Huyện Tân Kỳ có những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, giáo dục….nghiên cứu những chuyển biến trong đờisống kinh tế, vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân ở huyện Tân Kỳ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Quang Hồng
NGHỆ AN, 2012
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Quang Hồng Tôi xin chânthành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy côgiáo khoa Lịch sử, khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh, Trung tâmThư viện Nguyễn Thúc Hào, Thư viện tỉnh Nghệ An, Cục Thống kê Nghệ
An, UBND huyện Tân Kỳ, Trung tâm lưu trữ UBND tỉnh Nghệ An…gia đình
và bạn bè đã cung cấp tư liệu, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợicho tôi hoàn thành luận văn này
Quá trình thực hiện luận văn tuy đã cỗ gắng hết sức, song không thểtránh khỏi những thiếu sót do chưa có kinh nghiệm và kiến thức đầy đủ Tôimong được sự góp ý chân thành của các thầy cô và bạn bè
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả:
Nguyễn Tuấn Hạ
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của luận văn: 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT TÂN KỲ NGHỆ AN TRƯỚC NĂM 1963 7
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Địa hình 7
1.1.2 Đất đai 8
1.1.3 Khí hậu thời tiết: 11
1.2 Vài nét về điều kiện xã hội 13
1.2.1 Dân cư 13
1.2.2 Cơ sở hạ tầng 16
1.2.3 Khái quát về kinh tế Tân Kỳ trước năm 1963 19
1.2.4 Vài nét về truyền thống văn hóa của cư dân Tân Kỳ: 22
TIỂU KẾT: 30
CHƯƠNG 2: CHUYỂN BIẾN VỀ NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP, NGƯ NGHIỆP 31
2.1 Tình hình về nông nghiệp 31
2.1.1 Ngành trồng trọt : 31
2.1.2 Ngành chăn nuôi 36
Trang 4TIỂU KẾT : 48
Chương 3: CHUYỂN BIẾN VỀ CÔNG NGHIỆP, TIỂU THỦ CÔNG NGHIÊP, THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ 51
3.1 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp : 51
3.1.1 Công nghiệp do trung ương, tỉnh quản lý 52
3.1.2 Công nghiệp do huyện quản lý : 53
3.1.3 Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề 55
3.1.4 Các ngành xây dựng cơ bản 57
3.2 Thương mại, dịch vụ, du lịch : 65
3.2.1 Thương mại : 66
3.2.2 Dịch vụ 68
3.2.3 Du lịch 69
3.3 Tác động của kinh tế đến đời sống văn hóa – xã hội 72
3.3.1 Đối với giáo dục – y tế 72
3.3.2 Đối với văn hóa, văn nghệ và thể thao : 76
3.3.3 Đối với an ninh, quốc phòng 78
TIỂU KẾT : 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5UBND: Uỷ ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dânHS: Học sinh
THPT: Trung học phổ thôngTHCS: Trung học cơ sở
TW: Trung ương
Trang 6từ đó Huyện Tân Kỳ có diện tích tự nhiên là: 72.820,75 ha và dân số trên137.7 nghìn người.
Là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội củacác huyện miền Tây xứ Nghệ Huyện Tân Kỳ có những bước phát triển mạnh
mẽ về kinh tế, văn hóa, giáo dục….nghiên cứu những chuyển biến trong đờisống kinh tế, vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân ở huyện Tân Kỳ làgóp phần thiết thực vào nghiên cứu quá trình chuyển đổi của đồng bào cáchuyện miền núi từ nữa sau thế kỷ XX đến nay Đây là vấn đề có ý nghĩa khoahọc và thực tiễn sâu sắc
Kể từ ngày được thành lập cho đến nay gần nửa thế kỷ, huyện Tân Kỳkhông ngừng phát triển cả về phạm vi cư trú, thành phần dân cư, cấu trúc hạtầng, trình độ dân trí…Đề tài là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâusắc và có hệ thống về đời sống kinh tế vật chất cũng như tinh thần của cộngđồng cư dân huyện Tân Kỳ từ ngày thành lập cho đến nay
Trong quá trình nghiên cứu và phân tích, chúng tôi chỉ ra những đặcđiểm chung và riêng trong quá trình phát triển của huyện Tân Kỳ so với một
số huyện khác ở miền núi Nghệ An Đây là một trong những đóng góp quantrọng của đề tài, vì vậy đề tài còn mở ra một số hướng nghiên cứu mới về quátrình phát triển ở vùng miền núi Tây Nghệ An
Trang 71.2 Về thực tiễn
Đề tài sẽ là một nguồn tư liệu quan trọng góp phần vào việc nghiêncứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương vì đề tài đã đi sâu nghiên cứunhững chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng cưdân huyện Tân Kỳ Đề tài góp phần tập hợp tự liệu, cung cấp cho nhân dântrong huyện một nguồn tư liệu cần thiết, xác đáng về huyện Tân Kỳ để cácnhà khoa học, các nhà chính trị, kinh tế, văn hóa….nghiên cứu, so sánh, đốichiếu và mở rộng phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu , phân tích, nghiên cứu và đưa một số đề xuất để cáccấp chính quyền có thể tham khảo khi xây dựng, phát triển huyện Tân Kỳtrước mắt cũng như lâu dài
Là một người con của vùng xứ nghệ, sinh ra và lớn lên trên mảnh đấtTân Kỳ, tôi chọn đề tài: “ Chuyển biến về kinh tế ở huyện Tân Kỳ (Nghệ An)
từ năm 1963 đến năm 2011” làm luận văn Thạc Sỹ để thể hiện tấm lòng vớiquê hương Sự tri ân với vùng đất chôn nhau cắt rốn của mình, hy vọng sẽgóp một phần nhỏ bé của mình vào sự phồn thịnh của Huyện trong tương lai
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong các tác phẩm sử học của Quốc sử quán triều nguyễn như: “
Khâm định việt sử thông giám cương mục”, “Đại Nam nhất thống chí”,
“Đại Nam thực lục chính biên”, tên gọi Nghĩa Đàn ( sau này huyện Tân Kỳ
được tách ra từ Nghĩa Đàn) được nhắc đến với tư cách là một đơn vị hànhchính của chính quyền nhà Nguyễn Sau năm 1954 khi miền Bắc hoàn toànđược giải phóng, để khẳng định lại những đóng góp to lớn của các dân tộccũng như các vùng, miền vào sự nghiệp cách mạng chung cả nước, nhiều tác
phẩm sử học đã ra đời, trong đó có cuốn: “Đất nước Việt Nam qua các đời”
của Đào Duy Anh và “Lịch sử Nghệ Tĩnh”, của nhiều tác giả…hay cuốn
“Địa chí Nghệ An” do Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An biên soạn trong các
Trang 8tác phẩm này, đóng góp của cư dân Tân Kỳ được trình bày một cách kháilược, hòa lẫn vào dòng chảy chung của lịch sử toàn tỉnh và toàn dân tộc.
Tác phẩm “ Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị
hành chính 1945-1997” của Nguyễn Quang Ân, huyện Tân Kỳ được nhắc đến
nhưng cũng chỉ đề cập đến những nét khái quát nhất, sơ lược nhất
Năm 1992 cuốn “Tân Kỳ, truyền thống và làng xã” của PGS Ninh Viết Giao
được xuất bản Có thể nói đây là tài liệu thành văn đầu tiên nói đến một cách
cụ thể về huyện Tân Kỳ
Gần đây, trên trang web của ủy ban nhân dân huyện Tân Kỳ cũng xuấthiện một số bài viết về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Tuy vậy,các bài viết này chỉ mang tính khái quát hóa hoặc chỉ dừng lại ở một số lĩnhvực nhất định, chưa tạo nên được một cái nhìn tổng thể về sự chuyển biếntrong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, của cộng đồng cư dân huyện Tân kỳ
Như vậy, có thể nói việc nghiên cứu, phân tích về kinh tế, đặc biệt là vềkinh tế của một huyện miền núi như Tân Kỳ, một huyện được thành lập chưalâu là một vấn đề cấp thiết và hầu như chưa có công trình khoa học nào đề cậpđến Một số sách báo có nhắc đến Tân Kỳ thì cũng chỉ biết đến như một địachỉ, một đơn vị hành chính Còn riêng về mảng kinh tế, văn hóa, xã hội củacộng đồng cư dân huyện Tân Kỳ vẫn là một mảnh đất trống, chưa được khaithác đến Do đó việc nghiên cứu đề tài “Chuyển biến kinh tế ở huyện Tân Kỳ(Nghệ An) từ năm 1963 đến năm 2011” dù còn trong phạm vi hẹp và mangtính chất đia phương nhưng hoàn toàn mới Đề tài hy vọng góp thêm ít nhiều
về mặt khoa học và thực tiễn để tìm hiểu về sự chuyển biến về kinh tế củahuyện Tân Kỳ nói riêng và các huyện miền núi ở phía tây Nghệ An nói chungtrong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
3.1 Nguồn tư liệu.
Trang 9Đề tài “Chuyển biến về kinh tế ở Huyện Tân Kỳ ( Nghệ An) Từ năm
1963 đến năm 2011” được nghiên cứu dựa trên những tài liệu sau:
3.1.1 Sách tham khảo
Những tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn như: “Đại nam nhất
thống chí” tập II, “ Đại nam thực lục chí biên” tập 36 và tác phẩm “Nghệ An ký” của Bùi Dương Lịch Giúp xác định địa giới hành chính cũng như các
thành phần dân cư của huyện Nghĩa Đàn ( cũ) dưới triều Nguyễn
Cuốn: “Việt Nam - những thay đổi địa danh và đia giới hành chính
1945-1997” của Nguyễn Quang Ân, tác phẩm: “ Lịch sử Nghệ Tĩnh” xác định rõ
địa giới hành chính của huyện Tân Kỳ thời hiện đại cũng như đóng góp củanhân dân huyện Tân Kỳ vào lịch sử chung của tỉnh Nghệ An
Cuốn “Các dân tộc ở ít người ở Việt Nam” của viện dân tộc học, “cácdân tộc thiểu số ở tỉnh Nghệ An” của Nguyễn Đình Lộc… góp thêm những tưliệu để tìm hiểu đời sống của các dân tộc cư trú trên địa bàn huyện
3.1.2 Nguồn tư liệu từ các bản báo cáo, thống kê
Đảng bộ huyện qua các nhiệm kỳ tại văn phòng Đảng bộ huyện
Báo cáo, tổng kết tình hình kinh tế, chính trị, xã hội qua các năm củaUBND huyện, lưu tại văn phòng UBND huyện
Báo cáo tổng kết của HĐND, UBND huyện Tân Kỳ qua các năm doHĐND, UBND huyện cung cấp
Các số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Tân Kỳ
Các số liệu do phòng giáo dục huyện cung cấp
Số liệu cơ bản kinh tế - xã hội một số năm do UBND huyện Tân Kỳ cung cấp
3.1.3 Tư liệu điền dã
Nguồn tư liệu thông qua việc khảo sát thực tế một số xã của huyện.Nguồn tư liệu do các cụ cao niên cung cấp
Trang 103.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp phục vụcho nghiên cứu chuyên nghành như: Đối chứng, so sánh, thống kê, xử lý tưliệu Từ đó có cơ sở để nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề Đồng thời sửdụng hai phương pháp truyền thống quan trọng là phương pháp lôgic, phươngpháp lịch sử để mở rộng nhiều nguồn tư liệu, sự kiện lịch sử với mục đíchkhôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó đã tồn tại Sau cùng là tổng hợp,khái quát để đưa ra những đánh giá chung nhất, khách quan và chính xácnhất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những những chuyển biến trong đờisống kinh tế của cộng đồng cư dân huyện Tân Kỳ (Nghệ An) từ 1963 đếnnăm 2011 cũng như ảnh hưởng tác động của vấn đề đó với đời sống của kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của dân cư huyện Tân Kỳ (Nghệ An)
Với việc đi sâu nghiên cứu về những chuyển biến trong đời sống kinh
tế của cộng đồng cư dân Tân Kỳ, đề tài sẽ là nguồn tư liệu quan trọng choviệc biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở các cấp học nhằm giáo dục
Trang 11cho học sinh tình yêu thương và niềm tự hào đối với quê hương, ý thức bảo vệquê hương ngày càng giàu đẹp.
Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên, khá toàn diện về nhữngchuyển biến trong đời sống kinh tế, vật chất và tinh thần của cộng đồng cưdân huyện Tân Kỳ - một huyện miền núi Vì vậy kết quả của đề tài này khôngnhững là tài liệu quan trọng giúp các cấp chính quyền tham khảo khi xâydựng và phát triển huyện Tân Kỳ về trước mắt cũng như lâu dài mà còn gópphần thiết thực vào việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi của các huyện miềnnúi trong công cuộc đổi mới của đất nước
Với việc chỉ ra những đặc điểm chung và riêng trong quá trình pháttriển của huyện Tân Kỳ so với một số huyện miền núi khác của tỉnh Nghệ An,
đề tài góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về quá trình đô thị hóa,công nghiệp hóa ở miền núi Nghệ An Đề tài còn là một công trình tập hợp tưliệu để tiện cho công tác nghiên cứu, so sánh của những công trình nghiêncứu sau
Ngoài ra, đề tài còn chỉ rõ những mặt tích cực trong phát triển kinh tếcủa huyện Tân Kỳ đồng thời chỉ ra những tồn tại, khiếm khuyết khi xây dựngphát triển kinh tế Vì vậy đề tài sẽ là một kênh thông tin quan trọng giúp cácnhà lãnh đạo huyện trọng việc hoạch định chiến lược phát triển lâu dài, ổnđịnh và bền vững cho huyện Tân Kỳ
6 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung củaluận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Khái quát về vùng đất Tân Kỳ trước khi thành lập huyện
Chương 2: Chuyển biến về kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệpChương 3: Chuyển biến về công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, thương mạidịch vụ
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT TÂN KỲ NGHỆ AN TRƯỚC NĂM 1963
1.1Vài nét về điều kiện tự nhiên.
1.1.1 Địa hình.
Tân Kỳ là huyện miền núi thấp ở vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An, nằmtrong tọa độ 18 độ 58’ đến 19 độ 32’ vĩ độ Bắc, và từ 105 độ 02’đến 105độ14’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp các huyện Nghĩa Đàn và Quỳ Hợp; phíaĐông, phía Nam giáp các huyện Yên Thành và Đô Lương; phía Tây, TâyNam giáp huyện Anh Sơn
Từ thị trấn Tân Kỳ có thể đi tới quốc lộ 7, quốc lộ 1 và tuyến đường HồChí Minh để ra Hà Nội với quãng đường khoảng 300km hoặc đi vào thànhphố Vinh với quãng đường khoảng 100km
Theo thống kê đất đai năm 2008, tổng diện tích tự nhiên của huyện có72.820,75 ha chiếm 4,42% diện tích tự nhiên của tỉnh (huyện Tân Kỳ có diệntích tự nhiên thứ 9 trong tổng số 19 huyện của tỉnh Nghệ An) Huyện Tân Kỳhiện nay có 1 thị trấn và 21 xã là: thị trấn Tân Kỳ(Lạt); xã Tiên Kỳ, ĐồngVăn, Tân Hợp, Giai Xuân, Phú Sơn, Nghĩa Hành, Hương Sơn, Tân Hương,Tân An, Nghĩa Phúc, Tân Xuân, Tân Phú, Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, NghĩaThái, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Hợp, Tân Long, Nghĩa Dũng, Kỳ sơn và Kỳ Tân
Địa hình của Tân Kỳ giống như một lòng chảo từ vùng cao Tân Hợp,Tân Xuân, Giai Xuân, thấp dần về phía sông Con Núi cao nhất là đỉnh PùLoi(1.100m), rồi đến đỉnh Pù À(490m), Bồ Bồ(472m) Ngoài ra là núi đồiphân bổ khắp địa bàn huyện đầu dòng sông Con, phía hữu ngạn gồm các xãNghĩa Đồng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn là vùng đất bằng phẳng rất thuận lợi
Trang 13cho việc canh tác, trồng trọt Có thể chia địa hình của huyện Tân Kỳ thành haidạng như sau:
Địa hình đồi núi: chiếm khoảng 80% diện tích của huyện, mật độ núicao được phân bố chủ yếu theo tuyến địa giới hành chính của huyện, chạy dài
từ vùng giáp ranh Đô Lương, Yên Thành và Nghĩa Đàn
Địa hình đồng bằng: phân bố dọc theo hai bên sông Con và xen kẽ giữadãy đồi núi Phần lớn diện tích trồng cây hàng năn của huyện có dạng bậc thang
Như vậy, huyện Tân Kỳ có dạng địa hình khá phức tạp, phần lớn là đồinúi Với dạng địa hình đó cộng với diện tích đất không phải là rộng là điềuphức tạp, khó khăn cho sản xuát nông nghiệp-lâm nghiệp xây dựng cơ sở hạtầng phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế của huyện
Đất phù sa không được bồi có độ dốc trung bình, mạnh: có diện tích 342,0
ha chiếm 0,47% diện tích đất tự nhiên của huyện, phân bố chủ yếu ở các xã:Đồng Văn, Tiên Kì, Nghĩa Phúc… đất có độ dốc cấp 1(từ 0-8 độ) Đất có dộ dàytrung bình(từ 70-100cm), có thành phần cơ giới cát pha hoặc thịt nhẹ Loại đấtnày thích hợp với trồng lúa và loại cây trồng hàng năm khác
Đất phù sa không được bồi chua có: 3.640,0 ha chiếm 4,99% diện tích
tự nhiên của huyện Đất có độ dốc cấp 1, phân bố chủ yếu ở các xã: Nghĩa
Trang 14Đồng, Nghĩa Hoàn, Nghĩa phúc, Tân Xuân và Giai Xuân Đất có độ dốc cấp1(từ 0-8 độ) được sử dụng chủ yếu để trồng lúa nước.
Đất phù sa có nhiều sản phẩm feralit có: 3.731,0 ha chiếm 5,12 diệntích đất tự nhiên của huyện Đất có độ dốc 1, phân bố hầu hết là ở các xã.Loại đất này phân bố ở những chân ruộng tương đối cao, tầng mặt bị rửa trôilàm cho thành phần cơ giới đất trở nên nhẹ (chủ yếu có thành phần thịt nhẹ).Đất có phản ứng chua ở tầng canh tác, một số trường hợp có hiện tượng tíchlũy Fe, Al ở tầng mặt Những tầng đất phía giới vẫn giữ được bản chất của đấtphù sa ban đầu Loại đất này được sử dụng chủ yếu để trồng lúa, cây hoamàu, nếu chủ động tưới nước có thể trồng 2-3 vụ / năm
Nhóm đất vàng: Đất nâu vàng phát triển trên phù sa cổ có 1.321,0ha,chiếm 1,80% diện tích tự nhiên của huyện Loại đất này chủ yếu trồng cácloại cây lâu năm: cao su, cà phê, cam dứa…
Nhóm đất vàng vùng đồi núi: Đất feralit biến đổi do trồng lúa: có 1470
ha, chiếm 2,02% diện tích tự nhiên của huyện (tập trung chủ yếu ở chân đồinúi thoai thoải) Các chân ruộng này thường là ruộng bậc thang Đất có thànhphần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, kết cấu kém, độ phì thấp, thường chỉ gieotrồng được một vụ lúa, năng suất không cao
Đất dốc tụ: Có 75 ha, chiếm 0.1% diện tích tự nhiên của huyện Loạiđất này có thành phần cơ giới nhẹ (chủ yếu là cát pha), có sản phẩm Feralit ởmức sâu
- Nhóm đất Feralit đỏ vàng vùng đồi núi
+ Đất feralit vàng trên đá kết: có 1.242 ha, chiếm 1,7% diện tích tựnhên Đây là loại đất nghèo chất dinh dưỡng có thể trồng được một số loạicây lâu năm và cây hàng năm như: chè, cao su, su hào, bắp cải…
+ Đất feralit đỏ vàng trên phiến thạch đất sét: có 2.311 ha, chiếm3,17% diện tích tự nhiên Đất có màu vàng hoặc đỏ, thành phần cơ giới từ thịt
Trang 15nhẹ đến thịt nặng, khả năng giữ nước và cung cấp nước tốt Loại đất này cónhiều khả năng cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp.
+ Đất feralit đỏ vàng trên đá Mác ma axit: có 6.196 ha, chiếm 8,5%diện tích tự nhiên của huyện Đất có kết cấu chặt, thấm nước kém, có phảnứng chua Hàm lượng mùn và đạm khá , độ dày tầng đất trung bình Loại đấtnày thích hợp với cây cà phê, chè, cam, chanh…
+ Đất feralit phát triển trên đá vôi: có 8.332 ha, chiếm 11,43% diệntích tự nhiên của huyện Đất có kết cấu tốt, thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sétcao, đất có phản ứng chua mạnh Loại đất này được sử dụng để trồng ngô, đậutương và một số cây làm thuốc
- Nhóm đất feralit xói mòn trơ sỏi đá: có 1.150 ha, chiếm 1,58% diệntích tự nhiên của huyện Đất có độ dày tầng mặt không quá 30cm, lẫn nhiềusỏi đá, có nơi đá mẹ lộ ra trên mặt Loại đất này chỉ có thể sử dụng để pháttriển lâm nghiệp
- Nhóm đất đen:
+ Đất đen : có 1.841 ha chiếm 2,53% diện tích tự nhiên của huyện Đất
có màu sẫm, nhiều sét, tầng đất mỏng có thể trồng cây ăn quả
+ Đất đen trên đá cacbonnat: có 1.104 ha, chiếm 1,51% diện tích tựnhiên của huyện (khu vực gần các thung lũng) Loại đất này được sử dụng đểtrồng lúa hoặc các cây trồng hàng năm khác
- Nhóm đất feralit đỏ vàng vùng núi thấp:
+ Đất feralit đỏ vàng trên phiến sét: có 562 ha, chiếm 0,77% diện tích tựnhiên của huyện Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, cóphản ứng chua Loại đất này được sử dụng chủ yếu để phát triển lâm nghiệp
+ Đất feralit đỏ vàng trên đá cát kết: có 3.286 ha, chiếm 4,51% diệntích tự nhiên của huyện Trên loại đất này đang được sử dụng chủ yếu để pháttriển lâm nghiệp (đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất)
Trang 16Trên cơ sở đặc tính thổ nhưỡng và thực trạng sử dụng đất ở huyện Tân
Kỳ, tính đến ngày 01/01/2008 huyện Tân Kỳ có tổng diện tích đất tự nhiên là72.820,75 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 62.025,78 ha, chiếm 85,18% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp: 8.298,99 ha, chiếm 11,40% tổng diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 2.495,98 ha, chiếm 4,43% tổng diện tích tự nhiên
1.1.3 Khí hậu thời tiết:
Cũng như một số huyện miền núi ở phía tây Nghệ An, khí hậu thời tiết
ở Tân Kỳ diễn biến hết sức phức tạp, thay đổi trong từng ngày, từng tháng.Cách đây khoảng nữa thế kỷ, đây là vùng rừng thiêng nước độc, lam sơnchướng khí, dân cư thưa thớt, các loại bệnh, dịch như: sốt rét, vàng da, vàngmắt…thường xuyên diễn ra và trở thành nỗi ám ảnh của cư dân sống ở đâycũng như người miền xuôi
Tân Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa hè nóng ẩm,mưa nhiều, mùa đông lạnh, mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa nàymưa tập trung từ tháng 8 đến tháng 10 (chiếm 70% lượng mưa của cả năm) vàthường kèm theo gió bão, có năm xảy ra mưa đá phá hoại mùa màng (nhưnăm 2005) Vào tháng 6,7,8 nhiệt độ lên cao với gió Tây Nam khô nóng đãgây ra hạn hán ảnh hưởng đến việc gieo trồng vụ hè thu, mùa lạnh thường bắtđầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân thường dưới 20oC
và có rét đậm kéo dài vào tháng 1, 2 thậm chí có những năm có sương muốivào cuối tháng 1, đầu tháng 2 (như các năm 1954, 1964,1974) gây ảnh hưởngđến sản xuất vụ đông xuân
- Nhiệt độ: nhiệt độ bình quân hàng năm là 23oC, nhiệt độ tối cao tuyệtđối là 42oC ( tháng 5 năm 1966), nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 1oC (tháng 1năm 1974) Tổng tích ôn hòa hàng năm từ 3.500C – 4000C Số giờ nắng bìnhquân hàng năm từ 1.500 – 1.700 giờ
Trang 17- Lượng mưa: lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 2000 mm vàchia thành 2 mùa rõ rệt.
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 –20% lượng mưa của cả năm, khô hạn nhất vào các tháng 1, 2 Lượng mưa chỉđạt 7 – 60mm ( tháng )
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm đến 80 -85% lượng mưacủa cả năm Mưa nhiều nhất là vào các tháng 8,9 đạt từ 220 – 550 mm vàthương gây ra gió bão
Nhiệt độ và lượng mưa giữa các vùng trong huyện có sự chênh lệchnhất định Vùng Giai Xuân, Tân Xuân, lượng mưa thấp hơn vùng NghĩaĐồng, Nghĩa Thái Về mùa đông, vùng Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái có độ ẩm lớnhơn vùng Giai Xuân, Tân Hợp, mặc dù hai vùng liền kề nhau
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm tương đốicao, dao động từ 80 – 90%, tháng 9 có độ ẩm cao nhất khoảng trên 90%,tháng 7 có độ ẩm không khí thấp khoảng 74% Lượng nước bốc hơi bình quânhàng năm 781 mm
- Gió: Hàng năm huyện Tân Kỳ chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu:+ gió mùa Đông Bắc thường xuyên xuất hiện vào mùa đông từ tháng 10đến tháng 4 năm sau Bình quân hàng năm có khoảng 30 đợt gió mùa đôngbắc, mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống từ 5 – 100C
so với ngày thường Tốc độ gió trung bình 3,3 m/s
+ gió Tây Nam ( gió Lào) là loại hình thời tiết đặc trưng của huyện nóiriêng và vùng Bắc trung bộ nói chung Gió Tây Nam thường xuất hiện từ đầutháng 4 và kết thúc vào tháng 8, tập trung chủ yếu vào tháng 5, tháng 6 ( bìnhquân hàng năm có khoảng từ 20-30 này) Gió Tây Nam thường gây khô, nóng
và hạn hán, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và sinh hoạt của người dân.Tốc độ gió trung bình 4,7 m/s
Trang 18Nhìn chung khí hậu thời tiết ở Tân Kỳ diễn ra khá phức tạp và khắcnghiệt Chính vì vậy mà nó đã gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinhhoạt của người dân trong huyện, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hộicủa cộng đồng dân cư nơi đây.
1.2 Vài nét về điều kiện xã hội.
1.2.1 Dân cư.
Ngược dòng lịch sử năm 1887 nhà Nguyễn chia Nghệ An thành 5 phủ:Anh Sơn, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Quỳ Châu và 6 huyện: Nam Đàn, ThanhChương, Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn
Địa danh “phủ Quỳ Châu”, “huyện Nghĩa Đàn” tồn tại mãi đến cáchmạng tháng 8 năm 1945 Ngày 25 tháng 3 năm 1948, chính phủ ra sắc lệnh số148/SL bãi bỏ các danh từ Phủ, Châu, Quận Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnhnhất luật gọi là cấp huyện phủ Quỳ Châu được đổi tên thành huyện QuỳChâu(cũ) bao gồm: Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp hiện nay; còn huyệnNghĩa Đàn(cũ) bao gồm cả Tân Kỳ hiện nay
Ngày 19-4-1963, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 52-CP, phêchuẩn chia ba huyện Quỳ Châu, Anh Sơn, Nghĩa Đàn thuộc tỉnh Nghệ Anthành bảy huyện mới là: Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, Anh Sơn, NghĩaĐàn và Tân Kỳ
Từ chỗ là một vùng đất thưa thớt, dần dần dân cư quy tụ ngày mộtđông, cùng nhau làm ăn sinh sống, đặc biệt đầu năm 1968, Tân Kỳ tiếp nhậntrên 2000 nhân dân các huyện miền xuôi trong tỉnh lên khai hoang Sau đótiếp nhận hai vạn đồng bào các huyện Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ(tỉnhQuảng Trị) sơ tán lâu dài
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng quân và dân Tân Kỳ đã khôngngừng phấn đấu, xây dựng Tân Kỳ ngày một phát triển
Trang 19Trên giải đất vùng Tây Bắc Nghệ An (bao gồm các huyện Quỳ Châu,Quỳ Hợp, Quế Phong, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ) xưa kia có người nguyên thủysinh sống và chống chọi với thiên tai thú giữ để tồn tại và phát triển qua nhiềuthời đại Điều đó được các nhà khảo cổ học chứng minh qua các di chỉ Thẩm
Ồm (có hiện vật chứng tỏ hang này có người vượn cách đây khoảng 20 vạnnăm) và các di chỉ Hang Hổ (Qùy Hợp) , làng Vạc (Nghĩa Đàn)…
Tại Hang Chùa Lèn Rỏi (Tân Kỳ) có di chỉ thời đại đồ đá giữa( với cáccông cụ bằng đá tìm thấy như rìu, công cụ chặt, nạo, chày nghiền, dao đá…)thuộc văn hóa hòa bình, cách ngày nay khoảng 1 vạn năm
Đặc biệt ở xã Giai Xuân người dân đã đà được trống đồng loại 2 Hê gơ Theocác nhà sử học, trống đồng loại này được chế tác muộn hơn trống đồng ĐôngSơn ( cách ngày nay khoảng 1.300 đến 1.500 năm)
Trải qua hàng trăm thế kỷ khai sơn phá thạch chống chọi với thiên taithú giữ, cư dân bản địa phát triển và tiếp nhận thêm nhiều nguồn cư dân ở cácnơi hội tụ về vùng đất này Trước cách mạng tháng tám 1945, vùng Tân Kỳngày nay dân cư thưa thớt, chỉ vài ba nghìn người, đến năm 1963 ( khi thànhlập huyện) có 21 nghìn người, năm 1968 có trên 37.000 người, năm 1977 cótrên 62.000 người, năm 1993 có trên 116.000 người, năm 2003 có gần132.000 người, năm 2008 dân số Tân Kỳ đã có trên 140.000 người bao gồmcác dân tộc Kinh, Thổ, Thái, Thanh Tân Kỳ là một vùng kinh tế mới của tỉnhnên dân số tăng nhanh chủ yếu là tăng cơ học, tiếp nhận hàng vạn đồng bào ởcác huyện đồng bằng như Nam Đàn, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,Ngi Lộc, Yên Thành… lên khai hoang xây dựng quê hương mới
Tính đến tháng 7-2005, dân tộc kinh chiếm trên 77% số dân toànhuyện, các dân tộc thiểu số có 6107 hộ gồm 29.569 nhân khẩu, chiếm khoảng22,5% số dân toàn huyện
Trang 20Dân tộc Thổ phần lớn sống tập trung lâu đời các xã: Tân Hợp, TânXuân, Giai Xuân và cư trú lẻ tẻ ở các xã Đồng Văn, Nghĩa Đàn, Nghĩa Phúc,Nghĩa Hoàn.
Dân tộc Thái: sống tập trung ở hai xã Tiên Kỳ, Đồng Văn và sống xen
kẽ với người Kinh, người Thổ ở các xã khác
Dân tộc Thanh ( Thái đen, Man Thanh) sống xen kẽ với người Kinh ởcác xã Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Bình, Phú Sơn…
Hiện nay toàn huyện có 63 xóm, bản có đồng bào các đan tộc thiểu số cư trú Qua từng chặng đường lịch sử, cộng đồng các dân tộc trên địa bàn Tân
Kỳ đã đoàn kết tương trợ lẫn nhau ra sức chống chọi với thiên tai, thú dữ vàgiặc giã để xây dựng và bảo vệ bản làng Tuy mỗi dân tộc đều có bản sắc, vănhóa riêng, nhưng do sự giao lưu, quan hệ mật thiết với nhau từ bao đời nên đã
có sự giao thoa, đan xen, bổ sung lẫn nhau, tạo nên nếp sống văn hóa đa dạng,phong phú cả cách trang phục, ẩm thực cũng như kiến trúc nhà cửa, chế taọcông cụ săn bắn, hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi Ngoài ra sự đan xen văn hóacòn thể hiện rõ trong văn hóa phi vật thể như tục thờ cúng tổ tiên, trong các lễhội, ngày tết, trong đám cưới, lễ mừng nhà mới… với những điệu múa, lànđiệu dân ca, những nhạc cụ cồng chiêng, kèn, sáo… hoặc những tục ngữ, cadao, câu đối, câu đố, chuyện cổ tích… Tuy có sự đan xen văn hóa thườngxuyên và lâu đời nhưng từng dân tộc vẫn giữ gìn và phát huy được bản sắcvăn hóa của dân tộc mình (9, 46)
Từ lâu, đồng bào Kinh ở miền xuôi lên đã sớm hòa nhập với phong tụctập quán của đồng bào các dân tộc miền núi Phần đông, người kinh vốn ởvùng thâm canh lúa nước, đã phổ biến nhiều kinh nghiệm hay về thâm canhlúa, trồng mía, làm vườn…Một số khá đông người có kinh nghiệm truyềnthống như mộc, rèn, đan lát, nung gạch ngói, nghề xây dựng…, đã góp phầntích cực làm cho nên nên kinh tế - xã hội Tân Kỳ ngày càng khởi sắc
Trang 21Hiện nay, người dân Tân Kỳ từ dân tộc Kinh cho đến Thổ, Thanh, Tháiđang ngày đêm cùng nhau đoàn kết, ra sức xây dựng Tân Kỳ trở thành mộthuyện miền núi giàu mạnh.
Nhà thơ Xuân Đức đã viết: “ Tân Kỳ - quê của muôn quê” quả thậtđúng Nếu xét về nguồn gốc, dân Tân Kỳ bao gồm 19 huyện, thành thị trongtỉnh Nghệ An và 64 tỉnh thành trong cả nước
+ Thiên chúa giáo được du nhập vào việt nam từ thế kỷ XV, vào Nghệ
An vào thế kỷ XVIII Nhà chung Xã Đoài ( Nghi Lộc) là trọng tâm công giáocủa 3 tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quãng Bình Tại Tân Kỳ hiện có hai giáo sỹ,hai vị linh mục, 942 bộ với 4697 tín đồ ( năm 2008) Đồng bào công giáo cưtrú tập trung ở các vùng Quy Hậu ( Kỳ Tân), Làng Rào ( Tân Hương), TânDiễn (Đồng Văn)
1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Tân Kỳ, cho đến thời điểm hiện nay(2012) vẫn là một trong số nhữnghuyện nghèo nhất của tỉnh Nghệ An Tuy nhiên so với thời kỳ khi huyện chưađược thành lập thì có thể nói Tân Kỳ hoàn toàn thay da đổi thịt, với một diệnmạo mới tươi tắn, trẻ trung và năng động hơn
Trước đây, Tân Kỳ chỉ là một vùng đất nghèo hẻo lãnh và gần như bị côlập với thế giới bên ngoài bởi sự cách trở của giao thông, bởi sự nghèo nànthiếu thốn của cơ sở hạ tầng
Hệ thống mạng lưới giao thông trước đây của huyện hầu như không có
gì, chủ yếu là đường đất Con đường tỉnh lộ 545 dài 26 km từ thị trấn Lạt đến
Trang 22xã Nghĩa Đồng được xem là huyết mạch giao thông của huyện cũng chỉ làmột con đường đất, đá gồ ghề rộng chưa đầy 5 m Mùa mưa thì lầy lội, mùa
hè thì bụi tung mịt mù Hệ thống đường liên thôn, liên xóm chỉ là những conđường mòn do người dân đi qua đi lại nhiều mà thành Đường giao thông yếu,phương tiện giao thông thiếu làm cho viếc đi lại của nhân dân trong huyệngặp nhiều khó khăn Muốn đi đến các xã trong huyện hoặc sang các huyệnkhác nếu không nằm chờ mười bữa, nửa tháng để được đi nhờ những chiếc xetải chờ hàng thì phải chấp nhận đi bộ Cho đến những thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, việc đi lại của đồng bào trong huyện cũng gặp rất nhiều khó khăn, đặcbiệt là vào khoảng tháng 7, 8 khi mưa bão kéo đến, cầu lèn Rỏi ngập nước thì
xe cộ không thể qua lại được
Vấn đề nước sinh hoạt của dân càng trở nên bức thiết và khó khăn hơn
Ở vùng đất Tân Kỳ trước đây và ngay cả bây giờ đều có rất ít ruộng đồngtrồng lúa nước nên vấn đề thủy lợi chủ yếu vẫn là những con mương thoátnước Trước đây, nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của cư dân Tân Kỳ được lấy
từ sông Con, các con khe, con suối không hề qua xử lý Mùa khô, nước trongxanh, hiền hòa, người dân chỉ việc gánh nước về đổ đầy các chum, vại dự trữ.Nhưng đến mùa mưa, nước đục ngầu Không còn cách nào khác, người dânphải dùng phèn chua thả vào những thùng nước đục để cặn bẩn lắng xuống rồichắt lấy phần nước trong để dùng Có lẽ vì cách xử lý nước đặc biệt như vậychính là nguyên nhân gây ra những bệnh dịch nghiêm trọng cho đến thờiđiểm này , ngoài thị trấn Lạt và vùng phụ cận được dùng nước máy , nướcsạch đã qua xử lí thì các xã còn lại vẫn phải sử dụng nước giếng, sông suốichưa qua xử lí
Vì địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao, đường đi lại ngoằn nghèo ,khúc khuỷu nên việc xây dựng hệ thống đường dây tải điện hết sức khó khăn.Chính vì vậy , vấn đề điện khí hóa trên Tân Kỳ thực hiên tương đối muộn Đến
Trang 23năm 1995 Tân Kỳ mới hòa vào mạng lưới điện quốc gia thông qua nguồn 35KV
từ huyện Đô Lương Trước khi có điện lưới quốc gia , nguồn sáng dân cư Tân Kỳ
là đèn dầu , điện máy phát nổ Việc thiếu nguồn nhiên liệu quan trọng là điện ởTân Kỳ Trước năm 1995 hầu như không có hoạt động thương nghiệp nào đáng
kể Hệ thống thông tin liên lạc cụng hết sức lạc hậu
Hệ thống hạ tầng xã hội vừa thiếu lại vừa yếu Trước đây khi mới thànhlập, Tân Kỳ chỉ có một số trụ sở của một số cơ quan ban ngành được xâydựng quy củ nhưng cũng chỉ ở quy mô cấp IV ( trụ sở UBND huyện , trungtâm mậu dịch quốc doanh…) , hầu hết nhà dân và các trường học kể cả cơquan của một số cơ quan ban ngành cũng chỉ là nhà tranh, tre , nứa , tạm bợ
Khó khăn là vậy, nhưng riêng về giáo dục, năm 1963-1964 Tân Kỳcũng đã có tới 19 trường phổ thông cấp I với 92 lớp, gần 3.015 học sinh ,trong đó 1.209 học sinh dân tộc Thanh , Thái , Thổ Riêng xã Nghĩa Phúc và
xã Đồng Văn, mỗi xã 2 trường phổ thông cấp I
Ngoài xã Nghĩa Đồng có trường phổ thông cấp II đầu tiên trong huyệncòn phát triển thêm các xã Nghĩa Hoàn, Hương Sơn,Nghĩa Dũng, Kỳ Sơn đã cótrường phổ thông cấp II với 17 lớp , gần 815 học sinh , hệ vỡ lòng có 870 cháu
Sang năm học 1964-1965 , số học sinh cấp I, cấp II tăng cao Ngoài racòn có thêm trường thanh niên dân tộc với 35 học sinh và trường phổ thônglao động với 30 học viên cấp I…
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nướccùng với sự chung tay góp sức của nhân dân, hệ thống cơ sở hạ tầng củahuyện Tân Kỳ đang dần được hoàn thiện và phát triển Diện mạo của huyệndần thay đổi và từng bước được hiện đại hóa
Hiện nay, các tuyến đường giao thông trong huyện phần lớn được nhựahóa hoặc bê tông hóa Đặc biệt là con đường Hồ Chí Minh huyền thoại xuấtphát từ Km số 0, đi qua địa phận Tân Kỳ dài 38 km đã được hoàn thành và
Trang 24đưa vào sử dụng Đây là con đường hết sức quan trọng vì nó giúp cho sự giaolưu kinh tế – văn hóa giữa Tân Kỳ và các huyện lân cận như Đô Lương, AnhSơn, Nghĩa Đàn… được tăng cường và mở rộng.
Ngoài đường Hồ Chí Minh, các con đường tỉnh lộ như: Lạt – Cừa, Lạt– Cây Chanh, đường 15B… đều được nâng cấp và làm mới giúp cho việc lưuthông của người dân trên địa bàn hết sức thuận lợi
Hệ thống chợ trên địa bàn huyện Tân Kỳ cũng dần đi vào quy củ.Ngoài chợ Lạt vốn là trung tâm thương mại của cả huyện đã được xây dựng
và đi vào hoạt động, thì ở hầu hết các xã đều có chợ, thu hút hàng trăm tiểuthương tham gia buôn bán trao đổi, góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hóa củahuyện phát triển
Hệ thống giáo dục của huyện trong những năm gần đây được đầu tưmạnh cả về cơ sở vật chất lẫn chất lượng dạy và học Hiện nay ở tất cả các xãtrọng huyện đều có trường cấp I, cấp II Trên địa bàn huyện hiện tại có batrường THPT với cơ sở vật chất hiện đại đảm bảo nhu cầu học tập cua con emtrên địa bàn huyện
Hệ thống bưu chính viễn thông phát triển mạnh, tất cả các xã, thị tronghuyện đều có trạm bưu điện văn hóa Về cơ bản đáp ứng được nhu cầu củanhân dân trên địa bàn
Nhìn chung trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng của huyện đã đượcxây dựng đồng bộ và từng bước được hiện đại hoá Tuy nhiên ở một số côngtrình, trụ sở vẫn còn nhiều bất cập và lãng phí, chưa tương xứng và chưa đápứng được yêu cầu tiêu chuẩn đề ra
1.2.3 Khái quát về kinh tế Tân Kỳ trước năm 1963
Phần lớn diện tích đất Tân Kỳ ngày nay đều thuộc của huyện NghĩaĐàn ngày trước Nơi đây vẫn được xem là vùng “rừng thiêng nước độc” trảiqua hàng trăm thế kỉ khai sơn phá thạch, chống chọi với thiên nhiên, thú dữ,
Trang 25Cư dân bản địa bàn phát triển và tiếp nhận thêm nhiều nguồn dân cư ở các nơihội tụ về mảnh đất này Trước cách mạng tháng 8 -1945 vùng Tân Kỳ ngàynay dân cư thưa thớt, chỉ vài ba trăm người bao gồm các dân tộc : Kinh , Thổ,Thái, Thanh.
Các dân tộc thiểu số ở Tân Kỳ Như: Thổ , Thái, Thanh, đều có chungtruyền thống phát nương làm rẫy Mặc dù phương thức canh tác giữa các dântộc có khác nhau nhưng đều giống nhau ở tập quán du canh du cư
Phương thức canh tác của dân tộc thiểu số nơi đây trước 1963 cònmang nặng tính nguyên thủy và truyền thống họ gần như phụ thuộc hoàn toànvào thiên nhiên , công cụ làm nương của họ cũng hết sức thô sơ, chủ yếu làdao , rựa , cuốc bàn….để phát rẫy , xới đất Khi thu hoạch họ thường gặt từngbông bỏ vào gùi , địu Năng suất hoàn toàn phụ thuộc vào chất đất , nắngmưa, vì vậy năng suất thường rất thấp, cuộc sống của họ thường xuyên thiếu
ăn thiếu mặc
Ngoài làm nương rẫy , các dân tộc còn trồng rau , củ trong vườn Tuyvậy hái lượm vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của bà con dù
nó không phải là một ngành kinh tế chủ đạo như thời nguyên thủy
Để cải thiện cho bữa ăn hàng ngày, ngoài hái lượm họ còn tổ chức sănbắn Đây là một ngành nghề phổ biến ở nam giới vũ khí săn bắn của họ làsúng, kíp nổ, dao, lao…, các cuộc săn bắn thường được tổ chức theo 2 hìnhthức: săn cá nhân, săn tập thể Dù hình thức nào cũng phải có chó săn đi cùng
để hỗ trợ trong việc đánh hơi tìm thú, đuổi thú…, hình thức săn tập thể được
tổ chức chu đáo, gồm nhiều người tham gia Khi săn, ai làm việc gì, ở đâu đềuđược phân công cụ thể
Ngoài trồng trọt, săn bắn, hái lượm, họ biết lợi dụng địa hình rộng rãi
để chăn nuôi gia súc, gia cầm như: trâu, bò, ngựa , dê, gà, lợn Điều này đãgiúp họ có cuộc sống ổn định hơn và dần thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào thiên
Trang 26nhiên Đó cũng là một điểm tiến bộ để giúp đồng bào dễ thích nghi, hòa nhậpkhi điều kiện sống thay đổi.
Sống trong nền kinh tế tự cung tự cấp, các dân tộc nơi đây đều biết cácnghề thủ công và họ đã tạo ra được nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng như:dệt thổ cẩm ( người thái) , rèn , chế tạo vũ khí( người thổ) , đan lát…
Cùng với các dân tộc thiểu số nơi đây , người kinh cũng xuất hiện rấtsớm, phần lớn họ là người vùng đồng bằng lên khai hoang, xây dựng kinhtế,các cán bộ công chức, một số ít làm nghề buôn bán nhỏ Cùng với thời gian
họ sống và làm ăn, giao lưu văn hóa, cùng với các dân tộc thiểu số xây dựng,phát triển kinh tế
Mặc dù vậy , các sản phẩm mà họ làm ra chủ yếu đáp ứng nhu cầutrong ngày, ở đây hầu như không có sự trao đổi buôn bán, có chăng cũng chỉ
là hàng đổi hàng Số người kinh chưa đủ sức làm nảy sinh nền kinh tế hànghóa ở vùng đất hẻo lánh này
Cùng với thời gian , trải qua các triều đại phong kiến Việt Nam hìnhthành cai trị Các cộng đồng dân cư nơi đây đã không ngừng phát triển kinh
tế dần cải thiện đời sống cho mình
Cùng với quá trình xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, cuộc sốngcủa dân cư nới đây vỗn đã nghèo khổ nay còn thêm vất vã khó khăn
Từ khi có Đảng lãnh đạo,nhân dân Nghĩa Đàn-Tân Kỳ một lòng theoĐảng theo Bác ra sức thi đua lập nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất cũngnhư trong chiến đấu để xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước Đặc biệt trong
vụ đông xuân 1953-1954 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân trong huyện
đã ra sức chống hạn, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau nhằm đưa vụ chiêm xuân đạtdiện tích và năng xuất sản lượng cao nhất Toàn huyện đã tổ chức được 745nhóm sản xuất, trong đó 125 nhóm các xã thuộc các đồng bào dân tộc cùng vớicác chi nhánh tín dụng nông thôn, các nhóm sản xuất và các tập đoàn đổi công
Trang 27giúp nhau vay vốn, mượn trâu bò, công cụ, công sá để sản xuất, nhất là đối vớicác gia đình liệt sỹ, thương binh, gia đình neo đơn, túng thiếu Trong đợt chốnghạn đầu năm 1954, nhân dân toàn huyện Nghĩa Đàn (trong đó có nhiều xãthuộc Tân kỳ ngày nay) gánh gần 400.000 gánh nước để gieo mạ, và gieođược 136 tạ thóc lúa, 4.200 mẫu ngô bãi, 490 mẫu ngô rẫy Ngô bãi vụ đôngxuân 1953 -1954 tăng gấp 3 lần vụ năm trước, khá nhất là xã Giai xuân [10;65].
Song song với việc đẩy mạnh sản xuất, xây dựng hậu phương, quân dânNghĩa Đàn - Tân Kỳ vừa ra sức xây dựng lực lượng, bảo vệ vững chắc địaphương vừa nỗ lực chi viện kịp thời và đầy đủ sức người và sức của cho chiếncục đông xuân 1953 -1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, Đảng bộ vàquân dân Nghĩa Đàn – Tân Kỳ vô cùng vinh dự và tự hào là đã góp phần nhỏ
bé vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc
Tóm lại, nền kinh tế ở Tân Kỳ trước năm 1963 còn hết sức nghèo nàn,lạc hậu, chủ yếu là nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín theo kiểu truyềnthống của các dân tộc thiểu số Vì vậy đời sống của cư dân trong huyện còngặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn
1.2.4 Vài nét về truyền thống văn hóa của cư dân Tân Kỳ:
Cũng như các địa phương khác trong tỉnh, trong nước, nhân dân NghĩaĐàn - Tân Kỳ có truyền thống yêu nước, đấu tranh chống ngoại xâm và cácthế lực bóc lột Trong dân gian vẫn còn lưu truyền nhiều sự tích anh hùngchống bọn chúa đất phong kiến và chống quân xâm lược
Dưới các triều đại Tiền Lê, Lý, Trần, địa bàn Nghệ An nói chung và địabàn Nghĩa Đàn - Tân Kỳ nói riêng là nơi được coi trọng cả về phương diệnkinh tế - văn hóa lẫn quốc phòng Đây là nơi các vương triều tích lũy lựclượng để bảo vệ biên giới phía nam chống quân xâm lược Chăm Pa và là hậuphương của các cuộc kháng chiến chống Tống, chống Nguyên Mông Vào thế
Trang 28kỷ XIII, khi bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại của nước ta chống giặc NguyênMông khét tiếng hung hãn, vua Trần Nhân Tông đã nói: “ Cối kê cựu sự quân
tu ký,Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” ( chuyện cũ cối kê ngươi nên nhớ,Hoan Diễn kia còn chục vạn quân)
Sang thế kỷ XV, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược.Nghĩa quân Lam Sơn đã từ Thanh Hóa vào Nghệ An, đóng quân ở các xã NghĩaPhúc, Nghĩa Hành, Tiên Kỳ thuộc Tân Kỳ ngày nay Đồng bào các dân tộc miềnnúi Nghệ An ( trong đó có Tân Kỳ) đã giúp nghĩa quân Lê Lợi – Nguyễn Trãi
tạo nên chiến thắng vang dội: “Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật.
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay” Theo sử sách ghi lại, từ cuối năm
1423, chủ soái Lê Lợi cùng quân sư Nguyễn Trãi theo lời hiến kế của tướngquân Nguyễn Chích kéo đại quân từ Thanh Hóa vào Nghệ An theo con đườngthượng đạo Con đường này từ huyện Thọ Xuân ( Thanh Hóa) sang BãiChành rồi đến Thái Hòa, qua Tân Kỳ đến cuối xã Giang Sơn(Đô lương)Hiện nay, trên miền núi Nghệ An còn có nhiều di tích của nghĩa quân Lê Lợi.Riêng trên địa bàn Tân Kỳ các di tích như: Bãi Lơi Lơi, Bãi Tập Mã (tậpngựa), bãi quyền Khe Mài, Đền Tả Ngạn, Đền Bục, Lèn Rỏi, làng Tiên Kỳ…thuộc đất của các xã Nghĩa Hành, Hương Sơn và Phú Sơn hiện nay, là nơi tậpkết của nghĩa quân Lam Sơn
Tháng 10 năm 1424, nghĩa quân xuất phát từ bãi Lơi Lơi tấn công baovây thành Trà long, khép chặt vòng vây Được nhân dân ra sức giúp đỡ, nghĩquân Lam Sơn hạ được thành Trà long của giặc Minh
Đất Tân Kỳ còn vinh dự được người anh hùng dân tộc Lê Lợi tặng chomột làng danh hiệu Tiên Kỳ ( lá cờ đầu) Đó là làng mà nhân dân đã theoTrương hán ( Tướng quân Lương, quê ở Tiên Kỳ) gia nhập nghĩa quân, đã đemlương thực và voi, ngựa, trâu, bò, gà, vịt giúp đỡ nghĩa quan Lê Lợi Trên mảnh
Trang 29đất Tiên Kỳ, thành đồn Lê Lợi còn đó – dấu tích nơi đóng quân của nghĩa quânLam Sơn, chuẩn bị tiến công đánh “ Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”…
Sang thế kỷ XVIII, trong thời “ vua Lê chúa Trịnh”, Tân Kỳ là một cứđiểm của nghĩa quân Lê Duy Mật với đại bản doanh ban đầu ở LàngVình(Giai xuân) Nhân dân gọi là “ Thành Hoàng Mật” Về sau, Lê Duy Mậtcho xây dựng nhiều đồn trại khác trên khắp vùng miền núi Nghệ An Dựa vào
sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc ở Nghệ An, ông xây dựng được lực lượngmạnh mẽ để chống cự lâu dài với triều đình Lê – Trịnh
Năm 1769, tập đoàn thống trị Lê – Trịnh kéo vào Nghệ An để đàn ápcuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật Khi thành Hoàng Mật bị triều đình chiếm,dân chúng Tân Kỳ kéo theo Lê Duy Mật kéo về thành Trình Quang ở TrấnNinh Khi thành Trình quang bị vây hãm, hàng loạt người đã kiên cường, bấtkhuất không chịu đầu hàng và đã hy sinh anh dũng cùng chủ Tướng
Cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật kéo dài trên 30 năm ( 1738 – 1770), cuối cùng
bị đàn áp,song đã để lại nhiều ấn tượng đẹp đẽ trong lòng dân xứ nghệ nóichung và nhân dân Tân Kỳ nói riêng…
Vào thế kỷ XIX, nước ta bị thực dân pháp xâm lược, phong trào cầnvương nổi lên mạnh mẽ, nhân dân các dân tộc cả miền xuôi, miền núi Nghệ
An đã nổi dậy tập hợp dưới ngọn cờ khơi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, LêDoãn Nhã, Phan Đình Phùng, Lang Văn Thiết
Do có vị trí là vùng tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng, nhân dânNghĩa Đàn ( bao gồm cả Tân Kỳ hiên nay) vừa tham gia cuộc khởi nghĩa củaNguyễn Xuân Ôn ở đồng bằng vừa hưởng ứng cuộc nổi dậy của Lang vănThiết ở miền núi
Tại làng Sen ( Tân Kỳ), thời cần vương, nhân dân ra sức đào hào, đắplũy, xây thành, chuẩn bị đánh giặc pháp và tay sai Trong trận giao chiến ởTrại Cày và làng Sen đã có 2 người hy sinh [9,58], [9,59] Tại ngọn Phượng
Trang 30Kỳ thuộc dãy Lèn Rỏi, thời cần Vương có lán trại của một bộ phận thuộcnghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn, do Trần Quang Diệm chỉ huy Tại vùng KheMài ( Nghĩa Bình), có doanh trai của Phan Bá Niên – một bộ tướng củaNguyễn Xuân Ôn Khi Nguyễn Xuân Ôn bị giặc bắt, Phan Bá Niên đưa một
số nghĩa quân về Khe Mài xây dựng doanh trại, củng cố lực lượng, được nhândân trong vùng hết lòng giúp đỡ Khi được tin khởi nghĩa Phan Đình Phùngđang phát triển, ông và đề đốc Lê trọng Vinh tình nguyện đem toàn bộ nghĩabinh gia nhập nghĩa quân Phan đình Phùng [9,60], [9,61]
Sau khi dập tắt được các phong trào Văn Thân, Cần Vương Thực dânPháp đã vươn dài cánh tay bóc lột trên mọi miền đất nước ta, xiết chặt dâythòng lọng vào cổ nhân dân ta từ miền xuôi đến miền núi, để guồng máy caitrị được chặt chẽ hơn Ngày 5/9/1892, toàn quyền Đông DươngĐơLaNetXăng ký nghị định thành lập lại các lực lượng lính cơ tại các vùngdân tộc thiểu số thay thế dần số lính người Kinh, chúng còn lập hàng loạt đồnbinh xung quanh sở đại lý Phủ Quỳ như các đồn ở chợ Lụi, Làng Bồi, LàngGiăng, Làng Sen, Làng Sẻ, Làng Dinh, Chợ Bãi… mỗi đồn có lính người dântộc thiểu số do một tên phó chỉ huy phụ trách.Chúng ra sức vơ vét của cải,bắtnhân dân ta phải đi phu,đi lính cho chúng.Do lao động vất vả, không chịu nổi
“ lan sơn chướng khí” nên nhiều người đã thiệt mang vì “nước độc Cô Ba,mathiêng Gia Hội” Ca dao xưa có câu:
“Phủ Quỳ đi có về không
Mồ xanh vợ để tang chồng là đây.”
Sống trong đêm trường nô lệ, bị đàn áp,bóc lột thậm tệ, đồng bào cácdân tộc rất căm phẫn chế độ thực dân , phong kiến Họ đã đứng lên chống lại
kẻ thù
Những năm đầu thế kỷ XX phong trào công nhân và phong trào yêunước trong cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng phát triển mạnh mẽ.Một
Trang 31số thanh niên tiến bộ như Phan Huynh (con trai cả của cu Phan Bội Châu ),
Võ Nguyên Hiến về vùng Nghĩa Đàn- Tân Kỳ để vận động bà con địa phươngtham gia các tổ chức yêu nước và cách mạng
Từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm thấy con đườngcứu nước đúng đắn cho dân tộc, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mac – Lê Ninvào Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập, đồng bào các dân tộc ởTân Kỳ đã dần giác ngộ ý thức dân tộc, ý thức giai cấp và một lòng theoĐảng, theo Bác
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ tháng 5/1930 cao trào cách mạng bùng
nổ trong cả nước mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh Tại các huyện ThanhChương, Nam Đàn và nhiều vùng khác ở Nghệ An và Hà Tĩnh nổ ra nhữngcuộc biểu tình lớn, tấn công vào các huyện đường làm lay chuyển guồng máythống trị của chính quyền thực dân – phong kiến ở nông thôn Từ ngày1/9/1930 Xô Viết thôn xã được hình thành ở nhiều nơi Sự kiện đó tác độngmạnh đến miền núi Nghệ An, nhất là vùng Nghĩa Đàn (bao gồm cả Tân Kỳngày nay)
Vào tháng 10/1930, đồng chí Võ Nguyên Hiến cùng đồng chí VõThược lên Thọ Lộc (Nghĩa Khánh) tổ chức cuộc họp thành lập chi bộ Đảngnhằm kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng đang dấy lên ở Cự Lâm, ThọLộc Đây là chi bộ ghép gồm năm Đảng viên của hai xã Thọ Lộc và Cự Lâm
do đồng chí Phan Đình Lại làm bí thư phụ trách chung, đồng chí NguyễnĐình Thạc làm phó bí thư kiêm tổ chức, đồng chí Võ Thược làm thư ký Đây
là một trong những chi bộ Đảng cộng sản được thành lập đầu tiên ở các huyệnmiền núi Nghệ An
Cuối tháng 2/1931, huyện ủy lâm thời được thành lập Phong trào cáchmạng trong huyện có chuyển biến mới Từ việc xây dựng cơ sở và hoạt động
lẻ tẻ ở từng làng từng xã, các cán bộ Đảng viên đã chuyển sang hoạt động rải
Trang 32truyền đơn, mít tinh, diễn thuyết, vận động quàn chúng đấu tranh sưu cao thuếnặng, chống khủng bố Một số làng đã tổ chức Nông Hội Đỏ, hoạt động hầunhư công khai thu hút gần 80% nhân dân tham gia Trước sức mạnh của quầnchúng cách mạng, bộ máy hào trưởng ở các thôn xã tuy không hoàn toàn tan
rã như các vùng Xô Viết miền xuôi nhưng phần lớn đã phục tùng cách mạng.Một số quyền lực thực tế đã thuộc về nhân dân lao động
Ngày 13/7/1931, giữa phiên chợ Sen đang đông người, tại đình làngSen (xã Nghĩa Đồng) chính quyền thực dân phong kiến giải ba Đảng viêncộng sản là: Nguyễn Linh, Lê Thạch và Lê Nguyệt ra xử bắn Đứng trướchọng súng kẻ thù cả ba đồng chí đã ngẩng cao đầu và hô to: “Đả đảo đếquốc Pháp và Nam Triều phong kiến chế độ! Đảng Cộng Sản Đông Dươngmuôn năm!”
Từ đây, cao trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết NghệTĩnh bước vào giai đoạn thoái trào Do đó cũng như nhiều nơi khác trong haitỉnh Nghệ – Tĩnh, tại Nghĩa Đàn – Tân Kỳ thực dân Pháp và tay sai đã thựchiện đợt khủng bố tàn khốc vô cùng dã man
Bước vào giai đoạn 1930 – 1935, toàn huyện nổi lên phong trào đấutranh quyết liệt của nông dân chống lại bọn chủ đồn điền và bọn quan lại địaphương nhằm bảo vệ đất đai của mình Cuộc chiến này diễn ra quyết liệt vànhân dân Nghĩa Đàn – Tân Kỳ đã đổ không ít xương máu để chống lại bọnchủ đồn điền và quan lại địa phương
Bước sang giai đoạn 1936 – 1939, dưới sự lãnh đạo của các chi bộĐảng địa phương quần chúng các làng bản liên tiếp hội họp, thảo luận sôi nổi,nêu lên các yêu sách của dân gửi lên huyện lên tỉnh Các cán bộ đủ mọi thànhphần do dân cử đã hăng hái đi thu thập nguyện vọng và lấy chữ ký của dân.Tại các làng bản quần chúng đã khai hội để cử đại biểu đi dự Đông DươngĐại Hội cấp huyện và cấp tỉnh Phong trào Đông Dương Đại Hội ở Nghĩa Đàn
Trang 33– Tân Kỳ là một trong những điểm khá nổi bật của cao trào vận động dân chủtrong tỉnh lúc bấy giờ.
Trong không khí sôi nổi của phong trào vận động dân chủ, nhiều nơitrong huyện đã thành lập các hội Tương Tế, Ái Hữu như: hội Hiếu, hội HộSản, phường Cày, phường Cấy… Năm 1937, ở các vùng Thọ Lộc, Cự Lâm,Vĩnh Lại, Yên Hòa… có khoảng 80% quần chúng tham gia các tổ chứcTương Tế, Ái Hữu Thông qua các hội đó, các cấp ủy Đảng đã tập hợp vàhướng dẫn nhân dân đoàn kết đấu tranh đòi thực hiện các quyền dân sinh, dânchủ đơn sơ Tuy nhiên vào giữa năm 1940, hầu hết các cơ sở Đảng ở NghĩaĐàn – Tân Kỳ đều bị địch phá vỡ Một số Đảng viên, quần chúng tích cực cònlại đều bị mất liên lạc, phong trào cách mạng trong huyện lắng xuống
Sang giai đoạn 1940 – 1945, phong trào cách mạng dần được phục hồi,đặc biệt là từ năm 1942 Tuy vậy trận dịch tả năm 1944 cùng với nạn đói năm
1945 đã làm cho nhân dân cả nước, cả tỉnh nói chung và nhân dân Nghĩa Đàn– Tân Kỳ nói riêng thiệt hại nặng nề về người Toàn huyện không có làng nào
là không có người chết Tội ác tày trời của Đế quốc – phong kiến đã khắc sâuthêm mối hận thù trong lòng nhân dân ta, thúc đẩy mọi người vùng lên giànhquyền sống, quyền tự do
Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật hất cẳng Pháp để độc chiếm ĐôngDương, trung ương Đảng đã ra chỉ thị: “Nhật – Pháp bắn nhau và hànhđộng của chúng ta” Tại Vinh, ngày 19/5/1945, ban vận động mặt trậnViệt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập, do đồng chí NguyễnXuân Linh làm trưởng ban Ngày 15/6/1945,mặt trận Việt Minh liên tỉnhNghệ Tĩnh ra lời kêu gọi toàn dân trong hai tỉnh chuẩn bị võ trang khởinghĩa dành chính quyền
Ngày 15/8/1945, nhận được lệnh khởi nghĩa của Việt Minh liên tỉnhNghệ Tĩnh, Việt Minh huyện Nghĩa Đàn đã thành lập ủy ban khởi nghĩa của
Trang 34huyện Ủy ban đã tổ chức này một ngay một đợt tuyên truyền vũ trang đi vềcác xã cổ động quần chúng và thị uy bọn hào lý.
Ngày 22/8/1945, dưới sự lãnh đạo của ủy ban khởi nghĩa hàng ngànquần chúng thuộc các tổng Cự Lâm, Nghĩa Hưng, Thanh Khê, Hạ Sưu, TháiThịnh cùng hàng trăm công nhân các đồn điền vùng Phủ Quỳ đã mang theosúng săn, giáo mác, gậy gộc đến tập trung tại gốc đa làng Vĩnh Lại Các nhóm
tự vệ dẫn đầu từng đoàn biểu tình tiến vào các huyện đường bắt giữ tri huyệnHoàng Mộng Kham và các viên đề lại
Cuộc khởi nghĩa dành chính quyền ở Nghĩa Đàn – Tân Kỳ diễn ra rấtlinh hoạt không theo công thức khởi nghĩa ở huyện trước, làng xã sau mà tùyđiều kiện từng nơi để cướp thời cơ dành chính quyền Trong vòng một tuầntoàn bộ chính quyền đã thuộc về tay nhân dân
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Nghĩa Đàn - Tân
Kỳ là nơi phải hứng chịu không biết bao nhiêu là bom đạn của kẻ thù Nhưngdưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã chiến đấu kiên cường bất khuất đểbảo vệ quê hương Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ ấy, đã có rất nhiềungười con Tân Kỳ ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc Và trong số ấy
đã có không ít người nằm xuống, dùng xương máu của mình để đổi lấy độclập tự do cho tổ quốc, đổi lấy hòa bình cho con cháu mai sau
Từ ngày tách huyện ( 4 – 1963), nhân dân Tân Kỳ dưới sự lãnh đạo củaĐảng ra sức khắc phục khó khăn, chăm lo phát triển kinh tế xã hội, từng bước
ổn định đời sống Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhân dân Tân Kỳ tiếptục phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, thi đua yêu nước,tích cực phát triển kinh tế hộ gia đình, xóa đói giảm nghèo, làm giàu cho giađình và xã hội Có được những điều đó là nhờ truyền thống đoàn kết của cộngđồng cư dân Tân Kỳ Và đó cũng chính là nét đẹp nhất trong bức tranh vănhóa của cộng đồng cư dân Tân Kỳ cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Trang 35TIỂU KẾT:
Trên vùng đất Tân Kỳ ngày nay, mặc dù là nơi rừng thiêng nước độcnhưng con người đã xuất hiện ở đây khá sớm, các dân tộc sinh sống trênmảnh đất này tính đến thời điểm tháng 1 năm 2005, dân tộc kinh chiếm trên77% số dân toàn huyện, các dân tộc thiểu số có 6.107 hộ gồm 29.569 nhânkhẩu, chiếm khoảng 22,5% số dân toàn huyện [10,13]
Mặc dù có nguồn gốc khác nhau, thời gian cư trú khác nhau, văn hóa
và ngôn ngữ cũng khác nhau nhưng các dân tộc ở Tân Kỳ đã sớm đoàn kết,hòa hợp, gắn bó với nhau để tạo nên một cộng đồng cư dân bền vững, đấutranh bảo vệ quê hương Đó chính là nét đẹp nhất trong đời sống văn hóa củacộng đồng cư dân Tân Kỳ, và là cội nguồn, là sức mạnh ở miền tây xứ nghệ
Là một huyện miền núi, địa hình phức tạp, khí hậu lại khắc nghiệt và làmột trong những huyện nghèo nhất của tỉnh nên cơ sở hạ tầng của Tân Kỳtrước ngày thành lập, thậm chí cách đây không lâu vẫn còn hết sức lạc hậu,nghèo nàn Hệ thống điện, đường, trường, trạm vừa thiếu lại vừa yếu Điệnthắp sáng không có, nước sinh hoạt cũng không, đường xá đi lại khó khăn,phương tiện giao thông lại hiếm, trường lớp tranh tre mái lá, dột nát…Đã côlập Tân Kỳ trong vòng luẩn quẩn, nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế tự cung, tựcấp, khép kín phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, thường là không đủ ăn, đủmặc nên cuộc sống của cư dân nơi đây trước năm 1963 hết sức khó khăn,cộng thêm với bệnh tật luôn hoành hành Trình độ dân trí thấp, mù chữ…Lạicàng cột chặt con người vào cái nghèo, cái khổ
Đến năm 1995 khi Tân Kỳ hòa vào dòng điện quốc gia thì dường nhưánh sáng văn minh cũng và về cùng nguồn điện thắp sáng, bộ mặt của huyệndần thay da đổi thịt, tươi tắn và trẻ trung hơn Hệ thống cơ sở hạ tầng dầnđược xây dựng đồng bộ và hiện đại Đó là điều kiện hết sức quan trọng đểnhân dân Tân Kỳ tiếp tục phát huy truyền thống, khí phách của mình vàocông cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 36CHƯƠNG 2: CHUYỂN BIẾN VỀ NÔNG NGHIỆP,
LÂM NGHIỆP, NGƯ NGHIỆP
2.1 chuyển biến về nông nghiệp.
2.1.1 Ngành trồng trọt :
Tân Kỳ là một huyện miền núi có nhiều loại đất để trồng nhiều loại cây
có giá trị kinh tế cao.đất phù sa có thể trồng cây lương thực, cây nông nghiệpngắn ngày, đất feralit, đất đen có thể trồng cây công nghiệp dài ngày,…
Tuy vậy Tân Kỳ lại chịu tác động mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố môitrường : địa hình bị chia cắt bởi sông con và nhiều khe suối ,làm cho địa hìnhkhá phức tạp, khí hậu khắc nghiệt đặc biệt là mùa mưa gây lũ lụt, xói mòn ,rửa trôi đất,…
Trong những năm đầu khi mới thành lập huyện, nghành kinh tế nóichung và nghành nông nghiệp nói riêng ở Tân Kỳ còn rất yếu chủ yếu là tựcung tự cấp, tập quán của người dân các dân tộc thiểu số đã dần thay đổi, họkhông còn du canh du cư , phá rừng làm rẫy …mà thay vào đó là định canhđịnh cư theo phong tục của người kinh Xét một cách tổng thể thì so vớinhững năm đầu tách huyện (1963) cho đến nay (2011) thì nghành trồng trọtcủa Tân Kỳ đã có những chuyển biến rất lớn
- Cây lương thực có hạt:
+ Cây lúa: trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước vớiphương châm: “ Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”quân và dân Tân Kỳ vừa hăng hái chiến đấu vừa ra sức sản xuất để khôngnhững đủ ăn mà còn chi viện cho chiến trường Miền Nam
Trong thời kỳ 1963 – 1975, mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn nhưngdiện tích gieo trồng lúa của huyện Tân Kỳ không ngừng được mở rộng.Đặc biệt, sau ngày thành lập huyện, theo lời kêu gọi của Đảng và nhà nước,
Trang 37nhân dân ở các huyện miền xuôi như Hưng Nguyên, Nam Đàn, ThanhChương, Diễn Châu, Đô Lương đã lên xây dựng vùng kinh tế mới ở Tân
Kỳ, cùng với đó là hơn hai vạn đồng bào các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh,Cam Lộ (Quảng Trị) sơ tán lâu dài Nếu như năm 1963 diện tích trồng lúacủa huyện chỉ đạt hơn 4.000 ha thì đến năm 1975 tổng diện tích trồng lúacủa huyện đã đạt gần 6.000 ha Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn vềthiên tai như lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh nhưng nhìn chung năng suất vẫn tăngtheo hàng năm Nếu như năm 1963 năng suất chỉ đạt 15 tạ/ ha thì đến năm
1975 đạt 19 tạ /ha Nghĩa vụ lương thực hàng năm đảm bảo nạp cho nhànước là 757,2 tấn [10,110]
Sau ngày đất nước thống nhất và đặc biệt là sau Đại hội VI của Đảngnăm 1986, với chính sách đổi mới nền kinh tế nông nghiệp của huyện đã cónhững chuyển biến hết sức đáng kể, đặc biệt là về cây lúa Diện tích và năngsuất không ngừng được tăng lên Đặc biệt trong những năm gần đây dù diệntích trồng lúa có xu hướng giảm vì quá trình đô thị hóa nhưng năng suất đượctăng lên đáng kể nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuấtnhư: phân bón, giống Nếu như năm 1975 diện tích trồng lúa có khoảng trên7.000 ha thì đến năm 2006 chỉ còn 6.500 ha nhưng năng suất lại tăng mạnh.Năm 1985 năng suất chỉ đạt 18,2 tạ/ha thì đến năm 1995 đã tăng lên 40,2tạ/ha Đến năm 2010 đã đạt 51 tạ/ha Sản lượng tăng từ 16.028 tấn năm 1986lên 29.035 tấn năm 2005, đến năm 2010 tăng lên 33.250 tấn [9,37]
+ Cây ngô:cùng với lúa, ngô là nguồn lương thực hết sức quan trọng đểphục vụ cho cuộc sống và chăn nuôi Nếu như năm 1963 diện tích ngô chỉ cókhoảng 4.000 ha thì đến năm 1975 đã lên đến 5125 ha Cùng với việc diệntích được mở rộng thì năng suất cũng tăng lên đáng kể Năm 1963, sản lượngNgô chỉ đạt 4800 tấn thì đến năm 1975, đã đạt gần 8000 tấn
Trang 38Giai đoạn từ 1986 - 1996, diện tích và sản lượng vẫn tăng đều theohàng năm Đặc biệt trong giai đoạn này, người dân đã biết áp dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên năng suất Ngô đạt mức cao Nếu nhưnăm 1986 năng suất Ngô chỉ đạt gần 15 tạ/ha, thì đến năm 1996 năng suấtNgô lên đến gần 25 tạ/hạ
Tuy vậy, trong những năm gần đây, cùng với quá trình đô thị hóa, đấtnông nghiệp biến thành đất chuyên dùng, đất ở ngày càng nhiều, hơn nữa một
số lượng không nhỏ diện tích trước đây trồng lúa, ngô thì bây giờ được thaythế bởi các cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn (mía,sắn…) vì vậy màdiện tích gieo trồng cây lương thực có hạt ngày càng bị thu hẹp Năm 2005diện tích gieo trồng lúa là 6.815 ha giảm xuống còn 6.500 ha vào năm 2010,ngô giảm từ 7.186 ha (2005) xuống còn 6.000 ha(2010), giảm 16% [30,2].Tuy giảm về diện tích nhưng năng suất vẫn tăng mạnh Sản lượng lương thựccây có hạt năm 1995 chỉ đạt 15.773 tấn thì đến năm 2000 đã đạt 29.000 tấntăng 7.1% Năm 2005 đạt 46.928 tấn và đến năm 2010 đạt đến 58.350 tấn.Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 4,95% [10;212] [30;2]
- Cây công nghiệp:
+ Cây mía: Loại cây này chỉ mới phát triển trong những năm gần đây.Loại cây này có nhiều điều kiện rất thuận lợi để phát triển để phát triển vì nóthích hợp với thổ nhưỡng đất đai của huyện Hiện nay trên địa bàn huyện đãhình thành vùng cây chuyện canh tập trung trên địa bàn với quy mô diện tíchngày một tăng Năm 2005 diện tích trồng mía đạt 2.978 ha đến năm 2010 đãlên tới 4.500 ha tăng 51% Năng suất tăng từ 430 tạ/ha (2005) lên 610 tạ/ha(2010), tăng 41,86% Sản lượng tăng từ 128.173 tấn (2005) lên 274.500 tấn(2010) tăng 114% cung cấp đủ cho nhà máy đường sông con ( Tân Kỳ) hoạtđộng đảm bảo công suất chế biến trên 2.500 tấn mía/ngày [30,2]
Trang 39+ Cây sắn: Đây là loại cây gắn bó khá mật thiết đối với đồng bào các dântộc thiểu số ở Tân Kỳ Tuy nhiên trước đây do tập quán du canh du cư, thiếucác yếu tố khoa học…nên năng suất rất thấp Trong những năm gần đây loạicây này phát triển khá nhanh do các cơ sở chế biến thủ công trên địa bànhuyện, các nhà máy săn ở Thanh Chương, Yên Thành thu mua, tiêu thụ sảnphẩm tương đối lớn Ngoài việc tăng nhanh diện tích trồng, biện pháp đưagiống sắn cao sản vào trồng trọt cũng được huyện chú ý, quan tâm phát triểnhợp lý Sắn được trồng ở các xã có điều kiện đất đại phù hợp, chủ yếu là các
xã Đồng Văn, Tiên Kỳ, Tân Hợp, Giai Xuân…Diện tích trồng sắn tăng từ 749
ha năm 2000 lên 1211 ha năm 2005 và hiện nay có trên 2.500 ha cho sảnlượng sắn củ khoảng 500.000 tấn [ 31,3]
+ Cây lạc: Đây là cây có giá trị kinh tế khá cao, được phát triển chủyếu ở vụ lạc xuân Các giống lạc mới có năng suất cao được triển khai, ápdụng phổ biến như giống lạc L14, LVY, L18…Tuy nhiên trong những nămgần đây do thời tiết không thuận lợi nên việc phát triển lạc chưa đạt đượcnhư kết quả như kế hoạch đề ra Tuy năng suất và sản lượng có tăng khánhưng diện tích gieo trồng giảm nên chỉ tiêu kế hoạch đạt được bị hạn chế.Diện tích gieo trồng giảm từ 2.256 ha (2000) xuống 1.804 ha (2005) vàhiện nay xuống còn 1.300 ha (2010) Năng suất tăng từ 4,7 tạ/ha (2005) lên
20 tạ/ha (2010) tăng 325% Sản lượng tăng từ 848 tấn (2005) lên 2.600 tấn(2010), tăng 206% [30,2]
+ Cây cao su: Đây là loại cây có giá trị kinh tế cao và chỉ được trồng vàphát triển trong những năm gần đây Trong những năm qua, cây cao su đãđược huyện quy hoạch, chỉ đạo và có giải pháp phát triển tốt Diện tích câycao su tăng nhanh nhờ biện pháp giao đất, giao rừng, phát triển mô hình kinh
tế trang trại Kết quả đạt được là hết sức khả quan Cao su mới chỉ được pháttriển tập trung chủ yếu ở vùng các nông trường như: Sông Con, An Ngãi, Vực
Trang 40Rồng Năm 2005, diện tích cây cao su chỉ có 719 ha thì đến năm 2010 diệntích trồng cây cao su của huyện đã lên đến hơn 2.200 ha tăng 196% Năngsuất tăng từ 9,2 tạ/ha (2005) đã tăng lên 13,4 tạ/ha (2011) tăng 45,6% Sảnlượng mủ khô tăng từ 362 tấn (2005) lên 1.501 tấn (2011) tăng 314% [30,3].+ Cây ăn quả: Cây ăn quả ở trên địa bàn huyện Tân Kỳ chủ yếu là cam
và dứa Đây là hai loại cây có giá trị kinh tế cao nhưng khâu tổ chức đầu ra,tiêu thụ sản phẩm chưa tốt nên diện tích trồng ngày một thu hẹp dần Hiệnnay diện tích dứa chỉ khoảng 50 ha còn diện tích cam chỉ còn 60 ha Ngoài racác loại cây khác như chuối, xoài, nhãn… được duy trì tăng trưởng nhưng ít,không đáng kể Hầu hết các loại cây này đều phát triển phân tán theo hộ nôngdân chưa có phát triển tập trung, chuyên canh Vì vậy khả năng sản xuất tạo rasản phẩm có tính chất hàng hóa yếu, chủ yếu là tự cung tự cấp và tiêu thụ nộiđịa Trong giai đoạn tới huyện cần có những giải pháp tích cực để tạo đòn bẩyphát triển các cây ăn quả có giá trị kinh tế cao ( đặc biệt là cây cam, dưa hấu)
Bảng thống kê diện tích và sản lượng một số cây trồng chủ lực ở Tân Kỳ
giai đoạn 1963 – 1975.
T/T Diện tích và sản lượng cây trồng 1963 1975
1 Diện tích trồng lúa (ha) 3871 5916
(Nguồn : UBND huyện cung cấp – tài liệu lưu tại văn phòng UBND Huyện)
Bảng thống kê diện tích và sản lượng một số
cây trồng chủ lực ở Tân Kỳ:
TT Diện tích và sản lương Năm 2005 Năm 2006 Tỷ lệ (%)