Bài giảng Quản lý hành chính đô thị: Phần 1 cung cấp cho người học những kiến thức như: Đô thị và định hướng phát triển đô thị việt nam; Lý luận chung về quản lý hành chính đô thị; Kiểm soát phát triển và quản lý quy hoạch đô thị. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ MÔI TRƯỜNG NÔNG NGHIỆP
BÀI GIẢNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH ĐÔ THỊ
Giảng viên: Ths Trần Thị Minh Châu
Huế, 2018
Trang 3CHƯƠNG 1 ĐÔ THỊ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về đô thị
1.1.1 Đô thị và đặc trưng của đô thị
1.1.1.1 Khái niệm đô thị
Đô thị là sản phẩm của nền văn minh xã hội, nó phản ánh một cách tổng hợp nhất quá trình và trình độ phát triển của xã hội Nó là một khái niệm về vùng thường được
dùng để so sánh với khái niệm vùng nông thôn, mang các đặc điểm như sau:
- Là không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp
- Là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của một tỉnh, một vùng hoặc cả nước
- Là khu vực có mật độ dân số cao, cơ sở hạ tầng phát triển hơn so với nông thôn
Như vậy, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ dân số cao, hoạt động kinh tế
chủ yếu là phi nông nghiệp, cư dân sống và làm việc theo phong cách, lối sống đô thị; có
cơ sở hạ tầng phát triển; là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh, vùng hay cả nước
Các điểm dân cư đô thị được hình thành và phát triển do:
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
- Quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp
Định nghĩa về đô thị được đưa ra không giống nhau ở các quốc gia khác nhau, do
có sự khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội, mức độ phát triển của hệ thống đô thị và cơ
cấu tổ chức hành chính, chính trị của mỗi nước Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị
được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm
lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm:
- Chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có
vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất
định
- Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ
Trang 4thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
+ Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức
độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị
+ Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng
hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh
đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị, có tổ
hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan
thiên nhiên
1.1.1.2 Đặc trưng của đô thị
a) Đô thị như một cơ thể sống
Đặc trưng này xuất phát từ tính chất cấu trúc hoàn chỉnh và đồng bộ của từng bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể đô thị và tính chất luôn vận động của nó Hệ thống chức
năng vận động của đô thị là toàn bộ hoạt động của nền kinh tế - xã hội đô thị trên cơ sở hạ
tầng đô thị Giống như một cơ thể sống, bất kỳ một sự “trục trặc” nào trong hệ thống cấu
trúc cũng sẽ dẫn tới những rối loạn trong hoạt động đô thị Vì vậy, sự cân bằng ổn định,
bền vững là mục tiêu số một của đô thị
b) Đô thị luôn luôn phát triển
Đặc điểm này vừa biểu hiện tính “sống” của đô thị, đồng thời biểu hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị với xã hội loài người Sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền
với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt là gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế
hàng hóa Xã hội loài người luôn phát triển, kinh tế hàng hóa luôn phát triển do đó đô thị
luôn phát triển Đặc điểm này cũng cho thấy sự hình thành, tồn tại và phát triển của đô thị
chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội Đặc biệt là các quy luật của
nền kinh tế thị trường Tác động này vừa là thời cơ vừa là thách thức cho sự phát triển ổn
định, bền vững của đô thị
c) Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được
Mặc dù các đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhưng con người có thể tham gia và điều khiển được sự phát triển
đó Nói cách khác, đô thị được coi là một hệ điều khiển, tuy nhiên là một hệ mở, một hệ
điều khiển bán hoàn chỉnh Con người chỉ có thể điều chỉnh được sự hình thành, hoạt
động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó Con người có thể
định hướng, can thiệp vào sự vận động của đô thị, chứ không thể “bắt” đô thị vận động
theo ý chủ quan trái với quy luật của mình Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có
mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung
quanh nó Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật
Trang 5từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp Các
đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa Đo đạc tầm rộng của
một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết được
các số liệu về dân số nông thôn và thành thị Không như một đô thị, một vùng đô thị
không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông
thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lõi, tiêu biểu là
mối quan hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành
phố đô thị cốt lõi là thị trường lao động chính
1.1.2 Phân loại đô thị
Để có cơ sở quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, cần phải phân loại đô thị Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều cách để phân loại đô thị như sau:
1.1.2.1 Phân loại theo tiêu chí riêng lẻ
- Theo quy mô dân số:
+ Đô thị nhỏ: 4000 đến dưới 5 vạn dân
+ Đô thị trung bình: Từ 5 vạn đến dưới 25 vạn dân
+ Đô thị lớn: Trên 25 vạn dân
- Theo chức năng hành chính – chính trị:
+ Thủ đô (quốc gia hay liên bang)
+ Thủ đô bang (nếu có cơ sở hành chính bang)
+ Tỉnh lỵ
+ Huyện lỵ
- Phân theo cấp hành chính – chính trị:
+ Thành phố trực thuộc Trung ương, ngang cấp tỉnh
+ Thành phố trực thuộc tỉnh, ngang cấp huyện
Trang 6Bảng1.1 Phân loại đô thị tại Việt Nam
Cơ sở
hạ tầng
Quy mô dân số
Mật độ dân số
Đặc biệt
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học
- kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
> 90%
Cơ sở
hạ tầng được xây dựng về
cơ bản đồng bộ
và hoàn chỉnh
>5 triệu người
15.000 người/km2
trở lên
Loại I
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học
kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước
> 85 %
Cơ sở
hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ
và hoàn chỉnh
Trực thuộc TW: > 1 triệu người
- Trực thuộc tỉnh: >
500 nghìn người
- Trực thuộc TW:
12.000 người/km2
trở lên
- Trực thuộc tỉnh:
10.000 người/km2
Loại II
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học
kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
> 80 %
Cơ sở
hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng
bộ và hoàn chỉnh
- Trực thuộc TW:
>8000 người
- Trực thuộc tỉnh: >
300 nghìn người
- Trực thuộc TW:
10.000 người/km2
trở lên
- Trực thuộc tỉnh:
8.000 người/km2
Loại III Là trung tâm chính trị, > 75 % Cơ sở > 150 6000
Trang 7Cơ sở
hạ tầng
Quy mô dân số
Mật độ dân số
kinh tế, văn hoá, khoa học
kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ
và hoàn chỉnh
nghìn người
người/km2
trở lên
Loại IV
Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch
vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh
>70 %
Cơ sở
hạ tầng
đã hoặc đang được xây dựng từng mặt đồng bộ
và hoàn chỉnh
> 50 nghìn người
4.000 người/km2
trở lên
Loại V
Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá
và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội của một huyện hoặc một cụm xã
> 65 %
Cơ sở
hạ tầng
đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ
và hoàn chỉnh
> 4 nghìn người
2.000 người/km2
trở lên
1.1.3 Quản lý đô thị
Trang 8Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quản lý đô thị tùy thuộc vào cách tiếp cận và nghiên cứu Một số khái niệm về quản lý đô thị được phát biểu như sau:
Quản lý đô thị là các hoạt động nhằm huy dộng mọi nguồn lực vào công tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạt dộng đó để đạt được các
mục tiêu phát triển của chính quyền đô thị
Quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở của nhiều khoa học chuyền ngành, bao gồm hệ thông chính sách, cơ chế, biện pháp và phương tiện được
chính quyền Nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý và kiểm soát quá trình
tăng trưởng đô thị Theo một nghĩa rộng thì quản lý đô thị là quản lý con người và không
gian sống (ăn, ở, làm việc, nghỉ ngơi…) tại đô thị
Quản lý đô thị là quá trình tác động tổng hợp bằng các cơ chế chính sách của chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các sở, ban, ngành chức năng) vào
các đối tượng quản lý nằm trên địa bàn đô thị nhằm duy trì hoạt động hay định hướng cho
sự phát triển của các đối tượng đó
Như vậy, thực chất quản lý đô thị chính là sự can thiệp bằng quyền lực của chính quyền vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị với mục đích làm cho các đô thị trở
thành các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc
tế của mỗi vùng lãnh thổ
Trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đô thị đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy cần phải đặt ra nhiệm vụ cao hơn về nhu cầu
quản lý ở đô thị trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình xây
dựng một Nhà nước dân chủ và xã hội công bằng, Nhà nước đó thật sự là của dân, do dân
và vì dân, là công cụ để quản lý con người sổng và làm việc theo pháp luật Quản lý đô
thị bao gồm quản lý hành chính đô thị và quản lý nghiệp vụ trong mọi lĩnh vực ở đô thị
Mục đích của việc phân cấp quản lý đô thị là để phân định rõ trách nhiệm quản lý
về mặt hành chính cho các cấp từ Trung ương đến địa phương Trên cơ sở đó phát huy
tính chủ động sáng tạo của mỗi cấp trong việc lập quy hoạch kế hoạch xây dựng đô thị,
chủ động đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật từ vốn tự có của địa phương
Hệ thống hoạt động quản lý đô thị bao gồm 3 thành phần như sau:
- Chính sách quản lý
- Công cụ quản lý
- Đối tượng quản lý
Trang 9
1.2 Chiến lược phát triển đô thị ( City Development Strategy - CDS)
1.2.1 Bối cảnh phát triển đô thị Việt Nam hiện nay
1.2.1.1 Những thành tựu đạt được
- Quá trình đô thị hóa của nước ta trong thời gian qua diễn ra với tốc độ nhanh, đến nay cả nước đã có trên 760 đô thị, dân đô thị tăng nhanh, hiện nay đã có trên 27 triệu
người dân sống trong nội thị Kinh tế đô thị đóng góp khoảng 70% GDP của cả nước, so
sánh các chỉ số về thu ngân sách của các vùng tỉnh và các đô thị cho thấy tăng trưởng
kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung bình từ 12 - 15% cao gấp từ 1,5 - 2 lần so với mặt bằng
chung trong cả nước, điều đó khẳng định vai trò và tầm quan trọng của phát triển đô thị
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị
trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột,
Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình…
Quan điểm, mục tiêu quản lý
Giải pháp quản lý
Pháp chế
Tổ chức Nhân lực
Trang 10Hình 1.1 Phân bố dân cư và đô thị Việt Nam
- Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị
trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới
- Công tác xây dựng, phát triển và quản lý đô thị có nhiều đổi mới, đã dần đi vào khuôn khổ, nề nếp Chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao Bộ mặt đô thị có
nhiều thay đổi, khang trang, văn minh hơn
Trang 11quá tải, xuống cấp (nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh)
- Trong hệ thống đô thị nước ta có đặc điểm “đầu to”, nghĩa là hệ thống đô thị phát triển theo hình tháp (có một hoặc hai đô thị có quy mô vượt trội hơn hẳn lên) còn các
nước phát triển thì ổn định, cân bằng, hệ thống đô thị theo hình nón (giảm hay tăng dần
đều) Điều đó gây khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội đồng đều trên lãnh thổ quốc
gia
- Sự tăng trưởng dân số đô thị ở nước ta không hẳn dựa trên nhu cầu phát triển lao động và việc làm trong các đô thị mà một phần còn do tình trạng thất nghiệp, thiếu việc
làm ở nông thôn gia tăng ở mức cao Đồng thời, mức sống ở đô thị và nông thôn còn quá
chênh lệch nên dòng dân nông thôn di chuyển vào các đô thị, nhất là đô thị lớn ngày càng
nhiều
- Các đô thị phân bố chưa đồng đều, tương xứng với các nguồn tài nguyên trên lãnh thổ quốc gia Phần lớn các đô thị hình thành và phát triển ở vùng đồng bằng Bắc Bộ,
đồng bằng sông Cửu Long hay ven biển Vùng miền núi, trung du, Tây nguyên còn thưa
và thiếu rất nhiều đô thị là trung tâm của khu vực
- Chất lượng cơ sở hạ tầng, chất lượng môi trường tại các đô thị còn chưa cao và đang có dấu hiệu xuống cấp
- Năng lực của chính quyền đô thị chưa cao Các thủ tục hành chính còn rườm rà, phân công trách nhiệm còn chồng chéo, ôm đồm
1.2.2 Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam
1.2.2.1 Khái niệm chiến lược phát triển đô thị
Trên cơ sở phương pháp quy hoạch chiến lược, từ năm 2000 Liên minh các thành phố (City Alliance), Ngân hàng thế giới (WB) và Cao ủy Liên hợp quốc về định cư đã
đưa ra phương pháp quản lý phát triển theo chiến lược phát triển đô thị (CDS) Phương
pháp xây dựng kế hoạch và quản lý phát triển này đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới
Ở nước ta, đến nay các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,
Nam Định, Cần Thơ, Đà Nẵng đã lập chiến lược phát triển đô thị theo phương pháp này
Chiến lược phát triển đô thị (CDS) là một công cụ gắn kết các bên liên quan chủ chốt với các nhà tài trợ trong việc hình thành và thực hiện một chiến lược phát triển cho
một đô thị một cách tổng thể, để đưa ra các ưu tiên đầu tư, tạo lập sự nhất trí và khuyến
khích sự tham gia hành động để biến những chiến lược đó thành hiện thực
Như vậy có thể nói, CDS nhấn mạnh sự phối hợp giữa các bên liên quan, nhấn mạnh vai trò của các nhà tài trợ phát triển (nguồn tài chính), đặc biệt nhấn mạnh vai trò
thực hiện các giải pháp theo mục tiêu (đến các dự án và thứ tự ưu tiên)
1.2.2.2 Nội dung chiến lược phát triển đô thị
Nội dung chính của Chiến lược phát triển đô thị thể hiện qua 6 giai đoạn của tiến trình thực hiện, trong đó kết quả của giai đoạn trước là tiền đề, cơ sở thực hiện của giai
đoạn sau
Trang 12- Giai đoạn 1: Thỏa thuận sơ bộ và tôn chỉ
Cũng giống như lập quy hoạch chiến lược, nếu không thống nhất được với người đứng đầu của đối tượng CDS (đô thị) để có mục tiêu, kế hoạch và kinh phí thì không thể
tiến hành thành lập và thực hiện CDS Trên cơ sở thỏa thuận với người đứng đầu, đơn vị
tư vấn phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm thực hiện các bước chuẩn bị tiếp theo
Tôn chỉ chính là mục tiêu cơ bản và lâu dài Mục tiêu này là điểm quy chiếu để chọn các yếu tố xem xét hiện trạng ở giai đoạn sau Ví dụ, mục tiêu của đô thị là phát
triển ổn định, bền vững Như vậy, cần phải xem xét tất các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát
triển ổn định bền vững đó
- Giai đoạn 2: Trả lời câu hỏi chúng ta đang ở đâu?
Câu hỏi này liên quan tới việc phân tích thực trạng Việc quan trọng ở giai đoạn này là xác định mục tiêu thứ cấp và chọn lọc được các yếu tố ảnh hưởng tới mục tiêu phát
triển đã xác định ở giai đoạn 1 Các yếu tố ảnh hưởng cũng được chia thành nhiều cấp
(tùy thuộc vào mức độ phức tạp của chủ đề trong phân tích chiến lược) Ví dụ, nếu mục
tiêu chung của đô thị là phát triển ổn định bền vững thì các tiêu chí phát triển ổn định bền
vững là: Khả năng sinh sống, khả năng cạnh tranh, khả năng quản lý và khả năng tài
chính chính là các mục tiêu thứ cấp Khi phân tích hiện trạng, chúng ta cần phân tích
được các yếu tố chính được xem xét trong mục tiêu thứ cấp
Ví dụ: Với các mục tiêu thứ cấp được xác định như trên, các nhà hoạch định chiến lược cần xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng như sau:
Khả năng cạnh tranh
Tổng sản phẩm quốc nội;
đầu tư nước ngoài; chất lượng lao động; khả năng ứng dụng công nghệ…
Khả năng quản lý
Hệ thống pháp chế; tổ chức; nhân sự; kinh phí;
lập kế hoạch; điều phối…
Khả năng tài chính Năng lực huy động tài
chính, độ tin cậy…
Trang 13Để đánh giá được hiện trạng ta có thể sử dụng ma trận SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu cũng như các cơ hội và thách thức cho sự phát triển Có nghĩa là khi
phân tích đánh giá hiện trạng phát triển cần phải chỉ ra được:
- S: Strengths: Những điểm mạnh cần phát huy
- W: Weaknesses: Những điểm yếu cần phải khắc phục
- O: Opportunities: Những cơ hội cần được tận dụng
- T: Threats: Những thách thức cấn phải vượt qua
Như vậy, dựa vào phân tích này, các nhà quản lý đô thị có thể có một cái nhìn tổng quát về hiện trạng của sự phát triển của đô thị để có thể đưa ra các phương án phát triển
đô trong thời kỳ tiếp theo
- Giai đoạn 3: Trả lời câu hỏi chúng ta muốn đi về đâu?
Trên cơ sở phân tích hiện trạng bằng ma trận SWOT sơ cấp, thực hiện các dự báo dưới dạng tầm nhìn phát triển, những mục tiêu cụ thể cần đạt được trong thời hạn 15 năm,
20 năm
- Giai đoạn 4: Trả lời câu hỏi chúng ta cần giải quyết những vấn đề gì?
Trong giai đoạn này cần xác định các giải pháp để thực hiện được các mục tiêu
Các giải pháp này chính là các “chiến lược” khi phân tích SWOT thứ cấp Các yếu tố bên
trong và bên ngoài là các yếu tố ảnh hưởng tới từng mục tiêu chiến lược đã được xác định
- Giai đoạn 6: Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá
Đây là giai đoạn tổ chức thực hiện, CDS coi trọng quy trình giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình và dự án Quá trình thực hiện CDS là một quá trình lặp đi
lặp lại Khi một chương trình hay một dự án hoàn thành sẽ tác động trở lại hiện trạng, làm
thay đổi trạng thái ban đầu “bây giờ chúng ta đang ở đâu” Việc xem xét, đánh giá, điều
chỉnh có tính chất thường xuyên này giúp chiến lược có điều kiện thích nghi tốt với nhu
cầu của thị trường và sớm khắc phục các khuyết điểm
1.2.2.3 Áp dụng chiến lược phát triển đô thị
Chiến lược phát triển đô thị có thể được áp dụng cho một đô thị hoặc một chủ đề trong đô thị Ví dụ, nhiều thành phố ở các nước đang phát triển thực hành CDS cho chủ
đề về giảm nghèo hay bảo vệ môi trường sinh thái Để thực hành CDS, một đối tượng hay
một chủ đề nào đó cần thỏa mãn những điều kiện ban đầu như sau:
Trang 14- Đối tượng thực hiện CDS phải là một hệ thống điều khiển (có tính độc lập nhất định) Các chiến lược đưa ra phải là các hành động mà các chủ thể của quá trình có thể
điều khiển được
- Việc thực hành CDS phải được pháp lý hóa bằng một quyết định có hiệu lực đối với các chủ thể có liên quan Việc pháp lý hóa thực hiện bằng quyết định của người đứng
đầu về tổ chức, bao gồm quy chế phối hợp, trách nhiệm của các thành phần tham gia, kế
hoạch kinh phí cho đề án…Người có thẩm quyền cao nhất trong việc quản lý phát triển
đô thị phải tham gia trực tiếp trong hội đồng CDS Do tính chất của CDS vừa là kế hoạch,
quy hoạch vừa là tiến trình thực hiện nên CDS tác động tới mọi hoạt động trong đô thị
- Đơn vị tư vấn lập CDS phải đủ năng lực và kinh phí hoạt động Tùy loại và quy
mô CDS mà chọn tư vấn thích hợp Kinh phí lập CDS thường là từ ngân sách, việc chi
tiêu phải theo đơn giá và đúng mức quy định
1.2.2.4 Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 – 2020
Trong Quyết định số 1659/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 – 2020 đã đưa ra một số mục tiêu
phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020 như sau:
- Diện tích sàn nhà ở bình quân đạt 29m2/người; tỷ lệ nhà kiên cố đạt 75%
- Tỷ lệ đất giao thông so với diện tích đất xây dựng đô thị tại đô thị loại đặc biệt, loại I và loại II đạt từ 20 - 25% trở lên; đô thị từ loại III đến loại V đạt từ 20% trở lên Tỷ
lệ vận tải hành khách công cộng đáp ứng nhu cầu tại các đô thị loại đặc biệt và loại I đạt
từ 20 - 30% trở lên; đô thị loại II và III đạt từ 10 - 15%; đô thị loại IV và loại V đạt từ 2 -
5%
- Tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước sạch và tiêu chuẩn cấp nước tại các đô thị loại đặc biệt đến loại IV đạt 90%, đạt 120 lít/người/ngày đêm; đô thị loại V đạt 70%, tiêu
chuẩn cấp nước đạt 90 lít/người/ngày đêm
- Tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt 80 - 90% diện tích lưu vực thoát nước trong các đô thị và 60% lượng nước thải sinh hoạt được thu gom và xử lý; 100% các cơ
sở sản xuất mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm Các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 95% Tỷ lệ thất thoát, thất thu
nước sạch dưới 18% đối với các đô thị từ loại đặc biệt đến loại IV; dưới 25% đối với các
đô thị loại V
Trang 15- Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt của đô thị, khu công nghiệp được thu gom và xử lý đạt 90%; 100% chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi
trường
- Tỷ lệ chiếu sáng đường phố chính và khu nhà ở, ngõ xóm tại các đô thị loại đặc biệt đến loại II đạt 100%; các đô thị loại III, loại IV, loại V đạt 90% chiều dài các tuyến
đường chính và 85% chiều dài đường khu nhà ở, ngõ xóm được chiếu sáng
- Đất cây xanh đô thị, đối với đô thị đặc biệt đạt 15 m2/người; đô thị loại I, loại II đạt 10 m2/người; đô thị loại III, loại IV đạt 7 m2/người; đô thị loại V đạt 3 - 4 m2/người
Đất cây xanh công cộng khu vực nội thị, đô thị đặc biệt đạt 7 m2/người; đô thị các loại
khác đạt từ 4 - 6 m2/người
1.2.3 Các kịch bản phát triển hệ thống đô thị quốc gia
1.2.3.1 Kịch bản 1: Phát triển theo các “Vùng đô thị lớn” đóng vai trò là các cực tăng
trưởng quốc gia
Phát triển các vùng thành phố là xu thế của các nước đang phát triển Phát triển vùng thành phố lớn cũng như phát triển các vùng kinh tế trọng điểm có ưu điểm là tập trung được
nguồn lực, sớm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế Tuy nhiên, một hạn chế đó là việc tập
trung nguồn lực không cân bằng xét trên quy mô toàn lãnh thổ quốc gia
Tại Việt Nam, kịch bản này có thể được triển khai theo hai phương án như sau:
- Phương án 1: Chủ yếu tập trung vào phát triển các cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia gồm vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung và phía Nam (Trong đó, Hà
Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh là các đô thị trung tâm vùng) trở thành những
trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao, trung tâm tài chính ngân hàng, viễn thông,
đào tạo và y tế có chất lượng cao, trung tâm dịch vụ vận tải giao thương quốc tế
- Phương án 2: Phát triển các cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia cùng với việc phát triển các cực tăng trưởng thứ cấp quốc gia là các khu kinh tế ven biển hải đảo, khu
kinh tế cửa khẩu trở thành những trung tâm công nghiệp lớn, đa ngành, đầu mối giao lưu
kinh tế, thương mại, y tế, văn hóa giáp dục, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển
chung của đất nước và từng địa phương
1.2.3.2 Kịch bản phát triển theo các “Vùng đô thị hóa” đóng vai trò là các vùng lãnh thổ
tổng hợp quốc gia
Để đảm bảo tính khoa học và hệ thống mang tính đa ngành phục vụ tốt công tác quản lý phát triển, việc điều chỉnh 10 vùng đô thị hoá theo định hướng 1998 là cần thiết
Theo đó, dựa trên các vùng phát triển kinh tế - xã hội quốc gia hiện nay của Việt Nam để
hình thành 6 vùng đô thị hóa cơ bản là: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc; Vùng Thủ
đô Hà Nội và Duyên hải Bắc bộ; Vùng Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung; Vùng Tây
Nguyên; Vùng Đông Nam Bộ và kinh tế trọng điểm phía Nam và Vùng đồng bằng sông
Cửu Long
Trang 16Phát triển theo kịch bản 2 (Vùng đô thị hoá) sẽ giải quyết được các vấn đề phát triển phân tán, rời rạc; Các vùng đô thị hóa sẽ chủ động phát triển kinh tế - xã hội theo
tiềm năng, nguồn lực của từng vùng, tạo nên sự sáng tạo, phát triển đa dạng, thúc đẩy sự
cạnh tranh mạnh giữa các vùng
1.2.3.3 Kịch bản phát triển theo các mạng lưới đô thị
Kịch bản phát triển theo "Mạng lưới đô thị", là xu hướng của các nước phát triển, với tỷ lệ, chất lượng đô thị hoá cao, hạ tầng phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập khu vực
và quốc tế Phát triển theo kịch bản 3 (Mạng lưới đô thị) thể hiện vai trò của chính quyền
các cấp từ Trung ương đến địa phương ngày một lớn mạnh, sự phân cấp và tổ chức mạng
lưới đô thị theo tầng bậc trải tương đối đều khắp lãnh thổ, giảm thiểu sự phát triển chênh
lệch, tạo điều kiện phát triển cân bằng hơn giữa các vùng, giữa khu vực đô thị và nông
thôn Mạng lưới cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật phát triển tạo điều kiện cho các khu vực đô
thị, nông thôn và người dân được tiếp cận dịch vụ đô thị, khoa học công nghệ, nhất là
công nghệ thông tin Hệ thống đô thị quốc gia phát triển cân đối, bền vững, không gây tổn
hại đến môi trường; có sức cạnh tranh cao, có vị thế xứng đáng, có mối liên hệ với hệ
thống đô thị khu vực và thế giới
1.2.3.4 Kịch bản phát triển đô thị phân tán theo địa phương
Phát triển “Đô thị phân tán” theo địa phương có nét phản ánh của thực trạng phát triển đô thị đang diễn ra tại Việt Nam hiện nay Phát triển theo kịch bản này tạo điều kiện
cho các địa phương phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh mình quản lý Bản thân từng địa
phương có cơ hội phát triển riêng dựa vào nguồn tài nguyên của chính mình Tuy nhiên,
nó dẫn đến tình trạng nhiều tỉnh sẽ phát triển giống nhau, thiếu phân công theo lãnh thổ,
các tỉnh có nguồn lực yếu sẽ khó có phát triển nếu thiếu hỗ trợ từ Trung ương Việc khai
thác nguồn tài nguyên quốc gia không có sự kiểm soát sẽ dẫn đến suy giảm môi trường
1.3 Quá trình đô thị hóa
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của quá trình đô thị hóa
1.3.1.1 Khái niệm đô thị hóa
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống Khái niệm về đô
thị hóa rất đa dạng, bởi nó chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá
trình phát triển Các nhà khoa học xem xét và quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc
độ khác nhau
Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước Vì vậy cũng có thể nói
đô thị hóa là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa Quá trình đô thị hóa cũng là quá
trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã
hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị
Mức độ đô thị hóa được tính bằng tỷ lệ phần trăm số dân đô thị so với tổng dân số
Trang 17toàn quốc hay vùng Tỷ lệ dân số đô thị được coi như là thước đo về đô thị hóa để so sánh
mức độ đô thị hóa giữa các nước với nhau hoặc các vùng trong một nước
Tỷ lệ phần trăm dân số đô thị không phản ánh đầy đủ mức độ đô thị hóa của các nước đó Ngày nay, do nền kinh tế phát triển cao cũng như trải qua nhiều thế kỷ phát
triển, đô thị hóa và công nghiệp hóa đất nước đã ổn định ở các nước phát triển và phát
triển cao Chất lượng đô thị hóa ở đây phát triển theo các nhân tố chiều sâu Đó là việc
nâng cao chất lượng cuộc sống, tận dụng tối đa lợi ích và hạn chế tối thiểu những ảnh
hưởng xấu của quá trình đô thị hóa nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chất lượng
môi trường đô thị
Ở các nước đang phát triển, đặc trưng của đô thị hóa là sự tăng nhanh dân số đô thị không hoàn toàn dựa trên cơ sở phát triển nông nghiệp Hiện tượng bùng nổ dân số bên
cạnh sự phát triển yếu kém của công nghiệp làm cho quá trình đô thị hóa và công nghiệp
hóa mất cân đối, sự mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn càng thêm sâu sắc Sự chênh lệch
về đời sống đã thúc đẩy sự chuyển dịch dân số từ nông thôn ra thành thị một cách ồ ạt,
đặc biệt là các đô thị lớn, đô thị trung tâm, tạo nên những điểm dân cư đô thị cực lớn, mất
cân đối trong sự phát triển dân cư
Như vậy, Đô thị hóa là một quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội – văn hóa và
không gian, gắn liền với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của loài người, trong đó diễn
ra các làng nghề mới, sự dịch chuyển cơ cấu lao động, sự dịch chuyển của lối sống ngày
càng văn minh hơn cùng với sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị Ở những nước
có kinh tế - xã hội phát triển càng cao thì tỷ lệ đô thị hóa càng cao
1.3.1.2 Đặc điểm của quá trình đô thị hóa
Đô thị hóa không chỉ diễn ra trong một vùng, một quốc gia mà nó ảnh hưởng đến phạm vi toàn cầu Đô thị hóa thể hiện các đặc điểm chính như sau:
- Xu hướng tăng nhanh dân số thành thị
Đặc trưng của thế giới từ hơn một thế kỷ nay là hiện tượng gia tăng dân số một cách nhanh chóng, nổi bật là hiện tượng tập trung dân cư vào các đô thị Hiện tượng này
còn được gọi là hiện tượng bùng nổ dân số
Năm 1800, chỉ 1,7% dân số thế giới sống trong các đô thị lớn Năm 1900 có 5,6%, con số này năm 1950, 1970, 2000 lần lượt là 16,9%, 23,5%, 48% Dự báo tới năm 2050,
dân số đô thị trên thế giới có thể đạt mức 69%
Trang 180 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Hình 1.2 Dân số thế giới 1980 - 2050
- Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Xu hướng dân cư đổ về các thành phố lớn ngày càng nhiều gây nên sức ép về chỗ
ở, việc làm và tài nguyên cho các đô thị lớn Số lượng các thành phố có trên 1 triệu dân
ngày càng nhiều Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 270 thành phố có từ 1 triệu dân
trở lên và có 50 thành phố có số dân vượt ngưỡng 5 triệu người Tính tới thời điểm hiện
tại, thủ đô Tokyo của Nhật Bản là thành phố có số lượng dân cư đông nhất với 34 triệu
dân Tiếp theo là các thành phố Seoul (Hàn Quốc), Quảng Châu (Trung Quốc)
- Sự thay đổi về cơ cấu lao động
Một trong những hệ quả cơ bản của quá trình đô thị hóa là sự thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế xã hội và lực lượng sản xuất, thể hiện qua sự biến đổi và chuyển giao
lao động xã hội từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác
Sự thay đổi cơ cấu lao động phần nào phản ánh sự thay đổi về tỷ trọng cơ cấu kinh
tế các ngành trong từng khu vực Cụ thể:
+ Lao động khu vực 1: Thành phần lao động sản xuất nông lâm ngư nghiệp Thành phần lao động này chiếm tỷ lệ cao ở các giai đoạn trước và giảm dần ở các giai đoạn sau
Nó chiếm tỷ lệ thấp nhất trong giai đoạn hậu công nghiệp
+ Lao động khu vực 2: Bao gồm lực lượng lao động sản xuất công nghiệp Thành phần này phát triển rất nhanh ở giai đoạn công nghiệp hóa, chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai
đoạn hậu công nghiệp sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự
động hóa
Trang 19+ Lao động khu vực 3: Bao gồm các thành phần lao động khoa học và dịch vụ
Thành phần này từ chỗ chiếm tỷ lệ thấp nhất trong thời kỳ tiền công nghiệp đã tăng dần
và chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn văn minh khoa học kỹ thuât
Bảng 1.2 Tỷ trọng các khu vực trong nền kinh tế (%)
Nông nghiệp
Công
Nông nghiệp
nông thôn về nhiều mặt
1.3.2 Quá trình đô thị hóa trên thế giới
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế -
xã hội Ở đó trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ của lực lượng sản xuất, của nền văn
hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội Đô thị hóa gắn liền với trình độ khoa học
kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới
Trang 20Quá trình đô thị hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ từ trước tới nay, được chia thành 3 thời kỳ chính như sau:
- Thời kỳ đô thị hóa tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVII): Trong thời kỳ này, đô
thị hóa bắt đầu phát sinh ngay từ trong văn minh nông nghiệp, còn hòa đồng phần nào
vào nông thôn vì mới chỉ có một bộ phận thợ thủ công, thương nhân, những người làm
trong bộ máy hành chính, quân đội tách ra thành lập đô thị Đây là thời kỳ đô thị hóa sơ
khởi, nhiều mô hình đô thị gọi là “thành phố mẫu” hoặc “thành phố lý tưởng” đã ra đời
thời đó như là những đơn vị ở và sản xuất biệt lập, kết hợp với đồn trú, thành quách
- Thời kỳ đô thị hóa công nghiệp (từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX): Thời
kỳ này gắn với hình ảnh của chiếc đầu máy hơi nước, biểu trưng của thời kỳ cách mạng
công nghiệp Cuộc cách mạng kỹ thuật đã kéo theo một sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu
kinh tế lãnh thổ, hình thành một số đô thị gắn liền với quá trình công nghiệp hóa của mỗi
quốc gia tập trung vào các ngành khai khoáng, luyện kim, hóa chất, cơ khí, chế biến thực
phẩm,… Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa tăng nhanh chưa từng thấy và hình thành
một hệ thống đô thị trên lãnh thổ của mỗi quốc gia Phát triển đại công nghiệp cơ khí đòi
hỏi phải tập trung vào một số đô thị hạt nhân lớn của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia lại
có một đô thị, thủ đô tiêu biểu, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật
Thời kỳ này có dòng di cư lịch sử từ nông thôn vào đô thị đã diễn ra, mạnh nhất là
ở châu Âu và châu Mỹ làm cho dân số nông thôn ở những nước này rút xuống chỉ còn
chiếm từ 10-20% tổng dân số, trong khi ở các nước chậm phát triển vẫn còn 70-80% dân
số sống ở nông thôn
Do quy mô đô thị tập trung lớn hơn, các hoạt động đô thị phức tạp hơn làm cho cấu trúc đô thị thời kỳ này cũng trở nên phức tạp Nổi lên là những vấn đề về giao thông,
bảo vệ môi trường sống, cung cấp năng lượng, nước sạch, thực phẩm, xây dựng nhà ở và
công trình phúc lợi công cộng
- Thời kỳ đô thị hóa hậu công nghiệp (từ cuối thế kỷ XX đến nay): Thời kỳ này
gắn với hình ảnh của chiếc máy vi tính, thông tin viễn thông, chu trình năng lượng mới,
phương tiện giao thông vận tải hiện đại, đã mở rộng giao thông liên quốc gia, gia tăng
những khám phá mới về vũ trụ và đại dương Thị trường cạnh tranh hàng hóa diễn ra
ngày càng gay gắt, mới đầu theo đường sông, đường bộ, đường sắt, đường ven biển dần
dần phát triển lên theo chủ yếu là đường biển (viễn dương) và đường hàng không quốc tế
Nhiều khối liên kết quốc gia hình thành, nhiều tổ chức quốc tế về kinh tế, tổ chức, văn
hóa, khoa học - kỹ thuật, … ra đời trong cuộc cạnh tranh này Chiến lược tổ chức không
gian kinh tế - xã hội chuyển sang ưu tiên tăng trưởng vùng ven biển để tạo ra hình thành
đô thị cảng biển tổng hợp cả công nghiệp, khai thác hải sản, dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng
hình thành rất nhanh và trở thành các điểm “chốt” giao tiếp, xuất nhập khẩu, sản xuất của
các quốc gia
1.3.3 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Trang 21Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam được trải qua 4 thời kỳ như sau:
- Thời kỳ phong kiến: Trong suốt thời kỳ phát triển lâu dài của đất nước, đến cuối
thế kỷ XIX, nước ta mới hình thành một số đô thị phong kiến, chủ yếu là các trung tâm
hành chính và thương mại Tuy nhiên, đây chỉ là các đô thị nhỏ và yếu, chưa thực sự là
các trung tâm kinh tế, giữ vai trò chủ đạo đối với khu vực Một số đô thị tiêu biểu: Thăng
Long, Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An…
Hình 1.3 Bến sông Hội An cuối thế kỷ XVIII
Nguồn (https://vi.wikipedia.org)
- Thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1954): Thời thuộc Pháp, chế độ thực dân chỉ đặt bộ
máy cai trị do người Pháp trực tiếp nắm ở cấp toàn Đông dương, cấp kỳ và cấp tỉnh, còn
bộ máy cai trị của người địa phương chỉ đóng vai hình thức dưới dạng triều đình Nhà Vua
ở Trung Kỳ, Campuchia và Lào dưới sự giám sát của viên Khâm sứ người Pháp, và đóng
vai phụ trợ ở cấp tỉnh dưới sự chỉ huy của các viên Công sứ và vai trò chân rết thi hành ở
cấp huyện, bên cạnh viên Đồn trưởng và viên Chánh Đoan người Pháp tại một số vùng
quan trọng Còn ở cấp tổng, cấp làng thì bộ máy hành chính chỉ gồm người sinh sống tại
chỗ
Do nhu cầu mới nảy sinh của bộ máy cai trị thực dân, người Pháp bắt đầu chú ý sửa sang nâng cấp các đô thị cấp Kỳ như Sài Gòn, Huế, Hà Nội, các đô thị tỉnh lỵ, đô thị
cảng biển như Hải Phòng, Đà Nẵng, và vài trọng trấn quân sự trên biên giới phía Bắc như
Lao Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái Tại các đô thị nói trên, người Pháp chỉ đưa một
vài kết cấu hạ tầng thiết yếu như đường trải đá hoặc trải nhựa có cống rãnh, và cấp điện
vào đô thị hiện có của người bản xứ, còn thì họ tập trung xây dựng các trụ sở hành chính,
toà án, doanh trại và nhà ở cùng với trường học, bệnh viện, cửa hàng, ngân hàng, bưu
Trang 22điện, cơ sở giải trí, công viên…phục vụ riêng cho người Pháp tại khu phố Tây có kết cấu
hạ tầng đô thị hiện đại, đường phố vuông vắn có trồng cây bóng mát và đèn đường, tạo ra
bộ mặt mới mẻ cho đô thị Cùng với việc phát triển đường sắt và đường bộ, một số đô thị
có thêm nhà ga và cầu vượt sông như cầu Long Biên, cầu Tràng Tiền…, tạo điều kiện
phát triển công nghiệp ( như Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn ) và tăng trưởng
nhanh hơn Trong bối cảnh nói trên, các thị trấn huyện lỵ hầu như không thay đổi mấy,
vẫn giữ vẻ luộm thuộm vốn có
- Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955 – 1975): Ở thời kỳ này, nước ta bị chia
cách thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau nên quá trình đô thị hóa cũng diễn
ra theo hai xu hướng khác nhau
+ Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thì diễn ra quá trình “giải đô thị hóa” tạm thời:
Miền Bắc trong thời kỳ này, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đang trong
quá trình xây dựng lại nền kinh tế sau chiến tranh và trở thành hậu phương cho miền
Nam Để giảm thiểu những thiệt hại do chiến tranh, chúng ta phải sơ tán triệt để dân cư và
các cơ sở công nghiệp về nông thôn
+ Ở miền Nam xảy ra quá trình “đô thị hóa cưỡng bức”: Do chiến tranh tàn phá và
do chích sách mở rộng chiến tranh của Mỹ, hàng triệu người dân từ nông thôn, miền núi,
ven biển kéo về thành phố Đế quốc Mỹ cho xây dựng thêm nhiều các thành phố là căn cứ
địa quân sự phục vụ cho mục đích chiến tranh Vì vậy, các đô thị miền Nam trước khi giải
phóng trở nên quá tải, chật chội và môi trường sống hết sức phức tạp
- Thời kỳ 1975 tới nay: Đây là thời kỳ mới, đất nước thống nhất, cả nước đi vào
xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh Các thành phố của nước ta đã trở thành
các trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội cho cả nước và từng khu vực Đặc biệt từ sau Đại
hội lần thứ VI của Đảng, nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường dưới sự điều tiết của Nhà nước, chúng ta thực hiện chính sách mở cửa về kinh tế
và ngoại giao Do đó, quá trình đô thị hóa ở nước ta phát triển với tốc độ nhanh hơn,
cường độ phát triển mạnh hơn, phát triển cả bề rộng và bề sâu làm cho bộ mặt đô thị Việt
Nam có nhiều thay đổi rõ nét, phần nào khang trang, đẹp đẽ và văn minh hơn
Như vậy, có thể nói cùng với sự phát triển đô thị trên thế giới, quá trình đô thị hóa
ở Việt Nam đang diễn ra tương đối mạnh mẽ trên hầu hết các khu vực của cả nước Tỷ lệ
đô thị hóa ngày càng tăng đồng nghĩa với việc dân cư đổ về các đô thị ngày càng nhiều
Đây vừa là một cơ hội vừa là một thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý đô thị
Trang 23Hình 1.4.Tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam
1.4.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị hóa là một quá trình, một trong những chuyển biến đồng thời về địa điểm, dân cư, kinh tế và môi trường Quá trình đô thị hóa diễn ra có ảnh hưởng lớn vừa tích cực
và tiêu cực trên hầu hết các phương diện của đời sống xã hội
1.4.4.1 Ảnh hưởng tích cực
- Đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các đô thị
Quá trình đô thị hóa luôn song song với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Các đô thị trong những năm trở lại đây được đầu tư nhiều hơn về mặt cơ sở hạ tầng, thu
hút nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước Chính vì vậy, sự phát triển kinh tế có chiều
hướng tăng lên một cách tích cực Sự đóng góp của các đô thị vào GDP của cả nước cao
hơn rất nhiều so với các vùng nông thôn Sự tăng trưởng kinh tế này cũng làm thay đổi
phần nào bộ mặt của đô thị Việt Nam
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tích cực
Đô thị hóa dẫn đến các hoạt động xây dựng, phát triển sản xuất tại các đô thị diễn
ra mạnh mẽ hơn Cùng với đó, hoạt động đầu tư vào đô thị ngày càng nhiều nền kinh tế
phát triển theo xu hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng
các ngành nông nghiệp Đất nông nghiệp tại các đô thị hay các vùng đô thị hóa thường
được chuyển đổi sang các mục đích phi nông nghiệp để xây dựng các công trình cơ sở hạ
tầng, các khu công nghiệp hay mở rộng các khu đô thị mới ở các vùng ven Đồng thời,
khi phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, các đô thị sẽ có nhiều cơ
hội hơn để tiếp cận với các nguồn vốn, các dự án đàu tư lớn trong và ngoài nước
Trang 24- Tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người lao động tại đô thị
Quá trình đô thị hóa làm cho kinh tế ở các đô thị phát triển nhanh chóng, các ngành kinh tế phi nông nghiệp phát triển đã thu hút một lượng lao động nhập cư dồi dào
từ các địa bàn nông thôn Lực lượng lao động này có thể là những người nông dân hay
những sinh viên ở các trường cao đẳng, địa học sau khi tốt nghiệp có nguyện vọng ở lại
làm việc ở các thành phố
Phần lớn các lao động nhập cư đều là những người trẻ tuổi, có sức khỏe và có khả năng nắm vững được một số quy trình, công nghệ mới, có thể sử dụng các loại máy móc
hiện đại Hiện nay, các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn trở thành thị trường lao động rộng
lớn, giải quyết vấn đề việc làm và tạo ra thu nhập đáng kể cho một bộ phận dân cư
- Là thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng
Cùng với quá trình đô thị hóa, cư dân đô thị tăng lên ngày càng nhiều Điều này dẫn đến sự tăng nhanh về nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm hàng hóa tại đô thị Các đô
thị trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ các khu vực nông thôn, các sản phẩm
nhập khẩu…Đây là một trong những đóng góp để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đóng góp
vào GDP tại các khu vực đô thị
- Góp phần giảm thiểu sự phá hủy của các hệ sinh thái trong các khu vực có dân cư thưa thớt
Đất đai đô thị có giới hạn với quy mô không lớn, quá trình đô thị hóa thúc đẩy sự
sự tập trung dân cư làm cho quỹ đất đô thị được khai thác một cách tốt nhất, phục vụ cho
nhu cầu phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống của người dân đô thị Vì vậy, thông qua
quá trình đô thị hóa, các hệ sinh thái, cụ thể là đất đai, nguồn nước…được sử dụng gần
như triệt để, tiết kiệm, hiệu quả, hầu như không hoặc rất ít đất bị bỏ hoang
vùng nông thôn mất đi một nguồn lớn nhân lực Trong khi đó thì hiện tượng thất nghiệp
thiếu việc làm ở thành phố đang ngày một gia tăng dẫn đến một hệ lụy đó là các tệ nạn
trong xã hội ngày càng tăng lên gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân
Trang 25Hình 1.5 Tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011
- Sự tập trung cao dân cư sẽ gây ra sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên như nước, đất, năng lượng…làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của
con người
- Cùng với quá trình đô thị hóa, các hoạt động công nghiệp cũng dần tăng lên gây
ra ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng do việc xử lý nước thải, rác thải công
nghiệp chưa thực sự được chú ý Bên cạnh đó, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm đất, ô nhiễm
không khí cũng ngày càng gia tăng, đe dọa đến sự phát triển bền vững tại các đô thị
1.4 Quản lý đô thị tại một số nước trên thế giới
Một số nước trên thế giới hiện nay đã và đang sử dụng một cách tương đối có hiệu quả chính quyền đô thị để phục vụ cho công tác quản lý đô thị Bộ máy quản lý đô thị
trên thế giới được tổ chức rành mạch, rõ ràng và có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng tổ chức, cá nhân trong đó
1.4.1 Thành phố Tokyo, Nhật Bản
Thủ đô Tokyo của Nhật Bản gồm 23 phường đặc biệt, 26 quận, 7 thị trấn và 8 xã
Chính quyền đô thị Tokyo có 2 cấp gồm chính quyền thành phố và cấp quận hoặc phường
đặc biệt
Chính quyền thành phố Tokyo gồm 2 cơ quan: Hội đồng thành phố và Thị trưởng
Các thành viên Hội đồng thành phố do người dân trực tiếp bầu ra, nhiệm kỳ 4 năm
Hội đồng thành phố quyết định các chính sách quản lý và phát triển đô thị, giám sát hoạt
động của cơ quan hành chính: yêu cầu Thị trưởng báo cáo việc quản lý, thu chi ngân sách
đô thị, việc thi hành nghị quyết của Hội đồng
Trang 26Chức năng cơ bản của Hội đồng thành phố là chức năng đại diện Cơ quan này đại điện cho 12 triệu công dân của Thủ đô Tokyo, có quyền biểu quyết bất tín nhiệm đối với
Thị trưởng
Thị trưởng do người dân trực tiếp bầu ra và có nhiệm kỳ 4 năm, chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động của chính quyền đô thị và có quyền đại diện cho chính quyền
đô thị trong quan hệ với bên ngoài Ngoài ra, thị trưởng còn có một số quyền quan trọng
khác như quyền ban hành quyết định, dự thảo ngân sách thành phố, đề xuất các dự luật,
và bổ nhiệm hay miễn nhiệm nhân viên hành chính; quyền từ chối thực hiện nghị quyết
đã được Hội đồng phê chuẩn và yêu cầu Hội đồng xem xét lại các nghị quyết này
Chính quyền quận cũng bao gồm 2 cơ quan: Hội đồng quận và Quận trưởng, cùng
do người dân trực tiếp bầu ra Chính quyền quận là chính quyền cơ sở nơi trực tiếp cung
cấp các dịch vụ cho người dân Mối quan hệ giữa chính quyền thành phố và chính quyền
quận không phải là mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới Mỗi cấp chính quyền có
nhiệm vụ, quyền hạn được xác định bởi luật và hoạt động theo nguyên tắc tự quản
Hình 1.6 Phân cấp quản lý đô thị tại Tokyo, Nhật Bản
1.4.2 Thành phố New York, Mỹ
New York với tên chính thức City of New York, là thành phố đông dân nhất nước
Mỹ và là trung tâm của Vùng đô thị New York, một trong những vùng đô thị đông dân
nhất trên thế giới Với vai trò là một thành phố toàn cầu tiên phong, New York có một
tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đối với thương mại, tài chính, văn hóa, thời trang và giải trí toàn
Trang 27cầu Là nơi Liên Hiệp Quốc đặt tổng hành dinh nên nó cũng là trung tâm quan trọng về
các vấn đề quốc tế Thành phố thường được gọi là New York City để phân biệt với tiểu
bang New York Dân số thành phố ước tính trên 8,3 triệu người (năm 2007), với diện tích
đất là 789,4 km2 Đây được coi là vùng đô thị đông dân nhất Hoa Kỳ
Nằm trên một bến cảng tự nhiên lớn thuộc duyên hải Đại Tây Dương của Đông Bắc Hoa Kỳ, thành phố gồm 05 quận: The Bronx, Brooklyn, Manhattan, Queens và Đảo
Staten Đây là một hình thức chính quyền khác thường tại Hoa Kỳ Mỗi Quận của New
York tồn tại song song với một quận tương ứng của tiểu bang New York Khắp các Quận
có hàng trăm khu dân cư Nhiều khu dân cư này có lịch sử và đặc tính riêng để gọi chúng
Nếu coi mỗi Quận là một thành phố độc lập thì bốn trong số các Quận sẽ nằm trong 10
thành phố đông dân nhất Hoa Kỳ
Tiêu biểu cho mô hình tổ chức “Thị trưởng - Hội đồng” là bộ máy chính quyền thành phố New York
Thị trưởng - Hội đồng (Mayor-Council): Đây là hình thái lâu đời nhất của chính quyền thành phố tại Mỹ, và cho tới đầu thế kỷ XX, nó được hầu hết các thành phố ở Mỹ
áp dụng Cơ cấu của nó tương tự cơ cấu của chính quyền bang và quốc gia, với một Thị
trưởng đắc cử là người đứng đầu ngành hành pháp, và một Hội đồng được bầu ra, đại
diện cho các vùng lân cận, hình thành nên ngành lập pháp Thị trưởng bổ nhiệm những
các viên chức thuộc về các cơ quan hành pháp (sở, phòng, ban) Thị trưởng có quyền phủ
quyết các sắc lệnh của thành phố và thường xuyên chịu trách nhiệm chuẩn bị ngân sách
của thành phố Hội đồng thành phố chủ yếu làm công việc lập pháp: phê chuẩn các sắc
lệnh, quy định của thành phố, ấn định thuế suất trên tài sản và phân chia ngân sách giữa
các ngành khác nhau của thành phố
Kể từ khi mở rộng vào năm 1898, Thành phố New York luôn là một khu tự quản vùng đô thị (metropolitan municipality) có một thể chế chính quyền “Thị trưởng – Hội
đồng” mạnh Theo Hiến chương thành phố, đứng đầu bộ máy chính quyền thành phố là
Thị trưởng, do dân bầu trực tiếp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu và là người chịu
trách nhiệm chính đối với các hoạt động hành pháp của chính quyền thành phố Nhiệm kỳ
của Thị trưởng là 4 năm và chỉ được tối đa là hai nhiệm kỳ Hội đồng thành phố là cơ
quan có thẩm quyền lập pháp, bao gồm 51 thành viên cũng do người dân bầu ra với
nhiệm kỳ 4 năm Hội đồng thành phố lập ra một số uỷ ban để giám sát việc thực hiện các
chức năng của chính quyền thành phố Các dự luật được Hội đồng thông qua bởi đa số và
Thị trưởng là người ký ban hành Thị trưởng có quyền phủ quyết các dự luật của Hội
đồng Ngoài ra, trong bộ máy chính quyền thành phố còn có những chức danh quan trọng
khác phụ trách những vấn đề về tài chính và giám sát tài chính, quản lý các quan hệ công
cộng, trong đó, chức danh phụ trách về tài chính được dân bầu trực tiếp
Tại các quận của thành phố New York, cơ quan đại diện tại địa phương của thành phố là Hội đồng khu dân cư gồm tối đa là 50 uỷ viên Quận trưởng do người dân trong
Trang 28quận trực tiếp bầu ra và có trách nhiệm tư vấn cho Thị trưởng về những vấn đề có liên
quan đến quận mình phụ trách (như vấn đề sử dụng đất, nhu cầu ngân sách hàng năm, chỉ
định Hội đồng khu dân cư và người đứng đầu các ban của quận)
1.4.3 Thành phố Seoul, Hàn Quốc
Hàn Quốc chỉ có một thành phố đặc biệt đó là thủ đô Seoul bao gồm 10,3 triệu dân
và là thành phố có mật độ dân cư đừng thứ 22 trên thế giới Chính quyền thành phố Seoul
gồm Hội đồng thành phố và Thị trưởng Hội đồng được coi là cơ quan lập pháp của thành
phố do người dân bầu ra, nhiệm kỳ 4 năm Thị trưởng có văn phòng thị trưởng được bầu
và cơ quan hành pháp Chính quyền cấp quận cũng bao gồm Hội đồng quận và Quận
trưởng do người dân bầu ra Dưới quận là phường (xã) nơi có các nhân viên hành chính
quận để cung cấp các dịch vụ công cho người dân Cũng giống như mô hình của chính
quyền đô thị Tokyo, mối quan hệ giữa chính quyền thành phố Seoul và chính quyền các
quận được xây dựng theo nguyên tắc tự quản
Hình 1.7 Phân cấp quản lý đô thị tại Seoul, Hàn Quốc
1.4.4 Thành phố Bangkok, Thái Lan
Thành phố Bangkok bao gồm 50 quận Các quận lại được chia thành 169 phường
Do tầm quan trọng của Bangkok đối với Thái Lan, mọi dự án phát triển ở trong và xung
quanh thành phố Bangkok phải được phê chuẩn bởi Chính phủ Hội đồng thành phố sẽ
phê chuẩn chương trình phát triển thành phố, tuy nhiên các chương trình phát triển này
phải đi đồng bộ với quy hoạch của thành phố Bangkok
Thành phố Bangkok là đơn vị duy nhất ở cấp địa phương chịu trách nhiệm đối với người dân ở địa phương và được trợ giúp về tài chính từ chính quyền Trung ương Chính
quyền đô thị được thiết lập ở cấp thành phố và cấp quận Bộ máy chính quyền thành phố
Trang 29Bangkok bao gồm Hội đồng Thành phố và Thị trưởng:
- Hội đồng thành phố Bangkok: Là cơ quan lập pháp ở địa phương Hội đồng thành phố được trao quyền lập pháp và quyền giám sát hoạt động của cơ quan hành chính
Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu Hội đồng
- Thị trưởng: Là người đứng đầu cơ quan hành chính của thành phố và được bầu bằng hình thức bầu cử trực tiếp phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm
Đối với chính quyền quận: Quận trưởng do Thị trưởng bổ nhiệm thực hiện chức năng của cơ quan hành chính quận Cơ quan đại diện quận là Hội đồng quận do cư dân
quận bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm thực hiện chứ năng là cơ quan tư vấn cho quận trưởng
Nhìn chung, tổ chức bộ máy chính quyền địa phương của Thái Lan được thực hiện theo nguyên tắc tản quyền kết hợp với tự quản địa phương Sự kết hợp này bảo đảm cho
chính quyền Trung ương khả năng can thiệp của vào hoạt động của địa phương thông qua
tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn ở địa phương
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Hãy trình bày khái niệm đô thị? Những đặc trưng cơ bản của đô thị?
2 Hãy trình bày cách phân loại đô thị tại Việt Nam? Khái niệm quản lý đô thị?
3 Hãy trình bày bối cảnh phát triển hệ thống đô thị Việt Nam hiện nay?
4 Hãy trình bày khái niệm, nôi dung chiến lược phát triển đô thị Việt Nam?
5 Hãy trình bày chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 – 2020?
6 Hãy trình bày các kịch bản phát triển hệ thống đô thị quốc gia?
7 Hãy trình bày khái niệm và đặc điểm của quá trình đô thị hóa?
8 Hãy trình bày những tác động của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã
hội?
Trang 30CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH ĐÔ THỊ 2.1 Khái niệm chung về quản lý
Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng
và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản
lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã
hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận
thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ XXI, các quan niệm về quản lý
lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý
soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm
ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả;
quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài
ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống
nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy đủ Hầu hết
chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó
Vậy làm thế nào để khái quát khái niệm quản lý một cách đơn giản và tương đối toàn
diện Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, có người gây ra và
người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm
như vậy Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý,
tức là làm rõ ai là người quản lý sau đó cần xác định đối tượng quản lý nghĩa là quản lý
cái gì và cuối cùng cần xác định mục đích của hoạt động quản lý nghĩa là quản lý vì cái
gì
Trang 31Như vậy, Quản lý chính là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình
theo những quy luật, định luật hay những nguyên tắc tương ứng nhằm để cho hệ thống
hay quá trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục
đích đã định trước
- Quản lý muốn thực hiện được phải dựa trên cơ sở tổ chức và quyền uy
- Quản lý xuất hiện ở bất cứ nơi nào có hoạt động chung của con người
- Mục đích của quản lý là chỉ đạo, điều khiển hoạt động chung của con người
2.2 Quản lý hành chính đô thị
Đô thị thường là nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo Đảng và chính quyền, là nơi tập trung dân cư sinh sống với mật độ cao, là nơi tập trung đầu mối giao thông, tập trung
các khu thương mại, là trung tâm thông tin và là đầu mối giao lưu trong nước cũng như
quốc tế Đây là nơi thể hiện tập trung nhất những hiện tượng điền hình của xã hội, cả mặt
tích cực và mặt tiêu cực Chính vì vậy, quản lý đô thị nói chung và quản lý hành chính đô
thị nói riêng được coi là một vấn đề rất cần thiết cho sự phát triển của đô thị nói riêng
cũng như đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
2.2.1 Khái niệm quản lý hành chính đô thị
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quản lý hành chính đô thị, tuỳ theo cách tiếp cận và nghiên cứu
Quản lý hành chính đô thị là các hoạt động nhằm huy động mọi nguồn lực vào công tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạt động đó để
đạt được các mục tiêu phát triển của chính quyền đô thị
Quản lý hành chính đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở của nhiều khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống chính sách, cơ chế, biện pháp và
phương tiện được chính quyền Nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý và
kiểm soát quá trình tăng trường đô thị Theo một nghĩa rộng thì quản lý đô thị là quản lý
con người và không gian sống (ăn, ở, làm việc, nghỉ ngơi…) ở đô thị
Vậy thực chất, Quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực ở đô thị là sự can
thiệp bằng quyền lực của chính quyền vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội ở đô thị,
với mục đích làm cho các đô thị trờ thành những trung tâm hoạt động kinh tế, chính trị,
văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc tế của mỗi vùng lãnh thổ
Trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đô thị đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy cần phải đạt ra nhiệm vụ cao hơn về nhu cầu
quản lý ở đô thị trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình xây
dựng đất nước
2.2.2 Vai trò, chức năng của Nhà nước trong việc quản lý đô thị
Nhà nước, đại diện là các chính quyền đô thị thông qua các tổ chức dưới quyền
Trang 32như các chính quyền cơ sở, các ngành chức năng quản lý tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội ở đô thị, truyền bá những tư tưởng hiện đại và lối sống văn minh đô thị cho cộng đồng
dân cư để giúp họ hướng tới mục tiêu chung trong xã hội
Quản lý đô thị liên quan tới việc quản lý khối Nhà nước và khối tư nhân Mục tiêu chung của quản lý hành chính đô thị là nâng cao hiệu quả và tính hợp lý trong quá trình
sử dụng các nguồn lực của đô thị (con người, kỹ thuật, vật liệu, thông tin, dịch vụ cơ sở
hạ tầng và hệ thống kinh tế của sản xuất) Cụ thể là:
- Nâng cao chất lượng và sự hoạt động một cách tổng thể của đô thị
- Đảm bảo sự phát triển và tái tạo bền vững các khu vực đô thị
- Cung cấp các dịch vụ đô thị và cơ sở hạ tầng cơ bản để đáp ứng các nhu cầu chức năng của đô thị
2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý đô thị Việt Nam
2.2.3.1 Khái niệm về bộ máy quản lý hành chính Nhà nước đối với đô thị
Bộ máy Nhà nước là hệ thống cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương,
tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ, ăn
khớp, thông suốt để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước Toàn bộ bộ máy
không phải là một tập hợp đơn giản các cơ quan Nhà nước mà là một hệ thống bố trí hợp
lý chặt chẽ và có quan hệ hữu cơ với nhau Mỗi cơ quan Nhà nước đóng vai trò như một
mắt xích không thể thiếu được Hiệu lực của bộ máy Nhà nước phụ thuộc vào hiệu lực
của từng cơ quan Chính vì vậy, cần xác định rõ chức năng nhiệm vụ của cả bộ máy cùng
với sự phân chia chức năng nhiệm vụ của các bộ phận cấu thành Tổ chức bộ máy Nhà
nước phải theo nguyên tắc hợp lý, hài hòa, tinh gọn, không chồng chéo về chức năng
nhiệm vụ, càng ít đầu mối và tầng nấc trung gian càng tốt Đường lối chỉ đạo xuyên suốt
của Đảng và Nhà nước ta đều nhấn mạnh các vấn đề then chốt để kiện toàn bộ máy Nhà
nước là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân
chủ, xây dựng bộ máy trong sạch, không tham nhũng với đội ngũ cán bộ có đủ năng lực,
phẩm chất ngang tầm với nhiệm vụ, trách nhiệm được giao trong môi trường làm việc
ngày càng chính quy, hiện đại
Tương tự như vậy, bộ máy quản lý Nhà nước đối với đô thị là một bộ phận cấu thành bộ máy Nhà nước, là một hệ thống cơ quan chức năng thống nhất (với đầy đủ quy
định pháp lý về mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn) để thực hiện các chức năng
hành pháp trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa – xã hội, đối ngoại, an ninh quốc
phòng, khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường, tổ chức nhân sự, quy hoạch, cung cấp
các dịch vụ công cho đô thị…nhằm phát triển đô thị bền vững, phát huy vai trò và vị trí,
chức năng đặc thù trong đời sống xã hội hiện đại
Cơ sở để xác định cấp quản lý đô thị bao gồm:
- Theo phân loại đô thị