1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển biến về kinh tế và dân cư ở thành phố thanh hoá từ năm 1899 đến năm 1945

110 429 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển biến về kinh tế và dân cư ở thành phố Thanh Hoá từ năm 1899 đến năm 1945
Tác giả Nghiêm Thị Huyền
Người hướng dẫn Pgs.TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 697 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề xây dựng đô thị cũng đang là vấn đề nóngbỏng đối với các tỉnh thành trong cả nước.1.2 Đô thị - tỉnh lỵ Thanh Hoá là một phần không thể tách rời của lịch sử đô thị Việt Nam, từ khi

Trang 1

Bộ Giáo Dục và Đào tạo Trờng đại học vinh

Vinh - 2010

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cho đến nay vẫn chưa cú

nguồn tài liệu để phục dựng lại một cỏch cú hệ thống về đụ thị trờn đất nướcViệt Nam Việc nghiờn cứu về đụ thị dường như mới chỉ bắt đầu từ nhữngnhà sử học nổi tiếng là: Hà Văn Tấn; Trần Quốc Vượng; Đinh Xuõn Lõm, Cỏc nhà sử học đó từng bước vộn bức màn bớ mật về đụ thị nước ta, songcụng việc nghiờn cứu đụ thị vẫn đang cũn nhiều khoảng trống

Trang 2

Hiện nay toàn Đảng, toàn dân đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một đất nước có nền kinh tếcông nghiệp phát triển Vấn đề xây dựng đô thị cũng đang là vấn đề nóngbỏng đối với các tỉnh thành trong cả nước.

1.2 Đô thị - tỉnh lỵ Thanh Hoá là một phần không thể tách rời của lịch

sử đô thị Việt Nam, từ khi thành lập được gọi là trấn thành Thanh Hoa xâydựng năm 1804 đến thành phố Thanh Hoá ngày nay đã hơn hai thế kỉ Trongsuốt quãng thời gian lịch sử đó, trải qua quá trình xây dựng từ trấn - thị xã -thành phố, đô thị Thanh Hoá đã phải chịu khoảng 60 năm đô hộ của thựcdân Pháp và 8 năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, đến tháng 12/1972hầu như bị phá huỷ hoàn toàn Mặc dù vậy đô thị Thanh Hoá vẫn chiến đấu,chiến thắng và hồi sinh

Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của đô thị Thanh Hoákhông còn là vấn đề mới, nhưng trong cả quá trình phát triển của đô thị ThanhHoá thì giai đoạn 1899 - 1945 vẫn còn nghèo nàn về tư liệu hoặc chỉ điểm

qua những mốc chính, với đề tài “Chuyển biến về kinh tế và dân cư của thành phố Thanh Hoá từ năm 1899 đến năm 1945”chúng tôi hi vọng sẽ góp

phần hữu ích đối với sự phát triển của lịch sử đô thị Thanh Hoá nói riêng vàlịch sử đô thị Việt Nam nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn chung các tài liệu cũng như các tác phẩm thành văn viết về đề tài

đô thị Thanh Hoá chưa thật phong phú Trong quá trình sưu tầm và xử lý cácnguồn tài liệu chúng tôi thấy có một số tác phẩm có liên quan để thực hiện đề

tài là: các bộ sách được biên soạn dưới thời nhà Nguyễn như “Đại Nam thực lục chính biên”, “Đại Nam nhất thống chí”, có một số ghi chép về quá trình

xây dựng, tu sửa Hạc Thành, những chuyến bắc tuần của các hoàng đế thờiNguyễn, các vị tổng đốc, tổng trấn ở Thanh Hoá mà không cho biết hoạtđộng kinh tế cũng như tình hình dân cư, những sinh hoạt văn hoá trên địa bàn

Trang 3

thành phố Thanh Hoá Đây là những tài liệu đáng tin cậy song việc ghi chépchưa đầy đủ về tình hình phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, dân cư trên địabàn thành phố Thanh Hoá suốt thế kỷ XIX là một trở ngại lớn trong quá trìnhkhảo sát, nghiên cứu đề tài.

Vào đầu thế kỷ XX, có công trình nghiên cứu của các tác giả người Pháp

là: La province de Thanh Hoa (H LeBreton, Hà Nội, LaRevue Indochinose 1918)[68]; Le Thanh Hoa (Charles Robequain 1918)[66] Trong các tác phẩmnày có đề cập ít nhiều đến tình hình phát triển của thành phố Thanh Hoá.Ngoài ra một số tác giả người Pháp và người Việt cũng có một số bài

viết ngắn đăng trên các tờ báo như “Thanh Nghệ Tĩnh Tân Văn”[62], có ít

nhiều tư liệu liên quan đến tình hình kinh tế, đời sống xã hội trên địa bànthành phố Thanh Hoá Song nguồn tư liệu ít ỏi đó đến nay đã thất thoát nhiều,gây không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu về Thành phố Thanh Hoá

Năm 1990, nhà xuất bản Thanh Hoá cho ra đời cuốn: Thành phố Thanh Hoá - tập I của các tác giả Đinh Xuân Lâm, Lê Đức Nghi [43] nhưng nói rất ít

về tình hình kinh tế, văn hoá - xã hội diễn ra trên địa bàn thành phố, mà chủyếu nói về phong trào cách mạng của nhân dân Thanh Hoá trong lịch sử

Năm 1994, nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội đã xuất bản cuốn: Lịch

sử Thanh Hoá - tập I, có đề cập đến thành phố Thanh Hoá nhưng chỉ nói về

phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố cũng như nhân dân cả tỉnh từđầu công nguyên đến thế kỷ XV

Năm 1999 UBND thành phố Thanh Hoá, NXB Văn hoá - Thông tin cho

ra mắt bạn đọc cuốn “Địa chí thành phố Thanh Hoá”[28] phần thứ nhất có

nói đến sự hình thành và phát triển của đô thị - tỉnh lỵ Thanh Hoá nhưng chỉdừng lại ở những nét tổng quan

Năm 2000 Tỉnh uỷ, HĐND,UBND tỉnh Thanh Hoá cho ra mắt cuốn Địachí Thanh Hoá tập I (phần địa lý, lịch sử) NXB Văn hoá thông tin ấn hành cónói đến tình hình phát triển của thành phố Thanh Hoá từ khi ra đời đến nay,song mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát

Trang 4

Năm 2010, để kỷ niệm 45 năm chiến thắng Hàm Rồng 3 - 4/4/1965 -> 3

- 4/4/2010, Chi hội Khoa học lịch sử thành phố Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá

đã xuất bản cuốn “Thành phố Thanh Hoá xưa và nay”[17] cũng có một số bàiviết đề cập đến sự hình thành và phát triển của thành phố Thanh Hoá

Trên cơ sở kế thừa thành quả của những tác giả và các nhóm biên soạn đitrước cả về nội dung và phương pháp, chúng tôi cố gắng tìm hiểu chi tiết về

sự chuyển biến của thành phố Thanh Hoá trong hai lĩnh vực kinh tế và dân cưgiai đoạn 1899 - 1945 với sự cố gắng lớn nhất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Luận văn xác định đối tượng cần tập trung nghiên cứu là sự chuyểnbiến của thành phố Thanh Hoá giai đoạn 1899 - 1945 với tiến trình phát triểntrong các lĩnh vực kinh tế và dân cư

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngày 12/7/1899 vua Thành Thái kí đạo dụ thành lập 6 trung tâm đô thị ở

Trung Kì là: Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn, Phan Thiết

Ngày 30-8-1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký Nghị địnhchuẩn y Đạo Dụ của vua Thành Thái Trung tâm đô thị Thanh Hoá đượcthành lập trong bối cảnh đó

Đề tài tập trung nghiên cứu chuyển biến về kinh tế và dân cư ở thành phốThanh Hoá từ khi thành lập (1899) đến cách mạng tháng Tám năm 1945.Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp luận nghiên cứu là sử học Mác xit

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phươngpháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra còn sử dụng phương phápnghiên cứu liên ngành, phương pháp phỏng vấn, điều tra điền dã, thống kê,phân tích, tổng hợp,

Trang 5

5 Đóng góp của luận văn

- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống quá trìnhchuyển biến về kinh tế và dân cư ở đô thị Thanh Hoá từ năm 1899 đến cáchmạng Tháng Tám năm 1945

- Thông qua việc nghiên cứu giải quyết các nội dung mà đề tài đặt ra, chúngtôi chỉ rõ những đặc điểm chung và riêng về kinh tế và dân cư ở đô thị ThanhHoá so với một số đô thị khác ở Trung Kì trong khoảng thời gian đề tài xác định

- Đề tài chỉ rõ những hạn chế của quá trình đầu tư phát triển kinh tế ở đôthị Thanh Hoá từ 1899 đến năm 1945 của tư bản Pháp

- Luận văn cũng chỉ rõ những tác động của kinh tế đối với các tầng lớp,giai cấp ở đô thị Thanh Hoá và có đề cập ít nhiều đến các phong trào yêunước diễn ra trên địa bàn thành phố từ cuối thế kỷ XIX đến cách mạng ThángTám năm 1945

- Luận văn còn là một tập hợp các tư liệu giúp cho các nhà nghiên cứukhi tìm hiểu thành phố Thanh Hoá về sự chuyển biến trong lĩnh vực kinh tế vàdân cư trước ảnh hưởng của tư bản Pháp

- Là tài liệu biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương cho các trườngTHCS, THPT, Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Thanh Hoá và tỉnhThanh Hoá

Trang 6

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ, DÂN CƯ

Ở ĐÔ THỊ THANH HOÁ TRƯỚC NĂM 1899

1.1 VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÔ THỊ THANH HOÁ TỪ NĂM 1804 ĐẾN NĂM 1899

Thành phố Thanh Hoá được thành lập theo nghị định của toàn quyềnĐông Dương ngày 31 / 05 / 1929 dựa trên nên tảng của trấn lỵ Thanh Hoáthời Nguyễn (1804 - 1884), đô thị Thanh Hoá (1899) bởi Nghị định của toànquyền Đông Dương Paul Dome Phạm vi của thành phố Thanh Hoá ngày nayvốn là một trung tâm phát triển của vùng đất Cửu Chân thuộc non nước ViệtNam thời các vua Hùng, có toạ độ địa lý là 19°47´ vĩ độ Bắc và 108°45 độkinh Đông Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Đông Sơn, phía Bắc giáp huyệnThiệu Hoá, phía Đông Bắc giáp huyện Hoằng Hoá và ngăn cách bởi con sông

Mã, phía Đông và Nam giáp huyện Quảng Xương

Thành phố Thanh Hoá cách Hà Nội 160 km về phía Bắc, cách bờ biểnSầm Sơn 16 km về phía Đông và cách biên giới Việt - Lào qua cửa khẩu NaMèo (thuộc địa phận huyện Quan Sơn) 217 km về phía Tây

Thành phố Thanh Hoá có diện tích tự nhiên là 5.858,64 ha trong đó đấtnội thành là 2.282,00 ha, đất ngoại thành là 3.576,64 ha Về đất đai có cả gốcđất cổ như vùng Đại Khối (xã Đông Cương); làng Đông Sơn (phường HàmRồng) Còn lại phần lớn là vùng đất mới do phù sa của dòng sông Lễ (sôngHải Hán), sông Mã, sông Bồn Giang (một nhánh của sông Chu) tạo thành.Làng Đông Sơn trong thành phố là nơi phát lộ một di chỉ văn minh đồ đồngrực rỡ thời ấy, vì thế tên Đông Sơn đã được chọn đặt cho một bộ phận củanền văn minh góp phần đánh dấu một bước phát triển của nhân loại ở ViễnĐông và khu vực Đông Nam Á, từ đó thế giới biết đến thành phố - tỉnh lỵThanh Hoá chính là nhờ danh dự Văn hoá Đông Sơn vậy

Trang 7

Địa thế thành phố Thanh Hoá cũng như địa thế tỉnh Thanh Hoá có nhữngnét đặc trưng về phương diện sơn thuỷ: một là các núi cao, sông sâu xen lẫnvới đồng bằng thẳng ra biển, hai là các ngả giao thông lớn và cơ bản xuyênqua, ba là có hình dáng kỳ thú - gần giống như một thung lũng nhỏ, ba phíaBắc - Tây - Nam đều có núi: Phía Nam có núi Hổ và núi Rồng, phía Tây cónúi Phượng, phía Tây Bắc có núi Voi, đặc sắc nhất là phía Bắc lại có núi Rồngnữa nhấp nhô uốn khúc há miệng phun hòn ngọc lửa bên bờ sông Mã trongxanh.

Thành phố Thanh Hoá thực sự là đầu mối giao thông thuận tiện cả đườngthuỷ và đường bộ Từ thành phố Thanh Hoá đi đến các tỉnh trong nước, cáchuyện trong tỉnh, hay đi nước ngoài đều rất dễ dàng Về đường bộ: từ thànhphố dọc theo quốc lộ 1A sẽ đến được các trung tâm lớn của cả nước như LạngSơn, Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh

Đi các tỉnh Sơn La - Hoà Bình, đi các huyện miền núi của Nghệ An cũng từthành phố có đường ôtô đi sang Sầm Nưa - Thủ phủ của tỉnh Hủa Phăn (Lào)

- Đối với đường thuỷ: Do có nhiều sông lớn nên giao thông đường sông

từ thành phố đi các tỉnh khác cũng rất thuận tiện.Theo dòng sông Mã có thểngược lên các vùng núi phía Bắc.Từ cảng Lễ Môn có thể đi bằng đường biểntới các cảng khác trong tỉnh, trong nước và trên thế giới

- Về khí hậu: thành phố Thanh Hoá mang cả những đặc điểm khí hậu

Bắc Bộ là có mùa đông ngắn, lạnh và khô Các ngày đầu Xuân ẩm ướt, thiếunắng do mưa phùn và sương mù kéo dài, thành phố Thanh Hoá mang cảnhững nét khí hậu riêng biệt của Trung bộ, mùa mưa muộn hơn các nơi khác

và bão muộn hơn cả Bắc Bộ, có những ngày nắng nóng do gió Phơn Tây Namthổi

- Xét về mặt lịch sử: vào khoảng thế kỷ XVIII khi chế độ phong kiến

Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và toàn diện, tất cả nhữngmâu thuẫn bộc lộ gay gắt và bùng nổ quyết liệt Bão táp chiến tranh nông dânlan tràn và vươn tới đỉnh cao nhất với phong trào Tây Sơn rợp bóng cờ đào

Trang 8

dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ Các chính quyềnthống trị cả Lê, Trịnh, Nguyễn nối tiếp nhau bị lật đổ Các kẻ thù từ ngoài tới,quân Xiêm bị tiêu diệt; năm 1788 Quang Trung kéo đại quân ra Bắc thực hiệntrận quyết chiến chiến lược tiêu diệt quân Thanh đều có ghé lại Nghệ An,Thanh Hoá để tuyển mộ thêm quân lính và thu nhập quân lương Tại ThanhHoá, Quang Trung dừng chân ở làng Hạc làm lễ thệ sư, hạ quyết tâm tiêu diệtquân Thanh xâm lược Cảm kích trước ý chí quyết thắng của nhân dân ThanhHoá, vua Quang Trung đã tặng chữ Thọ để ghép với chữ Hạc thành tên làngThọ Hạc Qua khảo sát chúng tôi thấy hiện còn lại hai địa danh là Bãi Dinh -nơi dựng trướng soái trên đường hành quân và bãi Tàu Voi - nơi tập kết voichiến ngày nay là khu vực dân cư phố Lợi I và Lợi II thôn Thọ Hạc phườngĐông Thọ.

Cuộc kháng chiến kết thúc năm 1789, Quang Trung quan tâm hàng đầutới công cuộc xây dựng đất nước, đưa xã hội tiến lên Về tổ chức hành chính,đời Tây Sơn lấy ngoại trấn Thanh Hoa lệ thuộc Bắc thành Trên thực tế vuaQuang Trung không có ý chuyển trấn lỵ từ Dương Xá về Thọ Hạc, trấn thành

cũ ở bãi sông xã Dương Xá huyện Đông Sơn, từ thời nhà Lê tới Tây Sơn trấnthành ở đây

Như vậy theo những cứ liệu trên chúng ta có thể khẳng định đến cuối thế

kỷ XVIII, lỵ sở Thanh Hoá vẫn đóng ở xã Dương Xá còn Thọ Hạc mới chỉ làmột tổng với chức năng là đồn binh trấn thủ nhằm bảo vệ cho lỵ sở ThanhHoá mà thôi

Ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấyniên hiệu là Gia Long, chính thức xác lập quyền thống trị của dòng họ Nguyễntrên phạm vi toàn lãnh thổ nước ta: Bao gồm cả phần đất “Đàng ngoài” và

“Đàng Trong”, đó là chưa kể gần một triệu km² hải phận kéo dài từ Móng Cáiđến Hà Tiên Kế thừa kinh nghiệm giao bang của các vương triều quân chủtrước đó, năm 1803 vua Gia Long cử phái đoàn bộ do Lê Quang Định dẫn đầusang Trung Quốc xin cầu phong và chấp nhận sự thần phục đối với nhà

Trang 9

Thanh Năm 1804, vua Gia Long đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam Nhưngđến năm 1811, trước sự phản ứng của nhân dân, Gia Long lại đặt quốc hiệunước ta là Đại Việt Đến năm 1833, vua Minh Mạng lại đổi quốc hiệu nước ta

là Đại Nam

Khác với các vương triều quân chủ ở nước ta như Lý - Trần - Lê, GiaLong quyết định chọn Phú Xuân (Huế) làm Kinh đô của cả nước Thời GiaLong thì cả nước ta có 29 Doanh trấn, Kinh đô Phú Xuân còn có tên gọi là

“Kinh sư” Khi mới lên ngôi, vua Gia Long giao cho Nguyễn Văn Thành làmTổng trấn Bắc Thành, trông coi 11 trấn thành mặt Bắc Nguyễn Văn Nhân(sau là Lê Văn Duyệt) làm tổng trấn thành Gia Định, cai quản 5 trấn ở mặtNam Nhằm thâu tóm mọi quyền lực vào tay vua, Gia Long đặt ra lệ “Tứ Bất”:không đặt chức Tể Tướng, không phong Hoàng Hậu, không lấy Trạng nguyên,không phong tước Vương cho người ngoài Hoàng tộc Các công thần có cônggiúp Nguyễn Ánh đánh dẹp Tây Sơn và lên ngôi vua chỉ được phong chứcTam Thái,Tam Thiếu

Với tư cách là vua của trăm họ, năm 1803 Gia Long thực hiện chuyếnBắc tuần lần thứ nhất với hai mục đích là nhận sắc phong của nhà Thanh tạiKinh thành Thăng Long và ổn định tình hình Bắc Hà vốn là đất cũ của nhà Lê.Trong chuyến Bắc tuần ấy,vua Gia Long đã tiến hành nhiều việc trong đó cóviệc dời trấn thành Thanh Hoá và trấn thành Nghệ An đến vùng đất mới

Tháng 5 năm Giáp Tý, triều Gia Long năm thứ 3 (1804) đã quyết địnhdời trấn thành Thanh Hoa và Nghệ An đi nơi khác Trước khi vua Bắc tuần, xagiá qua lỵ sở hai trấn lỵ ấy (lỵ sở Thanh Hoa cũ ở xã Dương Xá huyện ĐôngSơn, lỵ sở Nghệ An cũ ở xã Dũng Quyết huyện Châu Lộc) bàn muốn dời đinơi khác, bèn trải xem địa thế định lấy Thọ Hạc (tên xã thuộc huyện ĐôngSơn) làm trấn lỵ Thanh Hoa; An Trường (tên xã thuộc huyện Chân Lộc) làmtrấn lỵ Nghệ An, đến nay bắt dân xây đắp Tháng 05 năm Giáp Tý (1804), vuaGia Long xuống chiếu cho tả quân Lê Văn Duyệt đốc suất việc xây thành đắpluỹ để chuyển dời lỵ sở Thanh Hoa từ Dương Xá về Thọ Hạc [16, số1 tr.3]

Trang 10

Trấn thành Thanh Hoa thời Gia Long (1802 - 1820) chủ yếu được xâybằng đất, nhà cửa trong thành dựng tạm bằng tranh tre nứa lá, quy mô, diệntích của trấn thành Thanh Hoa không có số liệu cụ thể Việc chuyển dời lỵ

sở Thanh Hoa từ Dương Xá về Thọ Hạc huyện Đông Sơn mà các bộ sử sáchnhà Nguyễn ghi chép phù hợp với khảo sát của H Le Breton trong cuốn “Laprovince de Thanh Hoa - La Reve Indochinoise”[68] Từ các tài liệu trên kết

hợp với những nguồn tài liệu điền giã lịch sử cho phép ta khẳng định: Từ tháng 5 năm Giáp Tý - Gia Long thứ 3 (1804) trấn Thanh Hoa chính thức được chuyển dời từ Dương Xá về Thọ Hạc huyện Đông Sơn Để thành lập

trấn lỵ Thanh Hoa mới, nhà Nguyễn đã cắt đất của làng Thọ Hạc, Phú Cốc,Mật Sơn chia thành hai giáp trực thuộc trấn lỵ là giáp Đông Phố và giáp NamPhố Cũng năm này, vua Gia Long cho xây dựng thành Thanh Hoa theo kiểu

Vô băng (Vauban) của Pháp Thành được xây dựng trên đất của làng Thọ Hạcnên còn có tên là Hạc Thành, “Thành tỉnh Thanh Hoá: chu vi 630 trượng, cao

1 trượng, mở 4 cửa Hào rộng 8 trượng 8 thước, sâu 5 thước 6 tấc” Đến nămMinh Mệnh thứ 9 (1828) mới được xây bằng gạch và đá [43tr 25]

Sách “Thành Hạc xưa và nay”số I [16tr.6] cho biết thành Thanh Hoagồm 4 cửa: cửa Tiền ở phía Nam, cửa Hậu ở phía Bắc, cửa Tả ở phía ĐôngNam, cửa Hữu ở phía Tây Nam Về mặt phong thuỷ: Trước mặt cửa Tiền, xa

xa là dãy núi Mật, hình thế hổ nằm và dãy núi Long chạy dài, hổ và rồng nằmchầu Cửa Tiền quanh năm đóng kín không người qua lại, chỉ khi nào vua ramới mở Cửa có người qua lại náo nhiệt nhất là cửa Tả (ở đường phố cửa Tảngày nay) Ngày xưa cửa Tả được mở suốt ngày cho đến 10 giờ đêm mớiđóng 2 cách cửa lớn, nhưng vẫn mở 2 cánh con cho nhân dân ra vào, từ 12 giờđêm trở đi mới đóng nốt 2 cánh cửa con Cửa Hậu và cửa Hữu vẫn có người ravào nhưng ít hơn

Ngoài chức năng về quân sự, thành Thanh Hoa còn là trung tâm chính trị,kinh tế của trấn, tỉnh, do đó các công trình phục vụ cho bộ máy cai trị cũngđược khẩn trương xây dựng Nội thành gồm một toà công đường dành cho

Trang 11

quan Tổng đốc gồm 3 gian, 1 chái, nhà bếp 2 gian, 2 chái Một toà cho Bốchính, một toà cho Án sát gồm 3 gian, 2 chái, nhà bếp 1 gian,2 chái Một toàcho Lãnh binh 3 gian, 2 chái Một toà cho Ty Phiên, một toà cho Ty Niết đều

5 gian, 2 chái.Trước mặt có cột cờ cao vời vợi, sau lưng có trại lính và nhàgiam Ngoài ra, thành còn được xây dựng hành cung là nơi để các vua nhàNguyễn ngự khi về thăm quê hoặc các chuyến tuần du qua đây Hành cungcòn là nơi để tôn vinh vua trong những dịp long trọng mà Ngài vắng mặt như:Tết nguyên đán, sinh nhật nhà vua, ngày mùng một tháng chạp là ngày phátlịch mới Câu ca dao xuất hiện sau ngày xây dựng trấn thành nhằm khẳng định

ở thôn Kiều Đại, xã Bố Vệ Văn Miếu, miếu thờ Thành Hoàng, Đàn Xã Tắc,Đàn Tiên Nông cũng lần lượt được xây dựng

Như vậy, với các cứ liệu trình bày trên cho phép ta khẳng định vua GiaLong (1802 - 1820) đã biến vùng đất Thọ Hạc - huyện Đông Sơn thành trấnthành Thanh Hoa từ năm 1804 chính thức mở ra sự phát triển cho tỉnh lỵThanh Hoa.Từ đó Thanh Hoa là một trong 29 doanh, trấn, tỉnh thành của nước

ta lúc bấy giờ

Đến thời kỳ trị vì của vua Minh Mạng, để thâu tóm quyền lực nhà vuatiến hành cuộc cải cách hành chính lớn trên cả nước Năm 1831, Minh Mạngxoá bỏ tên gọi và đơn vị hành chính cấp trấn từ Phú Xuân ra Bắc, thành lập 18

đơn vị hành chính mới với tên gọi là “tỉnh” Cũng trong năm 1831, vua Minh Mạng lấy riêng nội trấn Thanh Hoa đặt làm tỉnh Thanh Hoa.

Trang 12

Năm 1843 vua Thiệu Trị đổi tên Thanh Hoa thành Thanh Hoá, tên tỉnh

Thanh Hoá ra đời từ đó và tồn tại đến ngày nay.Theo sách “Đất nước Việt

Sở dĩ vua Thiệu Trị đổi tên Thanh Hoa thành Thanh Hoá bởi vì chữ Hoa trùngvới tên vợ vua Cũng vì lẽ đó mà các phủ và huyện Quảng Hoa, Thiệu Hoa,

Mỹ Hoa đều đổi thành Quảng Hoá, Thiệu Hoá, Mỹ Hoá (nay là đất huyệnHoằng Hoá) Tuy vậy việc thay đổi tên gọi từ trấn thành sang tỉnh thànhkhông làm mất đi chức năng là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoácủa tỉnh lỵ Thanh Hoá đối với xứ Thanh

Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, đến năm 1897chúng đã hoàn thành quá trình xâm lược và thiết lập Liên bang Đông Dươngbao gồm 5 xứ với 5 thể chế khác nhau đặt dưới sự điều hành trực tiếp củatoàn quyền Đông Dương So với các tỉnh khác trong cả nước thì thực dânPháp đặt chân tới Thanh Hoá khá muộn Với các hiệp ước Hác măng (1883)Patơ nốt (1884) đã xác lập quyền đô hộ lâu dài của Pháp trên đất nước ta Haitỉnh: Ninh Bình ở phía Bắc, Nghệ An ở phía Nam đã bị gót giày đinh củaquân Pháp giày xéo lên nhiều vùng nhưng Thanh Hoá vẫn chưa thấy quânPháp tới Mãi sau sự biến tháng 7 năm 1885 ở kinh thành Huế, quân Pháp mớikéo vào Thanh Hoá Binh đoàn Trung Kỳ được thành lập ngoài Bắc do thiếu

tá Mi - nhô (Mignot) chỉ huy được lệnh rời Ninh Bình ngày 22 tháng 11 trênđường vào Huế đã dừng lại ở Thanh Hoá

Phải nói rằng trước khi quân Pháp đặt chân tới thì nhân dân Thanh Hoávới truyền thống yêu nước mạnh mẽ và ý thức cảnh giác cao độ đã chuẩn bịlực lượng chiến đấu, Tôn Thất Thuyết sau này trở thành thủ lĩnh của phongtrào Cần Vương - vốn có nhiều gắn bó mật thiết với Thanh Hoá khi về dưỡngbệnh tại tỉnh lỵ ông đã chủ động bắt liên lạc với những người yêu nước và có kếhoạch xây dựng cơ sở kháng chiến trong tỉnh Trong chiếu Cần Vương lần thứ2,Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi tuyên bố cho quan lại, binh

sĩ và dân chúng cả nước biết rõ “sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hoá “[43tr 32].

Trang 13

Trước nguy cơ thực dân Pháp xâm lược, bọn quan lại đầu tỉnh Thanh Hoá

đã ngấm ngầm thực hiện những âm mưu đen tối, hành động ô nhục có hại chophong trào kháng chiến của nhân dân Ngay sau khi nghe tin kinh thành Huếthất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy ra Bắc, Tổng đốc Nguyễn Thuật và Án sátVương Duy Trinh đã lộ rõ bộ mặt phản phúc đầu hàng, chúng ngày đêm mongchờ quân Pháp kéo tới để nhảy ra phục vụ Chúng ngăn cản không để cho Bốchánh Nguyễn Khoa Luận tiến hành những chuẩn bị cần thiết để chống giặcngoại xâm như dàn quân và súng ống trên mặt thành tỉnh, đắp ụ và mai phụcquân trên con đường từ Hàm Rồng vào tỉnh lỵ Chính vì vậy mà quân Phápkhông gặp trở ngại gì lớn trên đường hành quân từ Ninh Bình vào, đến ngày25- 11-1885 thì tới tỉnh lỵ Thanh Hoá Đây là lần đầu tiên nhân dân tỉnhThanh Hoá trực tiếp đụng độ với đội quân viễn chinh Pháp

Việc chiếm thành Thanh Hoá thì dễ, nhưng chiếm được cả xứ Thanh thìnằm ngoài sức tưởng tượng của Pháp Bởi lúc này phong trào yêu nước chốngPháp đang phát triển mạnh mẽ khắp mọi nơi từ tỉnh lỵ cho đến các địa phươngtrong tỉnh Để đối phó lại, binh đoàn Mi -nhô đã dừng lại ở tỉnh lỵ Thanh Hoá

10 ngày làm bàn đạp huy động các đại quân tuần tiễu và bình định thọc sâu vềcác phủ - huyện nhằm tiêu diệt lực lược của nghĩa quân Trong cuộc hànhquân này, Pháp đã đẩy mạnh khủng bố, đàn áp trên quy mô lớn hòng bóp chếtphong trào cách mạng Thanh Hoá Nhiều làng xóm bị triệt hạ, nhiều chỉ huynghĩa quân và nhân dân các địa phương bị bắt bớ, chém giết Đến ngày 5-12-

1885 sau khi đã để lại Thanh Hoá một lực lượng chiếm đóng do tên Trung táBoa - le - vơ (Boileve) cầm đầu, có nhiệm vụ tiếp tục cuộc bình định

Bất chấp sự khủng bố đàn áp dã man của kẻ thù, nhân dân Thanh Hoávẫn kiên quyết đánh giặc với nhiều cuộc nổi dậy có tiếng vang lớn như: Vụtập kích thành Thanh Hoá đêm 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886; khởi nghĩa

Ba Đình, Hùng Lĩnh Nhưng với ưu thế về quân sự, kinh tế và được tăng việnbinh, giặc Pháp dìm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân tỉnh Thanh Hoá trong

Trang 14

biển máu Đến cuối năm 1886 đầu năm 1887 Pháp hoàn toàn đặt ách thống trịnhân dân Thanh Hoá nói chung và tỉnh lỵ Thanh Hoá nói riêng.

Như vậy, việc Pháp chiếm tỉnh lỵ Thanh Hoá (25/11/1885) chính thức kếtthúc tám thập kỷ trực tiếp thống trị của nhà Nguyễn ở xứ Thanh Bởi theo hiệpước Pa tơ nốt (1884) vùng đất từ Bình Thuận đến Thanh Hoá là đất của Namtriều phong kiến song đó chỉ là điều khoản ghi trong hiệp ước còn trong thực

tế toà khâm sứ Trung kì, công sứ các tỉnh đã thâu tóm mọi quyền lực

Quá trình thực thi chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất đang diễn

ra quyết liệt và toàn diện trên bán đảo Đông Dương nói chung và trong nướcnói riêng Vào những năm cuối thế kỷ XIX thì một sự kiện lịch sử khá đặc biệt

đã diễn ra đó là: ngày 20 - 10 -1898 các đại thần trong Cơ mật viện triều đìnhHuế là Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thuật, Trương Như Cương,Hoàng Vĩ đã có bản tấu trình lên vua Thành Thái đề nghị nhà vua thành lậpcác trung tâm thành phố (hiểu theo nghĩa là trung tâm đô thị) ở Trung Kì Lầnđầu tiên trong lịch sử dân tộc, các vị đại thần trong Cơ mật viện triều đình Huếtấu trình đề nghị thành lập các trung tâm đô thị (centre urbain), nhưng họ cũngchỉ dè dặt đề nghị nhà vua lấy Vinh và Huế để thực thi đề xuất của họ Vượt

quá sự mong chờ của các đại thần trong Cơ mật viện, ngày 12-7-1899 vua Thành Thái ký đạo dụ thành lập cùng một lúc 6 trung tâm đô thị ở Trung kỳ là: Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An (Faifo), Quy Nhơn, Phan Thiết.

Dưới bàn tay đạo diễn của quan thầy Pháp, chính Cơ mật viện triều đìnhHuế và vua Thành Thái đã thành lập ra các trung tâm đô thị ở Trung Kì vàonăm cuối của thế kỷ XIX Khâm sứ Trung Kì Boulloche chuẩn y nhanh chóng

đề nghị của Cơ mật viện Triều đình Huế và Đạo Dụ của vua Thành Thái Tiếp

đó, ngày 30 -8 - 1899 toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) đã

ký nghị định chuẩn y đạo Dụ của vua Thành Thái về việc thành lập 6 trungtâm đô thị (centre urbain) ở Trung Kì Như vậy đô thị Thanh Hoá đã chínhthức ra đời vào năm cuối cùng trước khi thế kỷ XIX kết thúc cùng với 5 trungtâm đô thị khác Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao phải đến cuối thế kỷ XIX Cơ

Trang 15

mật viện Triều đình Huế và vua Thành Thái mới nhìn thấy vấn đề cấp thiếtcủa việc thành lập các trung tâm đô thị? Tại sao trước đó vua Tự Đức lại kiênquyết chối từ các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ và các nhà canh tânkhác?

Tuy vậy quyết định thành lập các trung tâm đô thị ở Trung Kì phải đượcKhâm sứ Trung Kì và Toàn quyền Đông Dương quyết định Ngày 27 - 7-

1899, Toàn quyền Đông Dương PônĐume buộc vua Thành Thái phải ký đạo

dụ bãi bỏ Hội đồng phụ chính và Hội đồng Thượng thư Giúp việc cho vua chỉcòn Hội đồng Cơ mật viện bao gồm 6 bộ: bộ Binh, bộ Hình, bộ Lễ, bộ Lại, bộ

Hộ và bộ Học cùng với phủ Tôn Nhân Khâm sứ Trung Kì có quyền chủ toạ

cả Hội đồng Cơ mật viện và phủ Tôn Nhân Thậm chí Khâm sứ Trung Kìcòn có quyền chuẩn y việc bổ dụng quan lại trong bộ máy Triều đình Huế từChánh nhất phẩm đến Tòng tam phẩn và trực tiếp bổ dụng quan lại từ tứ phẩmtrở xuống

Đây chính là nguyên nhân sâu xa mà quyết định thành lập các trung tâm đôthị ở Trung Kì phải được Khâm sứ Trung Kì và Toàn quyền Đông Dương quyếtđịnh Mặc dù vậy trên danh nghĩa, vua thành Thái vẫn là người điều hành mọicông việc của triều đình nhà Nguyễn Điều này được thể hiện rõ ngay trong nộidung của đạo dụ mà vua Thành Thái ban hành ngày 12 - 7- 1899:

“Trẫm, Đại Hoàng đế An Nam Chiếu theo những kết quả tốt đẹp của những biện pháp mà Cơ mật viện

đã tấu trình vào ngày 6 tháng 9 năm Thành Thái 10 (tức 20 - 10 - 1898), về vấn đề thành lập các đô thị ở An Nam.

Nay Trẫm bổ khuyết các biện pháp sơ bộ bằng một tổ chức hẳn hoi Tổ chức này được áp dụng ở các trung tâm đô thị là: Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội

An, Quy Nhơn, Phan Thiết Mỗi trung tâm có một nguồn ngân sách riêng Giới hạn của từng trung tâm sẽ được xác định bởi quyết định của Trung Kì khâm sứ đại thần.

Trang 16

Nguồn thu thuộc ngân sách các trung tâm đô thị gồm có tất cả các nguồn thu của các địa phương mà lâu nay bị lãng quên ở các đô thị Thuế đinh, thuế điền tiếp tục nhập cho ngân sách trung kì Các nguồn thu chính ở địa phương được thực thu tư thuế dịch vụ nạo vét bùn lầy, hầm vệ sinh, thuế lò mổ, thuế lãnh trưng xe kéo tay và các loại xe cho thuê khác, thuế đồ hàng mã, thuế chợ

và tất cả các nguồn thu bất kì ở địa phương với sự chấp thuận của Trung Kì khâm sứ đại thần và Cơ mật viện.Về sau, nếu thật cần thiết thì thu thêm thuế nhà cửa, thuế môn bài, và các ngành thương mại chính Nguồn chi ngân sách thì chỉ bao gồm các khoản như: thắp sáng đèn đường, an ninh trật tự, lục lộ giao thông, vệ sinh đô thị, giáo dục cộng đồng, cứu tế xã hội, bảo quản các bãi đổ rác và tất cả những công việc hữu ích cho các trung tâm đô thị Việc xây dựng và bảo quản các công sở cùng đền miếu cũng do ngân sách các trung tâm đô thị gánh vác Nguồn ngân sách của các trung tâm đô thị đựơc hoạch định một cách minh bạch những khoản thu chi: kế hoạch ngân sách sẽ được khởi thảo bởi công sứ các tỉnh có liên quan đến các trung tâm đô thị với sự giúp đỡ ý kiến của quan lại trong tỉnh và thuộc cấp, truớc ngày 01 tháng 12 dương lịch hàng năm với sự nhất trí của quan khâm sứ Trung Kì Khi điều chỉnh việc thực thi hợp lý của Cơ mật viện Ngân sách cần những bổ sung cần thiết thì người có thẩm quyền trong trường hợp đó, không ai ngoài quan khâm sứ Trung Kì”[68]

Đạo Dụ này được ban hành vào ngày 12 -7 - 1899 (tức ngày 5- 6 -1899

âm lịch), chỉ sau một ngày vào ngày 13 - 7- 1899 khâm sứ Trung Kì đã phêduyệt đạo dụ của vua Thành Thái Rõ ràng, theo những nội dung của đạo dụthì đô thị Thanh Hoá và 5 đô thị khác ở Trung Kì được tổ chức và quản lýhoàn toàn khác trước

Như vậy trải qua 95 năm vận động và phát triển (1804 - 1899), trung tâm

đô thị Thanh Hoá đã chính thức được thành lập Tuy nhiên, đây là trung tâm

đô thị hiểu theo nghĩa hiện đại và có thể nói là sản phẩm của chương trìnhkhai thác thuộc địa lần thứ nhất Còn trước đó, đô thị - tỉnh lỵ Thanh Hoá đã

Trang 17

từng tồn tại và phát triển trong nhiều thập kỷ ở thế kỷ XIX Song đó là dướichế độ quân chủ, khác xa với đô thị Thanh Hoá do vua Thành Thái và khâm

sứ Trung Kì, toàn quyền Đông Dương thành lập năm 1899 Gần một trăm nămdưới triều Nguyễn, việc xây dựng đô thị tỉnh lỵ Thanh Hoá theo xu hướngnặng về phần “đô”, nhẹ về phần “thị “điều này cũng phản ánh rõ nét trong các

đô thị cổ Việt Nam Sự xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp cùng với việcban đạo dụ của vua Thành Thái có sự phê chuẩn của Khâm sứ Trung Kì ngày12/7/1899 đã tạo ra một sự chuyển biến lớn đối với đô thị tỉnh lỵ Thanh Hoá,bởi từ đây đô thị - tỉnh lỵ Thanh Hoá từ một đô thị - tỉnh lỵ thời quân chủ đãchuyển thành một đô thị (thị xã) dưới thời Pháp thuộc

1.2 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ

1.2.1 Nông nghiệp

Nói đến kinh tế của một đô thị là phải nói đến một nền kinh tế sản xuấthàng hoá và thương mại.Song đối với đối với tỉnh lỵ Thanh Hoá, do hoàncảnh và tính đặc thù của nó nên so với các tỉnh lỵ khác trong cả nước thì có

sự đặc biệt:

- Ruộng đất: Các công trình nghiên cứu về ruộng đất của các nhà nghiên

cứu sử học gần đây ở nước ta đã cho thấy vấn đề ruộng đất thời Nguyễn diễnbiến hết sức phức tạp Mỗi “Trấn “mỗi “Tỉnh”, mỗi huyện, thậm chí là từnglàng trong một xã, một tổng cũng có cách phân chia và sử dụng ruộng đấtkhác nhau Số ruộng đất của các làng xã trên thực tế lớn hơn với số ruộng đấtkhai báo để nộp thuế cho nhà nước Vấn đề ruộng đất thời Nguyễn đã đượccông bố trong hàng loạt công trình, ví dụ như tác phẩm “Tình hình ruộng đất,nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn”của Trương HữuQuýnh - Đỗ Bang - Vũ Minh Giang - Vũ Văn Quân [58] đã chứng minh điềuđó

Trước khi thành lập trấn thành Thanh Hoa cư dân sống chủ yếu bằngnghề nông nghiệp, những hình ảnh rất đỗi quen thuộc đã trở thành nét đặc

trưng của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam đó là hình ảnh “con Trâu đi

Trang 18

trước cái cày theo sau” Khi trấn lỵ được thành lập và được nâng cấp đổi

thành tỉnh lỵ, nền kinh tế chính vẫn là nông nghiệp bởi phần lớn đất đai củatỉnh lỵ cũng được khai thác theo kiểu truyền thống Dưới thời nhà Nguyễn đãtăng cường chính sách củng cố chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước dướihình thức ruộng đất công làng xã và chế độ quân điền Với Thanh Hoá tìnhhình ruộng đất cụ thể như sau:

Ruộng tịch điền: Là ruộng đất có tính chất lễ nghi khánh tiết, đồng thời

nhằm khuyến khích việc phát triển nông nghiệp Sau khi thực dân Pháp xâmlược nước ta, ruộng tịch điền không giảm xuống mà còn có chiều hướng tănglên, năm 1887 nhà Nguyễn quyết định tăng thêm ruộng tịch điền cho các tỉnhtrong đó nhiều nhất là Thanh Hoá với 36 mẫu 7 sào (đứng đầu 16 tỉnh ở BắcKỳ) Ngày nay ở Thành phố Thanh Hoá vẫn còn một khu phố mang tên TịchĐiền

Ruộng tự điền: Là loại ruộng đất Nhà nước ban cấp cho con cháu các

công thần có công khai quốc Việc ban cấp ruộng tự điền được thực hiện rảirác trong nhiều năm tập trung vào triều Gia Long và Minh Mệnh Ở ThanhHoá nói chung và tỉnh lỵ Thanh Hoá nói riêng dưới thời Nguyễn luôn đượchưởng đặc ân bởi nơi đây không chỉ là đất quý hương mà còn là đất phát tíchcủa nhà Lê, nhà Trịnh Ngay khi mới lên ngôi, Gia Long đã cấp cho con cháunhà Lê một vạn mẫu ruộng “tự điền” và một nghìn suất “tự đinh” để chi phícho việc đèn hương thờ cúng tổ tiên Con cháu họ Trịnh được cấp 500 mẫuruộng “tự điền” và miễn thuế thân suốt đời cho 247 suất đinh “để rõ là sự tăngcấp đặc biệt” với mục đích hạn chế đến mức tối đa sự chống đối của hai thếlực thù địch Lê - Trịnh Đúng là “đặc biệt” bởi con cháu họ Lê được hưởngvạn mẫu tự điền đó trong suốt 15 năm mãi đế năm 1816 mới phải rút xuốngcòn 101 mẫu những lại được cấp “phu giữ mộ 60 người” Còn 800 mẫu của

họ Trịnh vẫn cao hơn gấp nhiều lần so với tước vương, tước hầu của nhàNguyễn ban cấp [7tr 35-36]

Trang 19

Ruộng quân điền: Tháng 4 năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà vua “Định

lệ quân cấp công điền công thổ “[7tr.37] theo chế độ quân điền cho từng hạnghạng người Ngoài ra nhà Nguyễn còn ban hành nhiều chính sách khác như tôthuế, quan trại, dịch lệ ít nhiều đã mang lại hiệu quả trong việc quản lý đấtnước

Ruộng đất hoang luôn là vấn đề nóng bỏng đối với tình hình ruộng đất vàkinh tế nông nghiệp Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng trong suốtthế kỷ XIX Tại Tỉnh lỵ Thanh Hoá, tổng Thọ Hạc nằm ở lưu vực sông Mãthường có lũ lụt bất thường nhưng không được đắp đê chống lụt nên nhiềudiện tích đất đai thường xuyên bị ngập úng trong mùa mưa bão và được coi làruộng hoang Cư dân làng xã nhân đó tìm cách ẩn lậu giữa số “ruộnghoang”với số ruộng đất cần phải nộp thuế Tình trạng này khá phổ biến ở haibên tả và hữu ngạn sông Mã Hậu quả là các làng xã dọc sông Mã tìm cách ẩnlậu ruộng đất và coi đó là ruộng đất của làng, được dùng vào các việc côngcủa làng như: khuyến học, tế tự, lễ hội Ngoài lũ lụt thì việc Thọ Hạc đượcchọn làm trấn thành rồi tỉnh thành của tỉnh Thanh Hoá cũng tạo cơ hội để cáclàng xã ẩn lậu ruộng đất Bởi vì công cuộc xây thành đấp luỹ ở bốn thập kỷđầu thế kỷ XIX, việc mở rộng chợ tỉnh, việc chọn đất để xây dựng Văn Miếu,việc chuyển dời trường thi Hương Thanh Hoá cũng đã làm mất đi nhiềuruộng đất của các làng xã thuộc tổng Thọ Hạc và cũng là cơ hội để các làng

xã ẩn lậu ruộng đất công

Tình hình ruộng đất của tỉnh lỵ Thanh Hoá rất phức tạp, được sử dụngvào nhiều mục đích khác nhau.Ví dụ như ở thôn Phú Cốc tổng Thọ Hạc có

nhiều loại ruộng như: ruộng học điền - để khuyến khích việc học (số ruộng

này được dành cho học sinh đỗ nhất, nhị trường cày cấy, không phải nạp thuế

Khi đỗ cử nhân, tú tài, phó bảng, tiến sĩ được coi là ruộng tư); ruộng binh điền - thôn có 30 mẫu, mỗi người đi lính được thôn cho một mẫu ruộng để người nhà cày cấy, khi trở về thì giao lại cho thôn; ruộng áp trưởng - là ruộng

để bảo vệ từ đường, 3 mẫu ruộng được giao cho cư dân cày cấy để lo việc

Trang 20

cúng tế Ngoài ra thôn còn một mẫu ruộng thờ Văn Miếu, 4 mẫu ruộng dànhcho đền chùa

Như vậy, những sự kiện trên cho thấy tình hình ruộng đất công ở thônPhú Cốc tổng Thọ Hạc được sử dụng vào nhiều công việc khác nhau của làng

xã Số ruộng đất này chỉ phải nạp thuế “Làng xã” hoàn toàn không nằm trong

số ruộng đất phải nạp tô thuế cho nhà Nguyễn Đối chiếu các hương ước,khoán ước ở Thanh Hoá chúng tôi thấy tình hình sử dụng ruộng đất công củalàng xã Thanh Hoá mỗi nơi một khác, đa dạng, phức tạp mà trong giới hạn đềtài này chúng tôi không có điều kiện để trình bày một cách chi tiết

- Trong canh tác nông nghiệp: Ở một nước mà nông nghiệp trồng lúa

nước chiếm vị trí chủ đạo và nông dân là khối dân cư đông đảo nhất như ởnước ta, vấn đề nông nghiệp và nông dân luôn được chú trọng đặc biệt

Dưới thời nhà Nguyễn mặc dù công thương nghiệp với sự phồn vinh củacác đô thị, sự giao lưu giữa các vùng miền trong nước và ngoại thương phầnnào mở rộng thì nông nghiệp vẫn là nguồn sống của hơn 90% dân số Chính

vì lẽ đó mà các vua nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1884 đã quân tâm đến vấn đềnày bằng việc ban hành và thực thi một loạt các chính sách về ruộng đất, vềkhai hoang phục hoá, về thuỷ lợi Sự quan tâm của vương triều Nguyễn cótác dụng phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần cải thiện đờisống nhân dân

Trên đất nước Việt Nam đã có 65 giống lúa tẻ và 27 giống lúa nếp vớinhiều giống cho gạo trắng, thơm, được gieo trồng Ngoài những đặc điểmchung của nông nghiệp cả nước thì đặc điểm nông nghiệp Thanh Hoá đượcphản ánh như sau: “ làm ruộng thì nơi ở gần núi hoặc gần biển mỗi năm mộtmùa, cấy vào tháng 4, tháng 5, mùa thu thì gặt Ở đồng bằng mỗi năm 2 mùa,ruộng cao cấy vào tháng 6 gặt vào tháng 10, ruộng trũng cấy vào tháng chạpgặt vào tháng 5, lại có ruộng bãi sông cấy vào tháng 3, tháng 4, gặt vào tháng

7, tháng 8 gọi là lúa cạn”[7,tr.49]. Từ những ghi chép trên của sách Đại Namnhất thống chí, chúng ta thấy rằng nông nghiệp ở tỉnh lỵ nói riêng và trên đất

Trang 21

Thanh Hoá nói chung quanh năm đều có gieo trồng và thu hoạch, nhưng tậptrung vào 2 vụ chính là vụ mùa và vụ chiêm Lúa chiêm là các giống lúa cóthời gian sinh trưởng dài ngày, phải tới 6 tháng mới cho thu hoạch, năng suấtthấp hơn lúa mùa Trừ ruộng đất chiêm trũng chỉ cấy được một vụ lúa còn lạicác loại ruộng đất khác ngoài vụ lúa chính nông dân tỉnh lỵ còn có thể trồngthêm mầu như khoai lang, đậu, lạc, vừng, đất bồi ven sông Mã còn trồng ngô,trồng dâu nuôi tằm

Tỉnh lỵ Thanh Hoá là nơi “ruộng chiêm ít, ruộng mùa nhiều”các giốnglúa được người dân tỉnh lỵ lựa chọn kĩ lưỡng để gieo trồng cho phù hợp vớithổ nhưỡng, khí hậu Nhà bác học Lê Quý Đôn đã ghi lại được 27 giống lúamùa, 10 giống lúa chiêm và 27 giống lúa nếp được gieo trồng ở Đàng Ngoài.Chắc hẳn các giống lúa đó cũng được gieo trồng ở tỉnh lỵ Thanh Hoá ở thế kỷXIX và tiếp tục được nhân thêm

Về kỹ thuật canh tác đất trồng và kỹ thuật gieo trồng lúa nước của nôngdân Thanh Hoá đã khá thuần thục với việc cày bừa mà chủ yếu dựa vàonguồn sức kéo trâu bò Bộ nông cụ phong phú về chủng loại như các lưỡi càybằng gang, cuốc, thuổng, mai, liềm, hái được rèn bằng sắt Lưỡi cày gangvới chiếc cày chìa vôi truyền thống là công cụ cày đất quan trọng góp phầntăng năng suất gieo trồng Bừa có loại hình lược, hình bàn chông, răng bừabằng sắt vùng đất cát có thể thay bằng răng tre

Việc tưới tiêu mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đến trị thuỷ nhưngnhìn chung vẫn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và chủ yếu nông dân vẫn tự

tổ chức canh tác theo từng nhóm, hộ gia đình Do đó năng suất lúa bình quânchỉ đạt 50 - 80 kg/1sào

Việc chăn nuôi ở tỉnh lỵ Thanh Hoá dưới triều Nguyễn không trở thànhmột nghề riêng biệt, chuồng trại quy mô với nhưng trang trại lớn mà chỉ lànghề phụ hỗ trợ cho việc trồng cây lương thực

Như vậy, từ những phân tích trên cho phép chúng ta có thể khẳng định:nền kinh tế nông nghiệp ở Thanh Hoá nói chung và tỉnh lỵ Thanh Hoá nói

Trang 22

riêng trong suốt thế kỷ XIX không có sự thay đổi gì, vẫn là nền kinh tế nôngnghiệp truyền thống tự cấp, tự túc giống như các làng xã khác trên đất nướcViệt Nam lúc bấy giờ.

1.2.2 Tiểu thủ công nghiệp

Đặc điểm bao trùm nhất trong lịch sử thủ công nghiệp Việt Nam nóichung và thủ công nghiệp Thanh Hoá nói riêng ở thế kỷ XIX là sự kết hợpchặt chẽ giữa nông nghiệp với thủ công nghiệp ở các mức độ khác nhau Thủcông nghiệp luôn là ngành kinh tế quan trọng hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệpphát triển, gắn liền với đời sống của người nông dân

Đến đầu thời Nguyễn, tỉnh lỵ Thanh Hoá nằm vào một vùng trung tâmliền kề với các địa phương có ngành nghề thủ công truyền thống khá pháttriển Phía Tây Bắc tỉnh lỵ là Nhuệ Thôn (xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn)với nghề đục đá, phía Đông Bắc là làng Đức Thọ Vạn và làng Cốc Hạ nổitiếng với nghề làm gốm Cũng thuộc huyện Đông Sơn có nghề đúc đồng ởlàng Chè (Trà Đúc, xã Thiệu Trung), sản xuất giấy bản ở Đồng Pho (xã ĐôngHoà) xa hơn chút nữa có các trung tâm dệt lụa, nhiễu nổi tiếng ở Cổ Đô (xãThiệu Đô) Như vậy, tỉnh lỵ Thanh Hoá đã có mặt đầy đủ các ngành nghềtruyền thống, tuy nhiên số làng nghề mang tính chất chuyên sâu, thànhphường hội không nhiều Chủ yếu vẫn tập trung vào một số làng nghề đã cótruyền thống từ trước, trong mỗi nghề cũng đều trải qua các bước phát triểnthăng trầm khác nhau.Trong đó khu vực thủ công nghiệp nổi bật hơn cả làkhu sản xuất chum vại, tiểu sành tách biệt nằm ở hai bên bờ sông Bến Ngự,chủ yếu trên đất thôn Đức Thọ Vạn, thôn Cốc Hạ và nghề đục đá ở NhuệThôn

- Nghề đục đá [10]: Đá là nguồn nguyên liệu quan trọng và sẵn có ở mọi

miền trên đất Thanh Hoá, nhưng sản phẩm mang tính thủ công nổi bật là nghềđục đá ở Nhuệ Thôn, thôn này có núi An Hoạch hay còn có tên là núi Khế,núi Nhuệ Thôn, ngày nay quen gọi là núi Nhồi.Theo sách Đại Nam nhấtthống chí ghi: “Sắc đá trắng mịn, tiếng đá vang trong, có thể làm khí dụng

Trang 23

như chuông khánh bia kệ” Đá núi Nhồi còn được dùng vào tạc tượng, đụcbia, chế tác các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày như thùng đựng nước, cối chàygiã gạo, xay bột và sử dụng trong kiến trúc xây dựng như đá tảng, thềm, lancan, đầu trụ Thời nhà Nguyễn đá Nhồi và thợ đá làng Nhồi được sử dụng đểxây dựng các công trình kiến trúc nghệ thuật ở Huế Ngày 20/1/1804, vua GiaLong đã lệnh cho Thanh Hoa nội trấn đặng rõ: về việc đốc xuất thợ đá làm đáxây điện Thái Hoà, để tải về Kinh.

Năm Minh Mệnh thứ 19 (1840) nghề đục đã vẫn phát triển và phải chịuthuế Ở Nhuệ Thôn chiếu lệ ra lính tuyển còn lại ở sổ bao nhiêu cho làm đá,mỗi người nộp đá xây mỗi năm 8 phiến, mỗi phiến dài 8 thước, bề mặt 8 tấc,dày 2 tấc, dân đinh, già cả chịu một nửa Đến năm Tự Đức thứ nhất quy định:Mỗi người hạng tráng đinh (20 tuổi trở lên) nộp đá xây 10 phiến, dài 1 thước,

bề mặt 8 tấc, dày 2 tấc Không chỉ phải nộp thuế khai thác đá, thợ đá núi Nhồicòn phải trưng tập vào Huế mỗi năm 3 người làm việc ở ty Vũ khố Nghề đục

đá của thôn Nhuệ không chỉ nổi tiếng ở tỉnh lỵ Thanh Hoá mà còn nổi tiếngtrong cả nước

- Về nghề làm gốm [10]: là một nghề thủ công quan trọng có từ lâu đời,

sản phẩm của nó gắn bó với đời sống con người ở mọi thời đại Đến thời nhàNguyễn, nghề làm đồ gốm đã có mặt ở nhiều nơi trong tỉnh Thanh Hoá và gắnvới vùng nguyên liệu không thể thiếu là đất sét Tuy nhiên, sản phẩn nổi tiếngnhất của nghề gốm Thanh Hoá trong thời kỳ này là là nghề làm chum vại ởĐức Thọ Vạn và tiểu sành ở Cốc Hạ

Nghề gốm ở làng Cốc Hạ (nay là xã Đông Hương, thành phố ThanhHoá) xuất hiện từ những năm nửa sau thế kỷ XIX Làng Cốc Hạ nằm đối diệnvới Lò Chum dọc phía hữu ngạn con sông đào bến Ngự, vốn là một làng nôngnghiệp nhưng có một bộ phận chuyên làm gốm Qua quá trình điền dã, chúngtôi được biết theo gia phả dòng họ Nguyễn soạn năm Khải Định thứ 8 (1924),dòng họ này đã sinh sống ở Cốc Hạ ít nhất là 300 năm về trước (Gia phả họNguyễn - gia đình ông Nguyễn Văn Hành ở Cốc Hạ bảo quản).Điều đó chứng

Trang 24

tỏ Cốc Hạ là một làng có từ sớm (sớm hơn cả khu gốm Lò Chum) Thời kỳđầu, ngoài sản xuất tiểu sành, Cốc Hạ cũng sản xuất chum vại như Lò Chum.

Về sau do sự phát triển với quy mô lớn của làng nghề thủ công nên đã hìnhthành một sự phân công tự nhiên: Lò Chum chuyên sản xuất chum, vại đồđựng; Cốc Hạ chuyên sản xuất tiểu sành như một sự chuyên môn hoá, tuy còn

ở trình độ thấp

Nghề gốm ở làng Đức Thọ Vạn (còn có tên gọi là Lò Chum) là làng thủcông nghiệp cổ truyền với nghề sản xuất gốm sành, xuất hiện từ những nămnửa sau thế kỷ XIX nằm dọc theo ven bờ tả ngạn con sông đào Bến Ngự LòChum Thanh Hoá nổi tiếng vốn không phải là tên đất mà là một trong những

cơ sở sản xuất gốm quan trọng nhất của xứ Thanh và của cả nước, do sảnphẩm khá độc đáo, nổi tiếng cho nên dần dần được địa danh hoá Cư dân làmchum, dựa theo địa phận của làng, lấy bờ sông đào làm trục,tạo dựng nên mộtdãy phố khang trang, bề thế, trên bến dưới thuyền, nhà cửa san sát Thợ gốm

Lò Chum vốn không phải là dân địa phương Gốc của họ ở tận Thổ Hà (HàBắc); Đanh Xá (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam); Hương Canh (Vĩnh Phú);Bát Tràng (ngoại thành Hà Nội) Với kỹ thuật cao, tay nghề giỏi, thợ gốm đãsản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt, hình thức đẹp và có giá trị sửdụng cao Cũng là đồ đồ đựng chum vại, nhưng sản phẩm của Thổ Hà, HươngCanh, Đanh Xá lại không được ưa chuộng như của Đức Thọ Vạn Chất đấtcủa vùng Đức Thọ Vạn đã giúp cho sản phẩm chiếm được thị hiếu của ngườitiêu dùng Nhờ có chất đất tốt mà thợ gốm đã tạo nên những chum vại cỡ lớnchưa từng có trong lịch sử nghề gốm nước nhà Một yếu tố nữa làm nên sựthành công và phát triển của nghề làm chum vại của Đức Thọ Vạn là do địađiểm hành nghề nằm giữa vùng đồng bằng, thuận tiện giao thông cả đườngthuỷ và đường bộ

Về cách thức sản xuất: Làng gốm Lò Chum đã áp dụng phương thứclàm ăn mới khác với nhiều làng gốm cùng thời Người ta tiến hành thuê mướnnhân công bằnh cách khoán sản phẩm, bởi khoán sản phẩm trước tiên có lợi

Trang 25

cho chủ Nghề gốm là nghề phụ thuộc vào thiên nhiên, thời tiết nên không cóchủ nào lường trước được ngày nắng, ngày mưa, vì vậy họ đã trả lương theosản phẩm Ngược lại người lao động làm thuê cũng phải có gắng làm việc để

có nhiều sản phẩm gốm lấy công đảm bảo cuộc sống của gia đình Như vậy,đây là phương thức sản xuất tiến bộ của nghề thủ công nghiệp làm gốm Trảlương theo sản phẩm đã kích thích được sản xuất, làm tăng năng xuất laođộng

Ở làng gốm Lò Chum sự xuất hiện của chủ bao mua, thầu khoán đã đemlại hiệu quả kinh tế, góp phần làm tăng nhịp độ phát triển của làng nghề Chủbao mua giúp cho chủ sản suất tập trung lo liệu việc sản xuất, không phải bậntâm đến việc tiêu thụ sẩn phẩm, không phải lo ế hàng, đọng hàng Chủ thầukhoán là người trung gian giữa chủ lò với lao động làm thuê Họ nhận đơn đặthàng của chủ rồi thuê nhân công làm việc Như vậy cả 3 loại: Chủ lò, thầukhoá, chủ bao mua là những người tốn ít sức lao động nhất mà lại thu đượclợi nhuận cao nhất Ngược lại, người lao động làm thuê đã nghèo lại càngnghèo thêm Người giàu, kẻ nghèo, ngưòi bóc lột, kẻ làm thuê đã thúc đẩyquá trình phân hoá giai cấp Tuy nhiên, những nhân tố tích cực ấy lại luôn bịnhững tàn dư của làng xã nông thôn cổ truyền, những luật lệ phong kiến cảntrở nên làng gốm Lò Chum ở tỉnh lỵ Thanh Hoá vẫn là một dạng của làngnghề thủ công nghiệp cổ truyền.Tính ưu việt của khu vực kinh tế công thươngnghiệp chưa đủ sức thuyết phục, lôi kéo, hoặc lấn át khu vự kinh tế nôngnghiệp

Tóm lại, dưới thời nhà Nguyễn đặc điểm bao trùm nhất của thủ côngnghiệp tỉnh lỵ Thanh Hoá vẫn là sự kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp dướinhiều mức độ và sắc thái khác nhau Gia đình vẫn là pháo đài vững chắc củanền kinh tế tiểu nông phong kiến Những mầm mống kinh tế mới - kinh tế tưbản chủ nghĩa đã xuất hiện nhưng chưa đủ sức phá vỡ thành luỹ của nền kinh

tế tự cấp tự túc “Dĩ nông vi bản” vẫn là tiêu chí của nền kinh tế đương thời.Điều này là một trong những nguyên nhân cơ bản biến tỉnh lỵ Thanh Hoá ở

Trang 26

Thế kỷ XIX trở thành một trung tâm tiêu thụ sản phẩm hơn là tạo ra nguồnhàng hoá để cung cấp cho các vùng khác.

1.2.3 Hoạt động buôn bán thương mại

Ở thế kỷ XIX, mặc dù vương triều nhà Nguyễn thực hiện chính sách

“Trọng nông ức thương” nhưng kinh tế hàng hoá đã tương đối phát triển,

giao thông thuận lợi Khu vực tiểu thương bước đầu được hình thành bởi cácphố và chợ Các phố ở dọc theo các con đường lớn gọi là đường cái quan,đường thiên lý Bắc Nam sau này gọi là đường quốc lộ 1A Lấy đó làm trụcchính các đường ngang bước đầu có phân nhóm ngành nghề và lấy ngànhnghề đặt tên cho đường phố như: phố hàng đồng buôn bán đồng là chủ yếu,phố Hàng Thao, phố Hàng Than, Phố Hàng Hương, phố Thợ Thêu Ngoài racòn có một số nhà buôn ở xung quanh chợ Nhìn chung hàng hoá sản xuấtmới chỉ dừng lại ở tiểu thủ công nghiệp và tự cung tự cấp hoặc nếu có trao đổithì cũng chỉ trong phạm vi các khu vực lân cận Sự trao đổi mang tính mậudịch này đã hình thành nên các chợ

Chợ là nơi sinh hoạt thiết yếu của mọi người dân, là trung tâm thươngmại của một tỉnh, một huyện, một vùng hay một làng tuỳ theo mức độ buônbán khác nhau, được lấy tên địa phương để mở chợ Chợ của Việt Nam xuấthiện từ rất lâu đời, Lê Thánh Tông đã nhận xét từ thế kỷ XV: “Hễ có người là

ở đó có chợ”[28 tr.180]

Đầu thời Nguyễn, trước khi thành Thanh Hoa được xây dựng thêm thìnăm 1804 đã hình thành chợ tỉnh và các nha sở được đặt trong nội thành Chợtỉnh Thanh Hoá xưa, theo sách “Đại Nam nhất thống chí” tập 2 trang 245được đặt ở ngoài cửa Đông Nam tỉnh thành Sau này vì chợ gần Vườn Hoanên còn có tên là chợ Vườn Hoa, ngày nay vẫn gọi là chợ Vườn Hoa tuy chợ

đã chuyển sang địa điểm mới Chợ tỉnh là chợ lớn nhất trong tỉnh, tháng họp

3 phiên chính vào các ngày mồng 7, 17, 27 âm lịch ; ngoài ra còn có 3 phiênxép vào các ngày mồng 2, 12, 22 Các phiên chợ chính và xép của chợ tỉnhThanh Hoá đều họp trước các phiên chính và xép của chợ Vinh (Nghệ An)

Trang 27

một ngày để khách buôn có thể vào chợ Vinh sau khi họp chợ Thanh Hoá Sựkhác biệt giữa phiên chính và phiên xép là: phiên chính thu hút nhiều hànghơn, phiên chính có chợ trâu bò còn phiên xép thì không có.

Vào những ngày phiên chợ, quang cảnh tỉnh lỵ náo nhiệt vô cùng Ngay

từ đêm hôm trước, người và hàng hoá các loại từ các phủ huyện xa gần đã đổ

về tỉnh lỵ để tờ mờ sáng ngày hôm sau họp chợ Hàng hoá của chợ tỉnh rấtphong phú, không chỉ có các mặt hàng sản xuất tại chỗ mà còn có các mặthàng thủ công nổi tiếng của các địa phương mang về như chiếu cói Nga Sơn,lụa Thiệu Hoá, chum vại Đông Sơn, nước mắm Quảng Xương, các mặt hàngbằng đá ở Nhuệ Thôn Sở dĩ thời ấy có nhiều mặt hàng thủ công đem đếnchợ là do nghề thủ ở các địa phương rất phát triển Ngoài ra, chợ tỉnh còn cólâm thổ sản từ các châu trên miền núi theo đường sông về Đặc biệt nhất làvào những phiên chợ chính còn có chợ trâu bò (đặt trên địa phận làng Cốc,gần chợ Vườn Hoa ngày nay) [28tr.181] Đàn trâu bò của tỉnh Thanh rất đượccác lái buôn ngoài Bắc ưa chuộng, họ vào mua rồi đưa theo đường bộ ra bán ởcác tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ

Xung quanh tỉnh lỵ còn có nhiều chợ địa phương có thể xem như là vệtinh của chợ tỉnh, sở dĩ như vậy là bởi vì một mặt các chợ địa phương tiêu thụhàng hoá của chợ tỉnh, mặt khác cung cấp một số mặt hàng truyền thống củađịa phương cho chợ tỉnh như chợ Lưu Vệ (Quảng Xương), chợ Dương Xá(chợ Ràng), chợ Bố Vệ (Cầu Bố), chợ Kim Bôi (chợ Bôn) đều thuộc huyệnĐông Sơn

Ở tỉnh lỵ Thanh hoá chỉ có các thương nhân Hoa Kiều vào buôn bánsong cũng không phải là nhiều Năm 1885, ngoài chợ tỉnh đã hình thànhnhững trung tâm thương mại hoạt động buôn bán của các thương nhân HoaKiều, Bắc Kỳ trên trục đường chính với các mặt hàng đa dạng như đèn sáp,bánh kẹo, thuốc bắc Năm 1894, tại Nam Ngạn triều đình đã lập xưởng đúctiền Thành Thái gia bảo để tiện việc lưu thông tiền tệ

Trang 28

Có một nét khác biệt trong hoạt động buôn bán thương mại ở tỉnh lỵThanh Hoá với các nơi khác trên đất nước ta thời bấy giờ là: từ năm 1804 khitrấn thành Thanh Hoa được chuyển từ Dương Xá về Thọ Hạc cho đến trướckhi đô thị Thanh Hoá chính thức thành lập năm 1899 ngoài hoạt động của chợtỉnh thì tỉnh lỵ Thanh Hoá không có các phố thị tấp nập kẻ bán người muahay các công xưởng thu hút nhiều người lao động làm thuê, chuyên sản xuấthàng hoá Người dân ở tỉnh lỵ vẫn lấy nghề nông làm gốc, coi hoạt động buônbán trao đổi là phụ và không coi đó là một nghề, điều này đã hạn chế sự pháttriển của thương nghiệp, hoạt động buôn bán thương mại chỉ diễn ra ở chợtỉnh là chủ yếu Điều đó đã làm cho tỉnh lỵ Thanh Hoá phát triển mất cân đốigiữa hai yếu tố “Thành” và “Thị” Đây chính là hậu quả của chính sách trọngnông ức thương, bế quan toả cảng của nhà Nguyễn Sau khi tỉnh lỵ được mởrộng và biến thành thị xã rồi được nâng cấp lên là thành phố hoạt động buônbán thương mại của đô thị thanh Hoá có sự chuyển biến như thế nào chúng tôixin trình bày ở phần sau.

1.3 VÀI NÉT VỀ DÂN CƯ Ở ĐÔ THỊ THANH HOÁ TỪ NĂM 1804 ĐẾN NĂM 1899

Cho đến nay khó có thể xác định được vùng nào, làng nào trên địa bànthành phố Thanh Hoá có cư dân bản địạ sinh sống Song qua những tư liệu,hiện vật khảo cổ, qua những truyền thuyết dân gian, thần tích, thần phả củacác làng đã có những chứng cứ thuyết phục khẳng định sự có mặt khá sớmcủa người Việt cổ tại địa bàn thành phố và cư dân đã ổn định muộn nhất vàothế kỷ X Từ khi nhà Nguyễn xây thành Hạc và lỵ sở Thanh Hoa chuyển từ

Tư Phố về thì dân số có sự phát triển đột biến Dựa trên các sự kiện lịch sửphát triển dân số chúng ta thấy trong giai đoạn 1804 đến trước năm 1885 khithực dân Pháp chưa đặt ách thống trị lên đất Thanh Hoá thì ngoài sự pháttriển dân số theo quy luật tự nhiên, dân bản địa sinh sôi nảy nở còn có sự pháttriển cơ học: đó là các quan lại lớn nhỏ và binh lính do triều đình quản lýcùng với cha mẹ vợ con của họ đi theo Trong giai đoạn này rất tiếc là không

Trang 29

có một tài liệu nào ghi chép lại Tuy vậy theo nghiên cứu của GS-TS NguyễnQuang Ngọc (ĐHKHXH và NV-ĐHQGHN) và TS Vũ Văn Quân (ĐHKHXH

và NV-ĐHQGHN) về “Tổ chức chính quyền cấp tỉnh, phủ, huyện ở Thanh Hoá dưới thời Nguyễn”(giai đoạn 1802 - 1884) cũng cho chúng ta biết được

một phần của dân cư đô thị Thanh Hoá lúc bấy giờ là các quan lại lớn nhỏ vàbinh lính do triều đình quản lý cùng với cha mẹ vợ con của họ đi theo.Cụ thể:Đầu thế kỷ XIX Thanh Hoá là một trong số 13 trấn Bắc Hà (vùng đấtĐàng Ngoài cũ).Thời Gia Long đặt Bắc Thành (gồm 11 trấn) cùng với GiaĐịnh thành (gồm 6 trấn) là cấp hành chính trung gian giữa triều đình trungương với các trấn, quyền hành rất lớn Trấn Thanh Hoa bao gồm cả ThanhHoa ngoại (tức đạo Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình sau này) cùng các trấn, dinhkhu vực miền trung do chính quyền trung ương trực tiếp nắm

Bộ máy cai trị cấp trấn gồm 1 trấn thủ, 1 hiệp trấn, 1 tham hiệp Trấn thủ

là một võ quan, người đứng đầu trấn, có hàm nhất hoặc nhị phẩm Hiệp trấn

và tham hiệp là các văn quan, nhân vật thứ hai và ba sau trấn thủ, có hàm tamhoặc tứ phẩm Các cơ quan chức năng gồm 2 ty, 6 phòng Ty Tả thừa gồm cácphòng lại, binh, hình Ty Hữu thừa gồm các phòng hộ, lễ, công Số lượngnhân viên các ty, phòng nhiều ít tuỳ trấn lớn hay nhỏ theo cách phân loại củanhà nước Thanh Hoá là một trấn lớn (cùng Sơn Nam Hạ, Nghệ An, QuảngNam, Bình Định) nên có số nhân viên đông nhất Ty Tả thừa gồm 1 câu kê, 2cai hợp Các phòng Lại gồm 2 thủ hợp và 10 bản ty; Binh gồm 2 thủ hợp và

20 bản ty; Hình gồm 2 thủ hợp và 30 bản ty Ty Hữu thừa gồm 1 câu kê, 2 caihợp Các phòng Hộ gồm 2 thủ hợp và 30 bản ty, Lễ gồm 2 thủ hợp và 13 bảnty; Công gồm 2 thủ hợp và 30 bản ty Như vậy, tổng số viên chức 2 tygồm

141 người (quy định năm 1808) Câu kê có hàm chánh thất phẩm Cai hợp cóhàm chánh bát phẩm thư lại Thủ hợp có hàm chánh cửu phẩm thư lại

Bên cạnh bộ máy hành chính trên ở cấp trấn còn có một viên quanchuyên trách việc học hành và thi cử, là quan đốc học Nhà Nguyễn, về saucàng rõ, rất coi trọng việc học hành thi cử, nên khi mới thành lập đã đặt ngay

Trang 30

chức quan này Năm 1802 đặt đốc học ở các trấn Sơn Nam Thượng, Sơn Nam

Hạ, phủ Phụng Thiên, Kinh Bắc Năm 1805 đặt chức quan đốc học ở trấnThanh Hoa và Nghệ An Nhưng khác với những nơi khác là ở trấn Thanh Hoa

và Nghệ An được đặt 2 viên đốc học - có lẽ do việc học hành thi cử ở 2 trấnnày phát triển

Năm 1831 Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính chia đặt các tỉnh.Thanh Hoá cũng là một trong số 30 tỉnh và một phủ (phủ Thừa Thiên) của cảnước lúc bấy giờ Bộ máy cai trị trị cấp tỉnh cũng bắt đầu có sự thay đổi.Đứng đầu tỉnh giờ đây là quan tổng đốc hoặc tuần phủ Nhà Nguyễn đặtliên tỉnh, cứ thường 2 tỉnh làm một liên tỉnh Đứng đầu liên tỉnh là tổng đốc,thường trực tiếp cai trị một tỉnh, còn tỉnh kia do quan tuần phủ trực tiếp caitrị Duy chỉ có Thanh Hoá - trường hợp duy nhất: là đất quý hương nên đứngriêng, do quan tổng đốc đứng đầu lĩnh công việc của tuần phủ Theo quy định,quan tổng đốc phụ trách toàn bộ việc cai trị quân dân, đứng đầu các quan văn

võ trong toàn tỉnh, có quyền khảo hạch các quan hàm chánh nhị phẩm

Ty Hữu thừa đổi làm ty Bố chính (hay còn gọi là ty phiên), đứng đầu làquan Bố chính Quan Bố chính phụ trách việc thuếu khoá, tài chính, truyềnđạt mệnh lệnh của triều đình, hàm chánh tam phẩm

Ty Tả thừa được đổi thành ty án sát (còn gọi là ty niết), đứng đầu là quan

Án sát Quan Án sát phụ trách việc kiện tụng, hình án, thanh trừng quan lạitha hoá, chấn hưng phong hoá kỷ cương và kiêm coi công việc bưu trạm, hàmchánh tam phẩm

Trong bộ máy cai trị cấp tỉnh còn có quan lãnh binh chuyên coi quảnbinh lính theo tổng đốc và quan đốc học phụ trách về học hành thi cử

Về nhân sự, Thanh Hoá là một trong số mười một tỉnh lớn (theo phânloại của nhà nước cùng với Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh,SơnTây, Nghệ An, Thừa Thiên, Quảng Nam, Bình Định) vì thế số nhân viên hai

ty Bố chính và Án sát cũng đông hơn các tỉnh vừa và nhỏ.Theo đó, thuộcquan Ty Bố Chính gồm 1 viên thông phán, 1 viên kinh lịch, 69 thư lại (3

Trang 31

chánh bát phẩm, 6 chánh cửu phẩm, 60 vị nhập lưu), Ty Án Sát gồm mộtthông phán, 1 kinh lịch, 40 thư lại (2 chánh bát phẩm, 4 chánh cửu phẩm, 40

vị nhập lưu).Tổng cộng nhân viên hai ty là 119 người Năm 1838 quy địnhlại: Ty phiên 3 bát phẩm thư lại, 5 cửu phẩm thư lại, 20 vị nhập lưu thư lại;

Ty niết 2 bát phẩm thư lại, 3 cửu phẩm thư lại, 20 vị nhập lưu thư lại Tổng sốnhân viên 2 ty là 57 người Đến giữa thế kỷ XIX tăng số vị nhập nhập lưu thưlại của ty bố chính lên 30 người Tổng số nhân viên lúc này là 69 người.Ngoài ra Minh Mệnh khôi phục chế độ giám sát quan lại cấp tỉnh (có từ thời

Lê Thánh Tông) với chức giám sát ngự sử có nhiệm vụ là giám sát hoạt độngcủa quan lại ở các địa phương[7tr.13-14]

Với việc tổ chức bộ máy hành chính và số quan lại nhân viên phục vụcấp tỉnh ở Thanh Hoá cho thấy bộ máy cai trị cấp tỉnh mà là một tỉnh lớn nhưThanh Hoá là là rất gọn nhẹ, tạo được hiệu quả cao trong việc xây dựng Nhànước quân chủ trung ương tập quyền dưới thời Nguyễn

Bên cạnh tầng lớp cai trị ở đô thị Thanh Hoá còn có tầng lớp nho sĩ Hánhọc, thương nhân và thợ thủ công nhưng chiếm phần lớn dân cư đều là nôngdân làng xã, lấy hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng lúa là chủ yếu tạothành vành đai dầy đặc bao quanh tỉnh lỵ Đặc biệt, do sự phát triển của hoạtđộng buôn bán trao đổi ở chợ tỉnh nên đã dần dần quy tụ ngày một đông đảođội ngũ thương nhân (người Việt, người Hoa) tạo nên một tầng lớp lấy hoạtđộng buôn bán trao đổi làm chính Song do chịu sự chi phối của tư tưởng

“Trọng nông ức thương”, “Dĩ nông vi bản” nên những người buôn bán nhỏ ở

chợ tỉnh không có đủ cơ hội và điều kiện để trở thành một tầng lớp xã hộiđông đảo, có đủ tiềm lực kinh tế vững mạnh Do đó, tỉnh lỵ Thanh Hoá vẫn làtrung tâm tiêu thụ sản phẩm của cộng đồng cư dân làng xã là chủ yếu chứchưa phải là một trung tâm sản xuất các loại hàng hoá Vì vậy những ngườilàm nghề thủ công, bộ phận buôn bán nhỏ ở chợ tỉnh và một số nho sĩ châm lo

đèn sách dường như “lọt thỏm” giữa vòng vây làng xã Hình thức sinh hoạt

làng xã vẫn là đời sống văn hoá tinh thần của dân cư đô thị Thanh Hoá

Trang 32

Tiểu kết chương 1:

Như vậy dựa trên cơ sở khái quát về tình hình kinh tế và dân cư ở đô thịThanh Hoá trước năm 1899, chúng tôi thấy rằng từ lúc còn là trấn lỵ ThanhHoa thời Nguyễn cho đến khi thành lập đô thị Thanh Hoá thì chúng ta có thểchia ra làm 2 giai đoạn phát triển chính của đô thị là từ năm 1802 đến 1884 và

từ năm 1884 đến năm 1899

Ở giai đoạn đầu (1802 - 1884): hoà vào dòng chảy của lịch sử dân tộc,lịch sử tỉnh Thanh Hoá và lịch sử đô thị Thanh Hoá giai đoạn này là thời kỳxây dựng đất nước và củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền chodòng họ Nguyễn Trấn thành Thanh Hoa chịu sự tác động của quá trìnhchuyển dời lỵ sở từ Dương Xá về Thọ Hạc Sự kiện này tạo nên sự chuyểnbiến mạnh mẽ của những làng quê đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị,quân sự, văn hoá của tỉnh Thanh Hoa Tính chất “địa chính trị”xuyên suốt vànổi bật trong quá trình phát triển của tỉnh lỵ Thanh Hoá

Trong thể chế quân chủ thời Nguyễn, yếu tố “thành”lấn át yếu tố “thị”.Lúc bấy giờ tỉnh lỵ Thanh Hoá chủ yếu là trung tâm tiêu thụ các loại sản phẩmhàng hoá của cộng đồng cư dân làng xã ở xứ Thanh chứ chưa phải là nơi sảnxuất ra hàng hoá, sản phẩm với số lượng lớn

Việc tiêu thụ sản phẩm tập trung chủ yếu ở chợ Tỉnh, nhất là vào cácngày chợ phiên Do đó suốt thế kỷ XIX, tỉnh lỵ Thanh Hoá chưa có các “phốthị” buôn bán sầm uất như các đô thị khác ở trong nước và ở Châu Âu Cácbến cảng như Lễ Môn, Lạch Bạng, Nghi Sơn chủ yếu phục vụ mục đích quân

sự chứ chưa được khai thác triệt để vào mục đích kinh tế Giao thông vận tảivẫn chưa có nhiều sự đổi mới, chủ yếu vẫn sử dụng các phương tiện giaothông của các thế kỷ trước như đi bộ, đi thuyền

Nhìn chung đô thị Thanh Hoá giai đoạn này vẫn duy trì nền kinh tế tiểunông mang tính chất tự cấp tự túc Sự ảnh hưởng của “trấn thành”rồi “tỉnhthành”Thanh Hoá đối với đời sống kinh tế của cộng đồng cư dân làng xã rất

Trang 33

mờ nhạt.Thậm chí “trấn thành” rồi “tỉnh thành” Thanh Hoá bị bao bọc, chìm

ngập trong vành đai làng xã

Cộng đồng cư dân tỉnh lỵ Thanh Hoá có các giai cấp và tầng lớp dân cưnhư: giai cấp nông dân làng xã; giai cấp địa chủ phong kiến; tầng lớp nho sĩhán học, thương nhân, thợ thủ công song thành phần dân cư chủ yếu vẫn lànông dân, lấy hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng lúa là chủ yếu Vì vậysinh hoạt làng xã vẫn là hoạt động chủ yếu trong đời sống văn hoá tinh thầncủa cộng đồng dân cư tỉnh lỵ xứ Thanh

Giai đoạn thứ hai từ năm 1884 đến năm 1899 là giai đoạn tỉnh lỵ ThanhHoá phải đối mặt trực tiếp với thực dân Pháp

Về kinh tế: Từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị nền kinh

tế của đô thị Thanh Hoá bắt đầu có những biến động nhất định.Tuy nhiêntrong cơ cấu kinh tế về cơ bản vẫn chưa thay đổi, bao gồm ngành kinh tếtruyền thống là nông nghiệp và thủ công nghiệp

Sản xuất nông nghiệp mang nặng tính chất độc canh, tuyệt đại bộ phậndiện tích canh tác được đem trồng lúa Do kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năngxuất lúa đạt mức thấp Đến những năm cuối thế kỷ XIX, bên cạnh cây lúa đãxuất hiện một số cây trồng mới như thuốc lá, thầu dầu và đặc biệt là cây cao

su Tuy vậy các giống cây này mới du nhập, chỉ bắt đầu trồng thí điểm chứchưa mở rộng đại trà như cây trồng truyền thống

Thủ công nghiệp ở nửa sau thế kỷ XIX bắt đầu có sự thay đổi do tácđộng của chiến tranh và chính sách xâm lược của thực dân Pháp Mặc dù vậy,

về cơ bản kỹ thuật và phương thức sản xuất, tiêu thụ vẫn giống như thời kỳtrước đó Những xưởng thủ công có quy mô lớn và có tính chất tiền tư bảnchủ nghĩa chưa xuất hiện Đa số các hoạt động thủ công còn gắn chặn vớinông nghiệp, tồn tại với tư cách là nghề phụ trong gia đình Tuy nhiên, đây làthời kỳ trung gian, có ý nghĩa quan trọng để nền thủ công nghiệp truyền thốngchuẩn bị bước sang một giai đoạn phát triển mới trên cơ sở những điều kiện

Trang 34

mới về cả ba phương diện: nguồn nguyên liệu, kỹ thuật sản xuất và thị trườngtiêu thụ

Hoạt động buôn bán thương mại trong thời kỳ đầu khi Pháp mới chiếmđóng còn chịu sự cạnh tranh của thương nhân Hoa Kiều và Ấn Kiều, hànghoá của Pháp nhập khẩu khó cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc, Ấn

Độ và Đông Nam Á do giá thành cao Với âm mưu biến Thanh Hoá nói riêng

và Việt Nam nói chung thành thị trường độc chiếm của Pháp, chúng thực hiệnchính sách bảo hộ thương mại bằng cách ban hành chính sách thuế quan nhằmđánh thuế cao đối với hàng hoá nhập khẩu của các nước khác còn hàng nhậpkhẩu của Pháp vào thị trường Việt Nam thì được giảm hoặc miễn thuế Vớichính sách này, Pháp thực hiện mục đích độc quyền thương mại, tạo điều kiệnđưa hàng Pháp ồ ạt tràn vào thị trường Việt Nam, buộc nhân dân Việt Namphải mua hàng của Pháp với giá cắt cổ

Về mặt xã hội: Sự biến đổi trong cơ cấu dân cư ở tỉnh lỵ Thanh Hoá còn

rất chậm chạp, trật tự đẳng cấp Sĩ - Nông - Công - Thương và các quan hệgia đình dựa trên cơ sở Nho giáo về cơ bản vẫn giữ nguyên như trước và vẫntiếp tục giữ vai trò chi phối đời sống làng xã.Tuy vậy, với sự xuất hiện củaquân xâm lược Pháp ở tỉnh lỵ và sau đó là cả tỉnh Thanh Hoá vào những nămcuối thế kỷ XIX, đã mở đường cho sự xâm nhập của văn hoá - văn minhphương Tây vào tỉnh lỵ Thanh Hoá.Từ đây, cộng đồng cư dân tỉnh Thanh nóichung và tỉnh lỵ nói riêng chuyển sang một hình thái chính trị xã hội mớichưa từng có ở nước ta đó là: chế độ thuộc địa nửa phong kiến

Trang 35

CHƯƠNG 2 CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ Ở ĐÔ THỊ THANH HOÁ

TỪ NĂM 1899 ĐẾN NĂM 1945

2.1 NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ

2.1.1 Phong trào yêu nước

Từ năm 1802, nhà Nguyễn được thiết lập mặc dù có nhiều cố gắng đề ranhiều biện pháp để củng cố vương triều và phát triển đất nước song vẫnkhông ngăn cản được chế độ phong kiến nước ta ngày càng lao sâu vào conđường khủng hoảng và suy vong trầm trọng Với hàng loạt các chính sáchkhông phù hợp về các mặt - nhất là kinh tế, nhà Nguyễn cản trở kinh tế hànghoá phát triển và thị trường trong nước mở rộng, những điều kiện tối cần thiếtcho xã hội Việt Nam hồi đó thoát khỏi sự kìm hãm của chế độ phong kiến đểchuyển vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa Trong hoàn cảnh chung như vậy, cáctỉnh lỵ của nước ta - trong đó có tỉnh lỵ Thanh Hoá - đến giữa thế kỷ XIX vẫnkhông sao đi vào con đường đô thị hoá theo hướng tư bản chủ nghĩa được màvẫn chìm đắm trong màn đêm của chế độ phong kiến suy tàn, chủ yếu vẫn làmột đơn vị hành chính cai trị

Đúng vào lúc đó, chủ nghĩa tư bản Pháp trên bước đường bành trướngthế lực đã nổ súng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam (1-9-1858).Triệt để khai thác ưu thế về tàu chiến, vũ khí và đạn dược, lợi dụng tình hìnhkhủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XIX,thực dân Pháp lần lượt chiếm gọn toàn bộ 6 tỉnh Nam Kì (1867), sau đó thừathắng tung quân đi đánh chiếm nhiều nơi khác Chúng chà đạp lên nhiệt tìnhyêu nước của nhân dân hai miền Bắc - Trung, trước sự tấn công dồn dập củathực dân Pháp triều đình Huế khiếp đảm vội vã ký liên tiếp 2 bản hiệp ướcnăm 1883, 1884 - thực chất đây là 2 bản hàng ước - xác nhận quyền đô hộ lâudài của tư bản Pháp ở nước ta

Trang 36

Như vậy, sau 26 năm tiến công xâm lược và bình định (1858 - 1884),

thực dân Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược cả ba nước trên bán đảoĐông Dương Ở Việt Nam theo điều khoản của hiệp ước Patơnốt (1884) thì từBình Thuận trở ra đến Thanh Hoá thuộc quyền quản lý của nhà Nguyễn, songkhâm sứ Trung Kì lại trực tiếp can thiệp vào công việc của các vua nhàNguyễn

Nhằm truy bắt vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, ngay sau vụ phảnbiến kinh thành Pháp cho đàn áp dã man những người tham gia, ủng hộ TônThất Thuyết và Trần Xuân Soạn Pháp cho quân truy đuổi vua Hàm Nghi vàtấn công sơn phòng Quảng Trị Chúng dừng lại ở đó, Pháp huy động tàu chiến

đi từ Huế ra Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An để truy đuổi vua Hàm Nghi vàTôn Thất Thuyết, dập tắt phong trào kháng chiến của nhân dân đang diễn ratheo lời hiệu triệu Cần Vương Mặt khác, chúng củng cố quân đội, đưa đạoquân từ Bắc Kì vào Ninh Bình, Thanh Hoá tạo thành hai gọng kìm chiến lượchòng thực hiện kế sách nhanh chóng dập tắt mọi sự phản kháng của nhân dân

Ở Thanh Hoá, ngay trong đội ngũ quan lại có sự phân hoá sâu sắc Tổngđốc Thanh Hoá Nguyễn Thuật, Án sát Vương Duy Trinh ngay từ đầu đã có ýđịnh đầu hàng, hợp tác với Pháp Trong khi Bố chánh Nguyễn Khoa Luận vàmột số đồng sự lại tìm mọi cách để huy động nhân dân đào hầm hố, xây dựngcông sự để chống Pháp Tuy có nhiều nỗ lực, song từ giữa tháng 11 khi binhđoàn Bắc Kì do Thiếu tá Mi - nhô chỉ huy kéo từ Ninh Bình vào Thanh Hoá

đã không gặp mấy khó khăn vì sự kháng cự ở đây diễn ra khá yếu ớt.Thêmvào đó, Pháp lại cho tăng cường viện binh và giao cho Trung tá Boa-le-vơ(Boileve) trực tiếp chỉ huy vào đóng quân ở Thanh Hoá nhằm đối phó vớiphong trào kháng chiến của nhân dân đang diễn ra quyết liệt ở đây [43,tr 33]

Ở phía Nam, Pháp cho quân đổ bộ chiếm thành Hà Tĩnh, thành Nghệ An,sau đó đánh rộng ra các huyện đồng bằng và trung du miền núi

Bất chấp khó khăn, với tinh thần yêu nước nhân dân Thanh Hoá trongnhững tháng cuối năm 1885 đã sắm sửa vũ khí, tích trữ lương thảo, động viên

Trang 37

chồng con tham gia phong troà vũ trang chống Pháp do các văn thân sĩ phuyêu nước tổ chức, lãnh đạo.

Sự kiện có tiếng vang lớn và quan trọng thời kỳ này là cuộc tiến côngcủa nghĩa quân toàn tỉnh vào thành Thanh Hoá đêm 11 rạng sáng ngày 12tháng 3 năm 1886 Từ chiều hôm 11, lợi dụng ngày hôm sau có chợ tỉnh(mồng 7/2 năm Bính Tuất), 300 nghĩa quân huyện Tĩnh Gia do NguyễnPhương chỉ huy cải trang làm người đi chợ, giấu vũ khí (dao găm, kiếm ) vàođòn ống, hay giắt vào các gánh chiếu, gánh mía,v.v kéo vào tỉnh lỵ Đồngthời các cánh quân của Tống Duy Tân và Cao Điển cũng từ Vĩnh Lộc kéoxuống, của Tôn Thất Hàm từ Nông Cống và của Đỗ Đức Mậu từ QuảngXương kéo ra, của Hà Văn Mao từ Thọ Xuân kéo về.Trong khi đó, NguyễnĐôn Tiết đưa quân từ Hoằng Hoá lên để chặn giặc bên tả ngạn sông Mã, trêncon đường từ Hàm Rồng ra Bắc

Vào lúc nửa đêm 11/3, quân cảm tử bí mật xông vào hai cửa Tiền (phíaNam) và cửa Tả (phía Đông) thành tỉnh, giết chết lính gác, rồi nhanh chóngđột nhập vào thành đánh chiếm các nơi Lính Pháp đóng trong thành đang ngủsay đột ngột bị dựng dậy hoảng hốt cầm súng chạy ra, một số tên bị nghĩaquân tiêu diệt tại chỗ Các công sở của địch cùng lúc bị tiến công, Chánh vănphòng toà sứ là Pi - ve (Pivert) và Trung uý Phơ - răng - cơ (Franck) ngay từđầu trúng đạn bị thương trên đà thắng thế, nghĩa quân đã đánh lùi cả bọnPháp và bọn nguỵ kéo tới cứu nguy cho chủ, nhiều tên bị chết, một số bỏ chạytán loạn, số còn lại rút vào đồn có thủ Lửa cháy rực trời, trỗng mõ khua vang,tiếng nghĩa quân reo hò dậy đất Nhưng giặc Pháp có ưu thế về vũ khí, cốbám lấy công sự, nghĩa quân không sao tiêu diệt được bọn chúng Đến lúc trờigần sáng, liệu thế không thể kéo dài cuộc chiến đấu, nghĩa quân chủ động rútquân, Tống Duy Tân và Cao Điển lên Yên Định, Nguyễn Phương và TônThất Hàm về Nông Cống

Nghĩa quân Thanh Hoá tuy không chiếm được thành tỉnh, nhưng đã tiêudiệt được một lực lượng địch ngay tại sào huyệt của chúng, gây cho chúng

Trang 38

nhiều tổn thất và hoang mang Quan trọng hơn là cuộc phối hợp quân sự có tổchức lần này đã đánh dấu một bước phát triển đáng kể của lực lượng yêunước trong tỉnh và có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ, phát động phong tràotoàn tỉnh lên một trình độ đấu tranh mới Cùng việc mạo hiểm đánh úp thànhtỉnh, nghĩa quân trong đêm hôm đó còn đột phá huyện lỵ Đông Sơn cũngđóng trong tỉnh lỵ.

Bị một đòn choáng váng, giặc Pháp và bè lũ tay sai hoảng vía kinh hồn,phải cấp tốc xin quân vào tăng cường Tên Thiếu tá Tê- ri - ông (Terillon) tứctốc đưa quân từ Nam Định vào ứng cứu cho đồng bọn Một cuộc hành quâncàn quét lớn kéo dài hơn tháng trời (từ ngày 15/3 đến 26/4 năm 1886) trênmột vùng rộng lớn tỉnh Thanh Hoá, lan rộng ra các vùng thuộc tỉnh Hoà Bìnhgiáp giới Thanh Hoá Đây là chiến dịch càn quét lớn nhất của địch ở ThanhHoá vào đầu năm 1886 Nghĩa quân cũng chặn đánh địch trong nhiều trận lớn,tiêu diệt lực lược bình định của chúng trên đường hành quân chiếm đóng.Như vậy từ năm 1886, phong trào yêu nước ở Thanh Hoá ngày càng pháttriển mạnh nhưng nhìn chung vẫn còn mang tính chất tự phát, địa phương,nếu có sự phối hợp cũng chỉ là nhất thời mà thôi Nhằm đẩy mạnh thêm mộtbước phong trào trong tỉnh, những người cầm đầu các phong trào địa phươngđều nhận thấy cần sớn thống nhất lực lượng dưới sự chỉ huy chung, biếnThanh Hoá thành một căn cứ vững chắc không riêng của tỉnh nhà mà còn chophong trào chung của cả nước Căn cứ Ba Đình được xây dựng gấp rút ởhuyện Nga Sơn, cách tỉnh lỵ Thanh Hoá 40 km về phía Đông Bắc nhằm bảo

vệ “cửa ngõ”miền trung và làm bàn đạp toả ra đánh địch ở đồng bằng Hệthống cứ điểm Mã Cao cũng được xây dựng trên miền đồi núi phía Tây haihuyện Yên Định (ngày nay thuộc đất huyện Thiệu Yên) và Thọ Xuân để bảo

vệ mặt sau của căn cứ Ba Đình, khi cần thiết nghĩa quân Ba Đình có thể rút về

Mã Cao để bảo toàn lực lượng và tiếp tục chiến đấu

Nhưng trước sự tấn công dồn dập và ác liệt của kẻ thù có ưu thế áp đảo

về quân số và vũ khí, Ba Đình và Mã Cao lần lượt rơi vào tay giặc Pháp

Trang 39

(tháng 1 và 2 năm 1887) Pháp điên cuồng khủng bố trắng trên toàn vùng,hàng ngày tung quân đi lùng sục khắp nơi bắt được ai là đưa đi giết hại,không phân biệt nghĩa quân với dân chúng Ngay tại tỉnh lỵ Thanh Hoá, chiềuchiều dân làng sở tại Thọ Hạc, kể cả người già yếu, đều bị xích tay điệu raphía Nam ngoài thành, viên quan binh ngưòi Pháp đến hạ lệnh quẳng dầntừng người xuống sông, thấy mỗi người chìm xuỗng nước thì lại vỗ tay vuicười, người nào còn ngoi ngóp vùng vẫy thì bắn luôn cho chết Cứ như vậytrong suốt 3 - 4 tháng, nước sông Bố Vệ đỏ ngầu như chậu máu, không còn aidám qua lại lối này [16,số2,tr 4] Nhưng nhân dân Thanh Hoá - trong đó cónhân dân tỉnh lỵ - đâu chịu khuất phục, còn kiên trì kháng chiến một thời giandài về sau dưới ngọn cờ nghĩa tung bay hiên ngang trên núi rừng Hùng Lĩnh(Vĩnh Lộc) Tống Duy Tân bị tên phản bội Cao Ngọc Lễ dẫn đường cho bọnPháp đột nhập căn cứ bắt sống đem về chém ở tỉnh lỵ ngày 5/10/1892 Khởinghĩa Hùng Lĩnh thất bại.

Tỉnh lỵ Thanh Hoá trở thành nơi đóng quân của Pháp và phong kiến taysai, nhưng cũng chính đây là nơi đã chứng kiến cuộc tập kích táo bạo củanhững nghĩa quân giàu lòng quả cảm, khát vọng độc lập Họ chiến đấu, hysinh và cùng các thế hệ cha anh tô đậm trang sử vàng về truyền thống yêunước giống như cuộc tập kích thành Hà Tĩnh, nghĩa quân không chiếm giữđược thành và phải rút lui, song tinh thần xả thân của họ còn sống mãi tronglòng nhân dân Thanh Hoá nói riêng và dân tộc nói chung

Mặc dù cuối cùng bị thất bại nhưng phong trào đấu tranh của nhân dânThanh Hoá nói chung và tỉnh lỵ Thanh Hoá nói riêng đã gây cho kẻ thù nhiềutổn thất về người và vũ khí, góp phần cùng phong trào cả nước làm cho đếquốc Pháp suốt một thời gian dài không thể ổn định được bộ máy thống trị đểbắt tay vào khai thác, bóc lột kinh tế Mục đích chính của bất cứ tên đế quốcnào khi đi xâm chiếm thuộc địa đều dùng chính trị làm thủ đoạn còn mục đích

là kinh tế

Trang 40

Từ cuối năm 1885 đến đầu năm 1886 lịch sử Thanh Hoá - trong đó cólịch sử tỉnh lỵ - nằm trong lịch sử chung cả nước bắt đầu chuyển vào một thời

kỳ mới: thời kỳ phát triển trong chế độ thuộc địa nửa phong kiến

2.1.2 Đô thị Thanh Hoá trước chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai của Pháp

Đối với tỉnh Thanh Hoá, tiếng súng Cần Vương vừa tắt, chương trìnhkhai thác thuộc địa lần thứ nhất ập đến, nước mất, nhà tan toàn bộ tài nguyêngiàu có trở thành nguồn lợi cho tập đoàn tư bản Pháp Nhưng để khai thácđược nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có đó, Pháp phải cùng một lúc đốimặt với nhiều khó khăn chủ yếu là những vấn đề sau:

- Trong thế kỷ XIX, tỉnh lỵ Thanh Hoá tuy là trung tâm chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội của trấn thành Thanh Hoá (1804 - 1830) và của tỉnh ThanhHoá (từ 1831 trở đi) song tỉnh lỵ Thanh Hoá chỉ là một trung tâm tiêu thụ sảnphẩm là chính mà thiếu hẳn các cơ sở sản xuất hàng hoá, tỉnh lỵ chìm ngậptrong vành đai làng xã trùng điệp kéo dài từ Quảng Xương đến Hoằng Hoá

Hệ thống giao thông vận tải đường thuỷ, đường bộ hết sức lạc hậu, chủyếu phục vụ cho các loại hình giao thông truyền thống

Nền kinh tế tiểu nông truyền thống đang bao trùm lên toàn bộ hệ thốnglàng xã Riêng ở các phủ, huyện thì cư dân ở trong tình trạng hết sức lạc hậu

- Quá trình đàn áp để dập tắt phong trào cách mạng mang danh nghĩaCần Vương trên địa bàn Thanh Hoá từ 1885 đến 1896 đã tạo nên mối oán hờnchồng chất Mâu thuẫn giữa cộng đồng cư dân xứ Thanh với thực dân Pháp vàphong kiến tay sai là mâu thuẫn đối kháng gay gắt và quyết liệt

Trong khi đó, chương trình khai thác thuộc địa lại áp đặt một mô hìnhkinh tế hoàn toàn khác xa với mô hình kinh tế “tự cung tự cấp “truyền thốngcủa cư dân bản địa Thêm vào đó sự hiện diện của công sứ ở tỉnh lỵ ThanhHoá cùng lực lượng viễn chinh Pháp có ngôn ngữ, văn hoá khác với văn hoácủa dân tộc Việt Nam Sự kiện này làm cho mâu thuẫn giữa cộng đồng cư dân

xứ Thanh với Pháp thêm gay gắt, đặc biệt là khi Pháp tự cho là họ có quyền

Ngày đăng: 18/12/2013, 19:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Thuận Hoá - Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bảnThuận Hoá - Huế
Năm: 1994
2. Đào Duy Anh (1994), Lịch sử cách mạng Việt Nam từ 1862 đến 1930, Nhà xuất bản Văn - Sử - Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng Việt Nam từ 1862 đến 1930
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn - Sử - Địa
Năm: 1994
3. Đỗ Bang (1997), Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hoá - Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nhàxuất bản Thuận Hoá - Huế
Năm: 1997
4. Phan Trọng Báu (1994), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam thời cận đại
Tác giả: Phan Trọng Báu
Nhà XB: Nhà xuất bảnKhoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1994
5. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2001), Tên làng xã Thanh Hoá,tập 1,2, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xãThanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 2001
6. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2001), Đất và người xứ Thanh, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và người xứThanh
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 2001
7. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2008), Lịch sử Thanh Hoá,Tập IV (1802 - 1930), Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2008
8. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1996), Lịch sử Thanh Hoá, tập V (1930 - 1945), Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1996
9. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1980), Những sự kiện Đảng bộ thị xã Thanh Hoá, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiệnĐảng bộ thị xã Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 1980
10. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1999), Nghề thủ công truyền thống Thanh Hoá, tập I, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ côngtruyền thống Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 1999
11. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2001), Nghề thủ công truyền thống Thanh Hoá, tập II, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ côngtruyền thống Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 2001
12. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2003), Nghề thủ công truyền thống Thanh Hoá, tập III, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ côngtruyền thống Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 2003
13. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2009), Nghề thủ công truyền thống Thanh Hoá, tập IV, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ côngtruyền thống Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 2009
15. Cao Văn Biền (1998),Công Nghiệp than Việt Nam 1845 - 1945. Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công Nghiệp than Việt Nam 1845 - 1945
Tác giả: Cao Văn Biền
Nhà XB: Nhà xuấtbản Khoa học kĩ thuật Hà Nội
Năm: 1998
16. Chi hội Khoa học lịch sử Thành phố Thanh Hoá, “Thành Hạc xưa và nay”số 1 / 2003; số 2/2004; số 3/2004; số 4/2004; số 5/2004; số 6/20004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành Hạc xưa vànay
17. Chi hội Khoa học lịch sử Thành phố Thanh Hoá (2010), Thành phố Thanh Hoá xưa và nay, Nhà xuất bản Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phốThanh Hoá xưa và nay
Tác giả: Chi hội Khoa học lịch sử Thành phố Thanh Hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hoá
Năm: 2010
18. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1980), Cách mạng tháng Tám 1945, Nhà xuất bản Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám1945
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1980
19. Quỳnh Cư (1995), Các triều đại Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 1995
20. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương đại chí,tập 2, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương đại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nhà xuất bảnKhoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1992
21. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam một số vấn đề về kinh tế xã hội, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam một số vấn đề về kinh tế xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Mũi Cà Mau
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Bảng thống kê tình hình sản xuất và tiêu thụ điện ở Trung Kì năm 1936 (đơn vị 1000 kw/h) [60] - Chuyển biến về kinh tế và dân cư ở thành phố thanh hoá từ năm 1899 đến năm 1945
Bảng 2 Bảng thống kê tình hình sản xuất và tiêu thụ điện ở Trung Kì năm 1936 (đơn vị 1000 kw/h) [60] (Trang 60)
Bảng 1: Bảng thống kê công suất ổn định các nhà máy điện và cơ sở phát điện ở Trung Kì năm 1936 (đơn vị tính kw/h) [60] - Chuyển biến về kinh tế và dân cư ở thành phố thanh hoá từ năm 1899 đến năm 1945
Bảng 1 Bảng thống kê công suất ổn định các nhà máy điện và cơ sở phát điện ở Trung Kì năm 1936 (đơn vị tính kw/h) [60] (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w