1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người cá nhân trong truyện ngắn việt nam sau 1975

105 1,6K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con Người Cá Nhân Trong Truyện Ngắn Việt Nam Sau 1975
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 328 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới, tác giả Lê Ngọc Trà đã nhìn nhận văn học sau 1975 có bốn đặc điểm nổi bật, trong đó ông chỉ ramột xu hớng của văn học Việt Nam hiện nay là s

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh -

Nguyễn thị kim hoa

Con ngời cá nhân trong truyện ngắn việt

tóm tắt luận văn thạc sĩ NGữ VĂN

Vinh - 2007

Trang 2

Chuyên ngành: văn học việt nam

Chơng 1: Hành trình con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam trung

đại và văn học việt nam hiện đại

10

1.2 Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam trung đại 111.2.1 Con ngời cá nhân trong văn học Lý - Trần (thế kỷ X - thế kỷ XIV) 121.2.2 Con ngời cá nhân từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVIII 131.2.3 Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - XIX) 161.3 Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam hiện đại 221.3.1 Sự thức tỉnh của con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam thời kỳ

1930 - 1945

221.3.2 ý thức cộng đồng và con ngời cá nhân lùi về bình diện thứ hai trong

văn học thời kỳ 1945 - 1975

29

1.3.3 Sự thức tỉnh trở lại của con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam sau 1975 34

Chơng 2: Con ngời cá nhân - Một phơng diện nổi bật trong truyện

ngắn Việt Nam sau 1975

42

Trang 3

2.3 Con ngời bi kịch 61

Chơng 3: Nghệ thuật thể hiện con ngời cá nhân trong truyện ngắn

Việt Nam sau 1975

96

3.1 Con ngời cá nhân với việc xây dựng tình huống truyện 963.2 Con ngời cá nhân với sự đào sâu khám phá thế giới nội tâm nhân vật 1013.3 Con ngời cá nhân với sự thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật 1063.3.1 Không gian sinh hoạt đời t, đời thờng 106

3.4 Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm nhân vật 111

1.1 Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay có nhiều thành tựu đáng khẳng

định với những cách tân đáng chú ý, đặc biệt là ở lĩnh vực truyện ngắn Vănxuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng sau 1975 chuyển từ t duy sử thi sang

t duy tiểu thuyết và theo đó là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con ngời,thay đổi giọng điệu, đề tài, chủ đề… Đi sâu khám phá ph Đi sâu khám phá phơng diện con ngờitrong truyện ngắn sau 1975 là một dịp để chúng ta nhìn nhận bức tranh chungcủa văn học Việt Nam sau 1975

1.2 Văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và truyện ngắn Việt Nam sau

1975 nói riêng là mảnh đất màu mỡ nhng cũng còn rất mới mẻ nên cha đợcchú ý nghiên cứu Cha có công trình với quy mô lớn nghiên cứu về truyệnngắn thời kỳ này Một số cây bút lí luận phê bình có tiếp cận nhng mới chỉ

Trang 4

dừng lại ở những bài viết ngắn hoặc đi sâu vào một hoặc một vài tác giả cụthể Đi sâu khảo sát, phân tích vấn đề mới mẻ này vì thế sẽ làm cho công việccủa chúng tôi trở nên có ý nghĩa hơn Đồng thời, với phạm vi khảo sát rộnglớn truyện ngắn sau 1975, chúng ta đợc tiếp cận với một đội ngũ đông đảo cácnhà văn thuộc nhiều thế hệ khác nhau với những đóng góp to lớn đối với sựphát triển của văn học Việt Nam sau 1975.

1.3 Con ngời cá nhân là một đặc điểm hết sức cơ bản, trọng tâm của đề tàitruyện ngắn Việt Nam sau 1975 Khảo sát “Con ngời cá nhân trong văn họcViệt Nam sau 1975”, chúng ta có dịp lật lại các thời kỳ của lịch sử văn họcViệt Nam Qua đó giúp chúng ta hiểu một cách tổng quát và toàn diện hơn vềhành trình và sự vận động của con ngòi cá nhân trong văn học Việt Nam

Đồng thời trên cái nền đó, với phơng pháp so sánh, nhằm làm bật nổi đặc

điểm về con ngời cá nhân với cách nhìn mới và những cách tân trong nghệthuật thể hiện nó trong truyện ngắn sau 1975

1.4 Nghiên cứu đề tài này luận văn hy vọng đóng góp thêm t liệu cho quátrình giảng dạy, học tập truyện ngắn Việt Nam nói riêng và văn học Việt namnói chung

2 Lịch sử vấn đề

Con ngời vừa là điểm xuất phát, vừa là đối tợng khám phá, vừa là cái

đích cuối cùng của văn học Quan niệm nghệ thuật về con ngời ở mỗi thời đạicũng có những đặc điểm khác nhau Sau năm 1975, một hiện tợng mới xuấthiện trong văn học Việt Nam, đặc biệt là truyện ngắn đó là sự thức tỉnh trở lạicủa con ngời cá nhân Nó nhanh chóng trở thành tâm điểm khai thác và phản

ánh của các nhà văn Đó cũng là sự phản ánh kịp thời hiện trạng chung đờisống con ngời cũng nh xu hớng phát triển nhân cách con ngời trong thời đạimới Vấn đề con ngời cá nhân vì thế cũng gây đợc sự chú ý quan tâm đặc biệtcủa các nhà nghiên cứu văn học Mỗi ngời có một cách nhìn nhận riêng nhngnhìn chung đều nhằm chỉ ra những đặc điểm tiêu biểu của con ngời cá nhân đ-

ợc thể hiện trong văn học sau 1975

Nghiên cứu về vấn đề này thờng có hai dạng thức Trớc hết, đó là nhữngbài viết, công trình khoa học nghiên cứu một cách khái quát, tổng thể diệnmạo và đặc điểm chung của văn học thời kỳ sau 1975, trong đó sự đổi mớiquan niệm nghệ thuật về con ngời là một trong những vấn đề đợc chú ý đềcập Có thể kể ra một số công trình và bài viết sau:

Trang 5

- Trần Đình Sử (1986), "Mấy ghi nhận về đổi mới t duy nghệ thuật về

hình tợng con ngời trong văn học ta thập kỷ qua", Tạp chí văn học số 6, tr7 Bùi Việt Thắng (1999), "Mấy nhận xét về truyện ngắn Việt Nam sau 1975", Bình luận truyện ngắn, tr 141.

Lê Thị Hờng (1994), "Quan niệm con ngời cô đơn trong truyện ngắn

ĐH Khoa học xã hội và nhân văn - ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh

- Lê Ngọc Trà (2007), Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới,

Nghiên cứu văn học số 1, tr 35-51

Ngoài ra còn có những bài viết nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về conngời trong truyện ngắn của một số nhà văn tiêu biểu vào thời kỳ này:

- Nguyễn Văn Hạnh (1993), "Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự

đổi mới cách nhìn về con ngời", Tạp chí văn học số 3

- Huỳnh Phan Anh (1995), Ghi nhận về thế giới nghệ thuật Phan Thị

Vàng Anh, Báo Văn nghệ trẻ số 1.

- Nguyễn Đăng Mạnh (2001), "Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vài

cảm nghĩ", Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, tr 455.

- Hồ Sỹ Vịnh (2002), "Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ",

Báo Văn nghệ số 53.

Trong các bài viết và những công trình nghiên cứu kể trên, chúng tôi lu

ý đến những ý kiến tiêu biểu sau:

Trong Mấy ghi nhận về sự đổi mới của t duy nghệ thuật và hình tợng con ngời trong văn học ta thập kỷ qua, Trần Đình Sử đã khẳng định: "Con ng-

ời đạo đức thế sự là đặc điểm chủ yếu nhất của sự đổi mới t duy nghệ thuậttrong văn học thập kỷ qua" Tác giả đã khảo sát văn học thời kỳ 1975 - 1985 ở

Trang 6

nhiều thể loại: Thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, và chỉ ra nét mới trong quanniệm về con ngời của các nhà văn: "Các nhà văn chẳng những xây dựng tơng

đối thành công nhiều hình tợng con ngời vi phạm chuẩn mực ứng xử với cánhân, mà quan trọng hơn cả là khám phá những tiềm năng đạo đức xã hội củacon ngời, nh lòng vị tha, khả năng đồng cảm với ngời khác, niềm lo âu trớc sựnguội lạnh của tâm hồn, khát vọng sống hoàn hảo Trớc đây khía cạnh này th-ờng đợc hiểu nh những truyền thống, mỹ tục của nhân dân, dân tộc, nay đợcgắn liền với sự tự ý thức của mỗi ngời về nhân cách Đó là một bớc phát triểnbiện chứng của t duy ngời khác khi chính họ thiếu khả năng tự ý thức nhâncách của chính mình" Thực tiễn sáng tác văn học sau 1975 cho thấy t duynghệ thuật đang trở về với con ngời cá nhân nhng ở trên một trình độ mới vớimột điểm xuất phát mới cao hơn, chất lợng hơn

Trong cuốn Việt Nam - Nửa thế kỷ văn học (1945 - 1995) tập hợp nhiều

tham luận của các nhà phê bình, nghiên cứu Trong đó có hai ý kiến đáng chú

ý Tham luận Nhìn lại 10 năm đổi mới của Vũ Tuấn Anh đã khái quát ba đặc

điểm nổi bật thể hiện sự chuyển động bề sâu hết sức quan trọng của t duynghệ thuật, trong đó có quan niệm nghệ thuật mới về con ngời: "Con ngời đợcchú tâm quan sát nh một cá thể phức tạp, có số phận riêng, với cả thế giới tinhthần, nội tâm, tiềm thức, bản năng - con ngời ấy vừa đợc đáng xem xét nh mộtthế giới riêng, vừa đợc đặt trong mối quan hệ ngời, quan hệ xã hội để càng

làm rõ bản thể ngời cùng bản chất xã hội của nó" [tr 195] Bài viết Truyện ngắn sau 1975 - Một số chuyển đổi của Mai Hơng cũng khẳng định: "Khảo

sát truyện ngắn từ sau 1975, có thể thấy những chuyển đổi mạnh mẽ trongcách tiếp cận, khai thác và biểu hiện thế giới riêng của con ngời với cả nhữngmặt khuất lẩn trớc đây cha thực sự đợc (hoặc cha có điều kiện đợc) quan tâm

đến: Bản ngã, tiềm thức, vô thức, đời sống tâm linh, tình dục Truyện ngắn đãkhắc hoạ đợc con ngời cá thể một cách sinh động, vện toàn và sâu sắc " [tr

413 - 414] Mai Hơng phát hiện ra dạng nhân vật chủ đạo trong truyện ngắnsau 1975 là con ngời tự nhận thức, khám phá, phân tích bản thân Và gắn với

nó là chủ đề tự thú sám hối - một chủ đề mới và khá phổ biến của truyện ngắnsau 1975, cụ thể là trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn QuangThiều, Nguyễn Thị Thu Huệ , ghi nhận một bớc tiến mới trong cách tiếp cận

và phản ánh hiện thực

Trang 7

Bài viết Mấy nhận xét về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Bùi Việt

Thắng) lại chỉ ra một tình trạng phổ biến và nổi cộm của con ngời cá nhântrong thời đại mới, đó là con ngời cô đơn và con ngời tha hoá trớc sự tác độngdữ dội của nền kinh tế hàng hoá lên mối quan hệ giữa con ngời với con ngờivới nhau

Trong Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới, tác giả Lê Ngọc Trà

đã nhìn nhận văn học sau 1975 có bốn đặc điểm nổi bật, trong đó ông chỉ ramột xu hớng của văn học Việt Nam hiện nay là sự trở lại với đời thờng, với sốphận riêng, "cuộc đời con ngời đã đợc miêu tả chân thực hơn, không phải chỉ

có hạnh phúc, chiến thắng mà còn đầy rủi ro, nhiều khi thất bại, đau khổ Giờ

đây nỗi đau, cái buồn đã đợc thừa nhận nh những phạm trù của văn học,không sợ bị bài bác hay gán ghép về quan điểm lập trờng" [tr 45] Tác giả chorằng văn học sau 1975 quan tâm đến con ngời ở những khía cạnh hết sức đời

t, đời thờng nh sự phong phú hay nghèo nàn của tâm hồn, thế giới tinh thầncủa con ngời, quá trình tự ý thức của con ngời Chính những yếu tố này "gópphần củng cố thêm sự hình thành con ngời cá nhân trong xã hội Việt Nam,làm cho văn học thời kỳ này đứng cao hơn văn học thời kỳ trớc 1945, khi mà

ở đó vấn đề tự do cá nhân chủ yếu chỉ mới đặt ra trong phạm vi tự do tình cảmcủa con ngời" [tr 45]

Trong công trình Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học hiện đại Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1991, TS Nguyễn Văn Kha

khảo sát khá công phu và đầy đủ vấn đề con ngời với 5 chơng dày dặn: Chơng1: Vấn đề con ngời trong đời sống chính trị, xã hội và văn học Việt Nam từsau năm 1975; Chơng 2: Con ngời với cộng đồng quê hơng đất nớc; Chơng3: Con ngời cá nhân, mỗi con ngời có cuộc đời riêng, bản lĩnh riêng; Chơng 4:Con ngời phong phú, phức tạp; Chơng 5: Các biện pháp nghệ thuật (thời gian

- không gian, kết cấu, ngôn ngữ, chi tiết, yếu tố huyền thoại) Tuy nhiênchúng tôi nhận thấy công trình này khảo sát vấn đề con ngời trong văn học sau

1975 nói chung, trong đó truyện ngắn chỉ là một bộ phận, bên cạnh đó tác giảlại giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 1975 đến 1991

Nhận xét về thế giới nhân vật trong Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vài cảm nghĩ, giáo s Nguyễn Đăng Mạnh đã nói: "Nguyễn Huy Thiệp có một thế

giới nhân vật độc đáo Toàn những con ngời góc cạnh, gân guốc Có loại nhchui lên từ bùn lầy, rác rởi, tâm địa đen tối, có loại lại nh những bậc chí thiện,

Trang 8

có thể bao dung cả kẻ xấu ngời ác, thậm chí sẵn sàng chết vì đồng loại Nhiều nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp sống với cái ảo nhiều hơn là cái thực Nhân vật nào của Nguyễn Huy Thiệp cũng sống với cái ảo nhiều hơn là cáithực Nhân vật nào của Nguyễn Huy Thiệp dờng nh cũng thích khái quát triếtlý"

Trong bài viết Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cáchnhìn về con ngời, Nguyễn Văn Hạnh đã nêu lên khá đầy đủ và toàn diệnnhững đổi mới của Nguyễn Minh Châu khi viết về con ngời, tạo nên một bớcngoặt lớn trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu: từ việc ca ngợi vẻ

đẹp của nhân vật nữ tuy có số phận éo le, bất hạnh nhng luôn luôn bền bỉ, kiêncờng chống chọi với hoàn cảnh khắc nghiệt để sống một cách lơng thiện,trung hậu, đến việc chỉ ra sự phức tạp, đa diện của cuộc sống và bản chất conngời, thẳng thắn vạch ra hiện tợng tha hoá nhân cách, băng hoại đạo đức củacon ngời tồn tại phổ biến trong xã hội, Nguyễn Minh Châu rất thành côngtrong việc miêu tả thế giới nội tâm, đời sống tình cảm của con ngời, đặt biệt

ông đã xây dựng đợc kiểu con ngời tự thú và tự khám phá chính bản thân.Nguyễn Văn Hạnh đánh giá cao phần đóng góp của nhà văn Nguyễn MinhChâu vào bớc ngoặt quyết định của văn học trong thời kỳ đổi mới

Nh vậy qua việc lợc sử có chọn lọc quá trình nghiên cứu vấn đề con

ng-ời cá nhân trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, chúng tôi đánh giá caonhững công trình nghiên cứu nêu trên Đó sẽ là nguồn t liệu quý báu để chúngtôi tham khảo Đồng thời chúng tôi cũng nhận thấy rằng những bài viết trênhoặc là đề cập đến diện mạo chung của văn học thời kỳ này, trong đó con ngờichỉ đợc tìm hiểu một cách khái quát, tổng thể hoặc là do phạm vi trong khuônkhổ một bài viết gồm vài trang nên cha có điều kiện đi sâu nghiên cứu sự đadạng và phức tạp của con ngời Một số bài viết chuyên sâu thì lại mới chỉdừng lại ở một số sáng tác cụ thể của từng nhà văn riêng lẻ, cha có cái nhìnsâu rộng và bao quát đặc điểm của con ngời cá nhân trong cả một thời kỳ Sựthiếu hụt đó đã tạo cơ hội cho chúng tôi thực hiện đề tài "Con ngời cá nhântrong truyện ngắn sau 1975" Với khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, chúngtôi sẽ chỉ đi sâu khảo sát một số đặc điểm nổi bật nhất của con ngời cũng nhnột số thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nhất trong việc thể hiện nó

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Trang 9

Chúng tôi đi sâu khảo sát có chọn lọc một số tập truyện ngắn và một sốtác giả tiêu biểu sau:

- Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1975 - 1995, NXB Hội Nhà văn, 1996.

- Nguyễn Minh Châu - Truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội, 2003.

- Nguyễn Khải - Truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 1996.

- Ma Văn Kháng, Ngày đẹp trời - Tập truyện ngắn, NXB Lao động, Hà Nội,

- Lê Minh Khuê - Truyện ngắn, Nxb Văn học, 1994.

- Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo, Nxb Hội Nhà văn, 1995.

- Truyện ngắn 5 tác giả nữ, Nxb Công an nhân dân, 2006.

- Trần Thị Trờng, Tình nh chút nắng (Tập truyện), Nxb Thanh niên, 2007.

- Nguyễn Thị Thu Huệ - 37 truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, 2004.

- Truyện ngắn chọn lọc các tác giả nữ, Nxb Lao động, 1996.

- Phan Thị Vàng Anh, Khi ngời ta trẻ (Tập truyện), Nxb Hội nhà văn, 1994.

- Đỗ Hoàng Diệu, Bóng đè (Tập truyện ngắn), Nxb Đằ Nẵng, 2006.

3.2 Nhiệm vụ yêu cầu

3.1 Trên những nét chính, khái quát hành trình con ngời cá nhân trong vănhọc Việt Nam qua các thời kỳ (Văn học trung đại, văn học hiện đại thời kỳ

1930 – 1945, văn học hiện đại thời kỳ 1945 – 1975, văn học hiện đại thời

Trang 10

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng một số phơngpháp cơ bản nh sau:Phơng pháp thống kê, khảo sát truyện ngắn, xử lý tài liêutham khảo, phơng pháp phân tích, tổng hợp, phơng pháp so sánh, đối chiếu vớimột số thời kỳ văn học trớc 1975.

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

- Chơng 1: Hành trình con ngời cá nhân Việt Nam trong Văn học ViệtNam và văn học Việt Nam hiện đại

- Chơng 2: Con ngời cá nhân - một phơng diện nổi bật trong truyện ngắnViệt Nam sau 1975

- Chơng 3: Nghệ thuật thể hiện con ngời cá nhân trong truyện ngắn ViệtNam sau 1975

Cuối cùng là mục tài liệu tham khảo

Phần nội dung

Chơng 1:

Hành trình con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam

trung đại và văn học Việt Nam hiện đại

1.1 Khái niệm con ngời cá nhân.

Theo triết học Mác - Lênin: "Cá nhân là khái niệm chỉ con ngời cụ thểsống trong một xã hội nhất định và đợc phân biệt với các cá thể khác thôngqua tính đơn nhất và tính phổ biến của nó" [24, 474]

Nhà nghiên cứu có thẩm quyền về thời cổ Hy Lạp là A.F.Losep trong

tác phẩm Lịch sử mỹ học cổ đại nhận xét: "Cá nhân, chủ thể con ngời riêng

biệt, ở đây không còn nảy sinh bằng con đờng tự nhiên trong đời sống xã hội

Trang 11

và nhà nớc nữa, mà đã đối lập hẳn bản thân mình với xã hội và tự nhiên: nó

đắm sâu vào bản thân nó, tự tách ra khỏi mọi cái xung quanh, chủ yếu sốngbằng những cảm xúc của mình, khép mình lại; và nếu nh nó hớng tới thiênnhiên thì điều đó diễn ra không phải bằng con đờng tự nhiên và tự phát, hữucơ, mà chỉ là do những nỗ lực có ý thức của nó, những nỗ lực trí tuệ, tình cảm

và ý chí, bằng cách khúc xạ những dữ kiện thiên nhiên và xã hội qua một bộmáy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong của nó "

Khái niệm "con ngời cá nhân" ở đây không nhằm khu biệt khái niệmvới ý nghĩa triết học là một thực thể trong tơng quan với tự nhiên, thiên nhiên,sinh thể, mà chủ yếu nhấn mạnh nội hàm văn hóa, trong đó tơng quan biệnchứng hai chiều con ngời - cá nhân, cá nhân - con ngời nh nó đợc ý thức trongvăn học Vì vậy, khái niệm con ngời nói chung sẽ đợc hiểu theo nét nghĩa kiểucon ngời cá nhân

Trong văn học, khái niệm "con ngời cá nhân" dùng để chỉ một kiểu conngời với đặc điểm: con ngời với sự tự ý thức cá nhân nhằm phân biệt vớinhững kiểu khác của con ngời nh con ngời xã hội, con ngời sử thi, con ngờivới ý thức cộng đồng Trong văn học khái niệm này dùng để chỉ con ngời với

ý thức cá nhân thể hiện qua cái tôi tác giả, qua ý thức nhân vật trong tác phẩm

1.2 Con ngời cá nhân trong văn học việt nam trung đại.

Nói đến con ngời trong văn học trung đại là nói đến con ngời vũ trụ Đó

là một đặc điểm nổi bật và xuyên suốt 10 thế kỷ văn học trung đại trong quanniệm nghệ thuật về con ngời

ở văn học Việt Nam, do quan niệm thiên nhiên tơng đồng có từ cổ xa

và cũng do cuộc sống dựa vào nền tảng nông nghiệp, ngời ta quan niệm conngời là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ, thiên nhiên Vũ trụ ở đây là

đất trời, mây nớc, mặt trăng, mặt trời, ma, gió, cây cỏ, muông thú, với cái

đạo vững bền, sâu thẳm của nó Con ngời nhìn thấy chân dung mình qua dángliễu, vóc hạc, tóc mây, mắt phợng, mày ngài Hình ảnh con ngời luôn đợc đặt

trong bối cảnh vũ trụ Khi làm thơ thì "Tay tiên gió táp ma sa", khi có một

hành động ngang tàng "Chọc trời khuấy nớc mặc dầu" Các tác giả trung đại ítkhi hình dung và thể hiện con ngời trong dáng vẻ đời thờng vì nh thế nó tầmthờng và không cao đẹp Con ngời trong văn học trung đại còn đựoc thể hiệntheo nguyên tắc tỏ lòng Nhân vật hành động, nói năng nhằm tỏ rõ chí khí,tâm t của mình chứ không nhất thiết theo yêu cầu của tình huống Con ngời bị

Trang 12

ngoại hiện hóa thành những biểu hiện khác thờng, việc làm quá độ, thí dụ nhKiều "bán mình chuộc cha", Ngọc Hoa cự tang chồng thì: "Ban ngày thời ởbên ngoài - Ban đêm mở nắp quan tài vào trong".

Từ trớc đến nay, vấn đề "ngã" và "phi ngã" (vô ngã) trong văn học trung

đại đợc giới nghiên cứu quan tâm và tranh luận Nhìn trên đại thể nền văn họctrung đại và trong sự đối sánh với văn học hiện đại thì con ngời trong văn họctrung đại về cơ bản là phi ngã (vô ngã) Thế nhng đi sâu vào các hiện tợng vănhọc cụ thể, chúng ta vẫn nhận thấy có dấu hiệu của con ngời cá nhân, tuy cònhiếm hoi và kín đáo nhng cũng hết sức phong phú về cấp độ biểu hiện Trớchết về mặt lí luận, tác phẩm văn học viết bao giờ cũng là sản phẩm sáng tạocủa từng cá nhân Còn về thực tiễn sáng tác, văn học trung đại có cả một quátrình phát triển hơn mời thế kỷ, bắt đầu từ thế kỷ X và kết thúc vào cuối thế kỷXIX Qua khảo sát của nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định

có dấu ấn cá nhân trong văn học trung đại, và ở mỗi giai đoạn con ngời cánhân lại có những biểu hiện phong phú của nó

1.2.1 Con ngời cá nhân trong văn học Lý-Trần (thế kỷ X-thế kỷ XIV).

Con ngời cá nhân trong văn học Lý - Trần hòa hợp trong cộng đồng, giatộc, dòng họ, quốc gia với ý thức về phận sự cá nhân trong xã hội Do đó mọiquyền lợi, danh dự, vinh nhục của quốc gia cũng là của cá nhân và ngợc lại

Trong Hịch tớng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã trình bày một cách khá trần trụi mối

quan hệ giữa "ta" và "các ngơi" nh là các cá nhân, dòng họ trong cộng đồngquốc gia về lợi quyền, danh dự Quan hệ của chủ tớng và tỳ tớng nổi bật hơnquan hệ quốc gia Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra những biểu hiện hởng lạc cá nhâncủa đám tỳ tớng Chủ tớng cũng đã đặt lợi ích cá nhân của mình trong mốiquan hệ với lợi ích của tỳ tớng và đặt lợi ích cá nhân của tỳ tớng trong quan hệvới lợi ích quốc gia

Con ngời cá nhân trong văn học Lý - Trần vừa có mặt yêu nớc, thợng

võ, vừa có cảm nhận sâu sắc về tính chất h huyễn của cuộc đời, trớc hết là củacái thân con ngời

Thân nh điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

(Vạn Hạnh - Thị đệ tử)

Trang 13

Cùng với sự "vô úy", không sự hãi trớc mọi biến động và cái chết, conngời Thiền học khao khát đợc tiêu dao, tự tại, giải thoát mọi hữu hạn trần tục

để đạt đợc cái tuyệt đối của thế giới, hòa hợp với tự nhiên:

Thú quê nào chán suốt ngày vui.

(Không Lộ - Ng nhàn)

Sự hòa hợp với thiên nhiên ở đây bằng thể nghiệm cá nhân của mỗi ngời

mà ngời ngoài khó bề biết đợc, mặc dù nội dung của nó là quên cá nhân đợcthức tỉnh trong vai trò tự cứu, tự tìm đờng giải thoát, tự tìm thấy yên tĩnh, hòanhập với lẽ thiên nhiên trớc lẽ sinh diệt, huyễn ảo "Đó là ý thức cá nhân thuầntúy tinh thần, hòa hợp với thiên nhiên một cách siêu tự nhiên, siêu kinhnghiệm." [24, 141]

Con ngời chịu ảnh hởng của t tởng Nho gia bộc lộ ở phơng diện con

ng-ời kính sợ Một mặt, con ngng-ời Lý - Trần là con nhà thợng võ, biểu hiện cho sự

yêu nớc, tự hào dân tộc, nhng mặt khác họ lại rất tin mệnh trời (Đại Việt sử ký toàn th) Con ngời Lý - Trần tự cảm thấy khi hết vận, hết thời, khi bị đe dọa

phải bị trừng phạt trớc trời Bên cạnh đó, con ngời cũng đợc coi là kết tinh đặcbiệt của đất trời

1.2.2 Con ngời cá nhân từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVIII.

Từ chỗ đạo Phật chiếm u thế ở thời Lý - Trần, đến thế kỷ XV Nho giáo

đã vợt lên, chiếm vị trí độc tôn trong xã hội Sự biến đổi ấy đã làm thay đổihình thái con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam thời kỳ này, thể hiện ởviệc lựa chọn con đờng ứng xử của họ trong đời Thời kỳ này quan niệm conngời cá nhân nổi bật trong sáng tác của một số tác giả tiêu biểu nh: trong thơ

Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong Việt điện u linh, Lĩnh nam chích quái và Truyền kỳ mạn lục.

Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi đợc thể hiện trong sự lựa chọn khôngbao giờ xong của ông Nổi bật nhất là trong bản thân sự lựa chọn day dứt giữa

các t tởng, các con đờng "lập thân", "dỡng thân" và nhất là "bảo thân" nhng

rút cuộc vẫn không thoát đợc lỡi gơm oan nghiệt của số phận Với thơ NômNguyễn Trãi, ta gặp một con ngời có ý thức cao với đức tài, lý tởng đại dụng.Mặc dù nhiều lúc ông muốn lánh xa tất cả để hởng cuộc sống an nhàn củariêng bản thân mình, sống theo sở nguyện nhng trong lòng ông lúc nào cũngcanh cánh nỗi u dân ái quốc, mong muốn đem sức tàn ra giúp đời

Còn có một lòng âu việc nớc,

Trang 14

Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung.

( Thuật hứng - XXIII )

Đây chính là biểu hiện của ý thức về số phận cá nhân, về bản lĩnh conngời, của một ý thức muốn cống hiến cho xã hội, bất chấp hiểm nguy, làm cho

sự day dứt của nhà thơ mang tính chất bi kịch cá nhân không lối thoát

ý thức cá nhân Nguyễn Trãi còn biểu hiện ở ý thức tự khẳng định,chống hoà đồng với thói phàm, đứng ngoài thói tục ý thức này quyện chặt với

ý thức nghĩa vụ, sứ mệnh nêu trên, quyện chặt với quan niệm con ngời rất sâusắc của Nguyễn Trãi là con ngời "hữu tài thời hữu dụng" Đối với NguyễnTrãi, lý tởng đại dụng là lý tởng làm việc lớn, ích quốc lợi dân, chứ khôngphải lợi cho cái tôi nhỏ bé của mình, không phải đua chen, cạnh tranh, cơ hội

Về cái tôi này, Nguyễn Trãi có đủ một lý thuyết sáng suốt để giữ mình (Bảo kính cảnh giới - XLIX) Nguyễn Trãi biết giữ thân, nhng cũng biết giữ nguyên

tắc, không a tòng với thói tục, không chịu lẫn lộn phợng với diều, việc đókhiến nhà thơ cô đơn, cô độc một cách thanh cao, kiên định, khép kín:

Ngời tri âm ít, cầm nên lặng, Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu.

Bằng đối lập, con người cỏ nhõn tự khẳng định mỡnh trong loại: cụngdanh - nhàn vụ sự, khen - chờ, giàu - nghốo, khụn - dại, được - mất, ngu - hốn,cương - nhu, nhọn - tự, cũng tức là sự khẳng định mỡnh trong lẽ biến dịch,

Trang 15

trong phẩm chất trí tuệ thâm thuý Trọng tâm của ý thức cá nhân là giữ mìnhcho an toàn, thanh thản, yên phận So với con người cá nhân trong thơNguyễn Trãi, ta thấy con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫnthanh cao nhưng khép kín hơn, quyết liệt hơn, tuyệt giao hơn Ông không có

sự ngập ngừng trăn trở như Nguyễn Trãi nữa

Con người cá nhân cũng được biểu hiện trong Việt điện u linh, Lĩnh nam chích quái và Truyền kỳ mạn lục Truyền kỳ, chí quái mở ra một thế giới

tâm linh, siêu thực, cho phép chủ nghĩa cá nhân có dịp biểu hiện nhiều mặt

hơn Trong Truyền kỳ mạn lục ta bắt gặp một thế giới những con người sống

trong bể dục, tình dục "Dục" trong đó quan trọng hơn cả là tình dục, vật dụcđược xuất hiện như một phạm trù của ý thức cá nhân nhưng lại được hiểu ởphương diện tiêu cực Nó xuất hiện dưới những phẩm chất phản diện, dướihình thái của cái ác, cái xấu Trung Ngộ tham dục với hồn ma cây gạo, chàng

Hà Nhân mê đám hai hồn hoa Liễu, Đào, người con gái Nam Xương chết oan

vì chồng ghen bóng ghen gió Những ai lánh xa hư trần, vật dục thì được lêntiên, thành tiên lên trời như Từ Thức, Vũ Nương Những ai hám lợi, hám dụcđều bị trị tội ở địa phủ Các nhu cầu hưởng thụ cá nhân, ích kỷ được coi là có

cội nguồn yêu quỷ, giao long, thuồng luồng Nhưng mặt khác cái "dục" của

cá nhân tự do trong tình yêu nam nữ, tuy không được thừa nhận trong thờibình, nhưng lại được miêu tả như những cuộc tình kỳ ngộ lãng mạn đáng nhớ.Những cuộc tư tình lấy hưởng thụ làm mục đích, tất nhiên không được nhànho chấp nhận về mặt đạo lý, nhưng về mặt tình cảm lại được ngòi bút tác giả

ưu ái miêu tả khá đẹp với những vần thơ tình tứ đặc sắc Những bài thơ củaNhị Khanh, của hai nàng Liễu, Đào tả những cảm xúc ái ân thật táo bạo hiếm

có trong văn học thời ấy và cũng khó xuất hiện dưới dạng phi truyền kỳ

Cùng với Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam chích quái, một số truyện trong Thánh Tông di thảo (Thế kỷ XV) có thể nói đây là lần đầu tiên yếu tố tình dục

Trang 16

được đưa vào văn học dưới dạng lưỡng tớnh, vừa phủ định vừa khẳng định.Điều đỏng núi ở đõy là tỡnh yờu cỏ nhõn tự do khụng gắn với nghĩa vụ Núđược khẳng định trong văn học dưới dạng tội lỗi, cấm kỵ mà lại hết sức đỏngyờu, tạo nờn một sự thớch thỳ như khi lộn ăn trỏi cấm Với con người cỏ nhõnlỳc này, người ta cú thể lấy tỡnh mà thưởng mà tha, chứ chưa cú lý để khẳngđịnh, bảo vệ

1.2.3 Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII XIX

Từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Namngày càng suy thoái, kỷ cơng đổ nát, chiến tranh liên miên cả nội chiến lẫnngoại xâm Sự xâm nhập của t bản phơng Tây và sự xâm lợc của thực dânPháp càng thúc đẩy chế độ phong kiến suy tàn Đó là thời đại khiến con ngờicá nhân thức tỉnh, tự khẳng định mình bằng mọi cách, mà trớc hết là các giátrị cá nhân Thời kỳ này khi luân thờng đạo lý đã đảo lộn, con ngời cá nhân,cá thể hiện ra trần trụi Số phận con ngời trở nên mong manh, yếu đuối hơnbao giờ hết, nhất là số phận của ngời phụ nữ Một dòng t tởng thơng ngời xótthân nổi lên, bên cạnh khuynh hớng sáng tác hởng lạc và trào phúng Một thế

hệ ngời ngang tàng, tài tử, sống ngoài khuôn phép, trở thành nhân vật của mộtloạt giai thoại cũng là bằng chứng của con ngời cá nhân Nếu đứng ở lập trờng

ý thức hệ thì có thể nói đó là một sự suy đồi, nhng nếu xét ở quá trình ý thứccon ngời trong văn học Việt Nam thì đây là một hiện tợng tiến bộ Quá trình

tự ý thức cá nhân ở đây gắn với quá trình sụp đổ của các khái niệm giáo lý, sựphai nhạt của hào quang, của thánh hiền, vì thế nó mang tính chất là cuộc pháthiện lại Đây cũng là quy luật chung của ý thức cá nhân trong văn học trung

đại của các dân tộc nói chung

Con ngời cá nhân trong thơ văn thời kỳ này đa dạng và phong phú vềcấp độ biểu hiện Đó là con ngời cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn

trong Chinh phụ ngâm (Thế kỷ XVIII) của Đặng Trần Côn và bản dịch của

Đoàn Thị Điểm Các tác phẩm tập trung biểu hiện khát vọng đợc hởng hạnhphúc tuổi trẻ, cái phần vật chất của con ngời Nhu cầu ái ân thầm kín, khó nóinhất xa nay và cũng bị coi khinh nhất của con ngời nay đã đợc nói to lên bằngngôn ngữ của tự nhiên nh một cái quyền chính đáng, nhân danh âm dơng, tạohoá ý thức cá nhân làm cho con ngời không tin vào cái vĩnh viễn, họ chỉ tin

Trang 17

vào lúc này, kiếp này, thân này Đó là một bớc ngoặt trong quan niệm con

ng-ời trong văn học Việt Nam Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều lại

thể hiện tính chất h ảo, biến hoá, vô nghĩa của giá trị con ngời cá nhân Ngờicung nữ là một biểu trng cho giá trị tài - sắc, có quyền đợc hởng mọi điều kiệnhạnh phúc, sung sớng:

lại thấy cuộc sống cảm tính là hấp dẫn nhất Cung oán ngâm khúc đã có

những đoạn cực tả cảnh tình dục rất khêu gợi :

Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt, Lúc cời sơng cợt tuyết đền phong.

Đoá lê ngon mắt cửu trùng, Tuy mày điểm nhạt nhng lòng cũng xiêu

Nguyễn Gia Thiều miêu tả cảnh hành dục không nh một tội lỗi kiểu

Truyền kỳ mạn lục mà nh một niềm kiêu hãnh sung sớng Có thể nói thế kỷ

XVIII đã xảy ra một bớc ngoặt lớn trong quan niệm con ngời cá nhân, làm nở

rộ một dòng văn học nhân đạo, khác với văn học nhân nghĩa trớc đó Quyền

sống của con ngời trần thế, giá trị của con ngời thân xác với bao thứ dục chính

đáng của nó đợc quan tâm, bảo vệ Bất kỳ cái gì chà đạp lên giá trị ấy, quyềnsống ấy đều là cái ác, cái xấu, cái đáng oán hận

Một biểu hiện hiếm có, hết sức độc đáo của con ngời cá nhân trong vănhọc Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - XIX là con ngời bản năng trong thơNôm Hồ Xuân Hơng, chúng tôi mợn ý kiến của Nguyễn Lộc, ông đã có nhữngphát hiện rất "trúng" về bà: "Hồ Xuân Hơng không giả dối, bà đã công khainói lên cái sự thực ấy Thoả mãn cuộc sống bản năng cũng là một khát vọngchính đáng của con ngời giống nh bất cứ một khát vọng chính đáng nào; và

điều đáng chú ý hơn nữa ở nhà thơ này là đã công khai nói đến cuộc sống bảnnăng, dù viết về những đề tài cốt để ngời ta liên tởng đến chuyện trong buồngkín của vợ chồng nhng bất cứ một bài thơ nào của bà cũng đều gợi lên mộtcảm giác đẹp hiếm có Và chính những điều này đã nâng nhà thơ lên hàng lỗilạc, chứ không phải là nhng kẻ tầm thờng lam thơ, viết văn với mục đích khiêu

Trang 18

dâm '' [21, 11] Biểu hiện cho ý thức về con ngời cá nhân, cho "cái tôi" của Hồ

Xuân Hơng là những bài thơ Nôm truyền tụng của nhà th tự viết về mình (Tự tình I, II, III, Mời trầu, Mắng học trò dốt, Đề đền Sầm Nghi Đống) Nổi lên

trong những bài thơ của bà là hình tợng con ngời cá nhân bản năng: ca ngợi vẻ

đẹp thân thể ngời phụ nữ, đề cao nhu cầu ái ân, khát vọng hạnh phúc trần thếcủa con ngời Con ngời trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng còn là một con ngời

đầy bản lĩnh trớc cuộc sống, dám vợt qua mọi rào cản của lễ giáo phong kiến

để làm chủ số phận, làm chủ tình cảm và khẳng định vị trí của mình tr ớc cuộc

đời

Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ta bắt gặp con ngời cá nhân cô

đơn, xót mình đầy tâm trạng trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều của Nguyễn

Du Thanh Hiên thi tập tràn đầy tình cảm tha hơng, lu lạc Đó là môi trờng

hoàn cảnh khiến con ngời ý thức đợc cá nhân của mình Con ngời cảm thấy

“cô độc”, “vô cố nhân”, “tứ cố vô thân” ý thức cá nhân càng rõ rệt khi cha

đ-ợc “nhận thức” (ngời khác cha biết mình), còn vị ngộ (cha gặp đđ-ợc minh chúa), cha có ngời tri kỷ (Lu biệt Nguyễn đại lang) Cá nhân đợc ý thức khi

bên cạnh mình không có ngời tri kỷ cùng chí hớng, đồng cảm, thân thiết:

Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ

(Ta có tấc lòng không biết nói với ai)Cá nhân ý thức đợc sự tàn tạ của cơ thể mình: già nua, yếu đuối, bệnhtật trớc sức công phá của thời gian và thế sự ý thức cá nhân thể hiện sâu hơnnữa ở chỗ thấy những giá trị mà mình quý trọng, nâng niu đã trở nên vô dụng,vô nghĩa :

Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri

(Mệnh bằng cái lông mà không biết)

Con ngời có tài lại biến thành bất tài ông còn thấy tài là khổ, "chữ tài liền với chữ tai một vần" Để nâng cao giá trị con ngời, ông đề xớng chữ

"tâm": nó cũng mang nội hàm cá nhân Cái tâm là cái thật của mỗi ngời, ông

thừa nhận cái đau xót là hiện hữu của mỗi ngời, là quyền sống của mỗi cá

nhân - ngời, ai cũng nh ai, đều là cá nhân bình đẳng Trong Truyện Kiều ông

viết :

Thịt da ai cũng là ngời

Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau

Trang 19

Ông quan niệm khát vọng lớn nhất của con ngời là đợc sống trọn vẹncuộc đời trần thế, không tin vào những hứa hẹn siêu hình xa xôi Trải nghiệmqua cuộc sống, Nguyễn Du phát hiện con ngời cá nhân rất nhỏ bé, chỉ nh một

"chút" gì đó mà thôi:

- Tha rằng chút phận ngày thơ

- Của tin gọi một chút này làm ghi

Đến đây có thể nói Nguyễn Du đã có ý niệm về tâm lý cá nhân làm nềntảng cho sự miêu tả nhân vật Đó là con ngời sống trong tình huống cụ thể, cábiệt vì ứng xử với tất cả những gì nó có Truyện Kiều đỉnh cao về quan niệmcon ngời cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam với nhiều bình diện phong

phú nhất, phức tạp nhất Có thể nói Truyện Kiều là tập đại thành về quan niệm

con ngời cá nhân của thời đại

Thời kỳ này ta còn bắt gặp một dạng thức khác nữa của con ngời cánhân, đó là con ngời cá nhân công danh, hởng lạc ngoài khuôn khổ trong thơvăn Nguyễn Công Trứ Là nhà nho, ông ý thức rõ vị trí và con đ ờng tiến thâncủa mình và sứ mệnh "làm trai" trong xã hội phong kiến, nhng ông đã thoát rakhỏi ý thức khắc kỷ phục lễ, an bần, nói năng nghiêm túc và coi xã hội nh mộtmôi trờng để mình thi thố tài năng, tự khẳng định mình Quan niệm lập côngdanh của Nguyễn Công Trứ mang ý vị cá nhân, đó là lập công danh cho chínhmình, lu danh là in dấu mình vào lịch sử, lu danh là hình thức cao nhất để tựkhẳng định mình trong bất hủ với vô hạn thời gian

Nguyễn Công Trứ chủ trơng hởng lạc Đây là một sự khẳng định bảnthể của cá nhân Sự hởng lạc phải tính từng ngày:

Trăm năm trong cõi ngời ta,

Xoá sổ tính ngày chơi đà đợc mấy

Hởng lạc là tự do tự tại Cái cách về làng cỡi trên lng bò vàng, cổ đeolục lạc, sau lng theo một đôi cô gái trẻ là hành động chớng tai gai mắt đối vớithói tục, là sự thách thức, buộc ngời đời phải thừa nhận cái "ngất ngởng" củacá nhân Nh vậy, đến Nguyễn Công Trứ, đã có bớc phát triển cao nhất của ýthức cá nhân mang nội dung phong phú hài hoà trong văn học Việt Nam

Từ Nguyễn Công Trứ trở đi hình thành một dòng thơ ca trù thể hiện lý ởng hởng lạc với các tác giả nh Dơng Lâu, Dơng Khuê, Nguyễn Đức Nh, Trần

t-Lê Kỷ Thế hệ nhà nho này không còn ý thức "hữu trách" với thiên hạ, khôngcòn tinh thần "u hoạn" cho đời, không còn chí với đạo, chỉ còn biết có thoả

mãn với thú vui hình hài, trăng gió (Nợ phong lu - Dơng Khuê) Nợ chơi

Trang 20

không chỉ phải trả bằng ngâm vịnh, thởng ngoạn các thú thanh tao, mà chủ

yếu trả bằng đam mê sắc dục (Cái dại) Đây thực chất vẫn là cái cá nhân bản

năng tính dục đợc che đậy bằng cách kết hợp với các thú vui thanh nhã Quanniệm phong lu - âm dơng - tính dục đã có từ xa, nhng bây giờ đã trở thành mộthiện tợng công khai trớc ý thức xã hội; sự đề cao một chiều ý thức này đã làmphai nhạt ý thức xã hội, thậm chí quay lng với cuộc sống Đó là một bớc lệchcủa ý thức cá nhân

Nhng bên cạnh tầng lớp trí thức nhà nho quan lại quay lng lại với thựctrạng đất nớc, tìm thú vui trong "phong, hoa, tuyết, nguyệt ", một tầng lớp nhànho khác đứng về phía tổ quốc, nhân dân, ôm lý tởng giúp dân cứu nớc, đó làNguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích Họ vẫn giữnguyên nhân cách nhà nho, coi mình có trách nhiệm trớc thời cuộc nhng cũng

ý thức đợc sâu sắc sự bất lực của mình, tạo thành nỗi buồn bi phẫn sâu đậm.Nhìn về phía trớc, họ thấy tơng lai vô vọng, đời ngời ngắn ngủi, bất lực, khôngcòn kế sách để ứng phó với thời cuộc:

Cất chén chán chờng bàn việc cũ

Đời ngời hổ thẹn bạc đầu râu

(Dời chỗ đến ở Thợng Bằng La, châu Văn Chấn)

Thơ văn Nguyễn Khuyến tiếp tục ý thức về sự bất lực, trống rỗng, sự vônghĩa của cá nhân trong thời cuộc ý thức cá nhân của ông góp phần đánh dấu

sự chấm dứt vai trò của mô hình nhân cách truyền thống ông thấy con ngờinhà nho đợc vũ trang bởi các kiến thức ngũ kinh và quan tớc đều trở nên vônghĩa trớc họa ngoại xâm:

Sách vở ích gì cho buổi ấy,

áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày xuân dặn các con)

Mất năm 1907, Tú Xơng thuộc vào số nhà thơ lớn cuối thế kỉ XIX Sốnggiữa buổi giao thời đầy nhố nhăng, giá trị đảo lộn, nhà thơ đã đem tiếng cời rachế nhạo mọi điều "chớng tai gai mắt" đơng thời Tiếng cời của Tú Xơng có ýnghĩa mới mẻ, đó là tiếng cời giải thoát cá nhân Đó vừa là tiếng cời nhằm để

cời ngời nhng cũng là cời mình (Tự cời mình, Ba cái lăng nhăng, Hỏng khoa Canh Tý, Thơng vợ) Rõ ràng nhà thơ tự giễu mình bằng việc tự kể ra hàng

loạt tật xấu của mình: nịnh vợ, khinh đời, bài bạc, rợu chè, trai gái, không họchành Nhng xét ở nghĩa nào đó thì các tật không hoàn toàn là xấu cả, tuy nó

Trang 21

không hay nhng nó là cuộc sống ngoài quyền môn tự do, không luồn cúi TúXơng đã mở ra một phạm vi mới trong tự do cá nhân mà chỉ thật sự đáng chêkhi đi quá giới hạn Con ngời nhà thơ nh sống trên đờng biên của cái khuônphép và phi khuôn phép Thơ Tú Xơng có giọng điệu rất ngông, dám nói toạcnhững điều ngời đời không dám nói.

Nh vậy lợc sử qua những biểu hiện con ngời cá nhân trong văn họctrung đại Việt Nam có thể cho thấy con ngời cá nhân thời trung đại ở một ph-

ơng diện nào đó đã phá vỡ quan niệm thẩm mỹ có tính quy phạm cứng nhắcthời phong kiến, tạo nên ý nghĩa nhân văn nhất định Tuy nhiên về cơ bản, conngời cá nhân trong văn học trung đại vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ của xãhội phong kiến

1.3 Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam hiện đại.

1.3.1 Sự thức tỉnh của con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam thời kì

1930 - 1945.

Văn học Việt Nam 1930 - 1945 với sự xuất hiện của thơ mới, văn xuôi

Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực phê phán đã đợc đánh giá là một giai

đoạn văn học đánh dấu cho sự chuyển biến của văn học dân tộc từ trung đạisang hiện đại, trong đó trung tâm là sự đổi mới về quan niệm con ngời Xãhội Việt Nam những năm 1930 - 1945 là một xã hội đầy biến động về mọi mặtkinh tế, chính trị, văn hoá, đã dẫn đến sự xuất hiện con ngời cá nhân và ý thứcmới về cá nhân

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mà chủ yếu là tiểu thuyết luận đề nổi bậtlên là luận đề về con ngời cá nhân Đó là dòng tiểu thuyết đầu tiên nêu lênluận đề về con ngời cá nhân một cách xuyên suốt, liên tục và tập trung Trớchết, đó là xung đột của con ngời cá nhân với gia đình truyền thống Nhân vậttrong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn bị đè nén, áp chế bởi những quan niệmphong kiến khắt khe, nặng nề nhng họ dám phản kháng và bảo vệ quyền cánhân của mình Trớc hết, họ là những con ngời có quan niệm sống hoàn toànmới mẻ: sống tự do không bị bó buộc trong khuôn khổ gia đình, sống tự lập

bằng chính năng lực của mình, không phụ thuộc vào ai (Loan trong Đoạn tuyệt) Con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ý thức một cách

đầy đủ về quyền bình đẳng với mọi ngời (Loan trong Đoạn tuyệt) Họ ý thức

quyền bình đẳng trong hôn nhân sắp đặt mà hớng tới tự do hôn nhân Họ

thẳng thắn phản đối hôn nhân đa thê trong chế độ cũ (Mai trong Nửa chừng

Trang 22

xuân, Nhung trong Lạnh lùng) Con ngời Tự lực văn đoàn luôn thờng trực ý thức về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự của mình (Mai - Nửa chừng xuân, Loan - Đoạn tuyệt) Có thể nói, các nhân vật trong Tự lực văn đoàn đã

luôn xung đột với những gì cản trở quyền vơn tới cuộc đời mới của họ để sốngmột cuộc sống theo ý muốn cá nhân mình Cuộc sống của con ngời thấy mình

có đủ mọi thứ quyền để trở thành một cá nhân đích thực Ta có thể nói: "Tiểuthuyết của Tự lực văn đoàn là bản tuyên ngôn, nhân quyền bằng nghệthuật"[42, 33] Sự tự tin vào các quyền con ngời nh trên chứng tỏ niềm lạcquan tin tởng vào các lý tởng t sản mà họ tiếp nhận trong sách vở Dù là ảo t-ởng nhng phải công nhận là độc đáo, hồn nhiên, trong sáng Chính điều này

đã đem đến cho con ngời tiểu thuyết Tự lực văn đoàn một tính chất lãng mạn :

Sự vơn tới những giá trị tinh thần mới mẻ của con ngời cá nhân

Bên cạnh đó, con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn tìm sựgiải thoát trong tình yêu, trong thế giới nội tâm hay trong những ớc mơ cảicách xã hội Đó là những mối tình lãng mạn diễn ra theo nhịp đập của trái tim

(Ngọc trong Hồn bớm mơ tiên, Vọi trong Trống mái) Đấy là những mối tình

bất chấp "môn đăng hộ đối" đứng ngoài mọi sự chênh lệch xã hội Trong quanniệm của lớp ngời trẻ tuổi này, tình yêu là một cái gì vợt lên trên những thông

lệ xã hội và ràng buộc luân lý (Tuyết trong Đời ma gió và Cảnh trong Thanh

Đức) Họ ớc mơ cải cách xã hội, đặc biệt là nông thôn (Bảo trong Gia đình, Duy trong Con đờng sáng) ý tởng cải cách của các nhân vật Tự lực văn đoàn

là ảo tởng nhng xét về mặt tinh thần đó cũng chính là một hình thức để khẳng

định tự do cá nhân trớc các nẻo đờng tiến thân của xã hội

Thêm vào đó, con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ở cấp

độ cao nhất là con ngời với ý thức cá nhân cực đoan đòi hỏi giải phóng bảnnăng đứng trên hoặc bất chấp đạo đức và các quan hệ xã hội Tiêu biểu là

Tuyết (Đời ma gió), Nam (Đẹp), Trơng (Bớm trắng) Họ khẳng định một thứ

tự do cá nhân tuyệt đối bất chấp luân lý đạo đức và quan hệ xã hội thông ờng Đó là sự phát triển méo mó của ý thức cá nhân Tính chất luận đề củatiểu thuyết Tự lực văn đoàn có ý nghĩa tiến bộ nhất định nhng đồng thời nócũng chứa trong nó phần hạn chế rất lớn Nhân vật ít tính thực tế, ít bóng dángcủa hiện thực đời sống và không có cá tính hoá sâu sắc

th-Thời kỳ 1930 - 1945 ghi dấu sự xuất hiện của thơ mới - một trào lu lãngmạn với cuộc đấu tranh quyết liệt với thơ cũ để khẳng định cái tôi cá nhân

Trang 23

Thơ mới lãng mạn ra đời mang theo một cái "tôi" cá nhân Trong văn họctrung đại, con ngời cá nhân không đợc tôn trọng Còn trong thơ mới, con ngờicá nhân giải thoát khỏi mọi rào cản của lễ giáo phong kiến, tự do bộc lộ mọitâm t nguyện vọng riêng t của nó Trong thơ mới xuất hiện rất nhiều kết cấucâu "Ta là ", "Tôi là " thể hiện sự tự khám phá bản thân Cái tôi cá nhânthể hiện khát khao mãnh liệt đợc yêu, đợc hởng hạnh phúc trần thế của con

ngời (Yêu, Vội vàng - Xuân Diệu) Do nó là cái tôi cá nhân tiểu t sản bất đắc

chí giữa thời cuộc rối ren lại mang trong mình một quan niệm nghệ thuật vànhân sinh sai lầm nên nó là cái tôi cô đơn, lạc lõng Nỗi cô đơn tràn ngập khắpmọi nơi:

Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh buốt suốt xơng da.

(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)

Hay:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nớc song song Thuyền về nớc lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

(Tràng giang - Huy Cận)

Nó không tìm thấy mối liên hệ với cuộc sống xã hội và phong trào đấutranh của quần chúng nhân dân nên cảm nhận thấm thía sự bế tắc không lốithoát của mình, đau khổ khi nhận ra "Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ" Bơvơ, sầu tủi, họ lại càng lánh xa cuộc sống bên ngoài và tự thu mình vào trongnhững "tháp ngà nghệ thuật" "Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi Mất

bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhng càng đi sâu càng lạnh" [31, 46] Mỗi ngời tìm

cho mình một lối thoát, nhng nhìn chung có mấy con đờng quen thuộc Phổbiến nhất là con đờng thoát ly vào tình yêu Tiêu biểu là một số nhà thơ nhXuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chơng Muốn tránh bơ vơsầu tủi ngoài cuộc đời, Xuân Diệu tiến vào tình yêu nhng cũng chính vì đàosâu vào cái tôi cá nhân tiểu t sản mà ông cũng đạt đến đỉnh điểm của nỗi buồn

và sự cô đơn:

Dầu tin tởng: chung một đời, chung một mộng

Em là em, anh vẫn cứ là anh

Trang 24

Có thể nào qua Vạn lý trờng thành Cả hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

(Xa cách)

Một số nhà thơ mới thoát ly bằng con đờng tìm về quá khứ Họ nhớ tiếcnhững cái gì vàng son đã tàn tạ, đã mờ xa trong quá khứ (Thế Lữ, Nguyễn

Đình Liên, Nguyễn Nhợc Pháp, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chơng ) Quá khứ

đợc hoài niệm trong thơ mới nhìn chung đều là một cái gì tốt đẹp hơn, huyhoàng hơn cuộc đời hiện tại Điều đó cũng có nghĩa là các nhà thơ mới chánghét hiện tại "ao tù" và tỏ thái độ quay lng, phủ nhận hiện tại Nói chung con

đờng đi về quá khứ là con đờng thoát ly hiện thực đấu tranh cách mạng củadân tộc Do cái tôi cá nhân tiểu t sản bị cắt đứt với phong trào cách mạng quầnchúng lao khổ nên họ rơi vào bế tắc Nhiều lúc muốn đi thẳng về phía trớc,muốn hớng về một tơng lai nhng nhìn đâu cũng thấy ngõ cụt, tơng lai mù mịt,không định hớng Bế tắc, cô đơn không biết đi đâu, làm gì họ lại quay thụt lạicon đờng về với quá khứ để trốn tránh thực tại quẩn quanh vô nghĩa lý đó Trong các con đờng thoát ly của cái tôi cá nhân thơ mới, con đờng nguy

hiểm nhất là trốn vào truỵ lạc để quên lãng, để tìm những cảm giác lạ (Tranh loã thể - Bích Khê) Năm 1940, thơ Thế Lữ xuất hiện hình ảnh "khói huyền

lên" Đến Vũ Hoàng Chơng thì "rợu, thuốc phiện và gái giang hồ đã trở thànhmột đề tài của thi ca" Xuân Diệu, Huy Cận đã gọi cái thời này là "một thời trơtrẽn" trong văn chơng: "Cái ngọn đèn dầu lọc, cái móc, cái liêm ngang nhiênnằm trong thơ Nghệ sĩ lặn ngụp trong cái đê hèn, họ lại loã lồ mà ca tụng

nó, để cho bọn ngời khác cũng lây mà mất trong sạch Thì ra, nh lời Phật nói,trên cái bùn rác, ngời ta phủ gấm vóc lên Có thời nào trong văn học ta mà trơtrẽn, loã lồ đến nh thế hay không ?" [5] Vũ Hoàng Chơng chính là một trongnhững nhà thơ đã rơi vào sự điên rồ của truỵ lạc nh vậy Những cảnh xác thịt

trong thơ ông đợc bao phủ bởi một màn sơng thi vị (Tối tân hôn) Say để quên

- quên mình, quên đời, quên đau khổ, cô đơn, bế tắc (Mời say) Cái say trong

thơ Vũ Hoàng Chơng lại là cái say phá phách của một kẻ thị dân

Đi vào truỵ lạc để lãng quên cuộc đời, gây nên tác động tiêu cực tronglối sống của lớp thanh niên thị dân lúc bấy giờ là một điều tội lỗi Cái tôi cánhân đến lúc này đã đi đến bớc đờng cùng của nó

Bên cạnh những bớc tiến của dòng văn học lãng mạn thì dòng văn xuôihiện thực phê phán cũng đạt đợc những thành công đáng kể cả về nội dung t t-

Trang 25

ởng lẫn nghệ thuật biểu hiện Văn xuôi hiện thực phê phán mà tiêu biểu làtruyện ngắn hiện thực phê phán đã khám phá con ngời cá nhân ở một cấp độmới hẳn đó là con ngời xã hội và con ngời cá nhân kết hợp.

Thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động.Nhân dân ta rên siết bởi sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị phong kiến vàbọn cớp nớc thực dân Pháp Mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp ngày càngcăng thẳng và luôn báo hiệu những cải biến quan trọng Hoàn cảnh chính trịxã hội nớc ta thời kỳ này có sức tác động rất lớn đến văn học văn học Vănxuôi hiện thực nh xã hội trong quan hệ với số phận và ứng xử cá nhân Hoàncảnh là đối tợng quan tâm chính của nó, nhng con ngời vẫn là điểm tựa đểnhìn vào hoàn cảnh "Văn học hiện thực xem con ngời là sản phẩm của hoàncảnh, là tiêu biểu của hoàn cảnh Mổ xẻ con ngời là khám phá tác động hoàncảnh lên con ngời" [30, 74] Đó là quan niệm mới về con ngời, thể hiện cáinhìn sắc bén và chân thực về con ngời mà văn học trớc đó cha nhận thức đợc.Con ngời cá nhân trong xã hội hiện thực đợc đặt trong mối quan hệ với hoàncảnh xã hội, nó có một số đặc điểm nổi bật

Trớc hết con ngời cá nhân đã mong muốn tự khẳng định vai trò củamình trong xã hội, tự ý thức về nhân cách làm ngời của mình Nhân vật Hộ

trong Đời thừa (Nam Cao) là một nhà văn có tâm huyết với nghề, có hoài bão

lớn lao, luôn có ý thức "làm đợc cái gì đó" lớn lao cho xã hội: " Nó phải chứa

đựng đợc một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó catụng lòng thơng, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho ngời gần ngời hơn".Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao bị cái đói hành hạ nhng lãothà tìm đến cái chết để giữ vững nhân cách chứ nhất định không để cho cái đói

làm méo mó nhân phẩm Hay trong tiểu thuyết Tắt đèn (Ngô Tất Tố), các

nhân vật chính nh chị Dậu, anh Dậu, cái Tí là những con ngời có phẩm chấttốt đẹp, không bị thay đổi trớc sức ép của hoàn cảnh

Bên cạnh đó con ngời cá nhân đợc phản ánh trong văn xuôi hiện thựcphê phán còn là những con ngời với sự thức tỉnh ý thức cá nhân và những bikịch tinh thần đau đớn (Tâm trạng trăn trở, suy t với sự giằng xé của Mịch khi

nằm ở nhà thơng trong Giông tố của Vũ Trọng Phụng) Anh Kép T Bền (Kép

T Bền - Nguyễn Công Hoan) biết tin cha đang trong cơn hấp hối mà vẫn phải

diễn trò trên sân khấu hài kịch, trong lòng đau đớn, khổ sở ngoài miệng vẫnphải hát phải cời để mua vui cho thiên hạ, khi anh diễn xong thì cùng lúc đó

Trang 26

bố anh qua đời Trong những truyện ngắn nh Những truyện không muốn viết, Trăng sáng, Đời thừa và tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao đã miêu tả hết sức

chân thực tình cảnh nghèo khổ, sống dở chết dở của những nhà văn nghèo,những giáo khổ trờng t, học sinh thất nghiệp Nam Cao đặc biệt đi sâu vàonhững bi kịch tâm hồn của họ, qua đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội tolớn, vợt ra khỏi phạm vi của đề tài Đó là tấn bi kịch dai dẳng, âm thầm mà

đau đớn của ngời trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, cóhoài bão lớn lao về một sự nghiệp tinh thần, nhng lại bị gánh nặng cơm áo vàhoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công, vô lý, làm cho phải "chết mòn" về tinhthần chẳng những sống cuộc "đời thừa" vô nghĩa mà còn bị sa sút về nhân

phẩm Chí Phèo một kiệt tác của Nam Cao viết về đề tài nông dân, phản ánh

số phận cùng đờng, tha hoá của một bộ phận nông dân lao động Nam Cao đã

đi sâu thể hiện bi kịch của Chí Phèo, đó là "bi kịch của một con ngời bị từchối làm ngời" Chí Phèo bị tha hoá biến dạng cả nhân hình lẫn nhân tính vìhắn đã bán dân lơng tâm để sống Trong con mắt của mọi ngời, Chí Phèo làmột con quỷ dữ, chứ không phải là con ngời Mối tình với Thị Nở đã khiếnhắn thức tỉnh, đánh thức bản chất ngời trong hắn Chí Phèo thèm muốn sự ấm

áp tình ngời, khao khát trở lai làm ngời lơng thiện với một gia đình nho nhỏ,

ấm áp Nhng hắn không đợc xã hội vô nhân đạo đó chấp nhận: "Ai cho tao

l-ơng thiện?" Cái chết của Chí Phèo là đỉnh điểm bi kịch làm ngời của hắn.Trong cái xã hội vô nhân đạo, con ngời muốn sống có nhân phẩm bắt buộcphải huỷ hoại cuộc đời mình Cái chết của Chí Phèo là một minh chứng chobản chất tốt đẹp của ngời nông dân vẫn không hề mất đi ngay cả khi họ bị tàn

phá cả hình ngời tính ngời Trong tiểu thuyết Bỉ vỏ thông qua nhân vật Tám

Bính - một ngời đàn bà sống nghề ăn cắp, Nguyên Hồng cũng đã chỉ ra bikịch đau đớn của con ngời tha hoá, lu manh hoá muốn thoát ra khỏi cuộc sống

ô nhục, trở lại cuộc sống lơng thiện mà không thể thoát ra nổi trong xã hội cũ

Nh vậy quan tâm đến "con ngời xã hội" là đặc điểm chung của văn họchiện thực phê phán Đúng nh Khrapchenkô đã khẳng định "Cá nhân con ngời,

số phận của nó tất nhiên bao giờ cung thu hút sự chú ý của các nhà hiện thựcphê phán, song cái quan trọng nhất của sự miêu tả hiện thực của họ sẽ là sựphụ thuộc vào số phận con ngời vào sự phát triển của những quan hệ xã hội,vào xã hội nói chung" [19, 338]

Trang 27

1.3.2 ý thức cộng đồng và con ngời cá nhân lùi về bình diện thứ hai trong văn học thời kỳ 1945 - 1975.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nớc ta phải đối đầu với haicuộc chiến tranh xâm lợc của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Trong hoàn cảnh

"nớc sôi lửa bỏng" đó, toàn thể nhân dân từ ngời già đến trẻ em, thuộc mọitầng lớp trong xã hội trên mọi miền tổ quốc chung về một mối, phục vụ cho sựnghiệp chung của dân tộc - sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do và thốngnhất đất nớc Văn học cũng trở thành một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến sĩtrên mặt trận ấy Trớc bối cảnh đó, con ngời với sự thức tỉnh ý thức cá nhânthời kỳ 1930 - 1945 trở nên lạc lõng không còn phù hợp nữa Con ngời cánhân lùi về bình diện thứ hai trong văn học 1945 - 1975 Con ngời sử thi với ýthức cộng động trở thành đặc điểm cơ bản xuyên suốt 30 năm chiến đấu củadân tộc Việt Nam anh hùng

Con ngời trong văn học cách mạng 1945 - 1975 là con ngời sống đờisống cộng đồng của dân tộc và cách mạng, những con ngời xả thân vì nghĩalớn và cụ thể ở đây là vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì sự nghiệp giải phóngmiền Nam thống nhất đất nớc Họ tợng trng cho sự quật khởi đầy ý thức củagiai cấp và tiêu biểu cho sức mạnh, vẻ đẹp của dân tộc, thời đại Đó là những

chiến sĩ cách mạng (Một lần tới thủ đô - Trần Đăng), đó là mẹ Tơm (Mẹ Tơm

- Tố Hữu), chị Trần Thị Lý (Ngời con gái Việt Nam - Tố Hữu), cụ Mết, Tnú, Dít (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành), Việt (Những đứa con trong gia đình

- Nguyễn Thi), Lãm, Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu)

Con ngời trong văn học kháng chiến đợc miêu tả với vẻ đẹp hoàn thiện,hoàn mỹ không một vết tỳ xớc Đó là những viên ngọc lung linh trên bầu trờivăn học Việt Nam, trở thành mẫu ngời lý tởng cho mọi ngời noi gơng học tập:

Mẫn (Mẫn và tôi - Phan Tứ), anh hùng Núp (Đất nớc đứng lên - Nguyên Ngọc), Chị Sứ (Hòn Đất - Anh Đức) Họ là những con ngời sẵn sàng hy sinh

vì lợi ích cá nhân, hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp chung Con ngời sốngtheo lý tởng, lẽ sống của thời đại với những khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến",

"Tất cả vì miền Nam ruột thịt", hay " Mình vì mọi ngời, mọi ngời vì mình" ýthức đợc lẽ sống của mình, nhân vật thờng giải quyết mâu thuẫn riêng - chungmột cách nhẹ nhàng, nhanh chóng Anh Nguyễn Văn Trỗi sẵn sàng hy sinhhạnh phúc cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ ở con ngời cộng đồng thời kỳnày có sự hòa hợp giữa con ngời bình thờng với con ngời phi thờng Các nhà

Trang 28

văn vì thế có cái nhìn ngợi ca, ngỡng vọng, tôn sùng với cảm hứng lãng mạn,thể hiện niềm lạc quan, tin tởng vào sức mạnh diệu kỳ xuất phát từ lòng yêu n-

ớc, yêu đồng bào của họ Con ngời sử thi với ý thức cộng đồng đã làm nênmột thời đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam 1945 - 1975 lùi về bình diệnthứ hai, tuy nhiên sự thể hiện nó trong sáng tác của văn nghệ sỹ cũng là một

nỗ lực rất đáng ghi nhận trong việc xây dựng hình tợng nhân vật nhân vật vớicái nhìn đa diện, giúp cho chân dung con ngời trong văn học kháng chiến -phần nào thoát khỏi sự xơ cứng, trở nên chân thực, sinh động, gần gũi vớicuộc sống hơn

Trớc hết, đó là con ngời cầu nhu cầu tự khẳng định mình nh một cánhân Con ngời dù muốn cống hiến sức mình cho cộng đồng, cho cách mạngthì trớc hết họ phải tự ý thức đợc về vị trí và trách nhiệm của cá nhân trong đờisống chung của dân tộc Con ngời thời chiến phần lớn là những nông dân Họtham gia kháng chiến với suy nghĩ rất đơn giản và bình thờng, xuất phát từ

nhu cầu cuộc sống cá nhân của họ Trong Đờng vô Nam, Nam Cao đã chỉ ra

những động cơ, lý do của những ngời cùng lên đờng ra trận: "Ngời thì nh kẻ bị

ức hiếp lâu ngày, vừa thoát ra khỏi ngục tù, vội xông vào đâm chết những kẻ

ức hiếp mình và đập tan những bức tờng dày đã giam hãm mình trong bấynhiêu lâu Ngời thì nghĩ đến tổ quốc, non sông Ngời thì nghĩ đến cái bổnphận nhân dân Ngời thì muốn phá cái chế độ thực dân Ngời thì chỉ thích làmmột ngời lính mà thôi" Con ngời trong văn học thời kỳ này hết sức coi trọngdanh dự cá nhân Nhà nào có con cháu đi bộ đội tức là đem lại danh dự và tự

hào cho gia đình đó (Hải trong Những ngày cuối năm - Trần Đăng, Thảo trong Quà tết của cô Thảo - Nguyễn Xuân Hoè)

Văn học thời kỳ này bên cạnh việc ca ngợi các quan hệ tập thể, phẩmchất tập thể, phê phán thói t hữu của con ngời trong công cuộc xây dựng cuộcsống mới, thì một số nhà văn đi sâu vào khám phá ý thức giữ gìn bản ngã và t

thế của con ngời giữa những biến động của cuộc đời (Ông Nẫm trong Cái lô cốt - Châu Diên) Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhu cầu tự khẳng định mình

còn đợc thể hiện qua ý thức trách nhiệm rất cao, của con ngời về nhân cách

của chính mình Nhân vật Sơn trong Đồng đội (Nam Hà) đã dũng cảm và

trung thực vạch ra những nhát sợ của mình trong chiến đấu Nhân vật Lâm

trong Quả bom nổ chậm (Huy Phơng) cảm thấy nh bị sỉ nhục bởi sự bằng lòng

Trang 29

của mình với vị trí "là một anh chàng lệt bệt".Anh cố gắng khẳng định mìnhbằng những hành động "đợc cáng đáng một việc trên sức mình" Truyện ngắn

đã khơi gợi ở con ngời về ý thức cá nhân, khao khát tự vợt lên để khẳng địnhmình

Con ngời cá nhân trong văn học 1945 - 1975 còn đợc thể hiện là conngời có nhu cầu đợc sống và hởng hạnh phúc Đây cũng là nhu cầu tự nhiêncủa con ngời, nhu cầu sống ở thời kỳ này cũng hết sức mãnh liệt (Thành trong

Lỡi mác xung kích - Hồ Phơng, ông Liên trong Những ngày cuối năm - Trần

Đăng) Cùng với nhu cầu sống, các nhân vật còn thể hiện những mong muốn

đợc hởng hạnh phúc, gia đình êm ấm, no đủ, con cái đông đúc sống no đủ, êm

ấm (Làng, Vợ nhặt - Kim Lân, Vợ chồng APhủ - Tô Hoài, Th nhà - Hồ Phơng, Gặp gỡ - Nguyễn Khoa Hiệp, Theo chồng - Vũ Thị Thờng)

Miêu tả con ngời trong ba mơi năm chiến tranh, văn học thờng thiên về

ca ngợi những con ngời anh hùng trong chiến đấu, con ngời tiêu biểu trongxây dựng xã hội chủ nghĩa mà còn chú ý khắc hoạ những mất mát đau thơngcủa con ngời cá nhân ý thức cá nhân đợc bộc lộ khi con ngời cảm nhận đợcnỗi đau vì mất mát đau thơng của bản thân, gia đình, quê hơng (Tnú trong

Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành), Lợng trong Th nhà - Hồ Phơng, vợ chồng Hải trong im lặng - Nguyễn Ngọc Tấn) Con ngời cá nhân trong văn học 1945

- 1975 còn đợc biểu hiện ở nỗi đau thể chất: "Nỗi đau và những mất mát riêngkhông bị lớt qua, nén lại bởi ý thức quên mình, xả thân, mà đợc cảm nhận tỉ

mỉ và diễn tả sinh động Con ngời cá nhân của nhân vật nh hiện ra bằng xơng

bằng thịt trên trang sách" (10) (ngời thơng binh trong Bàn tay - Định Quang,

Tnú trong Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành), Việc đi sâu khắc hoạ nỗi đau

đớn thể xác của con ngời khiến cho văn học thời kỳ này có giá trị hiện thực vàgiá trị nhân đạo sâu sắc hơn

Văn học thời kỳ 1945 - 1975 đã thật sự gần gũi với cuộc sống hơn khi

đã khắc hoạ chân thành những mặt cha hoàn chỉnh, hoàn thiện của con ngời và

Trang 30

cuộc sống Có thể kể đến một số nhà văn tiêu biểu nh Nguyễn Khải, Vũ ThịThờng, Vũ Tú Nam ở đây cá nhân là phạm vi thể hiện của những khiếm

khuyết, thiếu sót, lạc hậu, xấu xa (ông Tuy Kiền trong Tầm nhìn xa - Nguyễn Khải, Viễn trong Ông chủ tịch xã - Vũ Thị Thờng, Triều trong Chân trời - Đỗ

Chu)

Nhìn chung con ngời cá nhân với những biểu hiện của nó trong văn họcViệt Nam giai đoạn 1945 - 1975 đã chứng tỏ khả năng nắm bắt và nỗ lực sángtạo của các nhà văn để miêu tả cuộc sống ngày càng phong phú và ngày càngsâu sắc, nhằm tạo ra những mày sắc thẩm mỹ ngày càng đa dạng, hấp dẫn.Tuy nhiên do nhu cầu lịch sử, con ngời cá nhân thức tỉnh lên tiếng đòi quyềnsống, quyền tự do của mình ở văn học thời kỳ trớc đến thời kỳ này tạm thời

"gác tình riêng", lùi về hình diện thứ hai để nhờng chỗ con ngời sử thi, với ýthức cộng đồng, hoà mình vào sự nghiệp kháng chiến và xây dựng cuộc sốngmới của dân tộc Chủ nghĩa cá nhân đợc nhìn nhận nh là kẻ thù tinh thần lớn

nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" Vì thế, con ngời cá nhân phản ánh trong văn

học 1945 - 1975 còn ít ỏi, cha đợc chú trọng, nếu có nói đến cuộc sống riênghoặc số phận của một cá nhân thì cũng là để cụ thể hoá cái chung của dân tộc

1.3.3 Sự thức tỉnh trở lại của con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam sau 1975.

Một đặc điểm hết sức nổi bật trong văn học Việt Nam sau 1975 là conngời với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân Điều này thể hiện một sự nỗ lựctrong việc tìm tòi đổi mới của các nhà văn trong quan niệm nghệ thuật về conngời và làm thay đổi đề tài chủ đề trung tâm của văn học: con ngời sử thi với ýthức cộng đồng chuyển sang con ngời đời t đời thờng với ý thức cá nhân Sựxuất hiện của nó làm cho văn học thời kỳ này mang hơi thở cuộc sống đời th-ờng, hết sức chân thực và sinh động Sự thức tỉnh của con ngời cá nhân trongvăn học sau 1975 là kết quả tất yếu với những tiền đề lịch sử xã hội - văn hoá,thẩm mỹ chi phối

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nớc thống nhất Cả nớc bắt tayvào công cuộc hàn gắn vết thơng chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới trêntoàn lãnh thổ Nhìn về chiến tranh, chúng ta hiểu để có vòng nguyệt quế vinhquang, cả đất nớc đã trả một giá rất đắt Đây cũng là lúc mỗi cá nhân nghiềnngẫm, suy t và nhận thức về cuộc sống mới và về chính mình một cách đầy đủ

Trang 31

và toàn diện ở những mặt đợc và mất, vinh quang và tổn thất, chung và riêng.

Sự nghiệp giải phóng đất nớc thắng lợi đã đa đến sự đổi đời cho nhân dân ta,

từ thân phận ngời mất nớc trở thành chủ nhân của tổ quốc, làm chủ cuộc đờimình Con ngời có quyền phát biểu mọi tâm t, nguyện vọng cũng nh quan

điểm t tởng của mình mà không còn phải e dè nơm nớp nh trớc nữa Từ năm

1986 trở đi, công cuộc đổi mới đất nớc đợc đề ra tại Đại hội lần thứ VI của

Đảng, trong đó có văn học nghệ thuật Đồng chí Nguyễn Văn Linh - nguyênTổng bí th Trung ơng Đảng đã có cuộc gặp gỡ đông đảo các văn nghệ sỹ tiêubiểu trong cả nớc Đồng chí Nguyễn Văn Linh khuyến khích các văn nghệ sỹ

đổi mới t duy nghệ thuật, có quyền nói thẳng nói thật miễn là họ đứng trên lậptrờng toàn Đảng, toàn dân, hớng tới mọi vấn dề của con ngời, vì con ngời màsáng tác Chính nhu cầu đổi mới văn học cả về nội dung và nghệ thuật đã thôithúc các nhà văn có tài năng và trách nhiệm với xã hội tìm tòi, khám phánhững khía cạnh mới của cuộc sống Họ bắt đầu say sa tận dụng sự tự do mớinày và từ đó làm hồi sinh nền văn học Việt Nam, làm nên một thời kỳ hứngkhởi trong đời sống sáng tác văn học Họ thực sự trở lại với công việc viết vănvới ý nghĩa đích thực nhất Và tất nhiên, vấn đề con ngời cá nhân trở thành đốitợng trung tâm của văn học

Sau khi đất nớc hoà bình, nhân dân ta bắt tay vào công cuộc xây dựngkinh tế Đặc biệt từ năm 1986 trở đi, nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơchế thị trờng đã từng bớc đa nớc ta thoát ra khỏi tình trạng khó khăn Cuộcsống con ngời dần dần đợc cải thiện về cả hai mặt tinh thần và vật chất Khi

đời sống đợc nâng cao, vấn đề cái ăn cái mặc không còn đau đáu nh trớc nữa,con ngời có điều kiện để nghĩ đến những nhu cầu thiết thực của đời sống cánhân Mặt khác, cơ chế thị trờng cũng trở thành một cơ hội để thẩm định vàsuy xét lại vị trí, giá trị của cá nhân Trong thời kỳ đổi mới và cạnh tranh khốcliệt, đi đôi với việc xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp với các mô hình kinh tếhợp tác xã, thay thế vào đó là nền kinh tế nhiều thành phần, làm theo năng lực,hởng theo sản phẩm , vai trò cá nhân đợc coi trọng, đề cao, là yếu tố tiênquyết đối với sự phát triển hay tụt hậu của một nền kinh tế Tốc độ phát triển

đến chóng mặt của nền kinh tế thị trờng và khoa học công nghệ đã kéo theonhiều vấn đề mới nảy sinh trong xã hội Từ cuộc sống thời chiến, con ngời trở

về với cuộc sống đời t, đời thờng với muôn mặt phức tạp của nó Con ngời với

ý thức cá nhân, sau một thời gian dài kìm nén để nhờng chỗ cho con ngời với

Trang 32

ý thức cộng đồng của thời chiến, cựa quậy, thức tỉnh trở lại với tất cả nhữngbiểu hiện rất "đời" của nó Vấn đề đạo đức thế sự đợc quan tâm Thực trạngcon ngời đơng đại với xu hớng chạy theo sức mạnh đồng tiền, lối sống thựcdụng biến mọi quan hệ tình cảm thành quan hệ thơng mại, mua bán sòngphẳng cùng với nguy cơ đánh mất phẩm chất đạo đức truyền thống, băng hoạinhân cách đang là vấn dề nỏi cộm, gây búc xúc trong d luận Vấn đề con ng-

ời đặt ra bây giờ không phải là sống hay chết nh trong chiến tranh mà là sống

nh thế nào Đây là một câu hỏi nhức nhối đặt ra đối với văn nghệ sỹ buộc họphải trăn trở, nghiền ngẫm từ đó phản ánh vào trong tác phẩm của mình

Bên cạnh đó nhu cầu giao lu kinh tế, văn hoá giữa các nớc trên thế giới

nh là một tiền đề thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong xã hội và trongvăn học sau 1975 Không phải đến năm 1975 nớc ta mới có sự giao lu hợp tácquốc tế mà đã có sự tiếp xúc từ rất lâu đời Nhìn lại lịch sử văn học và văn hóaViệt Nam có thể thấy, chính quá trình tiếp xúc và giao lu đã mang đến nhữngthay đổi lớn lao về cấu trúc cũng nh phẩm chất của nền văn học "Nếu từng cólúc, trong đụng độ lịch sử lâu dài và khốc liệt, do khả năng "biết chối từ" màchúng ta giữ đợc cốt cách văn hóa dân tộc, thì cũng đã có lúc, do khả năng

"biết không chối từ" mà chúng ta tiếp thu đợc từ đối tợng những giá trị, tinhhoa u việt để thực hành tiếp biến trên tinh thần dung nạp, khoan hòa" [41, 5].Một mặt, trong quá trình tiếp xúc, văn học Việt Nam có cơ hội giới thiệu tinhhoa văn hóa, văn học dân tộc ra thế giới, một mặt tiếp thu những cái mới từbên ngoài để làm phong phú hơn, đẹp đẽ hơn nền văn học dân tộc Chúng tatiếp thu một số quan điểm t tởng mới nh t tởng về sự thức tỉnh con ngời cánhân; một số đề tài, chủ đề mới nh vấn đề thế giới tâm linh con ngời, vấn đềbản năng tự nhiên của con ngời Chúng ta tiếp thu thêm một số thể loại mới

nh truyện cực ngắn, tiểu thuyết, thơ - văn xuôi ; tiếp thu thủ pháp dòng ýthức; ngôn ngữ đợc dân chủ hóa, bình dân hóa gần gũi với ngôn ngữ đời thờnghơn, thay thế cho kiểu ngôn ngữ bác học, sang trọng, trau chuốt, ớc lệ; tiếp thu

một số đặc điểm của dòng văn học hiện sinh với sự đào sâu vào cái tôi bề mặt (ý thức) và cái tôi bề sâu (vô thức), sử dụng yếu tố kỳ ảo, yếu tố biểu tợng

Công tác dịch thuật phát triển đã giúp văn học nớc ta tiếp thu đợc nhữnggiá trị và thành tựu to lớn của nền văn học thế giới trên nhiều mảng: tác phẩmmới, lý luận - phê bình Lớn nhất là ảnh hởng từ nguồn sách dịch từ phơngTây, Trung Quốc, Nga trên nhiều cấp độ và bình diện Rõ ràng, quá trình

Trang 33

giao lu tiếp xúc với nền văn minh, văn học thế giới, đặc biệt là văn học phơngTây đã đem đến cho văn học Việt Nam sau 1975 một sức sống mới, quanniệm mới về con ngời cá nhân, phản ánh kịp thời sự thức tỉnh của ý thức cánhân.

Trải dài triền miên trong những năm tháng chiến tranh, vấn đề dân tộc

và giải phóng dân tộc đợc đặt lên hàng đầu Nhận thức và thị hiếu thẩm mỹcủa con ngời lúc bấy giờ thờng bị khuôn vào những định lợng và định tínhchung của chuẩn mực của tâm lý thời đại và hoàn cảnh xã hội Chính vì vậykhi luồng sinh khí của công cuộc đổi mới với cơ chế kinh tế thị trờng thổi vào,xã hội Việt Nam ngay lập tức có chuyển biến rõ nét với đầy đủ các mặt tíchcực và tiêu cực của nó Trình độ dân trí, nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ củacon ngời đã có một bớc phát triển hơn về chất Quan niệm về cuộc sống, vềcon ngời, về cái đẹp dần dần thoát ly khỏi sự chi phối của khuynh hớng sử thi

và cảm hứng lãng mạn nh văn học giai đoạn 1945 - 1975 Nhà văn NguyênNgọc viết: "Sau 1975 bỗng nhiên có một tình trạng rất lạ, đó là tình trạng lạnhnhạt hẳn đi trong quan hệ giữa công chúng và sáng tác Ngời đọc mới hômqua còn mặn mà là thế bỗng dng bây giờ quay lng lại lạnh lùng với anh " Rõràng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng đã thay đổi, yêu cầu và tâm lý độc giả

đối với văn hoá nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng giờ đây cũng nghiêmngặt hơn, cao hơn Đó là một trong những động lực quan trọng thức đẩy sự đổimới , cách tân trong văn học đơng đại

Lực lợng sáng tác có vai trò rất quan trọng trong việc nhận thức và pháthiện, thể hiện con ngời cá nhân trong văn học sau 1975 Văn học thời kỳ này

có sự góp mặt đông đảo của đội ngũ văn nghệ sỹ thuộc nhiều thế hệ khácnhau Thế hệ thứ nhất đợc coi là “già” nh Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu,

Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải dày dạn về kinh nghiệm sống, có kinhnghiệm sáng tác từ thời kỳ văn học kháng chiến, do đó họ có điều kiện và khảnăng đối chiếu các vấn đề của quá khứ và hiện tại với nhau, trong đó có vấn

đề con ngời Sáng tác của họ có sự đổi mới Ngòi bút của họ có phần linh hoạt

và sắc sảo hơn trớc Thế hệ tiếp theo nh Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Minh Khuê,Dơng Thu Hơng, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân có sức viết khỏe Từ bỏ lốinhìn đơn giản về con ngời, các nhà văn đã mạnh dạn trình bày tính cách phứctạp của con ngời đơng thời trong đời sống bình thờng

Trang 34

Đặc biệt với thế hệ trẻ nh Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Y Ban,

Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị VàngAnh đã làm nóng lên đời sống văn chơng Thế hệ trẻ này rất sung sức, mạnh

mẽ, năng động và nhạy cảm trong việc phát hiện những biến thái tinh vi của

đời sống con ngời Mặt khác đợc sống trong thời đại tri thức của công nghệthông tin và sự mở cửa giao lu quốc tế nên phần lớn họ đều có ảnh hởng, tiếpthu một số quan niệm t tởng và lối sống phơng Tây Tầm nhìn của thế hệ nhàvăn trẻ này đợc mở rộng, khoáng đạt hơn, thức thời hơn Họ có cách nhìn mới

về con ngời đơng đại Đặc biệt một số vấn đề có tính nhạy cảm, tế nhị, sâu kíncủa con ngời cá nhân mà trớc đây văn học do hoàn cảnh xã hội cũng nh quanniệm thẩm mỹ còn né tránh hoặc nói một cách dè dặt, thì bây giờ đợc các câybút trẻ quan tâm và đi sâu khám phá Có thể mặt này mặt khác họ còn bị chêtrách, công kích từ giới nghiên cứu hay bị ngời đọc "dị ứng" nhng nhìn chungnhững đóng góp nhất định của họ đối với sự đổi mới văn học là điều không ai

có thể phủ nhận đợc, và càng ngày họ càng nhận đợc sự ủng hộ, đón nhậnnhiệt tình từ phía độc giả nhiệt tình yêu văn học

Nh ta đã biết, vấn đề ý thức cá nhân từ lâu đã đợc quan tâm thể hiệntrong văn học Việt Nam trung đại và các thời kỳ văn học Việt Nam hiện đạitrớc năm 1975 tạo nên một hành trình vận động và phát triển của con ngời cánhân Đây cũng là một cơ sở văn học cho sự xuất hiện của con ngời cá nhântrong văn học sau 1975 Một mặt nó kế thừa, phát huy và ảnh hởng của quanniệm về con ngời cá nhân trong quá khứ, mặt khác trong tình hình mới thời

đại ngày nay vấn đề này cũng nảy sinh những đặc điểm mới hết sức nổi bật

Sau 1975, văn học Việt Nam đã có sự đổi mới về t duy nghệ thuật, từ tduy sử thi chuyển dần sang t duy tiểu thuyết, hớng các nhà văn nghiêng vềphản ánh các khía cạnh đời t đời thờng, khía cạnh đời sống cá nhân phức tạp.Quan niệm nghệ thuật về con ngời cũng có sự đổi mới Con ngời trong vănhọc sau 1975 đợc phản ánh ở một phạm vi rộng lớn bao gồm các tầng lớp giaicấp trong xã hội, không có sự phân biệt với một hạng ngời nào mà tất cả đềubình đẳng trớc ngòi bút của các nhà văn Con ngời sau 1975 đợc soi rọi từnhiều chiều, nhiều hớng hết sức bí ẩn và phức tạp trong đó chen lấn hai mặttốt và xấu, thiên thần và quỷ dữ, cao cả và thấp hèn Nếu con ngời trong vănhọc 1945 - 1975 ít đợc thể hiện ở mặt thế giới nội tâm mà tâm hồn của họ th-ờng đợc biểu hiện qua chân dung, lời nói và hành động Ngợc lại, con ngời

Trang 35

trong văn học sau 1975 lại đợc khai thác và thể hiện kỹ lỡng và sâu sắc về thếgiới nội tâm - một thế giới phong phú và phức tạp, có nét cá tính không aigiống ai

Sự thức tỉnh của con ngời cá nhân trong văn học sau 1975 là mối quantâm khai thác của các nhà văn không riêng một lĩnh vực nào mà hầu nh nó đợc

đề cập trên tất cả các thể loại, từ thơ ca cho đến văn xuôi Trong thơ ca trữtình, mô típ đi tìm mình và khẳng định mình của cái tôi cá nhân trở thành mộtkhát vọng âm thầm nhng mãnh liệt Nó đợc thể hiện ngay trong tên gọi của

các tập thơ: Chầm chậm tới mình (Trúc Thông), Tôi vẽ mặt tôi (Lê Quốc Huy), Ngời đi tìm mặt (Hoàng Hng), Tôi gọi tên tôi (Đinh Thị Thu Vân), bài thơ Tôi tìm đến tôi (Tạ Hữu Yên) Nhiều nhà thơ muốn vẽ tạc chân dung đích

Tôi uống bao nhiêu phiền muộn Dài dặc sao cuộc kiếm tìm mình

Văn xuôi thời kỳ này cũng có bớc phát triển mạnh mẽ cả về số lợng lẫn

chất lợng: Về tiểu thuyết có Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy,

Ng-ời đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu), ThNg-ời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vờn, Đám cới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Mảnh đất lắm ngời nhiều

ma (Nguyễn Khắc Trờng), Thiên sứ, Marie Sến (Phạm Thị Hoài) Về truyện ngắn phải kể một số tập truyện ngắn nh Bến quê, Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), truyện ngắn Nguyễn Khải, Những ngọn gió Hua Tát (Nguyễn Huy Thiệp), tập truyện ngắn Ma Văn Kháng, Ngời đàn bà tóc trắng, Đứa con của hai dòng họ (Nguyễn Quang Thiều), tập truyện ngắn Lê Minh Khuê, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Biển cứu rỗi (Võ Thị Hảo), Khi ngời ta trẻ

(Phan Thị Vàng Anh) Văn xuôi lúc này có sự xâm nhập, đào xới vào thế

Trang 36

giới riêng của con ngời với cả mặt khuất lấp trớc đây cha thực sự đợc hoặc cha

có điều kiện đợc quan tâm đến: bản ngã, tiềm thức, vô thức, đời sống tâm linh,tình dục Văn xuôi đi sâu khám phá khía cạnh con ngời tự nhận thức "Từchỗ chủ yếu nhận thức thế giới xung quanh, nhận thức và phán xét ngời khác,con ngời trong truyện ngắn hôm nay đã trở về với mình, tự nhận thức, khámphá, phân tích bản thân mình Quá trình tự nhận thức đợc nhân vật ghi nhậnmột bớc phát triển của t duy nghệ thuật, gắn liền với sự thức tỉnh ngày càngcao của nhà văn về giá trị cá nhân" (8) Con ngời trong văn xuôi sau 1975không còn đợc nhìn nhận theo kiểu tuyệt đối hoá, phân cực rõ nét giữa haithái cực tốt - xấu, cao cả - thấp hèn mà gần nh đã có sự pha trộn, hoà lẫngiữa hai thái cực Điều đó làm cho con ngời trong văn học chân thực và gầngũi với cuộc sống đời thờng hơn, tạo nên giá trị hiện thực vầ giá trị nhân đạosâu sắc

Trang 37

Chơng 2:

con ngời cá nhân - Một phơng diện nổi bật trong

truyện ngắn việt nam sau 1975

2.1 Con ngời thức tỉnh ý thức cá nhân

Sau năm 1975, một hiện tợng mới lạ xuất hiện nổi bật trong văn học nóichung và truyện ngắn nói riêng, đó là hình tợng con ngời với sự trỗi dậy của ýthức cá nhân Con ngời cá nhân đã từ lâu vắng bóng trên văn đàn Nó tạm thờingủ yên để nhờng chỗ cho một kiểu con ngời khác với sứ mệnh lịch sử cao cả

mà dân tộc giao phó trong thời chiến tranh: đó là con ngời sử thi với ý thứccộng đồng Giờ đây, khi chiến tranh kết thúc, con ngời sử thi hết vai trò sứmệnh lịch sử của nó Cuộc sống đời thờng dần dần trở lại vị trí trung tâm trongxã hội cũng nh trong văn học Và điều tất nhiên, con ngời cá nhân đợc thứctỉnh và nó lên tiếng đòi hỏi tất cả những nhu cầu thuộc về nó

Trớc hết, đó là con ngời với ý thức tự khẳng định mình Họ nhận thức

đ-ợc vai trò ý nghĩa của mình trong cuộc sống, có ý thức vợt lên số phận cá

Trong Lạc thời (Nguyễn Khải), ông Trắc – nhà báo lão thành đã khảng khái

khẳng định những đóng góp có giá trị của mình trong việc cải thiện đời sốngquê hơng và lên tiếng bênh vực quyền lợi chính đáng của ngời dân: “Còn tôi,vâng, chính tôi một thằng nhà báo già thiếu tài năng nhng không thiếu tâmhuyết đã làm tất cả để quê hơng đợc thay đổi Tôi rất xứng đáng để những nhàlãnh đạo ở đây ngỏ lời cám ơn tôi chứ, cám ơn tôi trớc mặt quý vị Thế mới

công bằng” [14, 311] Ông Bột trong Sống giữa đám đông (Nguyễn Khải) là

một vụ trởng đã về hu, nhân hậu, sống chân thành lại học cao, nhng ôngkhông đợc bạn bè, cấp dới và vợ con nể trọng Đơn giản là vì nhân cách tốt

đẹp đó của ông không giúp họ đạt đợc danh lợi, quyền lực, tiền tài Sống trongxã hội thực dụng, hãnh tiến và giả tạo đó, ông trở thành ngời lạc lõng Nhng

điều ấy không làm ông dao động, biến chất, a dua theo cái xấu mà ông vẫn

tr-ớc sau tin tởng, giữ vững lập trờng của mình: “Chúng nó khuyên tôi nên sốngtheo thói quen của xã hội Những thói quen man rợ Nhng tôi vẫn trung thànhvới cách sống của riêng tôi Chú cứ nghĩ mà xem, cách sống tôn trọng đồngloại sẽ là cách sống của thế kỷ tới” [14, 326] Con ngời trong truyện ngắn sau

1975 có ý thức khẳng định tài năng của mình Nhân vật “anh” trong Tôi và

Trang 38

anh Thằng bé và con rắn (Y Ban) là một họa sỹ thành danh, sáng tạo ranhững kiệt tác nghệ thuật đợc a chuộng Phần lớn thời gian anh dành cho côngviệc Anh luôn có ý thức tìm tòi và đổi mới trong sáng tác Hay ông Xuân T,một họa sỹ già nghèo khổ, đã để lại cho đời một “bức tranh sơn mài cha từngcó” để ngời xem và chính ông cũng phải nghiêng mình trớc cảnh huy hoàng

và lộng lẫy của thiên nhiên, đất trời Bức tranh đợc vẽ bằng những quỳ vàng,quỳ bạc lấp lánh và những hộp màu vẽ thợng hạng Trớc khi kết thúc cuộc đời,

ông đã nở một nụ cời mãn nguyện ý thức của con ngời còn thể hiện ở sựkhẳng định quyền đợc yêu, đợc hởng hạnh phúc cá nhân Nhân vật “tôi”, mộtthầy giáo giỏi, đã đem lòng yêu thơng Duyên, một ngời phụ nữ trẻ đẹp, đônhậu nhng sớm trở thành vợ liệt sỹ khi mới hơn 20 tuổi Tình cảm của họ bịquan niệm sống và nguyên tắc cứng nhắc của thời chiến đánh giá là vi phạm

đạo đức và bị phản đối kịch liệt Trớc hội đồng kỷ luật nhà trờng, anh nói:

“Tôi có quyền yêu thơng một con ngời đau khổ vì mất mát” [39, 171] Nhân

vật Hng và Lựu trong Đêm cá đẻ (Nguyễn Quang Thiều) đã dám vợt mọi giới

hạn về tuổi tác và rào cản vô hình của xã hội nông thôn cổ hủ để chủ động đếnvới nhau, trao hạnh phúc cho nhau, thay đổi số phận cô đơn, bất hạnh Con ng-

ời cá nhân có lúc lại cơng quyết khẳng định sức lực và bản lĩnh cá nhân, đó là

nhân vật “tôi” trong Con gái thủy thần (Nguyễn Huy Thiệp) với sức mạnh của

cơ bắp đã đợc tôi luyện trong lao động, gian khổ, lần lợt đánh gục các đối thủnặng ký trong cuộc thi vật để giành vinh quang về cho làng mình Nhân vật cólúc không chịu đợc cảnh ăn bám họ ra đi khẳng định sự tồn tại của mình trong

xã hội (Ngời đàn ông duy nhất - Võ Thị Hảo) Nhân vật “tôi” trong Hoa sẽ

đến thì (Trần Thị Trờng) từ một cô bé đợc cng chiều, non nớt, cha có nhận

thức chín chắn, theo năm tháng đã trởng thành lên thành một con ngời có íchcho xã hội, biết yêu thơng, trân trọng con ngời và cuộc sống nơi mình sinh ra

và có niềm tin yêu vào tơng lai tơi sáng của đất nớc Trong Một bàn tay và chín bàn tay, Nguyễn Khải ca ngợi sức sống bất diệt của những con ngời trở

về sau chiến tranh, bị mất mát cả về ngoại hình và tinh thần Họ, bằng sứcmạnh của tình thơng yêu và nghị lực phi thờng đã xây dựng cuộc sống gia

đình hạnh phúc, ấm no, có những đứa con ngoan, khoẻ mạnh

Đó là con ngời với ý thức về nhân cách Họ luôn luôn có ý thức giữ gìn

bản chất thiên lơng của mình Trong Nớc mắt gỗ (Khuất Quang Thụy), sau

mỗi lễ hội ở làng, ông phát hiện gói thịt mình đợc chia ít hơn ngời khác Ông

Trang 39

linh cảm thấy lẽ công bằng đã bị phá vỡ Ông quyết định tự vẫn để bảo vệdanh dự cá nhân và cộng đồng Rõ ràng ông ý thức rất cao về nhân cách làm

ngời Còn nhân vật Sinh trong Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp), là một

ng-ời phụ nữ đức hạnh Về làm dâu trong một gia đình năm ngng-ời đàn ông, kẻ thìthô tục, lỗ mãng, kẻ thì thực dụng hám tiền, kẻ lại bỉ ổi, đê tiện, dâm dục.Sống trong môi trờng phi nhân tính đó, Sinh phải chịu bao nhiêu tủi nhục nhngkhông bao giờ chị đánh mất nhân phẩm của mình Kiểm – chú bé trong

Kiểm, chú bé, con ngời (Ma Văn Kháng) là một nhân cách đẹp đẽ giữa cảnh

đời tàn nhẫn Nhân cách ấy đợc hình thành và tỏa sáng trong đau khổ, tủinhục Mặc dù rơi vào hoàn cảnh bi đát, nó vẫn tràn ngập lòng yêu thơng Nóyêu quý hai đứa em cùng cha khác mẹ, tận tình chăm sóc dì ghẻ đã từng đánh

đập, đối xử tàn nhẫn khi dì lâm bệnh nặng Chú bé Kiểm – cái mầm nonmạnh mẽ, hình tợng biểu trng cho bản chất nhân hậu vốn có ở cuộc đời tồn tạimột cách gần nh hồn nhiên, không cần giải thích và đang đợc bồi đắp ở cuộc

đời mới này

Con ngời cá nhân trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là con ngờitrong quan hệ với chính mình Đây là một trong những đặc điểm nổi bật nhất,thể hiện sự sâu sắc, đổi mới trong cách nhìn nhận về con ngời ở khía cạnhnày, ý thức cá nhân có nhiều biểu hiện phong phú Các nhà văn tập trung khaithác đời sống nội tâm phức tạp, giằng xé của con ngời, cũng nh phát hiện ra sự

đấu tranh gay gắt giữa hai mặt đối lập và kèm theo đó là những tấn bi kịchtinh thần dai dẳng, đau đớn Nó có ý thức tự khám phá bản thân để phát hiện

ra bản chất con ngời Đó là kiểu con ngời “tự thú” trong truyện Bức tranh,

Nguyễn Minh Châu đã để cho nhân vật “tôi” là một họa sỹ thành danh tự phán

xử mình trớc tòa án lơng tâm Trong ông lúc nào cũng diễn ra cuộc đấu tranhgiữa một bên là sự biện hộ cho hành vi đê tiện của mình với một bên là phơibày sự thật, một bên là sự chối bỏ trách nhiệm tiếp tục sống mất nhân cáchnhng yên ổn với một bên là sự tự sám hối, tự dằn vặt và bắt mình phải trả giácho việc gây ra cảnh mù lòa cho bà mẹ có anh con trai đi chiến trận năm xa.Truyện ngắn này vợt lên trên sự phê phán một cách sống tiêu cực, để nói đếnmột điều sâu xa hơn: sự thức tỉnh, đúng hơn là sự tự nhận thức Ngời họa sỹkhông thú nhận với một ai khác, mà là tự thú với lơng tâm, không phải là sựphán quyết từ bên ngoài mà là sự phán quyết từ bên trong Qua đây, tác giảmuốn nói với mọi ngời hãy có lúc bình tâm lùi sang một bên cái dòng chảy

Trang 40

xiết và xô bồ vô tận của cuộc đời để nhìn nhận lại mình cho thật đúng Cũng

theo mạch triết lý ấy, Trung Trung Đỉnh trong Đêm nguyệt thực đã tìm đợc

cách thể hiện riêng cuộc “tự thú” của một ngời lính Do hoàn cảnh đặc biệtanh bị thơng nặng khi chiến đấu với kẻ thù, ngời chiến sỹ phải rời bỏ quânngũ về sống ở một buôn làng Tây Nguyên Anh đã tự động rút lui khỏi vị tríchiến đấu của mình Qua lời luận tội, nhân vật đã tạo đợc sự thông cảm ởnhiều ngời bởi lẽ dù ở vị trí khác anh vẫn giữ đợc nhân cách và có ích cho xãhội

Con ngời đơng đại thờng rơi vào những tấn bi kịch tinh thần dai dẳng,

đau đớn Đó là bi kịch của một nghệ nhân có biệt tài làm mặt nạ, có tâm huyết

và nhân cách nhng vì cuộc sống “cơm áo gạo tiền” nên phải chấp nhận sảnxuất ra hàng loạt những chiếc mặt nạ thơng mại, phải sống giả tạo trong công

việc và phải chấp nhận để ngời vợ thay đổi (Bất hạnh của tài hoa - Đặng Th

Cu) Đời sống vật chất đợc cải thiện, nhng đời sống tinh thần của vợ chồnganh lại sa sút Anh luôn sống trong sự dằn vặt, đau đớn, xót xa khi đi ng ợc lại

với nhân phẩm của mình, phản bội lại chính mình Viên trong Bài hát chim nhồng xanh (Ngô Thị Kim Cúc) đau đớn và tức giận khi phát hiện ra vợ mình

đang đi làm “vợ bao kẻ khác” Đau đớn hơn khi công việc nhục nhã và thấphèn đó lại nuôi sống cả gia đình khỏi chết đói Một mặt, anh khinh bỉ vợ vànhững thứ mà vợ đã sắm sanh, nhng mặt khác anh biết cô cũng chỉ vì anh -ngời chồng “teo tóp vì thiếu ăn” và đứa con “dài ngoẵng, xanh rớt”, vì sự tồntại của gia đình nhỏ bé này mà phải đánh đổi bằng thân xác Anh tự ý thứcmình là một kẻ vô dụng, nhu nhợc, yếu đuối, muốn hét vào mặt vợ những tộilỗi tày trời của cô ta nhng đành cắn răng chấp nhận chỉ vì anh sợ mất vợ, anhlại phải “trở lại đời sống cũ, cơm niêu – nớc lọ, mỗi ngày chỉ đối diện với cáibóng của mình” [24, 34] Anh lại không thể chiến thắng đợc chính nhu cầucủa bản thân: cuộc sống vật chất Anh rơi vào sự đau đớn quằn quại bởi vì “từtrong thâm tâm anh tự hiểu mình là ngời thua cuộc Anh đã bị mài mòn đếnmức có thể chấp nhận mọi cái trên đời"[24, 37]

Con ngời trong truyện ngắn sau 1975 khao khát tình yêu và hạnh phúccá nhân Nhà văn Nga M Gorky đã viết: “Cuộc sống thiếu tình yêu vì con ng-

ời sinh ra có một tâm hồn chính là để mà yêu” Tình yêu thể hiện dới trangvăn của họ với đầy đủ màu sắc, cung bậc của nó Đó có thể là tình yêu tựnguyện dâng hiến cho ngời mình yêu Họ quan niệm yêu là cho và nhận, mặc

Ngày đăng: 18/12/2013, 19:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Vàng Anh (1994), Khi ngời ta trẻ, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi ngời ta trẻ
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1994
2. Huỳnh Phan Anh (1995), "Ghi nhận về thế giới nghệ thuật Phan Thị Vàng Anh", Báo Văn nghệ trẻ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ghi nhận về thế giới nghệ thuật Phan Thị Vàng Anh
Tác giả: Huỳnh Phan Anh
Năm: 1995
3. M. Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Bộ Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Bộ Văn hoá thông tin
Năm: 1992
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Dùng trong các trờng Đại học, Cao đẳng), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Dùng trong các trờng Đại học, Cao đẳng)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
5. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn tiến sĩ, Đại học S phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
6. Nguyễn Minh Châu (2003), Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
7. Xuân Diệu - Huy Cận (1944), "Một thời trơ trẽn", báo Thanh niên, số 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời trơ trẽn
Tác giả: Xuân Diệu - Huy Cận
Năm: 1944
8. Đỗ Hoàng Diệu (2006), Bóng đè (Tập truyện ngắn), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đè (Tập truyện ngắn)
Tác giả: Đỗ Hoàng Diệu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
9. Đinh Trí Dũng (2005), Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (Chuyên khảo), Nxb Khoa học xã hội - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (Chuyên khảo)
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2005
10. Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt nam (1930 - 1945), Nxb Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt nam (1930 - 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
Năm: 1997
11. Võ Thị Hảo (1995), Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
12. Nguyễn Văn Hạnh (1993), "Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con ngời", Tạp chí văn học, số 3, tr 39 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con ngời
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1993
14. Nguyễn Đức Hoàng, Dục tính: chân móng hay đỉnh tháp của văn chơng ?, 15. Nguyễn Thị Huệ (1998), "T duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80", Tạp chí văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80
Tác giả: Nguyễn Đức Hoàng, Dục tính: chân móng hay đỉnh tháp của văn chơng ?, 15. Nguyễn Thị Huệ
Năm: 1998
16. Nguyễn Thị Thu Huệ (2004), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2004
17. Nguyễn Thị Thu Hơng (2004), Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hơng
Năm: 2004
18. Lê Thị Hờng (1994), "Quan niệm con ngời cô đơn trong truyện ngắn hôm nay", Tạp chí văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm con ngời cô đơn trong truyện ngắn hôm nay
Tác giả: Lê Thị Hờng
Năm: 1994
19. Nguyễn Văn Kha (2000), Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học hiện đại Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1991, Luận văn tiến sĩ, Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học hiện đại Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1991
Tác giả: Nguyễn Văn Kha
Năm: 2000
20. Nguyễn Khải (1996), Nguyễn Khải - truyện ngắn, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khải - truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1996
21. Ma Văn Kháng (1985), Ngày đẹp trời (Tập truyện ngắn), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày đẹp trời (Tập truyện ngắn)
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1985
22. Ma Văn Kháng (1999), "Tôi viết truyện ngắn", Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi viết truyện ngắn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 1999

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w