sức mạnh thu hút một số nớc phơng Đông nh Nhật Bản tiến đến để học tập.Việc phát minh ra các nguồn năng lợng mới nh điện đã làm xuất hiện một sốngành công nghiệp mới, tiến bộ hơn nhiều:
Trang 1trờng đại học vinh
khoa lịch sử ====o0o====
Khóa luận tốt nghiệp
Tên đề tài:
Công cuộc duy tân minh trị ở Nhật Bản và
ảnh hởng của nó đối với Trung Quốc cuối
thế kỷ XIX
Giáo viên hớng dẫn: Th.S Bùi Văn Hào
Sinh viên thực hiện: Hồ Thị An Giang
Trang 2Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sử - Trờng Đại họcVinh, Trung tâm t liệu Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôithực hiện khóa luận này Cùng cảm ơn tất cả bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ tôitrong thời gian vừa qua.
Trang 31.2 Tình hình Nhật Bản trớc cuộc Duy tân Minh Trị.
Chơng 3 ảnh hởng của Duy tân Minh Trị đối với Trung
61
Trang 43.1 Những vấn đề cấp thiết đặt ra ở Trung Quốc ở cuối thế kỷ XIX 61
Trang 5Đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết các nớc phơng Đông đã bớc vào giai đoạnsuy tàn và khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Đây cũng chính làthời điểm triều đình phong kiến các nớc này phải chịu nhiều áp lực từ cả bêntrong, lẫn bên ngoài.
áp lực bên trong là sự trợt dốc không thể cỡng lại của quan hệ sản xuấtphong kiến Và vì vậy, nó đã làm cho mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngàycàng trở nên sâu sắc, từ đó dẫn tới các cuộc khởi nghĩa của nông dân Khởinghĩa nông dân tuy không đa đến sự lật đổ các vơng triều phong kiến, nhng nó
đã thực sự làm lung lay tận gốc các vơng triều này
áp lực bên ngoài là sự can thiệp ngày càng trắng trợn đòi mở cửa củabọn thực dân phơng Tây
Cuối thế kỷ XIX, cũng là giai đoạn chủ nghĩa t bản (CNTB) từ giai đoạn
tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền Nhà nớc (chủ nghĩa đếquốc), cho nên vấn đề thị trờng để tiêu thụ hàng hoá và cung cấp nguyên liệutrở thành vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết Chính vì vậy các nớc phơng Tây đã
đua nhau tìm các mở của các nớc phơng Đông bằng nhiều hình thức khácnhau, trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam …
Đứng trớc áp lực của phơng Tây, các quốc gia đã đa ra những đối sáchkhác nhau để bảo vệ nền độc lập dân tộc của mình Một số nớc tiếp tục thựcthi chính sách “Bế quan, tỏa cảng”, trong khi đó, nhiều nớc đã chọn giải pháp
“canh tân đất nớc” để làm cho “phú quốc phờng binh”, đủ sức bảo vệ nền độclập dân tộc
Đi theo con đờng canh tân đất nớc ở châu á có các quốc gia tiêu biểu:Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan…
Nếu nh ở Nhật Bản, với cải cách Minh Trị (1868), nớc Nhật đã nhanhchóng bớc vào quỹ đạo của CNTB thì ở Trung Quốc, Duy tân Mậu Tuất đã bịthất bại
Tại sao Minh Trị Duy tân đã giành đợc thắng lợi? Nó có ảnh hởng nhthế nào với Duy tân Mậu Tuất (một phong trào cải cách diễn ra 30 năm sau ởTrung Quốc)
Lý giải những vấn đề trên, thiết nghĩ thực sự có ý nghĩa, nhất là đối vớinhững ai đang quan tâm, học tập và nghiên cứu lịch sử Nhật Bản, lịch sử TrungQuốc
Trang 6Minh Trị Duy tân cũng nh Duy tân Mậu Tuất đã diễn ra cách đây hơn
100 năm, nhng những thành công và những thất bại của nó là những bài họcvẫn còn nguyên giá trị, nhất là đối với chúng ta trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử vấn đề.
Về công cuộc Duy tân Minh Trị (Nhật Bản) cũng nh Duy tân Mậu Tuất(Trung Quốc) cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc đềcập đến Vì khả năng ngoại ngữ có hạn, chúng tôi cha thể tiếp cận hết đợc cáccông trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài Thông qua một sốcông trình nghiên cứu của ngời Việt Nam và các công trình nghiên cứu đã đợcdịch thuật, chúng tôi cố gắng giải quyết những vấn đề đề tài đặt ra
Liên quan đến Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản, có các công trình nghiêncứu tiêu biểu nh:
- “Nhật Bản Duy tân dới thời Minh Trị Thiên hoàng”, (Nguyễn KhắcNgữ, NXB Trình Bày – Lịch sử Sài Gòn, 1969)
- “Nhật Bản cận đại”, (Vĩnh Sinh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1991)
- “Lịch sử Nhật Bản”, (Phan Ngọc Liên, NXB văn hoá thông tin)
- “Nhật Bản quá khứ và hiện tại”, (Erwen O.Reis – Lịch sử Chauer, NXBKHXH, 1994)
- “Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân”, (Nguyễn Văn Hồng, NXBGiáo dục, 1994)
Liên quan đến Duy tân Mậu Tuất (1898) ở Trung Quốc, có các côngtrình nghiên cứu tiểu biểu nh:
- “Lịch sử cận đại”, (Nguyễn Huy Quý, NXB Giáo dục, 2004)
- “Lịch sử Trung Quốc ”, (Nguyễn Anh Thái, NXB Giáo dục, 1981)
- “Lịch sử Trung Quốc ”, (Nguyễn Gia Phu, NXB Giáo dục, 1978 ).Trong đó nói về ảnh hởng của Duy tân Minh Trị đối với Trung Quốc cóbài viết của tác giả Nguyễn Văn Hồng: “Một trăm năm phát triển Duy tân MậuTuất (1898 - 1998) của Trung Quốc ”, (Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 6, 1998)
Và nhiều bài viết của các tác giả nh: Nguyễn Tiến Lực, Nguyễn VănKim, Lê Tiến Giáp…đăng trên các Tạp chí nghiên cứu lịch sử, nghiên cứuNhật Bản, nghiên cứu Trung Quốc…
Trên cơ sở t liệu nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Công cuộc Duy tânMinh Trị ở Nhật Bản và ảnh hởng của nó đối với Trung Quốc cuối thế kỷXIX” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
3 Giới hạn của đề tài.
Trang 7- Về thời gian: Chủ yếu về cuối thế kỷ XIX.
- Về không gian: Liên quan đến hai quốc gia ở châu á là Nhật Bản vàTrung Quốc
Về nội dung : Tìm hiểu Minh Trị Duy tân(nguyên nhân, nội dung, kếtquả, ý nghĩa ) và ảnh hởng của nó đối với Trung Quốc cuối thế kỷ XIX
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Với đặc trng của khoá luận lịch sử, để giải quyết vấn đề đề tài đặt ra,chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phơng pháp: Phơng pháp lịch sử và phơng pháplogic
Ngoài ra, trong quá trình xử lý t liệu, chúng tôi còn sử dụng một số
ph-ơng pháp khác nh so sánh đối chiếu…
5 Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khoá luậngồm ba chơng:
Chơng 1: Bối cảnh quốc tế và Nhật Bản trớc khi công cuộc Duy tânMinh Trị (1868) ở Nhật Bản bùng nổ
Chơng 2: Công cuộc Duy tân Minh Trị (1868) ở Nhật Bản
Chơng 3: ảnh hởng của Duy tân Minh Trị đối với Trung Quốc vào thế
kỷ XIX
Trang 8Nội dung Chơng 1 Bối cảnh quốc tế và Nhật Bản trớc khi công cuộc
duy tân minh trị (1868) ở Nhật Bản bùng nổ
1.1 Bối cảnh quốc tế trớc cuộc Duy Tân.
1.1.1 Chủ nghĩa thực dân phát triển mạnh và tăng cờng xâm chiếm thuộc địa.
Đầu thế kỷ XIX hầu hết các nớc ở tây Âu và Bắc Mỹ đã chuyển từ chế
độ phong kiến sang chế độ t bản chủ nghĩa, một phơng thức sản xuất mới, tiến
bộ đã đợc thiết lập trên phạm vi toàn thế giới Việc thiết lập một phong tràosản xuất mới, một hệ thống chính trị này đợc tiến hành thông qua hàng loạtcác cuộc cách mạng t sản
Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng t sản, các nớc t bản phơng Tây đãphát triển nhanh chóng trên con đờng t bản chủ nghĩa, tạo ra một cơ sở vật chấtkhổng lồ cho xã hội loài ngời Nh Mác đã từng đánh giá: “giai cấp t sản, trongquá trình thống trị giai cấp cha đây một thế kỷ, đã tạo ra những lực lợng sảnxuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lợng sản xuất của tất cả các thế hệ trớc gộplại” Cùng với sự phát triển nh vũ bão về kinh tế thì t bản phơng Tây cũng ngàycàng mở rộng chính sách đối ngoại của mình theo hớng bành trớng, xâm lợcthị trờng, đặc biệt là thị trờng các nớc còn kém phát triển Đây là một hệ quảtất yếu của nên kinh tế t bản chủ nghĩa.Sự phát triển của chủ nghĩa t bản gắnliền với quá trình thực dân hóa các châu lục chậm phát triển , nhu cầu vềnguyên - nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất công nghiệp của các nớc tbản ngày càng trở nên gắn liền, trong nớc không thể đáp ứng đủ, hơn nữa cácnớc này cũng cần thị trờng tiêu thụ hàng hóa và sản phẩm của mình Từ đó tbản phơng Tây có xu hớng mở rộng bành trớng ra bên ngoài Đối tợng xâm lợcchủ yếu của các nớc này là những nớc có nền kinh tế lạc hậu, chế độ phongkiến còn tồn tại, nh các nớc châu á
ở Pháp, sau khi lên nắm chính quyền, Napôlêông III tuyên bố “Đế chếhòa bình” Nhng thực ra là thi hành chính sách bành trớng, xâm lợc hòng đemlại của cải, nguyên liệu cho bọn đại t sản ngân hàng và công nghiệp, đem lạidanh vọng và tiềm tài cho bọn quân phiệt Đồng thời cũng nhờ những chiến
Trang 9công bên ngoài để cũng cố địa vị thống trị trong nớc Napôlêông đã tiến hành
mở rộng chiến tranh ở Angiêri (từ 1830), kết hợp với Anh, Mỹ … nhiều lần tấncông vào Trung Quốc và một số nớc Châu á khác
ở Anh, giới cầm quyền Anh cũng thực thi 1 chính sách xâm lợc ráo riết
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế chủ nghĩa t bản đòi hỏi nguyên liệu vàthị trờng rất lớn Vấn đề thị trờng trở nên vô cùng cấp thiết Từ đó Anh cũngtiến hành chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840) và lần thứ hai (1856) ởTrung Quốc, xâm lợc Ba T, chiếm Niuzilân, Nam Phi, hoàn thành cuộc chiếntranh xâm chiếm ấn Độ…
ở Mỹ, một đế quốc trẻ cũng ra sức thực hiện chính sách “Châu Mỹ củangời Châu Mỹ”, tham gia trong cuộc chia phần trong cuộc chiến tranh thuốcphiện ở Trung Quốc Năm 1852, phái đô đốc Perry chỉ huy 4 chiến hạm đến
uy hiếp Nhật Bản, buộc Nhật Bản phải “mở cửa” Một nớc Mỹ đế quốc với đầytham vọng muốn chiếm đất đai ở nhiều nơi đang đe dọa đến chủ quyền các n-
ớc kém phát triển
Vào thế kỷ XIX, nền kinh tế của t bản phơng Tây phát triển mạnh Chỉtrong vòng 30 năm cuối thế kỷ XIX, sản lợng công nghiệp đã tăng lên nhanhchóng, riêng trong ngành công nghiệp luyện kim, với việc sử dụng là Betxme
và Mactanh đã đa sản lợng thép tăng từ 250 nghìn tấn (1870) lên 28,3 triệu tấn(1900) Từ đó thép đợc sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất Những tiến
bộ về khoa học kỹ thuật đã tạo nên một xã hội phơng Tây văn minh, lực lợngsản xuất hùng hậu Sự phát triển nh vũ bão về kinh tế của phơng Tây đợc thểhiện rất rõ ở các nớc Anh, Pháp, Mỹ … Đối với nớc Anh, Luôn Đôn trở thànhmột trung tâm thơng mại với 80 vạn dân, là tác phẩm đầu tiên của châu Âutiến lên con đờng công nghiệp hóa và trở thành thị trờng của thế giới NớcPháp đã đứng hàng thứ hai trong nền kinh tế thế giới Việc áp dụng máy móc,những phát minh tiến bộ về khoa học kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất đợc
sử dụng rộng rãi, nh máy hơi nớc: Năm 1820 có 65 cái, 1830 có 616 cái, đến
1840 tăng lên 4853 cái Những tiến bộ đó làm cho công nghiệp Pháp trở nênphát đạt hơn hết ở lục địa châu Âu Cuộc chiến tranh giành độc lập đợc tiếnhành ở Mỹ từ nửa cuối thế kỷ XVIII đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển kinh tế t bản Trong khoảng 1830 – Lịch sử 1837, lợng gang tăng từ 23 dặm đến
9000 dặm Thông qua một vài số liệu nêu trên, chúng ta có thể thấy đợc sựphát triển mau chóng của chủ nghĩa t bản về kinh tế Bên cạnh đó, sự tiến bộcủa khoa học kỹ thuật, đã làm cho xã hội phơng Tây tiến nhanh hơn, tạo nên
Trang 10sức mạnh thu hút một số nớc phơng Đông nh Nhật Bản tiến đến để học tập.Việc phát minh ra các nguồn năng lợng mới nh điện đã làm xuất hiện một sốngành công nghiệp mới, tiến bộ hơn nhiều: Điện hóa học, điện luyện kim, hàn
điện, xe điện… Động cơ nổ đợc sử dụng rộng rãi trong kinh tế, vận tải, quân
sự, cơ giới hóa nông nghiệp Đặc biệt, các phơng tiện nh điện báo, điện thoạingày càng hoàn thiện Một phát minh quan trọng ra đời, đó là sáng chế Radiô
và phát triển thành ngành liên lạc vô tuyến
Nhìn chung, vào thế kỷ XIX, phơng Tây đã phát triển rất mạnh mẽ, mộtxã hội văn minh, năng động đợc hình thàh rõ nét Một xã hội nh thế đã hoàntoàn hơn hẳn xã hội phong kiến lạc hậu với nền kinh tế tự cung tự cấp, nôngnghiệp là chính, hàng rào thuế quan nghiêm ngặt ngăn cản sự phát triển củakinh tế hàng hóa Thời cận đại các nớc phơng Đông nh Trung Quốc, Nhật Bản
t tởng Khổng – Lịch sử Nho vẫn còn rất nặng nề Trong khi các nớc t bản phơng Tâyngày càng tiến lên với những thành tựu về khoa học kỹ thuật, hiện đại, thì ởphơng Đông t tởng “Thiên mệnh” vẫn còn chi phối rất nhiều trong đời sốngcon ngời, nhất là ở Trung Quốc Họ cho rằng “ Thiên bất biến, đạo diệt bấtbiến” (Trời không đổi, đạo cũng không đổi) Dới ách áp bức, bóc lột củaphong kiến, ngời dân trong xã hội châu á không tránh đợc phá sản, bần cùng
và dễ dàng bị thực dân phơng Tây thôn tính Trớc làn sóng thôn tính của t bảnphơng Tây, các nớc yếu kém, lạc hậu đã dần dần bị xâm chiếm hầu hết, trong
đó có các nớc châu á Đến cuối thế kỷ XIX hầu nh trên hành tinh này khôngcòn “vùng đất trống”: ấn Độ rơi vào tay thực dân Anh, Đông Dơng rơi vào tayPháp, Inđônexia bị Hà Lan thống trị…Đặc biệt khi chủ nghĩa t bản chuyểnsang giai đoạn độc quyền thì chúng càng tăng cờng bóc lột thuộc địa và bànhtrớng thêm thị trờng ở nhiều nơi, đe dọa chủ quyền của nhiều nớc Tới gia đình
đế quốc chủ nghĩa, chiếm thuộc địa có nghĩa là độc chiếm nguồn cung cấpnguyên liệu và nhân công rẻ, độc chiếm trung tâm đầu t và tiêu thụ hàng hóa
Về mặt chiến l
… ợc quân sự, thuộc địa còn là nguồn cung cấp bia đỡ đạn trongcuộc chiến tranh giữa các nớc đế quốc và trong cuộc chiến tranh xâm chiếmthuộc địa, phân chia thị trờng thế giới Các nớc đế quốc “già” không chỉ muốnduy trì thuộc địa cũ mà còn muốn mở rộng thêm đất đai, các đế quốc trẻ cũngmuốn tạo cho mình một thế đứng vững chắc, không chỉ muốn chiếm các diệntích đất “còn trống” mà còn muốn giành giật thuộc địa của kẻ khác Đến 1900,diện tích đất đai thuộc Anh lên tới 33 triệu km2 với con số là 370 triệu ngời Lênin đã cho rằng: Chủ nghĩa đế quốc Anh là “Chủ nghĩa t bản thực dân” Hay n-
Trang 11ớc Pháp cũng vậy, trong những năm 60 của thế kỷ XIX thuộc địa của nớc Pháp
đã lên tới 0,2 dặm vuông với 1 triệu dân Và đến 1890 là 3,7 triệu dặm vuôngvới 56,1 triệu dân Về thuộc địa Pháp đã vơn lên hàng thứ hai sau Anh Đặcbiệt nớc Mỹ đã nhanh chóng trở thành một quốc gia công nghiệp hàng đầu thếgiới, đến 1894, sản xuất công nghiệp bằng một nửa sản lợng công nghiệp cácnớc tây Âu cộng lại và gấp hai lần nớc Anh Bớc vào thế kỷ XX, nền côngnghiệp Anh dần dần chiếm vị trí bá chủ thế giới Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ về kinh tế, Mỹ cũng đã thể hiện sức mạnh của mình bằng một chính sáchbành trớng xâm lợc ráo riết hơn trớc nữa Mỹ chiếm Cuba và Pucto Ricơ đểcũng cố vị trí của mình ở vùng biển Caribê, làm bàn đạp tấn công châu Mỹ.Thôn tính Philippin, Guian, Đông xamon, Haoai tạo căn cứ hải quân vững chắc
để tấn công châu á Đặc biệt Trung Quốc là một trong những “bàn tiệc” mà
Mỹ rất thèm muốn và đã tìm mọi cách để chen chân vào
Nhìn chung, vào cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa đế quốc đã phát triển mạnh
mẽ và thôn tính thuộc địa một cách ồ ạt Nớc nào không nhanh chóng tiếp thukhoa học kỹ thuật, năng động áp dụng những kiến thúc mới vào quá trình pháttriển kinh tế để tạo nên một lực lợng sản xuất hiện đại thì trở thành miếng mồingon cho t bản phơng Tây
1.1.2 Thị trờng châu á là miếng mồi ngon để thực dân phơng Tây xâu xé.
Châu á là một trong những lục địa rộng lớn, có nguồn của cải, tàinguyên phong phú nhân công rồi rào… Vì thế châu á trở thành đối tợng để ph-
ơng Tây nhòm ngó tìm cách xâm chiếm
Châu á có nguồn của cải tài nguyên vô tận, nguồn nhân lực vô cùnglớn: Gồm 2/3 dân số trên trái đất Thêm vào đó, châu á có vị trí chiến lợc rấtthuận lợi ở giữa ngã ba đờng của thế giới Về mặt tài nguyên và khoáng sảnchâu á cũng giàu có Ngay những ngày xa xa ấn Độ, Trung Quốc … Đã nổitiếng là nơi có nhiều nguồn hơng liệu và đã thôi thúc các thơng nhân phơngTây tìm đến vùng đất này để giao lu buôn bán Chỉ tính riêng trong khu vực
Đông Nam á cũng đủ nhìn thấy sự phong phú về khoáng sản ở châu á: Thiết
Đông Nam á ở chiếm 70% trữ lợng thế giới ( khoảng 3,6 triệu tấn) và có hàmlợng cao; tỷ lợng đồng ở các nớc khá cao nh Philippin, 6 triệu tấn; trữ lợng của
Đông Nam á cũng khá lớn, tạo thành một vành đai dọc bờ biển Sarawak,Subah (Makaysia), Brunây cho đến Việt Nam …
Trang 12Về kinh tế: châu á tuy là vùng có nhiều tài nguyên, nhng ngợc lại vào
thế kỷ XIX nền kinh tế còn rất lạc hậu so với các nớc phơng Tây Trong khicác nớc phơng Tây đã phát minh ra các loại máy móc mới, các nguồn năng l-ợng mới để phục vụ cho sản xuất nh máy hơi nớc, điện năng… a năng suất, đlao động tăng nhanh thì ở châu á nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng, lao
động chân tay là chủ yếu trong sản xuất Quan hệ sản xuất phong kiến chi phốitoàn bộ nền kinh tế châu á Các nớc ở Châu lục này nh Trung Quốc vào thời
kỳ này cũng cho rằng: “nông bản, thơng mạt” (nghề nông là gốc, nghề buônbán là nghề hèn kém) Ngay nh Nhật Bản trớc 1868 năm là một cộng đồngnông nghiệp lạc hậu do các Đaimio cát cứ, 65% thu nhập quốc gia dựa vàonông nghiệp Đời sống nhân dân đói khổ, bị đè nén đến cùng cực, đặc biệt lànông dân phải chịu đóng bao thứ thuế cho chính quyền phong kiến Trớc sựbóc lột của phong kiến, vào thế kỷ XIX, ở châu á nhiều phong trào nông dân
nổ ra, điển hình có phong trào dân thái bình Trung Quốc diễn ra vào năm 1851(Trung Quốc) Đồng thời, lúc này mầm móng của quan hệ sản xuất mới (quan
hệ sản xuất t bản chủ nghĩa) bắt đầu manh nha (sự xuất hiện của các nông ờng thủ công tập trung và phân tán, xuất hiện chế độ làm thuê, kinh tế hànghóa phát triển… ) Nhng đã bị sự bảo thủ, lạc hậu của chế độ phong kiến tìmcách ngăn chặn Bên cạnh đó, nận đói, mất mùa, thiên tai… ờng xuyên xảy th
tr-ra làm cho đời sống nhân dân các nớc châu á càng trở nên đâu đứng
Về chính trị: Nhìn chung các nớc châu á vào cuối thế kỷ XIX vẫn là
Nhà nớc theo chế độ quân chủ phong kiến nhng đã ở vào thời kỳ suy tàn yếukém trầm trọng Trung Quốc với triều Mãn Thanh phản động, vua quan bảothủ tram ô lan tràn trong cả nớc Hay ở Nhật với chính quyền Mạc phủ cũng
đang trong thời kỳ bế tắc, suy thoái Trong lúc các nớc phơng Tây đang có béchuyển mình sâu sắc về xã hội “thì nớc Nhật còn thối nát, không đủ sức chốngtrọi với thế lực phơng Tây Riêng Nhật Bản sau khi Thiên hoàng Minh Trị lênngôi đã kịp thời nắm bắt tình hình trong và ngoài nớc, tìm đúng lối ra cho dântộc Nhật
Về văn hóa giáo dục: Tình hình văn hóa giáo dục ở các quốc gia châu
á vào thế kỷ XIX cũng rơi vào suy thái; Nội dung giáo dục vẫn sùng cổ, xa rờithực tế và chuộng hình thức T tởng Tống Nho vẫn chi phối rất lớn trong đósinh hoạt xã hội, đặc biệt kinh tế ở Trung Quốc, Nhật Bản… tởng Tống Nho T
đã ăn sâu trong nếp nghĩ của giai cấp phong kiến và của nhiều ngời Điều này
đã đợc Khang Hữu Vi phản ánh nh sau: Họ “Ngồi nhìn tai họa, không mảy
Trang 13may động tâm, kêu cứu, thiếu ngay cả lòng nhân từ đa đến dũng khí Họ bụngtrạng trong bộ áo nho sĩ, cao giọng kinh học để mua danh tiếng” Thậm chí họcho phơng Tây là “man di”, nh ở Nhật vào cuối XIX dới thời Tôkagawa, vẫncòn xuất hiện quan điểm đánh đuổi bọn “man di” ra khỏi đất nớc, không giao
lu buôn bán Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của phơng Tây không đợc đavào giảng dạy bởi cách nhìn triển cận, bảo thủ của giai cấp phong kiến
Tóm lại, vào thế kỷ XIX, T bản phơng Tây đổ xô đi tìm kiếm thị trờng,những nớc nghèo, lạc hậu, có nhiều tài nguyên, nguồn nhân công lớn… sẽ là
đối tợng để chúng ta tấn công Với tất cả những yếu tố vừa nêu trên châu áthực sự trở thành miếng mồi ngon để T bản phơng Tây quyết tâm sâu xé.Chúng tiến hành “ gõ cửa” hầu hết các nớc châu Âu ở Trung Quốc năm 1889
Mỹ thực hiện chính sách “mở cửa”, tại Nhật Bản 1853, Mỹ đa đô đốc Perry với
4 chiến hạn đến cảng Uraga (trong vịnh Tokyô) yêu cầu Nhật Bản mở cửatrông trơng Sau khi chiếm song Anh, Đức vào thế kỷ XVIII Anh đã dùng nólàm bàn đạp để nhòm ngó các nớc châu á khác, Anh chiếm bán đảo Mã lai, rabiển Malaica… rồi tiến lên uy hiếp Trung Quốc… hầu nh không nớc nào ởchâu á thoát khỏi sự uy hiếp của t bản phơng Tây
1.1.3 Các cuộc cách mạng t sản và cách mạng công nghiệp ở Tây Âu, Bắc Mỹ đã tác động lớn đến tình hình Nhật Bản.
Đến giữa thế kỷ XIX hầu hết các nớc ở tây Âu, Bắc Mỹ đã hoàn thànhcác cuộc cách mạng t sản, hệ thống t bản chủ nghĩa đợc xác lập Sau khi hoànthành cuộc cách mạng t bản, những nớc này nhanh chóng tiến hành cách mạngcông nghiệp để từng bớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, tập trung pháttriển kinh tế kỹ thuật, đa đất nớc tiến lên mạnh mẽ
Bắt đầu bằng cuộc cách mạng t sản Nêdeclan (1566), sau đó là hàng loạtcuộc cách mạng t sản khác hoàn thành thắng lợi, một quá trình công nghiệphóa đợc thực hiện rầm rộ ở châu Âu, làm thay đổi cách thức sản xuất từ lao
động chân tay sang lao động bằng máy móc, nâng sản xuất lao động trong cácngành sản xuất lên cao hơn trớc nhiều Việc phát minh ra máy dệt đã đa tốc độsản xuất lên tới 39 lần sản xuất công nghiệp từng quy mô nhỏ chuyển sang quymô lớn Với sự ra đời của nhiều nhà máy và các trung tâm công nghiệp lớn nhPari, Luôn Đôn…
Chính những thành tựu đó đã tác động lớn đến các nớc chậm phát triển,dang bị chủ nghĩa t bản đe dọa về chủ quyền ở các nớc châu á còn đang trong
Trang 14tình trạng lạc hậu, một số trí thức yêu nớc thức thời nh Fukuzawa Yukichi ởNhật Bản, Khang Hữu Vi, Lơng Khải Siêu ở Trung Quốc… đã kịp thời nhậnthức rằng phải thực hiện một cuộc cách mạng t sản nh phơng Tây, phải học hỏiphơng Tây về nhiều mặt đặc biệt là khoa học kỹ thuật để phát triển kinh tế, đa
đất nớc nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu thì mới có cơ may ra khỏivòng vây của chủ nghĩa t bản Một trong những nớc đi đầu và làm tốt con đờngnày và trở thành tấm gơng cho các nớc châu á, đó là Nhật Bản
Bên cạnh sự tác động tích cực của các cuộc cách mạng t sản và cáchmạng công nghiệp thì các trào lu t tởng nh trào lu “triết học ánh sáng”, t tởng
tự do dân chủ, dân quyền… của phơng Tây cũng gây ảnh hởng không nhỏ đếncác nớc phơng Đông Thế kỷ XVIII, phái triết học khai sáng pháp đã tạo đợcmột hệ thống lí luận duy vật tơng đối vững mạnh để trực tiếp công các thế lựcthần quyền và vơng quyền Chính t tởng này là ngọn cờ đi đầu dẫn tới thắng lợicủa cuộc cách mạng T bản Pháp 1789 Các nhà t tởng “Triết học ánh sáng”Pháp thế kỷ XVIII với những gơng mặt tiêu biểu nh: Rutxô, Vônte ,Môngtexkiơ … Tuy có những quan điểm khác nhau, phản ánh quyền lợi củagia cấp khác nhau, nhng tất cả họ đều có những điểm tiến bộ là giơng caongọn cờ dân chủ, dân quyền, tấn công vào chế độ phong kiến, đòi hỏi thay thếmột chế độ xã hội mới Vì thế mà trào lu t tởng này đã vợt qua khỏi phạm vi n-
ớc pháp, ảnh hởng khắp châu Âu và các châu lục khác, đặc biệt là châu á.Tiếng sấm dữ dội ấy từ bầu trời Âu đã vang dội đến phơng Đông ùn lên, nhất
là đến Nhật Bản, Trung Quốc Các bậc trí thức của đất nớc phong kiến lâu đờinày đã tiếp nhận đợc luồng ánh sáng mới lạ đó và đã vận dụng trong tình hình
cụ thể của đất nớc mình Nếu nh t tởng này khi ảnh hởng đến Trung Quốc đãtạo nên một trào lu t sản cải lơng vào cuối thế kỷ XIX, thì ngợc lại, ở Nhật Bản
t tởng này đã đợc các trí thức Nhật Bản tiếp thu, phát huy tốt nhất và nhà khaisáng Fukuzavoa Yukichi là ngời có công lao lớn trong việc này Trong lúc t t-ởng phong kiến lạc hậu đang đè nặng ở các nớc phơng Đông, thì t tởng này nhmột luồng gió mang đầy sinh khí thổi làm bừng lên sức sống mãnh liệt củamột số quốc gia phơng Đông, đặc biệt là Nhật Bản
Trên đây là bối cảnh quốc tế đã tác động lớn đến Nhật Bản về mặt kinh
tế, chính trị, xã hội, t tởng … góp phần thúc đẩy công cuộc Duy Tân Minh Trịbùng nổ Trớc sự uy hiếp của phong trào, chủ quyền dân tộc bị đe doạ, cùngvới sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp ở tây Âu, NhậtBản đã kịp thời nhận thức đúng lối ra của dân tộc Ngời Nhật Bản với tinh thần
Trang 15sản sàng học hỏi, sự tức thời và năng động đã thực hiện một công cuộc cảicách toàn diện vào cuối thế kỷ XIX, đa đất nớc tiến lên mau chóng và trởthành một cờng quốc duy nhất ở châu á.
1.2 Tình hình Nhật Bản trớc cuộc Duy Tân Minh Trị.
1.2.1 Tình hình trị – Lịch sử xã hội.
Vào giữa thế kỷ XIX chế độ phong kiến Tôkugawa ở Nhật Bản đã rơivào tình trạng bế tắc, suy thoái, không đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của đấtnớc và không đủ sức chống lại sự xâm nhập của thực dân phơng Tây
Dới thời Tôkugawa đứng đầu quốc gia là Thiên hoàng, nhng thực tế chỉlàm vị , mọi việc cai trị đều nằm trong tay Mạc Phủ Chế độ thống trị của Tớngquân Tôkugawa là chế độ phong kiến độc tài quân sự cha truyền con nối haychế độ phong kiến tập quyền đợc kết cấu chặt chẽ Trong thời kỳ này toàn bộ
đất nớc đợc tổ chức thành những đơn vị khép kín với các đẳng cấp khác nhau
và có quyền lợi cũng rất khác nhau Nhật Bản dới chế độ Tớng quân đợc chialàm 300 phiên (Hàn), dân chúng đợc chia thành các đẳng cấp khắt khe chatruyền con nối, bao gồm các đẳng cấp: Samurai (võ sĩ), nông dân, thợ thủ công
và thơng nhân Trong đó Samurai là đẳng cấp đợc u đãi nhất, đợc hởng mọiquyền lợi giáo dục, quân sự, địa vị xã hội, danh dự và cả quyền lợi chính trị.Tầng lớp thơng nhân bị xếp vào hàng cuối cùng vì họ là những ngời phi sảnxuất Nông dân là tầng lớp bị bóc lột nặng nề nhất Bên cạnh đó, dới thờiTôkugawa xã hội Nhật Bản còn có một lực lợng ngời không nhỏ có hởng đặcquyền lớn là các Daimio, đây là những ngời thuộc tầng lớp quý tộc phong kiếnlớn, quản lý các vùng lãnh địa trong nớc
Trong thời kỳ Tôkugawa để thực hiện chính sách cai trị và cũng cốquyền lực năm 1615 Tôkugawa cho ban hành luật “Buke Sho hattô” (Bộ luật
Vũ Gia) để kiểm soát các Daimiô Đối với Thiên hoàng, chính quyềnTôkugawa một mặt nâng cao uy tín đối với Thiên hoàng, một mặt kiểm soát vàtách rời Thiên hoàng với các Daimiô nhằm phòng ngừa các Daimiô có thể nhờthế lực của Thiên hoàng chống lại Mạc Phủ Để tạo chỗ dựa vững chắc chomình, Tôkugawa chú trọng xây dựng quân đội chuyên nghiệp Trên nhất làloại Võ sĩ đặc biệt gọi là Hatamôtô, gồm sấp sĩ 5000 ngời, làm nhiệm vụ cấmbinh và chỉ huy quân đội, nó đợc đứng hàng thứ hai trong đẳng cấp phongkiến, sau Daimiô Dới Hatamôtô là tầng lớp võ sĩ nói chung, cả nớc có sấp sĩ
40 vạn ngời
Trang 16Đặc biệt, chính sách cai trị của Tôkugawa đối với nông dân hết sức nặngnề: Nhật Bản là những nớc bị áp bức, bóc lột khổ cực nhất Nhật Bản chiếm80% dân số, tuy đợc coi là tầng lớp trên của công thơn, nhng số phận thật khổcực Họ phải cung cấp thóc gạo và nông sản khác cho giai cấp võ sĩ Thuế mánặng nề, trung bình họ phải nộp từ 40% đến 50% lợng thu hoạch Tình cảnhkhốn đốn đó đợc thể hiện trong lời nói: “Nhân dân cũng giống nh hạt nè, càng
ép càng ra nớc” Chính sách cai trị này của Tôkugawa đã dẫn đến tình trạngnhân dân nỗi dậy khởi nghĩa ở nhiều nơi Năm 1637, có cuộc khởi nghĩa lớn ở
đảo KiuShu, thu hút 3 vạn ngời tham gia Mạc Phủ đã tìm cách đàn áp và điềunày càng làm cho mâu thuẩn xã hội tăng thêm, chính quyền Mạc Phủ ngàymột khủng hoảng trầm trọng
Về chính sách đối ngoại: Lúc đầu Mạc Phủ vẫn mở cửa buôn bán với
bên ngoài nhng về sau đặc biệt là từ 1639, Mạc Phủ đã chính thức thi hànhlệnh đóng cửa “Bế quan tỏa cảng”, cấm việc buôn bán với nớc ngoài, lái buôn
và giáo sĩ nớc ngoài, rời khỏi Nhật Bản (trừ lái buôn Trung Quốc và Hà Lan).Chính quyền Nhật Bản lúc đó thực thi chính sách là vì thông qua buôn bán, tbản phơng Tây càng thâm nhập sâu và Nhật Bản: Theo gót chân của lái buôn,một số giáo s phơng Tây đã đến Nhật Bản, dới lớp giáo s để truyền đạo nhngmục đích thăm dò và thực hiện âm mu xâm lợc của chủ nghĩa thực dân Trớcnguy cơ xâm chiếm của t bản phơng Tây, chính quyền Tôkugawa không cóbiện pháp nào hơn để chống trả mà đã thực thi một chính sách “đóng cửa”,chính sách này đợc duy trì hơn 200 năm làm cho các tầng lớp nhân dân thêmbất bình với Mạc Phủ
Đến cuối thời kỳ Tôkugawa, quy luật phát triển xã hội đã thay đổi, cùngvới sự phát triển của quan hệ hàng hóa, tiền tệ đã làm cho tình hình chính trị– Lịch sử xã hội Nhật Bản có nhiều chuyển biến, xuất hiện các giai cấp mới trong xãhội Đặc biệt, “Bớc vào năm 1853, ở Nhật Bản tình hình chính trị diễn ra phứctạp khi hạm đội Mỹ vào vịnh Tôkyô và yêu cầu chính phủ Nhật mở cửa”
Trớc hết là sự phân hóa đối với các Daimiô, vào cuối thời kỳ Tôkugawa,nền kinh tế sa sút, vì thế các Daimiô không đủ sức chu cấp cho nhu cầu cuộcsống của bản thân và gia đình cũng nh cho cả đội quân võ sĩ đạo, từ đó mâuthuẫn giữa các Daimiô càng lớn và bắt đầu phan hóa thành hai thế lực: Thế lựccác Han ở phía Bắc, đây là nơi kinh tế ít phát triển, các Daimiô có t tởng bảothủ, không chịu đổi mới canh tân đất nớc, chống lại t tởng học tập phơng Tây
để xây dựng phát triển đất nớc Còn thế lực các Han ở phía Tây Nam, do tiếp
Trang 17xúc tình trạng kinh tế phát triển (nh Satsuma, Tôsa, Hizen…) nên có t tởng họctập phơng Tây để phát triển đất nớc, chiến quốc xu hớng đổi mới, canh tânquốc gia
Tầng lớp Samurai cũng bị phân hoá sâu sắc đây là tầng lớp của nhữngngời có học vấn, có kiến thức trong xã hội, là bộ phận phục quân sự cho cácDaimiô Họ sống nhờ vào lơng bổng do các chúa phong kiến ban cấp Nhngsuốt 200 năm khó khăn có chiến tranh họ đã bị thất nghiệp trở thành gánhnặng cho các lãnh chúa phong kiến Đồng thời mức lơng không đủ phục vụcho nhu cầu cuộc sống của họ Vì thế, Samurai đã bị phân hóa: Một bộ phận
đã từ bỏ địa vị cao sang của mình để làm con nuôi cho các phái thơng; một bộphận đi vào con đờng kinh doanh; một bộ phận chuyển sang làm các nghề thủcông và còn một bộ phận bị thất nghiệp có khi tớc hiệu võ sĩ còn đợc mang ra
để định giá, những ngời giàu có đều có thể mua đợc tớc hiệu này Đại đa sốSamurai khi chuyển qua kinh doanh là lực lợng có học vấn nên đã nhạy bénnắm bắt đợc những thay đổi của thị trờng, cả thế giới bên ngoài, vì thế họnhanh chóng tiếp thu và thể hiện t tởng canh tân đất nớc Đây là lực lợng đóngvai trò chủ đạo trong công cuộc cải cách ở Nhật Bản năm 1868
Tầng lớp thơng nhân cũng đã bắt đầu có những thay đổi đáng kể Sựphát triển công thơng nghiệp đã làm cho tầng lớp thơng nhân trở nên giàu có,song thơng nhân không có địa vị trong xã hội Trong hệ thống sĩ – Lịch sử nông – Lịch sửcông – Lịch sử thơng họ là đẳng cấp cuối cùng Nhng vì có thế lực kinh tế nên thơngnhân trở thành các chủ nợ của Daimiô, nhờ có tiền, các phái thơng đã mua đợc
đất đai, có ngời còn mua đợc tớc vị Samurai và dần dần họ nắm đợc cả đất đai,nông dân Đến nửa sau thế kỷ XVIII, quyền sở hữu đất đai thực tế đã nằmtrong tay các nhà buôn Điều này đã làm cho trật tự phong kiến không cònnghiêm tắc nh trớc đây nữa
Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, đời sống của nhân dân lúcnày càng trở nên khó khăn ở thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ, nông dân đãchịu cảnh bóc lột nặng nề, đến giai đoạn cuối của Mạc Phủ, kinh tế hàng hóaphát triển, kinh tế nông dân cùng khó thêm, hàng vạn ngời phải ra thành thịkiếm vì không có đất, không có việc làm, thân phận khốn khó của nhân dânlàm cho họ rất bất mãn với chế độ tớng quân và muốn thay đổi để có cuộcsống tốt hơn Nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân nỗ ra nh cuộc đấu tranh năm
1837 ở Ôsyô Hei hatisô ở Ôsaka
Trang 18Trong xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ cùng với sự phân hóa sâu sắc về giaicấp, tầng lớp giai cấp, tầng lớp trong xã hội là quá trình t sản hóa đối với tầnglớp võ sĩ lớp dới Các võ sĩ lớp dới đã t sản hóa thành các t sản thơng nghiệp ra
đời từ lâu, là cơ sở cho Minh Trị Duy Tân giai cấp công nhân Nhật Bản ra đờisau họ đóng góp ít hơn các võ sĩ lớp dới Giai cấp t sản cũng muốn xóa bỏ chế
độ phong kiến cho chủ nghĩa t bản phát triển Song họ lại có mối quan hệ chặtchẽ và phụ thuộc vào Tôkugawa, họ cũng muốn duy trì chế độ phong kiến bóclột đối với nhân dân Vì thế giai cấp t sản ở Nhật không phải là lực lợng lãnh
đạo trong cải cách năm 1868 mà lực lợng quan trọng là tầng lớp võ sĩ
Cùng với sự biến đổi sâu sắc nh vừa nói trên, vào cuối thời kỳ Mạc Phủphong trào chống Mạc Phủ cũng đã lan rộng và trở nên gay gắt Trong xã hộiNhật Bản lúc bấy giờ, lực lợng chống Mạc Phủ đợc hình thành tơng đối lớn
“Trung tâm quân sự – Lịch sử chính trị chống Mạc Phủ là các lãnh địa phía Nam (nhSatsuma, Chosu, Tosha, Hyzen…)” Liên minh các lãnh chúa phía Nam đòiquyền thủ tiêu chế độ Mạc Phủ và khôi phục quyền lực của Thiên hoàng.Trong xã hội Nhật Bản đã diễn ra sự chém giết giữa phe Bảo hoàng và MạcPhủ, làm cho tình hình chính trị – Lịch sử xã hội rối ren
Nhìn chung, cơ cấu xã hội phong kiến của Nhật Bản vào cuối thế kỷTôkugawa đã bắt đầu dạn mứt, mầm mống của một trật xã hội mới dần dầnxuất hiện Sự phát triển kinh tế hàng hóa đã làm cho xã hội Nhật Bản thay đổi
từ thành thị đến nông thôn Chính quyền Mạc Phủ lung lay trầm trọng, hầu hếtcác tầng lớp giai cấp tiến bộ trong xã hội Nhật Bản đều muốn lật đổ Mạc Phủ,giành quyền lực cho Thiên hoàng để thực hiện đổi mới đất nớc
1.2.2 T bản phơng Tây tăng cờng gõ cửa Nhật Bản “ ”
Chính trong tình trạng mất ổn định về chính trị, chế độ Mạc Phủ lunglay, xã hội có nhiều biến chuyển sâu sắc thì phơng Tây đã “gõ cửa” với mục
đích gõ cửa tình trạng này
Từ trớc năm 1853, Hoa Kỳ và các nớc Phơng Tây khác đã liên tục đòichính phủ Nhật Bản mở cửa và ký kết buôn bán, nhng hầu hết đều bị khớc từ.Nga là nớc châu Âu đầu tiên đến yêu cầu Nhật Bản mở cửa và đã bị chínhquyền Mạc Phủ cự tuyệt một cách quyết liệt Năm 1853, Hoa Kỳ cho đô đốcMathew C Perry dẫn một hạm đội gồm có 4 chiến thuyền đến cảng Uraga(trong vịnh Tôkyô ngày nay) yêu cầu Nhật Bản mở cửa thông thơng… Sự xuấthiện hạm đội Perry đã gây tâm lý và ý thức về nguy cơ thống trị của đất nớcngoài trong suy nghĩ ngời Nhật Bản Các chiến thuyền bữu tợng của văn minh
Trang 19dân tộc đã làm cho dân chúng Edo bàng hoàng trớc sự tiến bộ của thế giới bênngoài Đồng thời giúp họ ý thức đợc sự trì trệ, lỗi thời của Nhật Bản Một sốngời Nhật tiến bộ đã hiểu đợc rằng “Lực lợng quân sự của mình theo phongtrào quá xa và nớc Nhật không nên đối lập bằng quân lực với thế lực Âu – Lịch sử
Mỹ trong thời gian trớc mắt Họ cũng hiểu đợc nớc Nhật phải cải cách quân
đội và nhanh chóng xây dựng lực lợng quân đội tiên tiến so với phơng Tây.Trong xã hội Nhật Bản lúc bầy giờ xuất hiện cuộc đấu tranh sôi nổi giữa hailuồng t tởng: Một luồng t tởng thì chủ trơng “Kaikôku ” (khai quốc); mộtluồng t tởng thì chủ trơng “Joi” (thờng di), tức đuổi ngời phơng Tây ra khỏiNhật Bản Giữa lúc Nhật Bản đang cự tuyệt giao lu với nớc ngoài thì một lầnnữa hạm đội Perry lại xuất hiện làm cho chính quyền Mạc Phủ hoang mang lo
sợ và gia sức phòng thủ đất nớc Sau nhiều lần đến Nhật Bản, Perry đã đạt đợc
ý đồ của mình Ngày 31 tháng 3 năm 1854, Hoà ớc giữa Nhật – Lịch sử Hoa Kỳ đợc
ký kết, trong đó Nhật thoả thuận: Cung cấp nhiên liệu và thực phẩm của tàu bèHoa Kỳ, xem Hoa Kỳ là nớc u đãi nhất”, thỏa thuận cho Hoa Kỳ đặt lãnh sự
Sau khi Nhật ký điều ớc trên với Hoa Kỳ, các nớc Anh, Nga, Hà Lan nốigót Hoa Kỳ cũng lần lợt kéo sang Nhật Bản với hy vọng sẽ đạt đợc nhữngquyền lợi tơng tự nh Hoa Kỳ đã có ở Nhật Bản Nh vậy, vào giữa thế kỷ XIXNhật Bản buộc phải mở cửa giao lu buôn bán với các nớc phơng Tây, chínhsách, “bế quan tỏa cảng” đã ngăn đợc bớc chân xâm nhập của t bản phơngTây
Trớc sự uy hiếp của phơng Tây chính quyền Mạc Phủ đã lần lợt kýnhiều điều ớc thông thơng bất bình đẳng với Mỹ, Anh, Pháp, Nga… Đặc biệt
là với điều ớc mà Nhật Bản đã ký với Mỹ vào tháng 7 năm 1858, với nội dung:chấp nhận đặc quyền ngoại giao của Mỹ (những ngời Mỹ ở các vùng c trú nếu
có phạm tội sẽ đợc xét xử theo luật của Mỹ, không theo luật của Nhật), quanthuế sẽ do hai bên quyết định, Nhật không đợc đơn phơng cự tuyệt… Nh vậy,Nhật đã rơi vào tình trạng bị phụ thuộc và Mỹ nắm đợc quyền lũng đoạn
Với ký kết những điều ớc trên, chứng tỏ sự bạc nhợc, yếu kém của chínhquyền Mạc Phủ vì thế đã gây nên bất mãn rộng khắp trong quyền chúng nhândân Họ cho rằng mạc Phủ đã lấn át và cớp quyền của Thiên hoàng, là nguyênnhân gây ra sự yếu kém về kinh tế, chính trị… của xã hội Nhật Bản, là nguồngốc gây ra sự khổ cực cho họ, phong trào chống Mạc Phủ ngày càng phát triểnmạnh hơn
1.2.3 Tình hình kinh tế.
Trang 20Trớc khi cuộc Minh Trị Duy Tân diễn ra, nền kinh tế hàng hoá đã xâmnhập vào thành thị và nh thế làm cho nền kinh tế Nhật Bản có nhiều thay đổi.Trong thời kỳ Tôkugawa, ngay trong lòng của chế độ phong kiến, quan hệ sảnxuất theo kiểu t bản chủ nghĩa đã xuất hiện Mặc dù nền kinh tế công nghiệpvẫn chiếm vị trí chủ đạo nhng những nhân tố này đã tích hợp, tạo nên động lựcthúc đẩy sự biến chuyển của xã hội Nhật Bản vào giữa thế kỷ XIX.
Dới thời kỳ Tôkugawa, kinh tế nông nghiệp đợc coi là cơ sở kinh tế cơbản của đất nớc Mạc Phủ cũng có nhiều chính sách nhằm khuyến khích nôngnghiệp phát triển nh khai hoang, phát triển thuỷ lợi… Nhng gánh nặng thuếhoá đã đè lên trò ngời nông dân Nông dân phải nộp thuế cho cả đợc chủ vàlãnh chúa, con số này thờng lên đến 70% tổng số thu hoạch của ngời nôngdân Vào cuối thời kỳ Tôkugawa mà đặc biệt là từ khi Nhật Bản ký kết Hiệp ớcthơng mại với phơng Tây thì nền kinh tế Nhật Bản đã có sự thay đổi lớn và cómột số bớc chuyển mới, căn bản, nền kinh tế “lúa gạo” ngày càng mất đi vaitrò độc tôn của nó Sự phát triển của nông nghiệp mang tính chất thơng mại đãtạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển ở nông thôn, nó kích thích nhucầu tiêu dùng và mở rộng thị trờng Những yếu tố của một nền kinh tế t bản đãdần xuất hiện trong lĩnh vực nông nghiệp và đã từ từ phá vở trật tự kinh tế cũvốn có ở nông thôn Nhật Bản Sự xâm nhập của kinh tế tiền tệ và xu hớng th-
ơng mại hóa đã làm lung lay tận gốc cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến
Một hiện tợng mới ở nông thôn là xuất hiện chế độ làm thuê, nh thuêtheo năm, thuê theo tháng hoặc thuê công nhật… sự xuất hiện của một sốtrung tâm kinh tế – Lịch sử thơng mại đã thu hết lao động ở nông thôn vào làm thêmnghề để tăng thu nhập Nhiều nông dân đã chuyển sang lĩnh vực kinh doanh,làm hàng thủ công hay làm thuê cho các công xởng
Nh vậy, kinh tế nông nghiệp, nêng tảng căn bản của kinh tế Nhật Bản đãbắt đầu phân hóa trầm trọng làm sói mòn cơ sở kinh tế tự nhiên Nền kinh tếnông nghiệp vốn bình lặng của Nhật Bản đã bị xáo trộn bởi sự xuất hiện nhữngmầm mống quan hệ sản xuất mới – Lịch sử quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa
Cùng với sự phân hóa ở nông thôn, trong lĩnh vực công – Lịch sử thơng nghiệp
do tác động của nền kinh tế hàng hóa nên cũng có những bớc chuyển lớn Cáccông trờng thủ công tập trung và phân tán ra đời, nh công trờng sản xuất lụa,vải… phơng thức kinh doanh của các công trờng thủ công tuy còn nhiều yếu tốphong kiến, nhng sự xuất hiện và phát triển của nó cùng với mối quan hệ hànghóa tiền tệ trên một mức độ nhất định đã làm rạn nứt nền tảng của chế độ
Trang 21phong kiến, đa đến sự hình thành kinh tế t bản Đến những năm 50 – Lịch sử 60 củathế kỷ XIX đã xuất hiện công nghiệp luyện thép và các xởng đóng tàu ở cáccông quốc phía Nam.
Vốn để thơng mại và đô thị hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ dù chínhquyền Tôkugawa không khuyến khích Do hoạt động thơng mại ngày càngphát triển, tầng lớp thơng nhân cũng ngày càng đông hơn và có ảnh hởng lớntrong xã hội Trên cơ sở tiềm lực kinh tế, các nhà thơng nhân lớn đã tham giacác hoạt động kinh tế khác, họ là những ngời tài trợ cho hoạt động nh: Sảnxuất gỗ, dầu, bông …
Mặc dù kinh tế thơng nghiệp của Nhật Bản đã có nhiều biến chuyển
nh-ng vẫn gặp rất nhiều khó khăn Do tính biệt lập của các cônh-ng quốc, sự nh-ngăncách của hàng hóa rào thuế quan phong kiến đã gây trở ngại rất lớn cho sựphát triển của thơng nghiệp Rõ ràng vào cuối thế kỷ XIX mâu thuẫn giữa cơcấu kinh tế – Lịch sử xã hội và chế độ chính trị đã khá sâu sắc
Những yếu tố của kinh tế t bản đang nảy sinh trong lòng chế độ phongkiến Nhật Bản chính vì cơ sở, nền tảng quan trọng để sau này cải cách MinhTrị thực hiện thắng lợi nhanh chóng
1.2.4 Tình hình văn hóa – Lịch sử giáo dục
Nhật Bản là một đất nớc có ảnh hởng rất lớn của Omil Trung Quốc.Ngay từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX Nhật Bản đã thực hiện chính sách “mở toangcửa” tự nhiên, hết cở trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục… để
đón nhận văn minh Trung Quốc Chính vì t tởng khổng giáo đã ăn sâu vàotrong đời sống văn hóa của Nhật Bản Thời kỳ Tôkugawa cũng không nằmngoài sự ảnh hởng đó, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa – Lịch sử giáo dục sự ảnh hởngcủa Nho giáo đã làm cho nền giáo dục của Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa là một
hệ thống giáo dục khép kiến Một chế độ giai đoạn u đãi giành riêng cho tầnglớp võ sĩ, một đội ngũ đợc coi là lực lợng giữ vai trò chủ đạo trong xã hội NhậtBản Mục đích giai đoạn chỉ giành cho việc đào tạo phục vụ hoàng tộc, võ sĩ,lãnh chúa, bộ máy thống trị của chính quyền cát cứ Chính quyền Tôkugawaluôn nhắc nhở các quân tộc Samurai phải ý thức đợc hai nghĩa vụ là học tậpvăn và võ Nó đợc coi là “nhiệm vụ” là “nguyên tắc” hàng đầu của dòng rõilãnh chúa Nghĩa vụ này của Samurai đợc các Shogun nhắc trong các câu nói:
“Tay trái cầm sách, tay phải cầm gơng” “Ôn văn, luyện võ” đồng thời cũngxuất phát từ truyền thống Khổng giáo, vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức đợccoi trọng hơn giáo dục trí thức Nền giáo dục thời kỳ Tôkugawa chủ yếu nhằm
Trang 22rèn luyện phẩm chất những con ngời “thợng đẳng” nắm vai trò thống trị đất ớc.
n-Mặc dù chế độ giáo dục dới thời Tôkugawa có nhiều hạn chế nh vừa nêutrên, song nó vẫn rất nhiều u điểm đáng kể Chính từ chế độ giáo dục đó đãgiúp cho chính quyền Minh Trị duy trì đợc kỷ cơng xã hội để chuyển sang mộtgiai đoạn hiện đại Giai đoạn Khổng nho đã tạo nên những con ngời Nhật Bản
có tinh thần ham học theo chân của luận ngữ “học không biết chán” và mộtthói quen đạo đức là “trung thành với nớc Nhật, trung thành với Thiên hoàng”
Họ sống theo nếp sống xã hội lễ giáo, tôn ti, trật tự, tuân theo quyền lực, kháiniệm chủ tổ chặt chẽ Có thể nói đay vừa là đặc điểm mang tính hạn chế nhngcũng có rất nhiều u điểm cho việc quản lý xã hội tơng lai Chế độ giáo dục đó
đã cho con ngời Nhật Bản ý thức về lòng trung quân , ái quốc Họ rất đề cao và
tự hào dòng dõi quý tộc của mình “Nhật Bản là nớc thần đạo sách ra chínhquyền vua Nhật” là dòng dõi chính quyền của thần, cho nên phần là ngời Nhật
ai cũng phải tin tởng, kính thờ, tôn trọng, không đợc xâm phạm hay nghi hoặcbao giờ Sự tin tởng đó chôn chặt vào tim óc của ngời Nhật Bản nh đinh đóngcột vậy”
Đặc biệt, khi lịch sử Nhật Bản bớc vào giai đoạn cuối của thời kỳTôkugawa, thời kỳ có nhiều thay đổi căn bản trong lĩnh vực kinh tế – Lịch sử chínhtrị xã hội … thì nền văn hóa giáo dục của Nhật Bản cũng có nhiều chuyển biếnsâu sắc, nhất là từ khi Nhật Bản buộc phải mở cửa với các nớc phơng Tây.Những thay đổi trong lĩnh vực văn hóa – Lịch sử giáo dục ở thời kỳ này sẽ là những
di sản quý giá đặt nền móng cho công cuộc cải cách giáo dục sau này củaNhật Bản
Vào lúc Nhật Bản buộc phải mở cửa quan hệ buôn bán với phơng Tâythì những ngời trí thức cấp tiến trong xã hội Nhật Bản đã kịp thời nhận ra sựvăn minh vợt bậc của thực dân Và họ thấy rằng cần phải học hỏi phơng Tây.Vốn có một bản lĩnh vững vàng và độ nhạy bén sắc sảo về văn hoá, Nhật Bảnrất lâu đời trong lịch sử, ngời Nhật Bản nổi tiếng là ham học hỏi cần tiến bộ,của cái mới, song khi là ngời “vay mợn văn hoá” đã không đánh mất bản sắcdân tộc mình
Cuối thời kỳ Tôkugawa, sự phát triển của xã hội Nhật Bản tự thân nó đãphá vở những ràng buộc của hệ thống giai đoạn cũ và đa Nhật Bản vào tình thếphải quan tâm đến giai đoạn bình dân Những danh giới khắt khe của trờng đã
mở, nhiều khi tự phá vỡ Xu hớng giai đoạn đáp ứng nhu cầu của thực dân đợc
Trang 23mở ra cùng với giai đoạn quý tộc, võ sĩ Một số trờng quốc dân lập mở ranhằm đáp ứng con em quý tộc Samurai nhng đôi khi cũng cho phép con embình dân đăng ký học, tạo điều kiện cho những ai có mong muốn học tập,nghiên cứu
Cùng với những thay đổi trong đời sống xã hội, yêu cầu của ngời học
đối với nội dung giai đoạn ở trờng cũng thay đổi Những trẻ em trong xã hộiNhật Bản lúc bấy giờ muốn tự lựa chọn cho mình một ngành học thích hợp,ngay cả con cái của các quý tộc, võ sĩ cũng không hoàn toàn thích học ở cáctrờng theo đạo khổng chính Họ muốn lựa chọn một số ngành học mới nh chếtạo máy, kỹ thuật… để phục vụ cho nhu cầu quản lý và sản xuất kinh tế và họchấp nhận việc học vô vị, một số lý thuyết đã nhàm chán, tiêu phí thời gian
“năm 1740, Shogun Yoshimone đã cho con mình học Ngoại Ngữ và sau đóhọc thuốc và Triết học phơng Tây” Chính vì thế mà trong các môn học mới
nh khoa học quân sự, thiên văn học, kỹ thuật, đóng tàu … ợc đa vào chơng đtrình giảng dạy và hàng hoạt các trờng mới đợc thành lập: Trờng Cao học Yhọc phơng Tây (1756); Trờng Võ bị phơng Tây (1854), Trờng Hàng Hải(1857) …
Nh vậy, trớc khi công cuộc Duy Tân Minh Trị nỗ ra, nền văn hóa – Lịch sửgiáo dục của Nhật Bản đã có nhiều thay đổi đáng kể, xây dựng nhân lực, tạo
điều kiện cho chính quyền mới thực hiện thành công cuộc cải cách trong lĩnhvực giáo dục Những thay đổi trong vĩnh vực giáo dục cho thấy hệ thống giáodục cũ đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp nữa và cần thiết phảithay đổi Vì vậy, khi Nhật Bản tiếp xúc với phơng Tây thì một phong trào họctập văn hóa đã ngấm ngầm diễn ra trong nhân dân Mạc Phủ cấm đoán
1.2.5 Những vấn đề bức xúc diễn ra đối với lịch sử Nhật Bản cần thiết phải tiến hành cải cách.
Nh vừa phân tích ở trên Nhật Bản vào giữa thế kỷ XIX lĩnh vực kỹ thuật,chính trị – Lịch sử xã hội…đều có những chuyển biến lớn, chế độ phong kiến đangdần bị phá vỡ, mầm móng của một xã hội mới xã hội T bản đang bắt đầu xuấthiện và mâu thuẫn gay gắt với cơ sở xã hội phong kiến Chính những chuyểnbiến đó đã tạo cho Nhật Bản các tiền đề quan trọng để tiến hành cải cách.Những ngời cấp tiến ở Nhật Bản sớm nhận thức đợc rằng sự yếu kém về quân
sự, sự lạc hậu về kinh tế và sự không ổn định về chính trị, rất rễ làm cho NhậtBản trở thành miếng mồi ngon cho các cờng quốc phơng Tây vì vậy, Nhật Bảnkhông còn con đờng nào khác là cần nhanh chóng công nghiệp hoá, áp dụng
Trang 24các phơng pháp tiên tiến của phơng Tây vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị,giáo dục nhằm làm cho Nhật Bản lớn mạnh về kinh tế, giữ vững độc lập củamình, xoá bỏ dần các Hiệp ớc bất bình đẳng đã kí với phơng Tây, có nh vậy thìmới giữ vững đợc độc lập dân tộc.
Với sự thức thời và năng động, những ngời cấp tiến ở Nhật Bản lúc này
đã nhận thức một cách đúng đắn tình hình đất nớc cũng nh lĩnh vực và hàngloạt vấn đề đặt ra mà Nhật Bản cần phải giải quyết Thứ nhất, đến giữa thế kỷXIX, Nhật Bản vẫn còn là một nớc lạc hậu Mặc dù ở thời kỳ này, chế độphong kiến Nhật Bản cũng đã nảy sinh những nhân tố kinh tế, mầm móng tbản chủ nghĩa, nhng những nhân tố đó cha đủ sức phá vỡ quan hệ phong kiếnràng buộc để tiến lên xây dựng chế độ mới So với các quốc gia châu Âu, NhậtBản vẫn còn là một trong những nớc nông nghiệp, kinh tế, văn hoá, giáo dục
đều lạc hậu Đây chính là hậu quả của chính sách cai trị, quản lý đất n ớc bằngbiện pháp quân sự, độc đoán chia cắt của chế độ phong kiến Nhật Bản NớcNhật với gần 300 công quốc, có thể chế trị riêng, quyền lực pháp chế riêng…Các lãnh chúa với bộ máy thống trị lãnh địa đã tự cô lập mình bằng thanh gơm
võ sĩ Trớc áp lực của phong trào đã ngập ngừng trong việc mở cửa, chínhquyền dùng biện pháp “an toàn” đóng cửa, cô lập với thế giới bên ngoài 200năm Vì thế đến khi buộc phải mở cửa giao lu hàng hoá với bên ngoài, ngờiNhật mới nhận thấy đợc mình lạc hậu quá nhiều so với các nớc phơng Tây Do
đó buộc phải thực hiện cải cách để đất nớc giàu mạnh, thoát khỏi tình trạngnghèo nàn, lạc hậu và theo kịp phơng Tây Thứ hai, các cờng quốc phơng Tâyvới thế mạnh về quân sự, kinh tế hơn hẳn các nớc phơng Đông đã và đangchứng minh sức mạnh của mình bằng cách chinh phục các nớc phơng Đông.Một số nớc ở châu á có xuất phát điểm kém gần giống nh Nhật Bản đã dầndần bị rơi vào tay của chủ nghĩa t bản với những mức độ khác nhau Vì thế,nhiệm vụ đặt lên hàng đầu đối với Nhật Bản lúc này là phải bảo vệ đất nớc,chống lại sự xâm lăng của các nớc phơng Tây Muốn làm đợc điều này là phảinhanh chóng hiện đại hoá đất nớc, phải học tập phơng Tây, đuổi kịp phơngTây và vợt qua phơng Tây thì mới có cơ may bảo vệ đợc chủ quyền và độc lậpdân tộc, đa đất nớc tiến lên
Nhìn chung lúc này ở Nhật Bản nổi lên hai vấn đề: Một là, phòng thủ
đất nớc chống sự xâm lăng của phơng Tây; hai là, hiện đại hoá đất nớc Từ hai
đặc điểm bức xúc đó đòi hỏi Nhật Bản phải tiến hành cải cách đất nớc, ổn địnhchính trị tạo điều kiện cho đất nớc thúc đẩy hùng mạnh Đồng thời ngay trong
Trang 25nội tại nền kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội … của Nhật Bản cũng hình thànhnhững điều kiện thúc đẩy Nhật Bản cần phải thựchiện ngay một công việc cảicách nhằm mở đờng cho lực lợng sản xuất mới, một quan hệ sản xuất mớinhanh chóng phát triển Sau một thời gian dài hoà bình ổn định, vào giữa thế
kỷ XIX, chế độ chuyên chế Mạc Phủ đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng Donhững yêu cầu phát triển của xã hội, chế độ Mạc Phủ đã dần dần bộc lộ nhữngmâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân (nông dân, thị dân…) với chế độ MạcPhủ… Vì thế, cuộc đấu tranh giữa nông dân và thị dân ngày càng mạnh mẽlàm cho chế độ Mạc Phủ lung lay Họ đấu tranh đòi lật đỗ chính quyềnTokugawa , trả lại quyền lực cho Thiên hoàng Đối với hầu hết ngời NhậtThiên hoàng cớ một vị trí rất lớn, mặc dù trong suốt thời gian trị vì Thiềnhoàng chỉ có h vị, còn chính quyền thực trị nằm trong tay Mạc Phủ, Mạc Phủ
đã thực hiện những chính sách hà khắc với nhân dân Vì vậy nhân dân nổi lênkhởi nghĩa chống Mạc Phủ Đối tợng cụ thể của cuộc khởi nghĩa là cácShogun, còn Thiên hoàng trớc sau vẫn là vô can Đến năm 1867 do sức ép liêntục của tầng lớp võ sĩ (nhất là võ sĩ đã t sản hóa), các tầng lớp t sản (chủ yếu làthơng nhân) Shogun thứ 15 của dòng họ Tokugawa là Hitotsubashi phải giảithể chính quyền, Thiên hoàng Minh Trị đã ý thức đợc vấn đề bức xúc đang đặt
ra cho nớc Nhật lúc bấy giờ và đã tiến hành một cuộc cải cách Duy Tân toàn
bộ đất nớc Ngời Nhật Bản với một truyền thống đoàn kết, lòng yêu nớc nồngnàn, với tinh thần “võ sĩ đạo” quyết tâm một lòng vợt qua khó khăn để chốngxâm lăng, xây dựng phát triển đất nớc và công cuộc Duy Tân Minh Trị năm
1868 đã mở ra một kỷ nguyên huy hoàng trong lịch sử phát triển của Nhật Bản
Chơng 2 Công cuộc Duy Tân minh trị (1868) ở nhật bản
Trang 26Trải qua 265 thống trị, ngày 9/11/ 1867, chính quyềnTokugawa buộcphải “trả lại quyền bính” cho Thiên Hoàng Mutshuhitô (Minh Trị), lịch sửNhật Bản bớc sang một trang mới Ngày 3/1/1868, Thiên Hoàng ra lệnh truấtquyền của tớng quân và thành lập chính phủ mới Cuộc đấu tranh chuyểnquyền lực từ Tớng quân sang Minh trị đã đánh dấu một bớc đi lên đầy ý nghĩacách mạng trong lịch sử Nhật Bản Chủ quyền mới đợc thành lập do TiênHoàng đứng đầu bao gồm phần lớn những ngời thuộc đẳng cấp quý tộc t sảnhoá (Samurai), họ là những ngời có t tởng tiến bộ đòi đổi mới canh tân đất nớc.Vì thế, ngày sau khi lên nắm chính quyền Minh Trị đã đề ra hai mục tiêu chủyếu: Độc lập quốc gia, từng bớc tiến lên bình đẳng với các nớc phơng Tây, ph-
ơng châm đề ra là: “Phú quôc, cờng binh” Với tinh thần “học hỏi tây phơng
đuổi kịp tây phơng, vợt tây phơng”, Chính phủ Minh Trị đã thực hiện một cuộccải cách rất hữu hiệu trên các lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục…
đa đất nớc tiến lên hùng cờng
2.1 Những nội dung chủ yếu của công cuộc Duy Tân Minh Trị.
2.1.1 Cải cách kinh tế
Ngay sau khi Minh Trị lên ngôi, tình hình kinh tế của Nhật Bản không
có gì sáng sủa lắm, đặt biệt là về mặt khoa học kỹ thuật, Nhật Bản đã đi chậmhơn so với các nớc phơng Tây khoảng 200 năm Những điều ớc bất bình đẳng
mà chính quyền Tokugawa đã ký kết với phơng Tây ngoài việc đe dọa về chủquyền còn đe doạ về kinh tế đối với Nhật Bản, vì: Thuế nhập cảng thấp, nhữngmặt hàng công nghiệp của phơng Tây có thể làm cho Nhật Bản không ngóc
đầu lên đợc Do đó, trên lĩnh vực kinh tế, Chính phủ Nhật Bản còn phải cóngay những biện pháp thiết thực, kịp thời nhằm nhanh chóng phát triển kinh tếvững mạnh, nhanh chóng công nghiệp hóa – Lịch sử hiện đại hóa đất nớc để đa NhậtBản vào guồng máy công nghiệp hiện đại nh các nớc phơng Tây
Để thực hiện ý định trên, chính phủ Minh Trị cho rằng cần phải tiếp thuvăn minh phơng Tây để làm cho dân giàu nớc mạnh, dần dần sửa đổi các hiệp
ớc bất bình đẳng đã ký với các nớc phơng Tây Kỷ nguyên Minh Trị cũng
đồng thời với việc bắt đầu quá trình công nghiệp hóa đất nớc theo mô hình củaphơng Tây Chủ trơng phát triển kinh tế theo hớng tập trung phát triển côngnghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm thoát khỏi sự lạc hậu trong thời gian ngắn nhất.Cùng với chủ trơng trên, để phát triển kinh tế, chính phủ Minh Trị cũng rất chú
ý đến việc phát triển nguồn vốn trong nớc để đầu t cho xây dựng, phát triểnnền công nghiệp hiện đại Vào những năm đầu bớc vào cải cách chính phủ
Trang 27Minh Trị gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề vốn đầu t, chẳng hạn nh từtháng 9 – Lịch sử 1868 đến tháng 12 – Lịch sử 1872, chính phủ phải chi phí là 148,3 triệuyên, mà chỉ thu đợc 50,4 triệu yên, nguồn thu không đủ để chi Tuy khó khăntrong vấn đề vốn đầu t nhng Nhật Bản rất hạn chế việc vay vốn nớc ngoài đểtránh rơi vào tình trạng lệ thuộc quá lớn và nớc cho vay Do đó nguồn vốncông nghiệp hóa chủ yếu dựa vào các trong nớc, nhất là dựa vào nông nghiệp.Vì vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp chính phủ có nhiều cải cách quan trọng đểkhuyến khích nông nghiệp phát triển
Nhằm giúp cho nền kinh tế phát triển đúng hớng, lúc đầu chính phủ
đứng ra điều hành sản xuất sau đó thực hiện chính sách t hữu hoá các xínghiệp công nghiệp, khuyến khích việc đầu t của t nhân Một số ngành chủyếu vẫn do chính phủ nắm giữ để tạo đà cho bớc đầu phát triển kinh tế
Sau khi nền kinh tế phát triển mạnh, chính phủ thực hiện t nhân hoá vàchuyển giao các Công ty trớc đây do chính phủ quản lý cho các t nhân có nănglực trong kinh doanh quản lý, điều hành Với biện pháp này chính phủ đã dầndần chuyển nền kinh tế vào chỉ đạo của nền kinh tế t bản chủ nghĩa, chuyểngiao t liệu sản xuất vào tay những t nhân giỏi quản lý, giỏi điều hành sản xuất.Song song với những việc chuyển giao t liệu sản xuất vào tay nớc t nhân,chính phủ cũng giúp đỡ, tạo điều kiện Cho các công ty, xí nghiệp phát triểnkhá mạnh bằng các biện pháp nh cho vay vốn, trợ giúp kinh tế, đánh thuế nhẹ,lập bộ công nghệ (1870) nhằm phát triển công nghệ tiên tiến trong các ngànhcông nghiệp do Nhà nớc và t nhân quản lý…
Trên đây là chủ trơng chung xuyên suốt trong quá trình cải cách kinh tếcủa chính phủ Minh Trị Chủ trơng này đợc chính phủ triển khai cụ thể trongnhững ngành kinh tế và đã thu đợc những thành rựu rực rỡ đợc Nhật Bản tiếnhành vào con đờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc không kém phầnrầm rộ nh các nớc Phơng Tây
- Về công nghiệp.
Để thực hiện mục tiêu “phú quốc, cờng binh” chính phủ Minh Trị Đãtập trung phát triển nền công nghiệp hiện đại bằng hàng loạt các biện pháp cảicách đáng kể
Thứ nhất, chính phủ Minh Trị Chủ trơng học tập kỹ thuật phơng Tây:Tích cực cho ngời ra nớc ngoài tham khảo kinh nghiệm của phơng Tây, mờichuyên gia nớc ngoài đến Nhật và trả lơng cao để khai thác trí thức, kinhnghiệm của họ Ví dụ: 1875, số ngời nớc ngoài phục vụ trong cơ quan, chính
Trang 28phủ trung ơng và địa phơng là 527 ngời, trong số đó có 205 cố vấn kỹ thuật,
114 thầy giáo và 69 ngời là nhà quản lý hành chính, 36 ngời là thợ lành nghề.Chính phủ đã cử hàng ngàn thanh niên Nhật đi du học nớc ngoài, năm 1873 có
373 sinh viên đi du học nớc ngoài Lúc đầu khi mới tiến hành Duy tân, số ngờingoại quốc có trình độ chuyên môn giỏi đợc mời đến Nhật làm việc rất nhiều,càng về sau số ngời giảm xuống và sẽ thay thế bằng các chuyên gia ngời Nhật(1874, bộ công nghệ dùng 290 kỹ s ngoại quốc, đến năm 1879 giảm xuốngcòn 130 ngời) Chính phủ khuyến khích, vận động nhân dân tích cực họcnhững kinh nghiệm tiên tiến của phơng Tây thông qua hệ thống chuyên gia, cốvấn, biến tri thức của họ thành của mình để cuối cùng Nhật Bản không cònthuê chuyên gia nữa
Thứ hai, thực hiện chính sách t hữu hoá công nghiệp, khuyến khích việc
đầu t của t nhân trong công nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu để thúc đẩykinh tế phát triển, chính phủ Nhật Bản phải đứng ra tổ chức, điều hành cáccông ty, xí nghiệp hoặc thực hiện chơng trình khai thác các vùng đất hoang nh:chơng trình phát triển Hokaido thành các trung tâm công nghiệp trù phú.Chính phủ cũng đã vay tiền ngoại quốc đầu t vào các xí nghiệp, tìm mọi phơngpháp đầu t vào các ngành công nghiệp mới, đồng thời cũng tập trung tổ chức,
mở rộng thêm các xí nghiệp nh nhà máy sợi, sản xuất đạn dợc… Sau một thờigian dài thực hiện nguyên tắc Nhà nớc can thiệp trực tiếp vào công nghiệp,tuy có thu đợc một số thành quả tốt đẹp trong giai đoạn đầu của cải cách, nhngmặt khác cũng gặp một số nhợc điểm nh kinh doanh thua lỗ… Từ đó, chínhphủ đã đề ra chính sách t hữu hóa công nghiệp, bắt đầu từ năm 1881, chínhphủ đã bán hầu hết các xí nghiệp cho t nhân, hoặc chuyển sang hình thức canthiệp gián tiếp Để khuyến khích việc đầu t của t nhân, chính phủ đặt giá cáccơ sở, xí nghiệp rất rẻ, phần lớn các nhà máy chỉ bán với giá từ 10 – Lịch sử 90% sốtiền đã đầu t
Bên cạnh đó, chính phủ còn thực hiện việc hợp tác giữa Nhà nớc và tnhân Tuy chiếm tỉ trọng không lớn nhng các xí nghiệp Nhà nớc vẫn giữ vị tríthen chốt làm cơ sở cho công nghiệp t nhân phát triển, tạo điều kiện cho việcphát triển công nghiệp và kinh tế Nhật Bản trong kỷ nguyên Minh Trị
Thứ 3, Nhật Bản nhanh chóng phát triển các cơ sở công nghiệp hiện đại
nh khai thác mỏ, xây dựng các nhà máy dệt, nhà máy luyện kim, xi măng,
đóng tàu… Trong 10 năm cách mạng 1868, ở Nhật Bản có gần 500 xí nghiệpcông nghiệp
Trang 29Nhờ chính sách t hữu hóa mà nhiều ngành sản xuất mới đã phát triển vợtbậc, từ những cơ sở tiểu công nghiệp đã trở thành các Công ty, xí nghiệp lớn
nh dệt, sản xuất giấy, khai thác mỏ… Năm 1881: 90% sản lợng than, 94% sảnlợng thép và 77% sản lợng đồng ở Nhật Bản là do các xí nghiệp t nhân khaithác Bên cạnh đó nhiều ngành công nghiệp mới xuất hiện sản xuất những mặthàng nh xi măng, bia, thuỷ tinh… Việc khuyến khích học tập khoa học kỹthuật phơng Tây, đã giúp cho nền công nghiệp Nhật Bản ngày càng có nhiềumáy móc tân tiến của châu Âu Vì thế nhiều ngành công nghiệp đạt năng suấtcao Ví dụ nh, từ năm 1899 cho đến 1903, Nhật Bản sản xuất hơn 7,5 triệu kgtơ lụa sống mỗi năm, trở thành nớc sản xuất nhiều nhất trên thế giới về mặthàng này Các ngành công nghiệp nặng cũng phát triển mạnh, đặt cơ sở choviệc hình thành một nền công nghiệp hiện đại của Nhật Bản: Năm 1896 Nhậtxây dựng khu liên hợp sắt thép Yaoata lớn nhất nớc Nhật với số vốn tới 19triệu yên: Một số Công ty lớn ra đời nh Công ty luyện thép Nihon seitetshusho,Công ty tạo thuyền Ishikawajima…
Nhìn chung, trong thời kỳ Thiên hoàng Minh Trị nắm quyền, ở NhậtBản nền công nghiệp đã phát triển khá mạnh Chính phủ đã rất năng độngtrong việc vạch ra phơng hớng phát triển kinh tế công nghiệp Trong hoàn cảnhkhó khăn ban đầu, đã kịp thời cung cấp vốn cho các ngành công nghiệp Chiếnlợc, cho các Công ty hởng những đặc quyền lớn, nhanh chóng khắc phục đợcnhững lạc hậu, chậm trễ của nền kinh tế và đuổi kịp các nớc phơng Tây
- Về cơ sở hạ tầng.
Chính phủ Minh Trị đã sớm nhận thức rằng, muốn xây dựng nền kinh tếvững mạnh thì phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc Các phơng tiện thôngtin liên lạc, giao thông vận tải, điện tín… ợc mở rộng Nhà nớc đã khuyến đkhích các t nhân bỏ vốn xây dựng các xí nghiệp, các công trình đờng sắt, đờng
bộ, điện tín… Năm 1872 đã hoàn thành tuyến đờng sắt đầu tiên Tokyô Yokohama Năm 1872 trong toàn quốc chỉ mới 18 dặm đờng sắt, nhng đến
-1911 có 4.755 dặm Năm -1911 t nhân tự bỏ vốn xây dựng 1400 dặm đờng sắt
và 1800 tàu t nhân chạy bằng hơi nớc với tổng trọng tải 1.375.000 tấn Năm
1869 hệ thống điện tín giữa Tokyô - Yokohama đợc bắt đầu, sau đó đợc dầndần mở rộng sang các tỉnh khác Đờng bu chính giữa Tokyô và Osaka đợc thiếtlập 1871 vào năm sau đợc áp dụng trên toàn quốc Học tập kinh nghiệm của n-
ớc Anh, 1885 chính phủ quy định giá tem đồng nhất cho mọi vùng trong nớc
để phổ cập hóa phơng tiện bu chính
Trang 30Nh vậy, để hỗ trợ cho việc xây dựng một nền công nghiệp hiện đại,nhanh chóng hiện đại hóa đất nớc trong thời gian ngắn nhất, chính phủ MinhTrị đã chú ý đầu t phát triển cơ sở hạ tầng vững mạnh Thông qua các số liệu
cụ thể vừa nêu trên, có thể thấy đợc chính phủ Minh Trị rất nhạy bén trongviệc đa những tiến bộ trong những lĩnh vực thông tin liên lạc, giao thông vậntải… của phơng Tây vào quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng ở Nhật Bản Chẳnghạn, chỉ một năm sau khi máy điện thoại đợc phát minh, tức là 1876 máy điệnthoại đã có mặt ở Nhật Bản (đờng điện thoại từ Tokyô - Yokohama đợc sửdụng từ 1876)
đầu chủ yếu dựa vào nguồn vốn trong nớc mà chỗ dựa quan trọng là nôngnghiệp Công nghiệp hoá của Nhật Bản đi từ nông nghiệp Vì vậy, trong lĩnhvực nông nghiệp, chính phủ đã thực hiện khá nhiều những cải cách nhằmkhuyến khích nông nghiệp phát triển
Vấn đề ruộng đất: Cải cách ruộng đất lúc đầu nhằm hớng vào giải quyết
về vấn đề tài chính và phát triển t bản chủ nghĩa ở nông thôn Để thực hiện bớc
đầu cải cách ruộng đất, chính phủ bãi bỏ các quy định hạn chế về sử dụngruộng đất, công nhận quyền tự do trồng trọt mùa màng, chấp nhận cho tự domua bán ruộng đất, tự do kinh doanh nông phẩm Địa khoán đợc phát hành đểlàm chứng từ sở hữu (tức thẻ ruộng đất ) Ngời nông dân có quyền sở hữunhững mảnh đất mà họ đợc thừa hởng do cha truyền con nối Dù ngời nôngdân vẫn còn cày cấy trên ruộng đất đó nhng đã đem bán hoặc cầm cố thì vẫnkhông đợc quyền sở hữu
Vấn đề thuế nông nghiệp: Theo quy định mới, ngời nộp thuế là chủ đấtchứ không phải là ngời sản xuất Trớc đó, địa tô đợc thu nạp hàng năm là sảnphẩm (thóc lúa) nay đợc thay thuế bằng loại thuế thống nhất (bằng tiền).Chính phủ quyết định đánh thuế theo giá đất, tiền thuế tơng đơng 3% giá đất
Tỷ lệ này đợc áp dụng chung cho cả nớc
Những cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp (ruộng đất, thuế nôngnghiệp hay đại tô) tuy vẫn còn một số tiêu cực nh: Do giá đất quá cao nên thuế
Trang 31có khi lên đến 50% hoa lợi mà ngời dân thu đợc Do nhiều nông dân nổi dậychống cải cách địa tô, những nông dân nghèo không có tiền mua đất hoặc phảibán đất làm tá điền nên ruộng đất dần dần rơi vào tay nông dân giàu haynhững nhà t sản thành thị … Nhng những cải cách đó đã mang lại một số kếtquả rất đáng kể cho Nhật Bản lúc này Nó đã góp phần giải quyết vấn đề tàichính Sau cải cách địa tô, chính quyền trung ơng đã có đợc cơ sở tài chínhvững chắc hơn, tạo điều kiện tốt cho quá trình công nghiệp hóa đất nớc Đồngthời với những chính sách cải cánh kinh tế nông nghiệp linh động, hợp lý,chính phủ Minh Trị đã đa nền nông nghiệp Nhật Bản thoát khỏi tình trạng suythoái ở cuối thời kỳ Tokugawa Tốc độ tăng trởng của nông nghiệp trong thời
kỳ này chừng 2% một năm Cải cách ruộng đất đã đánh dấu cho sự phát triểncủa quan hệ sản xuất t bản ở nông thôn Nhật Bản Giai cấp t sản, địa chủ mớidần dần đóng vai trò quan trọng và trở thành chỗ dựa vững chắc cho chính phủ
ở nông thôn
- Về kinh tế thơng nghiệp.
Trớc khi công cuộc Duy tân Minh Trị diễn ra, kinh tế thơng nghiệp bịcoi nhẹ Mặc dù vào cuối thời kỳ Tokugawa, thơng nghiệp có nhiều thay đổinhng đó chỉ là những thay đổi từ trong nội tại của nền kinh tế do các quy luậtphát triển kinh tế – Lịch sử xã hội quy định, còn về phía chính quyền Nhà nớc vẫncha có biện pháp nào để khuyến khích thơng nghiệp phát triển Sang thời kỳMinh Trị, chính phủ đã chú ý phát triển thơng nghiệp Thơng nhân đã tham giarất nhiều vào các hoạt động kinh doanh tạo nên một bộ mặt mới rất năng độngcho nền kinh tế Nhật Bản
Chính quyền Minh Trị đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thơngnghiệp và phát triển Ngoài việc thiết lập một trật tự thống nhất trong nớc,Chính phủ còn tính đến việc thiết lập một trật tự quốc tế Bên cạnh đó, việcthực hiện một chế độ tiền tệ thống nhất, quan thuế thống nhất đã tạo nhữngthụân lợi lớn cho sự phát triển của thơng nghiệp
Với tinh thần, “thợng thơng lập quốc”, chính phủ Minh Trị không chỉtạo điều kiện cho nền nội thơng phát triển mà ngoại thơng cũng đợc coi là mộttrong những yếu tố để tăng thêm nguồn thu nhập quốc dân, là một mặt có quan
hệ quốc tế Đồng thời cũng là yếu tố để làm giàu cho đất nớc và tiếp thụ khoahọc kỹ thuật phơng Tây thông qua buôn bán Nhờ vậy mà kim ngạch bãi bỏvới nớc ngoài đợc nâng cao Trong vòng một thập kỷ sau công cuộc Duy tân
Trang 32Minh Trị tổng kim ngạch ngoại thơng tăng nhanh Năm 1868 tổng kim ngạchngoại thơng trích bằng đồng yên đạt khoảng 26 triệu, 1873 đã lên tới 53 triệuyên, 1881 là 62 triệu yên.
Tóm lại, những chính sách cải cách kinh tế của Nhật Bản trong thời kỳMinh Trị đã đa nền kinh tế Nhật chuyển dần sang nền kinh tế t bản chủ nghĩa,
t tởng coi nông nghiệp là trớc hết, thơng nghiệp là nghề hèn kém đã mất dần.Thay vào đó là t tởng coi trọng tất cả các ngành kinh tế và để cho cơ chế thị tr-ờng quyết định Từ đó tạo ra một nền kinh tế năng động, bắt kịp những tiến bộcủa khoa học kỹ thuật phơng Tây Những cải cách trong lĩnh vực kinh tế gópphần tạo nên bớc chuyển biến mạnh mẽ trong lịch sử Nhật Bản Các thành tựu
do cải cách kinh tế đa lại giúp Nhật Bản chuẩn bị xong “mặt bằng”cho mộtcuộc đua mới trong thế giới của các nớc t bản phát triển
2.1.2 Cải cách về chình trị – Lịch sử xã hội
Song với những cải cách kinh tế chính phủ Minh Trị Đã tiến hành cảicách trong lĩnh vực chính trị – Lịch sử xã hội nhằm xoá bỏ những cản trở của chế độphong kiến, mở đờng cho trật tự chính trị – Lịch sử xã hội phát triển, xây dựng một
hệ thống Nhà nớc mới phù hợp với yêu cầu của đất nớc, phục tốt cho côngnghiệp hoá, hiện hại hoá
- Cảỉ cách chính quyền theo kiểu quân chủ lập hiến.
Hệ thống chính quyền cũ, chính quyền phong kiến dới thời kỳTokugawa đợc thay thế bằng một hệ thống chính quyền mới do Thiên Hoàng
đứng đầu tạo ra sự thống nhất về chính trị cho đất nớc Những cải tổ về mặtchính trị đều nhằm tập trung xây dựng một chính quyền theo chỉnh thể quânchủ lập hiến trong đó quyền lực của vua đợc đề cao Việc cải tổ chính quyềntheo kiểu quân chủ lập hiến đợc tiến hành dần dần và từng bớc
Sau tuyên thề Duy tân, chính phủ Minh Trị đã điều hành bộ máy nôngnghiệp theo thể chế chính trị kiểu Mỹ gồm 3 quyền phân lập: lập pháp, hànhpháp và t pháp (nơi các chính phủ) điều hành Tuy theo thể chế chính trị tamquân phần lập nhng trên thực tế quyền hành cao nhất thuộc về quý tộc và lãnhchúa phía Nam, sự phân biệt giữa hành pháp, lập pháp không rõ ràng lắm.Guồng máy Nhà nớc nh thế này tiếp tục hoạt động cho đến 1885 khi lập chế
độ nội các
Đặc biệt từ sau hiến pháp 1889, chế độ quân chủ lập hiến ở Nhật Bảncàng đợc củng cố mạnh hơn, một chế độ quân chủ lập hiến dựa trên quyền lựctối cao của Thiên hoàng Chủ quyền của Nhà nớc thuộc về Thiên hoàng, Thiên
Trang 33hoàng đợc xem nh là “thần thánh bất khả xâm phạm” Theo hiến pháp, Quốchội đế chế gồm 2 viện: Viện dân biểu (tơng đơng với Hạ nghị viện) do một sốdân chúng có quyền bầu cử bầu ra, và viện quý tộc (tơng đơng với Thợng nghịviện) do Thiên hoàng chỉ định.
Nh vậy, thông qua một số cải cách về mặt chính quyền Từ một Nhà nớcquân chủ chuyên chế với sự lộng hành của tớng quân Shogun, Nhật Bản dớithời Minh trị Đã dần dần củng cố và xây dựng một Nhà nớc theo thể chế quânchủ lập hiến Tuy nhiên quyền lực của Thiên Hoàng là tối cao, quyền lực củaquốc hội rất hạn chế Quốc hội không có quyền quyết định mọi việc, chỉ cóquyền thảo luận, bàn bạc, quyền quyết định dành cho Thiên Hoàng Thiênhoàng có quyền đình chỉ quốc hội, giải tán và triệu tập Hạ nghị viện Trongquá trình xây dựng củng cố thể chế Nhà nớc, Nhật Bản đã học hỏi rất nhiều ởcác nớc (nh Anh, Mỹ) nhng không hoàn toàn theo khuân mẫu của các nớc đó
mà xây dựng một thể chế Nhà nớc rất riêng mang những yếu tố truyền thốngcủa ngời Nhật Bản Ví dụ: Nếu nh các nớc phơng Tây quy định chủ quyềnthuộc về nhân dân thì Nhật Bản quy định chủ quyền thuộc về nhà Vua Vì điềunày phù hợp với truyền thống từ bao đời nay của ngời Nhật Bản: “Thiên Hoàngmuôn đời thống trị đại đế Nhật Bản” Việc thiết lập một thể chế chính trị thốngnhất, ổn định đã tạo điều kiện cho Nhật Bản phát triển mạnh về kinh tế Và đaNhật Bản phát triển thành cờng quốc t bản chủ nghĩa ngoài phơng Tây
- Xoá bỏ những cản trở của chế độ phong kiến.
Sau khi xoá bỏ chính quyền Tokugawa, chính quyền mới của ThiênHoàng đã đợc thiết lập Một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra lúc này làphải thực hiện thống nhất đất nớc, tức là phải xoá bỏ sự phân tán cát cứ phongkiến, tập trung quyền lực cho chính quyền trung ơng Nhà nớc Minh Trị thựchiện xóa bỏ tình trạng cát cứ của gần 300 Han trớc đây lập nên huyện để củng
cố hơn nữa chính quyền trung ơng, tạo điệu kiện phát triển kinh tế vững mạnh
đủ sức t bản phơng Tây
Để nhanh chóng thực hiện việc “Phế phiên, trí huyện”, Thiên Hoàng đãthuyết phục các Daimio phía Nam (có công trong việc lật đổ chính quyềnTokugawa ở Satsuma, Choshu, Tosa, Hizen) trao trả quyền hành cho nhà vua
Và đến tháng 3- 1869 công việc này đã thành công Các lãnh chúa khác cũnglần lợt trao quyền hành cho Thiên Hoàng Tháng 8- 1871, chính phủ ra lệnhphế bỏ hoàn toàn các Han, cả nớc đợc chia làm 3 phủ và 72 ken (huyện) Cácchúa phong kiến trở thành các quan tổng trấn cha truyền con nối, đợc hởng
Trang 341/10 tổng số thu nhập của địa phơng mình Chính phủ Minh Trị cho các lãnhchúa phong kiến đợc hởng những u đãi nhằm tránh sự nổi loạn, nh vậy, côngviệc thống nhất quốc gia đợc hoàn thành Kinh đô Kyôtô (ở phía Tây) đợcchuyển về Eđô, trung tâm chính trị của Nhật Bản và đổi tên thành Tôkyô (ởphía Đông).
- Vấn đề giai cấp.
Cùng với chủ trơng xoá bỏ những cản trở, những độc quyền của chế độphong kiến thì các giai cấp trong xã hội cũng đợc sắp xếp lại cho phù hợp, tạo
ra một trật tự xã hội mới, tiến bộ hơn, đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của đấtnớc
Chính phủ Minh Trị Xếp quý tộc hoàng gia và quý tộc lãnh địa thànhmột giai cấp – Lịch sử giai cấp thợng đẳng, gọi là giai cấp Kazoku Các võ sĩ hợpthành giai cấp thứ 2: Shizoku, những ngời đợc tầng lớp nông – Lịch sử công – Lịch sử thơng
đợc gọi chung là Hemin (bình dân) Việc phân biệt đẳng cấp trớc đó đều đợcbãi bỏ Những cái trong thời kỳ Tokugawa bị xem là ti tiện nay đợc xếp vàogiai cấp Hemin Hemin đợc phép mang họ vào có quyền kết hợp với Kazoku
và Shizoku Họ có quyền cỡi ngựa, mặc lễ phục (những đặc quyền mà trớc đóchỉ giành riêng cho giai cấp võ sĩ) Từ 1871, các Kazoku và Shizoku không bịbắt buộc phải mang kiếm và để tóc búi nữa, đến 1876 tục lệ mang kiếm bịcấm hẳn
Tóm lại, từ những thay đổi về cải cơ cấu giai cấp dới thời Thiên HoàngMinh Trị, một hệ thống giai cấp mới, một trật tự xã hội mới đợc hình thành.Chế độ đẳng cấp hà khắc có từ thế kỷ XII đến nay đợc bãi bỏ Toàn bộ dânchúng dới thời Minh Trị, đợc chia làm 3 hạng hay 3 giai cấp: Kazoku, Shizoku
và Hemin, tất cả họ có mối liên hệ tơng đối bình đẳng không còn phân biệt gaygắt nh trớc nữa
- Vấn đề hiến pháp.
Vào năm 1889, Thiên Hoàng Minh Trị, đã ban bố Hiến pháp mới Đây
là một trong những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa rất lớn đối với Nhật Bản.Hiến pháp đã khẳng định hơn nữa chính thể quân chủ lập hiến và quyền lựccủa Thiên Hoàng
Sau khi cử ngời sang phơng Tây để học hỏi, nghiên cứu hiến pháp củacác nớc, đặc biệt là Hiến pháp của nớc Đức, đến ngày 11/2/1889 Hiến phápMinh Trị đã đợc công bố Hiến pháp Minh Trịgồm có 7 chơng và 76 điều, quy
định những vấn đề cơ bản để khẳng định quyền lực tối cao của Thiên Hoàng,