Nghiên cứu hiện tợng nghệ thuật Phan Bội Châu, chúng tôi vận dụng quan điểm phong cách học nghệ thuật để có thể tìm ra nét đặc thù trong quan niệm nghệthuật về con ngời trong tác phẩm tr
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
&
con ngời trong thơ trữ tình
phan bội châu
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngành văn học việt nam hiện đại
Cán bộ hớng dẫn : GVC Lê Văn Tùng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Loan
Khoá : 43 A
Vinh, 2006
Lời nói đầu
Để hoàn thành luận văn với đề tài "con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu" chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tân tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa ngữ văn cùng với bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là thầy giáo hớng dẫn
Lê Văn Tùng Nhân đây tôi xin gửi đến thầy giáo Lê Văn Tùng cùng các thầy cô giáo trong khoa và bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn chân thành nhất.
Trang 2Khép lại cả quá trình học tập bốn năm đại học bằng công trình nghiên cứu về thơ Phan Bội Châu, chúng tôi đã cố gắng để góp thêm tiếng nói mới, cái nhìn mới về con ngời "đặc biệt" trong số những con ngời đặc biệt ở thế kỷ XX này Nhng do trình độ có hạn, thời gian ngắn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp từ các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Vinh, ngày 20 tháng 5 năm 2006 Sinh viên: Nguyễn Thị Loan
Trang 3Mục lục TrangLời nói đầu
Mục lục
V Nhiệm vụ nghiên cứu, đóng góp và cấu trúc của luận văn 7
Chơng 1: Quan niệm về con ngời và quan niệm nghệ thuật về con ngời 9
2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học 10
3 Cái nhìn chung đối với quan niệm nghệ thuật về con ngời của
Chơng 2: Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu trớc 1905 21
2 Con ngời mang khao khát vơn tới những giá trị mới 30Chơng 3: Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu từ 1905 đến 1925 41
3 Con ngời có "Tấm lòng son" đối với đất nớc 55Chơng 4: Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu từ 1925 đến 1940 62
1 Con ngời bi quan sầu khổ - con ngời lạc quan và trách nhiệm 63
3 Con ngời hớng về cái mới, ngày mới của dân tộc lại
vừa tơng t quá khứ lỗi thời của đạo Khổng Tử và các giá trị xa cũ 80
Trang 4Phần I: Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Phan Bội Châu đợc biết đến là một nhà nho yêu nớc, nhà cách mạng, nhàchính trị, nhà văn… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ngời Việt nam viếtnhiều, nhiều tác phẩm của ông có ảnh hởng sâu rộng đến cả một thế hệ, tiêu biểucho cả một thời đại: thời cận đại ngắn, chỉ vài chục năm đầu thế kỷ Phan Bội Châu
có một vị trí rất quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam Vì vậy tầm vóc của nhàvăn đang dần đợc khẳng định
1.2 Phan Bội Châu - một hiện tợng văn học lớn nhng không dễ gì nắm bắt,
do đó có ý kiến cho rằng: Phan Bội Châu rất quen "mà khá lạ" Cái "khá lạ" là do
chúng ta cha có những phơng pháp tiếp cận hiện tợng nghệ thuật Phan Bội Châu
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu, nhng Phan BộiChâu với t cách một nghệ sỹ ngôn từ bị hoà tan vào các vấn đề nghiên cứu chính trị,xã hội Tiêu biểu là công trình nghiên cứu của giáo s Đặng Thai Mai Nhan đề cuốn
sách "Văn thơ Phan Bội Châu" đã gợi cho ngời đọc nghĩ về Phan Bội Châu - nhà
văn, nhà thơ Hớng đi là vậy, nhng trong quá trình nghiên cứu, Đặng Thai Mai lại
xem văn thơ Phan Bội Châu chỉ là một phơng tiện chính trị "thơ văn Phan Bội Châu
Trang 5trong phần thành công rõ rệt nhất qua mấy mơi năm "bút mực tung hoành" là chính ở chỗ đã biểu hiện đợc cái tinh thần yêu nớc nồng nàn của cả một dân tộc trong thời đại bấy giờ".
Nguyễn Huệ Chi cũng đã nghiên cứu Phan Bội Châu nh một nhà văn Nhng
ông chỉ dừng lại ở các quan điểm thẩm mĩ, quan điểm cái đẹp của Phan Bội Châumột cách tổng quát
Do hoàn cảnh lịch sử, do xu thế thời đại, tên gọi "nhà văn Phan Bội Châu" hoà lẫn vào các "nhà" khác giữa cuộc sống của ngời "nô lệ" Giờ đây đât nớc đã
thanh bình chúng ta cần có một cái nhìn mới, quan niệm mới về hiện tợng Phan Bội
Châu Chúng ta thử một lần xem việc sáng tác của Phan Bội Châu là "lao động nghệ
thuật", xem Phan Bội Châu là một nghệ sỹ ngôn từ đích thực.
Do có sự hoà tan nhà văn Phan Bội Châu vào các nhà cách mạng, nhà chínhtrị… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng cho nên các nhà nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên cứu thơ văn Phan Bội Châu trớcnăm 1925
Chúng ta cần phải có một cái nhìn toàn diện về thơ Phan Bội Châu trong cả
ba giai đoạn sáng tác Mỗi giai đoạn có những đặc trng trong cách nhìn nhận về conngời
Nghiên cứu hiện tợng nghệ thuật Phan Bội Châu, chúng tôi vận dụng quan
điểm phong cách học nghệ thuật để có thể tìm ra nét đặc thù trong quan niệm nghệthuật về con ngời trong tác phẩm trữ tình của Phan Bội Châu ở từng giai đoạn sángtác, đồng thời thấy đợc sự nhất quán trong quan niệm nghệ thuật của ông về con ng-ời
3 Luận văn còn có ý nghĩa thiết thực đối với ngời viết trong việc dạy thơ văn Phan Bội Châu ở trờng trung học phổ thông.
Nghiên cứu hiện tợng Phan Bội Châu, tôi càng hiểu sâu hơn những tác phẩmcủa Phan Bội Châu để qua đó tôi dạy những tác phẩm của ông đợc tốt hơn Trên cơ
sở nắm vững quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tác phẩm trữ tình của Phan
Bội Châu, tôi dạy tác phẩm "bài ca chúc tết thanh niên" từ phơng diện này để thấy
đợc nội dung, t tởng của Phan Bội Châu ở bài thơ Mặt khác giúp cho những ngờiyêu thích thơ văn Phan Bội Châu và những ngời cha hiểu biết nhiều về thơ văn của
ông có điều tiếp cận với nhà thơ, thấu hiểu nỗi nhục mất nớc, nỗi đau quằn quại củanhà thơ trên con đờng giải phóng dân tộc
II Lịch sử vấn đề.
Trang 61 Trong toàn bộ di sản văn hoá tinh thần của Phan Bội Châu, một lịch trìnhnghiên cứu nghiêm túc gần ba phần t thế kỷ đã chỉ ra: Đây là một giá trị đa diện, là
một trong số ít tác giả Việt Nam đợc tôn vinh nhiều "nhà" nhất: nhà chính trị, nhà
cách mạng, nhà yêu nớc, nhà triết học, nhà t tởng, nhà sử học, nhà kinh tế học, nhàquân sự, nhà tôn giáo học, nhà giáo dục học… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng và tất nhiên là cả nhà văn nữa Mỗi
"nhà" đều có ít nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá Mặc dù vậy, ở trờng hợp
"nhà văn Phan Bội Châu" những ngời nghiên cứu trong chừng mực nào đó có lẫn lộn với các "nhà" khác trong cách nhìn và quan điểm đánh giá Họ đã lấy những giá trị khác để nghiên cứu Phan Bội Châu - nhà văn Chúng ta thừa nhận một điều: "nhà
văn Phan Bội Châu chịu ảnh hởng trực tiếp qua lại các "nhà" khác tạo nên một hệ thống giá trị thống nhất" Nhng thống nhất không có nghĩa một, không có nghĩa là
"nhà" này bị hoà tan trong "nhà" kia… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Rõ ràng ở Phan Bội Châu "chân lý cuộc sống cùng là chân lý nghệ thuật" nhng nh thế không có nghĩa nghệ thuật của ông là
một sự sao chép cuộc sống
2 Lịch sử nghiên cứu Phan Bội Châu có thể chia làm hai chặng đờng chính:
2.1 Chặng đờng trớc cách mạng
ở chặng đờng này ngời ta ít quan tâm đến Phan Bội Châu nhng ngời đầu tiên
có nhận xét về nhà văn lại chính là Nguyễn ái Quốc Trong truyện ngắn "những trò
lố hay là Paven và Phan Bội Châu" (1925) Nguyễn ái Quốc coi Phan Bội Châu là
"bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập đợc 20 triệu con ngời trong
vòng nô lệ tôn sùng" Cái độc đáo trong con ngời Phan Bội Châu ở truyện ngắn này
là cái nhìn đối lập với Paven
Các số báo viết về Phan Bội Châu cũng lần lợt ra đời Đó là báo Trung lập số
594 (09/1/1926), Sài Gòn với nhan đề "ông Phan Bội Châu đã tới Huế", "Cùng cụ
Phan Bội Châu", của Bùi Đình báo Tân thế kỷ số 31 (10/12/1926), Sài Gòn, đặc
biệt là cuốn sách "Phan Bội Châu ngày nay" của Lê Cơng Phụng NXB ngày nay,
Sài Gòn 1926
2.2 Chặng đờng sau cách mạng
ở chặng đờng này ngời ta bắt đầu quan tâm nhiều đến hiện tợng Phan Bội
Châu Trong cuốn "văn thơ Phan Bội Châu" của giáo s Đặng Thai Mai lại nghiên
cứu Phan Bội Châu theo phơng pháp xã hội, lịch sử, tức là coi thơ văn Phan Bội
Trang 7Châu nh tấm gơng phản ánh xã hội, là phơng tiện của chính trị Vì vậy, trong phần
mở đầu cuốn sách nghiên cứu có đoạn giáo s viết:
"Trong trí nhớ, trong ấn tợng, trong phán đoán của công chúng nớc ta Phan Bội Châu, trớc hết là một nhà chí sỹ yêu nớc, một bậc tiền bối cách mạng hăng hái, kiên quyết, đã thể hiện đợc một cách hùng hồn rực rỡ tinh thần bất khuất của dân tộc ta trong thời kỳ 20 năm đầu thế kỷ này Hi sinh cả một đời cho tổ quốc Việt Nam yêu dấu, đó là phần cống hiến tốt đẹp nhất của Phan Bội Châu vào công cuộc giải phóng nớc nhà vào thời kỳ đó Cho nên Phan Sào Nam đã viết văn, làm thơ, vẫn ít ai nói đến "nhà văn" hay "nhà thi sỹ" Phan Bội Châu nói đến nhà cách mạng Phan Bội Châu là đủ lắm rồi.
Kể cũng đúng thôi nhng không nên vì vậy mà quên sự nhất trí giữa công tác chính trị và sự nghiệp văn chơng của Phan Sào Nam"[1; 9].
Cùng với cuốn sách nêu trên, ngời ta còn xuất bản cuốn sách: "Phan Bội
Châu và một giai đoạn chống Pháp của nhân dân Việt Nam" (1957) của Tôn
Quang Phiệt, chơng "Phan Bội Châu" trong giáo trình lịch sử văn học Việt Nam
(T227 - 254), NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1962 Lê Trí Viễn chỉ xem thơ văn Phan BộiChâu là thơ văn tuyên truyền vận động chính trị
Đến năm 1967 nhà nớc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phan Bội Châu,
sau đó nhà xuất bản khoa học xã hội đã xuất bản cuốn "nhà yêu nớc, nhà văn Phan
Bội Châu", cuốn sách này là tập hợp kết quả của nhiều nhà nghiên cứu trong nớc,
trong đó có bài viết của giáo s Nguyễn Huệ Chi, nghiên cứu quan điểm thẩm mĩ,quan điểm cái đẹp của Phan Bội Châu tức là đi sâu vào bản chất văn học nhng chỉ ởquan điểm chung, khái quát
Năm 1982 hội thảo khao học về Phan Bội Châu do bốn đơn vị phối hợp: việntriết học; Sở văn hoá Nghệ Tĩnh; viện sử học và trờng đại học s phạm Vinh
Năm 1987, xuất bản "Phan Bội Châu toàn tập" (10 tập)
ở nớc ngoài, ngời ta cũng nghiên cứu về hiện tợng Phan Bội Châu nhng tất cảcác nhà nghiên cứu đều nhìn Phan Bội Châu dới góc độ lịch sử Nghĩa là họ coiPhan Bội Châu là nhân vật trung tâm của phong trào chống Pháp ở Việt Nam đầuthế kỷ XX nh Đavít Ma rơ ở Mỹ, hoặc ở Nga các nhà nghiên cứu đã thành lập Hộinghiên cứu Phan Bội Châu Họ nghiên cứu Phan Bội Châu nh một hiện tợng đặcbiệt điển hình cho phong trào phơng Đông thức tỉnh, châu á vơn mình theo lý luậnV.I Lênin
Trang 8ở Nhật, các nhà nghiên cứu coi Phan Bội Châu là hiện tợng kỳ lạ Nhng nớcnghiên cứu đầu tiên về Phan Bội Châu vẫn là nớc Pháp với tên tuổi Goóc giơ bu đa
ren với luận án tiến sỹ: "Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam thời đại ông.
Tất cả các quan điểm trên rõ ràng cha có quan điểm nào nghiên cứu hiện tợngPhan Bội Châu nh là một nghệ sỹ ngôn từ, những nhận định của các nhà nghiên cứu
đều từ góc độ chính trị, xã hội, lịch sử Bài viết "con ngời trong sáng tác trữ tình
Phan Bội Châu trớc 1905" in trong cuốn "những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ ", NXB Giáo dục, 1999, là gợi ý quan trọng cho chúng tôi phát triển thành
đề tài "con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu".
III Phơng pháP nghiên cứu
Chúng ta tách "nhà văn Phan Bội Châu" ra khỏi các "nhà" khác có thể thấy
Phan Bội Châu là hiện tợng nghệ thuật chỉnh thể Thơ ông phản ánh tâm sự của ông,con ngời ông trớc thế sự nhân tâm Dù ở phơng diện nào, dù ở hoàn cảnh nào PhanBội Châu cũng bộc lộ nỗi đau đời, niềm tin tởng của mình đối với mọi thế hệ
Bao giờ cũng thế, quan niệm nghệ thuật về con ngời chính là ý thức văn hoácủa nhà văn hiện hình trên hình thức nghệ thuật tác phẩm Nhân vật trữ tình trongthơ ông chính là con ngời văn hoá của nhà thơ phát lộ ra bằng hình thức ngôn từ
Nghiên cứu "con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu" chúng tôi sử dụng những
3 Trên cơ sở vận dụng những quan điểm và phơng pháp ấy, chúng tôi sẽ nhìnquan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu trong sự kết hợpvới các yếu tố khác ngoài văn bản nh: thời đại, lịch sử, gia đình và bản thân, ditruyền và huyết thống, nền giáo dục và ý thức hệ mà nhà văn chịu ảnh hởng, hoạt
Trang 9động chính trị, sứ mệnh lịch sử của nhà văn… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Các yếu tố trên có vai trò chiếu ứng
với các yếu tố hình thức nghệ thuật của văn bản tác phẩm để tìm ra tính "quy luật",
sự "hợp lý" của hình thức chứ bản thân chúng không hề và không thể quyết định các
giá trị nghệ thuật của tác phẩm
IV Giới hạn đề tài
Chúng tôi quan sát Phan Bội Châu nh một nghệ sỹ ngôn từ, tạm thời "cô lập
hoá" nhà nghệ sỹ ra khỏi các "nhà" khác để khảo sát, loại biệt những sáng tạo nghệ
thuật đặc thù nhằm khắc sâu những đóng góp của ngời nghệ sỹ vào giá trị đa diện(nh đã nêu ở mục 2) mà không làm cho nó bị hoà tan, không bị lẫn lộn Cũng vì vậy
khu vực tác phẩm mà chúng tôi quan tâm không phải là toàn bộ "Phan Bội Châu
toàn tập" (10 tập), chúng tôi chỉ quan tâm nghiên cứu những tác phẩm thơ trữ tình
nghệ thuật của Phan Bội Châu để thấy đợc cái nhìn về con ngời của ông
V Nhiệm vụ nghiên cứu, đóng góp và cấu trúc của luận văn
1 Nhiệm vụ nghiên cứu
1.1 Giới thuyết một số vấn đề xung quanh khái niệm quan niệm nghệ thuật
về con ngời, vai trò, ý nghĩa khái niệm trong khi tìm hiểu nghiên cứu Phan BộiChâu, đặc biệt qua tác phẩm thơ trữ tình trong sáng tác Phan Bội Châu
1.2 Tìm và xác định những nội dung (hay những biểu hiện) của quan niệm vềcon ngời trong thơ trữ tình của Phan Bội Châu và lý giải những nội dung biểu hiệnấy
1.3 Quan niệm nghệ thuật trên đợc khái quát thông qua hệ thống hình tợng,qua nghệ thuật ngôn từ của tác giả Chúng tôi phân tích lý giải các đặc sắc trongcách nhìn nghệ thuật, cách xử lý phơng tiện biểu hiện về con ngời; đánh giá nét độc
đáo trong quan niệm nghệ thuật về con ngời trong sáng tác trữ tình của Phan BộiChâu
2 Đóng góp của luận văn
Giải quyết đề tài theo quan điểm và phơng pháp nghiên cứu trên đây, luậnvăn lần đầu tiên đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ trữ tìnhPhan Bội Châu một cách đầy đủ nhất
Luận văn sẽ tìm đúng đặc trng, bản chất cũng nh quy luật hình thành vận
động của nhân vật trữ tình trong sáng tác của Phan Bội Châu Bên cạnh đó, luận văn
Trang 10có thể gợi ra một cách nhìn, một hớng tiếp cận mới có tính hiệu quả đối với hiện ợng Phan Bội Châu qua sáng tác thơ trữ tình của ông.
t-3 Cấu trúc luận văn
Để phù hợp với logic và những vấn đề khoa học đã nêu trên, ngoài phần mở
đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đợc trình bày trong bốn chơng
Chơng 1 Quan niệm về con ngời và quan niệm nghệ thuật về con ngời
Chơng 2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châutrớc 1905
Chơng 3 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu
từ 1905 đến 1925
Chơng 4 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu
từ 1925 đến 1940
Phần II Nội dung
Chơng 1: Quan niệm về con ngời và quan niệm nghệ thuật về con ngời.
1 Quan niệm về con ngời.
"Con ngời", khái niệm đó nghe quen thuộc nhng cũng đầy bí ẩn đã trở thành
đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Nghiên cứu con ngời thực chất là
Trang 11nghiên cứu về quá trình con ngời tự mình làm đối tợng của nhận thức Quá trình đó
phải trả lời câu hỏi "con ngời là gì?" trong hệ thống tự nhiên và xã hội.
Con ngời cũng là một động vật, nhng là động vật bậc cao Do vậy trong quan
hệ xã hội không một ai nhầm lẫn con ngời với loài động vật Điều này cũng là cơ sở
lý giải cho câu hỏi "con ngời là gì?" Câu trả lời chỉ chân thực khi con ngời có khả
năng bớc ra khỏi bản thân mình để nhận thức mình với t cách là hệ thống trong quátrình vận động và sinh thành Cũng chính vì vậy con ngời trở thành đối tợng nghiêncứu của nhiều môn học khác nhau nh: tâm lý học, triết học, đạo đức học… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Dẫurằng con ngời trở thành đối tợng của những ngành khoa học này nhng con ngờitrong quan niệm của mỗi ngành đợc hiểu theo những cách riêng
Triết học đợc xem là "khoa học của mọi khoa học" nghiên cứu con ngời bằng
cách tổng hợp các yếu tố thành hệ thống, nghĩa là những vấn đề triết học về con
ng-ời đợc hình thành trên cơ sở tổng kết những thành tựu đạt đợc bởi các khoa học cụthể trong lĩnh vực nghiên cứu của con ngời
"Trong tính hiện thực của nó, con ngời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội"
đây là quan niệm của triết học Mác xít - triết học mang tính nhân văn sâu sắc Quanniệm này chủ yếu hớng về con ngời xã hội Đây là cách giải thích, cách nhìn, cách
đánh giá về số phận, về cuộc sống, về sự tồn tại của con ngời trong thế giới Theoquan niệm của triết học Mác xít, con ngời là trung tâm Con ngời không chỉ trongtrạng thái tự nhiên thuần tuý mà là con ngời trong hoạt động thực tiễn Bản chất củacon ngời không phải là sự đồng nhất bao hàm giữa sự khác biệt hai yếu tố đối lậpnhau: con ngời với t cách là sản phẩm của giới tự nhiên, là sự phát triển tiếp tục củagiới tự nhiên, mặt khác con ngời là một thực thể xã hội đợc tách ra nh một lực lợng
đối lập với tự nhiên Sự tác động qua lại giữa cái sinh học với cái xã hội trong conngời tạo thành bản chất con ngời Đây là điểm thể hiện rõ quan niệm con ngời trongtriết học phơng Đông: con ngời là một thực thể của vũ trụ
Quan niệm của các nhà triết học phơng Tây hiện đại lại khác hẳn: con ngời là
bi kịch: "con ngời là tổng số những tai hoạ mà nó trải qua" (Man rô - nhà triết học Pháp) Phóc nơ - nhà triết học Mỹ quan niệm: "con ngời là tổng số những kinh
nghiệm về những bất hạnh trong cuộc đời của nó"
Các nhà tâm lý học có quan niệm khác với triết học Các nhà tâm lý học chorằng: con ngời có hai phần: phần con (sinh học) và phần ngời (xã hội học) Cho nên
Trang 12con ngời là thực thể sinh học - xã hội Con ngời và hoàn cảnh luôn có mối quan hệgắn bó mật thiết với nhau.
Con ngời là một thế giới đa dạng, để đi giải mã khái niệm con ngời một cách
cụ thể không phải là điều đơn giản Triết học, tâm lý học, tôn giáo, pháp luật, đạo
đức, xã hội quan niệm về con ngời tuy cụ thể nhng cũng chỉ tớimột giới hạn nhất
định mà không thể có điều kiện khám phá thế giới đến tận cùng sự phức tạp vàphong phú của nó Vai trò đó chỉ có nghệ thuật làm đợc
2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học.
Nghiên cứu lịch sử lý luận và phê bình văn học có thể thấy quan niệm conngời là khái niệm quan trọng xuyên thấm mọi thời đại Con ngời trở thành đối tợngtrung tâm của văn học Một tác phẩm viết ra dù ở thể loại nào cũng nhằm h ớng tới
con ngời bởi "văn học là nhân học".
Trong cuộc sống đời thờng, xã hội xô bồ hối hả, con ngời với nhiều giai tầng,nhiều địa vị khác nhau nh: địa chủ, quan lại, trí thức, nông dân… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng đã đi vào văn họcdới sự tái hiện của ngòi bút nhà văn Thế nhng con ngời trong cuộc đời và con ngờitrong văn học không phải là một khối đồng nhất Nhà văn không thể bê nguyên từnguyên mẫu cuộc sống đặt vào tác phẩm mà nó phải đợc "tinh lọc" qua một thấukính đặc biệt đó là tâm hồn của nhà nghệ sỹ ngôn từ Điều này cũng cho ta thấy đợc
tính khu biệt giữa văn học với các môn học khác Nhà văn là ngời phải biết "khơi
những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những gì cha có" (Nam Cao).
Trong nền văn học Việt Nam chúng ta có thể tìm thấy những hình tợng ngờinông dân quen thuộc Cùng viết về đề tài này nhng tác phẩm của Nam Cao khônggiống với Ngô Tất Tố… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Bởi vì trong văn học quan niệm nghệ thuật về con ngời củamỗi nhà văn nhất thiết là sản phẩm của sáng tạo cá tính nghệ sỹ Nó là mô hình đặcthù của nhà văn, mang tính chủ quan của nhà văn ở đây yếu tố khách quan đóngvai trò quan trọng nhng không thể quyết định Bởi mỗi nhà văn có một thế giớiriêng của mình Văn học phải bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, con ngời nhng đợcnhìn nhận từ góc độ nào thì phụ thuộc vào lăng kính chủ quan của ngời cầm bút.Thời đại nào cũng có mẫu ngời lý tởng của thời đại đó, thế nhng trong sáng tác củanhà văn không phải bao giờ cũng máy móc thể hiện cho đợc những chuẩn mực củathời đại mình Sự sáng tạo bao giờ cũng đợc đề cao đối với nghề văn Do đó nhà văntiếp thu những tinh hoa quá khứ nhng không lặp lại, gắn bó mật thiết với mặt bằng ý
Trang 13thức và văn hoá thẩm mỹ của thời đại đã sinh ra nó nhng nó vẫn là một giá trị độc
đáo
Cuộc sống và con ngời trong nguyên mẫu của hiện thực đi qua sự khúc xạ
đặc biệt của tâm hồn, thế giới tâm linh và nỗi niềm tâm sự của nhà văn mới trởthành hình tợng Vì vậy quan niệm nghệ thuật về con ngời là kết quả của sự khúc xạ
đặc biệt đó Quan niệm nghệ thuật về con ngời là cách nhìn, cách cắt nghĩa, đánhgiá, khái quát con ngời của nhà văn thông qua các phơng diện, các yếu tố của hìnhthức nghệ thuật trong tác phẩm Hình tợng trực tiếp của quan niệm về nghệ thuật, về
con ngời là các kiểu nhân vật khi Goorki cho rằng: "văn học là nhân học", tức là
ông quan niệm văn học thể hiện con ngời, vì con ngời
Con ngời (ngời ly khách) trong thi phẩm "Tống biệt hành" của Thâm Tâm là con ngời hiện đại, có ý thức cá nhân muốn khẳng định mình qua cái "Tôi" trữ tình Cái "Tôi" cá nhân là sản phẩm của văn học lãng mạn 1930 - 1945 Nhng rõ ràng
con ngời này cha thoát khỏi mô típ của mẫu ngời văn học cổ, mang dáng dấp củatráng sỹ phu thủa trớc Nh vậy con ngời trong bài thơ của Thâm Tâm vừa mang tínhkhả biến vừa mang tính bất biến chứ không hoàn toàn theo một mẫu chung nào cả
ở một góc độ nào đó Goorki quan niệm: "tính cách nhân vật hình thành do lấy ít
nhiều của ngời khác, cùng một hàng với xã hội của nhân vật".
Quan niệm của mỗi nhà văn không giống nhau, chẳng hạn trong thơ Tố Hữu
chủ yếu là "con ngời chính trị", con ngời trong nhiều mối quan hệ; thi pháp thơ ờng ngời ta từng quan niệm " con ngời xã hội", " con ngời vũ trụ", bởi thế tác phẩm
Đ-bộc lộ yếu tố chủ quan của cá nhân nhà văn E.Z Vatxcaia viết về quan niệm conngời trong văn học cổ Trung Quốc, Nhật Bản… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Đó là quan niệm về thế giới và conngời nh là một hiện tợng văn hoá, lịch sử có tính loại hình, dựa trên lý luận của Mác
về sự tơng ứng giữa cấu trúc nhân cách, sự tự cảm thấy của con ngời với hình tháikinh tế - xã hội
Trần Đình Sử thì cho rằng: Quan niệm nghệ thuật về con ngời "là khám phá
cảm nhận con ngời qua việc miêu tả nhân vật, cảm nhận qua nhân vật, các loại nhân vật này, loại nhân vật, thuộc tác phẩm này … một khi đã hiểu quan niệm con một khi đã hiểu quan niệm con ngời đợc miêu tả thì chúng ta hiểu nhân vật này sâu hơn, toàn diện hơn"[12; 29]
Theo quy luật vận động: cái mới ra đời để thay thế cho cái cũ Bởi vậy nhàvăn muốn phản ánh chiều sâu phong phú của cuộc sống con ngời thì phải có quanniệm không ngừng mở rộng, không ngừng đổi mới, phù hợp với từng thời đại,
Trang 14không thể cứ giữ mãi trong mình quan niệm về con ngời bất biến khi nó đã trởthành ấu trĩ, lỗi thời Có nh vậy nhà văn mới vơn tới chiều sâu chiếm lĩnh đời sốngbằng nghệ thuật cũng nh chất thơ và vẻ đẹp do cách chiếm lĩnh ấy mang lại.
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là phạm trù cơ bản nhất của thi pháp học
Nó hớng ta nhìn về đối tợng chủ yếu của văn học, trung tâm quan niệm thẫm mỹcủa nghệ sỹ Con ngời từ cuộc sống đời thờng đi vào văn học không phải là một bảnsao chép y nguyên, mà đi qua lăng kính tâm hồn ngời nghệ sỹ nên nó trở thành hìnhtợng nghệ thuật Hình tợng nghệ thuật (nhà văn - con ngời) trong tác phẩm bao giờcũng mang tính quan niệm, tức là phản ánh, miêu tả, thể hiện nhân vật bao giờ cũng
gửi gắm t tởng, tình cảm của tác giả Chẳng hạn qua nhân vật Hộ trong "đời thừa"
của Nam Cao, nhà văn không chỉ tạo dựng một hình tợng ngời trí thức tiểu t sảnphải sống trong bi kịch dày vò đau đớn mà còn thể hiện niềm cảm thông sâu sắc,
đồng thời tố cáo xã hội bất công đã bóp nghẹt những ớc mơ tốt đẹp của nhà vănchân chính
Con ngời trong văn học đợc xem xét không phải ở phạm trù tồn tại mà xemxét con ngời ở các mối quan hệ tự nhiên, xã hội (bên trong, bên ngoài) Đó là sựkhám phá con ngời trên mọi lĩnh vực
Cuộc sống đa chiều phức tạp là cái đích mà văn học hớng tới Nó là nguồncảm hứng vô tận để nhà văn khám phá dới nhiều góc nhìn khác nhau Nghiên cứuvăn học là đi sâu tìm tìm hiểu cuộc sống thông qua tìm hiểu đối tợng con ngời trongtác phẩm
Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các thời đại không giống nhau bởi thời
đại nào con ngời ấy, không thể có một mẫu ngời chung cho mọi thời đại
Thần thoại là thể loại "một đi không trở lại" (Mac) ra đời khi xã hội cha phân
giai cấp Trong thần thoại, quan niệm nghệ thuật về con ngời gắn với các hiện tợng
tự nhiên, đó là những ngời khổng lồ, có khả năng siêu Việt "đội đá vá trời" nh: bà Nữ Oa, "thần trụ trời" Con ngời đã đợc thần thánh hoá để thể hiện khát vọng chinh
phục thiên nhiên và sự lý giải cho các hiện tợng tự nhiên
Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong truyện dân gian khác với quan niệmnghệ thuật về con ngời trong văn học nghệ thuật trung đại bởi vì nó gắn với hai thời
đại khác nhau nên hệ thống thi pháp cũng khác nhau
Truyện cổ tích ra đời khi xã hội bớc đầu hình thành giai cấp, thế nhng, trình
độ văn minh còn thấp kém, con ngời gắn với vũ trụ bao la, ý thức cá nhân cha phát
Trang 15triển Con ngời trong truyện cổ tích không phải là con ngời tâm lý với những quátrình diễn biến nội tâm đầy biến động Nhân vật trong truyện cổ tích là nhân vậtthực hiện chức năng nhất định nào đó nh một sự gửi gắm khát vọng ớc mơ hớng tớiChân, thiện, mỹ Nhân vật của truyện cổ còn đợc gọi là nhân vật đơn tuyến.(Nhânvật thuộc tuyến thiện hay tuyến ác thì từ mở đầu cho đến kết thúc đều thuộc tuyến
ấy, không có sự biến đổi trong quá trình "va chạm" với môi trờng xung quanh)
Đến văn học trung đại, quan niệm nghệ thuật về con ngời có những biến đổikhác hơn Mặc dù con nguời vẫn chịu ách thống trị phong kiến nặng nề nhng conngời đã có một trình độ phát triển cao hơn để nhận thức thế giới Giữa con ngời và
tự nhiên có một khoảng cách Nếu nh ở thời cổ đại tự nhiên là sức mạnh khủngkhiếp mà con ngời cha đủ khả năng để chinh phục mà chỉ có lý giải hoặc thông quacác hình tợng gắn liền với khát vọng vơn tới của con ngời cổ đại để chiếm lĩnh tựnhiên, khắc phục tự nhiên thì đến văn học trung đại, ở một chừng mực nhất địnhcon ngời dần chiếm lĩnh đợc tự nhiên, con ngời đợc coi là một tiểu vũ trụ Trongcon mắt của họ vũ trụ là vĩnh cửu, vũ trụ đợc xem nh tiêu chí để đánh giá phẩm chấtcủa con ngời và đó cũng là chuẩn mực mà con ngời hớng tới
Trong "truyện kiều" của Nguyễn Du, thi hào đã lấy thiên nhiên làm chuẩn
mực cho cái đẹp khi so sánh những phẩm chất của con ngời Nói về sức mạnh của
Từ Hải, tác giả viết:
Đội trời đạp đất ở đời
Họ từ tên Hải vốn ngời Việt Đông
Còn miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân thì:
Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cời ngọc thốt đoan trang
Mây thua nớc tóc tuyết nhờng màu da
Thuý Kiều thì "sắc sảo mặn mà" bởi:
Làn thu thuỷ nét Xuân Sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Nhìn con ngòi dới kích thứoc vũ trụ, các nhà văn trung đại Việt Nam quanniệm con ngời có khát khao muốn vơn tới những giá trị vĩnh cửu của tự nhiên Conngời sống hoà mình vào tự nhiên để tìm đến một cõi bất tử Đây chính là triết lýchung của ngời Phơng Đông
Trang 16Văn học trung đại Việt Nam tồn tại gắn liền với hình thái xã hội phong kiến
có lúc thịnh có lúc suy nên các nhà văn nhìn con ngời nh là con ngời lệ thuộc, conngời bi kịch, con ngời nạn nhân
Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc đã có cái nhìn đa dạng đa biến về đời sốngtinh thần phức tạp của con ngời Nguyễn Du mô tả con ngời nh những trang, đấng,bậc (nhân vật - bậc anh hùng cái thế) Nguyễn Du cũng miêu tả con ngời nh nhữngthân phận (nhân vật Thuý Kiều) Nhiều lần trên trang thơ của Nguyễn Du xuất hiện
chữ "thân": "Thân bồ liễu"; "chút thân"; "thân tàn"; "chiếc thân" để nói lên con
ngời nhỏ bé trớc cái nhìn của Nguyễn Du Ông đã hoà mình với cuộc sống củanhững con ngời dới đáy xã hội để quan sát Con ngời với chút thân là cách nhìn conngời với t cách là một cá nhân nhng cá nhân này vừa mới xuất hiện trong xã hội đã
bị bão táp thù địch vùi dập Cho nên nó cảm nhận hết tính bi kịch của con ngời này
Đây chính là yếu tố không có sẵn, nói cách khác nó là ý muốn chủ quan của nhàvăn Vì vậy nhân vật của Nguyễn Du mang tính đa chiều mà điển hình là nhân vậtThuý Kiều
Nhân vật Thuý Kiều trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du khác hẳn nhân vật Chị Dậu trong tác phẩm "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố Quan niệm nghệ thuật về con
ngời là sáng tạo đặc thù của mỗi nhà văn nên Thuý Kiều của Nguyễn Du phải
"thanh y hai lợt thanh lâu hai lần" Cuộc đời nàng phải trải qua bao gió dập ma vùi.
Nhng rồi cuối cùng nàng cũng đợc "đoàn viên" cùng gia đình để hởng cuộc sống
hạnh phúc Còn Ngô Tất Tố nhà văn sáng tạo ra tác phẩm khi con ngời đã có một
b-ớc phát triển cao hơn về mặt trí tuệ và nhận thức - con ngời hiện đại Con ngời dầndần tách mình ra khỏi tự nhiên và trở thành một thế giới độc lập để nhìn vào tựnhiên nh một đối tợng ngoài mình Con ngời đã có ý thức về cá nhân đồng thời nócũng cha thoát khỏi những quan hệ mang tính chất cộng đồng Nó khao khát giảiphóng cá tính tự do nhng điều kiện cho cuộc giải phóng đó cha hoàn thiện Cho nêncá nhân đó thờng lâm vào bi kịch nhà văn không còn bị ràng buộc trong những chân
lý nghệ thuật mang tính giáo điều, họ có thể nhìn vào thế giới con ngời từ nhiều góc
độ và phát hiện ra thế giới đó tính chất phức tạp của nó Chính vì vậy con ngời trongvăn học là con ngời cá thể nhng không tách khỏi cộng đồng Con ngời số đôngtrong xã hội và nhân vật số đông trở thành một ám ảnh nghệ thuật Soi vào tác phẩm
"Tắt đèn", ta thấy đợc bức tranh xã hội nông thôn lúc bấy giờ với một tập thể ngời
Trang 17nông dân lao động, đói nghèo, cơ cực, cam chịu,… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng ngợc lại một tập thể bọn quan
lại cầm quyền thì hách dịch, tham lam, đẩy ngời nông dân vào "bớc đờng cùng".
Quan niệm nghê thuật là sáng tạo đặc thù của mỗi nhà văn, Ngô Tất tố đã xâydựng cho mình một nhân vật rất có cá tính đó là Chị Dậu - điển hình cho vẻ đẹp củangời phụ nữ Việt Nam: Đảm đang, tháo vát, thông minh và sắc sảo Nhà văn đã pháthiện ra vẻ đẹp của ngời phụ nữ nông thôn, thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối vớicuộc sống vất vả cực nhọc của ngời nông dân Cao hơn, nhà văn thể hiện thái độrạch ròi, phân minh, dứt khoát dựa trên lập trờng của ngời lao động: Đối với bọnquan lại ông đả kích đến cùng, còn những ngời lao động ông bảo vệ đến cùng
Nh vậy giữa hai nhân vật Thuý Kiều và Chị Dậu tuy có tình huống, có hoàncảnh gần giống nhau nhng giữa hai nhân vật này lại có lối thoát khác nhau bởi đó làcon ngời dới hai cách nhìn nghệ thuật khác nhau
Cùng là "con ngời hiện đại" nhng nhân vật Chị Dậu lại khác nhân vật Mị trong "vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài Mị cũng là một ngời nông dân chịu nhiều cay
đắng dới sợi dây ràng buộc của cờng quyền và thần quyền - chế độ phong kiến miềnnúi Nếu nh ở nhân vật Chị Dậu khi bị đẩy đến "bớc đờng cùng" cũng có ý thứcphản kháng nhng không có lối thoát, nên cuối cùng rơi vào bị kịch của sự bế tắc thìTô Hoài đã tìm cho nhân vật Mị một con đờng đi mới - con đờng hớng tới tơng lai
Từ khi bị bắt về nhà thống lý Bá Tra, Mị là "cô con dâu gạt nợ" Mị trở thành một
công cụ biết nói, một nô lệ cho nhà Bá Tra Mị không hề có ý thức tự do cá nhân, cóchăng chỉ là một chút thoảng qua để rồi ngụp lặn trớc sức mạnh của cờng quyền vàthần quyền mà lễ giáo phong kiến đã đặt ra Nhng sau khi cởi trói cho A Phủ - mộtnạn nhân nh Mị, Mị chợt nhận ra cần phải giải phóng cho chính mình Cả Mị và APhủ cùng chạy đến Phiềng Sa, gặp cán bộ cách mạng A Châu và cả hai cùng thamgia cách mạng
Sở dĩ Chị Dậu còn rơi vào bế tắc vì lúc này hiện thực đất nớc đang bị đè nặngbởi bóng đêm Còn khi dòng văn học cách mạng ra đời đã mang một hơi thở, mộtluồng sinh khí mới bởi con ngời đã có một hớng đi đầy lạc quan Lúc này ánh sángcủa đảng, của cách mạng đã soi vào nhãn quan sáng tác của nhà văn Điều này cũngchứng tỏ các nhà văn có cái nhìn độc đáo đối với con ngời Các nhà văn không bắtchớc, không lặp lại mà có sự sáng tạo mang tính dấu ấn phong cách Chính vì thếcùng viết về một đề tài, một chủ đề nhng mỗi tác phẩm có sức hấp dẫn riêng có giátrị trờng tồn mãi trong lòng độc giả
Trang 183 Cái nhìn chung đối với quan niệm nghệ thuật về con ngời của Phan Bội Châu.
3.1 Không ít ngời cho rằng thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyềnchính trị Nó nh một phơng tiện nghệ thuật để góp phần thực hiện mục đích chínhtrị, trong bối cảnh đó thơ văn hớng tới chính trị là vinh quang của ngời cầm bút Nh-
ng thơ văn Phan Bội Châu trớc hết phải đợc quan sát nh một nghệ thuật, một nghệthuật đã đợc sáng tạo một cách chân thành không bị một lực nào xô lật, một nghệ
thuật đã phản ánh hiện thực con ngời thời đại không phải bằng ngòi bút "lạnh
lùng", "khách quan" của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa mà bằng sự khúc xạ qua
tâm sự nóng bỏng của mình, qua sự nhận thức chính mình để nhận thức con ngờithời đại Nghệ thuật ấy phát hiện con ngời ở nhiều chiều kích tồn tại, chứ khôngphải chỉ là con ngời công dân, con ngời chính trị Nghệ thuật ấy phát hiện con ngờitrong từng bớc chuyển biến về chất mà lại nhất quán từ khởi đầu đến kết thúc
3.2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của một nhà văn nhất thiết là sảnphẩm sáng tạo của cá tính nghệ sỹ Không thể khảo sát quan niệm nghệ thuật củanhà văn từ các yếu tố ngoài văn bản nh thời đại, lịch sử, gia đình và bản thân, ditruyền và huyết thống, nền giáo dục và hệ ý thức mà nhà văn chịu ảnh hởng, hoạt
động chính trị và sứ mệnh lịch sử của nhà văn Không thể phủ nhận vai trò của yếu
tố này nhng nó chỉ có thể có vai trò đối chiếu các yếu tố hình thức nghệ thuật của
văn bản tác phẩm để tìm ra tính "quy luật" hình thức chứ bản thân chúng không thể
quyết định giá trị nghệ thuật của văn bản tác phẩm Đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về Phan Bội Châu nhng phần lớn họ xem Phan Bội Châu là nhà chínhtrị, nhà quân sự… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Điều đáng tiếc là họ đã không nhìn Phan Bội Châu nh một nghệ
sỹ ngôn từ
Qua đây ta thấy rằng, quan niệm nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệthuật về con ngời nói riêng của Phan Bội châu không thể là bản sao chép của yếu tốngoài văn bản Thông qua việc khảo sát thi pháp nhân vật trong tác phẩm của ông,
ta thấy các nhân vật của ông là những ngời của hiện thực thời đại mà ông đã từngsống và thể nghiệm
3.3 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong sáng tác trữ tình trớc hết là sự tựphát hiện, tự nhận thức, tự cảm về chính mình thông qua nhân vật trữ tình Sự
Trang 19nghiệp thơ văn của Phan Bội Châu có thể chia thành ba thời kỳ sáng tác, mỗi thời
kỳ ứng với mỗi cách nhìn, cách nghĩ của ông về con ngời Nhân vật trữ tình trongmỗi thời kỳ không phải là một mẫu chung bất biến mà có sự thống nhất trong pháttriển
Trớc 1905, con ngời trong sáng tác trữ tình của Phan Bội Châu từ một con
ng-ời thao thức trong cuối thế kỷ XIX "cả nớc ngủ mê" đến con ngng-ời bừng tỉnh trong
bình minh thế kỷ mới mang lại ý chí cuả mình khao khát chinh phục không gian,làm chủ những giá trị, những chân trời mới
Đến thời kỳ thứ hai - 20 năm hoạt động và sáng tác oanh liệt ở nớc ngoài, lúcnày, sáng tác của ông có cả chính luận và lịch sử, có cả thơ văn trong tù Phan BộiChâu viết về mình nhiều hơn Con ngời trong sáng tác nghệ thuật Phan Bội Châulúc này là con ngời thức tỉnh, con ngời luôn tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc
và nỗi niềm đau xót của con ngời Việt Nam trong thời đại "vong quốc nô" Các tác phẩm tiêu biểu nh: "hải ngoại huyết th", "cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông",
"trùng quang tâm sử", … Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng đã vẽ nên hình tợng con ngời phi thờng, con ngời ngangtầm với vũ trụ
Nhng đến thời kỳ cuối cùng, Phan Bội Châu quan niệm về con ngời có khác
Đó là con ngời sầu khổ, con ngời buồn nản, con ngời niềm tin hy vọng nhng cũng làcon ngời tuyệt vọng Dù quan niệm về con ngời có khác nhng vẫn có mô hìnhchung về quan niệm con ngời của thời đại ông trong cả quá trình sáng tác và thời
đại
Thơ văn cách mạng nói chung đã hiện lên sáng ngời hình ảnh những con ngờiViệt Nam không bao giờ khất phục, đang điểm tô non sông đất nớc bằng xơng máucủa mình Chính vì thế, điều mà họ băn khoăn day dứt là trách nhiệm của ng ời thân
sĩ, của kẻ làm trai, cái nhục của ngời mất nớc, nỗi khổ của dân tộc, bao nhiêu oantrái đang diễn ra trong xã hội, từng giờ, từng phút thôi thúc họ hăm hở lên đờng
"muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi" để cứu nớc.
Trong thời kỳ này các sỹ phu đã giấy lên một phong trào cách mạng sôi nổi.Nhng rồi, trên bớc đờng cách mạng, họ đã gặp biết bao khó khăn, gian khổ Tronggian khổ hy sinh đó hình ảnh của họ thêm rực sáng
Nọ núi ấn, này sông đà Non nớc ấy mà chờ ta thêu dệt
(Bài ca lu biệt - Huỳnh Thúc Kháng)
Trang 20Còn Phan Châu Trinh luôn hiên ngang, lạc quan, thách thức đời dù phải sống
đày ải nơi chốn Côn Lôn:
Những kẻ vá trời khi lỡ bớc Gian nan chi kể việc con con
(Đập đá Côn Lôn - Phan Châu Trinh)
Qua đây ta thấy rằng: Trong sáng tác của Phan Bội Châu cũng nh Phan ChâuTrinh, Huỳnh Thúc Kháng và các nhà thơ nhà văn cách mạng khác cùng thời đềunói về con ngời với mô hình chung của con ngời thời đại Đó là con ngời khổng lồ,con ngời ý chí vợt qua mọi gian khổ để thực hiện khát vọng của mình Con ngời ấyngang tầm với con ngời vũ trụ
Nh vậy trong ba thời kỳ tuy quan niệm nghệ thuật về con ngời của Phan BộiChâu có sự khác nhau nhng nó đều có sự phát triển và nhất quán Con ngời ấy vừahoà nhập vào khách thể trữ tình, vừa gửi gắm tình cảm khát vọng của mình vàokhách thể trữ tình Tất cả đều có chung mô hình quan niệm con ngời mà thời đại
ông đã từng sống và thể nghiệm
Chơng 2 Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu trớc 1905
"Thơ trữ tình là thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó những cảm xúc và suy t của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trớc các hiện tợng đời sống đợc thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những hiện tợng phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những t tởng triết học"[10; 317]
Nói đến thơ là nói đến cái tôi của nhà thơ, đặc biệt là những tác phẩm thơ trữ
tình thì cái "tôi" trữ tình của nhà thơ bộc lộ rõ nhất "Thơ là cái nhuỵ cuộc sống"
(Sóng Hồng) Thơ là tiếng nói đồng tình, đồng ý, đồng chí, là tiếng nói trữ tình củathời đại, là tấm gơng soi trung thực của các sự kiện lịch sử - xã hội Vì vậy thơ làviên ngọc long lanh dới ánh sáng mặt trời Thơ là thơ đồng thời cũng là hoạ, là nhạcchạm khắc theo cách riêng… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng Thơ là nghệ thuật bậc nhất của trí tởng tợng (SóngHồng)
Đến với tác phẩm thơ trữ tình không thể bỏ qua nhân vật trữ tình Trong
ch-ơng 2, chch-ơng 3 và chch-ơng 4 chúng tôi sẽ tìm hiểu những biểu hiện khác nhau củanhân vật trữ tình trong thơ Phan Bội Châu, phân tích, lý giải để đi đến xác định
Trang 21quan niệm nghệ thuật về con ngời thông qua nhân vật trữ tình trong suốt các tácphẩm trữ tình của ông Muốn vậy, trớc hết ta phải hiểu nhân vật trữ tình là gì?
Các nhà lý luận văn học Liên xô (cũ) nh L.I Ti mô phê ep, G.N Pôxpêlôp xác
định nội dung trữ tình là tính cách xã hội đợc biểu hiện qua nhân vật trữ tình Khái
niệm nhân vật trữ tình do T nhi a nốp đa ra năm 1921 "nhằm vạch ra ranh giới giữa
trữ tình trong thơ và tác giả - nhà thơ" Đó là một bớc tiến, song trong tơng quan đó
là cái tôi trữ tình của nhà thơ lại đợc thu hẹp Thực ra, nhân vật trữ tình là "phơng
thức bộc lộ ý thức tác giả Đó là hiện tợng nhà thơ trong thơ trữ tình"[10; 212].
Khái niệm nhân vật trữ tình trở thành một khái niệm quan trọng trong nghiên cứuvăn học đối với loại và thể loại trữ tình
Tác phẩm văn học thuộc loại trữ tình bao giờ yếu tố chủ thể cũng giữ vai tròhết sức quan trọng Tiếng nói trong tác phẩm trữ tình là tiếng nói chủ thể nhà vănhoặc ở dạng trực tiếp hoặc ở dạng gián tiếp mà chủ thể hoá thân vào Hê gen xem
thơ trữ tình là biểu hiện của chủ thể và cảm thụ chủ thể Ông nói "cần phải khẳng
định một chủ thể cụ thể - nhà thơ nh là điểm tập trung và nội dung đích thực của thơ trữ tình" ở thơ trữ tình "Cá nhân là tập trung quan niệm và tình cảm nội tại của nó"[10; 217] Cơ sở để Hê gen xác định quan niệm của ông là thơ ca La mac
tin
Nhân vật trữ tình là hình tợng chủ thể của tác giả trong loại hình văn học màthơ là thể loại biểu hiện tập trung nhất của loại trữ tình Nhân vật trữ tình thực ra làhình tợng nhà thơ Nội hàm khái niệm này khá rộng nhng tựu chung lại bao gồmhai phơng diện cơ bản: Phơng diện thứ nhất là cái tôi nhà thơ; phơng diện thứ hai làcon ngời đồng dạng tác giả Cả hai phơng diện không hoàn toàn tách bạch mà thống
nhất với nhau, đó chính là nhà thơ hiện ra "văn bản của kết cấu trữ tình".
Khi xem xét nhân vật trữ tình không nên đồng nhất giản đơn giữa nhân vật
trữ tình với tác giả bởi vì nhân vật trữ tình là "là con ngời "đồng dạng" của tác
giả-nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình nh một con ngời có đờng nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định, có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi
có nét vẻ chân dung (mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm của nhân vật nh trong tác phẩm tự sự hay kịch)"[10; 201]
Trong tác phẩm trữ tình nhà thơ xuất hiện nh "ngời đại diện cho xã hội và
nhân loại" (Bi ê lin x ki) nhà thơ tự nâng mình lên một tầm khác với cái tôi trong
đời thờng cá biệt
Trang 22Tóm lại, nhân vật là hình thái biểu hiện trực tiếp của quan niệm nghệ thuật vềcon ngời, quan niệm là cốt lõi t tởng của tác giả về cuộc sống Quan niệm nghệthuật về con ngời là sáng tạo nghệ thuật của nhà văn nhằm cắt nghĩa, lý giải, đánhgiá con ngời, phát hiện những vấn đề về số phận và tơng lai của nó Trong sáng táccủa Phan Bội Châu nhân vật trữ tình luôn xuất hiện để trực tiếp bộc lộ thái độ củatác giả.
Từ khi còn là thanh niên với sức mạnh "đạp toang hai cánh càn khôn" và
"khí phách hiên ngang không ai bì đợc" cho đến lúc trở thành ông già bến ngự,
Phan Bội Châu luôn bộc lộ nỗi niềm, bộc lộ tâm sự và quan niệm nghệ thuật về conngời của mình một cách nhất quán
Phan Bội Châu lớn lên trong lúc Pháp đã thống trị Nam Kỳ lục tỉnh Phan đauxót chứng kiến sự thất bại của phong trào Cần Vơng trên toàn quốc ở Nghệ Tĩnh,Cao thắng tử tiết, Phan Đình Phùng cũng chết mấy năm sau Hy vọng phục quốc cơ
hồ nh biến thành tuyệt vọng Triều đình Huế đầu hàng quân xâm lợc, làm tay saicho giặc Lũ theo tây vênh váo kiêu căng Trong đám nhà nho, số chê rau Vi đắng
ngày thêm đông, thái độ cầu an phát triển, nhiều ngời ra làm tôi cho giặc, lớp "trinh
bạch" thì nh hãm vào thế bí Uy thế cuả địch đang lên mạnh Công nhân đang trên
đờng hình thành giai cấp nhân dân mời mấy triệu vẫn là bổi khô, nhng hãy chờ ngờitập hợp và châm lửa
Lúc đất trời Việt Nam u ám nh thế là lúc Phan Bội Châu "hoặc ngồi lắc gối
thầy đồ" dùng kinh, truyện, sử nhất là việt sử để dạy dỗ thanh niên hoặc mang bầu
nhiệt huyết rảo chân khắp nớc, thăm dò lòng ngời, tập hợp các ý chí tốt còn rời rạc,
khuyến khích những ai còn hoài nghi, dựng đứng lên những ai xiêu ngả, viết "lu
cầu huyết lệ tân th" Cho đến đây là giai đoạn thứ nhất trong cuộc đời chí sỹ của
Phan Bội Châu cũng là giai đoạn thứ nhất trong sự nghiệp văn chơng của cụ Ngòi
bút lông thấm mực huyết lệ của ông "đầu xứ" nghệ đã làm rung động tâm hồn dâm
tộc trong hàng ngũ thân sỹ ba kỳ
1 Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu trớc 1905 là con ngời thao thức kiếm tìm lẽ sống.
Trong cuộc đời cuả mỗi con ngời đều có một mục đích sống riêng ở từng thời
đại khác nhau gắn với lý tởng sống khác nhau Điều đó đợc thể hiện rất rõ qua con
ng-ời - nhân vật trong tác phẩm văn học
Trang 23Giáo sự Đặng Thai Mai đã từng nhận xét: "đến đầu thế kỷ XX, ngới đọc Việt
Nam chỉ còn lắng nghe một vài tiếng cời thâm trầm đau đớn của một ông nghè đã già nhng cha chết và tiếng cời cay độc xót xa của một thầy tú cha già nhng sắp chết"[2; 31] Con ngời khi rơi vào bi kịch đều cảm thấy đau đớn giữa sự giằng xé một bên là
những khát vọng và một bên là hiện thực cuộc sống không thể thực hiện đợc khát vọng
đó Bi kịch lớn nhất của ngời tri thức là bi kịch mất lẽ sống, mất tự do tồn tại
1.1 Bi kịch mất lẽ sống của một thế hệ (qua thơ Tú Xơng) đến ý thức đi tìm lẽsống của Phan Bội Châu
Cuối thế kỷ XIX, một nỗi buồn bao phủ tâm hồn con ngời Việt Nam Mọi giá trị
cũ có nguy cơ sụp đổ Thơ Tú Xơng đã tái hiện lại hình ảnh con ngời và hình ảnh sinhhoạt của xã hội phong kiến Dới ngòi bút của Tú Xơng, bộ mặt tinh thần của xã hộiphong kiến đã mang rõ nét tính chất thực dân hoá Mấy trăm năm trớc, rồi mấy chụcnăm tiếp theo dới nhà Nguyễn, nói chung Nho giáo đợc đề cao, thế mà trong phútchốc, trớc dòng thác của chủ nghĩa thực dân nó rệu rã không còn gì:
Đạo học ngày nay đã chán rồi Mời ngời đi học chín ngời thôi Cô hàng bán sách lim dim ngủ Thầy khoá t lơng nhấp nhổm ngồi
Sỹ khí rụt rè gà phải cáo Văn chơng liều lĩnh đấm ăn xôi
(Đạo học)Bài thơ phản ánh rất rõ tình trạng suy đồi của Nho học Chính sự suy đồi này
đã làm cho tâm lý của ngời theo Nho học cũng biến đổi: "Ông nghè ông cống cũng
nằm co" Cả một thế hệ nhà Nho đều phải chịu đựng cuộc sống bị vây bủa bởi
những màu hắc ám của xã hội " … một khi đã hiểu quan niệm con Một nỗi chán ch ờng buồn tủi miên man đã rũ váng vào tâm hồn của "con ngời tri thức" sau cơn chớp bể ma nguồn"[2; 33] Nỗi u
hoài tuyệt vọng của Nguyễn Khuyến, tâm trạng bế tắc đau buồn trong kiếp sốngmòn củaTú Xơng là biến thái khác nhau cả bi kịch thời đại đợc khúc xạ qua nghệthuật của các ông Những biến thái tâm trạng này khá điển hình cho tâm lý thời đại.Ngoài bọn tri thức cơ hội tự bán lơng tâm mình thì sống yên thân một cách trơ trẽn,phần đông tri thức nho sinh đều mang nỗi buồn thời đại, một nỗi buồn mà Tú Xơng
đã thay mặt nói cho tất cả
Trời không chớp bể chẳng ma nguồn
Trang 24Đêm não đêm nao tớ cũng buồn
Hay là:
Kìa cái đêm nay mới gọi đêm Mắt giơng không ngủ bụng không thèm Tình này ai tỏ cho ta nhỉ
Tâm sự năm canh một ngọn đèn.
"Tâm sự năm canh" là tâm sự của một giai tầng Các nhà thơ nh nhà thơ Từ
Diễn Đồng, Phạm ứng Thuần, Nguyễn Khuyến… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng cũng cùng tâm trạng nh Tú Xơng,
và cũng giống nh Tú Xơng họ thờng dùng đêm tối để nói lên tâm trạng bế tắc của
họ Từ nỗi buồn đêm ấy, Tú Xơng đã tìm thấy cách ứng xử phổ biến nhất: "Ngủ
quách sự đời thay kẻ thức" vì "thiên hạ dễ thờng đang ngủ cả" nên "việc gì mà thức một mình ta".
Nhân vật ngời ngủ mê trong thơ Tú Xơng là một cách nhìn độc đáo về con ngờitrong những đêm cuối thế kỷ
Bớc vào thế kỷ XX bầu không khí xã hội Việt Nam cũng chứa đựng sự ngột
ngạt Con ngời xã hội của Phan Bội Châu lúc này chỉ là con ngời "ẩn nhẫn nấp
náu" "lắc gối thầy đồ" nhng con ngời trong quan niệm nghệ thuật của ông qua sáng
tác thơ trữ tình lại là một con ngời khác - con ngời ý thức đi tìm lẽ sống
Nh trên đã nói, bi kịch lớn nhất của ngời tri thức là bi kịch mất lẽ sống mất lý
do tồn tại Con ngời có nhiều phơng diện để khẳng định lẽ tồn tại của mình Đối vớinho sỹ, trung hiếu cũng là một lẽ tồn tại Trong bài vịnh Thuý Kiều (1896) tác giảviết:
Hiếu tâm nhất niệm đạt trùng thiên Nhục cảnh vinh trờng tổng túc duyên Không sắc thiên thu giai bất phá
Thanh danh tứ hải cạnh tơng truyền
Dịch nghĩa:
Một tấm lòng hiếu thảo thấu đến tận trời Cõi nhục trờng vinh đều là duyên nợ kiếp trớc xui nên Chữ "không", chữ "sắc" tự ngàn xa không sao vỡ lẽ Tiếng tăm của nàng đã làm cho khắp nơi truyền tụng
Nhân vật trữ tình đã tìm thấy một niềm đồng cảm với Thuý Kiều, một tấmlòng hiếu thảo thấu đến tận trời Hiểu rõ cuộc đời của Thuý Kiều ta mới thấy hết đ -
Trang 25ợc ý nghĩa của sự đồng cảm của nhân vật trữ tình Thuý Kiều là cô gái tài sắc vẹntoàn đã dành trọn tình yêu của mình cho Kim Trọng Nhng lẽ sống của nàng không
đi theo tiếng gọi của trái tim mà khi gia đình gặp "gia biến", Kiều đã hi sinh chữ tình, "trao duyên" cho em là Thuý Vân để bán mình chuộc cha, nghĩa là nàng muốn giữ trọn chữ hiếu trong "cõi nhục trờng vinh" Con ngời ta đi tìm lẽ sống, phải biết
hy sinh khát vọng này để hiến dâng giá trị nọ Trong cách nhìn của tác giả thì đó là
quả báo, là "duyên nợ kiếp trớc xui nên" Đó là cách nhìn truyền thống về số phận
con ngời, cha có gì mới so với các nhà nho trớc kia và ngay cả với các nho sỹ anhhùng, bởi vì họ đều qui sớng - khổ, thành - bại là do số phận, do mệnh trời đã định
đoạt Điều đáng nói ở bài thơ này là niềm đồng cảm xúc động của nhân vật trữ tình
đối với đối tợng của mình (Thuý Kiều) Rõ ràng bắt nguồn tự sự tự cảm của tác giả
về lẽ sống của mình - một kẻ hiếu tử, nhân vật trữ tình và Thuý Kiều là con của haithời đại khác nhau nhng giữa họ lại có điểm tâm giao là biết hy sinh cái nọ để dânghiến cái kia Có những năm tháng chàng thanh niên Phan Văn San đã hy sinh cảviệc học hành tiến thân và cả chí nguyện cao xa để chịu tang mẹ (bà mất năm 1884)
và sau đó là phụng dỡng cha già Điều đó đã đợc ông bày tỏ trong "Phan Bội Châu
niên biểu":
"Nhà tôi từ ông cao tổ trở xuống, đã bốn đời độc đinh, cha tôi là con thứ
đứng thừa tự Tôi cũng rất ít anh em Cha tôi goá vợ lại già ốm, dựa vào tôi mà sống Tôi là ngời hiếu thảo rất kính mến cha, phàm việc có thể liên luỵ đến cha là tôi hết sức tránh".
Cũng nói về chữ trung hiếu trong bài "Mừng cụ Đoàn Tử Quang" tác giả viết:
Trong khoa trờng âu có một không hai Làm trai đã đáng thân trai
Chữ trung hiếu hoà hai là hạnh thậm Việc thi cử học hành ai dễ cấm
Quyết làm sao cho "mã thợng cẩm y hồi"
Kẻo đến khi tóc bạc gia mồi.
Cụ Đoàn Tử Quang mặc dù đã già nhng vẫn đến trờng thi để mong sao manglại niềm vui cho bà mẹ đã 98 tuổi ở ta lại bắt gặp con ngời trung hiếu đợc Phan BộiChâu trân trọng chia sẽ niềm vui khi đã đỗ đạt
Trang 26Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu đã có ý rhức đi tìm một lẽ sốngmới, nó không chỉ thu hẹp trong nghĩa hiểu tử với mẹ cha mà mở rộng thành đạihiếu với trái tim nặng nghĩa ân tình hớng về tổ quốc:
Nhất thốn sơn hà nhất thốn kim
Đăng cao bất giác lệ triêm khâm Dã hoa dĩ phóng tân triều sắc Sơn điểu do đề cố quốc âm
Dịch nghĩa:
Một tấc non sông một tấc vàng Lên cao luống nhỏ lệ đôi hàng Triều âu đã nhuộm màu hoa mới Hồn nớc còn nghe tiếng quốc vang
ở đây ta bắt gặp bóng dáng một con ngời "nhỏ lệ đôi hàng" trong cảnh đắng
cay của dân tộc Nhân vật khát khao hớng tới "màu hoa mới" để thay đổi những đau
thơng mà đất nớc phải trải qua Chính vì tâm nguyện lớn lao đó con ngời đại hiếu
đã nhắn gửi:
Ai về nhắn với phờng trung nghĩa Thế sự ra ri nỏ lẽ ngồi
(Qua đò lách)
"Thế sự ra ri" là điều trăn trở lớn nhất trong cõi lòng cũng là câu hỏi lớn trên
con đờng đi tìn lẽ sống của nhà thơ
1.2 Con ngời thức tỉnh, tự ý thức
Mặc dù Phan Văn San đã từng hy sinh việc học hành tiến thân để chịu tang
mẹ và phụng dỡng cha già nhng "dòng máu nóng" của ngời con xứ nghệ từ lúc sinh
ra đã "không thích làm ngời tầm thờng" Con ngời thao thức kiếm tìm lẽ sống tự
phát hiện mình từ những chiều kích khác nhau Ngời thanh niên mạnh mẽ này từng
có một thời trai trẻ "ngông cuồng" Kẻ ngông cuồng ý thức đợc cái tài của mình.
Phần chắc anh ta cũng là hậu duệ của một lớp nhà nho tài tử đã từng sáng tạo cảmột thế kỷ văn học của ngời tài ca ngợi ngời tài để phản đối với những biến ảo khônlờng của cuộc đời dâu bể trong thời đại phong kiến suy tàn Thời trẻ Phan Văn San
là một ngời tài (lúc ba tuổi đã học thuộc lòng "tam tự kinh" trong 3 ngày, 7 tuổi vào
lớp học do cha dạy, đến 10 tuổi gửi đi học vì cha không đủ chữ… Trong địa hạt văn học, Phan Bội Châu là ng) Ông đã có ý
Trang 27thức về cái tài của mình Bài thơ sớm nhất báo hiệu ý thức cái tài của ông là "Hoa
khai bất cập xuân" (1882).
Đông hoàng tằng trớc nhãn
Dĩ hứa bách hoa khôi, Chỉ vị khiêm khiêm ý, Phiên giao tiệm tiệm khai
Dịch nghĩa:
Nhờ có chúa xuân để mắt tới Cho đứng hàng đầu trăm thứ hoa Nhng vì có ý khiêm tốn
Nên chỉ để nở từ từ.
Nhân vật trữ tình là ngời học trò trẻ ý thức rõ cái tài của mình "đứng đầu
trăm thứ hoa" nhng lại khiêm tốn "chỉ để nở từ từ".
Ngời tài ở thời đại Nguyễn Du lại khác, đó là những con ngời ngang nhiên
thách đố với đời: "Đội trời đạp đất ở đời" (Từ Hải), "không thèm" khiêm tốn nh
chàng nho sinh này Sự khiêm tốn của Phan Bội Châu trong ý thức về cái tài của cánhân mình có lẽ nằm trong quán tính t duy và ảm ảnh tâm lý của một thế kỷ cái tàicủa con ngời tuyên chiến với các thế lực thù địch và cuối cùng lâm vào bi kịch Cólần nhân vật với tấm lòng trung nghĩa đã khẳng định:
Còn trời còn đất còn vũ trụ Còn vua còn chúa hãy còn tôi
(qua đò Lách)Con ngời đợc đặt trong tơng quan với đất trời vũ trụ để khẳng định cái tôi và
sự tồn tại của bản thân trong bài "tự ngã" nhân vật trữ tình đã thêm một lần nữa khẳng định "tôi là ngời con gắng gỏi của đất nớc" Con ngời ấy "không quen làm
thân với tôi", "không thể cúi gằm mặt xuống đợc" Bởi lúc này đã ý thức đợc thời
cuộc mà "đau lòng buốt óc".
Trong cái không khí miên man buồn tủi "đêm cuối" thế kỷ, tầng lớp nho sinh
nh đều rơi vào bi kịch mất lẽ sống Bớc vào thế kỷ XX khi cha rủ bỏ nỗi buồn cốhữu đó, con ngời thức tỉnh trong thơ Phan Bội Châu đã mang đến một hơi thở mớihớng con ngời đi tìm một lẽ sống cho riêng mình
2 Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu là con ngời mang khao khát vơn tới những giá trị mới.
Trang 28ý thức về cái tài đến thời thanh niên hợp nhập với tính cách của con ngời xứ
sở đã phát triển đến độ chín trong cá nhân này tạo ra cái nhìn mới đối với con ng ờimình
2.1 Con ngời ý chí muốn vợt hoàn cảnh để khắc phục khoảng cách khônggian
Khoảng cách không gian có cả chiều cao, chiều sâu, chiều dài, chiều rộng trởthành một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc trong rất nhiều bài thơ của Phan Bội Châu.Tác giả đặt nhân vật vào trong không gian vũ trụ để tự soi ngắm mình Kể từ bài
"du đại huệ sơn cảm chiếm" nhân vật con ngời ý chí đã xuất hiện trong nghệ thuật
của ông:
Ngã vị đăng sơn thì, Chúng sơn ngã dữ tề Ngã ký đăng sơn thì
Ngã thị chúng sơn đê (1892)
Dịch nghĩa:
Khi ta cha lên núi Muôn ngọn núi đều bằng ta Lúc ta đã lên núi rồi
Ta nhìn muôn ngọn đều thấp hơn ta.
Nếu nh ở bài "Hoa khai bắt cập xuân" nhân vật trữ tình ý thức đợc tài năng
của mình nhng rất khiêm tốn thì đến bài thơ này nhân vật trữ tình đã tự ý thức vềmình ở một tầm cao mới Bởi nhân vật trong bài thơ là một con ngời mang khaokhát chinh phục không gian Khoảng cách không gian trong thực tế không có gì
đáng kể so với sức trai 26 tuổi, vấn đề là ở cấu trúc nghệ thuật bài thơ: Đó là hai cực
đối vị của một không gian từ chân lên đỉnh núi Thời gian "vị đăng sơn " là thờigian của những giá trị phổ cập bình thờng ở đó, cá nhân ta (ngã) cha có sự loại biệtvới số đông muôn vạn (chúng sơn) Số đông là u việt, là lực lợng vô địch, nhng số
đông sẽ vô địch tại chỗ dới một sự bình quân mù quáng làm cho bằng ngang tất cả(tề) Cái nhìn loại biệt là cái nhìn mang động lực phát triển của nhân loại ở bất cứ
thời đại nào nhân loại cũng cần có đỉnh cao Thời gian "ký đăng sơn" trong bài thơ
là thời gian đã thấu cái nhìn đó để đa nhân vật lên đỉnh cao nhất của không gian vàxét về giá trị, nhân vật đã vợt khỏi những giá trị phổ cập để vơn tới đỉnh cao giá trị
khác "Thị" cũng là nhìn nhng ở đây là nhìn trên đỉnh cao xuống Bài thơ là một cấu
Trang 29trúc đối lập giữa "ngã" với "chúng", giữa thời gian "vị" với thời gian "ký", giữa thớc ngắm thời gian "tề" với "đê".
Hình ảnh con ngời vợt lên đỉnh cao của không gian trong thơ Phan Bội Châu
nh có điểm tâm giao với con ngời trong "mới ra tù tập leo núi" của Hồ Chí Minh
sau này
Trong bài thơ "Du Đai Huệ sơn cảm chiếm" khao khát chinh phục không
gian chỉ là hình ảnh trực tiếp của nhân vật ý chí Trong bài thơ "qua đò Lách" conngời cũng đợc nhìn từ thớc ngắm không gian
Nom lên Hồng Lĩnh mây tuôn ngợc Ngó xuống Lam Giang nớc chảy xuôi
ở đây ta cũng bắt gặp hai hình ảnh đối ngợc: "Mây tuôn ngợc" và "nớc chảy
xuôi" có tác dụng vừa làm cho thiên nhiên hùng vĩ vừa tạo một không gian rộng lớn.
Trong cái không gian đó nhân vật đã khẳng định đợc lẽ tồn tại của mình "còn trời
còn đất còn vũ trụ; còn vua còn chúa hãy còn tôi".
Con ngời ý chí muốn vợt hoàn cảnh để khắc phục khoảng cách không giantiếp tục hiện hình trong những chiều kích không gian, thời gian đã xác định ở bài
"đề "hoè âm" biển" nhân vật này nói rõ xu hớng không gian của nó: "Tôi mang chí
kỳ lạ đi ra ngoài biển khơi" trong khi bạn mình "nơng náu đám mây xanh gửi tứ thanh nhàn".
Hai con ngời hiện lên với hai xu hớng không gian khác nhau tôi thì "ra ngoài
biển khơi" gợi lên sự trập trùng gian khổ đang đợi chờ phía trớc Anh thì "nơng náu trong đám mây xanh" để sống cuộc đời bình lặng thanh nhàn Dẫu ôm trọn trong
mình niềm tin và nghị lực nhng con ngời mang "chí kỳ lạ" vẫn cảm thấy cô đơn
"bóng chiều xế ngoài chân trời lẻ loi một chiếc chim hồng" nhng cánh chim hồng
luôn tự tin ở sức mạnh của mình Nó cảm thấy có "con sông dài cuồn cuộn chảy
giữa không gian".
Phan Bội Châu đã phác thảo đợc những nét mới lạ trên chân dung con ngời
dấn thân vào thế kỷ XX đầy bão táp "Hải hồ khoan" là một bài thơ độc đáo diễn tả
những ngời chèo thuyền trên biểi cả đầy sóng to gió lớn
Đây là một không gian đầy hấp dẫn vì mở ra trớc mắt con ngời Việt nam mới
những chân trời kỳ lan đầy quyến rủ: "ngợc gió mà xuôi dòng, ta sẽ vén xiêm mà
qua … một khi đã hiểu quan niệm con Dù Pháp, dù Nhật, dù Nga này sao lại ngăn chặn đ ợc ngang dòng" nhng
không gian ấy cũngđầy khó khăn cản trở "gió to cuồn cuộn", "Sóng cả mênh
Trang 30mông", " Cá kình vùng vẩy, mặt biển tối mờ" Trong đêm dài trên mặt biển tối "Cả thuyền ngủ yên" Lần đầu tiên xuất hiện con ngời số đông trong số đông đó có con
ngời cá nhân thức tỉnh sức mạnh của cộng đồng theo cách nhìn của Phan Bội Châu.Con ngời Việt Nam bớc vào thế kỷ XX không thể tồn tại riêng lẻ, đơn độc đợc,ngay cả trong nổi đau con ngòi ấy phải gắn bó lại trong một khối sức mạnh nhngtồn tại và phát triển
Con ngời ý chí niềm tin không phải đợc thể hiện trong thơ trữ tình mà còn
đ-ợc thể hiện mà còn đđ-ợc thể hiện rất rõ nét trong thể phú Bài thơ "Bái thạch vi
huynh" là một minh chứng tiêu biểu Bài phú bảy vần: Thạch, bất, năng, ngôn, tín,
khả, nhân, có cấu trúc kỳ lạ: không dùng vần nhân ở cuối Sự cố ý vi phạm "Luật
chơi" này của tác giả đã tạo ra một hiệu ứng nghệ thuật: Khẳng định con ngời ý chí
của kẻ đại trợng phu bất khuất Con ngời này hiện lên dới hiện tợng ẩn dụ là hòn đá
Sự tồn tại của nó đợc nhìn trong thớc ngắm vũ trụ "ngang dọc vũ trụ, chế nhạo hồng
trần Rửa bụng băng chín đầm Vân Mộng" trong số đó thời gian vĩnh cửu "trờng quân bao tuổi, mời hai hội ấy một nguyên" và hành động của nó là hành động lớn
lao "vá trời lấp biển" Phan Bội Châu đã dựng lên một nhân vật thao thức tìm lẻ sống giữa biển ngời đang sống lay lắt trong nạn "chết lòng".
Có thể thấy rằng bi kịch mất lẻ sống của một giai tầng trong "đêm cuối" thế
kỷ đã làm cho nỗi buồn rủ váng xuống tâm hồn Nhng những vần thơ khẩu chiếncủa Phan Bội châu dựng lên đợc mẫu ngời trí thức trong ánh sáng lẽ sống mới rọivào tâm hồn u uất, hoang mang và đầy bóng đêm của cả một thế hệ
Con ngời mang khát khao chinh phục không gian trong thơ của Phan BộiChâu vừa là hiện thực con ngời đầu thế kỷ XX vừa là khát vọng mang tinh thần lãngmạng của tác giả đặt vào thế hệ kế tiếp của dân tộc trong thế kỷ này Con ngời khátkhao chinh phục không gian, cũng chính là con ngời có khát vọng vơn tới nhữngchân trời có giá trị mới ở đó con ngời đợc làm chủ chính mình và làm chủ vậnmệnh dân tộc
Trang 31khi ngâm nga xáo trộn cổ kim di.
Thái độ này có vẻ giống với Nguyễn Công Trứ:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông hi văn tài bộ đã vào lòng Khi thủ khoa, khi tham tán, khi tổng động đông.
Gồm thao lợc đã nên tay ngất ngởng
Bài "chơi xuân" có mời lăm câu thơ thì tới mời ba động từ, các động từ này trình diễn động thái của nhân vật trữ tình Động từ xuất hiện với tần số "tràn ngập"
nh vậy giúp ta nhận ngay ra nhân vật này là con ngời nhành động Giữa không khí
"buồn tủi miên man" của thời đại, nó không ngồi rên xiết và sầu não vì đau khổ
không làm "anh giả điếc", "bng tai ngoảnh mặt làm ngơ" của cụ nghè Yên Đỗ Nó cũng không phải là kẻ tự xng "Anh hùng" không giám hành động mà "An thân
mệnh thế dấu tay anh hùng" của Tú Xơng Nhân vật này có tuyên ngôn hành động:
''Nớc non hồng lạc còn đây mãi Mặt mũi anh hùng há chịu ri" Nhân vật tự nhận
mình là anh hùng thì không bao giờ chịu ngồi yên trớc dòng đục của cuộc sống màphải hành động để xua tan bầu không khí đên tối đó
Trong số 13 động từ, ta chú ý một loạt động từ đặc biệt, số này chiếm phần
lớn: " xáo trộn", "tùa", "ném", "xoay", "nắm", "đạp toang", "đem", "gánh vác" Các
động từ này nếu tách khỏi cấu trúc ngôn từ của tác phẩm thì không có gì đặc biệt,nhng đặt trong cấu trúc, rõ ràng nó mang lại một ý nghĩa mới ý nghĩa đặc biệt của
chúng phụ thuộc vào cái bổ tố đi sau chúng, chẳng hạn "tùa tám cõi", "xoay thời
thế", "nắm địa cầu", "đạp càn khôn", "gánh sơn hà" Các động từ bình thờng đã
chuyển hoá thành động từ mạnh Nhân vật con ngời hành động cũng đã đợc chuyểnhoá thành con ngời hành động phi thờng Nó đợc kiến thiết trong những siêu việt:hành động vũ trụ, không gian vũ trụ, thời gian kim cổ, hành động làm chủ lịch sử,không bị động, không lệ thuộc thời thế
Nhân vật con ngời hành động phi thờng trong "chơi xuân" có dáng dấp một
con ngời khổng lồ nh chàng Đam Săn ta từng gặp trong sử thi Ê đê, hay Từ Hải
trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du: "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai".
Con ngời hành động trong thơ Phan Bội Châu đã tạo lập đợc t thế vững vàngkhi bớc vào thế kỷ mới
2.3 Con ngời phủ nhận những giá trị cũ.
Trang 32Ta biết rằng, đặc điểm cốt lõi của nho sĩ là tính bảo thủ Đối với họ, chân lýcuộc sống là t tởng thánh hiền, là sách vở của đời trớc, các bậc tiền bối thờng lànhững bậc cao nhất của cuộc sống hiện thực mà họ phải bảo vệ Nho sĩ ghét cáimới, không thích sự sáng tạo và cách tân.
Xuất thân từ nho sĩ, Phan Bội Châu tự biến mình thành nhà văn mang t tởngcách mạng đổi mới, hớng về sự sáng tạo, hớng về tơng lai, phủ nhận những giá trịlỗi thời của giai tầng mình về t tởng, học thuật
2.3.1 Nhân vật bớc qua lời nguyền:
Nh trên đã nói, đối với nho sĩ chân lý cuộc sống là thánh hiền, họ tôn thờ bởi
xem đó là giá trị thiêng liêng nhất Còn Phan Bội Châu thì cho rằng: "Hiền thánh
liêu nhiên tụng diệc si" Đây là thái độ phủ định hết sức dũng cảm của một nho sinh
đối với "chúa trời" của họ ở đây đã xuât hiện "nhân vật bớc qua lời nguyền" nghĩa
là nhân vật đã phủ nhận những giá trị thiêng liêng mà nho sĩ đã tôn thờ cả ngàn nămnay Loại nhân vật này thật sự hiếm hoi trong văn học trớc đó Đến nh NguyễnXuân Ôn, một cá tính mạnh mẽ trong lớp nho sĩ cuối thế kỷ trớc cũng chỉ giám hoài
nghi giá trị tối cao khi thấy sự nghiệp của mình thất bại: "Thánh hiền lừa dối ta
chăng?" ở Phan Bội Châu hiền thánh không chỉ là vắng xa mà còn nguyên nhân
của sự u ám về mặt trí tuệ của con ngời - "tụng diệc si" Cảm nhận đó là sự nhận
(vịnh bụt chùa ơi - 1833)
Sở dĩ có thái độ nh vậy vì tác giả cho rằng "cứu nhân độ thế" không thể nhờ
vào phật, vào bụt Con ngời không thể cứ u mê mãi trong khói hơng nhà chùa màphải hành động
2.3.2 Nhân vật thách đố, tuyên chiến với định mệnh
Trong văn học chúng ta đã từng bắt gặp những nhân vật khổng lồ nh Từ Hải(Truyện Kiều) Từ Hải khổng lồ cả về hình thể, sức mạnh, tài năng và cả t tởng Nh-
ng Từ Hải hay chính Nguyễn Du đã không thể vợt qua đợc thiên mệnh Ta cũng đã
Trang 33từng bắt gặp con ngời khổng lồ trong văn học phục hng Tây Âu Nhng đó là nhữngcon ngời khổng lồ đại diện cho một giai cấp đang khao khát chinh phục cả thế giới
đi tìm những vùng đất mới cho chủ nghĩa t bản Lần đầu tiên trong lịch sử vặn họcViệt Nam xuất hiện một nhân vật khổng lồ giám thách đố với định mệnh, tuyên
chiến với "càn khôn": "đạp toang hai cánh càn khôn" (chơi xuân) hay "khẳng hứa
càn khôn tự chuyển di" (xuất dơng lu biệt) Kẻ nam nhi lúc này không để cho định
mệnh xoay vần mà "sinh thời thế phải xoay thời thế" (chơi xuân) Trong bài "xuất
dơng lu biệt": thời gian cá nhân "bách niên trung" đợc đặt trong cái nhìn thời gian
lịch sử "khởi thiên tải hậu" có thể bắt gặp ở đây con ngời không chấp nhận cuộc sống của kẻ vong quốc "giang sơn dĩ tử sinh đồ nhuế" Nhân vật trữ tình trong bài
"tự ngã" cũng có chung suy nghĩ "chỉ vì tôi không làm quen thân tôi tớ Chỉ vì tôi không thể cúi gầm mặt xuống đợc".
2.4 Con ngời khẳng định giá trị mới của mình
Trong tác phẩm của Phan Bội Châu đã xuất hiện nhân vật bớc qua lời nguyền,
đốt cháy những giá trị đã tôn thờ nh thánh hiền, thi cử:
Chớ lo đậu lo thi
Tú, cử nỏ làm chi
Ký, phán cùng làm chi Tham, nghè cùng nô lệ.
(vợ khuyên chồng)Tác giả đã mợn lời ngời vợ khuyên chồng để phủ nhận những điều không phùhợp với cuộc sống, với lẽ sống hiện tại, phủ nhận không đồng nghĩa với thoát lycuộc sống mà thay cho những điều đó là khẳng định giá trị mới:
Phải tìm đờng lấn tới Phải bỏ cũ theo mới Phải kiếm chốn thực hành
2.4.1 ý thức tự làm chủ và con ngời công dân trớc vận mệnh tổ quốc
"Sinh thời thế phải xoay thời thế" đó là quan niệm, là lẽ sống của nhân vật trữ
tình trong bài chơi xuân Nhân vật này là con ngời khổng lồ mới chập chững bớcvào thế kỷ XX mà cha biết tơng lai phía trớc nh thế nào Thế nhng nhân vật này
không giống với nhân vật "anh" trong bài "Tự ngã":
Nhìn anh tôi khóc: anh cũng chẳng biết xót xa.
Nhìn anh tôi cời: anh cũng chẳng biết gì.
Trang 34Nhìn anh tôi tỏ vẻ giận giữ: anh cứ nhơn nhơn.
Nhìn anh tôi mắng nhiếc: anh cứ ngây ngô.
"Anh" là một nhân vật nô lệ, bị bao phủ bởi căn bệnh u mê Còn trong bài
chơi xuân nhân vật đã có ý thức làm chủ và con ngời công dân trớc vận mệnh tổquốc
Con ngời thấy rõ trách nhiệm của mình là phải:
Đem xuân vẽ lại trong non nớc nhà Hai vai gánh vác sơn hàn.
"Hai vai" là hình ảnh tợng trơng cho tinh thần phụ trách lịch sử, cho ý thức
công dân với quốc gia đồng bào Hơn lúc nào hết nhân vật trữ tình thấy rõ đôi vai
của mình phải gánh vác "sơn hà" chứ không thể ngồi yên nhìn dân tộc chìm đắm
trong đau thơng
Trong bài "xuất dơng lu biệt" ta cũng bắt gặp con ngời có ý thức làm chủ, có
trách nhiệm với vận mệnh tổ quốc Nhân vật trong bài thơ này đã giám phủ nhậncuộc sống nô lệ và quan niệm "đã sinh ra làm ngời con trai phải có sự nghiệp hiếm
lạ ở trên đời" cũng nh trong bài "chơi xuân" tác giả viết "Giang sơn còn tô vẽ mặt
nam nhi" Chí làm trai không phải đến thơ Phan Bội Châu mới có những điều đặc
biệt là nhà thơ gắn với "sự nghiệp hiếm lạ" cần phải đạt đợc Sự nghiệp hiếm lạ ấy
là gì? Trả lời câu hỏi đó nghĩa là mỗi ngời ý thức đợc trách nhiệm của mình đối vớigiang sơn Nhân vật trữ tình đã khẳng định vai trò cuả mình đối với lịch sử và đặt racâu hỏi cho muôn thời đại:
Ư bách niên trung t hữu nga Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ?
(Trong khoảng cuộc đời trăm năm cần có thân ta sau này nghìn năm lẽ nào lại không có ai?)
ý thức làm chủ và con ngời công dân trớc vận mệnh tổ quốc trong thơ PhanBội Châu đợc xem là đại diện của con ngời mới bớc vào thời đại mới họ, gánh trên
đôi vai của mình trọng trách lịch sử và chính họ sẽ góp phần làm nên lịch sử dântộc
Trang 35Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san Giặm hồng bụi cuốn chính an
Trông ngời đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Nhng cuộc lên đờng trong bài "xuất dơng lu biệt" là một cuộc lên đờng xúc
động thiêng liêng Vì nhân vật lên đờng để thực hiện lý tởng "gánh vác sơn hà"
-một lời thề ớc non sông trớc buổi lên đờng đi tìm chân lý cho dân tộc ở những trời
đất mới Lần đầu tiên, một ngời Việt Nam bớc vào trùng dơng vô định đi tìm chân
lý Rời bỏ quê hơng và những ngời thân yêu đã gắn bó với mình bớc ra khỏi biên
c-ơng đất nớc trong trốn tránh, trong bí mật, nhân vật không sao tránh khỏi cảm xúcdấn thân vì những không gian trớc mặt tuy hấp dẫn nhng cũng không ít thác ghềnh,cảm bẫy Để lại đằng sau biết bao yêu thơng, nhân vật lên đờng cảm nhận đầy đủtính chất thiêng liêng của phút giây lu biệt Nhng lòng trai đã quyết, lời thề nonsông đã nói, lời thề đó phải thực hiện bằng hành động trực tiếp Sau này con ngờilên đờng tiếp tục đợc thể hiện trong thơ thâm tâm:
Mẹ thà coi nh chiếc lá bay Chị thà coi nh hạt bụi
Em thà coi nh hơi rợu say
(Tống biệt hành)
Trong bài ''xuât dơng lu biệt'' nhân vật ngời lên đờng vừa có ý chí lớn vừa có
t thế khổng lồ bớc vào con đờng đi tìm chân lý:
Nguyệt trục trờng phong đông hải khứ Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
Nhân vật ngời lên đờng không hề có t thế bị động Nhng câu dịch "muốn vợt
bể đông theo cánh gió" đã làm giảm nhẹ sức mạnh câu thơ Nguyên tác "trục"
nghĩa là "đuổi" chứ không phải "theo" (tòng) Nhân vật lên đờng đặt mình trong tầm thớc vũ trụ Ta gặp lại con ngời khao khát chinh phục không gian thủa "chơi
núi Đại Huệ" Giờ đây, không gian đó vừa cụ thể (bể đông) vừa trừu tợng, lạ lẫm vì
cha một lần nhân vật tri giác đợc Cho dù đứng trớc bất cứ bão táp nào thì con ngời
ấy vẫn vơn lên để khắc phục những khoảng cách không gian bởi trong con ngời ấyluôn tồn tại một ý chí lạ kỳ
Con ngời Việt Nam bớc vào thế kỷ XX mở rộng tầm mắt nhìn tới những chântrời mới lạ thoát khỏi sự vây bủa nghìn đời của chế độ phong kiến che chắn, giam
hãm con ngời trong vòng u tối Họ mang khẩu khí "cùng bay với muôn trùng sóng
Trang 36bạc" Nhân vật trữ tình chính là bản thân tác giả nhng khi đã là hình tợng văn học thì
nó mang ý nghĩa nhân loại ở đây nhân vật không còn là con ngời cá nhân tác giảnữa ngời mà đã trở thành hình tợng con ngời Việt Nam bớc vào thế kỷ XX
Chơng 3: Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu từ 1905 đến 1925
Mang nặng nỗi đau vong quốc nô, thao thức kiếm tìm lẽ sống, khát khaochinh phục không gian đã thôi thúc Phan Bội Châu từ giã quê hơng xứ Nghệ thânyêu để bôn ba hải ngoại Đây là giai đoạn thứ hai, giai đoạn quan trọng nhất trong
sự nghiệp văn chơng của cụ Phan Bội Châu kêu gọi đồng bào thức tỉnh, đoàn kết,
lấy giọt máu nóng làm vị thuốc đầu thang để chữa "bệnh chêt lòng".
Cuộc sống làm con ngời xa xứ cũng cũng có lúc thuận lợi đặc biệt là thời
gian ở Nhật Tại đây, Phan Bội Châu đã sáng lập phong trào "đông du" đa nhiều
thanh niên đi học ở Nhật, liên hệ với Đề Thám và Đông kinh nghĩa thục ở miền Bắcvới thân hào yêu nớc với phong trào nhân dân trung kỳ Tất cả nhằm khôi phục nớcViệt Nam độc lập theo mẫu mực của Nhật Bản
Đông du tan rã bởi phản trắc của Nhật và khủng bố của Pháp Nhng chí khícủa Phan Bội Châu vẫn bền Cách mạng tân hợi của Trung Quốc kích thích nhàcách mạng Việt Nam tổ chức ra Việt Nam quang phục hội Từ đây ngòi bút củaPhan Bội Châu tuyên truyền không biết mỏi cho t tởng cộng hoà và dân chủ, tiếptục cổ vũ cho đờng lối cách mạng bạo động Cụ viết nhiều và hay
Chiến tranh thế giới bùng nổ khi Phan Bội Châu đã bị quân phiệt Trung Quốcbắt cầm tù, khi cụ đợc thả ra thì gót chân sạn của ngời chí sỹ tuy mòn mà cha mỏi
Trang 37Song, chiến tranh sắp chấm dứt bằng chiến thắng của phe Pháp chiến thắng củaPháp ở Châu Âu, thất bại của các cuộc khởi nghĩa trong nội địa Việt Nam gây mộttâm trạng bi quan khá sâu sắc trong hàng ngũ chí sỹ có tên tuổi ở nớc ngoài Ngay
Phan Bội Châu có lúc cũng nản Vì nản cụ mới vấp chân đau đớn với quyển "Pháp
Việt đề huề luận" Nhng ảnh hởng vang dội của cách mạng tháng mời Nga và tiếp
theo đó, cao trào cách mạng nổi lên khắp thế giới đặc biệt là ở Phơng Đông đã khôiphục hy vọng của Phan Bội Châu Cụ bắt liên lạc với Nguyễn ái Quốc và đang h-
ớng về "cách mạng thế giới" để tìm đờng mới nhằm giải phóng cho dân tộc.
Tuy cuộc sống xa xứ gặp nhiều khó khăn nhng với tinh thần dân tộc, ý chícủa con ngời xứ nghệ kiên cờng đã giúp cụ Phan vợt lên hoàn cảnh để khẳng địnhbản lĩnh của mình
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt sáng tác thơ trữ tình Phan Bội Châu từ 1905 đến 1925
là phục vụ chính trị cứu quốc Con ngời hiện lên trong thơ ông là con ngời siêu việt,phi thờng Con ngời đó luôn trăn trở trớc vận mệnh dân tộc với một tấm lòng sonsắc, một trái tim nồng nàn yêu nớc
1 Con ngời trong thơ trữ tình Phan Bội Châu từ 1905 đến 1925 là con ngời có ý thức tự tôn dân tộc.
Những năm đầu thế kỷ XX, khi đất nớc đang chìm đắm trong căn bệnh "chếtlòng" - căn bệnh mà Lỗ Tấn - một nhà văn Trung Quốc đã từng tái hiện trong tácphẩm của mình Lỗ Tấn đã tìm cách "thức tỉnh quốc dân" Nhân vật AQ trong "AQchính truyện" là một hiện thực của xã hội Trung Quốc nhng trong xã hội Việt Namlúc bấy giờ cũng không hiếm những AQ Trớc thực trạng đó, Phan Bội Châu đã cólần giáo dục thanh niên bằng những câu thơ:
Than ôi cái vạ chết lòng Xác kia chất đó còn mang nỗi gì
Anh em! Chữa thuốc chi cho khỏi Xin đem ngay máu nóng đổ vào.
Phan Bội Châu muốn thức tỉnh nhân dân, muốn đa đồng bào ta ra khỏi cănbệnh u mê để có ý thức tự tôn dân tộc Mỗi ngời dân Việt Nam phải có trong mìnhdòng máu nóng, biết tự hào, nâng niu trân trọng những giá trị chân chính, những
truyền thống cha ông đã tạo dựng lên bằng xơng máu "ái quốc", "ái chủng", "ái
quần", "ái đoàn" là những bài thơ tiêu biểu đợc Phan Bội Châu viết vào năm 1911.