Và, trong số những cống hiến xuất sắc đó, có thể nói,đáng ghi nhận nhất là tiểu thuyết ở thời kì đầu đổi mới với các tác phẩm tiêu biểu: Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng, Mảnh đất lắ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ MINH DUYÊN
CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU ĐỔI MỚI
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ MINH DUYÊN
CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU ĐỔI MỚI
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
VINH - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài………
2 Lịch sử vấn đề………
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát………
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……….
5 Phương pháp nghiên cứu………
6 Đóng góp của luận văn………
7 Cấu trúc của luận văn………
Chương 1 Khái lược về việc thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ………
1.1 Con người cá nhân - một đối tượng khám phá, thể hiện mới của văn học Việt Nam trên đường hiện đại hoá………
1.2 Con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ trước 1945
1.3.“Dấu lặng” của việc thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975………
1.4 Những dấu hiệu hồi sinh của con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam từ thời kỳ đổi mới………
Chương 2 Những vấn đề của con người cá nhân được đặt ra trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới ……….
2.1 Những thua thiệt của con người cá nhân trong một thời kỳ chiến tranh kéo dài………
2.2 Nhu cầu hạnh phúc riêng tư………
2.3 Quyền khẳng định cá tính………
2.4 Việc soát xét lại bảng giá trị đánh giá con người từ góc nhìn của con người cá nhân……….
Trang
1 2 10 11 11 11 12
13
13 21
43
54
62
62 80 93
101
Trang 4Chương 3 Những tìm tòi hình thức nhằm thể hiện con người cá
nhân trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới …………
3.1 Khai thác xung đột giữa con người với hoàn cảnh sống toả chiết nhu cầu riêng tư……….
3.2 Phá vỡ logic “phải đạo” trong kết cấu………
3.3 Xây dựng mạng lưới ngôn từ đa thanh………
Kết luận………
Tài liệu tham khảo………
107
107 115 126 142 145
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiểu thuyết là một thể loại văn học ra đời muộn, nhưng chiếm một
vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc Đặc biệt, giai đoạn
từ thập niên 1980 trở về sau, nó đã có nhiều những cống hiến xuất sắc chonền văn học nước nhà Và, trong số những cống hiến xuất sắc đó, có thể nói,đáng ghi nhận nhất là tiểu thuyết ở thời kì đầu đổi mới với các tác phẩm tiêu
biểu: Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma,
Bến không chồng và Thân phận của tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh) Vì vậy,
nghiên cứu những cuốn tiểu thuyết này, chúng ta hiểu thêm được những quyluật, đặc điểm thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết Việt Nam thời kỳđầu đổi mới nói riêng trong tiến trình vận động phát triển của thể loại tiểuthuyết cũng như trong tiến trình văn học
1.2 Trong tiểu thuyết, việc quan tâm thể hiện con người cá nhân chính
là một phương diện hết sức quan trọng Việc thể hiện này đã dẫn đến sự chiphối các quan niệm khác về nghệ thuật của nhà văn Vì vậy, nghiên cứu vấn
đề con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đầu đổi mới, chúng
ta hiểu được lí do vận động, đổi mới của thể loại tiểu thuyết, cũng như quanniệm về con người của nhà văn, nhất là con người cá nhân, trong từng giaiđoạn văn học khác nhau
1.3 Vấn đề con người cá nhân là một vấn đề lớn mà các nhà văn đặcbiệt quan tâm, chú ý, thể hiện trong các tác phẩm của mình Tuy nhiên, tuỳvào từng thời đại khác nhau, điều kiện lịch sử xã hội khác nhau mà sự thểhiện con người cá nhân ở từng giai đoạn có sự đậm nhạt cũng không giốngnhau Nhưng, dù muốn hay không, vấn đề con người cá nhân vẫn là vấn đềtrung tâm của mọi nền văn học Với sự thể hiện con người cá nhân, văn học
Trang 6ngày càng nhân bản hơn, bởi con người cá nhân là một phạm trù văn hoá thẩm mỹ chứ không chỉ là con người cá nhân giản đơn, thuần tuý.
-Vấn đề con người cá nhân chúng tôi đã rất quan tâm chú ý nghiên cứu
từ những năm học đại học và là đề tài khoá luận tốt nghiệp của chúng tôi Còntâm huyết với nó và đề tài còn có nhiều hướng để đi sâu, mở rộng nghiên cứu,
vì vậy, ở bậc sau đại học, chúng tôi quyết định chọn lựa tiếp tục nghiên cứu
đề tài con người cá nhân với mong muốn ở mặt nào đó đem lại ý nghĩa khoahọc và thực tiễn hữu ích
1.4 Trong các cấp học từ phổ thông trở lên, tiểu thuyết là một thể loạiđược đưa vào giảng dạy và nghiên cứu nhiều Bản thân chúng tôi là giáo viên,trực tiếp tham gia giảng dạy học sinh phổ thông và có thể nâng lên cấp dạycao hơn Vì vậy, để nắm vững thêm về chuyên môn, chúng tôi rất quan tâmchú ý đến thể loại tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết Việt Nam thời kì đầu đổimới với tất cả sự phức tạp, bộn bề, ngổn ngang của nó
2 Lịch sử vấn đề
Để khảo sát lịch sử vấn đề một cách khoa học, ngoài việc chú ý đếnnhững bài viết trực diện về mấy tác phẩm chính mà luận văn khảo sát (vớitiêu điểm là sự thể hiện con người cá nhân), chúng tôi còn lưu ý đến những tàiliệu có bàn chung về sự đổi mới văn học, đổi mới tiểu thuyết sau 1975
2.1 Những tài liệu bàn chung về đổi mới văn học
Văn học Việt Nam từ sau 1975 phát triển hết sức đa dạng, phong phú,phức tạp và cũng chưa thật định hình chắc chắn Các hiện tượng văn học: tácgiả, tác phẩm ra đời, sự khen chê chưa nhất quán Người khen, khen hết mức;người chê, chê hết lời; và cũng có những ý kiến rất dè dặt trong đánh giá Cụ
thể là: Trong bài viết Gắn bó tâm huyết với công cuộc đổi mới đăng trên báo
Văn nghệ số 49, ra ngày 03/02/1989, Nhà văn Bùi Hiển đã khẳng định: “Ngay
Trang 7từ đầu những năm 80, đặc biệt là văn xuôi, sân khấu và điện ảnh đã bắt đầuxuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới”.
Bài Nhiệm vụ của khoa học xã hội trong thời kì cách mạng của Tạp chí
Văn học số 05 ra ngày 15 tháng 05 năm 1998 có đăng lời phát biểu của đồng
chí Trần Xuân Bách Uỷ viên Bộ Chính trị BCH TƯ Đảng Cộng Sản ViệtNam tại Hội nghị các chủ tịch viện hàn lâm khoa học tổ chức tại Hà Nội đã
khẳng định rằng: “Đại hội VI của Đảng, chúng tôi xác định rằng: “KHXH
phải trở thành công cụ sắc bén trong việc đổi mới nhận thức, đổi mới phương pháp tư duy, xây dựng ý thức xã hội và nhân cách xã hội chủ nghĩa””.
Trong bài: Cần tăng cường hiệu quả xã hội của tác phẩm văn học (Tạp
chí Văn học số 05/1998, tr36), Nguyễn Kim Hồng viết: “Trong sự nghiệp
cách tân đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, nền văn
học nghệ thuật của ta đóng vai trò hàng đầu trong việc “sản xuất ra con
người” có khả năng đáp ứng yêu cầu của thời đại, góp phần phát huy cao nhất
“năng lượng con người” trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay Đó
cũng là thước đo hiệu quả xã hội đích thực của Văn học Nghệ thuật” v.v
Những bài viết, những lời khẳng định tiêu biểu trên đây chứng tỏ lúcbấy giờ người ta rất ủng hộ, khuyến khích đổi mới trong văn học để phù hợpvới cuộc sống mới và nhu cầu mới của con người Hoàng Ngọc Hiến trong bài
viết: Thời kì văn học vừa qua và xu thế phát triển của văn học cũng đã có thái
độ tán thành, khen ngợi như sau: “Thời kì văn học từ 1975 đã đặc biệt địnhhướng sắp tới Đến nay đã 15 năm nhưng vấn đề còn sớm để thấy hết chân giátrị của những tác phẩm và những tác giả xuất hiện được chú ý ở thời kì này -
một thời kì phong phú các hiện tượng văn học” (Tạp chí Văn học, 1998).
Bên cạnh những ý kiến, đánh giá, khen ngợi đó, một số nhà nghiên cứukhác lại có ý kiến cho rằng giai đoạn này là một bước thụt lùi của văn họcViệt Nam, đặc biệt là đối với lĩnh vực thơ ca ( ) Trong lĩnh vực văn xuôi
Trang 8cũng có một số ý kiến không tán thành, ví dụ như một số bài viết có tính chấtphê bình đối với hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp như : “đó là một cây bút cótài, nhưng ” của Hồng Diệu, hay một số bài viết của Đỗ Văn Khang (2001),
in trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội,
cũng có những nhận xét tương đối nặng nề đối với hiện tượng mới Nguyễn
Huy Thiệp Đồng thời, người ta còn tổ chức Gặp gỡ và trao đổi với Nguyễn
Huy Thiệp (Bài viết in trên Tạp chí Văn học, số 01, 1989) Tất cả những hoạt
động đó đều chứng tỏ, lúc này, không ít người còn tỏ ra “dị ứng” với côngcuộc đổi mới và đổi mới văn học
Mặt khác, một số nhà nghiên cứu phê bình còn giữ thái độ trung hoà,hoặc nhận định dè dặt những đặc điểm, quy luật phát triển của văn học ta sau
1975, nó thể hiện ngay từ tên của những tít báo: Mấy ghi nhận về đổi mới tư
duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta thập kỉ qua (Trần
Đình Sử (1986), Tạp chí Văn học, số 06, tr 07); Phạm Quang Long với bài
viết Thử nhìn lại từ góc độ khác (Tạp chí Văn học, số 05, 1988, tr 94); Nguyên Ngọc có bài Văn xuôi sau 1975 - Thử thăm dò đôi nét về quy luật
phát triển (Tạp chí Văn học, số 04, 1991, tr 09); Nguyễn Đăng Mạnh với Một cuộc nhận đường mới (Tạp chí Văn học, số 04, 1995, tr 05); Nguyễn Văn
Long Thử xác định đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn từ sau
1975 (Tạp chí Cộng sản, số 06, 2001, tr 05)
Khi xét vấn đề trong bối cảnh rộng của nó, chúng ta không thể không nóiđến đường lối Văn nghệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam qua các thời kì, đặc biệt
là thời kì sau năm 1975, được cụ thể hoá và thông qua Đại hội Đảng lần thứ VI
(12/1986), đã đánh dấu một thời kì mới - thời kì đổi mới toàn diện, thời kì mở
cửa ở nước ta, trong đó Văn học Nghệ thuật cũng được đổi mới Đảng xác
định: “Đường lối văn nghệ của Đảng là một bộ phận hữu cơ gắn bó và có tácđộng qua lại với các bộ phận khác trong đường lối cách mạng nói chung”
Trang 9Đường lối Văn nghệ của Đảng được trình bày trong các văn kiện về
Văn nghệ, có từ Đề cương văn hoá năm 1943, và đến các bức thư của TƯ
Đảng gửi các Đại hội Văn nghệ toàn quốc, cũng như ở những phần bàn vềVăn hoá Văn nghệ (trong đó Văn học là quan trọng nhất) ở các báo cáo Chínhtrị và các Nghị quyết qua các kì Đại hội Đảng toàn quốc Nó có tính chất địnhhướng cho văn nghệ sĩ trên con đường sáng tạo nghệ thuật phục vụ quầnchúng và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Tại đại hội Đảng lần thứ VI,Đảng đã kêu gọi “Toàn Đảng, toàn dân đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thậtđất nước và cuộc sống của nhân dân” Nghị quyết 05 - Nghị quyết duy nhấtcủa Bộ Chính trị giành riêng cho Văn nghệ từ trước đến thời điểm đó, đãkhẳng định rằng: “Văn học Nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cáchmạng tư tưởng văn hoá”, “là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của Văn hoá, thể hiệnkhát vọng của con người về chân, thiện, mỹ; có tác dụng bồi dưỡng tình cảm,tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường
đạo đức xã hội” (Trích Nghị quyết của Bộ Chính trị về Văn học, Nghệ thuật
và Văn hoá, Tuần báo Văn nghệ, số 51 - 52, ra ngày 19/12/1987).
Một sự kiện quan trọng nữa ảnh hưởng đến sự phát triển của văn học tagiai đoạn này là: Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã giành hai ngày(ngày 06 - 07/10/1987) để đến nghe các văn nghệ sĩ tâm tình, trao đổi mọi vấn
đề về văn học nghệ thuật và cuộc sống một cách cỡi mở Đồng chí đã kêu gọi:
“Các nhà văn trong thời kì đổi mới có quyền nói thẳng, nói thật mọi vấn đềtrong cuộc sống của chúng ta, miễn là anh đứng trên quyền lợi, lập trường củadân tộc” Lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư đã thực sự “cởi trói” cho cácnhà văn, tạo nên một không khí mới trong bầu nhiệt huyết của những ngườicầm bút, thôi thúc họ bắt tay viết về nhhững mảng đề tài mới sau nhiều thập
kỷ còn im lìm, nhất là những mặt trái của cuộc sống mà trước đây không dám
“nhìn thẳng”, “nói thẳng sự thật”
Trang 10Từ đó, Văn học Việt Nam sau 1975 xuất hiện nhiều hiện tượng phongphú và phức tạp Các hiện tượng văn học đặc biệt được độc giả chú ý nhiều,gây ra những làn sóng tranh luận mạnh mẽ, ví dụ như hiện tượng Nguyễn Huy
Thiệp với Tướng về hưu, Không có vua; Dương Thu Hương với Những thiên
đường mù, v.v , trong đó không thể không kể đến năm tác phẩm: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng) và Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) Những tác phẩm này đã đánh một dấu mốc rõ
rệt vào thời kì đầu đổi mới đất nước và đổi mới văn học Hầu hết những tácphẩm này đều là những tác phẩm được Hội Nhà văn trao giải thưởng cao quý:
Mùa lá rụng trong vườn giải B năm 1984, Thời xa vắng đạt giải A năm 1986,
và ba đồng giải A vào năm 1991 là Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không
chồng và Thân phận của tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh).
Như chúng ta đã biết, đến năm 1986 đường lối “đổi mới” cho văn nghệmới ra đời, nhưng văn học trong quá trình vận động phát triển của mình đã có
sự biến chuyển từ trước đó Khi cuộc sống đã thay đổi, văn học buộc phảithay đổi, nếu không sẽ “chết” Một nền văn học sẽ bị diệt vong nếu nó không
có sự tự biến đổi, thích nghi
Hoàn cảnh lịch sử xã hội nước ta sau 1975 hoàn toàn khác với trước.Một mặt nó vừa là cuộc sống thời hậu chiến còn nhiều tồn tại, rạn nứt, cầnđược đền bù, đáp ứng, mặt khác là sự du nhập những yếu tố mới của cuộcsống hiện đại, của lối sống chạy theo cơ chế thị trường Lúc này, nhiều nhucầu, nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết Trước hoàn cảnh lịch sử xã hộiphức tạp, có nhiều biến động như vậy, nhà văn không thể cứ giữ mãi cách viếtđơn giản, một chiều như trước, mà phải có sự đổi mới, dù bước đầu đang ở
giai đoạn tìm đường Sự lí giải này rất phù hợp với tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng Tác phẩm ra đời trước “đổi mới” hai năm
Trang 11nhưng cái không khí của cuộc sống chạy theo cơ chế thị trường đã phả vàotrong đó khá đậm nét Hay nói cách khác, nó là tác phẩm viết về buổi đầu của
nền kinh tế thị trường ở nước ta Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma
và Bến không chồng được viết (đúng hơn là được xuất bản) vào đúng lúc “đổi mới” và thời kì đầu của “đổi mới” Thân phận của tình yêu được Bảo Ninh
viết khi chiến tranh đã kết thúc Tác phẩm này chính là sự nhìn nhận lại chiếntranh, một sự nhận thức lại rất tỉnh táo, thoát khỏi khuynh hướng sử thi vàcảm hứng lãng mạn cách mạng của văn học giai đoạn 1945 - 1975 Hơn nữa,trước khi tác giả viết nó, đã có nhiều những tác phẩm thành công trong sự
chuyển mình, đổi mới của nền văn học dân tộc Vì vậy, Thân phận của tình
yêu sẽ phải có những sự thành công nổi trội.
2.2 Những tài liệu viết về các tiểu thuyết nổi trội của văn học thời kỳ Đổi mới trên vấn đề thể hiện con người cá nhân
Hầu như chưa có các bài viết, công trình tập trung nghiên cứu về vấn
đề con người cá nhân ở những tác phẩm mà chúng tôi xác định là trọng tâm
khảo sát Các bài viết, các công trình nghiên cứu chỉ mới nhìn nhận một vàikhía cạnh nào đó nổi bật của tác phẩm mà người viết tâm đắc, hoặc đưa ra cáinhìn đại thể về bối cảnh xã hội và đời sống văn học Việt Nam sau 1975 Cóthể lấy một vài dẫn chứng tiêu biểu như sau:
Nguyễn Kim Hồng trong bài Cần tăng cường hiệu quả xã hội cho tác
phẩm văn học, để làm dẫn chứng cho vấn đề mình nhấn mạnh, tác giả có nói
đến Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vườn như sau: “Tác phẩm Thời xa
vắng của Lê Lựu là một tác phẩm giàu năng lượng sự thật”; “qua “Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng gợi ý định hướng sự tự nhận thức người đọc
thông qua suy nghĩ của nhân vật” [30,36]
Bài Văn xuôi gần đây và quan niệm về con người của Bùi Việt Thắng
lại viết: “Văn xuôi gần đây như nhiều người nhận xét, đã “áp sát” tới cuộc
Trang 12sống và con người, bước đầu đem đến cho người đọc một cảm nhận trungthực về thực tại Ở bài viết này có năm mục, thể hiện những nhận định riêng
của tác giả về Văn xuôi gần đây và quan niệm về con người, trong đó ở mục
1 Con người và hoàn cảnh, tác giả có đụng đến Thời xa vắng rằng: “Hoàn
cảnh tạo ra một cái bẫy, nếu con người không tỉnh táo và thông minh sẽ bị sa
lưới Giang Minh Sài của Lê Lựu trong Thời xa vắng là một ví dụ Anh là nạn
nhân của hoàn cảnh (dĩ nhiên cũng có một phần là tội nhân) ” [76,18] Ở
mục 4 Sự khẳng định nhân cách, Bùi Việt Thắng còn đề cập đến Thân phận
của tình yêu như sau: “Cái phần được của Thân phận tình yêu chính là ở chỗ
tác giả khao khát có những nhân cách như Kiên trong cuộc đời vốn còn rất
nhiều những hỗn độn này” [76, 20] Mục Đọc sách, Tạp chí Văn học, số 03,
1991, tr 85, Trần Quốc Huấn có bài viết về Thân phận của tình yêu dài hơn
một trang báo Ở bài này, tác giả cố gắng khái quát : “Toàn bộ tác phẩm làmột cái nhìn ngoái lại thờ thẫn, đăm đắm của người lính trận khi đã tàn cuộc”[37, 85] và đã ít nhiều đi vào khai thác, phân tích các nhân vật, nhưng dù saocũng chỉ mới ở tầm “nhìn chung”, ở mức độ “điểm qua” và có tính chất “giớithiệu sách” cùng bạn đọc
Trần Đăng Khoa trong cuốn Chân dung và đối thoại - Bình luận văn
chương đã giành khoảng sáu trang viết [44, 81 - 87] để viết về Thời xa vắng
với những nhận định sâu sắc và khá hấp dẫn: “Trong lúc người ta đổ xô xem
mấy cái Cù lao vừa mới nổi lên và đã reo hò ầm ĩ, vì đã tìm ra được một vườn
địa đàng” “Anh vác xẻng đi đào mỏ Và rồi cứ từng khối vàng ròng nguyênchất, Lê Lựu huỳnh huỵch đắp một cái lô cốt - rồi cho nó một cái tên rất văn
chương, rất thi ca: Thời xa vắng” [44, 81] Trong bài viết này, Trần Đăng Khoa đã có những nhìn nhận về “thời đã qua” của lịch sử rằng: “Thời xa vắng
xa mà không xa, nó vẫn ngự trị, vẫn treo lơ lửng, đâu đó trên đầu mỗi ngườinhư một cái bóng ma” [44, 82] và có nhận xét khá sâu sắc về nhân vật Giang
Trang 13Minh Sài: “Lúc đầu anh phải yêu cái người khác yêu, khi được tự do yêu lại
đi yêu cái mình không có” [44, 84]
Cũng đã có khá nhiều bài viết về hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng,
nhưng trọng tâm xoáy vào những vấn đề ngoài đề tài chúng tôi nghiên cứu Ví
dụ: bài Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ điểm nhìn văn
hoá của Lê Nguyên Cẩn (Nghiên cứu văn học, số 08, tháng 08/ 2006, tr 24);
hai công trình nghiên cứu có khảo sát Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bến
không chồng nhưng nhằm làm sáng tỏ những vấn đề khác là: Nguyễn Thị
Hồng Lê (2006), Khám phá mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt
nam từ 1986 đến nay (qua các tác phẩm được giải), Luận văn Thạc sĩ, Đại
học Vinh; Hoàng Văn Tuân (2009), Nông thôn Việt Nam sau 1975 trong một
số tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh.
Ngoài ra, năm tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng, Mảnh
đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, và Thân phận của tình yêu còn có
một số bài viết khác như:
- Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng trong vườn (Vân Thanh - Tạp chí Văn học, số 03, 1986, tr 159);
- Tư duy mới trong nghệ thuật sáng tác của Ma văn Kháng những năm
80 (Nguyễn Thị Huệ - Tạp chí Văn học , số 02, 1980, tr 77);
- Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết thời kì đổi mới của Ma văn
Kháng (Mai Thị Nhung - Nghiên cứu văn học, số 10, tháng 10/ 2008, tr 89);
- Thời xa vắng và phim, (tập thể nhiều tác giả, Nxb Hội Nhà văn,
HN, 2004);
- Phạm Thị Lan Hương (2009), Ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết của
Lê Lựu thời kỳ đổi mới (khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu), Luận văn
Thạc sĩ, Đại học Vinh;
Trang 14- Những nghịch lí của chiến tranh khi đọc Thân phận của tình yêu của
Bảo Ninh (Hoàng Ngọc Hiến - Văn nghệ, số 15, 1991);
- Nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu?” (Nguyễn Thanh Sơn - Phê bình
văn học, Nxb Hà Nội, 2000);
Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh qua nhan đề (Đỗ Đức Hiểu
-Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000);
- Việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
về đề tài chiến tranh (khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu) (Hoàng Thị
Hảo - Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2007) ;
- Con người cá nhân trong truyện ngắn Việt nam sau 1975 (Nguyễn
Thị Kim Hoa - Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2007);
Qua những khảo sát trên, chúng tôi thấy cho đến hôm nay, chưa cócông trình nào nghiên cứu cụ thể, tập trung vào đề tài mà chúng tôi đã lựachọn Luận văn chúng tôi được tiến hành trên cơ sở tiếp thu những thành tựucủa những người đi trước, nhìn nhận những mặt còn thiếu sót hay chưa phùhợp của các bài viết trước, công trình nghiên cứu trước để đi sâu khảo sát,phân tích, tìm hiểu vấn đề, nhằm đưa ra một quan điểm, một cách nhìn riêng
của chúng tôi Chúng tôi hy vọng đề tài Con người cá nhân trong tiểu thuyết
Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới (qua một số tác phẩm tiêu biểu) ở một mức độ
nào đó sẽ đem đến ý nghĩa khoa học và thực tiễn hữu ích
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đầuĐổi mới, qua một số tác phẩm tiêu biểu
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Chúng tôi tập trung khảo sát các tiểu thuyết được đánh giá cao và từngđược nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam trong khoảng thời gian từ
Trang 151985 đến 1991 như Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma, Bến không chồng, Thân phận của tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh)…
Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểu thêm nhiều tác phẩm khác viết trongthời gian gần đây có quan tâm thể hiện con người cá nhân để nhận thức rõhơn về vấn đề nghiên cứu mà luận văn đã chọn lựa
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Trình bày những nét khái quát nhất về lịch sử thể hiện con người
cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (có thể tạm lấy mốc từ tiểu thuyết
Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách).
4.2 Phân tích những vấn đề của con người cá nhân được nhận thức vàthể hiện trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới (mốc thời giankhông cứng nhắc, có xê xích trong khoảng từ 1985 đến 1991)
4.3 Khảo sát những tìm tòi hình thức có thể được xem là hệ quả củacách nhìn nhận mới, tư duy duy mới về con người cá nhân trong thiểu thuyếtViệt Nam thời kỳ đầu Đổi mới
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiềuphương pháp, trong đó có các phương pháp chính: hệ thống - cấu trúc,phân loại, so sánh…
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khảo sát thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam thời
kỳ đầu Đổi mới trên một phương diện còn chưa được nghiên cứu nhiều: vấn
đề thể hiện con người cá nhân Với những gì làm được, luận văn sẽ góp phần
soi tỏ hành trình không hoàn toàn suôn sẻ của con người cá nhân trong tiểuthuyết Việt Nam hiện đại, từ đó nhận ra những quy luật chi phối nền văn họcViệt Nam trong thế kỷ qua
Trang 167 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1 Khái lược về việc thể hiện con người cá nhân trong tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại
Chương 2 Những vấn đề của con người cá nhân được đặt ra trong tiểu
thuyết Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới
Chương 3 Những tìm tòi hình thức nhằm thể hiện con người cá nhân
trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới
Trang 17Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ VIỆC THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Con người cá nhân - một đối tượng khám phá, thể hiện mới của văn học Việt Nam trên đường hiện đại hóa
Thực dân Pháp tuy đã xâm lược Việt Nam từ năm 1958, nhưng cho đếnhết thế kỷ XIX, xét trên phạm vi cả nước, xã hội Việt Nam về căn bản vẫn là
xã hội phong kiến - một xã hội phong kiến bị xâm lược
Đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp sau khi tạm bìnhđịnh được nước ta đã tiến hành khai thác thuộc địa ở tầm đại quy mô, do đó
xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc, trở thành xã hội thực dân nửaphong kiến Hàng loạt đô thị tư bản xuất hiện từ Nam chí Bắc, là những trungtâm chính trị, kinh tế, văn hóa của chế độ thực dân Ở các đô thị này, ra đờinhững tầng lớp xã hội mới như tư sản, tiểu tư sản, thợ thuyền, dân nghèothành thị, tiểu thương, v.v trong số những tầng lớp thị dân này, đóng vai tròquan trọng về mặt tư tưởng và văn hóa là những người tiểu tư sản trí thức Tâyhọc (học sinh, sinh viên, viên chức, ) Qua tầng lớp trí thức này, tư tưởng vàvăn hóa hiện đại của Âu Mỹ ngày càng thâm nhập vào nước ta một cách sâusắc (trước kia, qua tầng lớp trí thức Hán học, sự tiếp nhận tư tưởng và văn
Trang 18hóa nước ngoài của ta chủ yếu chỉ giới hạn trong quan hệ với những thành tựucủa Trung Hoa thời cổ trung đại).
Từ những lớp thị dân nói trên, tầng lớp công chúng đông đảo mới ra đời
Họ có nhưng quan niệm mới về vũ trụ, nhân sinh, về cái đẹp Ở họ, nẩy sinhnhưng tình cảm mới, khát vọng mới và những thị hiếu mới về văn chương nghệthuật Họ yêu cầu văn học phải đổi mới theo hướng hiện đại hóa
1.1.2 Một số điều kiện khác
Về chữ viết, nếu như trong suốt hàng ngàn năm phong kiến, người ViệtNam chủ yếu sử dụng hai loại văn tự chính là chữ Hán và chữ Nôm, thì đếnnhững thế kỷ cuối của thời trung đại, ở ta đã xuất hiện một thứ chữ mới là chữquốc ngữ Trên cơ sở những chữ cái La Tinh, trong vai trò truyền đạo, các cha
cố phương Tây cùng với một số trí thức người Việt Nam đã sáng tạo ra chữQuốc ngữ
Chữ Quốc ngữ là một loại văn tự dễ đọc, dễ viết, dễ học nên nó nhanhchóng được phổ biến rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp nhận và sửdụng của tầng lớp công chúng thị dân Nó là thứ văn tự chính được sử dụngrộng rãi trong xã hội cũng như trong hoạt động sáng tác văn học Chính nó đãgóp phần thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn học
Thực dân Pháp xâm lược, biến nước ta thành một nước thuộc địa nửaphong kiến; từ đây, nhiều đô thị tư sản mọc lên Ở các đô thị, mô hình xã hội
tư bản thương mại là chủ yếu
Trong xã hội thương mại, nhu cầu văn hóa phát triển, tất dẫn đến nhữnghoạt động kinh doanh văn hóa In ấn, xuất bản, nghề làm sách báo theo kỹthuật hiện đại của phương Tây, cũng lần lượt ra đời và phát triển nhanhchóng, góp phần đưa tác phẩm đến với độc giả nhanh hơn, thúc đẩy hoạt độngsáng phát triển nhanh hơn
Trang 19Viết văn trở thành một nghề chuyên nghiệp để kiếm sống, tuy vô cùngchật vật nhưng đội ngũ sáng tác vẫn bám nghề và quyết sống bằng đồnglương nhuận bút.
Lúc này nhà văn và công chúng có quan hệ gắn bó hơn Phê bình, dịchthuật, khảo cứu ra đời và phát triển trên báo chí Các quan điểm, các thị hiếu
có điều kiện cọ xát với nhau Đời sống văn học trở nên sôi nổi, khẩn trươnghơn Nhờ vậy, câu văn xuôi nhanh chóng được hình thành, các thể loại vănhọc được giới thiệu cụ thể Các cây bút có điều kiện tập dượt, cọ xát ý kiến,trao đổi kinh nghiệm, kích thích nhau phát triển, thúc đẩy quá trình hiện đạihóa diễn ra một cách mau lẹ
1.1.3 Hiện đại hóa văn học
Khái niệm hiện đại hóa được hiểu theo nghĩa: văn học thời kỳ này thoát
ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học thời phong kiến trung đại Từ nền vănhọc Hán Nôm chuyển thành nền văn học của thị dân các đô thị tư bản chủnghĩa Công chúng mở rộng hơn Người sáng tác tự giải phóng khỏi hệ thốngước lệ chặt chẽ, uyên bác, cách điệu hóa, sùng cổ và phi ngã của văn học thờiphong kiến trung đại Các thể văn nghệ thuật được đề cao Văn xuôi hìnhthành và phát triển mạnh, đặc biệt là ở hệ thống thể loại tiểu thuyết tâm lí pháttriển nhanh chóng Con người cá nhân có điều kiện thể hiện và được đông đảobạn đọc đón nhận Cá tính và phong cách nhà văn có điều kiện phát triểnphong phú
Quá trình hiện đại hóa văn học nước ta bắt đầu bằng sự hình thành cácthể loại văn xuôi quốc ngữ (trong một thời gian dài nó chủ yếu dùng để phiêndịch các kinh bổn lưu hành trong giáo dân Đến nửa cuối thế kỷ XIX, từ lĩnhvực tôn giáo, chữ quốc ngữ mới bước dần sang lĩnh vực văn hóa văn học) Sựtruyền bá rộng rãi chữ quốc ngữ có tác động quan trọng tới sự hình thành cáctầng lớp công chúng văn học mới và có ảnh hưởng tích cực tới sự ra đời và
Trang 20phát triển nền văn xuôi nước ta Nhưng điều quan trọng hơn phải kể đến là sựxuất hiện của báo chí và quá trình dịch thuật đầu thế kỷ XX (chủ yếu dịch tiểuthuyết cổ điển Trung Hoa, tiểu thuyết và kịch Pháp) Từ văn dịch thuật, vănviết theo kiểu thông tin báo chí, đến giai đoạn này, kiểu văn xuôi nghệ thuậttiếng Việt ra đời, trưởng thành và phát triển Khoảng cuối thế kỷ XIX, người
ta thấy xuất hiện ở Miền Nam một số sáng tác văn xuôi quốc ngữ Chẳng hạn
bài kí Chuyến đi thăm Bắ Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Kí (1876) hay truyện Thầy Lazarô phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887) Nhưng đến đầu
thế kỷ XX mới có hẳn một phong trào truyện kí văn xuôi quốc ngữ, đặc biệt
là ở Sài Gòn Cuốn tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan xuất hiện năm 1910
được Trần Thiện Trung thể hiện bằng văn xuôi quốc ngữ khá suôn sẻ, chữngchạc Tác phẩm viết về nỗi oan ức, giày vò của cô gái dân quê nghèo tên làHoàng Tố Anh Tuy nhiên, những sáng tac kể trên nói chung và tiểu thuyết
Hoàng Tố Anh hàm oan nói riêng chỉ mới là những thử nghiệm bước đầu,
chất lượng nghệ thuật chưa cao; chưa có những diễn tiến gì về tâm lí nhân vậtcũng như những thể hiện con người cá nhân Mặt khác, do điều kiện giaothông cách trở, ảnh hưởng của nó chỉ mới thu hẹp trong một số đô thị miềnNam Hiện đại hóa văn học ở chặng thứ nhất (từ đầu thế kỷ XX đến khoảngnăm 1920) này, nhìn trên tổng thể, dòng chính vẫn là do các chí sĩ Hán họctân tiến đảm nhiệm Văn học chỉ mới đổi mới quan điểm chính trị, xã hội, họcthuật chứ chưa có sự đổi mới thật sự về tư tưởng thẩm mỹ Các tiểu thuyếtviết theo diễn biến nội tâm nhân vật cũng như việc thể hiện con người cá nhânhầu như chưa có
Bước thứ hai, từ đầu những năm 1920 đến khoảng 1930 Quá trình hiệnđại hóa nền văn học đến thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu Xu hướnghiện đại hóa trở thành dòng chính trong tiến trình phát triển nền văn học dântộc Giai đoạn này chẳng những đã ra đời nhiều tác phẩm có giá trị mà còn
Trang 21xuất hiện một số tác giả tự khẳng định được chắc chắn tài năng và sức sángtạo dồi dào của mình.
Ở lĩnh vực thơ, thực chất quá trình hiện đại hóa thơ ca là sự giải phóngcái tôi cá nhân ra khỏi hệ thống ước lệ khắt khe và có tính “phi ngã” (khôngthể hiện cái tôi cá nhân) của thơ ca thời phong kiến Cái tôi ấy đã bắt đầu cựaquậy từ giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX với những têntuổi nổi bật như Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du,Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, v.v Từ đó, đẻ ra hiện tượng “phản thipháp văn chương trung đại” Tuy nhiên, những hiện tượng “phản thi pháp vănchương trung đại” này, chưa có điều kiện và cũng chưa đủ sức phá vỡ đượctính quy phạm chặt chẽ của văn chương cổ Nhưng đến bước thứ hai này,những tên tuổi nhà thơ như Trần Tuấn Khải, và đặc biệt là Tản Đà, cái tôi ấycàng tự khẳng định mạnh mẽ hơn với hồn thơ phóng túng và tràn đầy tìnhcảm, cảm xúc Tuy nhiên, Tản Đà vẫn là “người của hai thế kỷ” [79,11] Ôngvẫn chưa sáng tạo được một hình thức hoàn toàn mới cho thơ Những cố gắngcách tân của Tản Đà chỉ mới dừng ở chỗ khai thác triệt để những thể điệu tự
do nhất trong thơ ca cổ bao gồm cả những điệu hát dân gian như hát nói, hátxẩm, ca dao, thơ lục bát, v.v
Cũng ở chặng này, thể loại kịch nói bắt đầu xuất hiện Đây là một loạihình văn học được du nhập từ phương Tây, nó hoàn toàn mới đối với người
Việt Nam Một loạt tác phẩm được ra đời như: Chén thuốc độc, Tòa án lương
tâm củaVũ Đình Long; Bạn và vợ của Nguyễn Hữu Kim; Ông Tây An Nam
của Nam Xương Nhìn chung, những tác phẩm kịch kể trên, phẩm chất nghệthuật còn nhiều hạn chế (nhà văn nhiều khi nói thay nhân vật theo kiểu thuyết
lí về đạo đức, giáo huấn; yếu tố ngẫu nhiên bị lạm dụng; xung đột kịch còngượng ép ), nhưng đó cũng là những đóng góp về mặt thể loại, quan niệmcon người trên đường hiện đại hóa nền văn học dân tộc
Trang 22Bên cạnh những truyện ngắn (Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn,
Câu chuyện một tối của người tân hôn - Nguyễn Bá Học, Quay tơ - Nhất
Linh, ), và thể bút kí, tùy bút (Giọt lệ thu Tương Phố, Linh Phượng kí Đông Hồ, Ba tháng ở Pari - Phạm Quỳnh, ), ở thể loại tiểu thuyết đã có
-được những thành công nhất định với tên tuổi của nhà tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh ở Miền Nam Ai làm được là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông được
xuất bản năm 1913, tiếp sau đó, một loạt tiểu thuyết khác của Hồ Biểu Chánh
ra đời liên tục cho đến năm 1930 Còn ở ngoài Miền Bắc, tác giả Trọng
Khiêm cũng có cuốn tiểu thuyết Kim Anh lệ sử khá thành công.
Trong việc thể hiện con người cá nhân, sự ra đời cuốn tiểu thuyết Tố
Tâm (tác phẩm viết xong năm 1922, xuất bản lần đầu năm 1925) của Hoàng
Ngọc Phách đã đánh một dấu mốc quan trọng, ít nhiều tạo tiền đề cơ sở choviệc thể hiện nội tâm, diễn biến tâm lí của kiểu con người cá nhân trong tiểuthuyết Việt Nam sau này, nhất là ở thời kỳ đầu “đổi mới”
Những cây bút kể trên, phần lớn thuộc lớp trí thức Tây học đầu tiên ởnước ta Tác phẩm của họ thường chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các truyện ngắn vàtiểu thuyết Pháp Mặt khác, ở các sáng tác của họ, nhiều yếu tố của thời kỳ vănhọc cổ vẫn tiếp tục tồn tại trên mọi thể loại Tuy vậy, xu hướng văn học hiệnđại hóa đã có nhiều thành tựu có giá trị trong các sáng tác; và, con người cánhân - Một đối tượng khám phá, thể hiện mới cũng nằm trong quỹ đạo này
Bước thứ ba (từ đầu những năm 1930 đến năm 1945), bước cuối cùngtrên con đường hiện đại hóa nền văn học dân tộc Ở chặng này, quá trình hiệnđại hóa nền văn học được đẩy lên một ước mới với nhiều cuộc cách tân vănhọc sâu sắc trên các thể loại Bên cạnh những thành công rực rỡ về lĩnh vực
thơ ca (tạo ra một phong rào Thơ mới rầm rộ), truyện ngắn, kịch nói, bút kí,
tùy bút, phóng sự, với hàng loạt tên tuổi xuất sắc như Xuân Diệu, Huy Cận,Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Tô Hoài, Vi
Trang 23Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Vũ TrọngPhụng, v.v Hoạt động sáng tác của họ được phân chia thành nhiều trào lưu,
xu hướng, bộ phận khác nhau Đặc biệt, thể loại tiểu thuyết tâm lí được pháttriển lên một trình độ thẩm mỹ cao và phân chia thành nhiều nhóm, nhiềudòng, nhiều xu hướng khác nhau
Trước hết, chúng ta phải kể đến những đóng góp của nhóm Tự lực vănđoàn với những tiểu thuyết thật sự hiện đại (so với tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh, Hoàng Ngọc Phách ): Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn
tuyệt, v.v Tiếp đó là những sáng tác thành công của Vũ Trọng Phụng (Giông
tố, Số đỏ ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Nguyễn Công Hoan (Bước đường cùng),
Nguyên Hồng (Bỉ vỏ), Mạnh Phú Tư (Làm lẻ; Sống nhờ), Đỗ Đức Thu (Đứa
con), Nam Cao (Sống mòn) đã có những đóng góp xuất sắc trong việc hiện
đại hóa nền văn học dân tộc ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
Ở bước thứ ba này, nền văn học Việt Nam nhìn trên tổng thể, đã có tínhhiện đại từ nội dung đến hình thức, không còn lạc điệu với tiếng nói của vănhọc thế giới hiện đại nữa Ở chặng đường cuối này, trong việc cách tân vănhọc, hế hệ trí thức Tây học lúc bấy giờ là những người có công đầu tiên Họ
là những trí thức Tây học (được học trong các trường Tây hoặc đi du học ởTây về), tuổi đời rất trẻ, chỉ trên dưới hai mươi Họ một mặt không vương vấn
gì với những quy phạm, những công thức của văn chương cổ nữa, mặt kháclại kế thừa được những kinh nghiệm cách tân của các thế hệ đi trước, lại cóđiều kiện nắm bắt được những tinh hoa văn hóa, văn học thế giới, tinh nhạyvới những cái mới của phương Tây Trong việc thể hiện con người cá nhân,cũng chính tầng lớp trí thức Tây học này là những người đi tiên phong vàđóng vai trò cốt cán
Tốc độ hiện đại hóa văn học diễn ra đặc biệt mau lẹ, khẩn trương Khái
niệm mau lẹ mà chúng tôi muốn nói đến ở đây là bao gồm nhịp độ phát triển
Trang 24về số lượng, nhịp độ cách tân, nhịp độ trưởng thành, nhịp độ kết tinh ở nhữngcây bút có tài năng Cũng có nghĩa là, chúng ta phải phân biệt được rằng: vănhọc Việt Nam thời trung đại không phải không có lúc phát triển mạnh vớinhững thành tựu rực rỡ và những tên tuổi đáng tự hào như Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nhưng bướcvào thế kỷ XX, nhờ những điều kiện văn hóa lịch sử mới, nhịp độ phát triểncủa nó càng khẩn trương hơn
Như vậy, chỉ trong chừng khoảng mươi lăm năm, chúng ta đã hoànthành hiện đại hóa nền văn học dân tộc, quả là một bước đi thần tốc Nhận xét
về điều này, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã kết luận rằng: “Ở
nước ta, một năm đã có thể kể như ba mươi năm của người” (dẫn theoNguyễn Đăng mạnh) [17, 70] Có được điều này là bởi, trước hết do sự thôithúc của thời đại khi nền văn học đang trì trệ bổng được tiếp xúc với phươngTây hiện đại Thứ nữa là do sức sống mãnh liệt của dân tộc thể hiện trong đờisống văn hóa Sức sống này càng được khơi dậy mạnh mẽ bởi các phong tràoyêu nước và cách mạng phát triển liên tục và ngày càng rộng rãi, sâu sắc từđầu thế kỷ XX đến năm 1945 Đặc biệt, trong sự thành công đó, phải kể đếnvai trò của tầng lớp trí thức Tây học (chủ yếu là tiểu tư sản) Một mặt, xuấtphát từ tinh thần yêu nước, họ cũng muốn đóng góp một cái gì cho đất nướcbằng tài trí của mình, trong điều kiện lịch sử xã hội lúc bấy giờ và khả năngcho phép, không gì hơn đối với họ là tham gia vào hoạt động văn hóa, vănhọc; mặt khác, do bản chất xã hội, do được tiếp thu và ảnh hưởng bởi văn hóaphương Tây, tầng lớp trí thức tiểu tư sản được thức tỉnh về ý thức cá nhân, vìthế họ khao khát xây dựng một sự nghiệp để khẳng định sự tồn tại có ý nghĩacủa mình trong đời sống Và ở mặt nào đó, sáng tác của họ, chính là sự thểhiện con người cá nhân ý thức
Trang 25Tóm lại, hiện đại hóa văn học là một khái niệm mang ý nghĩa rộng, nólàm thay đổi cả một phạm trù văn học Văn học Việt Nam từ phạm trù vănhọc trung đại trong suốt mười thế kỷ qua, đến đầu thế kỷ XX trở về sau, đãchuyển sang một phạm trù mới: Văn học Việt Nam hiện đại.
Văn học Việt Nam trên đường hiện đại hóa thể hiện ở nhiều mặt Đó làviệc thay đổi về đối tượng thẩm mỹ; cách tân về mặt thể loại; tạo ra một lớpđộc giả mới và một đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp; nghiên cứu – phê bìnhvăn học trở thành một ngành độc lập v.v ; trong đó có việc mở rộng quanniệm về con người Nhà văn nhìn nhận con người một cách toàn diện hơn, tỉ
mỉ hơn Con người cá nhân trở thành một đối tượng khám phá, thể hiện mớicủa văn học Việt Nam trên đường hiện đại hóa
1.2 Con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ trước 1945
1.2.1 Vài nét về con người cá nhân trong văn học trung đại
Cần phải nói ngay rằng, con người cá nhân không phải chỉ đến văn họchiện đại sau này mới có, mà nó đã xuất hiện sớm, từ thời trung đại Nhưng sựxuất hiện của con người cá nhân trong văn học trung đại thực chất là sự giảiphóng cái tôi cá nhân cá thể ra khỏi hệ thống ước lệ khắt khe có tính chất “phingã” (không thể hiện cái tôi cá nhân) của thơ ca thời phong kiến, mà nói theonhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh thì đó là những hiện tượng “phản thipháp trung đại” [18, 81] khá táo bạo Thật ra, từ thời cổ đại và trung đại,những nhân cách lỗi lạc đã có ý thức khẳng định cái tôi cá nhân của mình.Nhưng ý thức đó không có tính chất phổ biến mà chỉ xuất hiện cá biệt ởnhững con người phi thường (vì vậy không phải vô lí khi nhiều nhà nghiêncứu cho rằng một trong những đặc trưng chung nổi bật của văn học trung đại
là “tính phi ngã” Đặc biệt, văn học Việt Nam vào cuối thời trung đại, từkhoảng cuối thế kỷ XVIII sang nửa đầu thế kỷ XIX, do sự khủng hoảng của
Trang 26chế độ phong kiến, và kéo theo nó là sự khủng hoảng sâu sắc của ý thức hệphong kiến, tư tưởng mĩ học và thi pháp văn học phong kiến cũng rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng Đây là lí do ra đời một trào lưu “phản thi pháp văn họctrung đại”) Giai đoạn này xuất hiện một loạt cây bút bước đầu có sự thức tỉnhcủa ý thức cá nhân, như Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm,Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, v.v Tuynhiên, vẫn chưa thể nói trong văn học thời kỳ này, cái tôi cá nhân xuất hiệnmột cách phổ biến, trên cơ sở ý thức tự giác Mặt khác, thời trung đại, do hạnchế về mặt lịch sử xã hội, nhận thức và ý thức hệ phong kiến, các hiện tượng
“dị biệt” nằm trong quy luật phát triển tiến bộ vẫn chưa đủ sức phá vỡ tínhquy phạm chặt chẽ của văn chương cổ, nên con người cá nhân được thể hiệntrong văn học vẫn là con người cá nhân của thời trung đại (muốn phân tích,tìm hiểu nó, người ta phải dựa trên các đặc trưng thi pháp của văn chươngtrung đại)
Từ khi tiếp xúc với văn hóa văn học phương Tây, xã hội Việt Nam đãbiến đổi một cách toàn diện, sâu sắc, mà ở đó, con người cá nhân xuất hiệntrong văn học với tư cách cá thể, tự giác ý thức
1.2.2 Vài nét về con người cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX
Sau một thời gian thăm dò, ngày 1/9/1858, Pháp nổ súng vào Đà Nẵng
mở đầu quá trình xâm lược Việt Nam Sau khi đã bình định xong về mặtchính trị và quân sự, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa, làm biếnđổi hoàn toàn cơ cấu xã hội Việt Nam Lúc bấy giờ thành thị có một sức hútghê gớm như một ma lực đang làm rạn nứt, biến đổi dần những nguyên tắc tưtưởng đã cố hữu hàng ngàn năm nay ở cái “chốn nước non lặng lẽ này” [76,106] Hình bóng con người cá nhân của xã hội phương Tây đã tác động mạnh
mẽ vào đời sống xã hội Việt Nam và được nhiều tầng lớp, đặc biệt là thanh
Trang 27niên, trí thức hồ hởi đón nhận Bởi họ là những người được học chữ quốcngữ, chữ Pháp, lại được tiếp xúc với cái mới, cái lạ của đời sống văn minhphương Tây Chính sự tiếp xúc này đã đem đến cho phần đông công chúngđộc giả và những người cầm bút sự nhận thức mới về cuộc sống, về con người
và sự ý thức sâu sắc về bản thân mình
Từ đầu thế kỷ XX đến khoảng 1920, tiểu thuyết phát triển rầm rộ ở khuvực Nam Bộ với những tên tuổi như Trần Thiện Trung, Hồ Biểu Chánh, Tuy nhiên, các tác phẩm của họ vẫn viết theo lối chương hồi và phát triển
theo mô hình tài tử - giai nhân của văn học trung đại Trong việc thể hiện con
người cá nhân, các nhà tiểu thuyết này chưa có đóng góp gì xuất sắc Nhưng
đến năm 1925, sự ra đời tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã đánh
một dấu mốc lớn về mặt thể loại khi mà từ dấu mốc này, tiểu thuyết Việt Namhoàn toàn bước vào quỹ đạo hiện đại
Trong việc thể hiện con người cá nhân, Tố Tâm cũng đánh một dấu
mốc quan trọng bằng việc nhà văn tập trung bút lực của mình để diễn tảnhững diễn biến tâm lí phức tạp bên trong thế giới nội tâm nhân vật (đây cũngchính là tiền đề để tiểu thuyết Tự lực văn đoàn kế thừa và phát triển)
Nếu xem tình yêu là “đạo”, là một thứ tôn giáo, thì Tố Tâm là nhân vậtcon người cá nhân đầu tiên giám “tử vì đạo”, dám chết vì thứ “tôn giáo” ấy.Xây dựng nhân vật Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách, theo như cách nói của Hoài
Thanh trong Thi nhân Việt Nam thì: “Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu
cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” [76,12] của một lớp con ngườimới dám chống lại lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng,đấu tranh cho tình yêu, hạnh phúc của mình Đây chính là biểu hiện của conngười cá nhân thức tỉnh
1.2.3 Con người cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Trang 28Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn hầu hết là nhữngcon người mới, là những “trí thức Tây học” hoặc “gái mới” Phần đông trong
số họ là tầng lớp thanh niên mới, biết chữ quốc ngữ, được theo học một nềngiáo dục Tây Âu từ nhỏ, được tắm mình trong không khí văn hóa mới của
thời đại Đó là những Ngọc (Hồn bướm mơ tiên) là sinh viên trường Cao đẳng Canh nông; Trương (Bướm trắng) là sinh viên trường luật; Lương (Thoát ly)
là giáo viên của một trường tư thục; Nam, Ngọc, Kế, Hoành Sơn (Đẹp) là họa sĩ; Dũng (Đoạn tuyệt) tham gia hoạt động bí mật trong một hội kín; Lộc (Nửa
chừng xuân) là tham tá; Huy, Thiện, Chương (Đời Mưa gió) là sinh viên
trường tư thục; Biên (Đẹp) là thi sĩ, v.v Đến các nhân vật nữ trong xã hội
bấy giờ còn phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công, thì trong tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn cũng đều là những con người có học Đó là: Lan (Thi) (Hồn bướm
mơ tiên); Lan, Trinh (Đẹp); Loan (Đoạn tuyệt); Hồng, Nga (Thoát ly) Họ là
những sinh viên đang được theo học ở các trường cao đẳng hoặc tư thục Đến
cả những cô gái nông thôn như Mai (Nửa chừng xuân) cũng được cha dạy cho chữ Hán từ nhỏ Tiểu Lan (Thi) (Hồn bướm mơ tiên), một cô gái bỏ đời di tu
cũng được sư cụ dạy cho chữ nho, chữ quốc ngữ Cô có kiến thức thông tuệkhiến Ngọc - một sinh viên trường cao đẳng Canh nông cũng phải nể phục
Rồi Liên (Gánh hàng hoa), một cô gái bán hoa dạo cũng giúp được chồng chép bản thảo Tuyết (Đời mưa gió) là một gái giang hồ cũng biết chữ Pháp
Họ là những con người cá nhân cụ thể, được mô tả một cách trực diện, khôngqua màn sương mờ ảo thời gian Sự hiện diện của họ là để đại diện cho mộttầng lớp con người mới, một xu thế mới của thời đại Qua ngoại hình, ngônngữ, hành động, ta thấy được tất cả thế giới tâm hồn bên trong phong phúcủa họ Ở những con người này là sự đặc biệt nhạy cảm Họ có sự thức nhậnsâu sắc về cuộc sống và chính bản thân mình Phần lớn họ là những nam nữthanh niên được học hành chu đáo và được tiếp xúc với nền văn hóa mới từ
Trang 29Tây Âu nên có cái nhìn mới mẻ về con người và cuộc sống Họ thấy đượcnhững cái gì là lạc hậu, gò ép mình và gò ép người trong những khuôn khổ,
mà có thể trước đây được coi là mẫu mực, những cái đó nay bị coi là phi nhântính, vô nhân đạo Con người cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đãmạnh mẽ đấu tranh chống lễ giáo phong kiến để khẳng định vai trò của mình,khẳng định quyền cá nhân cho mình Họ đấu tranh đòi quyền tự do thể hiệncái riêng tư của mình, đấu tranh để khẳng định cái tôi cá nhân có quyền đượcsống và hưởng hạnh phúc của mình Mỗi nhân vật với một cá tính, một ý thứcriêng, đã mạnh mẽ thể hiện con người cá nhân của mình Điều này đã đemđến cho hệ thống nhân vật con người cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn sự phong phú, đa dạng cả về hình thức, tính cách lẫn hoàn cảnh
Hồn bướm mơ tiên được xem là tác phẩm mở đầu cho sự nghiệp văn học
của Khái Hưng đồng thời là tiểu thuyết đầu tiên của Tự lực văn đoàn Lúc bấygiờ, người ta coi đây là “khúc dạo đầu” của phong trào chống lễ giáo phongkiến, đấu tranh cho tình yêu tự do, lãng mạn, nhuốm màu từ bi của nhà Phật.Ngọc và tiểu Lan (Thi) là hai nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết Ngọc là sinhviên trường cao đẳng Canh nông, lên chùa Long Giáng thăm người bác ruộtđang trụ trì tại đấy Lan là cô thiếu nữ xinh đẹp bị gia đình ép lấy người mànàng không yêu nên đã tự giải thoát bằng cách bỏ nhà lên chùa đi tu Tại chùaLong Giáng, Ngọc và Lan đã gặp nhau, rồi cảm mến nhau mà đến với nhau Họ
đã nhận ra nhau nhưng hoàn cảnh không cho phép, hai người thề yêu nhau trọnđời dưới bóng từ bi của Phật Tổ Họ yêu nhau trong tâm tưởng, trong tinh thầnbằng một tình yêu tưởng tượng như lời nhân vật Ngọc đã khẳng định: “Nghĩa
là suốt đời tôi, tôi không lấy ai, chỉ sống trong cái thế giới mộng ảo của ái tình
lí tưởng, của ái tình bất vong bất diệt Gia đình! Tôi không có gia đình nữa.Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình tôi là hai linh
hồn của đôi ta, ẩn núp dưới bóng từ bi Phật Tổ” [93, 59].
Trang 30Đánh giá Hồn bướm mơ tiên, Phan Cự Đệ nhận xét: “Hồn bướm mơ tiên
ca tụng ái tình, ái tình trong sạch, chung thủy, ấy là dạo lên một khúc nhạcđược thanh niên mong chờ Và một ý tưởng cao cả, bao trùm nhân loại và vũtrụ, mà không loại trừ tình yêu, hẳn là được bạn trẻ vồ vập lấy ” [22, 128] Cho
đến Nửa chừng xuân (Khái Hưng), tác phẩm là lời tuyên chiến với lễ giáo
phong kiến Không thể cứ “hồn bướm mơ tiên” mãi nữa, con người cá nhân ấy
đã trưởng thành, đủ sức mạnh để chống lại đại gia đình phong kiến để bảo vệquyền và hạnh phúc cá nhân của mình Đại diện tiêu biểu ở đây là nhân vậtMai Mai dù đã phải trải qua bao gian truân để giữ vững tình yêu chung thủyvới Lộc, nhưng khi được bà Án (mẹ của Lộc) hỏi: “Vậy bây giờ tôi rước cô vềlàm chị làm em với mợ huyện thì cô nghĩ sao?”, cô không do dự mà nói thẳngvào mặt bà Án rằng: “Thưa cụ, sáu năm về trước hình như tôi đã trình bày với
cụ biết rằng nhà tôi không có mả lấy lẻ Nhưng tôi, tôi cho làm cô thượngkhông bằng, không sung sướng bằng làm chị xã, chị bếp, chị bồi mà được vợmột chồng một yêu mến nhau, khi vui có nhau khi buồn có nhau, khi hoạnnạn có nhau” [93, 214 - 215] Mai nhất quyết không chịu làm vợ lẽ, nghĩa là côchống lại cái quan niệm cổ hủ phong kiến “trai năm thê bảy thiếp” Không chỉbốp chát lại với bà Án, mà với người khác cũng vậy, cô cũng hành động mộtcách mạnh mẽ: Từ chối làm lẽ Hàn Thanh, dù hắn là một phú gia trong khi gia
đình nàng đang gặp khó khăn Về Nửa chừng xuân, Trương Chính trong tác phẩm Dưới đôi mắt đã nhận xét: “Chế độ đại gia đình là một chế độ eo hẹp Nó
đặt luân thường trên nhân đạo, đặt lễ nghi lên trên tự do cá nhân Nó tỏa chiếthết tình cảm của cá nhân và không để cho cá nhân phát triển một cách đầy đủ
Ái tình vì thế mất ý nghĩa tự nhiên của nó Con trai con gái không có quyềnkén chọn một người yêu để mưu cầu lấy hạnh phúc gia đình Dựng vợ gảchồng là do ở cha mẹ; mà cha mẹ lại chỉ biết tìm những cho môn đăng hộ đối,những người cùng giai cấp mình Lẽ phải của trái tim không được không được
Trang 31họ nhìn nhận vì vô nhân đạo, tất phải tới ngày điêu linh”, và ông đi đến kết
luận: “Nửa chừng xuân là một cuốn truyện ghi lại sự phấn đấu giữa cá nhân và
chế độ ấy” (dẫn theo Nguyễn Quốc Anh, [1,38])
Cùng tương tự như Mai, kiên quyết trên mặt trận đấu tranh chống tưtưởng phong kiến cổ hủ lạc hậu kiểu “trai năm thê bảy thiếp”, khẳng định
cuộc sống tự do độc lập của mình, nhân vật Loan (Đoạn tuyệt – Nhất Linh) lại
quyết liệt đấu tranh chống lại cái gọi là đại gia đình phong kiến, mà cụ thể ởđây là gia đình bà Phán Lợi (mẹ chồng Loan) Ngay khi bước chân về nhàchồng, cô đã công khai thách thức với những lề thói cổ lổ sĩ của gia đìnhchồng “Đáng lẽ bước qua cái hỏa lò để ở cửa” thì Loan “đứng dừng lại cúinhìn cẩn thận rồi vờ như vô ý lấy chân hất đổ hỏa lò, mấy viên than hồng lănlộn cả ra mặt đất” [92, 51] trước sự trố mắt của mọi người Trong buổi “lễ tơhồng”, theo sự sắp đặt của mọi người, lẽ ra Loan phải ngồi lùi lại sau lưngchồng (Thân) thì cô đã “thản nhiên đứng lên ngồi ngang hàng với thân”[92,51) Và, trong đêm tân hôn, trước hành động “giải một tấm vải trắng lênchiếc chiếu” một cách ích kỷ, cổ hủ lạc hậu của Thân để kiểm tra sự trinh tiếtcủa người vợ, nàng đã ngẫm nghĩ, đã “cười khinh bỉ” và tự ví mình như “thânphận của gái giang hồ” Theo nàng, “chỉ có sự trinh tiết của tâm hồn là đángquý thôi” [92, 52] Chưa dừng lại ở đó, ngay ngày đầu tiên về làm dâu nàng
đã cãi nhau với mẹ chồng, với em chồng Loan là một “gái mới” Nàng sốngtheo những quan niệm tân tiến về bản thân, gia đình, về hạnh phúc và quyềnbình đẳng nam nữ Loan ý thức một cách sâu sắc về nhân phẩm, về bản thâncũng như với mọi người xung quanh Cô dám giành quyền cho mình, cho conmình Với gia đình, cô luôn mơ ước “có một người chồng có thể cùng nàngsống một cuộc đời rộng rãi, khoáng đạt: một cuộc đời mới” [92, 56], vớiriêng mình, cô “ao ước được sống cái đời tự do rộng rãi, không gì bó buộc”
Trang 32Nhưng ước mơ đó không thực hiện được, cô tự thấy thương cho thân phận
“lạc loài” [92, 62] của mình
Cũng thể hiện con người cá nhân ý thức, nhân vật Hồng trong Thoát ly
đã công khai chống lại những quan niệm lạc hậu, những sự áp chế vô lí, bấtcông trước cảnh sống dì ghẻ - con chồng Mẹ mất sớm, Hồng phải sống vớingười dì ghẻ và các em cùng cha khác mẹ “Họ luôn chế giễu nàng, xem xéttừng cử chỉ, bắt bẻ từng lời nói của nàng” [93, 677] Bà dì ghẻ “áp chế hànhhạ”, luôn tìm đủ mọi cách để làm Hồng khổ nhục tủi hờn Hồng mất mẹ từsớm, lẽ ra Hồng càng được bù đắp bởi tình mẫu tử của người mẹ kế, thì đổilại, người mẹ này luôn tìm mọi cách để hắt hủi, nói xấu nàng với người chavốn đã không mấy quan tâm gần gũi Chưa hết, bà còn dặn mấy đứa nhỏ conmình “ẩn núp xung quanh nàng để do thám, để đoán những việc nàng địnhlàm hay không bao giờ nghĩ tới” để nhằm lập kế hoạch phá tan những niềmvui nho nhỏ của cô Bà xui ông Phán (chồng bà và là cha đẻ của Hồng) bắtcon bỏ học, phải nhuộm răng đen, và phải lấy chồng theo ý muốn của bà làlấy người đàn ông không có tương lai (anh ta mắc bệnh hiểm nghèo và mỗingày đang tiến gần đến cái chết) v.v Nhưng ngược lại, con người cá nhântrong Hồng lúc câm lặng, lúc phản ứng gay gắt, quyết liệt nhằm bằng mọicách để chống lại mọi mưu đồ và sự áp chế của người dì ghẻ Hồng quyết bỏnhà ra đi, “thoát ly gia đình, dù phải hi sinh danh dự cũng cam” [93, 750] Khi
bị ngăn cản tình yêu với Lương, cô quyết tâm bỏ nhà lên Hà Nội tìm Lương,
dù cô phải mang tiếng là đứa con gái hư hỏng, “chim trai” Hồng muốn “Haingười sẽ lấy nhau, dù ông Phán bằng lòng hay không bằng lòng cũng mặckệ ” [93, 756] Bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi của trái tim mình, cũng là mộtcách để Hồng không chỉ chống lại sự áp chế của người dì ghẻ, mặt khác quá
đó, nhằm khẳng định quyền sống, quyền tự do hôn nhân, tự do yêu đương của
cá nhân mình Ở phần cuối tác phẩm, nhà văn đã để Hồng ốm nặng rồi chết
Trang 33Nhưng cái chết đó đối với cô là rất mãn nguyện, là thoát ly được sự áp chếcủa người dì ghẻ, thoát ly gia đình, thoát ly được bể khổ cuộc đời Cách kếtthúc này có vẻ bế tắc, cực đoan, nhưng suy cho cùng, đó cũng là cách chối bỏthực tại bất công để khẳng định lí tưởng và phẩm giá của con người cá nhân.
Không bị bó buộc bởi những lễ giáo phong kiến lạc hậu, khao khátđược tự do yêu đương, tự do sống thật là con người mình, sống đúng với cáitôi cá nhân riêng tư của mình Ao ước này của Loan, Mai hay bất cứ chàngtrai cô gái nào trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo,cũng là ao ước, là ý thức thường trực của các nhân vật con người cá nhân
trong văn chương Tự lực văn đoàn Theo tờ Phong hóa số 101, ra ngày
8/6/1934, đăng tôn chỉ Tự lực văn đoàn gồm có chín điểm, trong đó có mộttrong năm điểm quan trọng nhất được nhấn mạnh là: “Tự do cá nhân” [23,529] Tự lực văn đoàn không đặt vấn đề giải phóng xã hội, nhưng đã đấutranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản ngã, nhất là đấu tranh cho tự dohôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khecủa lễ giáo phong kiến, của đại gia đình phong kiến
Đặc biệt, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã giành nhiều những trang viết
đi sâu miêu tả thế giới nội tâm phong phú với nhiều cảm giác, nhiều cung bậc,trạng thái đa dạng bên trong của tâm hồn con người cá nhân Một loạt nhânvật: Mai, Dũng, lộc, Trương, Hồng, Tuyết, thực tế trong lòng suy nghĩ,nhận thức nhiều khi hoàn toàn khác với những biểu hiện của con người bên
ngoài Loan (Đoạn tuyệt - Nhất Linh), để vui lòng cha mẹ nàng đã chấp nhận
lấy Thân, mặc dù nàng không hề yêu chàng Khi đã là vợ Thân rồi, trong đêmtân hôn, thể xác ở bên Thân nhưng tâm hồn loan lại nghĩ về Dũng “Thân, saukhi đã khóa cửa cẩn thận, tiến đến sau lưng nàng Hai người yên lặng sau mộtphút đồng hồ Bỗng Loan thấy một bàn tay nhè nhẹ để lên vai nàng Nàngvẫn không quay lại, ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ và lúc đó, hình ảnh Dũng
Trang 34lại hiện ra trong trí tưởng của Loan rõ rệt như trông thấy trước mắt” [92, 52].Hồng, Lan cũng vậy.
Các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thấy lòng xao động trướcmột chiều thu ềm đềm dịu nhẹ, một cánh đồng lúa mát mẻ, và ngơ ngẩn buồnkhi tiếng chuông chùa ngân lên lúc chiều muộn Giải phóng cá tính cá nhân,đôi khi là sự tiếp xúc với cuộc sống của các giác quan khiến cho tâm hồn conngười trở nên phong phú hơn, tế nhị hơn, mẫn cảm hơn đối với nội tâm củachính mình cũng như đối với ngoại cảnh “Trong bức tranh màu thần tiên độtngột hiện ra, Duy cảm thấy một cách mãnh liệt cái gì cũng trong sáng, thanhkhiết đến cực độ, không khí không vương một mảnh bụi, ánh nắng trong như
hổ phách, từ ngọn lúa lay động lá cây phấp phới ở gần chô đến rặng tre ở chântrời, mọi vật đều nổi hình rõ rệt như cắt Duy ngây ngất đứng nhìn màu trờitươi sáng trong lòng náo nức ,một sự ham muốn không bờ bến Chàng cảmthấy mình đột nhiên rơi vào một cảnh mộng, chung quanh là những mảnh trờihuyền ảo mà chàng mong ước đã tưởng không bao giờ đến được” [93, 1308]
Còn Trương (Bướm trắng - Nhất linh), “Chàng nhìn trời qua cành long não lá
non và trong, chàng như thấy hồi mình còn bé dại, lâng lâng nhẹ nhàng tưởngmình vẫn còn sống một đời ngây thơ, trong sạch và bao nhiêu tội lỗi của chàngtiêu tan đi đâu mất hết Vòm trời lên cao, lúc đó Trương nhận thấy thân mật,
êm dịu như vòm trời của những ngày xưa, của tuổi thơ đã qua, chàng tưởng vẫn
là vòm trời ở phía sau nhà đã bao lần chàng nhìn thấy mỗi khi ra thăm vườn raucủa mẹ chàng” [92, 399] Các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn lànhững con người được xây dựng theo khuynh hướng lãng mạn tiểu tư sản nênkhông tránh khỏi những tưởng tượng thiếu thực tế đôi khi quá bay bổng, nhưng
dù sao họ cũng đã phản ánh được những rung động sâu xa thế giới bên trongcủa tâm hồn con người, điều này là không thể có được ở văn học giai đoạntrước đó Dưới ngòi bút của các nhà văn Tự lực văn đoàn, con người không còn
Trang 35là một cái gì cứng nhắc, là hiện thân của một tư tưởng - đạo đức như trong vănhọc trước đó nữa mà là những con người cá nhân cụ thể, có thế giới tâm hồnphong phú, có sự thức nhận, ý thức về cuộc sống xung quanh và với chính bảnthân mình Họ cổ vũ cho tự do cá nhân, đấu tranh cho quyền lợi cá nhân vàkhẳng định bản sắc riêng của mình, đồng thời lên án những gì là lạc hậu, bảothủ làm phương hại đến quyền lợi và hạnh phúc của con người cá nhân Sự đấutranh này ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt Tuy nhiên, khi đã đạt được mục
đích tôn chỉ của mình (chủ yếu qua Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Con đường
sáng ), sáng tác của các nhà văn Tự lực văn đoàn nói chung và hình tượng con
người cá nhân trong các tiểu thuyết của họ đã đi vào xu hướng vô luân, đồitrụy, bế tắc Cùng nhận xét này, Nguyễn Hoành Khung trong lời giới thiệu về
bộ Văn xuôi lãng mạn Việt Nam đã có kết luận rất xác đáng về văn chương Tự
lực văn đoàn rằng: “Thời kỳ mặt trận dân chủ sự phân hóa của văn xuôi lãngmạn diễn ra rõ rệt: một mặt họ tiếp tục chủ đề tình yêu, tiếp tục phê phán lễgiáo phong tục gia đình phong kiến nhưng đề cao con người cá nhân thoái hóa
(Đời mưa gió, Trống mái, Đẹp) để rồi cuối cùng sau đó đi vào đồi bại với chủ nghĩa vô luân trắng trợn (Bướm trắng của Nhất Linh, Thanh Đức của Khái
Hưng ) [45, 13]
Như vậy, con người cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn từ chỗ lànhững con người cá nhân thức tỉnh, nhận thức tiến bộ về cuộc sống và vềchính bản thân mình Họ đấu tranh quyết liệt cho tự do và quyền lợi cũng nhưkhát vọng của cá nhân, kịch liệt lên án gia đình phong kiến cổ lổ với những lễgiáo khắt khe, lạc hậu, đã dần đi đến chỗ con người cá nhân cực đoan, bếtắc và trên tinh thần chung chung Hạn chế này một mặt bởi thời đại, mặtkhác, do chính bản thân những người cầm bút Tác giả Tự lực văn đoàn hầuhết là những nhà văn ít nhiều đều ảnh hưởng bởi tư tưởng cải lương tư sản
Họ viết văn trước hết là để cổ vũ cho những tôn chỉ của nhóm đặt ra Vì vậy,
Trang 36hầu hết các tác phẩm nói chung và thể loại tiểu thuyết của họ nói riêng đềumang tính chất luận đề tư tưởng (cổ vũ cho việc cải cách Âu hóa, cho tinhthần vui - khỏe - trẻ trung, mị dân, hướng mọi người vào cuộc sống cải lương
tư sản) Bởi vậy, con người cá nhân ở đây trở nên không thật lắm, không đời,không mang hơi thở của cuộc sống như con người cá nhân trong tiểu thuyếtViệt Nam giai đoạn sau 1975, nhất là ở thời kỳ đầu “Đổi mới”
1.2.4 Con người cá nhân trong tiểu thuyết viết theo khuynh hướng hiện thực
Balzac, một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực, đã nói rằng:
“Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại” Văn học là tấm gươngphản ánh trung thực về đời sống Quan điểm của Balzac cũng có thể xem làquan điểm sáng tác chung của các nhà văn phương Tây hiện thực lúc bấy giờ.Đồng quan điểm này, ở Việt Nam ta, Vũ Trọng Phụng trong bài bút chiến vớinhóm Tự lực văn đoàn đã viết: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết.Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”
(theo báo Tương Lai, số 09, ra ngày 25/03/1937) Có thể nói, đây không chỉ là
phát ngôn của riêng cá nhân Vũ Trọng Phụng mà là phát ngôn mang tính chất
“đại diện” cho quan điểm sáng tác của các nhà văn hiện thực Việt Nam lúcbấy giờ Họ đi sâu khai thác hiện thực cuộc sống với tất cả tính chất bề bộn,phức tạp của nó trong sự đối kháng giai cấp gay gắt Họ nhìn nhận, đánh giá
xã hội thông qua số phận của từng con người cá nhân cụ thể Họ để các nhânvật của mình qua những trãi nghiệm cuộc đời như đói khát, nghèo nàn, bệnhtật, bị chà đạp và tha hóa về phẩm cách, bị dồn đến “bước đường cùng” đồng thời qua đó cho người đọc thấy được ý thức về sự bất lực, bi kịch của
con người cá nhân trước hiện thực cuộc sống chị Dậu (Tắt đèn); Tám Bính (Bỉ vỏ); Tú Anh, Mịch, Long (Giông tố); Phú (Vỡ đê); Phúc (Trúng số độc
đắc); Xuân (Số đỏ); Huyền (Làm đĩ); Thứ, San, Oanh, Đích (Sống mòn),
Trang 37đều là những hình tượng con người cá nhân cụ thể và chịu những bi kịch khácnhau của cuộc đời Bởi vì, phần đông trong số họ là những người có học thức,nhân cách, phẩm chất, và đặc biệt là có sự thức nhận, ý thức sâu sắc về cuộcsống cũng như ý thức về chính mình Ai đó đã từng nói “bi kich càng trở nênđau đớn hơn khi con người ý thức được nó mà không làm cách gì ngăn cấm
nó được” Các nhà văn hiện thực đã giành những trang viết cảm động nói về
sự đau đớn, dằn vặt của con người cá nhân với những bất lực của mình trước
hoàn cảnh Đọc tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, chúng ta không thể
không xúc động trước hoàn cảnh đáng thương của gia đình chị Dậu Chồng
ốm, con thơ, nhà cửa nghèo xác nghèo xơ đến nỗi từ xa nhìn lại trông mái nhàcủa chị Dậu như cái chuồng lợn rách, xiêu xó, vẹo vọ, ọp ẹp như chó đẻ ốm
Cả gánh nặng gia đình đặt lên đôi vai chị Dậu Nỗi vất vả khổ cực chưa dừnglại ở đó, chị Dậu còn phải đối diện với thực cảnh trống thúc thuế dồn, sưu caothuế nặng của “nhà nước”, của bọn người nhà Lí trưởng và Chánh tổng bắt bớv.v Khi bị áp bức đè nén quá, chị Dậu đã đứng dậy phản kháng, đó là hànhđộng chị xắn tay áo lên, lao vào đánh vật nhau với hai tên lính lệ kèm theocâu nói đầy thách thức, ngang bướng, thẳng thắn rằng: “Mày đánh chồng bà
đi, bà cho mày xem!” Hành động này của chị Dậu nhiều người đã lí giải rằng
đó là quy luật: “tức nước vỡ bờ”, có áp bức thì có đấu tranh Thực ra, khôngphải hễ cứ bị áp bức là các nhân vật lại đứng lên phản kháng giống nhau Vìvậy, hành động này của chị Dậu chỉ có thể là hành động phản kháng của một
cá tính cá nhân Ta biết rằng chị Dậu rất hiền lành, lễ phép, đôn hậu, nhu mì,nhưng bên trong con người phụ nữ này tiềm chứa một chất bướng bỉnh Chínhcái chất bướng bỉnh này đã làm nên cá tính của chị, làm nên bản sắc riêng ởnhân vật tiểu thuyết Ngô Tất Tố Trong việc quan tâm, thể hiện số phận ngườinông dân trước cách mạng phản kháng, nhà văn Ngô Tất Tố đã thông quahình tượng con người cá nhân là chị Dậu đã thể hiện một cách xuất sắc quan
Trang 38điểm tư tưởng nghệ thuật của mình Trước bọn hào lí hống hách, chị biết mềmdẻo một điều bẩm hai điều thưa Cả làng Đông Xá không ai dám lên tiếng thìmột mình chị dám cãi lí với bọn thống trị Bằng lối tư duy sắc sảo, chị thắcmắc rằng: “Chú Hợi con chết từ đầu năm sao lại phải nạp thuế?”, hoặc, “Hầuquan sao lại hầu vào ban đêm?” v.v Nhưng khi bị ức hiếp một cách quáđáng, chị sẵn sàng đánh lại người nhà lí trưởng để bảo vệ chồng mình Trướcviệc trống thúc thuế dồn, anh Dậu ốm yếu sắp bị bọn lính xộc vào gô cổ lôi
đi, chị đã xắn tay áo lên, lao vào đánh lại người nhà lí trưởng với những lờithách thức chắc nịch: “Mày đánh chồng bà đi, bà cho mày xem!” Thật là mộtngười phụ nữ mạnh mẽ
Không những thể hiện con người cá nhân bằng những hành động phảnkháng quyết liệt, mang tính chất “vũ trang” như vậy, mà trong tác phẩm củamình, ít nhiều Ngô Tất Tố đã chú ý ngòi bút của mình vào việc diễn tả những
diễn biến tâm lí của nhân vật Trong Tắt đèn, người ta đã thống kê được 25
lần chị Dậu khóc và rơi nước mắt xung quanh việc bán cái Tý Chẳng hạn, chỉmới nghe anh Dậu bàn tới việc bán con, nước mắt chị đã “chảy qua gò máròng ròng” Chị chỉ dám “se sẽ gạt thầm nước mắt” Nước mắt chị khi “rơmrớm”, khi “sụt sùi” v.v Những con số thống kê này đã nói lên nỗi đau đớnbên trong mà chị Dậu phải trải qua Nỗi đau này của chị Dậu cũng là nỗi đauchung của nhiều người dân Việt Nam trước nạn sưu cao thuế nặng phải “bán
vợ đợ con” trước Cách mạng tháng Tám 1945 Trong việc này, nhà văn NgôTất Tố một mặt vừa bộc lộ tấm lòng cảm thông sâu sắc của mình đối vớinhững bất hạnh của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám,đồng thời cũng là một cách mà bước đầu nhà văn thể hiện quan niệm về conngười cá nhân của mình Đó là tâm lí giằng xé đau đớn bên trong của nhânvật Đây cũng là một minh chứng trong việc quan tâm, thể hiện con người cánhân ở nhà văn này
Trang 39Cũng như chị Dậu, nhân vật Tám Bính (Bỉ vỏ - Nguyên Hồng) phải trải
qua những cuộc giằng xé nội tâm đầy đau đớn trước sự bất hạnh của cuộc đờimình Đó là nỗi đau của một con người cá nhân thức tỉnh Từ một cô gái quêxinh đẹp chỉ vì một chút lỡ lầm nàng đã bị gia đình, xóm làng ruồng bỏ Từđây, nàng sa chân vào nghề làm đĩ, rồi ăn cắp - những nghề mạt hạng nhất, bị
xã hội khinh bỉ nhất Tám Bính phải sống trong lo âu, sợ hãi Bất hạnh lớnnhất của cô là hai lần sinh đẻ nhưng chưa bao giờ được quyền làm mẹ TámBính muốn có một đứa con để mà âu yếm, nhưng ước mơ đó không bao gờiđược thực hiện Không những thế, cô chỉ muốn sống “một cuộc đời trongsạch, êm đềm, dù nghèo” cũng không được Tay đã nhúng chàm làm sao rửasạch Ý thức được điều này, Tám Bính luôn cảm thấy đau khổ, day dứt Đãbao nhiêu lần nàng muốn trở lại làm người lương thiện, muốn khuyên NămSài Gòn hoàn lương, nhưng ý định đó nằm ngoài khả năng của cô Xã hội cũkhông cho phép Bính được làm người bình thường mà cứ đẩy Bính lâm vàovũng bùn nhơ nhớp Cứ mỗi lần nàng thấy “ngùn ngụt sự thèm thuồng khaokhát cuộc đời trong sạch, êm đềm” là một lần cô phải nhớ lại một cái gì đãmất, một cái gì đó xót xa, đau khổ Càng ý thức được sự bất hạnh của mình,Tám Bính càng thấy đau đớn Nó vò xé tâm can nàng Từ đây, Tám Bính phải
“sống một cuộc đời khốn nạn dài vô tận Thế là hết!”
Qua tiểu thuyết Bỉ vỏ, nhà văn Nguyên Hồng đã thể hiện những diễn
biến tâm lí của con người cá nhân khá tài tình, tuy rằng đây chưa phải lànhững trang nhân vật độc thoại nội tâm xuất sắc, nhưng tác giả cũng đã đểcho nhân vật ý thức được sự bất hạnh của bản thân
Cũng như Tám Bính, Thị Mịch (Giông tố) đang sống yên ổn ở một làng
quê còn “chưa ai trông thấy một lọ nước hoa, chưa ai nghe thấy một cái máyhát” thì bỗng nhiên bao nhiêu tai họa liên tiếp đổ lên đầu Mịch – người congái có ước vọng rất đẹp và giản dị: “Ăn ở cho hiếu thuận, làm ăn cho chăm
Trang 40chỉ, thấy ai túng thiếu thì không dè dặt cởi ngay hầu bao đưa cái đồng đã đểdành trong mười ngày qua ra cho” - đã bị quẳng vào cơn lốc xoáy của cuộcđời đen bạc Trong tâm trạng cô đơn khi nằm ở nhà thương, xung quanh toànngười xa lạ, Thị Mịch vừa đau đớn vừa tủi hổ vì sự trong trắng và trinh tiếtcủa mình không còn nữa; vừa oán hận trách móc người nhà, vừa căm tức cuộcđời “ác độc vô cùng” Nỗi đau đớn khiến “Mịch tủi thân giận đời, chỉ muốnchết” Càng suy nghĩ lòng Mịch càng dâng lên sự phẫn uất, có pha chút lì lợmcủa kẻ “mà lòng tự ái đã bị thương, nó không cần biết thế nào là điều hay lẽphải nữa” Trong tâm trạng ấy, Mịch đã bỏ hẳn ý định tự tử Nàng đối đáp lạivới ông đồ Uẩn bằng những câu nói can đảm, quyết liệt khiến “ông đồ rấtngạc nhiên” vì “Mịch không khi nào nói được như thế” Bị Nghị Hách bỏ rơitrong căn phòng lạnh lẽo sau ngày cưới, nàng càng thấm thía sâu nỗi đau củathân phận mình Sự đầy đủ về vật chất không thể khỏa lấp sự xót xa của thânphận lẽ mọn nhà giàu Trong việc thể hiện con người cá nhân, tác giả đã đểcho nhân vật của mình trải qua những diễn biến tâm lí bên trong đầy mâuthuẫn Nàng “vừa nhớ nhưng yêu thương, hờn giận” thậm chí căm thù Long,vừa có những suy nghĩ dằn vặt khi thấy mình làm điều gì đó không phải “dùchỉ trong ý nghĩ thấp hèn”; có những phút giây sa đọa về đạo đức dù chỉ trongtưởng tượng, và “sau những phút giây ghê tởm kinh hoàng ấy Mịch khôngphải là không hối hận”
Cũng như Mịch, số phận của nhân vật Long có nhiều điểm tương đồng.Trong mối quan hệ với xã hội, với gia đình, ở nhân vật này đều chứa nhiềumâu thuẩn: căm giận Nghị Hách, kẻ cưỡng đoạt vợ chưa cưới của mình,nhưng lại phải làm tôi tớ cho hắn; yêu thương Mịch nhưng rồi lại hiểu lầmnên đối xử tệ với thị Cuộc ân ái vụng trộm với Mịch, Long dằn vặt lương tâm
vì biết mình đã làm điều trái đạo Chàng đã đau đớn mà nói với Mịch rằng:
“Xếp tôi vào hàng những người thất phu bỏ học, những kẻ mất nhân cách,