1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người bản năng trong báu vật của đời của mạc ngôn luận văn thạc sỹ ngữ văn

124 3,2K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con Người Bản Năng Trong Báu Vật Của Đời Của Mạc Ngôn
Tác giả Mạc Ngôn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 652,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là nhà văn từng nếm trải nhiều niềm vui, cay đắng trong cuộc đời, Mạc Ngôn ý thức được một cách sâu sắc sự trói buộc của những lý thuyết giáo điều, những quan niệm chật hẹp về con người

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ HƯƠNG THỦY

CON NGƯỜI BẢN NĂNG

TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Mạc Ngôn là một hiện tượng của văn học Trung Quốc đương

đại Ông được xem là nhà văn có bút lực mạnh nhất Trung Quốc hiện nay Mạc Ngôn sáng tác trên nhiều thể loại Đến nay ông đã xuất bản hơn 200 tác phẩm, trong đó tiểu thuyết là thể loại gây tiếng vang lớn nhất Cùng với

Cao lương đỏ, Báu vật của đời đã góp phần làm nên vị trí của Mạc Ngôn

trong văn học Trung Quốc những thập niên gần đây Tìm hiểu tiểu thuyết

Báu vật của đời không chỉ để hiểu tài năng Mạc Ngôn mà còn gợi mở nhiều

vấn đề lý luận trong quá trình đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết đương đại Trung Quốc nói riêng, thế giới nói chung

1.2 Là nhà văn từng nếm trải nhiều niềm vui, cay đắng trong cuộc đời,

Mạc Ngôn ý thức được một cách sâu sắc sự trói buộc của những lý thuyết giáo điều, những quan niệm chật hẹp về con người Bằng sức mạnh nghệ thuật ông luôn tìm cách thức tỉnh xã hội, trước hết là trong nhận thức, về sự cần thiết khẳng định sự tồn tại của những nhu cầu bản năng trong mỗi con người Vấn đề bản năng trở thành một trong những vấn đề trung tâm trong tiểu thuyết

Mạc Ngôn, trong đó Báu vật của đời được xem là tiêu biểu Nghiên cứu con người bản năng trong Báu vật của đời, vì vậy, là hướng đi có ý nghĩa để khám

phá những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người và những tìm tòi, thể nghiệm trong nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn

1.3 Với một tác phẩm đặc sắc như Báu vật của đời có nhiều con

đường tiếp cận, trong đó từ Mỹ học hiện sinh là hướng tiếp cận có ý nghĩa trên nhiều phương diện Ý nghĩa của vấn đề không chỉ dừng lại ở chỗ để hiểu về một tác phẩm mà còn mở ra nhiều vấn đề lý luận về quá trình đổi mới của tiểu thuyết đương đại

Ngay sau khi Báu vật của đời được trao giải thưởng của Hội nhà

văn Trung Quốc, Mạc Ngôn và tác phẩm của ông thu hút sự quan tâm của

Trang 3

giới nghiên cứu phê bình trong và ngoài nước Xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có những cách nhìn nhận riêng, thậm chí

đối lập nhau, về nội dung và nghệ thuật của Báu vật của đời Về cơ bản có

hai loại quan điểm

Thứ nhất, đứng trên lập trường chính trị, xã hội, nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã phê phán mạnh mẽ Báu vật của đời ngay khi tác

phẩm được xuất bản tại Trung Quốc (Tác gia xuất bản xã, 09/1995) Theo

họ, tác phẩm đã vi phạm vào “vùng cấm” của văn học (Mạc Ngôn và những lời tự bạch, 2004) Người ta đã nói nhiều đến động cơ sáng tác, nguồn gốc ảnh hưởng trong tác phẩm của Mạc Ngôn Thứ hai, từ góc nhìn nghệ thuật,

nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng những lý thuyết về tiểu thuyết của M Bakhtin, lý thuyết tự sự học của Genette, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin để phân tích, lý giải tiểu thuyết Mạc Ngôn Từ góc nhìn này, họ khẳng định “sự trở về và vượt lên” dân gian, dân tộc, vươn tới “đẳng cấp

thế giới” của tiểu thuyết Mạc Ngôn, trong đó Báu vật của đời là một điểm

sáng Trong các bài viết của mình, họ đã chỉ ra những sáng tạo trong việc tạo ra thủ pháp “lạ hoá” độc đáo, sáng tạo những huyền thoại mới bên cạnh những huyền thoại cổ xưa (Trương Thành, Chu Ân, Ta- chi- gang) Có người lại tìm sự ảnh hưởng của văn học phương Tây và Mỹ Latin đối với

Mạc Ngôn thông qua tiểu thuyết Báu vật của đời (Wolfgan Kunbim, Các

Hồng Binh, Tống Hồng Lĩnh)

Ở Việt Nam, Mạc Ngôn được biết đến nhiều khi Báu vật của đời

được dịch giả Trần Đình Hiến dịch và xuất bản tháng 2 năm 2001 Cho đến

nay, nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn đã được dịch ra tiếng Việt như: Đàn hương hình, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận, Cao lương đỏ Trên báo chí,

đặc biệt là các tờ báo điện tử xuất hiện nhiều bài phỏng vấn và bài viết liên quan tới nội dung của tác phẩm Trên báo Văn nghệ số 5 tháng 12 năm

2003 có đăng bài viết Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam của Hồ

Sĩ Hiệp Bài viết tổng kết những bước đường sáng tạo tiểu thuyết của Mạc Ngôn từ những tiểu thuyết đầu tiên Bên cạnh đó, một số bài nghiên cứu của các học giả nước ngoài cũng được dịch rộng rãi ở Việt Nam tiêu biểu

phải kể đến bài đăng trên Trung Hoa độc thư báo tháng 1 năm 2004 có tựa

đề là Chín nhà văn ấn tượng nhất năm 2000 do Trần Sơn dịch Giáo sư Lê Huy Tiêu trong bài Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của Mạc Ngôn in trong

Trang 4

cuốn Cảm nhận mới về văn hoá văn học Trung Quốc đã khái quát những

đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn từ hình ảnh, cảm giác, giọng điệu, nghệ thuật tự sự, ngôn ngữ, bản sắc dân gian Hoàng Thị Bích

Hồng với bài nghiên cứu trên Tạp chí Sông Hương Nghệ thuật trần thuật

và thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Gần đây Nguyễn Thị Tịnh Thy đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn Trên cơ sở khảo sát, thống kê một cách hệ thống

tiểu thuyết Mạc Ngôn, luận án đã đi vào ba phương diện cơ bản trong tổ chức tự sự của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết: người kể chuyện và điểm nhìn

tự sự; nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự; nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự Từ đó, tác giả luận án đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu thuyết cũng như vị trí tiên phong của Mạc Ngôn trong dòng tiểu thuyết đương đại Trung Quốc, đồng thời xác định phong cách “tự sự kiểu Mạc Ngôn” Theo tác giả, đó là phong cách

“có sự kết hợp giữa đặc trưng tự sự cực hạn và đặc trưng tự sự hậu hiện đại của văn học Trung Quốc”

2.3 Những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết Báu vật của đời

Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc, tiểu thuyết Báu vật của đời đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình và đông

đảo công chúng bởi một lối viết mới lạ, và đặc biệt là ở một cái nhìn mới

về con người của Mạc Ngôn Đã có những ý kiến khác nhau về cuốn tiểu thuyết “gây sốc” này Lý Mẫn, một độc giả ở Bắc Kinh - một nhà phê bình nghiệp dư luôn xuất hiện trên các diễn đàn văn học, đã không ngần ngại khẳng định rằng, con người Mạc Ngôn thực ra là một người phá cách bẩm sinh thích tự sự Ông chỉ thích kể chuyện mà thôi, còn khí chất của người thuyết sách và thể chương hồi của thể loại sách bình Trung Quốc chẳng qua chỉ vì phù hợp nên ông đã áp dụng một chút niềm hạnh phúc của Mạc Ngôn là ở chỗ, ông có thể thổ lộ dục vọng của mình chuyển vào thành câu chữ, thế là ông đã trở thành nhà văn, viết sách kiếm tiền Nhuệ Văn – người quản trị mục “Mạc Ngôn” của Diễn đàn cnread.net lại cho rằng: “Tôi vẫn không thể thay đổi quan điểm của mình rằng Mạc Ngôn chỉ có thể viết hay nửa thiên truyện mà thôi, quan điểm này tôi rút ra được từ sau khi đọc tác

phẩm Báu vật của đời Là thành kiến cá nhân nhưng cũng phải có luận cứ

để bảo vệ cho nó Người ta vẫn cho rằng Mạc Ngôn giỏi viết truyện vừa và

Trang 5

nhỡ, ví dụ như: Hoan lạc, Củ cải đỏ trong suốt, Gia tộc Cao lương đỏ vẫn

đảm bảo được tính hoàn thiện Nhưng theo tôi, Mạc Ngôn không giỏi viết

về các đề tài thành thị, loại đề tài này rơi vào tay ông dễ bị khái niệm hóa

Nửa sau Báu vật của đời chính là như thế Thêm vào đó, ngôn ngữ điên

cuồng của Mạc Ngôn vẫn có tính nhấp nhô nhất định, một số chương đọc rồi, đọc lại thấy không có gì nặng nề Lại có lúc Mạc Ngôn quá mê mải miêu tả tình tiết, cứ viết mãi viết mãi như thò dài cái chân ra mà bỏ qua mất

cả phần thân quan trọng của nó” [2] Ngược lại, Vương Trọng Tường - Nhà văn tỉnh Hồ Bắc, viết một số bài để ca ngợi Mạc Ngôn, trong đó có đoạn viết: “Đọc sách của Mạc Ngôn với tôi đúng là một việc rất thú vị, những cảm nhận khi đọc tác phẩm của Mạc Ngôn cũng có thể tìm thấy trong các

tác phẩm của Giả Bình Ao” [2] Mạc Ngôn cũng viết cuốn Tự bạch để giãi

bày thêm về việc viết văn của mình Tác phẩm tập hợp những bài viết, những diễn thuyết, những trả lời phỏng vấn của Mạc Ngôn ở trong và ngoài nước Ở đó, ông đã nói tới động cơ sáng tác, nguồn gốc ảnh hưởng, quan điểm lập trường và phong cách cá nhân

Ở Việt Nam, nhà văn Mạc Ngôn được độc giả Việt Nam biết nhiều khi

Báu vật của đời được dịch giả Trần Đình Hiến dịch và xuất bản tháng 2

năm 2001 Ngay sau khi tác phẩm được xuất bản, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và bạn đọc đã có những ý kiến khác nhau về tác phẩm Nhà văn

Nguyễn Khắc Phê trong bài viết Tài “phù phép” của Mạc Ngôn, Báo Tiền

Phong online, đã đào sâu vào thủ pháp lạ hoá của Mạc Ngôn bằng cái nhìn tổng quát toàn bộ những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt, trong đó

Báu vật của đời là một điểm nhấn Ông viết: “Nói theo chữ của các nhà lý

luận thì cách “phù phép” của Mạc Ngôn chính là thi pháp, là phép “lạ hóa”,

“huyền thoại hóa” hiện thực của ông (Như trong Báu vật của đời, là việc

ông tả cảnh… sờ vú ở “Chợ Tuyết”, là chuyện bộ râu Tư Mã Khố cứng như thép làm mẻ hết dao thợ cắt tóc…) Nói cách khác, ông đã tạo ra một “thế giới nghệ thuật” nhãn hiệu Mạc Ngôn khiến hiện thực ông miêu tả không chỉ có sức hấp dẫn mà gợi mở những ý tưởng sâu xa hơn” [54] Cũng cách

nhìn ấy, Phạm Xuân Nguyên trong bài Sự sinh, sự chết, sự sống đăng trên trang tanviet.net ngày 04/08/2005, viết: “Tác phẩm trên của Mạc Ngôn, xét

về nghệ thuật viết tiểu thuyết, không hẳn là xuất sắc Trong chừng mực nào

đó, nó vẫn thuộc truyền thống của lối kể chuyện mang tính cổ truyền của

Trang 6

Trung Quốc Người đọc có cảm tưởng, ở phần cuối, tác giả có vẻ lan man, khi tản mạn về vùng đất Cao Mật bước vào thời kỳ mở cửa Có vẻ như tác giả hơi tham nữa Nhưng tôi thích ở đây, là cái nhìn nghệ thuật - lịch sử tỉnh táo và sắc sảo của nhà văn Ông không nương nhẹ, không xuê xoa quá khứ Mạch văn của ông cũng gây ấn tượng đối với tôi ở chỗ, nó cho thấy được dòng chảy của cuộc đời như vốn dĩ thể, không đứt đoạn, không tách bạch, dù các sự kiện rất khác nhau xoay vần cuộc đời nhân vật theo các nẻo

số phận khác nhau Tính liên tục lịch sử – đây là điều theo tôi, ở dạng truyện như thế này, các nhà văn ta thường bị gãy Ví như ở hai thời điểm hai đội quân của Tư Mã Khố và của Lỗ Lập Nhân thế nhau về lại Cao Mật, nhà văn ta trong trường hợp này dễ phết lên bức tranh hiện thực hai màu tương phản theo chủ quan, còn Mạc Ngôn vững tay để chỉ có một màu phủ lên cuộc đời của mẹ con Lỗ Thị, như khách quan nó phải như thế” [47] Có

người lại dựa vào Báu vật của đời để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn

trong việc đưa hơi thở hiện đại vào đề tài lịch sử như Vương Trí Nhàn:

ngay cả khi khai thác đề tài lịch sử, các tiểu thuyết Đàn hương hình, Báu vật của đời (Mạc Ngôn) cũng thấm đẫm hơi thở hiện đại Thiên Long bát

bộ, Anh hùng xạ điêu, Ỷ thiên đồ long ký, Lộc đỉnh ký (Kim Dung) cũng

không đơn thuần chỉ là giải trí Ông nói: “Các tiểu thuyết kiếm hiệp này chứa đựng rất nhiều tư tưởng hiện đại về tự do, công bằng, bác ái Vấn đề ở đây là những văn sĩ hạng hai cũng biết cách nâng tầm giá trị của thứ văn học loại ba, khiến chúng trở thành tiếng nói chung của nhân loại” Bởi thế, Kim Dung, Quỳnh Dao hợp với độc giả thị dân Còn Mạc Ngôn, Giả

Bình Ao, Cao Hành Kiện dễ đi vào tầng lớp trí thức” [24] Trên

laodong.com đã đăng dẫn một vài cảm nhận của 3 nhà văn và nghiên cứu

phê bình về tác phẩm Báu vật của đời: Nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn

đưa ra cảm nhận: “Sáng tác của Mạc Ngôn có một điểm chung với những

bộ phim của Trương Nghệ Mưu là những tác phẩm 100% Trung Hoa và 100% hiện đại, bởi sự hoà hợp mà nó đã tạo ra giữa nhân vật tiểu thuyết truyền thống với bút pháp tiểu thuyết hiện đại Có thể nói đây là bộ Sông Đông êm đềm của Trung Hoa” Còn nhà văn Võ Thị Hảo cũng đánh giá :

“Vượt hẳn lên trên bầu trời văn học Trung Quốc, cuốn tiểu thuyết này mang đến một phong vị đặc biệt, được tạo nên bởi một trí tưởng tượng lúc được phóng tay thả lồng lên như ngựa hoang, lúc chậm rãi la đà như kẻ

Trang 7

mộng du Một thi pháp hiện đại, vượt khỏi những lối mòn, và ngay cả trong việc bày tỏ những nỗi đau do cuộc “cách mạng văn hoá” đem lại, Mạc Ngôn cũng đã vượt xa nhiều nhà văn xuất sắc viết trước ông Những nhà văn viết được những lời như vậy, có nỗi đau và khát vọng lớn như vậy, sẽ được người đọc tôn thờ” Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn: “Trong khi hoặc chủ động hoặc bị động tham gia vào các biến động xã hội, mỗi nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này đều hiện ra với nhu cầu muôn thuở mà đời sống đã đặt vào họ Những mối quan hệ sinh lý - cái ham muốn thường trực ấy, dưới ngòi bút miêu tả của tác giả được coi là nguồn động lực chi phối mọi hoạt động và làm nên vẻ cao đẹp của họ” [35] Ngoài ra, trong những năm gần đây đã có một số khoá luận, luận văn thạc sĩ chọn tiểu thuyết Mạc Ngôn làm đối tượng nghiên cứu Trong khoá luận tốt nghiệp

đại học, Lê Vũ Phương Thuỷ đã bàn về Huyền thoại hoá trong tiểu thuyết Báu vật của đời Khoá luận bước đầu đã tiếp cận tác phẩm thông qua những

biểu tượng mang tính huyền thoại và xem đó là những biến thể mang tính

phúng dụ trong tư duy cổ đại Nguyễn Thị Khánh Linh với luận văn Yếu tố

kì ảo trong Báu vật của đời bước đầu đã khảo sát, phân tích lý giải yếu tố kì

ảo trong tổ chức nhân vật và hệ thống sự kiện trong tác phẩm

Một trong những vấn đề được nhiều người đề cập đến trong Báu vật của đời là vấn đề con người bản năng, một vấn đề từng được xem là nhạy

cảm trong đời sống văn học nhiều thập niên trước đó Hầu hết các ý kiến

đều cho rằng, Báu vật của đời của Mạc Ngôn là một tác phẩm tốt có giá trị

và nội dung nghệ thuật, khái quát chân thực và sinh động một giai đoạn lịch

sử xã hội khá dài của Trung Quốc từ hiện đại đến đương đại thông qua các thế hệ trong gia đình của Thượng Quan Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng

Báu vật của đời mang tính “khiêu dâm”, mà trước hết là ở tiêu đề của tác phẩm Nguyên tiêu đề của tác phẩm là Phong nhũ phì đồn, dịch ra tiếng Việt là Mông to vú nẩy Tiêu đề tác phẩm quá “lộ liễu”, gây cho độc giả

hiểu lầm đây là tác phẩm “nhạy cảm”, miêu tả tính dục, khoái cảm xác thịt Tuy nhiên, trên thực tế, những yếu tố gọi là “khiêu dâm” trong tác phẩm chỉ là một vài trang (trên gần 860 trang sách) tả sự thèm khát và dâm hoang

quá mức của mụ Kim Trong bài Đọc một số tác phẩm văn học đương đại Trung Quốc dịch ra Tiếng Việt, trên báo Văn nghệ số 51, ngày 19/12/2004,

tác giả Hồ Sĩ Hiệp viết: “Mặc dù có những đoạn miêu tả sắc dục nhưng với

Trang 8

hơn 80 vạn chữ Báu vật của đời của Mạc Ngôn - như tác giả thừa nhận là

“viên đá nặng nhất trong lâu đài văn học” của bản thân Tác phẩm đã “thể hiện đầy đủ cách nhìn của tác giả "đối với các vấn đề xưa như lịch sử, quê hương, cuộc sống” Dịch giả Trần Đình Hiến, người tự xem là “đồng

điệu”và bị Mạc Ngôn hớp hồn khi bàn về tác phẩm, cho rằng, “dịch Báu vật của đời, tôi rất hứng thú bởi thấy Mạc Ngôn đã nói hộ những gì mình

không thể viết Ông ấy nói quá đúng những gì mình trăn trở, mình suy nghĩ Tôi đồng điệu với Mạc Ngôn từ đấy, thấy mình “dịch được” Mạc Ngôn từ đấy” “Tôi đồng tình với quan điểm của nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc Lưu Thái Cục, rằng “tác phẩm của Mạc Ngôn thấm đẫm mùi máu và cuộc sống trần trụi ở đại lục Ông không phải là nhà văn - công nhân, càng không phải tài tử nho nhã hay học giả uyên bác Thế nhưng hơn ai hết, Mạc Ngôn ý thức được lịch sử Trung Hoa với tầng lớp giáo điều ức chế Vì vậy, chỉ có sự thức tỉnh của tính dục, sự bùng nổ của bản năng gốc và sự bùng cháy trở lại của tửu thần vốn chứa đầy sức mạnh

tự nhiên phương Đông mới giải thoát khỏi những giáo điều ấy” [25] Bàn

về bút pháp của Mạc Ngôn trong Báu vật của đời ông viết: “Còn về bút

pháp, theo tôi, tiểu thuyết Mạc Ngôn là một dạng lạ Cái lạ thứ nhất ở chỗ nhà văn chép lại toàn bộ cuộc sống của vùng Cao Mật với những chi tiết vừa cụ thể vừa khái quát Thứ hai, nhà văn khai thác tối đa các chất liệu dân gian truyền thống Ở góc độ này, Mạc Ngôn bị ảnh hưởng bởi lối sáng tác dân gian Trung Hoa chứ không phải là Marquez hay Faulkner” [25]

Nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong bài viết Sự hấp dẫn bắt nguồn từ bản năng gốc (nhân đọc Báu vật của đời) cho rằng: “Những mối quan hệ sinh lý

là một phần không thể thiếu của đời sống; trong khi làm mọi việc lớn lao người ta không ai có thể quên nổi cái bản năng gốc, hơn thế nữa, theo cách miêu tả của tác giả thì chính cái ham muốn thường trực ấy là nguồn động lực chi phối họ hoạt động và làm nên vẻ cao đẹp của họ Không phải ngụy biện mà thực ra một nhân vật trong truyện đã nói một cách chính xác rằng làm tình là một hành vi cực kỳ nghiêm chỉnh Bởi vậy, mặc dù những cuộc

ăn nằm chung chạ và hình ảnh những bộ phận nhạy cảm trong cơ thể phụ

nữ được miêu tả dày đặc trong hơn 800 trang sách, song chúng không gợi cảm giác bẩn thỉu hay kinh tởm mà lại có thể làm nảy sinh trong lòng người đọc ý nghĩ về sự huyền diệu của đời sống Lại nhớ những lời ca ngợi của

Trang 9

W Durant trong cuốn Lịch sử văn minh Trung Quốc do Nguyễn Hiến Lê dịch, theo đó, dân tộc Trung Hoa vốn mạnh mẽ về thể chất và tinh thần tới mức có thể nói “không có dân tộc nào lực lưỡng hơn và thông minh hơn”

họ “chống được bệnh tật mạnh hơn, lấy lại sức lực mau hơn sau một tai hoạ

hoặc những đau khổ” , “chết rồi lại hồi sinh “ Báu vật của đời cũng như nhiều cuốn tiểu thuyết khác như Phế đô góp phần khẳng định thêm những

điều mà mà Durant đã nhận xét Chắc chắn một dân tộc như thế sau những tai hoạ lớn thì sức bật dậy cũng không sao dự tính nổi” [46]

Điểm lại một số ý kiến trên đây, có thể thấy, cho đến nay tiểu thuyết

Mạc Ngôn nói chung, Báu vật của đời nói riêng đã không còn xa lạ với bạn

đọc Việt Nam, song thành tựu nghiên cứu về nó chưa có nhiều Hầu hết các

ý kiến mới chỉ dừng lại ở những cảm nhận bước đầu Vấn đề con người bản năng đã được nhận diện, song chưa có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu, khảo sát một cách hệ thống

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm

hiểu sự nhận thức và thể hiện con người bản năng của Mạc Ngôn trong tiểu

thuyết Báu vật của đời.

3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, xác định được vị trí của tiểu thuyết Báu vật của đời trên

hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn

Thứ hai, chỉ ra được những biểu hiện của con người bản năng trong tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn.

Thứ ba, chỉ ra được nghệ thuật thể hiện con người bản năng trong

Báu vật của đời.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề bản năng của con

người trong tiểu thuyết Báu vật của đời.

4.2 Là một phương diện của bản ngã con người vấn đề bản năng con

người được nhìn nhận trên nhiều phương diện Ở đây chúng tôi giới hạn khảo sát hai vấn đề:

Thứ nhất, vấn đề bản năng gắn liền với hành trình tìm kiếm bản ngã

con người trong đời sống hiện đại

Trang 10

Thứ hai, sự nhận thức, thể hiện con người bản năng của Mạc Ngôn trong Báu vật của đời.

4.3 Về tư liệu khảo sát, chúng tôi chọn bản dịch tiểu thuyết Báu vật của đời do dịch giả Trần Đình Hiến dịch, Nhà xuất bản Văn học, xuất bản

năm 2005

Ngoài ra chúng tôi khảo sát thêm một số tác phẩm khác của Mạc Ngôn đã được dịch ra Tiếng Việt để có cái nhìn đầy đủ hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi chọn lựa một

số phương pháp như thống kê, phân loại; phân tích, tổng hợp; so sánh, đối chiếu; cấu trúc, hệ thống

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Báu vật của đời trên hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn

Chương 2: Con người bản năng trong Báu vật của đời và hành trình tìm

kiếm bản ngã con người trong thời hiện đại

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người bản năng của Mạc Ngôn trong Báu vật của đời

Và cuối cùng là thư mục tài liệu tham khảo

Trang 11

Chương 1

BÁU VẬT CỦA ĐỜI

TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MẠC NGÔN

1.1 Hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn

1.1.1 Con đường đến với văn học của Mạc Ngôn

Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, người vùng Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông sinh ngày 17 tháng 02 năm 1955 trong một gia đình nông dân Do tác động của “Cách mạng Văn hóa”, đang học dở tiểu học Mạc Ngôn phải nghỉ học, đi lao động nhiều năm ở nông thôn Trong thời gian đó ông đã làm công nhân hợp đồng ở nhà máy chế biến bông, sống gần gũi với người nông dân Tháng 02 năm 1976, ông nhập ngũ, làm giáo viên trong quân đội, sau đó chuyển sang sáng tác Năm 1984, Mạc Ngôn trúng tuyển vào khoa văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986 Năm 1988, ông trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh, năm 1991 ông tốt nghiệp với học vị thạc sĩ Hiện nay, ông là sáng tác viên bậc một của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Mạc Ngôn từ nhỏ đã thể hiện tư chất thông minh, lém lĩnh, hiếu động

Là Hán tử Sơn Đông, Mạc Ngôn thay lời nói bằng trang viết Mạc Ngôn có một tuổi thơ nghèo khó Ông kể về tuổi thơ của mình: “Hồi nhỏ tôi đi chăn trâu, lúc nào bụng cũng đói, đi mệt bèn nằm dài ra đất ngơ ngẩn nhìn mây trắng trên trời, bởi vì tôi cảm thấy đám mây trắng kia dường như sẽ lập tức biến thành cái bánh bao rơi vào mồm tôi Giờ nhìn thấy đường chân trời, tôi lại nhớ tới thời niên thiếu nghèo khó của mình Trước kia, lâu lắm rồi, đây là vùng đất hoang, địa thế thấp, trũng, người dân thích đem trâu, bò, dê… tới đây thả Hồi đó tôi chỉ mới 6 tuổi, ấn tượng lớn nhất về nỗi sợ hãi của tôi chính là nước, bức tường sau nhà tôi có một cánh cửa sổ bằng gỗ, mỗi lần mở ra là gặp ngay dòng nước cuồn cuộn chảy về đông Mùa lũ lụt, nước ngập cả mái nhà tôi, tất cả người lao động bất kể nam nữ đều ôm chăn, ôm gạch, thậm chí cả quả hồ lô lên đê, chỉ trực chỗ nào trống là len vào ngồi Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn dòng nước lớn lừng lững trôi mà cảm thấy vừa rợn ngợp vừa tráng lệ Một ấn tượng sâu đậm nữa chính là tiếng

Trang 12

kêu của hàng trăm ngàn con ếch, inh tai nhức óc, có khi ngay trong đêm khuya, nghe như tiếng ma quỷ Nước lũ và tiếng ếch kêu là hai nỗi ám ảnh lớn nhất quanh tuổi thơ tôi” [72].

Đầu thập niên 80 thế kỷ trước, ông làm lính ở Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, thời gian nghiệp dư học tập viết lách Viết được bản thảo, ông không dám gửi bài cho các tạp chí lớn Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Bảo Định có một tờ tạp chí văn học hai tháng ra một kỳ - Đầm Sen (Liên Trì), là một tạp chí nhỏ, gần chỗ Mạc Ngôn nhất, trong lòng cũng gửi gắm vận may “thứ nhất cự ly” (cận thủy lâu đài), thế là ông bèn liên tục gửi bài đến Cuối cùng có một ngày gửi trúng, Tạp chí Đầm Sen đăng liên tục 5

truyện ngắn của ông, trong đó bao gồm cả truyện ngắn Âm nhạc dân gian

được cụ Tôn Lê ưa thích Mùa hè năm 1984, ông đem bài điểm bình của cụ Tôn Lê đến bái kiến ông Từ Hoài Trung, Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Văn học Học viện Nghệ thuật Quân Giải phóng Trước tình hình thí sinh ghi tên đã kết thúc từ lâu, Chủ nhiệm Từ chiếu cố, xếp Mạc Ngôn vào danh sách, cho phép dự thi, khiến cho ông có được cơ hội bước chân vào học viện học tập Sau đó, ông lại gửi bản thảo đến Tạp chí Hoa Sơn, do Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật khu vực Bảo Định lập ra, tạp chí này cũng đăng tải hai bài tản văn của Mạc Ngôn, nhiều năm sau ông cũng mới biết, người biên tập và cho đăng hai bài tản văn của ông là Thiết Ngưng (nữ nhà văn, sau này là Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc khóa 7) Như một con dã thú nhỏ run rẩy mở rộng địa bàn, Mạc Ngôn gửi bản thảo cho Tạp chí Trường

Thành của tỉnh Hà Bắc Đây là tạp chí đã từng đăng tải Sông trong mưa,

truyện vừa đầu tiên của Mạc Ngôn

Mùa hè năm 2007, Mạc Ngôn đến Thạch Gia Trang tham gia một hoạt động liên quan đến đọc sách - trả lời phỏng vấn chương trình Đọc sách trên Đài Truyền hình Hà Bắc Tâm sự về cuộc đời đọc sách của mình, Mạc Ngôn nói: “Cuộc đời đọc sách của tôi, khởi thủy từ thời kỳ thiếu niên Khi

ấy, nông thôn Trung Quốc phổ biến là nghèo khó, sách có thể mượn được rất ít, sách gia đình tự có càng ít Sau khi đọc hết mấy quyển sách của thầy giáo chủ nhiệm lớp và sách mượn của mười mấy thôn chung quanh, tôi đọc

đi đọc lại một hòm sách giáo khoa trung học của anh cả tôi để lại trong nhà Toán, lý, hoá đọc không hiểu, đọc ngữ văn, lịch sử, địa lý, sinh vật Đọc số lần nhiều nhất đương nhiên là ngữ văn Giáo trình ngữ văn trung học khi ấy

Trang 13

phân chia thành hai loại Hán ngữ và Văn học Hán ngữ là cổ văn, ngữ pháp; Văn học thì tuyển chọn lược trích những tác phẩm văn học nổi tiếng cổ kim trong nước và thế giới Mấy quyển sách giáo khoa “Văn học” ấy đã mở

rộng tầm mắt của tôi rất ghê! Ông lão đánh cá và con cá vàng của Puskin đọc được từ đấy, Cô gái bán diêm của Andersen cũng đọc được từ đấy Quán nhà Lâm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá, Từ Bách Hoa viên đến Nhà sách Tam vị của Lỗ Tấn, Khuất Nguyên của Quách Mạt Nhược, Nhật xuất của Tào Ngu, cũng đọc được từ đấy Còn có tác phẩm Đồng bằng bốc lửa của nhà giáo Từ Quang Diệu của Hà Bắc chúng tôi,

cũng đọc được từ đấy Đọc rất nhiều lần, trải qua rất nhiều năm, các tình tiết trong sách tôi đều nhớ chắc không quên Khi làm lính ở Bảo Định, tôi

đã từng kiêm nhiệm nhân viên quản lý thư viện của đơn vị, quản lý trên ba ngàn quyển sách Đây cũng là thời kỳ đọc sách như điên của tôi Trong hơn

ba ngàn cuốn sách, sách văn học chiếm khoảng một phần ba, những sách khác là sách triết học, chính trị, lịch sử Đọc xong sách loại văn học, thì đọc

sách triết học, sách lịch sử, như Lô-gíc học của Hê-ghen và Tư bản luận của

Các Mác tôi cũng đều đọc vào thời kỳ ấy Tuy đọc không hiểu lắm, song những câu lập luận ngược xuôi, đa nghĩa uyển chuyển của họ, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi, có lẽ vẫn còn ảnh hưởng đến văn phong của tôi Khi đi học, tôi không phải là học sinh giỏi, song danh tiếng đọc sách đến

si mê đã lưu truyền rất xa Trên ngưỡng cửa nhà tôi có một chỗ mòn vẹt bóng nhoáng, chính là ngưỡng cửa mà hồi nhỏ ba anh em chúng tôi đứng

đó, nhờ ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn dầu treo trên khung cửa mà đọc sách Khi ấy, những sợi tóc trước trán tôi luôn luôn xoăn tít, là vì ban đêm tôi chúi đầu đọc sách, bị cháy xém quăn lên Sách như ánh sáng đèn, dẫn lối chỉ đường cho tôi, cũng sưởi ấm thể phách cho tôi, mặc dầu mẹ tôi đã từng nói với tôi rằng: “Đói chết không ăn thức ăn van xin được, cóng chết không sưởi ngọn lửa trên đèn” Nhưng, ngọn lửa của một chiếc đèn trong đêm đen, nói chung vẫn có thể đem lại cho chúng ta những ấm áp nào đó,

có lẽ vẫn có thể nhen nhóm lên ngọn lửa cháy rừng rực, chiếu sáng thế giới

mà chúng ta chưa từng đi qua” [41]

Mạc Ngôn cũng cho biết, cách đây 20 năm, khi ông mới bước vào con đường sáng tác, có hai loại âm thanh luôn xuất hiện bất chợt trong ý thức nhà văn: “Chúng như hai con hồ ly tinh đẹp mê hồn bám riết tôi, khiến tôi

Trang 14

rạo rực không yên Loại âm thanh thứ nhất tiết tấu phân minh, đầy sức mạnh, màu sắc nghiêm chỉnh pha trộn giữa đen và xanh lam, có sức nặng của sắt thép, có băng giá của khí hậu Đó là tiếng tàu hỏa, tiếng tàu hỏa chạy hàng trăm năm trên con đường sắt Giao Tế cổ lỗ Kể từ khi tôi biết nhớ, mỗi khi trời u ám là có thể nghe thấy tiếng còi xe lửa như tiếng bò rống, trầm đục, dài lê thê, trườn vào trong thôn, chui vào các căn buồng, lôi chúng tôi ra khỏi giấc ngủ Tiếp liền sau đó là tiếng lanh canh như băng vỡ khi xe lửa chạy trên cầu sắt sông Giao Tiếng còi, tiếng xe lửa chạy trên cầu sắt và bầu trời u ám gắn liền với nhau, gắn liền với tuổi thơ cô đơn và đói rách của tôi Mỗi khi tôi bị cái âm thanh xình xịch ấy đánh thức trong đêm, truyền thuyết về xe lửa và đường sắt được kể lại từ những cái miệng răng còn đều tăm tắp hay đã móm mém, lại sống dậy trong đầu tôi Chúng xuất hiện dưới hình thức âm thanh rồi mới đến hình ảnh, hình ảnh là bổ sung và chú thích cho âm thanh, hoặc giả là liên tưởng của âm thanh” [19].

Vùng Cao Mật, Đông Bắc Trung Quốc là bối cảnh cho phần lớn các tiểu thuyết sống động, kiệt xuất của Mạc Ngôn Để vinh danh người con nổi tiếng của quê hương, các quan chức Cao Mật đã đãi nhà văn một bữa trưa xa xỉ Khi 3 món chính được đưa ra, gồm cá, hàu và hải sâm, nhà văn

tỏ ra rất ngỡ ngàng “Tôi không biết Cao Mật cũng có những nhà hàng sang trọng như vậy”, ông thốt lên trước sự thích thú của những người “chủ chi”

Dù vẫn giữ được những đường nét cơ bản, Mạc Ngôn cho rằng, thành phố Cao Mật hiện đại ngày nay khác xa với cái đô thị nửa quê nửa tỉnh xuất hiện trong tiểu thuyết của ông hồi giữa thế kỷ 20 - khi người nông dân còn cưỡi những con lừa hay lạc đà lặc lè, khốn khổ trên những con đường bụi

bặm Những hình ảnh này có thể còn tìm thấy trong bộ phim Cao lương đỏ

của đạo diễn Trương Nghệ Mưu - chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Phần lớn tiểu thuyết của Mạc Ngôn, từ tác phẩm được ông coi

là kiệt tác của mình - Báu vật của đời cho đến Ếch - mới ra mắt cuối năm

2009, đều dựng nên một thế giới dường như rất xa xăm, xa lạ với khoảng

350 triệu người Trung Quốc sinh ra sau năm 1980 Nhưng chính họ lại là đối tượng độc giả chính đọc tiểu thuyết của ông

Bằng cách viết về quá khứ, chọn phong cách hiện thực huyền ảo tinh tế

và khéo léo, Mạc Ngôn tránh được việc “gây thù chuốc oán” với những nhà kiểm duyệt thận trọng của Trung Quốc Chẳng hạn như với cuốn tiểu thuyết

Trang 15

mới nhất của ông lấy đề tài chính sách một con ở Trung Quốc, Ếch kể câu

chuyện của những nhân vật ở lứa tuổi trung niên - lớp người chứng kiến tấn

bi kịch của chính sách kế hoạch hóa gia đình kéo dài hơn 30 năm ở Trung Quốc với những cảnh triệt sản, nạo phá thai rùng rợn Mạc Ngôn cho biết,

ông nung nấu ý tưởng viết Ếch từ đầu những năm 1980, nhưng phải đến năm 2009, cuốn tiểu thuyết mới ra mắt “Tôi trì hoãn việc viết Ếch vì bận

quá nhiều việc chứ không phải vì đây là đề tài nhạy cảm”, nhà văn giải thích với The Times “Hơn nữa, cũng không có luật nào cấm tôi viết về chuyện này cả”

Tuy vậy, Eric Abrahamsen, dịch giả văn học Trung Quốc hiện đại, vẫn cho rằng, Mạc Ngôn là người biết lựa thời, ông tìm được lời giải thích hợp cho câu hỏi, cái gì là được và không được phép viết với các nhà văn Trung Quốc Chẳng có gì là sai trái trong cách lựa thời này cả Bởi không một nhà văn nào muốn mình bất đồng với chính quyền và từng bị cấm trong quá khứ, Mạc Ngôn không thể không giữ gìn Nhưng bây giờ, theo Abrahamsen, Mạc Ngôn “biết chính xác đâu là ranh giới và ông không dại

gì vượt qua nó” [31] “Việc bàn luận về những hạn chế của chính sách một con giờ đã được chấp nhận ở Trung Quốc Tôi nghĩ, cuốn sách được xuất bản vì đề tài này đã không còn gây tranh cãi nữa”, Abrahamsen nói Riêng Mạc Ngôn vẫn cứng rắn cho rằng, ông không bao giờ để nỗi sợ kiểm duyệt làm ảnh hưởng đến việc chọn đề tài “Quốc gia nào cũng có những hạn chế nhất định đối với các nhà văn Ở một góc độ nào đó, nó có thể là yếu tố tích cực, giúp nhà văn tập trung vào phương diện nghệ thuật của văn học”, Mạc Ngôn nói “Một trong những hạn chế của văn học hiện nay là thiếu sự tinh

tế Nhà văn nên giấu kín thông điệp của mình để truyền tải nó vào các nhân vật trong tác phẩm” [31], ông nhận xét Dù vì lý do gì, Mạc Ngôn cam đoan rằng, tiểu thuyết của ông cũng sẽ vẫn bám rễ vào mảnh đất Cao Mật quê hương Cuốn tiểu thuyết sắp tới của ông sẽ tập trung vào câu chuyện những năm 1930 của thành phố này - khi cả đất nước Trung Quốc đang bị chiến tranh xé nát

Mạc Ngôn cũng rất quan tâm theo dõi các nhà văn đương đại Nhưng nhà văn thành thực chia sẻ, rằng ông không thích nổi các tác phẩm của họ

“Tôi sẽ không viết kiểu tiểu thuyết như vậy, nhưng tôi hiểu lý do tồn tại của chúng”, ông nói Nhà văn cũng không ngần ngại chia sẻ rằng, trước đây,

Trang 16

ông viết văn vì tiền Nhưng bây giờ, mọi thứ đã thay đổi “Bây giờ, tại sao tôi vẫn viết dù chỉ đủ ăn bánh bao? Bởi tôi có chuyện để kể”, ông nói Với bút lực dồi dào, Mạc Ngôn sáng tác được một số lượng tác phẩm đáng nể Ông đã xuất bản 11 tiểu thuyết, 20 truyện dài, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tùy bút Hầu hết các tác phẩm của ông đều được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, Hàn,

Hà Lan, Ba Lan, Việt Nam thu hút đông đảo công chúng yêu văn chương nghệ thuật Những tác phẩm tiêu biểu làm nên “hiện tượng Mạc Ngôn” có

thể kể đến: Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận, Cao lương

đỏ, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, Tứ thập nhất pháo, Thập tam bộ, Sống đọa thác đầy, Châu chấu đỏ, Hoan lạc, Người tỉnh nói chuyện mộng du, Con đường nước mắt, Bạch miên hoa, Trâu thiến Bằng những sáng tạo độc

đáo, thể hiện một cái nhìn mới mẻ về hiện thực con người, Mạc Ngôn đã đoạt được nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước, như:

- Giải nhất tiểu thuyết Hội Nhà văn Trung Quốc cho Báu vật của đời

(12/1995)

- Giải Mao Thuẫn cho tiểu thuyết Đàn hương hình.

- Giải tiểu thuyết toàn quốc lần thứ 4 (1987) cho tiểu thuyết Cao lương đỏ, tác phẩm được chuyển thể thành bộ phim truyện nhựa

cùng tên (đạo diễn Trương Nghệ Mưu) đã đoạt giải Gấu vàng tại LHP Berlin lần thứ 38

- Giải Văn học Liên hợp (Đài Loan)

- Giải Văn học nước ngoài Laure Batailin (Pháp)

- Giải Văn học Quốc tế Nonino (Ý)

- Giải thưởng lớn cho Văn hóa châu Á (Nhật)

- Giải Hồng Lâu Mộng cho tiểu thuyết Hoa ngữ thế giới (Hồng Kông)

- Giải Văn học Hoa ngữ New York (Mỹ)

- Huân chương kỵ sĩ Nghệ thuật văn hóa Pháp (03/2004)

- Tiến sĩ Văn học danh dự do trường Đại học Công Khai Hồng Kông trao tặng (12/2005)

Nhận xét về văn nghiệp của Mạc Ngôn, dịch giả Trần Đình Hiến viết:

“Mạc Ngôn là một hiện tượng văn học của Trung Quốc Bản thân tôi cũng rất phục Mạc Ngôn, nhất là ý chí của ông ấy Mạc Ngôn sinh ra ở nông thôn, thất học, phải đi chăn dê 19 tuổi vào quân đội, 18 năm sau mới trúng

Trang 17

tuyển khoa văn Học viện Văn hóa Nghệ thuật Quân Giải Phóng, và 4 năm sau theo học tại Học viện Văn học Lỗ Tấn Phải có ý chí tuyệt vời Mạc Ngôn mới từ một người thất học trở thành thạc sĩ, một trong những văn tài

có triển vọng nhất châu Á thế kỉ 21” (Trích bài phỏng vấn dịch giả Trần

Đình Hiến, Tôi “đồng điệu”với Mạc Ngôn).

1.1.2 Những tìm tòi thể nghiệm nghệ thuật của Mạc Ngôn

Mạc Ngôn được giới phê bình đánh giá là một nhà văn có triển vọng đoạt giải Nobel văn học Điều khiến Mạc Ngôn nổi bật trên văn đàn, trở thành “hiện tượng Mạc Ngôn”, không phải chỉ vì ông viết khỏe, mà còn vì ông không bao giờ lặp lại chính mình, mỗi tác phẩm một đề tài, một phong cách, không bao giờ trùng lặp Khả năng đồng hóa với cuộc sống của ông cực kì mạnh mẽ Ông luôn có ý thức nâng tầm của mình lên, không chịu dừng lại với những gì đã có

Mạc Ngôn tạo được ấn tượng của mình trên văn đàn Trung Quốc với

một loạt tiểu thuyết như Báu vật của đời, Đàn Hương Hình, Cây tỏi nổi giận, Cao lương đỏ và hàng loạt truyện ngắn khác Qua những sáng tác

của mình, ông luôn thể hiện những tìm tòi thể nghiệm nhằm đổi mới nghệ

thuật tự sự trong văn xuôi Trung Quốc đương đại Cây tỏi nổi giận lấy bối

cảnh là cuộc sống của nông thôn Trung Quốc những năm tám mươi của thế

kỷ trước, khi công cuộc đổi mới kinh tế được phát động chưa đầy mười năm Nông thôn Trung Quốc lúc đó mới làm quen với việc sản xuất hàng hoá, vùng trồng ngồng tỏi huyện Thiên Đường đã lần đầu tiên hứng chịu cảnh ế thừa tỏi, nông dân điêu đứng, cán bộ tham nhũng, quan liêu, các hủ tục của nông thôn vẫn bám rễ sâu trong đời sống, dẫn đến chuyện nông dân trồng tỏi xông vào Huyện đường đập phá Bối cảnh chỉ có vậy, nhưng dưới ngòi bút Mạc Ngôn, những số phận con người được miêu tả sống động, tác

phẩm vượt khỏi tầm của một bài ký sự Báu vật của đời và Đàn hương hình

đều lấy cảm hứng từ lịch sử cận đại bi thương của Trung Quốc, như hai vế

đối của một câu đối về lịch sử huyện Cao Mật, vùng Sơn Đông Trong Báu vật của đời sự việc diễn ra suốt thế kỷ hai mươi Trong khi đó, Đàn hương hình sự việc chỉ xoay quanh mấy vụ xử trảm trong những năm mạt vận của triều Mãn Thanh Báu vật của đời tụng ca và xót xa cho vẻ đẹp của người

phụ nữ, với bầu vú vĩ đại đã nuôi nấng cả cuộc sống vật chất và tinh thần

người Trung Quốc trong hoàn cảnh nhiễu loạn rất bi hùng Trong Đàn

Trang 18

hương hình Mạc Ngôn miêu tả nghệ thuật xử trảm chi li đến chân tơ kẽ tóc Trong khi đó, cùng với việc miêu tả tình yêu với hàng trăm cung bậc ở Báu vật của đời, tác giả cũng kể đến hàng trăm cái chết, hàng chục xác chết,

cách chết một cách lạnh lùng, và đời sống tình ái tình dục rất lạ lùng Ở cả

ba tiểu thuyết, Mạc Ngôn đều cấu trúc theo kiểu chương hồi, đầu mỗi hồi

có một ca từ theo kiểu dân ca Miêu Xoang của vùng Sơn Đông quê ông Điều này khiến cho tiểu thuyết Mạc Ngôn mang đậm dấu ấn tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc Lời văn của Mạc Ngôn qua bản dịch thấy hoạt, hóm hỉnh, thâm trầm và mang đậm cách nói giàu hình ảnh và ngoa ngôn tự nhiên của người Trung Quốc

Tiếp đến là sáu cuốn truyện vừa pha bút ký của Mạc Ngôn có số trang không nhiều, nhưng cho thấy bút lực dồi dào và tài năng của nhà văn khi

khai thác tối đa từng mảng nhỏ của đời sống Hoan lạc là truyện ngắn có

cốt truyện dung dị, ít tình tiết Tác phẩm kể kể về một thanh niên rời nhà ra thành phố, bị cuốn vào lối sống thị thành Nhà văn đã miêu tả một cách say sưa những niềm hoan lạc điên cuồng của thời mở cửa và cả những suy

ngẫm về thân phận con người Trâu thiến là thiên truyện về nông thôn Bạch miên hoa là thiên sử thi về cây bông và những thân phận con người

gắn bó với cây bông, vẫn trên vùng đất Cao Mật, miền quê đã tạo cảm hứng

ra đời những tác phẩm lớn của Mạc Ngôn Châu chấu đỏ là một câu chuyện

kỳ lạ và táo bạo về tính dục Ma chiến hữu là cuộc đối thoại giữa âm dương

trên những chiêm nghiệm về cuộc chiến đã qua và những điều trớ trêu nhất

giữa những sự tích anh hùng sinh ra trong mỗi cuộc chiến tranh Con đường nước mắt là một tập hợp những bộn bề đời thường, dục vọng, sống

chết được miêu tả tinh tế và trào phúng chỉ với cái cớ là việc xây dựng một

con đường Người tỉnh nói chuyện mộng du là tập tạp văn qua đó Mạc Ngôn

chia sẻ những tâm niệm về nghề văn và xã hội Tất cả đều xuất phát từ hiện thực ngổn ngang và trần trụi của làng quê Cao Mật quê hương ông Mỗi tác phẩm là một sự trải nghiệm nghệ thuật sâu sắc của nhà văn Nhiều tác

phẩm tuy có cùng nội dung phản ánh như Báu vật của đời và Sống đọa thác đầy, nhưng mỗi tác phẩm lại có một sức hấp dẫn riêng Số trang khiêm tốn, bối cảnh hạn hẹp - như Trâu thiến thì đúng là chỉ quanh chuyện thiến trâu và Hoan lạc, nếu tóm tắt chuyện, chỉ là cuộc đời một thanh niên nông

thôn 4 “keo” thi hỏng đại học đã phải uống thuốc sâu tự tử - nhưng với tài

Trang 19

“phù phép” của một tiểu thuyết gia thượng thặng, Mạc Ngôn vẫn lôi cuốn được độc giả và khi gấp sách lại, chúng ta không thôi suy ngẫm về lẽ sống

ở đời Trong Trâu thiến, cảnh hơn ba trăm cán bộ công chức của “công xã”

ngộ độc do tranh ăn thịt con trâu thiến bị chết của dân không chỉ là sự mỉa mai tệ nạn các quan ăn tham phần của dân, khi chuyên gia thiến trâu dọa người phụ trách chăn nuôi ở thôn rằng “thiến xong con trâu, tôi sẽ thiến nốt ông luôn” thì không ngờ kẻ bị dọa cười to: “Thiến tôi thì đâu cần đến tay bác sĩ thú y như ông…” vì lão đã nhờ bệnh viện thiến để thực hiện sinh đẻ

có kế hoạch! Lại không còn là chuyện trâu thiến nữa, mà dính đến vấn đề

tăng dân số đang làm Trung Quốc đau đầu Hoan lạc còn gợi những vấn đề

đáng suy ngẫm hơn Tên sách dễ gợi người ta nghĩ đến “sex”, nhưng Vĩnh Lạc, chàng “sinh viên hụt”, cho đến lúc uống thuốc sâu tự tử, chỉ duy nhất một lần được sờ vú cô láng giềng lớn tuổi Tiểu Thuý thì đã sang “cõi khác” Cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm của Vĩnh Lạc với “ba điều ước” giản

dị bất thành (một miếng ăn ngon, một chỗ ngồi trong trường đại học và một tình yêu) là những vấn đề muôn thuở của con người Nhưng không chỉ có

thế Hoan lạc cho chúng ta thấy tình cảnh khốn khó của nông dân và sự bất

công đã làm con người tha hóa như thế nào - thậm chí phải tìm đến cái chết Với nhãn quan và tài năng của một nhà văn xuất thân từ một vùng đất nghèo khổ, từng chiến đấu trong hàng ngũ quân giải phóng, tác phẩm của ông lại có tính “chính trị ” rất cao Có lẽ Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã phải chú ý đến sự “hài hòa” trong đường lối của mình, chính là vì những

vùng nông thôn đã bị bần cùng hóa, chịu quá nhiều bất công như Hoan lạc

đã miêu tả Có thể khái quát sự thể nghiệm nghệ thuật của Mạc Ngôn trên một số phương diện sau:

Trước hết về đề tài, sáng tác của Mạc Ngôn có diện bao quát khá rộng,

như: phản ánh sinh hoạt của quân đội thời hiện đại (Bãi cát đen, Đoạn thủ) miêu tả phong tục tập quán nông thôn (Vết hõm trong dép cỏ, Âm nhạc dân gian), phản ánh lịch sử, suy ngẫm nhân sinh (Dòng sông khô cạn, Củ cà rốt trong suốt, Thu thủy, Làm đường), phản ánh hiện thực nông thôn, miêu tả sự xung đột giữa ý thức cũ và mới trong công cuộc cải cách (Ánh chớp hình cầu, Bùng nổ, Cây đu chó trắng); phản ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược (Gia tộc Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình) Có thể

nói trên trời dưới dưới đất, cổ kim, trong ngoài, xương khô trong mồ, u hồn

Trang 20

dưới gốc cây tùng, công tử vương tôn, tài tử giai nhân, sơn cùng thủy tận, dân tục phong tình đều có mặt trong tác phẩm Mạc Ngôn.

Tác phẩm của Mạc Ngôn, đặc biệt là tiểu thuyết, chịu ảnh hưởng của học thuyết phân tâm học của Freud, đồng thời hấp thụ cả thuyết dân tộc học, nhân loại học của Frazez Mạc Ngôn từng nói ông dùng văn học để thể hiện sự tưởng tượng độc đáo, bao gồm xung động và ảo giác vô thức Theo ông, một khi đi vào trạng thái này, lí tính rõ ràng mạch lạc cũng không còn cách gì đành phải nhường cho cảm tính mượt mà, “thượng ý thức”, “trung

ý thức” cũng không có cách gì đành phải thua sức mạnh của vô thức

Những tác phẩm đầu tay như Dòng sông khô cạn, Thu thủy, Âm nhạc dân gian nói nhiều đến bản năng sinh tồn, thể nghiệm nhân sinh, mô tả cảnh vật

nông thôn cổ xưa thông qua lăng kính của tuổi thơ Truy tìm cuộc sống tuổi thơ, về bản chất của nó là bài ca tiễn đưa tuổi thơ đau buồn, ông dùng những tác phẩm này để đắp cho tuổi thơ “một nấm mồ xám xịt” Tuổi thơ của Mạc Ngôn không có hạnh phúc nên mỗi lần nhớ về tuổi thơ ông không khỏi bùi ngùi, buồn bã “Đương nhiên tôi cũng nghĩ, cũng nhấm nháp quá nhiều đau khổ của mình là điều không vẻ vang gì - Mạc Ngôn nói – Nhưng tiềm thức cứ nhuộm đen tác phẩm của tôi Mấy năm nay tôi cứ mong tác phẩm của mình không sáng sủa, ấm áp tình người lên một chút, định dùng bông hoa ngũ sắc để bổ khuyết vào sự khô cằn và nghèo nàn của hiện thực” Thế là ông đi tìm ảo giác Ảo giác bắt nguồn từ những giấc mộng (giấc mộng của Cu đen

trong Củ cà rốt, của Kim Đồng trong Báu vật của đời, giấc mộng nhuốm màu

ma quỷ trong Năm giấc mộng) Chủ đề trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn

thường nói về những vấn đề sinh tồn của nhân loại: cái đói, cái rét, tính dục, thù oán, tôn giáo, cái sống cái chết, mê tín dị đoan, chiến tranh… Cuộc chiến

tranh chống bọn xâm lược Đức, Nhật trong Cao lương đỏ được tác giả mô tả

thành những cuộc đấu tranh tự phát của dân gian vì sự sinh tồn mà chống lại bạo lực Ở đây tác giả cố ý làm “nhạt hóa” màu sắc chính trị để trở về cuộc

đấu tranh sinh tồn theo kiểu của chủ nghĩa tự nhiên Nếu như ở Củ cà rốt trong suốt, Cao lương đỏ có giọng điệu lạc quan tươi sáng thì những tác phẩm

ở giai đoạn sau nói nhiều đến bi kịch sinh tồn của nhân loại

Trong một bài báo viết về ảnh hưởng của G.G Marquez và Faulkner đối với mình, Mạc Ngôn viết: “Trong vũ trụ bao la, vị trí của con người là

vô cùng bé nhỏ, lịch sử quá khứ và thế giới hiện tại liên quan mật thiết với

Trang 21

nhau, máu của lịch sử lại chảy trong mạch máu của người đương đại” [52] Mạc Ngôn vừa có sự vạch trần, phê phán thói dâm dục, quan liêu hách dịch

của các ông “quan mới” ở nông thôn (Cây tỏi nổi giận), vừa có sự phẫn nộ căm ghét những thói ác của con người (Tội ác, Bỏ con thơ) và có cả hiện tượng sa đọa về luân lí đạo đức cùng sự xót thương sinh mệnh bấp bênh (Ánh chớp hình cầu, Bùng nổ) Mạc Ngôn vừa mô tả sự trỗi dậy của sinh mệnh

trước mọi thế lực áp bức, đồng thời cũng chứng minh sự trỗi dậy phản kháng

là tốn công vô ích, do đấy tiểu thuyết của ông mang màu sắc bi thương

Nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn có những tìm tòi mới Tiểu thuyết truyền thống thường dùng ngôi thứ ba để thuật chuyện, còn ở tiểu thuyết Mạc Ngôn thường được kể theo ngôi thứ nhất “tôi” “Tôi” có khi là người,

có khi là đồ vật hoặc động vật; có cái “tôi” là hiện thực, có cái “tôi” là sự

kết hợp giữa vật và người Trong Cao lương đỏ, “tôi” kể về câu chuyện của

“ông tôi” (Từ Chiếm Ngao), “bà tôi” (Phương Liên), “bố tôi” (Đậu Quan)

Trong Báu vật của đời – một truyện đề cao vai trò của nữ giới – nhân vật

“tôi” (đứa con trai thứ chín của Thượng Quan Lỗ thị) cũng dùng con mắt tuổi thơ để nhìn nhận những chuyện của ông bà cha mẹ, anh chị của mình

Ở đây nhân vật “tôi” dường như chỉ là giả thuyết (tuy vẫn có tính cách) nên

ta có cảm giác hư hư thực thực Khi tả thực thì “tôi” là hiện hữu, khi truyền

kì biến hình “tôi” là lãng mạn Ở Đàn hương hình, người kể chuyện hóa

thân thành những nhân vật Mị Nương, Triệu Giáp, Triệu Con, Tiền Đinh, Tôn Bính, Tri huyện để thuật lại mọi sự vật với tầm hiểu biết của mình Ở đây người kể chuyện đứng ngang tầm với nhân vật “tôi”, sự hiểu biết của

“tôi” về người kể chuyện là bằng nhau “Tôi” chỉ kể về những điều “tôi” biết Độc bạch nội tâm được sử dụng đắc địa Nhưng từ chương năm cho đến chương mười ba, tác giả lại sử dụng góc nhìn của người kể chuyện theo ngôi thứ ba Người kể chuyện trong tiểu thuyết truyền thống là đứng ở góc nhìn biết tất cả, tầm nhìn không bị hạn chế, còn người kể chuyện theo ngôi thứ ba của Mạc Ngôn có tầm nhìn hạn chế, sự hiểu biết của người kể chuyện ít hơn của nhân vật Người kể chuyện “bé” hơn nhân vật, không phải cái gì anh ta cũng biết Nhờ có góc nhìn tự thuật đa dạng, luôn thay đổi đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật: tác giả cố ý bảo lưu một số bí mật, gợi lên trí tò mò của độc giả

Trang 22

Do điểm nhìn tự thuật luôn biến hóa, nên kết cấu truyện của Mạc Ngôn cũng xuất hiện một hình thức tương xứng mới mẻ về không gian và thời gian Dựa vào sự tưởng tượng như “quỉ nhập tràng”, “Con ma cắm móng

tay vào vỏ cây hòe không rút ra được, gà gáy là biến thành xác chết” [39 ,

338] ranh giới thời gian và không gian, lịch sử và hiện tại, vật lí và tâm lí trở nên mơ hồ Nghệ thuật xử lí không gian và thời gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn giống như trong phim của trường phái hiện đại chủ nghĩa, vừa tồn tại một kết cấu nội tại vừa có một kết cấu ngoại tại Bản thân cốt truyện

có thời gian tuyến tính, nhưng xuất phát từ điểm nhìn của “tôi”, “tôi” cắt cốt truyện ra thành nhiều đoạn, sau đó dùng kí ức ảo mộng của “tôi” để tái tạo nên một thế giới hoàn toàn mới Tiểu thuyết của ông sử dụng một kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi lôgic, rất “hỗn độn”, vô thủy

“tôi”, nhưng cũng có khi chỉ là nhân vật tượng trưng ẩn dụ có một nhân cách độc lập có vốn sống văn hóa riêng có nội hàm sinh mệnh riêng Nhân vật “ông tôi”, “bà tôi” đều là những anh hùng hảo hán Tuy hình tượng của

họ chưa hoàn chỉnh nhưng người nào người nấy đều có ý chí sinh tồn, có cá tính mạnh mẽ, phóng túng khí phách Họ sống buông thả, cuồng nhiệt nhưng chết cũng rất anh hùng Từ Chiếm Ngao xuất thân từ thổ phỉ đã giết chết nhà sư từng ngủ với mẹ mình, yêu cuồng nhiệt Cửu Nhi, khi gót giày của giặc Nhật giẫm nát ruộng cao lương, ông dẫn đội binh tấn công chúng

“Bà tôi” phóng túng đa tình cũng trở thành anh hùng, hi sinh anh dũng

trong ruộng cao lương Trong truyện Thu thủy, bà cùng ông đốt cháy trang

viên nhà mình rồi cùng nhau phiêu bạt trong cánh đồng cỏ Người bà trong

Cây thương cũ đã giết chết người chồng cờ bạc, bợm rượu Những nhân vật

“ông” “bà” này đều là những nhân vật khí khái, lãng mạn và đều dính đến mùi tanh của máu “Ông tôi”, “bà tôi” là tiêu biểu cho tinh thần cần cù dũng cảm của quê hương Cao Mật, nói rộng ra là tượng trưng cho truyền

Trang 23

thống của dân tộc Trung Hoa Họ là hóa thân của của nhân sinh tự tại, của sinh mệnh tự do Thế hệ “bố mẹ” dưới ngòi bút của tác giả kém hơn thế hệ

“ông bà” Tuy họ cũng kế thừa truyền thống của các vị tiền bối nhưng họ

có những nhược điểm và vật cản tâm lí Họ hoặc là khom lưng cúi đầu

trước cường quyền, xu nịnh bọn quyền thế (nhân vật “bố” trong Dòng sông khô cạn); hoặc ngu muội bảo thủ, hẹp hòi như người bố người mẹ trong Ánh chớp hình cầu; hoặc gia trưởng, chuyên chế, ti tiện trong Bùng nổ

Thông qua những nhân vật tác giả muốn phê phán những thói xấu lạc hậu trong tính cách của dân tộc Trung Hoa Còn thế hệ “tôi” và các bạn cùng trang lứa dường như đều xuất hiện trong các sáng tác của Mạc Ngôn Cu

Đen trong Củ cà rốt trong suốt, Tiểu Hổ trong Dòng sông khô cạn, “tôi” trong Gió lớn đều sống trong gia đình và hoàn cảnh thiếu tình người Tuổi

thơ của họ đều đau khổ buồn tẻ, tính tình họ đều cô độc, u sầu Từ bất mãn, chán ghét gia đình và bố mẹ, họ ghét lây sang cả xã hội, thậm chí định lấy cái chết để trả hận đời Mặt khác họ thường có khát vọng sống, họ ảo tưởng

có thể thoát khỏi hoàn cảnh sống tối tăm, bí bức như cuộc sống của bố mẹ

họ, muốn vươn ra thế giới ấm áp tốt đẹp hơn nhưng họ trước sau vẫn không

có cách gì thoát khỏi bàn tay số mệnh và thường rơi vào tình trạng đau khổ, tiến thoái lưỡng nan Đó là nỗi đau của lớp người “con cháu chúng tôi” và

đó cũng là nỗi đau của tầng lớp trí thức vậy

Thủ pháp lạ hóa của chủ nghĩa hiện đại phương Tây gần đây được các nhà văn Trung Quốc sử dụng nhiều Nhờ có trí tưởng tượng phong phú, khả năng nắm bắt những cảm giác mới, Mạc Ngôn đã sáng tạo ra nhiều nhân vật, sự kiện, chi tiết kì lạ để hấp dẫn người đọc Dưới ngòi bút của tác giả, con nhím biết tư duy đau khổ, con gà biết nói mơ, cao lương biết rên rỉ, mặt trời biến thành xanh, mặt đất biết chuyển động “Lạ hóa” là hình thức tự sự trữ tình độc đáo, mục đích là tạo nên cảm giác mới lạ đối với những sự vật

bình thường trong cuộc sống hàng ngày Trong Đàn hương hình có rất

nhiều chi tiết hoang đường kì lạ Khi “lục quân tử” bị chém đầu, Đàm Tự Đồng đầu lìa khỏi cổ còn ngâm trọn bài thơ thất ngôn bát cú, đầu lâu Lưu Quang Đệ còn chảy nước mắt, miệng réo hoài tên hoàng thượng! Cảnh đọ râu giữa quan huyện Tiền Đình và Tôn Bính; hậu môn của người coi kho

có thể giấu vào đó cả đỉnh bạc 50 cân; thuốc chữa bệnh tương tư cho Mị Nương là phân của quan huyện Tiền Đinh phơi khô tán nhỏ Tất cả đều

Trang 24

là bịa mà lại có sức cuốn hút độc giả, vì ai cũng ưa sự lạ Cái kì lạ nhất ở

trong Đàn hương hình mà tác giả kì công mô tả đó là những cảnh hành

hình Cái kì ảo còn lạ hoá người đọc bằng cách xây dựng những huyền thoại về nhân vật, những hình tượng nghệ thuật gián tiếp có tầm khái quát lớn và lung linh đa nghĩa Nó là những hình ảnh tượng trưng với quy mô

lớn hơn cả bề rộng lẫn chiều sâu Nếu như G.Marquez trong Trăm năm cô đơn tạo dựng nên những nhân vật siêu mẫu, tức là những con người phi

thường, dị thường và quái dị như huyền thoại về Rêbêca ăn đất, Rêmêđiốt với luồng khí độc có hiệu quả trong việc làm chết những kẻ đam mê mà

không biết cách chứng tỏ tình yêu của mình thì Tửu quốc có nhân vật Dư

Một Thước với tầm cao 90cm, 85 tuổi nhưng đã ngủ với “89 người đẹp thành phố”, có thể bay lên xoay tít trên trần nhà và lập nên những kì tích cho thành phố, nhân vật Khoan Kim Cương “uống rượu như hũ chìm”

Trong Đàn hương hình có huyền thoại về Triệu Giáp giết 988 người với

một bàn tay mềm và nhỏ nhưng khi bỏ vào nước thì “tay lão như thép nung

đỏ, nước trong chậu đồng phát ra tiếng lóc bóc, sùi bọt bốc hơi” Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã khai sinh và hạ giới những vị thần: thần uống rượu như Khoan Kim Cương, thần thịt như cậu bé La Tiểu Thông; Phong cấp trạng nguyên cho đao phủ Triệu Giáp và người hát Miêu Xoang – Tôn Bính; Tặng “danh hiệu” siêu nhân cho Dư Một Thước Nhân vật của Mạc Ngôn có xu hướng trở thành những siêu mẫu Sáng tạo ra những huyền thoại mới bên huyền thoại cổ xưa là cách lạ hoá kì tài của Mạc Ngôn Những ước mơ, ẩn ức chở bằng những huyền thoại đem đến một tiếng nói mới mẻ cho hiện thực Cái kì ảo đã làm cho mỗi lời kể, lời tả được thăng hoa thể hiện một quan niệm nghệ thuật về thế giới đa chiều Sáng tác của Mạc Ngôn còn đề cập nhiều đến vấn đề miêu tả cái xấu Trong Mỹ học cận đại ở phương Tây cái xấu không những không bị bài xích mà còn được tiếp nhận, được coi trọng Cái xấu từ vai trò chỉ làm nổi bật cái đẹp, dần dần được lên ngôi, chiếm vị trí chủ đạo, thậm chí trở thành tiêu chí chủ yếu của chủ nghĩa hiện đại phương Tây ở giai đoạn phát triển rực rỡ Một phần vì chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại phương Tây, một phần vì tác giả Mạc Ngôn trải qua nhiều thăng trầm, nhìn thấy nhiều cái ác cái xấu, nhất là trong Cách mạng văn hóa, ông thấy cái xấu cái ác nhiều phen chi phối hành động tư tưởng của mọi người, khiến ông lo lắng

Trang 25

sợ hãi Trong Cao lương đỏ có những cảnh chém giết hành hình gây cho ta

một cảm giác ghê sợ Cảnh ông già La Hán bị giặc Nhật lột da, cảnh Từ Chiếm Ngao chém đầu lính Nhật đều được tả thành cảnh man rợ như nhau, phải chăng tác giả muốn làm nhạt màu sắc chính trị để nói rằng cái ác

muôn thưở vẫn là nỗi đau của nhân sinh Ở Đàn hương hình, tên đao phủ

tàn ác, xấu xa như Triệu Giáp được triều đình phong kiến Mãn Thanh sai đi hành hình những người yêu nước nổi loạn chống lại chúng như: Đàm Tự Đồng, Tôn Bính lại được tác giả tôn vinh như là “đại diện cho phép nước tôn nghiêm” Cảnh chúng chém người (hoặc chém đầu, chém ngang lưng, hoặc tùng xẻo, hoặc dùng kiếm gỗ đàn hương xiên từ hậu môn lên vai người tử tù) đều được tả tỉ mỉ và coi như là một “kiệt tác”

Nhiều nhà nghiên cứu từng xem tác phẩm Mạc Ngôn thuộc vào

“Tiểu thuyết cảm giác mới” Cảm giác mới bắt nguồn từ nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện và phương pháp biểu hiện tư tưởng của chủ nghĩa đa

đa Tiểu thuyết cảm giác mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực truyền thống

Nó không đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể để sáng tạo ra một hiện thực mới mẻ Tiểu thuyết Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng trường phái cảm giác mới của chủ nghĩa hiện đại phương Tây và Nhật Bản những năm 20 -

30 Mạc Ngôn cho rằng: Trạng thái sáng tác nhẹ nhàng thoải mái, tự do, muốn nói gì thì nói là trạng thái tốt nhất đối với nhà văn Khi cánh cửa hồi

ức được mở ra, ông thường dùng cảm tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống chứ không dùng lí tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống Tiểu thuyết Mạc Ngôn không còn cốt truyện hoàn chỉnh như tiểu thuyết truyền thống mà nó chỉ còn là “cái khung truyện” mà thôi Nhưng trong cái khung truyện ấy chứa đầy cảm giác, đó là linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn Ông

có biệt tài nắm bắt cảm giác Thuở nhỏ, ông từng bắt một con chim non vừa mới ra ràng nhốt vào một cái hang, hôm sau thấy kiến bu đầy mình chim, biến con chim thành một cục đen xì Từ đấy ông thường xuyên luyện thể nghiệm cảm giác mới lạ, và biết sớm muộn cảm giác ấy sẽ nảy sinh điều gì Qủa nhiên khi trở thành nhà văn, năng lực nắm bắt cảm giác mới đã có đất

dụng võ Ví dụ mở đầu truyện Bùng nổ là cảnh người cha tát người con một

cái nảy đom đóm Hành động tát rất nhanh, nhưng bàn tay tác giả tả chậm lại, làm cho cảm giác cũng có hình khối: “Bàn tay của người cha từ từ giơ

Trang 26

lên, ngừng lại ở ngang vai chừng ba phút, sau dùng sức quật bốp một cái vào má trái tui Bàn tay của bố đầy chai, đầy mùi thơm của lúa mạch chín

và vị đắng của cỏ khô Sáu mươi năm lao động đã cho bàn tay ông một sức mạnh thần kì và sự tôn kính cao cả, nó rơi xuống mặt tui, phát ra âm thanh nặng đục, rồi như quả khí cầu bùng nổ” Cách xử lí chậm chạp ấy làm giảm tính chất bạo lực, độc giả có đủ thời gian để thể nghiệm cảm giác phức tạp

do cái tát gây nên: oán hận bố, kính trọng bố, không hiểu được tính cố chấp của bố, cũng như thương bố cả đời lao động vất vả và cảm thấy mình có lỗi với bố Mạc Ngôn còn phóng đại cái chết chóc và nâng cái khổ hình lên tầm Mỹ học của bạo lực Hiệu quả gián cách từ thủ pháp lạ hoá của Mạc Ngôn có thể nói gây một sự ngạc nhiên đến lạ trong thủ pháp này Theo cách thông thường để diễn đạt cái chết, văn học truyền thống cố làm giảm nhẹ nó nhằm vơi đi nỗi đau nhưng Mạc Ngôn thì tô đậm nó không phải để cực tả đau đớn mà là đóng đanh cái bạo ngược lên, mổ xẻ phanh phui tận nguồn cái ác Đến với tiểu thuyết Mạc Ngôn, người đọc được nâng cao cảm xúc hơn là nỗi đau trước cái chết Tác phẩm Mạc Ngôn miêu tả nhiều cái

chết và cái chết nào cũng dữ dội Báu vật của đời diễn tả cái chết của mục sư

Malôa thì “óc tung tóe khắp mặt đất” [39; tr 90], cái chết của Câm anh và Câm em thê thảm: “Một nửa đầu thằng Câm anh không còn nữa Một lỗ thủng bằng nắm tay trên bụng thằng Câm em Chúng chưa chết giương mắt trắng dã nhìn tôi… Ruột thằng Câm em đùn ra đầy nửa sọt” [39; tr 347] Chính sự nhiệt tình phóng đại trong khi diễn tả cái chết mà Mạc Ngôn đã từng bị giới phê bình ở Trung Quốc phê phán không có ý thức tôn nghiêm với sinh mạng con người Thế nhưng đây là một lối khám phá hiện thực theo cách khác người của nhà văn Miêu tả phóng đại cái chết là cách thức tiếp cận nguồn của cái chết Nhân vật của Mạc Ngôn không chết ngay mà thường vùng vẫy, ngắc ngoải trong sự “Lạ hoá” của người kể chuyện

Chữ “kỳ” và yếu tố kỳ ảo luôn là mạch ngầm nuôi dưỡng cảm hứng và bút pháp sáng tạo của các nhà tiểu thuyết Trung Quốc Chữ “kỳ” hấp dẫn người khác bằng sự mông lung, ma mị, huyễn tưởng: kỳ ảo; sự phi thường, khác lạ: kỳ dị; và cả sự bình thường, quen thuộc: vô kỳ chi kỳ Mạc Ngôn cũng là nhà văn Trung Quốc “chính tông” khi nối tiếp dòng chảy của chữ

“kỳ” trong sáng tác của mình Ở phương diện ngôn ngữ miêu tả, chữ “kỳ”

và yếu tố kỳ ảo kết hợp với “chủ nghĩa cảm giác mới” của phương Tây hiện

Trang 27

đại đã sản sinh ra một thứ ngôn ngữ cảm giác đậm màu sắc kỳ ảo Thứ ngôn ngữ ấy khiến cho mỗi sự vật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn đều trở nên có thông linh, tri giác; đầy ý nghĩa hình tượng và biểu cảm Nhà văn Yasunary Kawabata – lữ khách lang thang đi tìm cái đẹp – được xem là người phát khởi phong trào “cảm giác mới” của văn chương Nhật Bản

Trong các tác phẩm của ông, đặc biệt là Người đẹp say ngủ, thấm đẫm cảm

giác Đó là cảm giác của ông già Eguchi về mùi hương, làn da, hơi thở… của năm cô gái trần truồng ngủ mê trong ngôi nhà chứa bí mật ở đền Subakidera nằm kề ông trong suốt bốn đêm trường Mỗi cảm giác đều đánh thức trong ông vô số hồi ức Và chính cảm giác đã vẫy gọi dòng ý thức để cùng tuôn trào những kỷ niệm, nuối tiếc, xung động bản năng và cảm xúc thánh thiện Đối với Kawabata, “cảm giác mới” gắn liền với cái Đẹp, việc phát hiện ra nó làm cho cuộc sống này mới mẻ từng giây, từng phút Đối với Mạc Ngôn, “cảm giác mới” là sự lặn sâu vào trong cảm giác, cảm xúc của nhân vật, dùng bút pháp kỳ ảo để diễn tả nó một cách tế vi, li kỳ và quái đản Bằng bút pháp tả thực kết hợp với bút pháp tượng trưng, biến hình, huyền ảo, khoa trương tác giả đã khiến cho một ánh mắt, một nụ cười, một tiếng thở dài, một cảm xúc nhỏ… cũng trở thành hình ảnh có hương có sắc có mùi có vị

Mạc Ngôn luôn coi trọng sự lạ hoá trong miêu tả, kể chuyện, thậm chí ông rất táo bạo cả trong phương diện miêu tả cảm giác, xây dựng cái kì ảo, phóng đại sự chết chóc, khổ hình tạo ra một tiếng nói mãnh liệt, riết róng trước hiện thực đằng sau và bề sâu, hoàn nguyên lịch sử như nó vốn có

1.1.3 Quan niệm nghệ thuật của Mạc Ngôn

Mỗi nhà văn trên hành trình sáng tác văn học luôn bộc lộ một quan niệm nghệ thuật nhất định

Quan điểm nghệ thuật của Mạc Ngôn được thể hiện trước hết qua một

số phát biểu trực tiếp của nhà văn trong các bài phỏng vấn Với Nhọc nhằn sinh tử, Mạc Ngôn đã đoạt giải thưởng Hồng Lâu Mộng lần thứ hai về

truyện dài Ông bày tỏ: Nhà văn giàu thì khó viết được tác phẩm tốt Nhà văn nghèo cũng vậy Còn nhà văn trung lưu thì vừa có thể hiểu được giới quý tộc, vừa có thể gần gũi với lớp người bình dân Mạc Ngôn bước lên bục nhận giải thưởng Hồng Lâu Mộng với vẻ mặt rất hóm hỉnh Đang lúc cao hứng, ông “bật mí” về bút danh của mình Ông có tên thật là Quản Mạc

Trang 28

Ngôn Trong tiếng Hoa, chữ “Mạc” có nghĩa là cơ mưu Nhưng 30 năm trước, để có bút danh, ông đã tách đôi chữ “Mạc” trên thành chữ Ngôn và chữ Mạc Trong tiếng Hoa, chữ Mạc không có bộ ngôn đứng trước có nghĩa là không có gì, không nên nói nhiều, như lời cha mẹ dặn Nhận giải thưởng Hồng Lâu Mộng và trả lời phỏng vấn, Mạc Ngôn trò chuyện rất thoải mái, không hề tỏ ra “mạc ngôn” (tiết kiệm lời) như bút danh đã chọn Mạc Ngôn cho rằng: văn học là nơi để nhà văn bộc lộ mình một cách trung thực nhất và phản ánh chính xác nhất thời đại Văn học phải phản ánh đời sống của người nghèo, và để làm được điều này thì theo ông “giàu có thì khó viết văn” vì: “Tôi kể cho các bạn nghe một câu chuyện dân gian đơn giản: Người nuôi chim ưng thường bảo không nên cho chim ăn quá no Ăn

no, nó sẽ không chịu đi săn mồi nữa Còn nếu cho nó ăn chưa đủ no, thì nó

sẽ không bay nổi Do đó, chỉ nên cho chim ưng ăn lưng lửng bụng mà thôi Nhà văn cũng vậy, nếu quá giàu, trong nhà nuôi bốn ô-sin, ra đường có hai

vệ sĩ, thì làm sao mà sáng tác cho ra hồn Lúc đó, làm sao họ có thể đồng cảm với người nghèo? Văn học suy cho cùng là phản ánh đời sống của người nghèo, người bất hạnh, bị áp bức, bị sỉ nhục, bị phương hại Các tác phẩm kinh điển phần nhiều là phản ánh đời sống của lớp người bần cùng Chỉ khi phản ánh sự cơ cực, đói khổ của họ, tác phẩm mới có tính quần chúng rộng rãi, mới có giá trị xã hội Khi nhà văn đã giàu có đến mức độ nào đó rồi thì họ sẽ không còn mối quan hệ nào nữa đối với người nghèo Bởi vậy, nhà văn nếu quá giàu thì khó viết được những tác phẩm hay Đương nhiên cũng không nên quá nghèo Nếu ăn bữa mai lo bữa hôm thì

họ phải lo cho cái bụng của họ trước đã Trong điều kiện đó mà sáng tác thì quả là khó

Cuộc sống có bảo đảm, có mối quan hệ mật thiết với quần chúng thì cái nhìn của nhà văn mới khách quan Họ vừa có thể ngước mắt lên để hiểu giới quý tộc, vừa có thể hạ mắt xuống để gần gũi với người nghèo Có vậy nhà văn mới phản ánh được cuộc sống đa dạng” [64]

Quan niệm nghệ thuật của Mạc Ngôn còn được thể hiện sinh động, sâu

sắc trong các tác phẩm nghệ thuật của ông, đặc biệt trong Tạp văn Bản

thân tạp văn là một thể loại nửa triết nửa văn, là một cách tu dưỡng tinh thần của các nhà hiền triết, nhà tư tưởng, nhà văn Trung Hoa từ lâu đời Tự thân nó đã là một đặc sắc Trung Hoa Viết tạp văn, đối với Mạc Ngôn cũng

Trang 29

là một thách thức, bởi trước đó nền văn học Trung Quốc đã có rất nhiều những nhà văn nổi tiếng đã từng viết tạp văn, cổ thì: Kim Thánh Thán, Mao Tôn Cương, Viên Mai kim thì những Lỗ Tấn, Lão Xá, Ba Kim, còn đương thời thì có Vương Sóc, Gỉa Bình Ao, Vương Mông Không rõ Mạc Ngôn có chịu ảnh hưởng gì các bậc tiền bối và cả bạn văn đương thời với mình không, song chắc chắn một điều, Mạc Ngôn đã sáng tạo ra một sắc thái tạp văn rất Mạc Ngôn Điều ấy có nghĩa là nó không bị nhòa lẫn vào ai

và về cách nghĩ cùng bút pháp khá nhất quán với một Mạc Ngôn tiểu thuyết Trở lại với tuyển tập tạp văn Mạc Ngôn, với 25 thiên tạp văn, tùy bút, ta có thể thấy rõ có mấy mảng đề tài, chủ đề lớn, đó là về quê hương,

về sở thích, về mộng văn chương cùng bóng dáng các văn nghệ sĩ và những tản mạn khác

Ở Tạp văn Mạc Ngôn bộc lộ quan niệm nghệ thuật của mình về thể loại

tiểu thuyết, một thể loại mà ông gặt hái không ít thành công Trong phần lời

tựa cho tạp văn Người tỉnh nói chuyện mộng du, ông viết: “Tôi thường nghĩ

rằng người viết tiểu thuyết lúc nào cũng cố ý giả trang, bôi phấn bôi kem lòe loẹt khiến độc giả khó mà hình dung được gương mặt thật của tác giả; nhưng trong tạp văn, tác giả thường quên hóa trang khi viết, vì vậy bộ mặt thật của họ dễ dàng chường ra trước mắt độc giả” Đây là quan niệm của Mạc Ngôn về thể loại được biểu hiện qua giọng điệu có chút bỡn cợt Với Mạc Ngôn “viết tiểu thuyết cũng chẳng quá phức tạp, càng không có gì là thần thánh Suy cho cùng chỉ đơn thuần là tự truyện Tôi có cảm giác mình như con gà đẻ trứng, trong bụng chứa nhiều trứng, chín quả nào thì đẻ quả

đó vậy thôi Nếu tiểu thuyết cứ theo lối mòn phản ánh cuộc sống hiện thực thì không thể chứa đựng nhiều ý nghĩa Máy ảnh và những cây cọ vẽ phản ánh cuộc sống hiện thực sẽ chuẩn xác hơn nhiều Vì vậy, tiểu thuyết bắt nguồn từ cuộc sống, song phải vượt ra khỏi cuộc sống hiện thực, phải mang chút lãng mạn và tưởng tượng Như vậy sẽ đem đến cho độc giả những gì vừa như rất quen, song cũng rất lạ Mỗi khi viết, tôi đều gây dựng tưởng

tượng trên nền móng hiện thực” (Nhà văn Mạc Ngôn và bí quyết viết tiểu thuyết best seller, theo vnexpress.net, 13/01/2004) Mỗi tác phẩm đều có

những cái được và chưa được Ngay cả tác phẩm có “giải” thì vẫn có người chê là “không ngửi được” Tác phẩm của Mạc Ngôn cũng vậy, có người nhận xét là tinh tế, song cũng có người cho là quá tồi Tuy nhiên với nhà

Trang 30

văn đã là tiểu thuyết thì ít nhất về ngôn ngữ tác phẩm sau phải khác tác phẩm trước, cốt truyện phải độc đáo và không thể là sự lặp lại Mạc Ngôn cũng từng nói xu hướng của ông là “lấy không có tư tưởng làm vinh”, đặc biệt khi sáng tác tiểu thuyết Cái ông gọi là “không có tư tưởng “tức là trong tiểu thuyết nhà văn không được lấy tư tưởng của mình để áp đặt cho nhân vật mà nhân vật phải tuân theo lôgíc của cốt truyện Cho dù trong các tiểu thuyết của mình viết ra vẫn mang cách nghĩ của nhà văn nhưng chỉ dừng lại ở cách nghĩ chứ không thể phát triển lên thành tư tưởng.

Với tuổi thơ sống trong nghèo đói, trong những lo lắng tủi nhục về miếng cơm manh áo càng khiến cho Mạc Ngôn có cái nhìn về cuộc đời và con người chân thực và sâu sắc: “Tôi là một người xuất thân từ tầng lớp thấp kém, tác phẩm của tôi chứa đầy quan điểm thế tục Nếu ai đó định tìm thấy những điều tao nhã sang trọng trong tác phẩm của tôi,chắc chắn họ sẽ thất vọng Đó là điều không thể Người thế nào thì nói lời thế ấy,cây nào thì quả ấy, chim nào thì tiếng hót ấy Tôi lớn lên từ đói rét cơ hàn,đã từng chứng kiến rất nhiều cảnh khổ đau và bất công” [52] Có nhà văn từng nói:

“Tiểu thuyết Mạc Ngôn đều được moi ra từ chiếc bao tải rách của cái làng Đông Bắc, Cao Mật ấy” Nhưng sự thật với Mạc Ngôn “chiếc bao tải” này thực sự là của báu, cho tay vào moi mạnh một cái, ra được bộ tiểu thuyết, moi nhẹ một tí, ra ngay cái truyện vừa, nếu chỉ thò ngón tay vào nhón một cái, cũng gắp được dăm ba truyện ngắn Ta dễ dàng nhận thấy hơi hướng nồng nặc của đất quê, và mối tình sâu đậm không thể tan chảy giữa ông với

“huyết địa” làng Đông Bắc Cao Mật Cũng do vậy giới phê bình gọi ông là

vị hoàng đế khai phá trời đất của làng Cao Mật Chính trong truyện ngắn

Cây đu bạch cẩu lần đầu tiên tác giả “dò dẫm” để giương ra cờ hiệu “làng

Đông Bắc Cao Mật” và từ đó bắt đầu cuộc sinh nhai văn học quần tụ sơn

hà, tung hoành ngang dọc Ông trở thành vị hoàng đế khai thiên lập địa của văn học làng Đông Bắc để được tha hồ hò hét hạ lệnh, muốn ai chết là chết,

để ai sống được sống, hưởng đủ cái lạc thú làm vua một vùng Nào dương cầm, nào bom nguyên tử, nào bánh mì, thằng tây rởm, cha cố thật “Cái ập vào đầu óc tôi lại toàn là tình cảnh quê hương Kỳ thực, cùng với lúc tôi đang gắng sức rời xa quê hương, cũng từng bước tôi nhích lại quê hương một cách vô thức Hơn 20 năm trước, khi mới bắt đầu viết, tôi không hề biết rằng làng Đông Bắc quan trọng đến thế nào với mình Lúc đầu chỉ định

Trang 31

viết truyện ngắn về đề tài quân ngũ với bối cảnh hải đảo, thế nhưng cái ập vào đầu óc tôi lại toàn là tình cảnh quê hương Đất đai quê hương, dòng sông quê hương, cây trồng quê hương giống như ảo ảnh trên biển, chúng hiện ra trước mặt như lớp sóng xô Lúc ấy tôi cố gắng chống chế lại những cám dỗ máu thịt của quê hương đối với mình để viết về biển cả Nặn mãi rồi cũng cho ra vài truyện ngắn kiểu này, nhưng nhìn vào đã biết ngay của rởm Những thứ tôi mô tả không liên quan gì đến tình cảm trong tôi Tôi không yêu, cũng chẳng ghét chúng Mấy năm sau đấy tôi vẫn giữ khư khư thái độ chống chế lại quê hương cực kỳ sai lầm ấy.

Giống như gái thuyền chài có bàn chân ngón xòe, trai nhà nông có cặp chân vòng kiềng, cái thằng nhà quê đặc mãi đến năm 20 tuổi mới rời làng quê như tôi có hóa trang đến đâu cũng không thể giống nổi chàng công tử tao nhã Truyện ngắn của tôi có đeo cho nó hoa gì đi nữa, thì nó vẫn cứ là truyện củ khoai Kỳ thực, cùng với lúc tôi đang gắng sức rời xa quê hương,

cũng từng bước tôi nhích lại quê hương một cách vô thức” (Làng quê là báu vật của tôi, theo vietbao.vn) Mặc dù mối quan hệ giữa quê hương với

sáng tác không quá quan trọng, bởi vì nhiều nhà văn sau khi chạy trốn khỏi quê hương, có thể họ đã trải qua những chuyện kinh hồn Nhưng đối với nhà văn Mạc Ngôn thì những nếm trải sau khi rời khỏi quê hương chỉ là bình lặng và đạm bạc Bởi vậy trong sáng tác của mình, ông đặc biệt xem trọng cảm xúc có từ quê hương Trong các tác phẩm của ông, chỉ có truyện

ngắn Dòng sông khô cạn và truyện vừa Củ cà rốt trong suốt là ông sử dụng

trực tiếp những cảm xúc và kí ức làng quê

Dường như khi sáng tác nhà văn luôn huy động mọi tế bào của cơ thể

để khám phá hiện thực Dù là một làn gió nhẹ, một nhánh cỏ, một cây cao lương, một giọt nước trong cũng được tác giả miêu tả có hồn mang đậm

chất chủ thể hóa Tác giả mượn nhân vật trong truyện Hồng hoàng nói lên ý

đồ sáng tác của mình: “Sẽ có ngày tôi soạn một vở kịch chân chính, trong

đó có mộng ảo và hiện thực, khoa học và đồng thoại, thượng đế và ma quỷ,

ái tình và mại dâm, cao quý và ti tiện, mĩ nữ và đại tiện, quá khứ và hiện tại, huân chương và bao cao su đều được đan xen với nhau, gắn chặt với nhau, cái nọ nối cái kia, tạo thành một thế giới hoàn chỉnh” [52] Với Mạc Ngôn, các giải thưởng văn học và những vinh dự cá nhân không phải là những thứ quan trọng, bởi trung thực mới là thứ quý giá của các nhà văn,

Trang 32

nó là vấn đề đạo đức và cái gốc làm người Trên hành trình sáng tác, Mạc Ngôn đã sớm khẳng định cho mình một phong cách riêng, một lối đi riêng Nhà văn từng mong muốn viết ra những thứ thuộc về ông, nó khác với những người khác, và cũng khác với các nhà văn phương Tây, các nhà văn Trung Quốc Niềm khát khao ấy là động lực giúp nhà văn không ngừng đổi mới, không ngừng sáng tạo trong sáng tác văn chương - sự sáng tạo theo ông thực sự không phải là sự chen nhau chạy theo mốt mà là cách viết về những gì mà mình quen thuộc, dùng ngòi bút tả thực, đồng thời dựa vào sức tưởng tượng để tạo ra những “mùi vị” không tồn tại và những sự thực không có thực, làm cho tiểu thuyết có cảm giác của sự sống Với những quan niệm nghệ thuật như thế, tác phẩm của Mạc Ngôn đã làm thay đổi diện mạo nền văn học đương đại Ông đã làm mờ và phá đi trung tâm của chủ đề phân tích và phán xét văn hóa của tác phẩm tìm về cội nguồn, tiến tới làm cho lịch sử trở thành đối tượng thẩm mỹ và lĩnh vực tưởng tượng siêu nhiệm.

1.2 Báu vật của đời - một dấu mốc trên hành trình sáng tạo của

Mạc Ngôn

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo của Báu vật của đời

Mạc Ngôn là nhà văn biết mượn những câu chuyện hết sức bình

thường để viết tiểu thuyết lịch sử Trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn viết

kiểu hiện thực phê phán Với lối viết “mượn dã sử nói chính sử”, nhà văn Mạc Ngôn đã thành công ở khá nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn

Báu vật của đời là cuốn tiểu thuyết mang không khí sử thi tiêu biểu về

một giai đoạn lịch sử (95 năm) của đất nước Trung Quốc Tác phẩm được thai nghén trong suốt bốn năm, ròng rã từ năm 1900 đến tận mùa thu năm

1994 Với ý nguyện viết một cuốn sách dâng tặng mẹ nhưng ý nghĩa của tác phẩm đã vượt qua dự định ban đầu của nhà văn Cuốn tiểu thuyết dài hơn năm vạn chữ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và đã giành được giải thưởng “văn học quần chúng” với số tiền khổng lồ (33 vạn nhân dân tệ) Kể

từ khi Báu vật của đời được xuất bản thì số phận người cha đẻ ra nó luôn

có sự biến động, đã có lúc tác giả của nó đã phải tự phê bình và viết thư cho

nhà xuất bản yêu cầu đình chỉ in Báu vật của đời Nhưng thời gian đã

khẳng định giá trị chân chính của tác phẩm Một nhóm nghiên cứu sinh của

Trang 33

Học viện văn học Cát Lâm đã tổ chức cuộc hội thảo lớn, khẳng định thành

tựu của Báu vật của đời Cũng từ đó Báu vật của đời thực sự tồn tại trong

đời sống văn học và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả trong

và ngoài nước

Trước Báu vật của đời Mạc Ngôn đã viết gần một trăm truyện ngắn,

truyện vừa nhưng khi tác phẩm xuất hiện đã trở thành hiện tượng trên văn đàn Tìm hiểu về Mạc Ngôn không thể không đặt ông trong môi trường quê

hương, bởi đây là nguồn cảm hứng chủ đạo của tác giả Báu vật của đời

Ông đã từng tuyên bố đã xây dựng Đông Bắc Cao Mật thành vương quốc riêng của mình và ông sẽ là “vua” của vương quốc ấy Về tiêu đề tác phẩm

Phong nhũ phì đồn Mạc Ngôn giải thích: “Trên mặt chữ nghĩa thì có nghĩa

là mạnh khoẻ, bầu vú căng tròn và cặp mông núng nính, đó là cái thiêng liêng nhất, trang nghiêm nhất của phụ nữ” Qua tiêu đề tác giả muốn ca ngợi người mẹ, hay nói một cách khác là ca ngợi người phụ nữ, ca ngợi khả năng sinh và dưỡng của họ Mạc Ngôn nhấn mạnh “khía cạnh khác của tên cuốn sách là muốn châm biếm xã hội” Còn tên gọi của cuốn sách muốn nói lên điều gì thì Mạc Ngôn cho rằng không biết nói thế nào và tác giả tin rằng độc giả còn sáng suốt hơn

1.2.2 Dấu ấn tài năng của Mạc Ngôn trong Báu vật của đời

Nền văn học Trung Quốc đương đại có những thành tựu rực rỡ với sự xuất hiện của một loạt tác giả nổi tiếng, như: Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Mạc Ngôn, Tào Đình, Lưu Quốc Phương, Ngô Huyền… Với nhận thức mới về thời đại, những tác giả Trung Quốc đương đại đã đưa hiện thực cuộc sống

xã hội vào trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên và chân thật, họ đã đưa văn học về đúng với chức năng cơ bản của nó, tức là phản ánh số phận

con người Tiểu thuyết Báu vật của đời của nhà văn Mạc Ngôn là một tác phẩm thể hiện rõ nét quan điểm sáng tác ấy Đọc Báu vật của đời chúng ta

thấy một xã hội trần trụi được Mạc Ngôn mô tả rất tỉ mỉ Trong xã hội ấy, chiến tranh, tệ nạn xã hội mà điển hình là cái xấu cái ác luôn đè nặng lên số

phận mỗi con người Hiện thực trong Báu vật của đời khái quát rộng lớn

nhưng cụ thể Cái nhìn của tác giả dựa trên quan điểm của nhân dân vì vậy những sự kiện lịch sử không hề có điểm gãy, đồng thời soi rọi vào tận cùng những góc khuất từ đó trả lại ý nghĩa thật sự cho lịch sử

Trang 34

Kết cấu Báu vật của đời là một điểm đặc sắc thể hiện rõ phong cách

độc đáo của Mạc Ngôn Toàn bộ câu chuyện được kể lại qua lời nhân vật Kim Đồng, người con trai duy nhất của dòng họ Thượng Quan Đây là thủ pháp “lời phong cách hoá”, một thủ pháp khó và mới mẻ Ở đó toàn bộ câu chuyện được kể theo ý thức của một hoặc nhiều nhân vật, qua đó tạo ra cái

nhìn bổ sung cho cái nhìn của tác giả trong việc miêu tả Ở Báu vật của đời,

Kim Đồng như một nhân chứng, chứng kiến toàn bộ qua trình phát triển của Cao Mật và sự hưng vong của gia đình Thượng Quan Câu chuyện xoay quanh những thành viên của hai dòng họ Thượng Quan, Tư Mã và những người liên quan đến hai dòng họ này Mỗi nhân vật xuất hiện trong dòng chảy của câu chuyện đều hiện lên qua cảm nhận, cảm quan của Kim Đồng Anh là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết, mọi đầu mối của câu chuyện đều hướng về anh Anh vừa là một nhân chứng lại vừa là một nạn nhân của quá trình phát triển ấy Câu chuyện diễn ra tự nhiên theo dòng thời gian cùng với sự lớn lên (về mặt thể chất) của Kim Đồng, vì vậy câu chuyện được kể lại một cách trọn vẹn, không có những điểm gãy Xuyên suốt trong tác phẩm chỉ có một người kể chuyện nhưng điểm nhìn lại liên tục được thay đổi, có lúc tác giả để nhân vật ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” cũng có lúc dùng ngôi thứ ba “cậu” hoặc “anh” làm cho câu chuyện diễn ra nhịp nhàng uyển chuyển Đặc biệt hơn toàn bộ câu chuyện đều được tác giả miêu tả tỉ mỉ bằng tất cả sức mạnh giác quan của nhân vật chính, khiến cho những sự kiện trong tác phẩm hiện lên vừa khách quan vừa chủ quan, vừa hiện thực vừa kì ảo Chúng ta có thể hình dung được những sự kiện chính trong diễn tiến lịch sử của Trung Hoa bắt đầu từ khi quân Nhật xâm chiếm đến cuộc nội chiến đẫm máu của Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, cuộc đấu tranh chính trị năm 1949, sau đó là cách mạng văn hóa rồi đến cuộc sống thị trường thời hiện đại xen vào đó là những sự kiện huyễn hoặc không liên quan đến chính sử Nhân vật sống trong cõi thực mà như đang ở trong cõi mơ Câu chuyện về cậu bé dần được mở rộng thành câu chuyện của một gia đình, một gia tộc, một vùng đất đậm chất huyễn hoặc với hàng loạt cuộc tranh hùng và đổi ngôi giữa các phe phái và hàng loạt câu chuyện

kì lạ Những sự kiện bị ảo hóa đã tạo ra một không gian hư ảo, huyền bí đánh thức sự hiếu kì của độc giả Hàng loạt câu chuyện xuất hiện không cần sự lí giải nào, cũng không ai thắc mắc với những sự kiện đó, thực hư

Trang 35

đan cài vào nhau thành một thể thống nhất Ranh giới giữa thời gian và không gian, lịch sử và hiện tại, vật lí và tâm lí trở nên mơ hồ.

Cái có thực vốn là những lạc hậu cổ hủ của người dân Trung Quốc như tục bó chân ở phụ nữ hay sự trọng nam khinh nữ trong tư tưởng phong kiến Nó được tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại hoá đó là hình ảnh của Tiên Chim chữa bệnh cho mọi người, bộ râu cứng như thép của Tư Mã Khố làm mẻ cả dao cạo… Cái có thực mang tính kì diệu, đó là khả năng giao tiếp với muông thú của cha con Hàn Chim, Hàn Vẹt; đó là căn bệnh

“nhũ yếm thực” của Kim Đồng làm anh mãi mãi không trưởng thành về tinh thần – đó cũng là cảm quan của nhà văn về một con người chưa thành người hoặc bị hạ cấp xuống lưng chừng giữa trần thế: “Thiên đường hay địa ngục đều không dành cho chúng ta! Chỗ của ta là khoảng giữa thiên đường và địa ngục” [39, tr 266] đó là lời cảnh báo của tác giả đối với nhân loại Cái không có thực – nhà văn dựa trên cảm quan hiện thực xã hội mà tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại hoá: Những câu chuyện về hồn

ma, về hồ li trong những giấc mơ của Kim Đồng, đó là số phận gian truân của cả gia đình Thượng Quan Mạc Ngôn qua đó bày tỏ nỗi đau trước số phận con người Có những nỗi đau nhìn thấy, nhưng có những nỗi đau đau hơn nhiều lần mà không dễ nhận ra mà Mạc Ngôn là người đã nhận ra và đau nỗi đau chung của hiện thực

Tác phẩm chỉ “quanh quẩn” cái vùng quê Cao Mật hẻo lánh vốn chẳng mấy ai biết đến, nhưng nhờ tài năng của Mạc Ngôn, nó đã có sức cuốn hút hàng triệu người và trở nên nổi tiếng Mạc Ngôn có phép lạ gì vậy? Để trả lời câu hỏi này, ta thử tìm hiểu xem “thế giới” Mạc Ngôn đã bày đặt ra như thế nào? Có lẽ “phép lạ” chủ yếu của Mạc Ngôn chính là biết “bày đặt” ra những chuyện kỳ lạ ít người biết trên một cái khung, cái nền không xa lạ

Về thực chất, đó là thủ pháp lạ hoá, huyền thoại hoá hiện thực Nó là nội dung mà cũng là hình thức tác phẩm Nói cách khác, đó là thế giới nghệ thuật của tác giả

Mạc Ngôn đã sáng tạo ra vô số chuyện lạ trong Báu vật của đời

Thế gian này hiếm có gia đình nào có 9 đứa con mà số phận đứa nào cũng

éo le bi thảm như gia đình Thượng Quan Tư Mã Khố, ngoài các giai thoại truyền tụng tác giả còn đặc vị “yêng hùng” này trước khi bị cách mạng xử

tử chỉ yêu cầu được sửa sang râu tóc, nhưng lưỡi dao cạo của thợ hớt tóc bị

Trang 36

mẻ hết vì râu hắn cứng như bàn chải bằng dây thép Và ở đâu có chuyện lạ như cảnh chợ Tuyết, không ai được nói câu nào, người đóng vai “Công tử Tuyết” đeo mạng che mặt được sờ vú chị em: “Ngày hôm đó tôi sờ khoảng một trăm hai mươi cặp vú hai tay tôi nâng bầu vú nặng chịch, to quá cỡ chị hướng dẫn tôi sờ nắn từng phân da trên vú chị” [39, tr 368] Lại còn những lời “quảng cáo” cho cửa hàng “Thế giới nịt vú Thú một sừng” khó tìm thấy trong sử sách nhân loại: “Cặp vú khoan khoái thì người phụ nữ mới khoan khoái, người phụ nữ khoan khoái thì đàn ông mới khoan khoái

Xã hội nào không quan tâm đến vú phụ nữ là một xã hội dã man! Xã hội nào không quan tâm đến vú phụ nữ thì đó là xã hội vô nhân đạo! Các con, bớt tiền tiêu vặt mua cho mẹ cái nịt vú, không có trời làm sao có đất, không

có mẹ làm sao có con? ” [39, tr 665] Là một nhà văn có lập trường chính trị rõ ràng, Mạc Ngôn không dễ sa vào chủ nghĩa tự nhiên và lối viết tục tĩu Ở đây hình ảnh bầu vú người phụ nữ đã mang nhiều ý nghĩa biểu tượng cho sức sống, sự sinh sôi nảy nở của đất nước Trung Hoa Những trang sách không giống như đời thật ấy lại có sức cuốn hút người đọc chính vì con người ta đến với nghệ thuật cốt để tìm ra sự khác thường, để được cùng tác giả thăng hoa khi đưa trí tưởng tượng bay lên với cảm xúc trào dâng Những giây phút ấy như nhiều nhà văn đã tự bạch: nhân vật vượt ra ngoài sự trù liệu, sắp đặt của tác giả Hầu hết các nhân vật trong

tác phẩm Báu vật của đời đều có những phút “xuất thần” như thế nhưng

người đọc lại không nghĩ đó là chuyện hoang đường, vì nó bắt nguồn từ cảm xúc chân thật của tác giả dựa vào bản chất, vào khả năng tiềm tàng có thật của nhân vật cũng như tình huống câu chuyện Có thể không có ai như

mẹ con nhà Thượng Quan đã chịu nổi cảnh đày đọa ghê gớm như thế nhưng nhân loại từng biết những con người - thường là những anh hùng -

đã chứng tỏ sức chịu đựng phi thường như anh hùng Liên Xô Ma-ret-xép trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại, hay Hai Thương đã từng bị kẻ thù tra tấn bằng cách cưa cụt cả hai chân đến tận háng, không phải một lần, mà sáu lần, mỗi lần một khúc Nhà văn còn tạo ra sự “lạ hóa” thông qua việc miêu tả cảm giác như một sự say mê và tài hoa Mạc Ngôn cho rằng: “Khi viết nhà văn phải huy động mọi giác quan của mình như vị giác, thị giác, thính giác, khứu giác hoặc là một cảm giác kỳ diệu vượt qua tất cả mọi cảm

giác kể trên” [52] Báu vật của đời luôn có sự tương giao nhiều chiều trong

Trang 37

cảm giác, thể hiện trong việc miêu tả khả năng giao lưu giữa người và vạn vật gây tò mò cho độc giả như cuộc trò chuyện giữa Hàn Chim và Sói, giữa

Kim Đồng với những bầu vú trong Báu vật của đời Nhân vật Kim Đồng đã

nhìn bầu vú trong sự trong suốt của linh hồn với những hình khối, màu sắc

và âm thanh đa dạng và chính những cảm giác mà nhân vật cảm nhận được

đã tạo nên sự khác biệt và đặc sắc của từng đối tượng được miêu tả Kim Đồng và bầu vú luôn có sự tương giao với nhau, nó không chỉ là sự tương giao đơn thuần bên ngoài mà còn là sự dung hợp giữa tri giác và nội tâm Những thay đổi bất thường của bầu vú đều được anh cảm nhận một cách tinh tế dù là những thay đổi nhỏ nhất Tác giả đã cấp cho bầu vú một linh hồn riêng, một sức sống riêng, vừa phụ thuộc vào bản thể con người vừa tách khỏi nó Khoái cảm thẩm mĩ được tạo ra nhờ đưa cảm giác chủ quan chuyển hóa vào trong đối tượng tạo nên trạng thái nhẹ nhàng thoải mái cho

cả người cảm nhận lẫn đối tượng được miêu tả Dường như Mạc Ngôn dùng phương pháp “Stemomanay” để cảm nhận bầu vú, đây chính là phương pháp đọc các dấu hiệu trên cơ thể từ vùng bụng đến thắt lưng của con người, phương pháp này đươc tận dụng để khai thác khám phá tính cách phụ nữ thông qua hình dáng “núi đôi” của họ Cách này đã được sử dụng hiệu quả trong văn học Tây Ban Nha thế kỉ XVIII Bầu vú đã không còn là một vật thể tĩnh lặng nữa mà trở thành một thực thể sống, nó có những khao khát riêng và ngôn ngữ riêng biệt

Trong quan điểm phương Đông, vạn vật tương liên tương thông, tương cảm nên con người với vạn vật chỉ là một Đó cũng là cơ sở cho những cuộc rong ruổi cảm giác trong kể tả Đặc biệt trong quá trình miêu tả cảm giác, người kể chuyện còn cấp cho nhân vật những mùi vị riêng Ở điểm này Mạc Ngôn rất gần với W.Faulkner Nhân vật của W Faulkner có

“mùi cây” như Caddy trong Âm thanh và cuồng nộ, nhân vật của Mạc

Ngôn có Tư Mã Lương mùi “hăng hắc cây hòe”, Kỷ Quỳnh Chi thơm mùi

“kem đánh răng”, Lai Đệ “mùi chua”, Kim Một Vú mùi “sữa tươi” Tạo ra một thế giới mùi vị bằng cảm giác là sở trường trong miêu tả của Mạc Ngôn xuất phát từ trực giác và di chuyển vào tâm linh, sáng tạo ra một thế giới mới mẻ Năng lực nắm bắt cảm giác trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn gắn với quan niệm nghệ thuật về một thế giới vừa có chiều sâu tâm linh vừa sống động Chính sự chen chúc của những chi tiết nghệ thuật; kết hợp

Trang 38

với cách kể chuyện sáng tạo; không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật tương ứng tạo hiệu quả cao nhất; cùng với một hệ thống hình tượng nhân vật độc đáo, lạ mà quen và một điểm nhìn mới mẻ… tất cả đã tạo nên cho

Báu vật của đời một kết cấu cực kì hiện đại, chằng chịt, phức hợp, phi

tuyến tính Đồng thời vẫn giữ được nét truyền thống qua hình thức biên

niên sử Với kết cấu mạch vòng tác phẩm đã mở ra một không gian vô tận

cho sức sáng tạo và liên tưởng Những hồi ức mà nhân vật đã trải qua làm cho các sự kiện trong tác phẩm xuất hiện không theo trật tự tuyến tính, luôn

có sự đảo lộn trật tự, thường có những đoạn viết thêm tưởng chừng như rời rạc nhưng lại dễ dàng bắt nhập với cốt truyện, độc giả vẫn theo được mạch

kể câu chuyện Câu chuyện về chị Tám, về Niệm Đệ đi tìm chồng đã làm sáng tỏ thêm đặc trưng kết cấu trong sáng tác của Mạc Ngôn Có thể nói

“Mạc Ngôn là người đầu tiên đoạn tuyệt với phương pháp sáng tác theo chủ nghĩa vật bản, đưa văn học trở lại với chức năng cơ bản của văn học, tức là phản ánh số phận của con người” [23] Vì văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người Câu chuyện về sự hóa thân của Lãnh Đệ thành nàng Tiên Chim dù mang đậm tính chất phúng dụ, huyền thoại nhưng thực chất là sự quay trở về cội nguồn, khao khát hòa nhập với

tự nhiên Sau cái chết của nàng Tiên Chim cư dân Cao Mật cũng quên hẳn nàng với những bài thuốc màu nhiệm mà chỉ nhớ những hành động khác thường của cô trong cơn cuồng hoan vì dục vọng với Thằng Câm Ở đây nhà văn đã thể hiện một tư tưởng nghệ thuật về con người và cuộc đời: nhìn nhận con người dưới góc độ bản năng cũng là một hướng đổi mới để khám phá và tìm hiểu bản chất con người nhất là con người hiện đại Có nhiều

người khi đọc Báu vật của đời đã cho rằng tác giả đã đề cao chế độ mẫu hệ

tiến đến phủ nhận vai trò và vị trí của nam giới trong xã hội, phủ định xã hội Chúng tôi cho rằng ở đây không có sự đề cao mà thực tế là sự phủ nhận của tác giả với chế độ này Những nhân vật sống trong những ngôi nhà mẫu hệ đều có kết cục bi thảm Viết ra câu chuyện này dường như Mạc Ngôn muốn khẳng định con người phải luôn cố vận động phù hợp với sự đổi thay của lịch sử nếu không nó sẽ trở nên lạc đàn và đẩy lùi sự tiến lên của xã hội loài người Nói cách khác đó chính là cuộc hành trình đi tìm bản ngã của con người trong thời hiện đại

Trang 39

Báu vật của đời đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác,

từ nỗi xót xa này đến nỗi xót xa khác, từ thú vị này đến thú vị khác, từ thái cực tình cảm này đến thái cực tình cảm khác - đó là sức hút mà tiểu thuyết này tạo ra đối với độc giả Đó cũng là tài năng của nhà văn Đọc

Báu vật của đời của Mạc Ngôn chúng ta nghĩ đến Lỗ Tấn Có lẽ, bởi cả

hai nhà văn Trung Quốc này, một đầu và một ở cuối thế kỷ 20, đã có sự gặp nhau trong suy nghĩ về đất nước mình Nhân vật người điên của Lỗ Tấn thấy ai cũng muốn ăn thịt mình; nhân vật Kim Đồng - người không rời vú mẹ của Mạc Ngôn thấy bông hoa bốc mùi máu; hai hoàn cảnh lịch

sử, hai chế độ chính trị khác nhau giữa hai thời kỳ sống của hai nhà văn Nhưng có một cái không khác, đó là tình yêu nước, và trách nhiệm nhà văn của hai người, và không chỉ của riêng họ Nhà văn, cũng như người phụ nữ vậy, phải có niềm vui và nỗi đau của sự mang thai và sinh nở những giá trị mới, nhận thức mới cho người đọc Và xã hội phải có tinh thần làm bà đỡ mát tay cho những cuộc sinh nhọc nhằn và không ít nguy hiểm đó

1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người của Mạc Ngôn trong

Báu vật của đời

Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật, bởi nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học Nhân vật biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và các đặc điểm mà anh ta lựa chọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố tạo nên nó Như vậy, quan niệm nghệ thuật

về con người là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu tố thế giới nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của nó về thế giới và con người

Trong Báu vật của đời Mạc Ngôn thể hiện một quan niệm nghệ thuật

về con người vừa sâu sắc vừa độc đáo làm nên nét riêng biệt của nhà văn Quan niệm đó được thể hiện trên 3 phương diện: con người thân phận, con người với những xung đột, bất hòa xã hội; con người với ý thức về nỗi cô đơn

Trang 40

1.3.1 Con người thân phận

Con người thân phận là một vấn đề mang tính thời đại cùng với những vấn đề khác như chiến tranh, hòa bình, những thay đổi trong xã hội Nói đến con người thân phận là nói đến điều gì đó vừa cụ thể gần gũi nhưng lại vừa bao la vượt quá tầm hiểu biết của con người Cuộc đời có nghĩa hay vô nghĩa cũng là điều mà chúng ta sống, chúng ta đảm nhận từng ngày Xoay quanh con người thân phận luôn có những câu hỏi làm cho người ta trăn trở và day dứt khôn nguôi

Qủa thế, trong hành trình cuộc đời, thế nào cũng có lúc ta dừng lại

và tự đặt câu hỏi cho mình : Ta là ai giữa cuộc đời này? Tôi từ đâu đến và

sẽ đi về đâu? Đâu là giá trị của thân phận con người? Con người có bị ràng buộc bởi điều gì? Người ta chưa kịp trả lời câu hỏi chưa sự sống thì phải đối diện với một vấn nạn oan nghiệt hơn, đó là cái chết Mỗi khi bị đặt đối diện với cái chết của người khác, người ta không khỏi tưởng nghĩ đến cái chết của mình Đôi lúc cái ranh giới giữa sống và chết bỗng trở nên mong manh quá đỗi Có những người gần gũi với chúng ta, mới ngày hôm qua hãy còn là một con người sống động và đầy năng lực, hôm nay đã là một cái xác lạnh ngắt vô hồn trong huyệt mộ… Nếu chết có nghĩa là hết, cái chết trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp cho cuộc sống của một con người Thế nên có người quan niệm rằng con người được sinh ra là để hướng về cái chết Bước qua mỗi ngày sống, người ta tiến gần đến với cái chết của mình hơn (M Heidegger) Cái chết khiến người ta nhìn về hành trình cuộc đời và thân phận con người hết sức bi quan và tiêu cực Có người khi chứng kiến những điều tồi tệ trong hành trình ngắn ngủi của cuộc đời làm người, đã không ngại tuyên bố rằng con người chỉ là một dòng sông nhơ bẩn với đầy những tham vọng, bạo tàn và bất chính (F Nietzsche) Người khác thì lại cho rằng con người chỉ thuần là vật chất, chết là hết chuyện (K Marx) Nhiều người khác nữa lại có cái nhìn về con người thê thảm đến độ, với họ, giác ngộ và thức tỉnh về thân phận con người không gì khác hơn là nhìn ra những vô lý đến cùng cực trong thân phận làm người (A Camus) Đó là lúc con người bị đau khổ choáng ngợp và thấy ghê tởm cả cuộc sống Đó cũng

là lúc họ phải đối diện với cái chết trống trơn vô nghĩa Với tất cả những suy nghĩ ấy, người ta cố vùng vẫy để tự ban cho cuộc đời mình một ý nghĩa, để khoát cho mình ánh vinh quang của những anh hùng, những siêu

Ngày đăng: 18/12/2013, 19:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (08/09/2009), “Melville Fradman: Dẫn luận “ Dòng ý thức”(1)”, http://www.trieuxuan.info Sách, tạp chí
Tiêu đề: Melville Fradman: Dẫn luận “ Dòng ý thức”(1)”
2. Linh Anh ( dịch và tổng hợp) (20/09/2007), “Mạc Ngôn: Học trò tập tọe hay nhà văn số một ?”, http://giadinh.net.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn: Học trò tập tọe hay nhà văn số một ?”
3. Arnaudop. M (1978), Tâm lí học sáng tạo Văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học sáng tạo Văn học
Tác giả: Arnaudop. M
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1978
4. Nhuệ Anh (14/04/2006), “Mạc Ngôn: Cá tính làm nên số phận”, http://evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn: Cá tính làm nên số phận”
5. Tuấn Anh (10/2008), “Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong Văn học Nghệ thuật”, Tạp chí Sông Hương, (số 236) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong Văn học Nghệ thuật”, Tạp chí "Sông Hương
6. Lại Nguyên Ân (1998), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
7. Gia Bách (30/12/2009), “Mạc Ngôn gửi gắm tác phẩm mới tới Việt Nam”, http://www.anninhthudo.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn gửi gắm tác phẩm mới tới Việt Nam”
8. Bakhtin. M (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn hoá và Thông tin thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Năm: 1992
9. Lê Nguyên Cẩn (2003), Cái kì ảo trong tác phẩm Banlzac, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kì ảo trong tác phẩm Banlzac
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2003
10. Nguyễn Lệ Chi (12/09/2006), “Mạc Ngôn: Tôi luôn sống trong ác mộng” , http://tuoitre.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn: Tôi luôn sống trong ác mộng”
11. Nguyễn Lệ Chi (13/01/2010), “Nhà văn Mạc Ngôn: Đổi đời nhờ dịch giả”, http://thethaovanhoa.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Mạc Ngôn: Đổi đời nhờ dịch giả”
12. Nguyễn Lệ Chi (15/07/2011), “Mạc Ngôn viết văn như những người lao động phổ thông”, http ://lethieunhon.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn viết văn như những người lao động phổ thông”
13. Freud. S (2002), Phân tâm học nhập môn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học nhập môn
Tác giả: Freud. S
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
14. Fromm. E (2003), “Phân tâm học tình yêu”, Tạp chí Văn học nước ngoài, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học tình yêu”, Tạp chí "Văn học nước ngoài
Tác giả: Fromm. E
Năm: 2003
15. Tuyết Giang (22/01/2007), “Nhà văn Mạc Ngôn: Viết tiểu thuyết chính là ăn tết”, http://vtc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Mạc Ngôn: Viết tiểu thuyết chính là ăn tết”
16. Trần Thanh Hà (23/04/2008), “Dịch giả Trần Đình Hiến : Vì sao tôi chọn dịch Mạc Ngôn ?” , http://vnca.cand.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch giả Trần Đình Hiến : Vì sao tôi chọn dịch Mạc Ngôn ?”
17. Trần Thanh Hà (2008), Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong Văn học Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong Văn học Việt
Tác giả: Trần Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
18. Lê Bá Hán Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
19. Trần Đình Hiến (27/09/2007), “Đàn hương hình: cơn “nghén” âm thanh của Mạc Ngôn”, http:giadinh.net.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn hương hình: cơn “nghén” âm thanh của Mạc Ngôn”
20. Hồ Sĩ Hiệp (2001), “Văn học Trung Quốc năm 2000”, Tạp chí Văn học, (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc năm 2000”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w