa
số là ngời Việt sang làm thuê cho các đồn điền của ngời Pháp Pháp còn đa cảngời Việt sang quản lý đồn điền cho họ nữa Do vậy, trớc đây ngời ta thờng gọi
Trang 22các đồn điền theo tên ngời Việt quản lý nh đồn điền ông Thanh hay đồn điền ôngHải” [30,65].
Để khai thác thuộc địa, thực dân Pháp tận dụng mọi nguồn lực sẵn có Nhngdờng nh nguồn lao động từ ngời Việt di dân là không đủ nên việc bóc lột sức lao
động của tù nhân cũng đợc coi trọng Thực dân Pháp đã đa nhiều tù binh ngờiViệt vào làm việc trong các đồn điền và làm đờng
Đi liền với việc sử dụng lao động tù nhân để phục vụ cho công cuộc khaithác thuộc địa, Pháp còn bắt nhiều lính ngời Việt sang Lào để bảo vệ cho bộ máychính quyền thực dân Giám sát đội quân cu li là những đội quân binh lính khốxanh, khố đỏ để quản lý và kiểm soát đóng tại các đồn bốt của Pháp ở Lào Đâycũng là thời gian thực dân Pháp tăng cờng bắt lính trên toàn cõi Đông Dơng
Điều này không chỉ đợc ghi lại trong các báo cáo của thực dân Pháp đợc đăng tảitrong “Công báo Lào” (B.A.L) đợc lu trữ vào đầu những năm 1900 - một trongnhững nguồn “tài liệu quí giá bậc nhất về Lào” [1,65], mà còn đợc nhiều concháu ngời Việt đời sau hiện đang sinh sống ở Lào nhắc đến và kể lại nh những
ký ức không thể nào quên
Nh vậy, ngời Việt đã có mặt ở Lào ngay từ thời nhà Lý (Tiền Lý) cho đến thời kỳ nhà Nguyễn và tăng lên đáng kể là từ khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam Đặc biệt, số lợng ngời Việt đến định c ở Lào tăngmạnh là từ khi thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác xứ Đông Dơng
1.2.3.2 Giai đoạn thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc thực dân Pháp ráo riết tiến hànhkhai thác thuộc địa ở ba nớc Đông Dơng với mục tiêu chính là biến những nớcnày trở thành nơi cung cấp nguồn nguyên liệu thiếu hụt của nớc Pháp, là nơicung cấp nguồn nhân lực cho một số nớc thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ Chínhbởi chính sách khai thác thuộc địa ngày càng khốc liệt, tàn bạo của thực dânPháp đã đẩy số đông nông dân và thị dân nghèo ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc
bộ và Trung bộ của Việt Nam rơi vào cảnh đói nghèo bần cùng Lối thoát duynhất lúc đó là phải cam phận làm dân mộ phu cho các ông chủ đồn điền, hoặclàm công nhân trong các công trình đờng sá, hầm mỏ của Pháp mà lúc đó đang ởvào giai đoạn khởi công khẩn trơng nhất Nhiều ngời đã nhanh chóng trở thànhnhững công nhân “lục lộ” trong kế hoạch mở những con đờng chiến lợc từ ViệtNam sang Lào nhằm phục vụ chơng trình khai thác thuộc địa và những cuộchành quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa đang không ngừng xảy ra của ngời Lào vàngời Việt Những tuyến đờng lịch sử ấy đã hình thành đồng thời với cuộc di dâncủa ngời Việt sang Lào
Trang 23Hàng chục năm sau đó, do nhiều biến cố lịch sử đã đa đẩy những ngời côngnhân ngời Việt trên những tuyến đờng này tản ra làm ăn sinh sống và định c dần
ở hầu hết các huyện lị và thị xã mới phát triển suốt dọc dòng sông Mê Công từNam Lào lên tận thủ đô Viêng Chăn Họ kiếm sống bằng đủ thứ kể cả nghề làmruộng
Cũng từ năm 1919 trở đi, trong quá trình khi thác thuộc địa trên toàn cõi
Đông Dơng, thực dân Pháp tiến hành khai thác các mỏ khoáng sản quí có trữ ợng cao ở Lào nh vàng, thiếc, chì Trong quá trình khai thác các mỏ thiếc ởPhông Tịu và Bôneng, ngời Pháp đã cho xây dựng một số xí nghiệp khai khoángvới trang thiết bị hết sức thô sơ Tuy nhiên, các cơ sở đó cũng đã thu hút đợc một
l-số lợng đáng kể ngời Việt sang Lào làm việc Những công nhân đó đều do các
ông chủ Pháp tuyển mộ từ Việt Nam sang Ngời Pháp đánh giá cao tay nghề và
sự cần cù của công nhân ngời Việt hơn công nhân ngời Lào Theo thống kê củaEric Pietrantoni [28,19] thì trừ một bộ phận ngời Việt Nam khoảng gần 400 ngờiViệt sống di c từ Việt Nam sang phía bờ bên kia sông Mê Công vào cuối thế kỷXIX (khi vùng đất Isản cha thuộc về Xiêm theo hiệp ớc Pháp - Xiêm năm 1893),
từ năm 1912 đến 1943 đã có khoảng từ 4.000 dến 4.500 ngời Việt vào Lào làm
ăn sinh sống, đánh dấu sự gia tăng làn sóng nhập c của ngời Việt vào Lào.Những ngời này sống cộng c thành làng xóm riêng của ngời Việt ngay tronglòng các huyện lị, thị xã, thành phố nh làng An Nam ở cây số 6, làng Săng Phin ởgiữa thủ đô Viêng Chăn (gần tháp truyền hình quốc gia Lào ngày nay) đồng thờiduy trì một cách có ý thức văn hoá Việt trong nội bộ cộng đồng Trong số những
đô thị phát triển và sầm uất thời đó của Lào, ngời Việt chọn định c ở Viêng Chăn
đông hơn cả Ngời Việt ở Viêng Chăn có đủ thành phần nhng đại đa số là dân lao
động thợ thuyền Nhiều ngời làm hàng xay hàng xáo, buôn thúng bán bng ở cácphố chợ, trồng rau màu ở làng ven đô, thành phần tiểu thơng tiểu chủ không
đáng kể
Nhìn chung, từ thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu nh Pierre Goure đãnghiên cứu và kết luận về việc di c dài ngày ra khỏi châu thổ Bắc kỳ nói riêng vàcủa ngời Việt nói chung thì có hai loại: sự di c tự phát và di c có tổ chức Nhữngngời thợ thủ công, nhà buôn, công nhân nông nghiệp - nhng số này không nhiều
- tự phát rời khỏi làng sang lập nghiệp ở Lào và Cao Miên Nguyên nhân chủ yếucủa bộ phận di c này là do một số khá đông nông dân bị lôi cuốn bởi những tintức thuận lợi của bà con di c đã gửi về, đã tìm đến gặp họ hàng và ở lại nơi ở mớinếu thấy điều kiện sống ở đấy có thể chấp nhận đợc Bộ phận di c có tổ chức là
Trang 24bộ phận ngời Việt do thực dân Pháp điều động sang để phục vụ cho công cuộckhai thác thuộc địa.
Lào là một trong 5 xứ thuộc Liên bang Đông Dơng của Pháp nên việc sửdụng ngời ở xứ này đến làm việc trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở xứ kia
là chuyện bình thờng Chính quyền thuộc địa Pháp đa ngời Việt tới Lào chỉ làviệc điều chuyển lao động và c dân trong nội vùng Trong thời gian tăng cờngkhai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất ởLào, một bộ phận ngời Việt đợc Pháp đào tạo đã đợc tuyển dụng vào làm việctrong một số cơ quan thuộc chính quyền nhà nớc bảo hộ ở Lào Họ đợc tham giatrong bộ máy hành chính, thuế quan, công sở, trờng học Dù là một bộ phậnnhỏ tham gia ở cấp thấp của chính quyền thực dân nhng họ đã có những chỗ
đứng nhất định trong lĩnh vực chính trị và quân sự của nhà nớc Lào Đây là điềukhác biệt cơ bản giữa thân phận ngời Việt ở Lào với thân phận ngời Việt ở TháiLan cùng thời Trong cơ chế bộ máy chính quyền thực dân các nớc thuộc địa ở
Đông Dơng thì cao nhất là ngời Pháp còn dới đó hầu hết là các công chức ngờiViệt Đến năm 1937, ngời Việt vẫn chiếm đến 47% số các vị trí công chức caocấp ngời bản xứ trong bộ máy hành chính thuộc địa tại Lào trừ ở LuôngPhabăng Điều này còn thể hiện rõ trong việc ngời Việt chiếm phần lớn c dântrong các đô thị của Lào
Các trung tâm đô thị ở Lào không nhiều và tơng đối nhỏ, trừ ở Luông Phabăng ra còn lại các đô thị khác ở Thà Khẹc, Savannakhet, Pắc Sế và XiêngKhoảng ngời Việt vẫn chiếm đa số Cuối những năm 1930, số dân ngời Việt ởcác đô thị của Lào đã tăng lên gấp đôi do những bất ổn về chính trị và xã hội ởViệt Nam Thêm vào đó, không có hạn chế nào từ phía Lào đối với quá trình di
c sang Lào của ngời Việt bởi cùng thuộc Liên bang Đông Dơng Điều này đợcthể hiện chi tiết trong bảng dới đây:
Bảng phân bố tộc ngời ở một số thành phố/ thị xã của Lào những năm sauchiến tranh thế giới lần thứ nhất
Nguồn: [28,21]
Thành phố/Thị xã Ngời Việt
(%)
Ngời Lào (%)
Ngời Hoa (%)
Các dân tộc khác(%)
Trang 25Nhìn vào bảng thống kê trên cho phép chúng ta nhận xét rằng ở vào thời kỳ
đó tỷ lệ ngời Việt sống trong các thành phố và thị xã của Lào chiếm tỷ lệ caonhất nh Thà Khẹc lên tới 85%, Savannakhẹt 72,5% Cũng trong thời gian đó tỷ lệngời Hoa trong dân c cha đáng kể, nhiều nhất nh Pắc Sế cũng mới chỉ chiếm23%
Tuy nhiên, vào những năm trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúcvới sự biến động của cuộc chiến ở Đông Dơng, sự phân bố c dân của cộng đồngngời Việt ở các đô thị tại Lào một lần nữa có sự xáo trộn lớn Phát xít Nhậtchiếm đóng Đông Dơng thay thế ngời Pháp, ra sức đàn áp không chỉ ngời Lào
mà còn tấn công vào cộng đồng ngời Việt trên toàn nớc Lào Điều đó đã làmgiảm một phần c dân ngời Việt tại các đô thị ở Lào
Sau giai đoạn Pháp đa nhiều ngời Việt sang để phục cho quá trình khai thácthuộc địa ở Lào, nhiều làn sóng di c khác cũng di dân tự phát đến Lào tạo thànhnhững cộng đồng Việt kiều đông đảo Đặc biệt khi Việt Nam xảy ra nạn đói năm
1945 là thời điểm vô cùng khó khăn đối với nhiều ngời Việt Nam nhất là ngờidân Bắc và Trung kỳ Một số lợng lớn ngời Việt phải tha phơng cầu thực, bỏ làngquê đi mu sinh và tìm kế sinh nhai Họ đã tạo nên nhiều đợt di c, chủ yếu là di c
tự phát sang các nớc lân cận trong hoặc ngoài Đông Dơng Đây là thời kỳ có
đông ngời Việt di c sang Lào nhất Theo tài liệu thống kê vào năm 1939, trongthập kỷ 30 của thế kỷ XX có tới 39.000 ngời Việt di c đến Lào [60,37]
1.2.3.3 Giai đoạn xảy ra nạn đói cuối năm 1944 - năm 1945
Có thể nói, nạn đói cuối năm 1944 - 1945 do Nhật, Pháp gây ra ở miền Bắc
và miền Trung Việt Nam đã đẩy nhiều ngời Việt Nam từ các tỉnh Trung bộ ởNghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị theo đờng số 8 sang tỉnh Thà Khẹc và đ-ờng số 9 đến tỉnh Savannakhẹt Ngời Việt gồng gánh, dắt dìu nhau chạy qua Lào,dọc đờng chết đói và chết vì bệnh tật cũng khá nhiều Những ngời sống sót cònlại thờng tập trung định c ở các thị trấn và khu vực dọc theo sông Mê Công hoặcsống cùng với ngời Lào tại các làng bản thị trấn dọc theo bờ sông
Không chỉ có nông dân mà ngay cả những gia đình khá giả, có chức sắc ởcác làng quê Việt Nam cũng phải đối mặt với nạn đói kinh khủng cuối năm 1944
- 1945 Tình hình trên khiến họ nhận thấy khó có thể qua khỏi nếu cứ bám trụlại nơi chôn rau cắt rốn và do vậy, nhiều ngời đã phải di c đi tìm con đờng sống.Ngời Việt sang Lào giai đoạn này không chỉ đi riêng lẻ mà thờng đi theonhiều nhóm, nhiều đoàn tập hợp nhau thành những cộng đồng dân c theo nguồngốc quê hơng Điển hình có thể thấy ở cộng đồng ngời Việt ở Luông Phabăngkhông chỉ qua ký ức của những c dân ở đấy mà còn từ lời kể của những ngời dân
Trang 26ở các nơi khác “Ngời Việt kiều ở Xiêng Khoảng phần đông là ngời Nghệ An vàngời Hà Tĩnh ở Luông Phabăng thì phần đông là ngời Việt sang Lào từ nhữngnăm 45 do nạn đói”[1,70].
Đây gần nh là đợt di dân tạo thành trào lu di c đầu tiên của ngời Việt màhình thành nên cộng đồng Việt kiều ở Luông Phabăng “ Chúng tôi toàn là nôngdân nghèo hồi năm 45 đói kém quá cả làng lê lết từ miền Bắc, đi từ Hng Hà, TháiBình đón xe đến Diễn Châu rồi qua Lào Sau đó chúng tôi qua Nỏng Hét lênLuông Phabăng Hồi ấy, cả làng rời bỏ quê hơng ra đi, dọc đờng chết đói nhiềulắm Lên Luông Phabăng này, chúng tôi nghèo không một xu dính túi, không cónhà để ở, đành phải làm chòi ở ngoài đồng để ở, sau làm lụng dần dần mới cótiền mua đất đai dựng nhà cửa Phải nói chính quyền ở đây rất tốt, họ đã tạo điềukiện cho làm ăn, thậm chí có ngời còn vào tận cung vua của Lào làm đồ mộc
”[30,70]
Trớc đây Luông Phabăng là nơi ở của vua chúa của Lào nên nơi đây ít cókiều dân các nớc nhng ở thời kỳ này cũng đã xuất hiện nhiều ngời Việt Tuynhiên đây không phải là nơi tập trung đông ngời Việt nh đã đề cập đến trongbảng dân số các khu vực đô thị tại Lào thời Pháp ở phần trên
Có thể thấy, từ lâu rồi, ngời Việt đã sống tập trung thành những cộng đồngdân c đông đảo ở Lào đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc Các cộng đồng ngờiViệt khi sang đến Lào vẫn duy trì nhiều bản sắc vốn có ở quê nhà và họ vẫn thíchsống tụ họp lại thành các làng xóm toàn của ngời Việt “ở Mờng Khun này, trớckia có làng An Nam toàn của ngời Việt, trong làng có nhiều xóm nh xóm Lục
Lộ với dân toàn làm nghề “lục lộ”, xóm Cắm Hơng hay xóm Ba Toa do dân phần
đông làm nghề giết mổ lợn, gia súc , xóm Trại lính vì ở xóm đó có nhiều ngời
đi lính cho Pháp” [1,71]
Nh vậy, trải qua các giai đoạn di dân đến thời kỳ này các cộng đồng ngờiViệt ở Lào đã dần hình thành và ổn định Đây là những cộng đồng ngời Việt cóthể tạm coi là “ngời Việt cũ” bởi cho đến hiện nay nhiều ngời không còn định c
ở chỗ đầu tiên nơi họ di c sang mà đã chuyển c hoặc di c đi nơi khác trong phạm
vi nớc Lào hoặc sang nớc thứ ba Cũng có nhiều bộ phận ngời tạm gọi là “ngờiViệt mới”, tức họ mới di c sang Lào ở những thời điểm gần đây hơn bắt đầu từthời Lào và Việt Nam cùng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng đấtnớc cho đến công cuộc xây dựng đất nớc và đổi mới hiện nay
1.2.4 Giai đoạn chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (từ 1945-1975)
Trang 27Những năm tháng của thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cómột số lợng đáng kể ngời Việt di c đến nơi khác trong những năm chiến tranh ácliệt Đây là thời kỳ mà cả ba nớc Việt Nam, Lào, Campuchia trở thành một chiếntrờng chung Phần lớn các đợt di chuyển là do sự tàn khốc ở các vùng tranh chấp.Một số khác sang Lào làm ăn hoặc đi chơi, thăm họ hàng bị mắc kẹt lại do cuộcchiến chống Pháp ở Đông Dơng.
Một số ngời do đấu tranh cách mạng chống Pháp trong nớc bị đàn áp, bứcbách nên phải trốn tránh, lánh nạn sang Lào Họ là những ngời Việt Nam yêu n-
ớc muốn vùng lên chống sự áp bức thống trị hà khắc của thực dân Pháp giành
độc lập tự do cho dân tộc Những ký ức hào hùng và oanh liệt của các thế hệ đitrớc còn đợc thể hiện trong tâm trí của các thế hệ con cháu Truyền thống anhdũng quật cờng, tinh thần chống Pháp kiên cờng còn luôn đợc nuôi dỡng ngaytrên đất Lào, ở những nơi ngời Việt di c đến sinh sống và làm ăn
Nhìn chung, vào giai đoạn này những làn sóng di c của của ngời Việt sangLào tăng lên nhiều, đặc biệt vào những thời kỳ gay go và khốc liệt của các cuộcchiến tranh ở những nơi giao tranh ác liệt ngời dân tìm mọi cách sơ tán đếnnhững vùng an toàn hơn và đất nớc Lào là một trong những vùng đất tơng đốiyên bình để lánh nạn
Cuối năm 1945, thực dân Pháp chiếm lại một số vùng Trung và Thợng Lào
và các vùng đất của Lào ở Nam vĩ tuyến 16 Đến cuối tháng 3 năm 1946, thựcdân Pháp dồn lực lợng đánh chiếm Lào lần thứ hai, ồ ạt tiến quân chiếm lại tỉnhPắc Sế ở Hạ Lào rồi lần lợt tiến quân chiếm các thành phố lớn ở Savannakhẹt,Thà Khẹc và Viêng Chăn Tại đây thực dân Pháp đã vấp phải sự đánh trả quyếtliệt của các lực lợng vũ trang Lào phối hợp với lực lợng vũ trang của Việt kiềugiải phóng quân
Từ khi ký hiệp định Lào - Việt vào tháng 10 năm 1945, liên quân Lào - Việtchính thức ra đời Thủ đô Viêng Chăn và các tỉnh khác nh Thà Khẹc, KhămMuộn, Savannakhẹt có bộ tham mu chung cho quân đội của cả hai nớc Sau Hiệp
định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, chúng ta không dùng danh hiệu “Liên quânLào - Việt” nữa mà các đơn vị bộ đội vũ trang của Việt kiều chuyển sang vớidanh nghĩa là những chiến sỹ quân tình nguyện giúp nhân dân Lào Từ cuối năm
1945 đến tháng 3 năm 1946, quân đội Lào - Việt ở các tỉnh đều có những hoạt
động vũ trang chống lại quân Pháp, bảo vệ độc lập chủ quyền của nhân dân Lào.Liên quân Lào - Việt đã phối hợp với bộ đội Lào chặn đánh thực dân Pháp ởBản Cơn (cách Viêng Chăn 62 km); Savannakhẹt, Pắc Sế
Trang 28Đặc biệt ở Thà Khẹc - Khăm Muộn, Liên quân Lào - Việt đã tiếp quản đợcnhiều vũ khí của quân Nhật nên đợc trang bị tốt hơn so với các địa phơng kháccủa Lào Ngay từ đầu lực lợng vũ trang của Lào và quân tình nguyện Việt kiều ởnhiều tỉnh thành đã tạo đợc lòng tin và dấu ấn trong lòng nhân dân Lào.
Đến cuối năm 1945, khi hoàng thân Xuphanuvông từ Viêng Chăn xuốngThà Khẹc, Hoàng thân đã chỉnh đốn lại lực lợng vũ trang chỉ giữ lại khoảng 500chiến sĩ đồng thời đích thân ông tham gia chỉ huy các trận đánh tại đây Nổi bật
có trận Ma Nơng, ở đây quân Pháp đông hơn nhng liên quân Lào - Việt đã độtkích bất ngờ tiêu diệt địch Từ đó uy tín của liên quân Lào - Việt và Hoàng thântăng lên nhiều
Tuy nhiên, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhất đó là cuộc chiến đấu diễn ratại Thà Khẹc vào ngày 21 tháng 3 năm 1946 Chỉ trong vòng 1 ngày mà có hơn3.000 dân thờng cả ngời Lào và ngời Việt (trong đó phần lớn là Việt kiều) đã bịsát hại Trận chiến đó, do tình hình lực lợng bất lợi cho liên quân Lào Việt nênHoàng thân Xuphanuvông - lúc đó là tổng t lệnh Liên quân Lào - Việt đã buộcphải ra lệnh vừa chiến đấu vừa tổ chức rút lui qua sông Mê Công sang Thái Lan
“Khi tình thế bất lợi, họ lại cùng nhau lánh nạn sang Thái Lan” [30,75] Đây cóthể nói là đợt nhập c đông nhất của ngời Việt sang Thái Thời kỳ này nhiều gia
đình Việt kiều ở Lào phải chịu những biến động to lớn vì sự bắt buộc phảichuyển c này Cùng với 4 vạn Việt kiều đã sinh sống từ trớc, số lợng Việt kiều ởThái Lan trong thời gian này đã tăng lên gần 10 vạn ngời
Kể từ đây, mật độ dân số Việt kiều ở các đô thị của Lào bị thay đổi: Nếu
nh giai đoạn trớc (1935-1945) cộng đồng ngời Việt chiếm một tỉ lệ rất lớn trongcác khu vực thành phố, thị xã của nớc Lào (chiếm từ 53-85%) thì giai đoạn nàythị dân ở phố chợ, thợ thuyền và cả viên chức ngời Việt trong các công sở giảm
rõ rệt Tuy vậy, một số ngời Việt trớc đây sống ở các vùng nông thôn xa xôi trở
về sống ở các thành phố thị xã bắt đầu một cuộc sống mới Điều này đã gây nênmột sự xáo trộn trong cộng đồng ngời Việt ở Lào tại các đô thị
Sau đó, phần lớn Việt kiều ở lại Thái hoặc tiếp tục sang định c ở các nớckhác còn một phần quay trở lại Lào đặc biệt sau năm 1954 khi Pháp rút khỏi
Đông Dơng
Nh vậy, cho đến cuối những năm 1940 của thế kỷ XX, ngời Việt ở Lào chủyếu tập trung ở các trung tâm đô thị lớn nh Viêng Chăn, Savannakhẹt, ThàKhẹc Nếu nh giai đoạn 1939 - 1942, số lợng ngời Việt Nam tại Lào ớc tínhkhoảng 40.000 ngời thì sang đến đầu những năm 50 số lợng ngời Việt đã tănglên đến khoảng 50.000 ngời Tuy nhiên, sau những cuộc đàn áp ngời Việt của
Trang 29Pháp thì số lợng ngời Việt ở Lào giảm hẳn Phần lớn trong số họ (chiếm khoảnghơn 80%) chạy tản c và tị nạn sang Thái Lan qua sông Mê Công và một số tiếptục định c ở các nớc thứ ba hoặc quay trở về Việt Nam Chỉ có một phần nhỏtrong số đó quay trở lại Lào nhng không chiếm số đông và họ cũng không tạo đ-
ợc thành đa số áp đảo so với ngời Lào nh trong những năm Pháp thuộc ở cáctrung tâm đô thị lớn nữa
Tiếp theo thời kỳ chiến tranh chống Pháp là cuộc chiến chống đế quốc Mỹ.Sau khi ngời Pháp rút khỏi Lào, ngời Mĩ tiếp quản và bắt đầu viện trợ cho chínhphủ Lào để trả lơng cho khoảng từ 12.800 - 15.000 ngời trong bộ máy quân sự,cảnh sát và hành chính Vào giữa những năm 50 của thế kỷ XX, ngời Mĩ đã giảithích cho việc viện trợ của họ: “Chính phủ Lào không thể có đủ tiền để trả lơngcho quân đội, cảnh sát, giáo viên và công chức dân sự Nớc Mĩ quyết định giúpkhông phải thông qua việc trả cho những ngời này bằng tiền đô la nh thông quaviệc đổi tiền đô la cho chính phủ Lào theo đó chính phủ Lào đợc viện trợ tiềnKíp với tỷ giá 35 Kíp một đô la”[30,76]
Việc này đã tạo sức hấp dẫn thúc đẩy sự phát triển của thị trờng chợ đenbuôn bán đô la do mạng lới buôn bán của ngời Hoa lũng đoạn Chính vì vậy đâycũng là thời kỳ Hoa kiều chiếm vị trí áp đảo, Việt kiều không giữ đợc vị trí trớc
đây chủ yếu do số lợng ngời giảm nhiều do chạy loạn và tản c trong chiến tranhthêm vào đó thực lực về kinh tế không mạnh bằng ngới Hoa Đây có thể nói làthời kỳ bà con ngời Việt ở Lào có sự xáo trộn và ảnh hởng trực tiếp đến cuộcsống
Trong những năm 1960 - 1970 khi miền Bắc Việt Nam đẩy mạnh quá trìnhthống nhất miền Nam việc tiếp tế cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đánh Mĩ phụ thuộc nhiều vào đờng mòn Hồ Chí Minh mà có một phần đi quaLào Nhân dân Lào đã cung cấp quân đội, vũ khí, lơng thực cho Quân Giảiphóng Tại đây đã diễn ra những trận chiến khốc liệt giữa liên quân Lào - Việt vàquân Mĩ Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã leo thang ảnh hởng đến toàn Đông D-
ơng nói chung và Lào nói riêng Điều đó đã đảo lộn không nhỏ đến đời sống của
bà con Việt kiều đang sinh sống ngay trên đất Lào nhất là ở những vùng đất gọi
là “căn cứ địa cách mạng” nh Xiêng Khoảng hay Xiềng Vang Dầu vậy, ở Lào
có nhiều nơi không bị chiến tranh tàn phá hơn nên một bộ phận đã chạy sangLào sinh sống để tránh sự đàn áp quá mạnh tay của chính quyền Mĩ - Nguỵ.Trong giai đoạn này, quân đội Việt Nam có sự phối hợp chiến đấu của quândân Lào, đã đánh bại cuộc hành quân của quân nguỵ ở khu vực đờng 9 Nam Lào
Trang 30Sự phối hợp của quân dân Việt - Lào đã lần lợt đánh tan các cuộc phản công củaquân Mĩ - Nguỵ
Đây có thể nói là thời kỳ vô cùng khó khăn cho ngời dân Lào nói chung và
bà con Việt kiều sống ở Lào nói riêng bởi chiến tranh liên miên, bom đạn ác liệt.Cuộc sống dân thờng cả Lào lẫn Việt đều chịu ảnh hởng, họ không đợc hởngcuộc sống bình yên, làm ăn yên ổn bởi họ đều phải chạy giặc, tản c trốn tránhmong tìm con đờng sống
1.2.5 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1995, khoảng 1,5 triệu ngời Việt nam
đã di tản khỏi đất nớc với hai làn sóng di dân chính là di dân bất hợp pháp vàocuối những năm 70 đầu 80 và di dân hợp pháp vào cuối những năm 80 đầu 90của thế kỷ trớc
Có thể nói, đây là thời kỳ mà ngời Việt di c ra nớc ngoài chiếm tỉ lệ lớn trênthế giới Theo Cao uỷ Liên hợp quốc về ngời tị nạn (HCR), do những bối cảnhkhó khăn vì chiến tranh sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc vàotháng 4 năm 1975 và những bất ổn về kinh tế vào những năm đầu thập niên 1980
đã khiến hàng trăm ngàn ngời Việt Nam ra đi Tuy số liệu này không tính lợngngời xuất c bất hợp pháp qua biên giới Thái Lan nhng HCR nhận định rằng mỗinăm có khoảng từ 1.000 đến 3.000 ngời vợt biên qua đờng bộ của Thái Lan từnăm 1976 đến 1996 Chắc chắn số lợng ngời Việt sang Lào trong thời kỳ nàycũng không thể nhỏ Lúc này c dân Việt Nam sống dọc theo biên giới Việt - Làogặp nhiều khó khăn trong khi đó Thái Lan lại thi hành chính sách cởi mở, tunghàng hoá Thái Lan xâm nhập vào thị trờng Lào nên đời sống của c dân Lào lúcnày dễ chịu hơn Việt khá nhiều Do lực hút đó mà nhiều ngời muốn vợt biênsang Lào Một số ngời đã đi sâu vào lãnh thổ Lào tìm kiếm công ăn việc làm màhấp dẫn nhất là nghề làm mua bán vận chuyển hàng hoá từ Thái Lan về ViệtNam Từ Việt Nam quần bò, áo phông, hàng mĩ phẩm nhãn hiệu Thái lại đợcchuyển qua Liên Xô và Đông âu Trong hoàn cảnh đó, một số không ít ngời đã
định c, làm ăn sinh sống lâu dài ở Lào
Bớc sang thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế của hai nớc, các đợt di dâncủa ngời Việt sang Lào cũng diễn ra với số lợng ngời di c khá lớn
Đầu tiên phải kể đến những ngời Việt theo sự điều động của chính phủ ViệtNam đến giúp nhà nớc Lào xây dựng các công trình phát triển kinh tế, xã hội,
đặc biệt là xây dựng các cơ sở hạ tầng nh làm đờng giao thông, làm cầu cống,các công trình thuỷ điện, nhà máy, xí nghiệp, nhà cao tầng và khi công trình
Trang 31kết thúc các công ty rút đi nhng có một bộ phận nhỏ công nhân đã không về quê
mà tìm cách sống tại Lào
Hơn nữa, từ những năm bắt đầu phát triển kinh tế cho đến tận những nămgần đây, các dự án đầu t ngắn hạn và dài hạn của Việt Nam vào Lào ngày mộtgia tăng, triển khai trên nhiều lĩnh vực và vùng miền của nớc Lào Đi cùng vớiviệc thực hiện các dự án trên đất Lào là việc đa cán bộ và công nhân Việt Nam đitheo các công trình đó
Những năm gần đây sự qua lại của ngời Việt ở Lào ngày càng nhộn nhịphơn, nhất là khu vực đờng vành đai Đông Dơng với các dự án phát triển kinh tế
“ba quốc gia mời thành phố” [28,23] Ngời Việt sang Lào bằng nhiều con đờng:
1 Thăm thân nhân rồi tìm cách ở lại sinh sống ở Lào;
2 Sang Lào theo giấy thông hành của hai tỉnh kết nghĩa, nhng tiến sâu vàonội địa, hết hạn giấy thông hành lại xin gia hạn, rồi tìm cách ở lại Lào;
3 Tự do sang Lào tìm kiếm công ăn việc làm; buôn bán hoặc sang du lịchrồi ở lại Lào không về; Một số vợt biên trái phép sang Lào vì phạm tội ở ViệtNam
Không kể các loại ngời nhập c trái phép nêu trên, luồng ngời Việt đến Làovào thời gian này chủ yếu đi theo các công trình hợp tác hay đầu t của hai nhà n-
ớc, hay của các doanh nghiệp Lào Hết hợp đồng lao động một số ở lại, một số
về nớc rồi tìm cách trở lại Lào làm ăn sinh sống Một số doanh nghiệp Việt Nam
đã đa công nhân sang làm công trình, khi hết công trình vì lý do nào đó doanhnghiệp phải rút đi, nhng nhiều ngời trong số họ ở lại Lào làm ăn sinh sống
Không chỉ có cán bộ công nhân đến làm việc ở Lào mà còn có những ngời
“di c tự do” đến Lào để tìm kiếm công ăn việc làm theo mùa vụ, những ngờithuộc loại này đang ngày càng gia tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế củaLào đặc biệt là ở những vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam, nơi có đờng biêngiới khá dài tiếp giáp với nớc Lào Những ngời di dân tự do hầu hết đều không cógiấy tờ và chịu nhiều rủi ro trong quá trình di dân nh bị trục xuất về nớc
Ngoài ra còn có những ngời di dân theo kiểu “xâm canh xâm c” ở các vùngbiên giới giữa hai nớc Việt Lào vì các mục đích sinh kế theo mùa vụ hoặc lâudài, những ngời di dân loại này thờng là những ngời dân vùng biên giới qua lạibuôn bán trao đổi hàng hoá Số lợng những ngời ”xâm canh xâm c” khó xác định
đợc chính xác nhng cũng chiếm tỉ lệ khá lớn và ngày càng tăng khi các hoạt
động vùng biên đang trên đà phát triển Nếu đợc quản lý tốt, lực lợng này có thểgóp phần nhất định vào sự phát triển kinh tế của hai nớc Đây là vấn đề mà chính
Trang 32phủ hai nớc Việt Nam, Lào cần phải quan tâm, giải quyết nhằm định hớng choluồng di c này.
Nh vậy, đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX, trải qua nhiều thời kỳ,nhiều thế hệ ngời Việt di c đã tạo thành một cộng đồng ngời Việt khá đông đảovới gần 20.000 ngời sinh sống ở Lào Có thể tổng kết lại theo lời ông Trần VănChơng - Chủ tịch Hội Việt kiều Viêng Chăn tại Hội nghị Việt kiều xuân Quí Dậu
- 1993 nh sau:
“Gần 20.000 ngàn Việt kiều chúng tôi từ các miền quê ra đi trong nhữngnăm tháng tối tăm dói ách thực dân thuở trớc Trải qua những thời kỳ bị kìm kẹpcủa bộ máy thống trị trong suốt chặng đờng kháng chiến lâu dài đầy hi sinh giankhó của hai dân tộc, cùng chiến đấu, cùng giành thắng lợi Việt kiều chúng tôi đãkhông tiếc sức ngời sức của và cả sự hi sinh xơng máu vì sự nghiệp giải phóngdân tộc, vì độc lập tự do của mỗi nớc Việt kiều chúng tôi tự hào về sự đóng góptích cực của mình, đợc nhân dân Lào mến yêu, chính quyền Lào ngợi khen Từsau giải phóng, toàn thể Việt kiều đùm bọc lẫn nhau, làm ăn sinh sống, một lòngmột dạ hớng về Tổ quốc thân yêu gắn bó thuỷ chung với nhân dân Lào” [10,35-37]
Tuy nhiên đây chỉ là con số mà các Hội Việt kiều thống kê đợc trên cơ sở
mà những ngời mà Hội có thể quản lý và biết Hầu hết đó là những ngời đã nhậpquốc tịch Lào, Việt kiều hoặc những ngời nhập c hợp pháp Số lợng này cha baogồm những ngời nhập c làm ăn theo mùa vụ và di dân tự do Số lợng ngời Việtnày chiếm tỉ lệ không nhỏ có thể lên đến từ 20.000 - 30.000 ngời đặc biệt ởnhững thành phố đông ngời Việt sinh sống, làm ăn và đi lại dễ dàng nh ViêngChăn, Xiêng Khoảng, Thà Khẹc, Xavannakhẹt hay Pắc Sế
Nhìn chung, có nhiều nguyên nhân khiến ngời Việt Nam di c đến Lào nhng
có hai nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất là vì chiến tranh và các yếu tố chính trị
-đó là các đợt di dân trong quá khứ ; thứ hai là vì lý do kinh tế - là các đợt di c gần
đây Số lợng ngời Việt kiều khoảng 50.000 ngời đợc phân bố thành ba bộ phận
nh sau:
+ Bộ phận Việt kiều (những ngời định c lâu dài ở Lào nhng cha có quốc tịchLào) Đây là những ngời đợc sinh ra hoặc đã làm ăn sinh sống lâu đời tại Lào,nhng họ là công dân Việt Nam, khi họ về Việt Nam hoặc tới một nớc nào khácthì họ mang hộ chiếu Việt Nam Chính phủ Lào coi họ nh là ngời nớc ngoài định
c tại Lào Do sống lâu đời tại Lào nên về cơ bản, nên họ đã hội nhập sâu sắc vào
đời sống của ngời Lào
Trang 33Theo số liệu của trung tâm thống kê Quốc gia Lào, năm 2005, tổng số Việtkiều là 8.795 ngời, chiếm khoảng 0,16% tổng số dân Lào.
Còn theo con số thống kê từ 11 Hội Việt kiều ở Lào, số Việt kiều ở Làokhoảng 15.210 ngời cộng với số Việt kiều ở 7 tỉnh cha có Hội Việt kiều thì Việtkiều ở Lào có khoảng 20.000 ngời Con số này phù hợp với số liệu thông báo của
Uỷ ban về ngời Việt Nam ở nớc ngoài, cũng là 20.000 ngời
+ Bộ phận Lào gốc Việt: Các tài liệu của Lào không nói đến bộ phận này vì
họ đã là ngời Lào và nằm trong trong tổng số dân số cả nớc Lào (hơn 6,5 triệungời) Số lợng ngời Việt nhập quốc tịch Lào có khoảng 20.000 ngời Đây là bộphận đã sinh sống lâu đời tại Lào và đã nhập quốc tịch Lào Điều 14, mục 2
trong luật quốc tịch Lào quy định ngời xin nhập quốc tịch Lào phải biết nói, đọc
và viết thành thạo ngôn ngữ Lào, có bằng chứng chứng minh đợc rằng mình đã hoà nhập vào cộng đồng xã hội và phong tục tập quán Lào; tôn trọng phong tục tập quán và truyền thống của dân tộc Lào Nh vậy là trên nguyên tắc, bộ phận
này đã hoà nhập đầy đủ (bao gồm cả hoà nhập về mặt xã hội và văn hoá) và trởthành một bộ phận của cộng đồng ngời Lào Đơng nhiên trong đời sống thực tếmọi thứ không hề đơn giản nh vậy Điều đó chúng ta sẽ trình bày ở những phầnsau
+ Bộ phận thứ ba: chủ yếu là những ngời mới đến Lào trong những năm gần
đây dới nhiều dạng khác nhau, đây là bộ phận hết sức phức tạp về loại hình Bộphận này cha c trú ổn định tại Lào Nhóm này có khoảng 10.000 ngời
* Tiểu kết: Với vị trí địa lý Việt - Lào núi liền núi, sông liền sông và mốiquan hệ lịch sử từ lâu đời nên cộng đồng ngời Việt đã di c sang Lào từ rất sớm.Trải qua độ dài lịch sử gần hai ngàn năm, cho đến nay cộng đồng ngời Việt ởLào là cộng đồng ngời nớc ngoài đông đảo nhất ở Lào Các đợt di c của ngờiViệt sang Lào chủ yếu diễn ra từ thời Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc cho đếnhiện nay, những thế hệ di c đầu tiên đã trải qua bốn đến năm thế hệ cùng vớinhững đợt di c sau 1975 đã tạo thành một cộng đồng ngời Việt có số lợng khôngnhỏ ở Lào
Đến thời điểm hiện nay có thể ớc tính ngời Việt ở Lào có thể lên đến con số
từ 40.000 đến 50.000 ngời Với dân số hiện nay của Lào khoảng hơn 6,5 triệungời thì cứ một triệu ngời có tới hơn 5.000 Việt sinh sống Đây là một tỉ lệ khôngnhỏ giữa ngời di c và ngời bản địa Điều này có thể tạo ra những tác động nhất
định đối với đời sống của nớc sở tại và của chính cộng đồng ngời di c Việt Nam
Do đó, với một cộng đồng ngời Việt khá lớn ở Lào trong quá trình di dâncủa mình họ đã có những tác động không nhỏ đến hầu hết các khía cạnh của đời
Trang 34sống xã hội, kinh tế, văn hoá và chính trị của đất nớc Lào Đặc biệt đây là cầunối cho tình hữu nghị của hai nớc và hai chính phủ Việt Nam và Lào trong quákhứ, hiện tại và tơng lai
Trang 35Chơng 2 ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI VIỆT Ở LÀO
Phải rời bỏ quê hơng đất nớc, nơi chôn rau cắt rốn của mình di c sang mộtvùng đất mới để sinh sống là một việc làm không hề đơn giản Sự ra đi của một
bộ phận c dân này, có thể vì miếng cơm manh áo, vì một tham vọng ở miền đấtmới, hay cao hơn vì lý do chính trị nào đó Cuộc sống nơi đất khách quê ngờibuổi đầu vô cùng khó khăn thiếu thốn là điều không thể tránh khỏi Sự bất đồng
về ngôn ngữ, lối sống, về phong tục tập quán, thậm chí sự kỳ thị dân tộc màu
da… của vua quan Reynaud, một đại điền chủ đang diễn ra hàng ngày đòi hỏi họ phải đối mặt Phải nhanh chóng thíchnghi với điều kiện của nớc sở tại để hoà hợp, trở thành một nhu cầu khẩn thiết
Đối với bộ phận ngời Việt di c sang đất nớc Lào qua các thời kỳ có thuận lợi hơnnhững đất nớc khác Từ lối sống, phong tục tập quán, khí hậu, thổ nhỡng gần t-
ơng đồng nh chính ở quê hơng Việt Nam vậy Chính vì không có sự khác xanhau về điều kiện kinh tế, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán của nớc Lào
đã giúp bà con duy trì đợc những ngành nghề mà họ đã làm ở trong nớc Điều đó
đợc thể hiện qua đời sống kinh tế và đời sống văn hoá của cộng đồng ngời Việt ởLào
2.1 Đời sống kinh tế
Thông thờng các nhóm di dân của bất cứ cộng đồng hay tộc ngời nào, khi
đến nơi c trú mới, một mặt các cộng đồng di dân ấy cố gắng để giữ gìn bản sắcvăn hoá vốn có của mình (trong dân tộc học gọi đó là nguồn gốc tộc ngời) Mặtkhác họ phải có những giai đoạn và quá trình chuyển đổi để thích nghi với môitrờng sống mới Và ngời Việt đến Lào cũng vậy Trong điều kiện và hoàn cảnhmới, họ phải có những thay đổi phù hợp với môi trờng tự nhiên cũng nh xã hộinơi họ đến định c
Mặc dù cả Việt Nam và Lào đều nằm trong khu vực Đông Nam á lục địa,cùng chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hai nớc cùng chung một đờngbiên giới nhng do dãy Trờng Sơn ngăn cách nên trên môi trờng phía Lào (TâyTrờng Sơn) và phía Việt Nam (Đông Trờng Sơn) có những điểm khác biệt Sựkhác biệt có thể kể đến là mật độ dân số và đặc điểm địa hình
Về dân số, Việt Nam đất hẹp ngời đông, mật độ dân số cao trong khi đóLào là một quốc gia có diện tích tự nhiên tơng đối rộng, nhng cho tới gần đây,mật độ dân số tại nớc Lào vẫn thấp Theo số liệu của Cục dân số Mĩ vào năm
Trang 362006, mật độ dân c của Việt Nam gấp gần 20 lần của Lào Điều này sẽ tạo thànhmột lực đẩy tự nhiên hớng dòng ngời di dân từ chỗ dân c đông dúc di chuyển đếnnhững nơi tha thớt hơn.
Thứ hai, sự khác biệt về địa hình cũng khiến ngời Việt phải chuyển đổi đểthích nghi trong môi trờng sống mới Địa hình của Việt Nam có nhiều đồng bằngrộng lớn thuận lợi cho việc làm lúa nớc trong khi đó đồng bằng của Lào có diệntích không lớn nên vốn những c dân trồng lúa nớc (chiếm tỉ lệ chủ yếu) khi di ctới đây đã không còn cơ hội cho ngời Việt phát triển nghề truyền thống của họnữa
Ngoài ra, ngời Việt Nam (bộ phận cha nhập quốc tịch Lào) bị coi là ngời
n-ớc ngoài mà pháp luật của Lào thì không cho phép ngời nn-ớc ngoài đợc sở hữuruộng đất Do vậy ngời Việt muốn làm nông nghiệp lúa nớc - một trong nhữngthế mạnh của họ, chỉ còn cách thuê lại của ngời Lào
Những ngời Việt đầu tiên đến Lào, phần lớn làm nghề nông, thợ thủ công(thợ nề, thợ mộc, thợ may ), phu đồn điền, một số ít là công chức của Pháp.Những năm sau này, bổ sung thêm một số cán bộ công nhân đợc cử sang Làothực hiện xây dựng các cơ sở hạ tầng và các dự án phát triển kinh tế với Lào Tấtcả những điêù trên khiến bức tranh nghề nghiệp của ngời Việt ở Lào khá đa dạng
và phong phú
Cộng đồng ngời Việt di c sang Lào, một số ngời, vẫn duy trì đợc nghềnghiệp và phơng thức kiếm sống truyền thống của cha ông họ từ xa xa đó lànông nghiệp lúa nớc Điển hình cho cộng đồng làm nông nghiệp của ngời Việt ởLào là làng Xiềng Vang, tỉnh Khăm Muộn Có thể nói đây là làng Việt gần nhduy nhất còn lại ở Lào bảo tồn và duy trì đợc nếp sống, nghề nghiệp, văn hoá của ngời Việt ở Lào ở làng này đa phần ngời dân làm nông nghiệp Thật ngạcnhiên khi tại Xiềng Vang ta bắt gặp một cánh đồng lúa xanh mớt, con đờng lànguốn lợn, ngôi đình với mái ngói đỏ tơi - một cảnh quen thuộc của mọi làng quêViệt Nam
Ngoài nghề làm ruộng ra, Cộng đồng ngời Việt ở đây còn làm nhiều nghềphụ khác nh nghề nấu rợu, sau giải phóng có thêm nghề làm sợi phở và bánh gai
Đặc biệt bánh gai Xiềng Vang nổi tiếng khắp nơi trên đất nớc Lào và sang tậnMĩ
Do ruộng đất phải đi thuê mớn của ngời Lào nên nhiều ngời đã dần dầnchuyển sang làm các nghề khác nh buôn bán ở trên thành phố hoặc các tỉnh xanếu có làm thêm nghề nông cũng làm thêm nghề phụ - mặc dù gọi là nghề phụnhng đối với các hộ thì đây là nguồn thu nhập chính
Trang 37Mặc dù xuất thân chủ yếu là nông dân ở các tỉnh miền Trung Việt Nam,
nh-ng đến Lào, tỉ lệ bà con làm nônh-ng nh-nghiệp rất ít Tronh-ng cơ cấu các nh-ngành nh-nghề củacộng đồng ngời Việt ở Lào thì chỉ có khoảng 6% c dân làm nông nghiệp Trongnông nghiệp ngoài trồng lúa là chủ yếu họ còn trồng các loại cây công nghiệpkhác nh chè, cà phê, cao su, hoa quả
Xuất thân phần lớn từ các làng mạc thôn quê mà nghề chính là làm nôngnghiệp cùng với một số là công chức, công nhân và cu li, đến Lào ngời Việtsống đông đảo và tập trung ở các thành thị, thị trấn, thị tứ Di c đến Lào trong
điều kiện hoàn cảnh mới, không có vốn, lại cha quen với nghề, đồng thời trong
điều kiện nền kinh tế Lào cha phát triển nên buôn bán của ngời Việt ở Lào tậptrung chủ yếu vào buôn bán nhỏ và dịch vụ Đây là những ngành nghề phù hợpvới ngời Việt vì không cần đầu t vốn lớn Ngoài ra, ngời Việt lại chịu khó, chămchỉ, nhanh nhẹn, dễ nắm bắt nhu cầu mới Trong khi đa số bản thân ngời Lào đa
số thích làm công chức, đi lính hay làm nông dân - những lợi thế của họ, chứ ítngời thích buôn bán thì ngời Việt với lợi thế có sẵn trong tâm tởng “phi thơngbất phú” Mặt khác, bản chất ngời Lào hiền lành, chất phác, không thích ganh
đua, đố kị nên sẵn sàng chấp nhận cho Việt kiều làm ăn một cách dễ dàng thuậnlợi Vì vậy, phần lớn ngời Việt ở Lào chủ yếu làm nghề buôn nhỏ
Bên cạnh buôn bán là dịch vụ, trong đó hàng ăn uống chiếm tỉ lệ khá cao.Tuy nhiên số cửa hàng cao cấp không nhiều, phần lớn là cửa hàng “cơm bụi” hoặcnhà hàng bình dân Một ngành dịch vụ rất phát đạt là khách sạn trong đó có một
số khách sạn tiêu biểu ở Viêng Chăn nh Chaluaykhamkhon, ChuongVânnvong,Xay somboun
Tiếp đến là các nghề sửa chữa ô tô, thợ điện, thợ hàn, thợ tiện ,thợ xây, thợmộc và thợ may cùng với nghề lái xe và một số nghề dịch vụ khác cũng lànhững nghề kiếm sống của Việt kiều, nhng chiếm tỉ lệ không đáng kể
ở Lào tuy cha xuất hiện những nhà máy lớn của Việt kiều nhng cũng đã cónhững cơ sở sản xuất đáng kể nh: sản xuất tôn, sắt, luyện thép (cơ sở nhỏ), giấy,ống nớc PVC Bên cạnh đó là một số cở sở sản xuất hàng công nghiệp nh lắpráp quạt điện, bếp điện, xe đạp Ngoài ra ngành xây dựng cũng đợc Việt kiềuquan tâm
Nhìn chung, trong quá trình sinh sống và làm ăn trên đất Lào một số bà conngời Việt đã thành đạt và trở nên giàu có Tuy nhiên, sau năm 1975 một số docha hiểu rõ chính sách của nhà nớc Lào đối với Việt kiều nên số đông ngời Việtgiàu có và trung lu ở Lào đã chạy định c sang nớc thứ ba Số còn lại hiện nay cóthể phân thành ba loại: 1.Những ngời giàu có thành đạt, khá giả chiếm khoảng từ
Trang 385% đến 10 %,trong số đó số ngời giàu có chiếm tỉ lệ không đáng kể ; 2.Nhữngngời có thu nhập trung bình chiếm tỉ lệ khoảng 30%; 3.Những ngời có thu nhậpthấp chiếm khoảng 60%.
Trên đây là con số thống kê chủ yếu để chỉ bộ phận Việt kiều (tức là nhữngngời Việt đã định c lâu dài ở Lào nhng cha có quốc tịch) và bộ phận ngời Làogốc Việt Còn một bộ phận đáng kể ngời Việt sang Lào trong những năm gần
đây để làm ăn cũng cần đề cập tới Đó là giới doanh nghiệp nhận làm các côngtrình xây dựng, buôn bán cá biển, gỗ, hàng gia dụng, kim hoàn và giới bìnhdân (chủ yếu là lao động phổ thông) qua Lào làm đủ thứ nghề, từ thợ hồ, thợ nề
đến làm móng tay, thợ uốn tóc Trong số này có những ngời chỉ mới vài nămqua Lào để buôn thúng bán mẹt nhng nhờ siêng năng, biết làm ăn nên đã cótrong tay cả tỷ tiền kíp, tính ra cũng đến vài tỷ đồng Việt Nam Có ngời là
“trùm” buôn cá biển, có ngời là đại lý lớn các hàng nhựa gia dụng, có ngờichuyên buôn đi bán lại các máy móc xây dựng, nông ng cơ Ông Lê Viết Hng -ngời Đà Nẵng từ hai bàn tay trắng qua xứ Lào để thử vận may với nghề kimhoàn, nhờ giỏi nghề và chịu thơng chịu khó, chỉ trong mấy năm, nay ông Hng đãtrở thành “đại gia” đợc nhiều ngời biết tên Ông là một đầu mối cung cấp cácloại vàng, nữ trang cho hầu hếtcác tiệm vàng lớn mà ngời Việt làm chủ ở ViêngChăn Ông Hng cũng cho biết thêm “ Cha bao giờ dòng ngời Việt qua xứ sởTriệu Voi đông nh hiện nay Hầu nh chuyến xe khách nào từ Đà Nẵng đi ViêngChăn cũng quá tải Bình quân một chuyến xe khách đi cả chuyến đờng dài cảngàn cây số nhng chỉ mất cha đầy ngày rỡi, giá vé lại khá mềm, chỉ trên dới200.000 đồng/hành khách nên phù hợp với nhiều ngời, nhất là doanh nhân bìnhdân Nhiều ngời dân cùng làng ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam cùng qua Làolàm ăn nên vào những dịp sau tết âm lịch, có những làng thuê “trọn gói” cả mấychuyến xe khách về tận làng quê để rớc cả “làng” sang Lào làm ăn vui ra phết!”[60]
Theo đánh giá của Đại sứ quán Việt Nam tại Lào, nhìn chung cuộc sống củangời Việt ở Lào khá ổn định và có mức sống cao hơn so với ngời dân địa phơng.Khoảng 50-60% ngời Việt ở Pắc Sế, Viêng Chăn, Atap đợc đánh giá là khá vàgiàu với mức thu nhập tối thiểu mỗi tháng trên 20 triệu đồng tiền Việt
Tuy nhiên, không phải lúc nào công việc kinh doanh của bà con cũng thuậnbuồm xuôi gió Trong quá trình làm ăn ở Lào họ luôn bị ngời Hoa chèn ép Do
đặc trng tính cách của ngời Hoa có nhiều u điểm hơn hẳn ngời Việt nh khả năngkinh doanh, tính cố kết cộng đồng, luôn trọng chữ tín trong kinh doanh… của vua quan Reynaud, một đại điền chủ nênngời Hoa luôn nắm phần thắng trong tay, chèn ép ngời Việt Trong khi ngời Hoa
Trang 39có hai quốc tịch thì ngời Việt chỉ có một quốc tịch; những ngời Việt không cóquốc tịch Lào lại không đợc cấp môn bài kinh doanh buôn bán, họ phải dựa vàomôn bài của ngời Lào Đối với những ngời Việt mới nhập c vào Lào; trong khichỉ đợc cấp giấy lu trú một tháng thì ngời Hoa lại đợc kéo dài một năm và đợc tự
do đi lại bất cứ đâu trên lãnh thổ Lào Ngời Việt muốn kéo dài hơn hạn c trú đếntháng thứ hai phải nộp 25 USD, tháng thứ ba là 75 USD và chỉ xin từng quíkhông đợc dài hạn Điều này ảnh hởng nhiều đến công ăn của ngời Việt trên đấtLào
Tóm lại, quá trình chuyển đổi về kinh tế của cộng đồng ngời Việt ở Lào làquá trình thăng trầm của một cộng đồng di c từng bớc khẳng định mình trên mộtvùng đất mới Cộng đồng ngời Việt sinh cơ lập nghiệp ở trên đất Lào, nhờ vàobàn tay khéo léo, thông minh cộng với đức tính cần cù chịu khó chịu khổ sẵn cócủa truyền thống Việt Nam, họ đã kiên trì gây dựng một cơ ngơi cho bản thânmình
Cho đến nay, bà con Việt kiều và thế hệ con cháu của họ về cơ bản đã cómột cuộc sống ổn định Nhiều Việt kiều đã trở thành những nhà doanh nghiệp,chủ khách sạn lớn hoặc chủ công ty (doanh số lên tới hàng triệu đô la) nh doanhnghiệp xuất nhập khẩu cà phê Dao - Hewang của bà Lê Thị Lơng ở Pắc Sế; công
ty trách nhiệm hữu hạn nông nghiệp Thoong Philavông của ông Diễn với trị giátài sản lên tới 35 triệu USD; công ty trách nhiệm hữu hạn CharoenXay của nhàdoanh nghiệp Trần Hanh ở Xiêng Khoảng Có nhiều triệu phú nh bà Đặng Thị
Lý ở Pắc Sế, nhà thầu khoán Võ Đại Lực ở Attap; nhà doanh nghiệp lắp quạt
điện Jiplai ở Viêng Chăn
Với những chủ trơng và chính sách tích cực của chính phủ Lào cũng nh sựquan tâm của Đảng và nhà nớc ta đối với cộng đồng Việt kiều ở Lào, cuộc sốngvật chất cũng nh tinh thần của cộng đồng đang thực sự thay đổi Với sự năng
động, cần cù và làm ăn lơng thiện, cộng đồng Việt kiều ở Lào không chỉ nhanhchóng ổn định cuộc sống mà chính họ còn là lực lợng góp phần làm thay đổidiện mạo bức tranh kinh tế Lào Chính cộng đồng ngời Việt đã góp công sức tạolập nên khu vực đô thị ở Lào Vì thế mà nh chúng ta đã thấy, cho tới nay phầnlớn địa bàn c trú của ngời Việt ở Lào là đô thị chứ không phải ở vùng nông thôn.Cả một đất nớc Lào nghèo khó trớc đây giờ đang đợc ngời Việt “thức tỉnh” vàtừng ngày từng giờ với những nhà máy, những nhà hàng, khách sạn, những trungtâm buôn bán mọc lên ngày càng nhiều Tất cả sự đổi mới ấy là do bàn tay vàcông sức của cộng đồng ngời Việt cùng với nhân dân bạn đã góp phần thay đổibức tranh kinh tế tổng thể của nớc Lào Những công việc mà cộng đồng đang
Trang 40làm hôm nay cũng chính là những đóng góp của họ đối với đất nớc Lào - quê
h-ơng thứ hai của họ
2.2 Đời sống văn hoá
Bởi khái niệm văn hoá là một khái niệm vô cùng rộng lớn nên các nhà dân
tộc học ( cũng nh các nhà Nhân học văn hoá) thờng tập trung quan tâm tới văn
hoá “nh là một chất liệu để gắn kết tộc ngời” (Wolf Eric, 1994) Tuy văn hoá vốnmang nhiều định nghĩa và có nội hàm rộng lớn nh vậy nhng chung quy lạichúng ta có thể hiểu văn hoá đó là cách sống của của một cộng đồng Cách sốnggồm rất nhiều mặt, nhng tất cả đều đợc liên kết lại với nhau trong một nếp - nếpsống ở đây khi tìm hiểu về đời sống văn hoá của cộng đồng ngời Việt ở Làochúng ta có thể tìm hiểu trên các lĩnh vực sau: Đời sống vật chất (bao gồm ăn, ở,mặc, các phơng tiện vật chất khác và sinh kế trong môi trờng đó) ; Đời sống tinhthần (bao gồm các phong tục tập quán, bảo tồn ngôn ngữ, đời sống tín ngỡng ).Sống ở nơi đất khách quê ngời, Việt kiều phải thích nghi và hoà nhập với
đời sống văn hoá của ngời Lào Thế nhng kiều bào vẫn gìn giữ và tiếp nối nhữngtruyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
2.2.1 Đời sống văn hoá vật chất
Về nhà ở: Đa phần ngời Việt là nông dân trồng lúa nớc, sống ở nông thôn
trong các làng xã có cơ cấu xã hội rất chặt chẽ của Việt Nam Khi đến Lào đaphần họ lại tập trung sinh sống tại các thị trấn, thị xã hoặc là các thành phố lớn
Do đó, nhà cửa của họ cũng đổi thay và đợc bố trí theo lối phố phờng Sự bố trítrên từng trên mặt bằng của từng gia đình cũng có phần thay đổi theo chiều hớnghiện đại, xa rời với tập quán xa kia của cố hơng Sinh hoạt của các cộng đồng ng-
ời Việt ở Lào nhìn chung không tuân theo tập quán xa kia nữa mà qui định chỗngủ của ngời cao tuổi, bố mẹ làm sao cho tiện lợi trong sinh hoạt hàng ngày, còncác thành viên khác (con cái con dâu, con rể) cũng có nơi sinh hoạt riêng
Bàn thờ tổ tiên của các hộ gia đình vẫn đợc đặt ở nơi cao ráo, linh thiêng.Bên cạnh đó bàn thờ Bác Hồ cũng đợc đặt ở nơi trang trọng nhất Ngày tết nhữngngời Việt ở Lào cũng không quên thắp hơng cho gia tiên Một điều lý thú ở đây
là trong nhà của một số gia đình cộng đồng ngời Việt, ngoài thờ cúng tổ tiên ra,còn thờ Phật (Quan âm, Bồ tát, Thích ca) thậm chí thờ cúng cả Nang Quoắc(thần phù hộ trong việc làm ăn buôn bán - theo ý niệm của ngời Lào)
Về trang phục: Sống ở Lào đã lâu, có ngời đã nhập quốc tịch Lào nhng hễ
đã mang trong mình dòng máu Việt thì họ luôn nhớ đến nguồn gốc dân tộcmình Điều đó dễ nhận thấy qua trang phục mặc trong ngày lễ, tết Tà áo dài