1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh hà giang

133 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 380,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂNPhát triển đào tạo nghề là chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nướcnhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực để thựchiện mục tiêu công

Trang 1

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI THỊ LOAN

TĂNG C ƯỜNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN GẮN GIÁO DỤC NG TH C HI N Đ ÁN G N GIÁO D C ỰC HIỆN ĐỀ ÁN GẮN GIÁO DỤC ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM Ề ÁN GẮN GIÁO DỤC ẮN GIÁO DỤC ỤC

V I ĐÀO T O NGH CHO H C VIÊN C A TRUNG ỚI ĐÀO TẠO NGHỀ CHO HỌC VIÊN CỦA TRUNG ẠO NGHỀ CHO HỌC VIÊN CỦA TRUNG Ề ÁN GẮN GIÁO DỤC ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỦA TRUNG TÂM GIÁO D C TH ỤC ƯỜNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN GẮN GIÁO DỤC NG XUYÊN CÁC HUY N ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh t nông nghi pế nông nghiệp ệp

Người hướng dẫn khoa học: ướng dẫn khoa học:i h ng d n khoa h c:ẫn khoa học: ọc: TS Nguy n H u Khánhễn Hữu Khánh ữu Khánh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Thị Loan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triểnnông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệttình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hữu Khánh, thầy làngười trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thànhluận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND tỉnh Hà Giang, Trường Cao đẳng nghề tỉnh

Hà Giang, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang, Sở Lao động Thương binh và xãhội tỉnh Hà Giang, Cục Thống kê tỉnh Hà Giang, Trung tâm giáo dục thường xuyêncác huyện đặc biệt là ba huyện Mèo Vạc, Xín Mần, Hoàng Su Phì đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu bản đồ trong quá trìnhnghiên cứu luận văn này

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những ngườithân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Thị Loan

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình, đồ thị vii

Danh mục hộp viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Nội dung nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về gắn giáo dục với đào tạo nghề 4

2.1 Cơ sở lý luận và chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về gắn giáo dục và đào tạo nghề 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Mục tiêu của thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề 11

2.1.3 Vai trò của thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề 12

2.1.4 Tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên ở trung tâm GDTX 12

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên ở trung tâm GDTX 18

2.2 Cơ sở thực tiễn 19

2.2.1 Thực tiễn thực hiện gắn giáo dục và đào tạo nghề của một số nước trên thế giới 19

2.2.2 Thực tiễn thực hiện đề án gắn giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam 26

2.2.3 Giới thiệu sơ lược về các Trung tâm giáo dục thường xuyên của các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang 31

Trang 5

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 35

3.2 Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra 40

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu 40

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

3.2.4 Phương pháp phân tích 41

3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 42

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44

4.1 Thực trạng thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề ở các trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang44 4.1.1 Khái quát về đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang 44 4.1.2 Thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang46 4.1.3 Đánh giá thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề tại trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang64 4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề 70 4.2.1 Các yếu tố bên trong 70

4.2.2 Các yếu tố bên ngoài 74

4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện đề án gắn giáo dục với dạy nghề cho học viên trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang 77 4.3.1 Đối với địa phương 77

4.3.2 Đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên 80

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 91

5.1 Kết luận 91

5.2 Kiến nghị 93

Tài liệu tham khảo 97

Phụ lục 100

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt

BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo

ILOT Tổ chức lao động quốc tế

LĐ - TB & XH Lao động thương binh và xã hội

TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang từ 2013 - 2015 37

Bảng 3.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2015 của một số huyện vùng cao tỉnh Hà Giang 38 Bảng 4.1 Các hình thức tiếp nhận thông tin về hướng nghiệp chủ yếu của học sinh 47 Bảng 4.2 Đánh giá của các đối tượng khác về tầm quan trọng và thực tiễn của đề án 49 Bảng 4.3 Số lượng học viên học tập tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 50

Bảng 4.4 Tổng hợp số lượng học sinh đã và đang tham gia học nghề tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 51 Bảng 4.5 Cơ sở vật chất của các trung tâm Giáo dục thường xuyên phục vụ đào tạo nghề 53 Bảng 4.6 Cơ sở vật chất tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang giai đoạn 2013-2015 54

Bảng 4.7 Trang thiết bị của các trung tâm Giáo dục thường xuyên phục vụ đào tạo nghề 54 Bảng 4.8 Bảng chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề 55

Bảng 4.9 Chương trình đào tạo nghề tại trung tâm giáo dục thường xuyên 56

Bảng 4.10 Số lượng cán bộ - giáo viên của các Trung tâm giáo dục thường xuyên 59

Bảng 4.11 Trình độ của cán bộ - giáo viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên năm 2015 60 Bảng 4.12 Nguồn kinh phí thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề 61

Bảng 4.13 Đánh giá của học sinh - giáo viên chế cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nghề 64 Bảng 4.14 Sự cần thiết thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề 65

Bảng 4.15 Kết quả thực hiện đề án so với mục tiêu đề án 65

Bảng 4.16 Đánh giá về cách thức quản lý dạy văn hóa gắn với đào tạo nghề 66

Bảng 4.17 Chất lượng quản lý đối với hoạt động của giáo viên 67

Bảng 4.18 Đánh giá chất lượng quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề 67 Bảng 4.19 Đánh giá chất lượng thực hiện quản lý dạy văn hóa gắn đào tạo nghề 68

Bảng 4.20 Bảng ý thức học nghề của học sinh 71

Bảng 4.21 Bảng khó khăn chủ yếu của học sinh khi vừa học văn hóa vừa học nghề 71 Bảng 4.2.2 Đánh giá chất lượng giáo viên dạy nghề 73

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang 35

Đồ thị 4.1 Mức độ tiếp nhận thông tin về định hướng nghề nghiệp của học sinh 48

Đồ thị 4.2 Khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của học sinh 75

Trang 9

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Đặc điểm học sinh của trung tâm giáo dục thường xuyên 52

Hộp 4.2 Hộp khó khăn của học sinh tiếp cận thiết bị đào tạo nghề 56

Hộp 4.3 Hộp thực hiện các giải pháp đào tạo nghề 57

Hộp 4.4 Sự phù hợp của nội dung chương trình đào tạo 58

Hộp 4.5 Hộp giáo viên quan tâm nâng cao chất lượng đào tạo nghề 58

Hộp 4.6 Hộp khó khăn của học sinh vừa học văn hóa vừa học nghề 72

Hộp 4.7 Về thiết bị, vật tư thực hành 72

Hộp 4.8 Hộp gắn dạy lý thuyết với thực hành 83

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Phát triển đào tạo nghề là chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nướcnhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực để thựchiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.Theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), bên cạnh việc trang bị kiến thức cơbản, nghề là môn bắt buộc ở bậc học phổ thông với mục tiêu là bổ sung các kỹ năngthực tế để học sinh hiểu một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹ thuật, quy trình côngnghệ

Miền núi nói chung và Hà Giang nói riêng là địa bàn có rất nhiều khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp kém Nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh, khắc phục những khó khăn trong đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngày 08/5/2013 tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-UBND tỉnh Hà Giang về Đề

án gắn giáo dục với dạy nghề cho học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2013-2015, định hướng đến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên.

Triển khai Đề án trên đây, công tác đào tạo nghề cho học viên của Trung tâmgiáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang đã đạt được một số kết quảsau:

Tăng cường công tác tuyên truyền với nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về nghề nghiệp, đổi mới và thực hiện tốt công tác giáo dục, tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông và tuyển sinh Trong các hình thức tiếp nhận thông tin về hướng nghiệp chủ yếu của học sinh, hình thức thông tin trực tiếp từ đội ngũ giáo viên của các trường trung học, các trung tâm giáo dục thường xuyên là chủ yếu nhất với tỷ lệ đánh giá của giáo viên là 90,91% và học sinh là 80,85%.

Xây dựng chương trình dạy nghề, bố trí lịch học phù hợp cho học viên, nâng cao chất lượng đào tạo, xác định ngành nghề đào tạo phù hợp, phối hợp với các doanh nghiệp

về đào tạo, tiếp nhận và sử dụng học viên sau đào tạo Học sinh tham gia học nghề có sự thay đổi qua các năm, năm học 2012 - 2013 trên địa bàn tỉnh Hà Giang là 1771 học sinh, đến năm học 2013 - 2014 chỉ còn 1414 học sinh, giảm 357 học sinh, đến năm học 2014 -

2015 số học sinh là 1611 tăng 197 học sinh so vơi năm học 2013 – 2014.

Quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, giáo viên, giảng viên, nhân viên các trung tâm giáo dục thường xuyên, các cơ sở dạy

Trang 11

nghề đáp ứng yêu cầu Đánh giá về chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghềcủa các trung tâm có những ưu điểm với 68,11 tỷ lệ tốt của giáo viên và 64,29 của họcsinh Tuy nhiên đánh giá về sự bình thường của cơ sở vật chất với tỷ lệ 18,18 của giáoviên và 23,18 của học sinh đã nói lên sự hạn chế của cơ sở vật chất và trang thiết bịđào tạo nghề của các trung tâm còn phải đầu tư nhiều hơn nữa

Thực hiện chế độ hỗ trợ đối với học viên theo quy định Đối tượng hỗ trợ làhọc viên vừa học văn hóa hệ bổ túc trung học phổ thông, vừa học nghề trình độ trungcấp nghề tại các trung tâm giáo dục thường xuyên Mức hỗ trợ là học viên chi phí họcnghề bằng số tiền học phí phải nộp theo quy định hiện hành của nhà nước, theo thờigian (số tháng) thực học, nhưng tối đa không quá 11 tháng/học viên/năm Điều kiệnđược hỗ trợ là học viên được hưởng chính sách hỗ trợ phải đáp ứng đủ hai điều kiệnbao gồm học viên thuộc đối tượng phải nộp học phí học nghề theo quy định hiện hànhcủa Nhà nước, đảm bảo thời gian học tập theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Tổng kinh phí đầu tư cho thực hiện đề án gắngiáo dục với đào tạo nghề tăng dần qua các năm, năm 2013 tổng 5402 triệu đồng đếnnăm 2015 tổng kinh phí tăng lên là 6474 triệu đồng, tăng 1072 triệu đồng Tốc độ tăngbình quân ba năm là 9,47%

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Job training and development is the policy of the Party and State in order toimprove the quality of labour which is the key to the state industrialization,modernization and global economic integration According to the stipulation of theMinisitry of Education and Training (2007), besides getting the basic knowledge, job

is compulsory for students at Upper Secondary school so that they can understandabout tools, technic, and technology procedure

Mountainous area in general and Ha Giang province in particulally is a region with a lot of difficulties and low quality of labour source In order in develop the potential, advangtages to improve the quality of labour source, on 8th May 2013 Ha Giang enacted 844/QĐ- about the project of co-operating education and job training at some education centers in Ha Giang from 2013 to 2015, planning by 2020 to enhance the quality of job training for students at these centers On carrying out this project, job training for learners

at these education centers in Ha Giang have gained some good results:

Strengthening propaganda with various forms so as to improve the socialawareness about job, reform in education, give advice and job orient for students.There is a high propotion of 90,91% teachers and 80,85% students for the form ofgiving information directly to teachers of Secondaty schools and eduction centers.Creating job training program, aragning suitable timetable for learners, improving thequality ò training, identifying suitable job training, co-operating with enterprises totrain, recruit learners after training

The number of students who attend job training has changed over the years.There were 1771 students in 2012-2013, 1414 students in 2013-2014, in 2014-2015 up

to 1611 students

It’s important to improve facilities, equipment, arranging teachers, professorsand staff at the education centers and the job traing areas with the good propotion of68,11% for teachers and 64,29% for students However, there is a normal propotion of18,18% for teachers and 23,18% for students so it is necessary to invest more infacilities and equipment

There is a supportive program for learners who learn parallel the secondaryschool and job training at these education centers The supportive rate is the same asthe tuition fee of the state up to 11 months a year If a learner is supported the tuition

Trang 13

fee, he must get these 2 cases: the learner has to pay the fee according to the rules ofthe state, and the learner must attend class enough time according to the rules of theMinistry of Education and training, the Ministry of Labor, War invalids and socialwelfare The total investment for carrying out the 844 Act accounts for 5402 milliondongs in 2013, 6474 million dongs in 2015 with the average increase of 9,47%.

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT

Phát triển đào tạo nghề là chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nướcnhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực đểthực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tếquốc tế Tuy nhiên, trong thời gian qua, hệ thống giáo dục của nước ta thiên nhiều

về giáo dục lý thuyết và thiếu giáo dục thực hành, số lượng và chất lượng cơ sởđào tạo nghề chưa tương xứng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế Vì thế, thịtrường lao động nước ta hiện thiếu rất nhiều lao động có kỹ thuật đáp ứng yêu cầu

Theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), bên cạnh việc trang bịkiến thức cơ bản, nghề là môn bắt buộc ở bậc học phổ thông với mục tiêu là bổsung các kỹ năng thực tế để học sinh hiểu một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹthuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một nghề,hình thành cho học sinh một số kỹ năng sử dụng công cụ, kỹ năng thực hành kỹthuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm, phát triển hứng thú kỹ thuật vànhu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào lao động, thói quen làm việc có kếhoạch, tuân thủ quy trình kỹ thuật và bảo đảm an toàn lao động, bước đầu có tácphong công nghiệp, giữ gìn vệ sinh môi trường, có ý thức tìm hiểu và lựa chọnnghề của học sinh Thực tế cho thấy, hiện nay dạy nghề ở bậc học phổ thông cònmang tính hình thức, chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu

Miền núi nói chung và Hà Giang nói riêng là địa bàn có rất nhiều khó khăn,chất lượng nguồn nhân lực còn thấp kém Nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh,khắc phục những khó khăn trong đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, ngày 08/5/2013 tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-UBND tỉnh

Hà Giang về Đề án gắn giáo dục với dạy nghề cho học viên tại các trung tâm giáodục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2013-2015, định hướngđến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho học viên tại các trungtâm giáo dục thường xuyên

Triển khai Đề án trên đây, công tác đào tạo nghề cho học viên của Trungtâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang đã đạt được một

Trang 15

số kết quả, góp phần bổ sung nguồn nhân lực qua đào tạo, phân bổ nguồn laođộng, cơ cấu vùng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho con em đồng bào dân tộcthiểu số, đảm bảo an sinh xã hội, tạo sự cân bằng trong sự phát triển kinh tế xã hộicủa Tỉnh Bên cạnh đó, mặc dù là Đề án được các cấp ủy đảng, chính quyền củaTỉnh hết sức quan tâm nhưng trong thực tế triển khai Đề án gắn giáo dục với đàotạo nghề tại các trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện miền núi vùng caocòn những bất cập: học viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của đàotạo nghề, việc giảng dạy chủ yếu tập trung về trang bị lý thuyết, các giờ thực hànhtại nhà xưởng, nhà máy, xí nghiệp chưa được quan tâm đầy đủ, số lượng và chấtlượng đội ngũ giáo viên dạy nghề còn những hạn chế, cơ sở vật chất về đào tạonghề còn thiếu thốn.

Xuất phát từ lý do trên đây, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng cường

thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang” phục vụ viết luận văn tốt

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

dục với đào tạo nghề

Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

nghề cho học viên Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

Trang 16

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

cho học viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang; cán bộ quản lý, giáo viên cáctrường cao đẳng nghề, Trường Trung cấp nghề tham gia đào tạo nghề cho học viên ở trung tâmgiáo dục thường xuyên; cán bộ một số tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội

Hà Giang; phụ huynh học sinh các huyện vùng cao

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề; đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởngviệc thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề của học viên theo học hệ bổ túc trung học phổthông và trung cấp nghề ở các trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao Hà Giang,

từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạonghề cho học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

Hoàng Su Phì và Mèo Vạc

đến nội dung nghiên cứu và các số liệu giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề

giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

đào tạo nghề cho học viên Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang

3

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GẮN GIÁO DỤC

VỚI ĐÀO TẠO NGHỀ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GẮN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ

để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân

Tác giả C.Mác và Ph.ăng nghen (1994) viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực

sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”.

Theo tác giả Nguyễn Hùng (2014) thì: “ Những chuyên môn có những đặcđiểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi lànghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnhvật chất sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thểnhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợiích của con người ”

Từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc

chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”.

Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng laođộng vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầubản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãnnhững yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân

Nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề là cơ sởgiúp cho con người có “nghiệp” - việc làm, sự nghiệp

Trang 18

Cũng có thể nói nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải

có một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng,

kỹ xảo nhất định

nhờ được đào tạo, con người có được tri thức, kỹ năng, thái độ để làm ra các loại sản phẩm vậtchất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Còn chuyên môn là một lĩnhvực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm

ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động) hoặc giá trị tinh thần (sáchbáo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của

xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2.000 nghề với hàng chục nghìn chuyênmôn Ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ trước đây, người ta đã thống kê được15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000

Bên cạnh khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn của nghề

và phân loại nghề Đặc điểm chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:

về đào tạo nghề

Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức đào tạo nghề, tuynhiên xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau nên phânloại nghề khá phức tạp và phong phú Ví dụ: phân theo tính chất của nghề ta cónghề đơn giản, nghề kỹ thuật; hay phân theo phạm vi hoạt động của nghề thì phân

ra nghề diện hẹp, nghề diện rộng

Có thể nói sự phù hợp nghề trước hết phụ thuộc vào quá trình nhận thức sâusắc đối với nghề mình chọn để biết mình, biết nghề và sau đó là quá trình tự rènluyện để tạo sự phù hợp trong khuôn khổ mà nghề đã đặt ra Có được sự phù hợpnghề là cơ sở để đảm bảo cho hoạt động nghề đạt tới hiệu quả Song, để làm cho

sự phù hợp nghề có sự bền vững về chất lượng là cả một quá trình khổ công họchỏi, hoàn thiện những gì đã có để làm cho những yêu cầu do nghề đặt ra trở thànhnhững đòi hỏi của chính bản thân mình

Trang 19

2.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề

Luật về Giáo dục Nghề nghiệp Quốc hội khóa XI (2014) định nghĩa đào tạonghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghềnghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việclàm sau khi hoàn thành khoá học

Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (hay còn được gọi làDạy nghề) Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:

Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trườngnhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên Đây là công việc kếtnối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức thực hiệnchương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá,kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình đánh giá khác, cácchính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp

ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp

Tác giả Nguyễn Đình Luận (2015) cho rằng:“Dạy nghề là những qui trình

mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục địch và các mục tiêu của công ty”.

Theo Nguyễn Hùng (2008) đưa ra khái niệm Dạy nghề là hoạt động đáp ứng bốn điều kiện sau:

Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2008) định nghĩa:”Dạy nghề là cung cấp

cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao”.

Ngày 29/11/2006, Quốc hội Khóa 11 đã ban hành Luật Dạy nghề số

76/2006/QH11 Trong đó viết: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị

kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” (Nguyễn

Ngọc Hiếu, 2010)

Trang 20

Qua đó, ta có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyếtviệc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại làyếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Dạynghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghềnghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc cóthể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân.

Hiện nay, dạy nghề mang tính tích hợp giữa lí thuyết và thực hành Sự tíchhợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong tương laiphải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay nghề Đây làđiểm khác biệt lớn trong dạy nghề so với dạy văn hoá

Dạy nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ nghềnghiệp cần thiết của một nghề Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở khoa học vềvật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức quản lí sảnxuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao độngtrong sản xuất và đào tạo nghề mới Học sinh được cung cấp kiến thức và kỹ năngnghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật,lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn Đó là những

cơ sở ban đầu để người học sinh - người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹnăng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong laođộng công nghiệp

Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: học đi đôi với hành; lấy thựchành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâmnghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của ngườihọc, đảm bảo tính giáo dục toàn diện

Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấpnghề và cao đẳng nghề Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy, dạynghề thường xuyên

Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề nănglực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc củamột nghề, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong côngnghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khảnăng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

Trang 21

Mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghềkiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khảnăng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức,lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạođiều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạoviệc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.

Mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghềkiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khảnăng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứngdụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạptrong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong côngnghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khảnăng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

2.1.1.3 Khái niệm hoạt động dạy nghề

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo,con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vậtchất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội (Nguyễn Hùng,2008)

Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2008) định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp

cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các công việc liên quan đến công việc nghề nghiệp được giao”.

Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp theo điều 4 Quốc hội khóa XI (2011) là:

“Đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe, có trách nhiệm nghề nghiệp, có khả năng sáng tạo, thích ứng môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập Quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.

Từ những khái niệm trên cho thấy dạy nghề không chỉ dừng lại ở trang bịnhững kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản Điềunày thể hiện tính nhân văn, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về laođộng chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn nhân lực, coi công nhân nhưcái máy sản xuất Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật

Trang 22

lao động, một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ

và kĩ thuật tiên tiến hiện nay

Như vậy, hoạt động dạy nghề là quá trình tác động của người dạy nghề đếnngười học nghề nhằm phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ củangười học nghề một cách tốt nhất để người học nghề sau khi được đào tạo họ cóthể làm được những công việc có liên quan đến nghề đã học

Hai mối quan hệ trên có quan hệ hữu cơ với nhau đó là:

Dạy nghề: là quá trình giáo viên truyền đạt những kiến thức về lý thuyết vàthực hành để học sinh có thể có được trình độ về kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo,thành thục nhất định về nghề nghiệp

Học nghề: là quá trình tiếp thu về lý thuyết và thực hành để học sinh có thểđạt được trình độ nhất định

Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2009), dạy và học là một quá trình thống nhất,giữa chúng có quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau đồng thời chịu sự ảnhhưởng của sự tác động qua lại trong hệ thống dạy học Giáo viên đưa ra nhiệm vụ,yêu cầu nhận thức, những nhiệm vụ yêu cầu này có tác dụng đưa học sinh vào tìnhhuống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinh, học sinh tự đưa ra nhiệm vụ họctập cho mình; học sinh ý thức được nhiệm vụ cần phải giải quyết, có nhu cầu giảiquyết nhiệm vụ, biến các nhiệm vụ khách quan thành yêu cầu chủ quan, giải quyếtnhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của giáo viên ở các mức độ khác nhau; giáo viên thuthập các tín hiệu ngược từ học sinh để giúp cho học sinh điều chỉnh hoạt động học,đồng thời giúp cho giáo viên tự điều chỉnh hoạt động dạy của mình Học sinh cũngthu thập tín hiệu ngược để tự phát hiện, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động họctập của mình Trên cơ sở xử lý những tín hiệu ngược, giáo viên đưa yêu cầu mới,học sinh cũng đưa yêu cầu cho bản thân giúp học sinh hoàn thành những nhiệm vụhọc tập nhất định Cuối cùng giáo viên phân tích đánh giá kết quả học tập của học

sinh và của mình.

Hoạt động dạy và học là hai hoạt động luôn gắn bó, không tách rời nhau,tác động và phối hợp với nhau, nếu thiếu một trong hai hoạt động đó thì quá trìnhdạy học không diễn ra, chúng thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành một hoạtđộng chung, dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy, dạy tốt dẫn đến học tốt, để họctốt thì phải dạy cho tốt

Trang 23

2.1.1.4 Khái niệm về gắn giáo dục với đào tạo nghề

Theo Nguyễn Hồng Kiên (2013) hướng nghiệp học đường và nghề nghiệp

đã có lịch sử ra đời và phát triển với bề dày trên dưới 100 năm trên thế giới và trênthực tế đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và chính sách được tíchhợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, dịch vụ vàchính sách của nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới Trong hệ thốnggiáo dục, giáo dục trung học phổ thông là giai đoạn học tập chính quy cuối cùngcủa đa phần thanh thiếu niên học sinh

Giáo dục trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn chogiáo dục đại học mà cần phải chuẩn bị cho học sinh, những con người trưởngthành bước vào cuộc sống lao động xã hội kiến thức về hướng nghiệp Họ phảiđược trang bị những tri thức khoa học, kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng lao động nghềnghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh nhằm gópphần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Trên thực tế, lĩnh vực khoa học - kĩ thuật liên tục phát triển và thay đổi, đặcbiệt là trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, người lao động thường không có khảnăng để thích ứng kịp thời Trong khi đó, số học sinh phổ thông khi rời ghế nhàtrường với vốn kiến thức “văn hoá chay” không có cơ sở và khả năng hội nhập vàocuộc sống lao động - xã hội

Xuất phát từ thực tiễn như vậy, các nhà tư tưởng và giáo dục học tiến bộđưa ra những hình thức gắn giáo dục với dạy nghề Vấn đề phát triển đa dạng củanghề do sự phát triển công nghiệp được đặt ra Người ta đã nhận thấy tính đa dạng,phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giaiđoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiếtphải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụnghiệu quả lao động trẻ tuổi

Theo đó, nhiều nước đã tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hướng tăngcường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối vớikhoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào trường học để đảm bảo sự liên hệgiữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xã hội

và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học,tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp

để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp

Trang 24

Vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cầnthiết cho học sinh phổ thông là rất cần thiết Học sinh trung học phải được bồidưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, cóthái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợpvới mỗi cá nhân.

Cần phải hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp trithức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho họcsinh phổ thông Nhiều cuộc cải cách giáo dục ở các nước đã được tiến hành vớimục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế

cụ thể của đất nước Trong đó, nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình

độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường tiểu học và trunghọc cơ sở

Như vậy gắn giáo dục với đào tạo nghề là gắn quá trình trang bị kiến thức

cơ bản theo các bậc học với trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm.

2.1.2 Mục tiêu của thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề

bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là đối với những học viên có hoàn cảnh khó khăn hoặc năng lựchọc tập không cao

bớt khó khăn cho gia đình do con em có nhu cầu được học nghề không phải đi học xa

học phổ thông) vừa học nghề trình độ trung cấp Hàng năm phấn đấu huy động từ 100% số họcviên các TTGDTX vừa học văn hóa vừa học nghề trình độ trung cấp nghề

TTGDTX để sau 3 năm học, học viên sẽ đạt trình độ văn hóa cấp THPT (hệ bổ túc) và trình độTrung cấp nghề Học viên được trang bị hành trang cơ bản, vững chắc để có thể tiếp tục theo học

ở trình độ cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động một cách vững vàng

11

Trang 25

+ Duy trì củng cố hệ thống TTGDTX, cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh, tăngcường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học cho các TTGDTX, cơ sở dạynghề để đáp ứng yêu cầu cho công tác vừa dạy văn hóa vừa dạy nghề cho các học viênTTGDTX.

2.1.3 Vai trò của thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề

Thực hiện gắn giáo dục với đào tạo nghề giúp học sinh tăng thêm hiểu biết

về nội dung, yêu cầu, đòi hỏi của nghề trong thực tế từ đó có cơ sở để đối chiếu sởthích nghề nghiệp, khả năng của bản thân với yêu cầu của nghề và đưa ra quyếtđịnh nghề nghiệp phù hợp Đây là yếu tố rất quan trọng giúp cho các em thành đạttrong hoạt động nghề nghiệp sau này

Gắn giáo dục với đào tạo nghề cũng giúp học sinh có điều kiện, cơ hội vậndụng, kiểm nghiệm các kiến thức trong hoạt động nghề nghiệp cụ thể từ đó nhậnthức đầy đủ hơn tính ứng dụng của các kiến thức đã học được và quan trọng hơnnữa là có điều kiện để rèn luyện các kĩ năng lao động cần thiết cho cuộc sống hàngngày và có hành trang cần thiết để bước vào cuộc sống lao động nếu như không cóđiều kiện tiếp tục học lên

2.1.4 Tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên

ở trung tâm GDTX

2.1.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam

Trên cơ sở nhận thức quan trọng về đào tạo nghề cho học sinh, Đại hộiĐảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX (4 - 2001) nêu rõ: coi trọng công tác hướngnghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đivào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước

và từng địa phương

Nghị quyết số 29 - NQ/TW (ngày 04/11/2013) của Hội nghị Trung ương 8(khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: tập trung đàotạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp, hình thành hệthống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năngnghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực

kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế Bảo đảm cơ hộicho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sáchđược học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn

Trang 26

nghiệp vụ, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề.

Nhà nước từng bước thể chế hóa chủ trương trên đây của Đảng nhằm triểnkhai thực hiện ở các địa phương Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ban hành Luật Số 44/2009/QH (ngày 25/11/2009) về Giáo dục nêu rõ mụctiêu của giáo dục trung học cơ sở là nhằm giúp học sinh củng cố và phát triểnnhững kết quả của giáo dục tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở vànhững hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổthông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triểnnhững kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và cónhững hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huynăng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTg (ngày29/5/2012) về Phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020, trong

đó yêu cầu:

về vai trò, vị trí của dạy nghề trong phát triển nguồn nhân lực và trong chiến lược, quy hoạchphát triển nhân lực của đất nước thời kỳ 2011 - 2020 để chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triểnnhân lực của Bộ, ngành địa phương và tổ chức thực hiện

sách của Đảng và Nhà nước về dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 và tuyên truyền, tư vấn, hướngnghiệp đoàn viên, hội viên của tổ chức mình thực hiện, đồng thời góp phần làm thay đổi nhậnthức của xã hội về học nghề

bộ phận chuyên trách làm công tác tư vấn, hướng nghiệp cho người học nghề

Quốc hội ban hành Luật số 74/2014/QH (ngày 27/11/2014) Về giáo dụcnghề nghiệp tiếp tục làm rõ và nhấn mạnh thêm một số nội dung về đào tạo nghềnhư trình độ đào tạo nghề, cơ sở đào tạo nghề, chính sách đối với cơ sở đào tạonghề, giáo viên và học sinh của cơ sở đào tạo nghề trên cơ sở nội dung Luật dạynghề năm 2006

Trang 27

2.1.4.2 Nội dung tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên ở trung tâm giáo dục thường xuyên

Triển khai Luật Giáo dục và dạy nghề, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyếtđịnh số 01/2007/QĐ-BGDĐT (ngày 02/01/2007) Về Ban hành Quy chế tổ chức vàhoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên, trong đó nêu rõ Trung tâm giáodục thường xuyên là cơ sở giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân.Trung tâm giáo dục thường xuyên bao gồm trung tâm giáo dục thường xuyênquận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương

a Về tổ chức

học viên theo quy định như: chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giaocông nghệ; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm:chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chươngtrình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nângcao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùngdân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương; chương trình giáo dục thường xuyêncấp trung học cơ sở và trung học phổ thông Đồng thời thực hiện chức năng tư vấn nghề nghiệp,liên kết đào tạo với các cơ sở dạy nghề trong và ngoài tỉnh đã được các cơ quan quản lý nhànước về dạy nghề cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề

sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức họcphù hợp với từng loại đối tượng

+ Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học

cơ sở và trung học phổ thông dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàntật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương

xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập

vừa học; học từ xa; tự học có hướng dẫn Học viên học tập tại trung tâm giáo

14

Trang 28

dục thường xuyên theo hình thức vừa làm vừa học được tổ chức theo lớp học Mỗilớp học có một giáo viên chủ nhiệm, có lớp trưởng, một hoặc hai lớp phó Lớptrưởng và lớp phó do tập thể lớp bầu ra Học viên học tập tại trung tâm giáo dụcthường xuyên theo các hình thức học từ xa, tự học có hướng dẫn được thực hiệntheo quy định riêng.

về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm

và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ vàthực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội

giúp người học có năng lực thực hiện được các công việc của nghề đã học, nâng cao khả nănglao động, tăng năng suất lao động hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Người đứng đầu cơ sở giáo dục

tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng hoặc tổ chức lựa chọn chương trình đào tạo.Thờigian đào tạo đối với các chương theo yêu cầu của từng chương trình, bảo đảm sự linh hoạt, phùhợp với từng đối tượng người học

chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên

b Về trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Về cơ sở vật chất, Trung tâm giáo dục thường xuyên phải có đủ các phònghọc, phòng thí nghiệm, thư viện, phòng thực hành lao động sản xuất đáp ứng yêucầu giảng dạy, học tập Nguồn tài chính của trung tâm giáo dục thường xuyên baogồm: Ngân sách nhà nước, học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiêncứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác,các nguồn thu tài chính hợp pháp khác

Về thiết bị giáo dục, thư viện, Trung tâm giáo dục thường xuyên phải cócác thiết bị dạy học và phòng thí nghiệm theo yêu cầu của việc thực hiện cácchương trình giáo dục thường xuyên Thiết bị giáo dục và sách, tạp chí tại thư việnphải được quản lý, sử dụng có hiệu quả theo quy định

Trung tâm giáo dục thường xuyên sử dụng sách giáo khoa và tài liệu họctập theo quy định về chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu giáo dục

15

Trang 29

thường xuyên của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các tài liệu học tập riêng cho địaphương do sở giáo dục và đào tạo hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyềnquy định.

c Đội ngũ giáo viên

Về giáo viên, giáo viên của trung tâm giáo dục thường xuyên là người làmnhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại trung tâm giáo dục thường xuyên, tham gia giảngdạy các chương trình quy định, được trung tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm

vụ được giao, được hưởng mọi quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo, được trựctiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý trung tâm, được tham giacác hoạt động nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, dịch vụ chuyển giao côngnghệ do trung tâm tổ chức, được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng vàHội đồng kỷ luật khi các Hội đồng này giải quyết những vấn đề có liên quan đếnhọc viên của lớp mình được phân công, phụ trách Giáo viên trung tâm giáo dụcthường xuyên có định mức giờ dạy, định mức giờ làm công tác kiêm nhiệm nhưquy định đối với giáo viên cùng cấp học ở các cơ sở giáo dục phổ thông

Giáo viên của trung tâm giáo dục thường xuyên tham gia giảng dạy cácchương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáodục quốc dân phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùngcấp học của giáo dục chính quy, cụ thể như sau:

có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy trình độ sơ cấp

nghiệp đại học trở lên, nhà giáo dạy thực hành trình độ trung cấp phải có chứng chỉ kỹ năng nghề

để dạy thực hành trình độ trung cấp

nghiệp đại học trở lên, nhà giáo dạy thực hành trình độ cao đẳng phải có chứng chỉ kỹ năng nghề

để dạy thực hành trình độ cao đẳng

cao đẳng phải đạt chuẩn của nhà giáo dạy lý thuyết và chuẩn của nhà giáo dạy thực hành Ngườiđược mời thỉnh giảng là cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, tổ chức khác phải bảo đảmhoàn thành nhiệm vụ ở nơi mình công tác

Trang 30

cơ sở thực hành, thực tập, do cơ sở đào tạo nghề liên hệ (Các Trung tâm, Doanhnghiệp, nhà máy ) theo kế hoạch đào tạo phù hợp.

Phương pháp đào tạo phải phát huy vai trò chủ động, năng lực tự học, kinhnghiệm của người học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin,truyền thông để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học

Người học được hưởng chính sách học bổng, trợ cấp xã hội, chế độ cửtuyển, chính sách tín dụng giáo dục, chính sách miễn, giảm phí dịch vụ công cộng.Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng vàthân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãingười có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cậnnghèo, người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa

e Về kinh phí đào tạo

* Kinh phí dạy nghề : Từ nguồn kinh phí đã giao cho các cơ sở dạy nghề trong

dự toán phân bố hàng năm

học viên/năm, ước tính tổng khoảng kinh phí cả giai đoạn cho đề án 844 thực hiện trên địa bàntỉnh Hà Giang là 5.100.000.000 đồng

đồng/học viên/năm, ước tính khoảng kinh phí cả giai đoạn cho đề án 844 thực hiện trên địa bàntỉnh Hà Giang 3.500.000.000 đồng

(Ước khoảng 85% tổng số học viên được hưởng chế độ trợ cấp xã hội theo quy định hiện hành của Nhà nước)

+ Giai đoạn 2013 - 2015: Với khoảng kinh phí trợ cấp xã hội cả giai đoạn

Trang 31

cho đề án 844 thực hiện trên địa bàn tỉnh Hà Giang 17.671.500.000 đồng.

đề án 844 thực hiện trên địa bàn tỉnh Hà Giang 29.452.500.000 đồng

* Kinh phí xây dựng phòng học cho các trung tâm GDTX

Một số Trung tâm GDTX còn thiếu phòng học, cần được xây dựng vào giaiđoạn 2013-2015, dự toán khoảng 400.000.000 đồng/phòng

f Đánh giá kết quả thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề

Đánh giá kết quả đào tạo: Để đánh giá kết quả của người học sau khi đã họcxong chương trình đào tạo, xác định xem học viên có đáp ứng được mục tiêu, yêucầu đưa ra không, kỹ năng, tay nghề của người học sau khi đào tạo có đáp ứngđược với thực tế hay không

Dạy nghề là một phân hệ trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, cónhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách

ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, nănglực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinhdoanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên ở trung tâm GDTX

2.1.5.1 Các yếu tố bên trong

a Công tác tuyên truyền, tư vấn nghề nghiệp và tuyển sinh

Công tác tuyên truyền có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút số lượng học sinhcũng như định hướng được nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của thị trường laođộng Nội dung chương trình giảng dạy sát hợp với đối tượng đào tạo về thời gian,đặc điểm người học, phong tục, tập quán địa phương là cơ sở quan trọng cho việcnâng cao hiệu quả tiếp thu và sự tham gia tích cực của học sinh Đặc điểm đốitượng học sinh tham gia đào tạo là một cơ sở quan trọng hình thành nội dungchương trình đào tạo

b Đội ngũ giáo viên

Số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia đào tạo có thể là yếu tốảnh hưởng lớn nhất đối với chất lượng, hiệu quả đào tạo Với đội ngũ giáo viênđáp ứng yêu cầu, đặc biệt là về năng lực truyền đạt, hướng dẫn giúp cho người họckhông chỉ lĩnh hội được kiến thức nghề mà quan trọng hơn là vận dụng được kiếnthức trong thực tiễn

Trang 32

c Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phụ vụ đào tạo

Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình đào tạo như phòng học lýthuyết, phòng học thực hành, các trang thiết bị như máy móc, vật tư phục vụ đàotạo nghề Khi cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu, nhất là về thực hành sẽnâng cao năng lực nghề thực tiễn của người học

d Chương trình đào tạo

Đây là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, nếu chương trình đào tạo sátthực, phù hợp với thực tiễn, giúp đào tạo tay nghề cho những công việc cần nghề khi

đó các em học sinh khi ra trường, có bằng nghề có tay nghề khi đi làm trong các Công

ty, xí nghiệp đây là một cơ hội cho các em vào cuộc được thuận lợi

Thực tế ở xã hội Việt Nam vẫn còn một số trung tâm đào tạo nghề chưa cótầm nhìn chiến lược, do đó đào tạo tràn lan, mang tính lý thuyết, nhiều học sinh cóbằng nghề nhưng không làm được nghề và nghề đó lại đang thừa trên thị trường

Ngoài ra còn có công tác quản lý đối với hoạt động dạy và học cũng nhưquản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và phối hợp giữa các tổ chức, cá nhân có liênquan ảnh hưởng tới chất lượng dạy và học, sử dụng và huy động các nguồn lựcphục vụ quá trình đào tạo

2.1.5.2 Các yếu tố bên ngoài

Cơ chế, chính sách của Nhà nước, chính quyền địa phương đối với hoạtđộng đào tạo là cơ sở triển khai thực hiện các hoạt động đào tạo cũng như có thểtạo ra những thuận lợi hay bất lợi cho quá trình đào tạo

Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của môi trường đào tạo cũng có thể tạo

ra những thuận lợi hay khó khăn đối với hoạt động dạy và học, đầu tư cơ sở vậtchất, trang thiết bị phục vụ đào tạo Nhận thức về giáo dục đào tạo, điều kiện kinh

tế gia đình ảnh hưởng đến sự tham gia tích cực của học sinh

Trang 33

Các loại trường kỹ thuật của Nhật Bản bao gồm loại chỉ đào tạo trong 3năm cho học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở (gọi là Trung học kỹ thuật hay Trunghọc chuyên nghiệp, kết hợp giữa giáo dục phổ cập và dạy nghề), loại 5 năm (gọi làCao đẳng kỹ thuật), loại trường đào tạo chuyên ngành như y tế cộng đồng, y tá,dược tá, chăm sóc người già của nhà nước (2-3 năm theo yêu cầu của bộ môn),loại trường chuyên tu (tư nhân) là những cơ sở dạy nghề cụ thể như Hớt tóc, cắmhoa, dạy tiếng nước ngoài, văn hóa đời sống, đầu bếp (thường là 1-2 năm, nằmngoài hệ thống đào tạo của giáo dục của nhà nước) Ngoài ra còn có Trung tâmhuấn luyện nghề (của quận, huyện, thành phố) công lập là cơ sở đào tạo nghề mới(hoàn toàn miễn phí) cho những người muốn đổi nghề, về hưu không giới hạn tuổitác để giải quyết tình trạng thất nghiệp.

Cơ sở của hệ thống giáo dục của Nhật Bản hiện đại là giáo dục phổ cập 9năm, mang tính cưỡng bách Chế độ cưỡng bách giáo dục với 9 năm này gồm 6năm tại trường tiểu học và 3 năm tại trường trung học cơ sở (cấp 2) Trên thực tế,tất cả (gần 100%) học sinh Nhật Bản hoàn tất chương trình giáo dục phổ cậpcưỡng bách này Sau khi tốt nghiệp cấp 2, khoảng 95% học sinh tiếp tục lên cấp 3phổ thông hoặc chọn vào một trường trung học kỹ thuật, hay trường chuyên tu đểhọc nghề cụ thể

Nhật Bản đã ý thức được tầm quan trọng của việc đẩy mạnh sự phát triểncác chương trình giáo dục khoa học và kỹ thuật Một trong những chính sách đượcchính phủ Nhật Bản áp dụng vào cuối năm 1957 là việc đưa các môn kỹ thuậtthành môn bắt buộc tại tất cả các trường cấp 2 cơ sở bắt đầu vào năm 1958 Vớiviệc đưa chương trình đào tạo kỹ thuật vào các trường cấp 2 cơ sở, môn giáo dụchướng nghiệp dạy nghề đã có trước đây được chuyển sang các trường phổ thôngtrung học (cấp 3) như là một môn học tự chọn

Mục tiêu chủ yếu của môn đào tạo kỹ thuật ở trường cấp 2 cơ sở là nhằmgiúp học sinh nắm các kỹ năng cơ bản thông qua kinh nghiệm sản xuất, am hiểucông nghệ hiện đại và thúc đẩy những hiểu biết và thái độ cần thiết để ứng dụngnhư thông qua kinh nghiệm về thiết kế và thực hành, nuôi dưỡng các kỹ năngthuyết trình, sáng tạo và những thái độ hợp lý trong khi giải quyết sự việc, thôngqua kinh nghiệm sản xuất, điều hành máy móc, thiết bị, giúp học sinh hiểu mốiquan hệ mật thiết giữa công nghệ và cuộc sống và nuôi dưỡng mối quan tâm pháttriển công nghệ và ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày Nội dung chủ yếu baogồm như thiết kế và đồ hoạ, chế biến gỗ và nghề kim loại, máy móc, điện tử và

Trang 34

chăn nuôi trồng trọt Chương trình đào tạo công nghệ được phân phối với tổng số

105 giờ trong mỗi cấp lớp ở trường cấp 2 cơ sở

Vào năm 1960, chính phủ Nhật Bản bắt đầu nhân đôi số lượng các trườngtrung học kỹ thuật Trong suốt thời kỳ này, các trường kỹ thuật 5 năm gọi làtrường Cao đẳng chuyên nghiệp dành cho học sinh tốt nghiệp cấp trung học cơ sởđược thành lập

Nhằm đáp ứng tình trạng thiếu hụt giáo viên môn kỹ thuật có tay nghề, cáctrường cao đẳng sư phạm kỹ thuật 3 năm đã được thành lập để bổ sung Cáctrường cao đẳng này được liên kết với khoa kỹ thuật công nghệ tại các trường đạihọc công lập Nhật Bản Trong suốt những năm 1960, mỗi trường cao đẳng đào tạonghề này thu nhận khoảng 900 sinh viên/năm và chỉ sau 3 năm đào tạo bổ sung,lực lượng giáo viên dạy nghề tăng lên một cách nhanh chóng

Đối với cấp phổ thông trung học, Bộ Giáo dục đã điều chỉnh lại các lớp kỹthuật để khuyến khích phát triển các kỹ năng cơ bản và sự linh động trong ứngdụng Trong các môn học cơ bản, Bộ Giáo dục khuyến khích sử dụng máy vi tínhcho bộ môn khoa học và toán học Tất cả các sinh viên học nghề đều phải học mộtmôn công nghệ thông tin có liên quan đến chuyên ngành của họ như xử lý thôngtin nông nghiệp và xử lý thông tin kinh tế gia đình Một trong những nội dungchấn chỉnh quan trọng nhất của các lớp kỹ thuật ở cấp phổ thông trung học là phầngiới thiệu các lớp giải quyết vấn đề phức hợp như “cơ điện tử”, “ứng dụng cơ điệntử” và nghiên cứu dự án độc lập

Ngay từ đầu, phương pháp giảng dạy kỹ thuật của Nhật theo thực nghiệm,dựa trên phương pháp luận của việc lập trình Các lớp kỹ thuật thường được chia

ra thành lớp lý thuyết và lớp thực hành Các lớp thực hành (thí nghiệm) thường có

ít sinh viên hơn các lớp lý thuyết Trung bình mỗi lớp học gồm 40 học viên Gầnđây, các hoạt động mới của lập trình đang cố gắng kết hợp các lĩnh vực kỹ thuậtkhác nhau với nội dung lý thuyết tương ứng phù hợp

Sách giáo khoa sử dụng trong các trường giáo dục bắt buộc và các trườngphổ thông trung học đều được các công ty xuất bản tư nhân biên soạn và phát hànhtheo sự kiểm định và chấp thuận của Bộ Giáo dục Tất cả các sách giáo khoa bắtbuộc, sách giảng dạy kỹ thuật đều được phát miễn phí cho học sinh

Có thể nói rằng Nhật đã tìm cách đẩy mạnh việc hướng nghiệp, đào tạonghề cho lứa tuổi trung học cơ sở lẫn trung học phổ thông với nhiều phương cáchlinh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản

Trang 35

2.2.1.2 Kinh nghiệm của Đức

Theo Trịnh Xuân Thắng (2014), sự phát triển giáo dục và đào tạo ở Đứcđược chỉ đạo bởi một quan điểm xuyên suốt là chỉ có những người được giáo dục

và đào tạo tốt mới đưa nước Đức vào vị trí hàng đầu trong cuộc chạy đua toàn cầu

và đồng thời tự mình tham gia một cách tốt nhất vào sự phát triển đó

trung học cơ sở Cấp trung học cơ sở được thiết kế để trang bị cho học sinh đủ trình độ đáp ứngcác yêu cầu của trung học phổ thông dẫn đến một trình độ nghề nghiệp Học sinh tốt nghiệp cácloại trường trung học cơ sở được tiếp tục học lên theo các luồng ưu tiên trung học phổ thông,trung học nghề (giáo dục phổ thông kết hợp với giáo dục nghề nghiệp) và giáo dục nghề nghiệp

là chủ yếu

Sự gắn kết giữa đào tạo nhân lực với phát triển kinh tế, nhu cầu của thịtrường lao động ở Đức cũng rất chặt chẽ Nhu cầu lao động của các công ty đượcđáp ứng một cách phù hợp thông qua việc ký hợp đồng đào tạo, bồi dưỡng nghềvới học sinh, người lao động Kế hoạch triển khai đào tạo nghề do các bang, cácđịa phương xác định tùy thuộc vào sự phát triển của cơ cấu kinh tế, thị tường laođộng Để phục vụ cho chức năng hoạt động của hệ thống nghề, Đức có một cơ sở

hạ tầng thông tin bao quát trên diện rộng về các lĩnh vực ngành nghề

Trong hệ thống các trường đại học của Đức có hai loại trường tạo thành haitrụ cột phân biệt nhau là trường đại học khoa học hay đại học nghiên cứu vàtrường đại học thực hành Các trường đại học thực hành có đặc trưng là gắn liềnvới thực tiễn, thời gian đào tạo chỉ 3 đến 4 năm, nghiên cứu ở các trường này đóngvai trò ít hơn và chỉ giới hạn ở những nghiên cứu và triển khai theo hướng ứngdụng Hiện nay, ở Đức có chính sách liên thông từ đại học thực hành sang đào tạosau đại học ở các trường đại học tổng hợp đảm bảo nhu cầu của mọi người dân Sởhữu tư nhân trong khu vực đại học thực hành mạnh hơn nhiều so với đại học tổnghợp

Chính phủ Đức huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả của các lựclượng xã hội vào đào tạo nhân lực Các nhà máy, doanh nghiệp ở Đức tự nguyệntham gia đào tạo nghề trong hệ thống song hành Các xí nghiệp tư nhân cũng nhưcác cơ quan, tổ chức tham gia đào tạo ngoài xí nghiệp được thực hiện việc đào tạonghề một cách rộng rãi nhưng phải tuân thủ các quy định của Nhà nước trong luậtdạy nghề

Trang 36

2.2.1.3 Kinh nghiệm của Úc

trường trung học địa phương tùy theo nhu cầu, khả năng và thiên hướng nghề nghiệp của mìnhbao gồm Trịnh Xuân Thắng (2014):

1 Chương trình trung học phổ thôngDành cho các học sinh có nguyện vọng học tiếp lên đại học Chương trình

có trên 90 môn học để lựa chọn, trong đó có 42 môn học văn hóa và trên 30 mônthuộc về chương trình giáo dục nghề nghiệp và đào tạo Học sinh chọn chươngtrình này thường chỉ chọn học các môn văn hóa và có thể học ở nơi khác nếutrường của họ không dạy những môn họ thích

Mặc dù vẫn phân bổ theo năm học nhưng các môn học của chương trìnhphổ thông về bản chất được thiết kế theo học chế tín chỉ Một môn học của chươngtrình thường được soạn để học trong một năm và bao gồm các tín chỉ Mỗi tín chỉđược học trong nửa năm hoặc trong một học kỳ Một chương trình thường gồm 20-

24 tín chỉ được học trong hai năm và học sinh có thể thay đổi số tín chỉ học trongmột năm

2 Chương trình trung học phổ thông kết hợp giáo dục nghề nghiệp và đào tạo

Dành cho những học sinh vừa muốn có chứng chỉ tốt nghiệp trung học phổthông vừa có văn bằng nghề nghiệp được công nhận trên toàn quốc Văn bằngnghề giúp học sinh có điều kiện theo những chương trình đào tạo nghề cao hơn tạicác trường cao đẳng dạy nghề hoặc tăng thêm cơ hội kiếm việc làm khi rời ghếtrường phổ thông

Hiện có trên 30 chương trình để học sinh lựa chọn Theo chương trình này,học sinh sẽ được huấn luyện trong một lĩnh vực nghề nghiệp nào đó, chẳng hạnnhư ngành khách sạn và nhà hàng, nông nghiệp, công nghệ thông tin

3 Chương trình đào tạo và học việc tại trườngDành cho những học sinh vừa muốn có chứng chỉ tốt nghiệp trung học vừađược đào tạo và làm một nghề nào đó Chứng chỉ sẽ giúp học sinh có thể được xéttuyển vào những chương trình đào tạo nghề cao hơn ở các trường dạy nghề hoặc

có nhiều cơ hội kiếm việc làm hơn khi rời ghế nhà trường Cụ thể, học sinh sẽđược học chương trình phổ thông song song với học nghề và có việc làm

Trang 37

bán thời gian Học sinh cần phải làm công việc có lương và ký một hợp đồng đàotạo, hợp đồng này được đăng ký với văn phòng đào tạo và giáo dục cao đẳng.

Do đó chương trình đào tạo và học việc tại trường sẽ gồm ba phần baogồm: các môn học học tại trường phổ thông; học nghề tại một trường cao đẳng dạynghề; làm việc bán thời gian có lương phù hợp với ngành học mà học sinh đangđược đào tạo ở trường cao đẳng dạy nghề

4 Chương trình học tập ứng dụng

Dành cho học sinh thích những hoạt động học tập thực hành và muốn có cơhội đạt được kinh nghiệm liên quan đến các ngành kỹ nghệ Chương trình có tínhlinh hoạt cao, đáp ứng được những nhu cầu, quan tâm và mục đích học tập chuyênbiệt của người học Chương trình gồm bốn mạch kiến thức bắt buộc, cung cấp chohọc sinh kinh nghiệm liên quan đến công việc thực tiễn, kỹ năng đọc viết và tínhtoán, tạo cơ hội xây dựng các kỹ năng cá nhân giúp học sinh đứng vững trong côngviệc cũng như trong đời sống sau này Học sinh hoàn tất chương trình được xéttuyển vào trường cao đẳng dạy nghề

Kỳ thi tốt nghiệp trung học ở Úc vừa là việc đánh giá, xác nhận trình độ họctập bậc trung học, vừa giúp người học tiếp tục thực hiện đường hướng nghề nghiệpsau trung học của mình Điều đáng nói là đường hướng này do chính người họcchọn lựa và xác định, thông qua hệ thống đào tạo trung học với nhiều loại chươngtrình khác nhau, phù hợp với nhu cầu, khả năng và điều kiện của họ Trong kỳ thitốt nghiệp học sinh phải thi sáu môn, nhưng có đến năm môn do chính các emchọn lựa trên tổng số hơn 90 môn học của chương trình trung học Như vậy, tínhđịnh hướng nghề nghiệp vì sự phát triển phù hợp của người học đã tạo nên nhữngchương trình đào tạo linh hoạt và đa dạng, đáp ứng nhu cầu và thiên hướng pháttriển của mỗi học sinh Nhờ đó kỳ thi tốt nghiệp không trở nên nặng nề bởi các họcsinh được học và thi những gì mình chọn, những gì cần cho nghề nghiệp tương lai

vì họ hiểu rõ mình sẽ là ai, đang ở đâu và sẽ tiến đến đâu trong sự nghiệp tươnglai

2.2.1.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Theo Nguyễn Mai Hương (2011) Hàn Quốc cũng sớm xác định việc pháttriển nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế của đấtnước Thực tế, giáo dục đã chuyển Hàn Quốc thành một quốc gia có nguồn nhânlực dồi dào, được giáo dục tốt, có kỷ luật cao và kỹ năng lành nghề và là nguyên

Trang 38

nhân tạo nên thần kỳ của kinh tế Hàn Quốc, tích tụ tri thức thông qua giáo dục vàđào tạo, đóng góp 73% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn quốc.

Chính phủ Hàn Quốc coi đào tạo nhân lực là nhiệm vụ ưu tiên trong giáodục để đảm bảo có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Giáo dụcđược thực hiện song hành với tiến trình công nghiệp hóa Trong giai đoạn đầu củacông nghiệp hóa, vào những năm 60 đến những năm 70 của thế kỷ XX, Hàn Quốctập trung vào phát triển công nghiệp nhẹ và điện tử, Hàn Quốc đã tập trung hoànthành phổ cập giáo dục tiểu học, phát triển giáo dục trung học cơ sở, khuyến khíchtrung học nghề và kỹ thuật, hạn chế chỉ tiêu giáo dục đại học

Đạo luật đào tạo nghề năm 1967 ra đời đã khuyến khích các tổ chức, doanhnghiệp tham gia đào tạo nghề nhằm tạo ra lực lượng lao động có kỹ năng cho cácdoanh nghiệp có nhu cầu Các trường, trung tâm dạy nghề phát triển nhanh và ngàycàng mở rộng quy mô Sang những năm 80, khi chuyển từ sản xuất công nghệ trungbình sang công nghệ cao, Hàn Quốc tập trung mở rộng quy mô giáo dục phổ thông,đẩy mạnh đào tạo nghề, nới rộng chỉ tiêu nhập đại học theo hướng phát triển cáctrường cao đẳng nghề và kỹ thuật Các trình độ từ dạy nghề đến trung cấp, cao đẳng,đại học, sau đại học được thường xuyên điều chỉnh về quy mô và chất lượng cho phùhợp với đòi hỏi về nguồn nhân lực của tiến tình công nghiệp hóa

Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức, Hàn Quốc có tỷ lệ dân sốtốt nghiệp đại học cao so với các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếkhác Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn chú ý củng cố giáo dục phổ thông làm nền móngcho công tác đào tạo nhân lực Cải cách giáo dục được coi là nhiệm vụ thườngxuyên, liên tục

Hàn Quốc quan niệm giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phải bắt nhịp vớiyêu cầu phát triển kinh tế Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật được coi trọng ngay

từ cấp trung học Ngay trong chương trình giáo dục phổ thông, tính thực hànhđược coi trọng hơn tính hàn lâm, yêu cầu phân luồng được thực hiện ráo riết Saukhi tốt nghiệp trung học cơ sở, học sinh được phân luồng vào trường trung học phổthông và trung học nghề (bao gồm cả trường trung học thuộc các hãng côngnghiêp) Năm 2005 có 70% học sinh vào trung học phổ thông và 30% vào trunghọc nghề Với sự ra đời của Luật đào tạo nghề đã thúc đẩy giáo dục công nghiệp,các trường trung học nghề, chương trình đào tạo công nghiệp và đào tạo tại nhàmáy phát triển rất mạnh mẽ ở Hàn Quốc

Trang 39

Như vậy, việc gắn giáo dục với đào tạo nghề ở bậc học phổ thông là chínhsách của nhiều nước trên thế giới Lợi ích của việc gắn giáo dục với đào tạo nghề

là giúp cho người học khi tốt nghiệp vừa có học vấn vừa có kiến thức nghề nghiệp

để có thể tham gia vào thị trường lao động Thực tiễn gắn giáo dục với đào tạonghề ở các nước là kinh nghiệm cho Việt Nam

2.2.2 Thực tiễn thực hiện đề án gắn giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam

2.2.2.1 Thực tiễn thực hiện đề án gắn giáo dục và đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An

Theo Chí Tâm (2014), nhận thức của một bộ phận phụ huynh, học sinh vềhọc nghề còn phiến diện, coi trọng bằng cấp, xem nhẹ học nghề Công tác hướngnghiệp cho học sinh phổ thông lựa chọn con đường học tập tiếp theo sau các bậchọc trung học phổ thông và trung học cơ sở kém hiệu quả dẫn đến nhu cầu họcnghề chưa cao

Từ thực trạng đó, Trường Trung cấp nghề của Tỉnh quan tâm đẩy mạnhhoạt động tuyên truyền các thông tin đến phụ huynh học sinh và phối hợp chặt chẽvới các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để hướng nghiệp cho học sinhsau tốt nghiệp lớp 9 và lớp 12 Để tuyển sinh đào tạo nghề đạt chỉ tiêu, Trườngthực hiện tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, huy động toàn bộcán bộ trong trường đến tận cơ sở tuyên truyền các thông tin của Trường với phụhuynh học sinh

Nhằm tạo điều kiện cho học sinh chọn đúng nghề, cán bộ tư vấn tuyển sinh củaTrường tổ chức đến từng địa bàn nói chuyện, trao đổi và định hướng cụ thể theo hìnhthức các buổi tư vấn học nghề giúp học sinh có sự lựa chọn phù hợp Nhà trường còn

có chính sách hỗ trợ, giảm học phí cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn

Bên cạnh những kết quả đạt được thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạonghề tại tỉnh Nghệ An vẫn còn một số hạn chế như:

Thực trạng công tác thông tin tuyên truyền, tư vấn và hướng nghiệp về dạynghề còn mang tính hình thức, kém hiệu quả từ đó dẫn tới một bộ phận xã hộichưa nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của đào tạo nghề trong phát triển kinhtế-xã hội

Việc tuyên truyền còn một chiều, chỉ tập trung phản ánh về đào tạo nghềcho lao động nông thôn mà chưa chú ý đúng mức đến công tác dạy nghề nóichung, nhất về những vấn đề bức xúc hiện nay như công tác tuyển sinh, phân

Trang 40

luồng học sinh sau trung học cơ sở, vấn đề lựa chọn giữa học nghề và học caođẳng, đại học, các tấm gương vươn lên từ học nghề.

Chưa có tờ báo điện tử nào chuyên về đào tạo nghề mà thường ghép chungvới các trang có nhiều nội dung khác nhau Những hạn chế trên đây đã ảnh hưởngtới nhận thức của học sinh và phụ huynh học sinh về đào tạo nghề Do đó cần cónhững chuyên trang về đào tạo nghề nói chung, trong đó đặc biệt chú ý đến việctuyên truyền, tư vấn cho học sinh các trường trung học cơ sở góp phần vào việcphân luồng học sinh trung học cơ sở cho đào tạo nghề, thông tin các tập thể, cánhân tiêu biểu trong đào tạo nghề và hướng nghiệp, về công tác tổ chức đào tạonghề, các kinh nghiệm

Công tác thông tin, tuyên truyền, tư vấn và hướng nghiệp về dạy nghề cònyếu, chưa làm cho học sinh nhận thức đúng và lựa chọn học nghề phù hợp với khảnăng, điều kiện của mình Nhận thức của xã hội và bản thân người học về họcnghề chưa đầy đủ, toàn diện Công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp phổthông trung học sang học nghề còn hạn chế

Từ thực tiễn đó cho thấy để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cần tăng cườngcông tác tuyên truyền, hướng nghiệp cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trunghọc phổ thông tham gia học nghề, định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từcấp học phổ thông nhằm phân luồng học sinh vào học nghề sau trung học cơ sở.Thống nhất nguồn lực để tổ chức tuyên truyền về dạy nghề, tuyển sinh dạy nghềtrên các phương tiện thông tin đại chúng

Về thực trạng đào tạo nghề, hiện chưa có giáo viên chuyên trách dạy giáodục hướng nghiệp, phần lớn là kiêm nhiệm Giáo viên giảng dạy chưa chuyên tâmvào công việc vì chưa được đào tạo sâu và bài bản Thời lượng giáo dục hướngnghiệp không nhiều (3 tiết/tháng) dẫn đến khó khăn trong giảng dạy cũng như thuhút sự quan tâm của người học

Nhiều nghề được đào tạo mà thị trường lao động cần thì không có ngườitheo học, trong khi có những nghề học sinh đăng kí học nhiều nhưng đến khi tốtnghiệp lại loay hoay tìm kiếm mãi nhưng vẫn không có việc Do đó, cần tăngcường tổ chức hội chợ việc làm, dạy nghề cấp vùng, liên vùng Phát triển hệ thống

cơ sở dữ liệu về dạy nghề bao gồm mạng lưới cơ sở dạy nghề, quy mô tuyển sinh,nghề đào tạo, dự báo nhu cầu đào tạo nghề, tình hình giải quyết việc làm sau khitốt nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng

Ngày đăng: 16/07/2021, 06:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2007). Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2007 Về Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 02/01/2007
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2007
2. Bùi Văn Trạch (2012). tổng quan về truyền thông trong lĩnh vực dạy nghề trên báo chí và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Lao động và xã hội, số 10- 2012 Khác
4. Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng (2013). Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, tạp chí Phát triển và hội nhập, số 9-10/2013 Khác
5. Chí Tâm (2014). Trường Trung cấp nghề Bắc Nghệ An nỗ lực vượt khó trong công tác tuyển sinh, Tạp chí Lao động và xã hội, số 9-2014 Khác
6. Chu Văn Cấp, Trần Ngọc Tình Trường (2014). Giáo dục-đào tạo với phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc và những gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 7-08/2014 Khác
7. Đảng bộ huyện Mèo Vạc (2015). Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 7-2015 Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ huyện Mèo Vạc lần tứ XVIII, nhiệm kỳ 2015- 2020 Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX (4-2001). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Đặng Nguyên Anh (2014). Tái cấu trúc nguồn nhân lực, chìa khóa để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, Tạp chí xã hội học, số 4-2014 Khác
11. Đỗ Phú Hải (2014). Chính sách lao động-việc làm ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp, Tạp chí xã hội học, số 2-2014 Khác
12. Đức Tùng (2012). 5 năm thực hiện Luật dạy nghề ở Nam Định: Kết quả và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Lao động và xã hội, số 11-2012 Khác
13. Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, 1147tr Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w