Các nhóm ngữ nghĩa cơ bản của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan...47 3.1... Vì những lý do trên chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu đề tài: Chức năng“Chức năng
Trang 1Trêng §¹i häc vinh Khoa ng÷ v¨n
Trang 2Trêng §¹i häc vinh Khoa ng÷ v¨n
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi nhận đợc sự giúp đỡ tận tìnhcủa GS.TS Đỗ Thị Kim Liên - ngời trực tiếp hớng dẫn và các thầy cô giáotrong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là bộ môn Ngôn ngữ
Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy côgiáo trong tổ, đặc biệt là GS.TS Đỗ Thị Kim Liên, các bạn sinh viên đã gợi ý
và giúp đỡ để khóa luận đợc hoàn thành
Vinh, tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Trang 4Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phơng pháp nghiên cứu 9
5 Cái mới của khoá luận 9
6 Cấu trúc của khóa luận 10
Chơng 1 Một số vấn đề cơ sở liên quan đến đề tài 11
1.1 Vấn đề tình thái và tình thái từ 11
1.1.1 Vấn đề tình thái 11
1.1.2 Thế nào là tình thái từ 15
1.1.3 Quan hệ của TTT với các từ loại khác 17
1.1.4 Tiêu chí nhận diện TTT đầu phát ngôn 20
1.2 Giới thuyết về truyện ngắn 21
1.3 Vài nét về tác giả Nguyễn Công Hoan 25
1.4 Tiểu kết chơng 1 26
Chơng 2 Vai trò và chức năng của các từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 28
2.1 Vai trò của các tình thái từ 28
2.2 Về số lợng TTT đứng đầu phát ngôn 32
2.2.1 Số lợng TTT đầu phát ngpôn trong tiếng toàn dân 32
2.2.2 TTT đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 36
2.3 Sự hành chức của các TTT đầu phát ngôn 38
2.3.1 Về cấu tạo 38
2.3.2 Về khả năng xuất hiện trong câu 42
2.4 Tiểu kết chơng 2 45
Chơng 3 Các nhóm ngữ nghĩa cơ bản của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 47
3.1 Khái niệm ngữ nghĩa 47
3.2 Phân loại các nhóm ngữ nghĩa do tình thái từ đứng đầu câu thể hiện 48
3.2.1 Nhóm từ biểu thị sự bình giá 48
3.2.2 Tình thái than phiền kêu ca 49
3.2.3 Tình thái tiếc nuối 51
Trang 53.2.4 Tình thái ngạc nhiên kèm nghi vấn 51
3.2.5 Tình thái gọi - đáp để nói một điều gì 53
3.2.6 Tình thái ngăn cản, ngăn cấm 55
3.2.7 Tình thái đồng tình, thừa nhận 56
3.2.8 Tình thái thể hiện thái độ trì hoãn, từ chối kế tiếp lời ngời khác 57
3.2.9 Tình thái thể hiện một điều mới khám phá ra đợc 58
3.2.10 Tình thái thể hiện sự may mắn 59
3.2.11 Tình thái van xin, né tránh 59
3.2.12 Tình thái khuyên răn 60
3.3 Vai trò của TTT trong việc thể hiện phong cách nhà văn 63
3.4 Tiểu kết chơng 3 65
Kết luận 67
Tài liệu tham khảo 69
Trang 6Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong cuộc sống hàng ngày những phát ngôn chúng ta nói ra không
đơn thuần là thông báo một cách chung chung đối với sự vật, hiện tợng màcòn có thái độ chủ quan đi kèm Những cách nhìn nhận, đánh giá, bày tỏ tâm
t, tình cảm, cảm xúc đợc thể hịên trong phát ngôn làm cho lợng thông tinmuốn truyền đạt hấp dẫn và gây chú ý tới ngời tiếp nhận nhiều hơn Quanhững cuộc thoại bằng cách dùng các từ tình thái, hay tổ hợp tình thái ngờinghe sẽ hiểu đợc thái độ của ngời nói là nh thế nào đối với nội dung đợc nói
đến từ đó có cách hành động phù hợp với cuộc thoại: nên tiếp tục hay dừnglại, nên né tránh hay đi thẳng sự thật…
1.2 Trong văn bản nghệ thuật, ngoài ý nghĩa trên thì dùng tình thái từ(TTT) đợc xem nh là một thủ pháp tạo nên sự độc đáo, ý nghĩa biểu cảm, cảmxúc của nhân vật Hầu nh nhà văn nào cũng sử dụng các từ tình thái này, vấn đề
là ít hay nhiều, có phù hợp với nội dung phản ánh hiện thực hay không? Là mộttrong những đại biểu u tú của văn học hiện thực phê phán, là ngời xuất sắc sớm
đặt viên gạch xây dựng nên nền móng cho dòng văn xuôi hiện thực, NguyễnCông Hoan cũng đã sử dụng các từ tình thái này để biểu lộ những trạng thái,cảm xúc khác nhau của nhân vật
Vì những lý do trên chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu đề tài: Chức năng“Chức năng
ngữ nghĩa của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ”
đợc nhiều ngời chú ý Theo dõi những công trình thẩm định về tác phẩm cũng
nh con ngời ông từ trớc đến nay đã thu hút nhiều nhà phê bình nghiên cứu ởnhững khía cạnh khác nhau:
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại xếp Nguyễn Công Hoan vào
nhóm các nhà viết tiểu thuyết “Chức năngtả chân” đồng thời ghi nhận ông là một nhàviết tiểu thuyết cực kỳ nhất trong các nhà văn lớp sau” và “Chức năngtất cả các tiểu
Trang 7thuyết Nguyễn Công Hoan dù là truyện ngắn hay truyện dài đều là những tiểuthuyết thực, tiểu thuyết tả về phong tục Việt Nam, về hạng trung lu và hạngnghèo” [17, 49] Nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan còn thấy
điểm nữa là “Chức năngông viết rất đều tay và đọc ông không bao giờ ngời ta phải phànnàn rằng ông chỉ quẩn quanh trong mấy đầu đề nh mấy nhà văn khác Tronghơn 10 năm nay ngòi bút của ông vần giữ nguyên tính chất tả chân và lời văn
ông viết vẫn nguyên một lời văn bình dị [17, 72 - 73]
Nh vậy, Vũ Ngọc Phan đã phát hiện và thừa nhận tài năng của NguyễnCông Hoan, đặc biệt ông nhấn mạnh đến tính chất tả chân, trào lộng của câybút Nguyễn Cồng Hoan
Lê Thị Đức Hạnh - ngời dành nhiều tâm huyết nhất trong việc tìm hiểu
và nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, đã nhận xét: “Chức năngTừ một thái độsống dứt khoát, từ một động cơ viết rõ ràng, Nguyễn Công Hoan thờng lập ýcho truyện của ông có t tởng chủ đề rõ ràng khiến ngời đọc dễ thấy [6, 2]
Hoàng Trung Thông (1988) trong bài Đời viết văn và văn của anh Nguyễn Công Hoan, sách Nguyễn Công Hoan về tác giả - tác phẩm, Nxb Giáo
dục đã khẳng định rằng: “Chức năngNhìn thẳng vào sự thật và viết sự thật bằng tác phẩmvăn học đó là Nguyễn Công Hoan Viết sự thật trung thành với sự thật màkhông sợ áp lực của bọn cờng quyền đó là Nguyễn Công Hoan [11, 212]
Nguyễn Hoành Khung đã xếp một số truyện ngắn hay của NguyễnCông Hoan “Chức năngvào những sáng tác cổ điển của văn xuôi quốc ngữ hiện đại” vàkhẳng định “Chức năngNguyễn Công Hoan nh một bậc thầy trong truyện ngắn, đặc biệt
là truyện ngắn trào phúng” [13, 230] Còn ở trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Nguyễn Hoành Khung lại nhận xét: “Chức năngVăn Nguyễn
Công Hoan là thứ văn rất tự nhiên, thoải mái, linh hoạt vô cùng Ông mạnhdạn đa lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng vào văn chơng một cáchrộng rãi, khiến văn chơng mất hết vẻ đài các, văn chơng mà trở thành ngônngữ của đời sống hàng ngày đậm đà Đọc văn của ông, ngời đọc có cảm giácnhà văn đang nói chuyện một cách hết sức tự nhiên với mình, điều đó khiếncho truyện có một sắc thái sinh động đặc biệt” [4, 373 - 374] Trong bài viếtnày, Nguyễn Hoành Khung còn đi vào tìm hiểu quá trình sáng tác truyện ngắntrào phúng của Nguyễn Công Hoan và tác giả cũng đa ra một số nhận xét vềtruyện dài của Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Đăng Mạnh khi nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoancũng cho rằng: “Chức năngMỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có một chủ đề rõ
Trang 8ràng đơn giản (…) gắn đợc với một mâu thuẫn trào phúng và một tình thế cótính hài hớc” Ông chỉ ra chỗ mạnh và chỗ yếu của Nguyễn Công Hoan xungquanh việc xây dựng cốt truyện: “Chức năngNguyễn Công Hoan là một nhà văn kểchuyện có duyên, có sức hấp dẫn, đối thoại kịch tính, giọng kể chuyện tựnhiên, hoạt bát (…) biết dùng những chi tiết đánh lạc hớng độc giả khỏi cái
đích câu chuyện, nên tạo đợc lối gây cời trực tiếp nhng nhiều khi để cho cốttruyện ly kì, hấp dẫn, nhà văn sẵn sàng hy sinh cả tính hợp lý, tính chân thựccủa những quá trình diễn biến tâm lý nhân vật [13, 108]
Tóm lại, những bài nghiên cứu, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn CôngHoan còn ở góc nhìn lý luận văn học, còn xuất phát từ góc nhìn ngôn ngữ còn
ít nhà nghiên cứu đề cập Tiêu biểu có Nguyễn Thanh Tú khi đi tìm: “Chức năngChất hàitrong câu văn Nguyễn Công Hoan” đã nêu những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc
mà Nguyễn Công Hoan sử dụng:
- Ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan thể hiện một ngôn ngữ thân mật, suồngsã để “Chức nănglật ngửa, lộn trái, nhòm ngó từ dới và từ trên, đập vỡ vỏ ngoài để nhìnvào bên trong” Nhà văn đã không ngần ngại khi tả cái râu của ông quan
huyện một cách mỉa mai, ví đó là “Chức nănglông tơ” (Đồng hào có ma) hay ví ông quan, bà quan là “Chức năngMột con nhái bén bám vào một quả da chuột” (Đàn bà là giống yếu).
- Cờng điệu là một trong những thủ pháp nghệ thuật mà Nguyễn CôngHoan thờng sử dụng để làm biến chất sự vật “Chức năngVậy thì bà nằm đó Nhng thoạitrông đố ai dám bảo là một ngời Nếu ngời ta cha nom rõ cái mặt phị, cái cổrụt, cái thân nung núc và bốn chân tay ngắn chùn chùn thì bảo là một đống hai
ba cái chăn bông cuộn lại với nhau sắp đem cất đi” (Phành phạch).
- Trong nội bộ câu văn của Nguyễn Công Hoan thờng mang mâu thuẫuhài hớc đối chọi mâu thuẫn bên trong: “Chức năngNỗi vui sớng của thằng bé khốn nạn”
hay “Chức năngsự thành công của anh cu Bản đã làm vợ anh goá chồng” (Ngậm cời).
- Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là một tấn hài kịch, nhân vật
là kẻ làm trò, nghĩa là đóng những vai hề Vì thế, câu văn của ông luôn luôn
có giọng giễu nhại Ông thờng đối lập từ Hán Việt có sắc thái sang trọng và từthuần Việt có sắc thái thông tục để làm bật ra tiếng cời
- Lối chơi chữ cũng đợc Nguyễn Công Hoan dùng rất phổ biến trongcâu văn của mình Có thể nhận thấy rõ cách chơi chữ của ông ở ngay cách đặt
tên truyện Hai thằng khốn nạn: Một ngời khốn nạn về vật chất (nghèo khổ)
và một ngời (nhà giàu) khốn nạn về tinh thần, về cách sống Xuất giá tòng phu:
Trang 9Dùng ngôn ngữ đạo lý để nói chuyện vô đạo Hay Ngựa ngời và ngời ngựa
đều đợc ông dùng thủ thuật chơi chữ rất hóm hỉnh và thú vị
- Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng đợcchọn lọc và nâng cao, đậm hơng vị ca dao tục ngữ Những câu, những chữ ôngdùng cũng giản dị, giàu hình ảnh cụ thề, hay so sánh ví von làm cho ngời đọc
đễ có liên tởng bất ngờ, thú vị: “Chức năngQuan ngẩng đầu lên nhìn anh Tam, rồi gọi chịTam vào, quan nắm một lúc, hai con mắt sáng quắc nh hai ngọn đèn trời”
(Thật là phúc).
- Câu văn Nguyễn Công Hoan có sự tuân thủ phép lặp cú pháp vì mục
đích nghệ thuật gia tăng sắc thái hài hớc: “Chức năngNào hoa tai, nào hội vàng, nào tráp
đồi mồi, nào ống nhổ sứ, ai trông vào cũng đoán đợc là nhà giàu” (Báo hiếu: trả nghĩa mẹ).
- Câu văn Nguyễn Công Hoan thờng ngắn gọn Để cho hơi văn đợcnhanh và gọn Nguyễn Công Hoan đã dùng thủ pháp tỉnh lợc để tạo nên sự độc
đáo, ý nghĩa biểu cảm, cảm xúc
“Chức năngAnh này hiểu ý, ra hiên đứng nhì, rồi đến cạnh cụ, cúi xuống nhặt…rồi thu thu vào trong bọc Rồi len lén ra ngoài ao Rồi giơ thẳng cánh tay némthẳng xuống nớc Tõm… Cụ chánh Bá mất giày).” (
Đoạn văn trừ câu đầu, còn lại đều bị lợc chủ ngữ Để diễn tả hành độnglén lút, mờ ám của thầy trò Cụ Chánh, câu văn chỉ còn lại vị ngữ mang nộidung thông báo
Có thể kết luận, Nguyễn Thanh Tú đã nêu lên một số thủ pháp nghệthuật biểu hiện trong câu văn Nguyễn Công Hoan Tuy nhiên đó chỉ mới điểmqua chứ cha có đề tài nào đi sâu tìm hiểu tình thái từ đứng đầu phát ngôntrong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
2.2 Lịch sử nghiên cứu tình thái từ
Nhìn lại tình hình nghiên cứu về TTT nói chung và TTT đầu phát ngônnói riêng chúng tô thấy nổi lên một số hớng:
Trớc 1954 hầu hết các tác giả nh Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, TrơngVăn Chình, Nguyễn Hiếu Lê… đều đề cập đến vấn đề tình thái Thế nhng, vềnội dung nghiên cứu các tác giả chỉ mới dừng lại ở mức độ giới thiệu kháiquát chung đặc điểm và ý nghĩa cơ bản của một số TTT làm ví dụ minh chứngcho sự có mặt của nhóm từ này trong tiếng Việt chứ cha đa ra đợc số lợng cụthể là bao nhiêu
Trang 10Sau 1954, các tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp QuangBan đã đề cập đến TTT, gộp những từ chuyên dùng chỉ thái độ cảm xúc củangời nói với những từ chuyên dùng để nhấn mạnh vào ý nghĩa của một bộphận nào đó trong phát ngôn trong đó có cả phụ từ, đại từ Các tác giả gọi TTT
bằng các tên gọi bằng các tên gọi: ngữ khí từ (Nguyễn Kim Thản [2]; Nguyễn Anh Quế [18]; Đinh Văn Đức [3]), trợ từ (Nguyễn Tài Cẩn [dẫn theo 9]; các
tác giả UBKHXH [24]; Hoàng Phê [23]… tình thái từ (Đỗ Thị Kim Liên [8];), Hoàng Văn Thung, Lê A [dẫn theo 9]; Lê Biên [1]…)
Tác giả Nguyễn Kim Thản trong công trình nghiên cứu của mình, phầnviết về “Chức năngngữ khí từ”., khi phân loại và nêu đặc điểm sử dụng của từng từ đã đa
ra một số lợng 37 ngữ khí từ tiếng Việt [21]…) Tác giả Phạm Hùng Việt đa
ra một danh sách là 109 trợ từ, I.I Glebovađa ra 24 tiểu từ câu [dẫn theo 5, 6]
Danh sách các TTT mà các tác giả đa ra ít nhiều khác nhau Nguyênnhân là do quan niệm về vai trò, chức năng của TTT và cách nhận diện chúngkhác nhau
Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đã đề cập khá
kỹ lỡng về TTT Ông đề cập lớp từ có tính chất h rất cao, phần lớn diễn đạtnhững sắc thái tình cảm rất tế nhị và dễ biến động trong mối quan hệ với từ, tổhợp từ là ngữ thái từ và trợ rừ Ngữ thái từ là lớp h từ theo ông xuất hiện ở bậccâu và đứng ở cuối câu Trong ngữ thái từ lại gồm hai lớp nhỏ: lớp các từ thamgia tạo kiến trúc thức với t cách phần thức và lớp các từ diễn đạt những thái độkhác nhau khá tinh tế của ngời nói đối với ngời nghe hoặc đối với sự việc đợcnói đến trong câu
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Phan Mạnh Hùng, khi phânloại, xem xét đặc điểm ngữ nghĩa cũng nh cách sử dụng TTT, tác giả đa ra 22TTT Các TTT gần nghĩa còn đợc tác giả đối chiếu, so sánh để qua đó tìmnhững điểm giống và khác nhau giữa chúng [dẫn theo 5, 6)]
Nhìn chung, việc nghiên cứu các TTT của tác giả đi trớc đã có nhữngkết quả đáng kể, tuy vậy vẫn còn một số vấn đề cần xem xét:
Một là, việc xác định từ loại này còn nhiều điểm cha thống nhất: đặc
điểm cơ bản của những từ này là gì? Tập hợp vào đây những từ nào? Đặc trngngữ nghĩa, chức năng của chúng là gì?
Hai là, cùng với việc phát triển của bộ môn ngôn ngữ học nói chung thìphân môn Ngữ dụng học đã có những tìm tòi mới Các khuynh hớng mớitrong nghiên cứu về ngữ dụng học đợc áp dụng vào thực tế ngày một nhiều
Trang 11Hiện nay, việc nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa trong từ ngời ta còn chú ý đếnnghĩa của từ trong quan hệ với phát ngôn Việc xem xét nghĩa của từ trongquan hệ của con ngời trong quan hệ với ngời sử dụng, thái độ của ngời nói,trong quan hệ giao tiếp TTT lại là loại tín hiệu đặc biệt, thờng đợc xem làmang tính “Chức năngđộng” nên việc xem xét tín hiệu của nó đi kèm với thái độ đánhgiá trong phát ngôn là điều cần thiết
Những lý do trên khiến chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu Chức năng -“Chức năng
ngữ nghĩa của tình thái từ đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”.
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
ở đề tài này, chúng tôi chọn các TTT đứng đầu phát ngôn trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan, cụ thể qua 74 truyện trong cuốn: Nguyễn Công Hoan - Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học làm đối tợng nghiên cứu.
- Ngựa ngời và ngời ngựa
- Nỗi vui sớng của thằng bé khốn nạn
- Báo hiếu: Trả nghĩa cha
- Báo hiếu: Trả nghĩa mẹ
- Vợ
- Cụ Chánh Bá mất giày
- Cô Kếu, gái tân thòi
- Mất cái ví
- Kép T Bền
- Cái vốn để sinh nhai
- Samandji
- Tôi cũng không hiểu tại sao
- Tôi cũng không hiểu tại phải làm sao
Trang 12- Giá ai cho cháu một hào
- Con ngựa già
- Cái tết của những nhà văn đại hào
- Công dụng của cái miệng
- Ngời thứ ba
- Phành phạch
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đợc đề tài này chúng tôi phải tiến hành đợc những nhiệm
Chúng tôi thống kê TTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan để lấy
đó làm cơ sở phân loại Với 74 truyện ngắn trên, chúng tôi tiến hành khảo sát
Trang 13Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích và tổnghợp ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái quát của TTT, sự hành chức trong vai trò,ngữ nghĩa của chúng.
4.4 Phơng pháp so sánh đối chiếu
Chúng tôi sử dụng phơng pháp này để so sánh TTT, đối chiếu giữa cácTTT với nhau trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
5 Cái mới của khoá luận
Đề tài chỉ ra những đặc điểm nổi bật nhất về mặt cấu tạo, vai trò, sựhành chức cũng nh ngữ nghĩa của các TTT trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan, qua đó rút ra đợc nét đặc sắc, sức sáng tạo tinh tế trong phong cáchnghệ thuật của Nguyễn Công Hoan
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận của chúng tôi gồm 3 chơng
Chơng 1 Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2 Vai trò, chức năng của các TTT đứng đầu phát ngôn trongtruyện ngắn
Chơng 3 Các nhóm ngữ nghĩa của TTT đứng đầu phát ngôn trongtruyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Trang 14Chơng 1 Một số vấn đề cơ sở liên quan đến đề tài
1.1 Vấn đề tình thái và tình thái từ
1.1.1 Vấn đề tình thái
Tình thái trong ngôn ngữ là một phạm trù ngữ nghĩa tồn tại trong nhiềungôn ngữ trên thế giới nhng biểu hiện của chúng lại khác nhau trong từngngôn ngữ cụ thể Và vì vậy có những cách định nghĩa cũng nh cách tiếp cận vềtình thái khác nhau Trên thực tế vấn đề tình thái đợc các nhà ngôn ngữ quantâm và ngày càng đợc làm sáng tỏ nhng cho đến nay cha có hớng ý kiến thậtthống nhất
Nói đến tình thái trớc hết ta nhắc đến nhà ngôn ngữ học hàng đầu ngờiPháp là Ch Bally (1932) Theo ông: “Chức năngTính tình thái là linh hồn của phát ngôn
mà nói rộng ra là của ngôn ngữ trong hoạt động nói chung” [dẫn theo 10,281] Nh vậy, theo Bally tình thái là phần vô cùng quan trọng không thể thiếu
đợc của câu nói, không có tình thái thì không có câu chỉ có biểu tợng về sựviệc Tính tình thái phải đợc diễn đạt bằng một phơng tiện ngôn ngữ nào đó cóthể nhận biết đợc (ít nhất là về trật tự trong câu) Tình thái của câu gắn với sự
đánh giá của ngời nói về sự việc đợc phản ánh
Theo tác giả V Vinorgadov (1977) thì: “Chức năngTình thái từ đợc xác lập theoquan điểm của ngời nói, song bản thân quan điểm đó lại đợc xác định bởi vịtrí của ngời nói vào lúc nói đối với ngời đối thoại và với cái phân đoạn thực tế
đợc phản ánh, đợc thể hiện trong câu” [10, 281] Cùng năm 1977 tác giả
J Lyson lại viết: “Chức năngTình thái là thái độ của ngời nói đối với nội dung mệnh đề
mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” [10, 218] Lyson cònphân biệt tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm.Tình thái nhận thức liênquan đến các vấn đề về sự hiểu biết và niềm tin Tình thái trách nhiệm về phầnmình liên quan đến tính cần thiết và tính khả năng của các hành động đợc thựchiện bởi những tác thể có trách nhiệm về luân lý [dẫn theo 5, 11]
Cũng theo hớng định nghĩa tình thái trong quan hệ với thái độ ngời sửdụng, tác giả M.V.Liapol (1980) cho rằng: “Chức năngTình thái là phạm trù ngữ nghĩa -chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tếcũng nh các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều đợc thông báo”.[10, 282]
Quan niệm của B Gak (1986): “Chức năngPhạm trù tình thái là phạm trù TTTphản ánh mối quan hệ của ngời nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung
Trang 15phát ngôn đối với thực tế Trong tính tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan: Đó
là sự khúc xạ của sự phân đoạn thực tế nhận thức của ngời nói” [10, 281 282]
Còn tác giả F Kiefer (1994) định nghĩa tình thái trong quan hệ giữa ýnghĩa câu và thế giới khả hữu: “Chức năngTình thái là sự tơng đối hoá các giá trị thựccủa ý nghĩa đối với câu nói và đối với một tập hợp các thế giới khả năng” [10,282]
ở Việt Nam một số tác giả quan tâm đến vấn đề này cũng tỏ ra nhiềucách hiểu, cách quan niệm về tình thái Nó bắt đầu đợc đề cập từ những năm
60 của thế kỷ XX Xếp theo trình tự thời gian có nhiều tác giả nh: Hoàng Tuệ,Nguyễn Kim Thản, Hoàng Phê, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Đồ HữuChâu, Cao Xuân Hạo, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị KimLiên…
Tác giả Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng: “Chức năngTrong lôgic học nội dung củamột mệnh đề đợc chia làm hai phần Phần thứ nhất gọi là ngôn liệu, tức cái tậphợp gồm sở thuyết (vị ngữ lôgic) và các tham tố của nó đợc xét nh một mốiliên hệ tiềm năng, và phần thứ hai gọi là tình thái là cách thức thực hiện mốiliên hệ ấy, cho biết mối liên hệ là có thật hay là không có (phủ định nó, coi đó
là phi hiện thực), là tất yếu hay không tất yếu, là có thể hay không có thể đợc”.[10, 282]
Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp thì tổng kết quan niệm rộng về vấn đề tìnhthái của mình trong ba kết luận cơ bản sau:
- Không nên quy các kiểu quan hệ tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên vàomột số phạm trù của lôgic tình thái cổ điển Bởi lẽ các sự kiện ngôn ngữ phục
vụ cho những nhu cầu rất đa dạng của giao tiếp trong thực tế không chỉ bó hẹptrong một số kiểu tình thái khái quát Hơn nữa, chính các nhà lôgic học cũngthừa nhận những kiểu tình thái của lôgic cổ điển là sự giới hạn cần thiết đểlôgic học không phải giải quyết những nhiệm vụ vợt ra ngoài khuôn khổ quantâm của lôgic học cổ điển; và lý thuyết tình thái trong lôgic cha phải đã hoànthiện
- Cũng không nên quy tình thái vào những kiểu phơng tiện chỉ nằmtrong cơ cấu hình thái cú pháp (chẳng hạn thức) Tình thái đúng ra nên coi làmột phạm trù ngữ nghĩa chức năng rộng lớn, có thể đợc thể hiện bằng nhữngphơng tiện ngôn ngữ rất khác nhau, và do đó trên quy mô tổng thể không thể
Trang 16quy chúng vào một thế đối lập ngữ pháp theo nghĩa hẹp, với t cách là phạm trùcủa hình thức ngữ pháp hay cấu trúc cú pháp.
- Trong sự đối lập nền tảng nhất, đối lập giữa tình thái và nội dungmệnh đề, bản thân thuật ngữ này cha đủ xác định và do đó, có những cáchhiểu rộng hẹp khác nhau Việc xác định khái niệm mệnh đề là một vấn đề lýthuyết còn bỏ ngỏ, sự đối lập hai bình diện này thể hiện rõ ở những bộ phậngắn với lập trờng thái độ của ngời nói vào lúc nói và do đó nhiều tác giả đã coi
là trung tâm chú ý của tình thái trong ngôn ngữ học Sự đối lập trở nên mờnhạt nhất ở những kiểu ý nghĩa gắn với mối quan hệ giữa chủ từ và vị từ (kiểuchủ thể muốn/ định/thích) [10, 282]
- Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1990) cho rằng:
Tính tình thái là phạm trù ngữ pháp- ngữ nghĩa biểu thị quan hệ của
ng-ời nói đối với phát ngôn, và quan hệ của nội dung phát ngôn với hiện thựckhách quan Tính tình thái là một phổ niệm ngôn ngữ, nó thuộc phạm trù cơbản của các ngôn ngữ tự nhiên Nội dung của phát ngôn có thể hiểu nh hiệnthực, mong muốn hoặc không mong muốn, có thể hoặc không có thể, tất yếuhoặc ngẫu nhiên… tính tình thái đợc biểu hiện bằng các phơng tiện ngữ pháp
và từ vựng (hình thái “Chức năngthức” từ tình thái, tiểu từ, ngữ điệu) Tính tình thái cóthể chia ra tình thái khách quan và tình thái chủ quan [25, 297]
Quả thực, tình thái là một vấn đề nghiên cứu sâu rộng, có lịch sử đã lâudài và liên quan đến nhiều nhân tố Mặc dù có nhiêù cách quan niệm khácnhau nhng các tác giả trên đều xoay quanh đặc trng chung nhất của chúng làphản ánh những mối quan hệ khác nhau của một nội dung thông tin miêu tảtrong phát ngôn thực tế cũng nh quan điểm, thái độ đánh giá và định tínhkhác nhau của ngời nói đối với nội dung miêu tả trong câu xét theo mối quan
hệ với ngời nghe, với hoàn cảnh giao tiếp Tuy nhiên, vấn đề tình thái cònnhiều chỗ cần nghiên cứu, bổ sung và điều chỉnh thêm
Trên đây, chúng tôi đã trình bày các quan niệm tình thái, trong khoáluận này chúng tôi quan niệm nghĩa tình thái là: một bộ phận trong cấu trúcnội dung của phát ngôn bên cạnh nghĩa miêu tả biểu thị cảm xúc, thái độ, sự
đánh giá của ngời nói, thể hiện quan hệ của ngời nói đối với nội dung thôngbáo và quan hệ của nội dung thông báo với hiện thực, cho biết hiện thực đó là
có thật hay không có thật, là tiềm năng hay đã xảy ra, là giả định ớc muốn,
đồng tình hay nghi vấn, phủ định hay bác bỏ
Trang 17Ví dụ, ta có động từ về và danh từ mẹ là phần ngôn liệu để tạo nên phát
ngôn mẹ về Tuy nhiên, ta có thể tạo nên các phát ngôn mang nghĩa tình thái
khác nhau phụ thuộc vào thái độ ngời nói khác nhau:
định nghĩa của tác giả Đỗ Thị Kim Liên: “Chức năngTình thái là một bộ phận trong cấutrúc nội dung nghĩa của phát ngôn (bên cạnh nghĩa miêu tả) biểu thị cảm xúc,thái độ, sự đánh giá của ngời nói đối với hiện thực đợc thông báo” [10, 285] Trong khi các ngôn ngữ biến hình với việc thể hiện tình thái luôn đợcthể hiện trong hình thái của động từ (thời, thể, thức) thì trong các ngôn ngữkhông biến hình, mà điển hình là tiếng Việt thì tình thái luôn đợc thể hiện rõ,tinh tế qua các từ tình thái Lớp từ này làm thành những bảng màu cực kỳphong phú, góp phần thể hiện các sắc thái khác nhau của lời nói Do giới hạncủa đề tài, ở khoá luận này chúng tôi chỉ đi vào phân tích, mô tả đặc điểm, ýnghĩa, chức năng của nhóm TTT đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan
Trang 181.1.2 Thế nào là tình thái từ
TTT là lớp từ thuộc nhóm h từ, một số tác giả thì đặt TTT ngang hàngcùng với thực từ và h từ nh Đinh Văn Đức… Về ý nghĩa TTT là những từ biểuthị sắc thái tình cảm, cảm xúc của ngời nói, về khả năng kết hợp thì TTT th-ờng đứng trong câu, không phụ thuộc vào thành phần nào
Về vị trí, TTT có thể đứng đầu câu hoặc cuối câu Đứng cuối câu để thểhiện những sắc thái tình cảm nh nghi vấn, cảm xúc, ngạc nhiên
Ví dụ: à, , nhỉ nhé, hở, hả…tạo câu nghi vấn
Ví dụ: - Anh về à?
- Tại sao mày làm thế với tao hả?
- U nhất định bán con đấy ? U không cho con ở nhà nữa ?
(Tắt đèn - Ngô Tất Tố) Nhé, nha, nghen… tạo câu mệnh lệnh-cầu khiến một cách thân mật, gợi
đồng tình
Ví dụ: - Anh Quân về nhé!
- Em mét má nghen!
- Chiều nay nhớ đi học thêm tiếng Anh nhá!
TTT đứng đầu câu để biểu thị thái độ, cảm xúc của ngời nói đối vớihiện thực
TTT biểu thị sự gọi - đáp: ơi, hỡi, ạ, vâng, dạ…
Lan ơi! Đi học nào.
Con làm gì đó?
Dạ! Con đang làm hoa
TTT đứng đầu câu biểu thị sự vui mừng, ngạc nhiên, sợ hãi, bực tức,tiếc thơng…
Ví dụ: - ôi! Cánh đồng lúa đẹp quá?
- Eo ơi! Con gián
- “Chức năngÔi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều”
(Đất nớc - Nguyễn Đình Thi)
Các TTT có khả năng thể hiện mọi sắc thái tình cảm của con ngời mộtcách sâu sắc, tế nhị Nhờ lớp từ này mà các nhân vật giao tiếp có thể vận dụngtrong những hoàn cảnh khác nhau, đa lại mục đích nhất định Tuy không làmthành phần chính của câu, thế nhng khi không có lớp từ này đi kèm thì ý nghĩabiểu đạt cũng nh giá trị thông báo của phát ngôn không có giá trị mới Giá trị
Trang 19ấy chỉ là thông báo đơn thuần về sự vật, hiện tợng chứ không có sắc thái tìnhcảm của các nhân vật giao tiếp đi kèm Chính các TTT tạo nên giá trị mới chophát ngôn
Trong quá trình sáng tác của mình, Nguyễn Công Hoan là ngời có ýthức sử dụng vốn từ này một cách linh hoạt, tạo ra đợc các sắc thái ngữ nghĩamới, đa lại tiếng cời trào phúng cho ngời đọc
1.1.3 Quan hệ của TTT với các từ loại khác
Từ loại là một bộ phận của ngữ pháp các nớc nói chung và tiếng Việtnói riêng Theo A Rephomatxki viết: “Chức năngTrong những phạm trù khái quát nhất
và thiết yếu nhất cho mỗi ngôn ngữ là từ loại Việc miêu tả ngữ pháp của bất
kỳ ngôn ngữ nào cũng đợc bắt đầu từ việc làm sáng tỏ vấn đề từ loại” [dẫntheo 8, 38]
Đối với tiếng Việt nói riêng thì vấn đề từ loại có ý nghĩa quan trọng vì
đây là vấn đề ngữ pháp lý luận đợc áp dụng trong một ngôn ngữ cụ thể, thuộcloại hình ngôn ngữ đơn lập Hơn nữa thông qua những vấn đề từ loại của ngônngữ này,có thể đặt ra nhiều suy nghĩ về ngữ pháp tiếng Việt nh: quan hệ giữa
từ pháp và cú pháp, quan hệ giữa thực từ và h từ, quan hệ giữa từ loại và thànhphần câu… Nếu làm đợc những việc này thì góp phần quan trọng vào côngviệc có tính chất ứng dụng thực hành nh: Việc biên soạn sách giáo khoa ở cáctrờng trung học phổ thông, viết từ loại, từ điển, hội thoại, phiên dịch, đốithoại…
Về khái niệm từ loại đã có nhiều tác giả đề cập đến trong những thờigian khác nhau Nhng ở khoá luận này chúng tôi chọn cách định nghĩa của tácgiả Đỗ Thị Kim Liên: “Chức năngTừ loại là những lớp từ đợc phân loại đựa trên ý nghĩakhái quát và khả năng kết hợp” [8, 43]
Ví dụ:
Thỉnh thoảng,/ anh ta/dỏng/ tai/ quay/ cổ,/ xem/ có/ ai/ gọi/ đằng/ xa/ không?
TT Đại Đg D Đg D Đg Đg Đại Đg D TT Phó Việc xếp các từ trong câu vào thành từng nhóm từ loại cụ thể nh danh
từ, động từ, tính từ… là dựa vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp
Mỗi nhà nghiên cứu ở các thời kỳ khác nhau đều đa ra danh mục các từloại riêng của mình
Tác giả Nguyễn Kim Thản trong cuốn Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt
dựa vào tiêu chí là ý nghĩa khái quát và quan hệ cú pháp (khả năng kết hợp
Trang 20của từ) đã đa ra số lợng là 13 từ loại Cụ thể: danh từ, thời vị từ, số từ, động từ,tính từ, phó từ, trạng từ, giới từ, liên từ, trợ từ, đại từ, ngữ khí từ, thán từ
Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng - từ
ghép - đoản ngữ) dựa trên tiêu chí tổ chức đoản ngữ để phân loại, kết quả ôngchia ra 4 cụm
Cụm A: Danh từ, số từ, đại từ, động từ, tính từ
- H từ gồm: Phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ
Hai tác giả Hoàng Văn Thung và Lê A (1995) đa ra 3 tiêu chí phânchia:
- ý nghĩa khái quát của từ
- Khả năng kết hợp của từ
- Chức vụ cú pháp của từ
Dựa vào tiêu chí trên tác giả đa ra hệ thống gồm 8 từ loại sau:
- Thực từ gồm: Danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
- H từ gồm: Phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ
Hầu nh mỗi tác giả ở mỗi thời kỳ khác nhau đều đa ra hệ thống từ loạiriêng của mình dựa trên những tiêu chí khác nhau Khoá luận này chúng tôixin đa ra hệ thống từ loại theo cách phân chia của tác giả Đỗ Thị Kim Liên.Tác giả dựa vào hai tiêu chí ý nghĩa phạm trù và khả năng kết hợp từ dó có cácnhóm từ loại sau:
- Thực từ: Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ
- H từ: Quan hệ từ, phụ từ, trợ từ, tình thái từ
Trang 21Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đợc phân chia dựa theo ýnghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, theo chứcnăng cú pháp.
Bên cạnh việc phân chia ra làm hai loại là thực từ và h từ thì có một sốtác giả còn đa ra lớp từ biểu thị cảm xúc của ngời nói đối với ngời nghe Đó đ-
ợc gọi là tình thái từ Vậy TTT có mối quan hệ với các từ loại khác nh thếnào? Hay nói cách khác TTT nằm ở vị trí nào trong cách phân loại trên?
Chúng tôi lựa chọn xếp TTT vào nhóm h từ với các lý do sau:
- Về ý nghĩa: Các TTT có đặc điểm không mang ý nghĩa từ vựng chânthực mà mang ý nghĩa tình thái
xúc nh: ôi!
Hoặc thành phần phụ của câu: Ôi! Cây này cao quá!
1.1.4 Tiêu chí nhận diện TTT đầu phát ngôn
Tiêu chí nhận diện TTT có thể có nhiều ý kến khác nhau nhng chủ yếudựa vào chức năng vai trò của TTT trong câu Theo hớng này có các tác giảnh: Nguyễn Kim Thản, Trơng Văn Chình, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức…Các tác giả cho rằng: “Chức năngTTT giúp cho lời nói ý nhị, mạnh mẽ, linh hoạt thêm,hoặc cho lời nói khỏi cọc cằn, cộc lộc” [5, 45] Đa lại tính tình thái cho đoảnngữ, biến đoản ngữ thành câu… [5, 45]
TTT là một trong những phơng tiện biểu thị tình thái mà chủ thể của
đánh giá tình thái luôn thuộc về ngời nói, vai trò của TTT đó là chuyên dùng
để biểu thị ý nghĩa tình cảm, xét trong quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với
ng-ời nghe, với nội dung phản ánh
Tiêu chí nhận diện TTT đầu phát ngôn của khoá luận chúng tôi là:
1 Phải có hoàn cảnh giao tiếp cụ thể tức là nằm trong một ngữ huốnggiao tiếp cụ thể
Trang 222 Ngời nói có một thái độ nh thế nào đó đối với ngời nghe và đối vớinội dung đợc nói đến.
3 TTT xuất hiện đầu phát ngôn có tác dụng biến phát ngôn có nhữngtác dụng mới, cụ thể là bộc lộ thái độ, sự đánh giá
Với các điều kiện trên chúng tôi rút ra tiêu chí nhận diện TTT:
- Không mang nghĩa từ vựng cũng không mang nghĩa phạm trù ngữpháp mà chỉ mang nghĩa tình thái - biểu thị cảm xúc, thái độ, sự đánh giá củangời nói đối với nội dung thông báo
- Trong câu ta có thể lợc bỏ mà không làm thay đổi nội dung mệnh đề(nghĩa miêu tả) nhng sự có mặt của nó lại tạo cho phát ngôn giá trị mới, vớicác sắc thái nghĩa khác nhau
1.2 Giới thuyết về truyện ngắn
Tác phẩm văn học tồn tại trong những hình thức của thể loại văn học,không có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của thể loại Trongtiến trình văn học, sự hình thành, phát triển và mất đi của một thể loại là bìnhthờng Ví dụ thể anh hùng ca trong văn học cổ đại Lại có những thể loại vănhọc hình thành muộn hơn nhng trở thành cây đa, cây đề trong văn học Truyệnngắn cũng là một thể loại ra đời muộn nhng lại có sự phát triển khá nhanh vàchiếm đợc tầm quan trọng trong công chúng yêu thích văn học
Thuật ngữ Truyện ngắn hiện đợc dùng nh một thói quen ít khi ngời ta
đa ra bàn luận nhng thực tế vấn đề không giản Hiện nay có nhiều tác giả đã
đa ra khái niệm về truyện ngắn Mỗi khái niệm tơng ứng với một cách nhìn,cách cảm về truyện ngắn, đồng thời nêu lên đợc mối liên hệ giữa thể loại tácphẩm văn học với cách thức phản ánh đời sống
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học truyện ngắn đợc coi là: “Chức năngThể tài tác
phẩm tự sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phơngdiện của đời sống con ngời và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giớihạn về dung lợng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với ngời tiếp nhận đọc nóliền một mạch không nghỉ [14]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học truyện ngắn đợc coi là: “Chức năngTác phẩm tự
sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phơng diệncủa đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyệnngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [16,370]
Trang 23Tuy nhiên mức độ dài ngắn cha phải là đặc điểm chủ yếu phân biệttruyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tácphẩm rất ngắn nhng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắnthời trung đại cũng ngắn nhng cũng rất gần với truyện vừa Các hình thứctruyện kể về dân gian rất ngắn gọn nh cổ tích, truyện cời, giai thoại… lại càngkhông phải truyện ngắn.
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách nhìn cuộc đời,một cách nắm đời sống rất riêng mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn
đích thực xuất hiện tơng đối muộn trong lịch sử văn học
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự
đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc hoạ mộthiện tợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh trong đời sốngtâm hồn con ngời Vì thế trong truyện ngắn thờng có ít nhân vật, ít sự kiệnphức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật củatruyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn không nhằm tớiviệc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tơng quanvới hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thờng là hiện thân cho một quan hệxã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời
Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thờigian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình ngời Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiềutầng, nhiều tuyến mà thờng đợc xây dựng theo nguyên tắc tơng phản hoặc liêntởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, códung lợng lớn và lời hành văn mang nhiều ý, tạo cho tác phẩm những chiềusâu cha nói hết
Qua hai định nghĩa chúng ta có thể rút ra đợc những đặc điểm chính saucủa thể loại truyện ngắn:
- Một thể tài tự sự cỡ nhỏ (chữ nhỏ ở đây đợc hiểu là ngắn gọn,cô đúc)nhng ngắn nh thế nào là phù hợp? Ngắn ở đây đồng nghĩa với hàm súc, tinhlọc và hay Nói nh Tsêkhôp: “Chức năngNghệ thuật truyện ngắn là nghệ thuật cắt tỉa, tớc
bỏ cá gì không cần thiết” [22, 33], còn A.Tônxtôi thì khẳng định: “Chức năngTruyệnnngắn là một hình thức nghệ thuật khó viết bậc nhất” [22, 34] Nguyễn Tuâncho rằng: “Chức năngkỹ thuật viết ngắn có thể học từ tiếu lâm vì nó tiết kiệm lời Ngắngọn là cái tinh anh của nhà văn và cái tinh chất của tác phẩm” [22, 34] Nhỏ
Trang 24có nghĩa là từ vài trang đến vài chục trang, một câu chuyện đợc kể nghệ thuậtnhng không đợc phép kể dài dòng, câu chuyện có sức ám ảnh, nghĩa là tạo ramột ấn tợng duy nhất mạnh mẽ đồng thời tạo liên tởng ở ngời đọc
- Tính quy định về dung lợng và cốt truyện của truyện ngắn tập trungvào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập trung trong mộtkhông gian, thời gian nhất định
- Nhân vật truyện ngắn thờng đợc làm sáng tỏ, thể hiện một trạng tháitâm thế con ngời thời đại
- Chi tiết đóng vai trò quan trọng, nó có tính chất biểu tợng
Tuy nhiên, cũng nh một cơ thể sống bất kỳ, truyện ngắn trong quátrình hình thành và phát triển lại thâu nạp thêm những đặc điểm mới bởi sựthâm nhập tác động lẫn nhau giữa các thể loại văn học cũng nh do cách đọccủa thời đại quy định Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng: “Chức nănggiaithoại (anecdote) và ngụ ngôn (parabole) Giai thoại có chuyện hấp dẫn nhngkhông có hàm nghĩa sâu xa, ngụ ngôn có hàm nghĩa sâu xa nh ng chuyệnkhông hấp dẫn (đặc biệt là không có những chi tiết nghệ thuật đặc sắc” [22,35] Một số nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng: “Chức năngTiểu thuyết có tính chất tự sự,truyện ngắn hiện đại nghiêng về tính trữ tình, tính kịch nhiều hơn là tính tự
sự Trong truyện ngắn ta cảm đợc tâm thức hoặc nhân cách nhân vật đợc bộc
lộ nhiều hơn là cảm nhận đợc ý nghĩa câu chuyện đợc tờng thuật” [22, 35] Nguyễn Công Hoan là nhà văn thuộc lớp kỳ cựu, sáng tác từ hồi vănxuôi chữ quốc ngữ còn chập chững Ông là một trong những tên tuổi tiêu biểucủa trào lu văn học hiện thực phê phán Muốn đánh giá đầy đủ vị trí văn học
sử của Nguyễn Công Hoan chúng ta hãy nhớ lại nền văn xuôi nớc ta trongbuổi đầu xây dựng khoảng trớc sau 1930 Lúc bấy giờ trên sách báo còn đầyrẫy thứ văn biền ngẫu ớc lệ sáo rỗng, dài dòng và sau này khỏi những cây bút
Tự lực văn đoàn xuất hiện đa đến cho câu văn xuôi khả năng diễn đạt nhuầnnhụy và trong sáng hơn nhng rồi cũng nhanh chóng trở thành kiểu cách, sáomòn Chính lúc ấy, Nguyễn Công Hoan xuất hiện đã tìm đợc cho mình hớng
đi đúng đắn, hớng đi chủ nghĩa hiện thực của tiếng nói giàu có Sự nghiệp củaNguyễn Công Hoan không phải chỉ có truyện ngắn, mà còn nhiều thể loạikhác
Cách mạng Tháng Tám, ông là tác giả của nhiều truyện dài Tuy nhiên,nói đến tài năng của Nguyễn Công Hoan, nói đến phong cách độc đáo củaNguyễn Công Hoan, ngời ta đều nhớ đến một nhà truyện ngắn trào phúng
Trang 25Chính ông đã từng bộc bạch: “Chức năngVới tôi a viết truyện ngắn, mà lại là truyện ngắn
trào phúng chua chát” Trong cuốn Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan
nhấn mạnh: “Chức năngTôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn chứ không phảivào viết truyện dài Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lời tìm đề tài viết truyệnngắn”
Sau khi xuất hiện, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã gây đợc sự chú ýcủa bạn đọc lúc bấy giờ Trên các báo đã có các bài phê bình, đánh giá, thậmchí nảy ra những ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề truyện ngắn NguyễnCông Hoan
Về nghệ thuật viết truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan là ngời có nhiềukhả năng và kinh nghiệm Truyện của ông thờng rất ngắn, có kết cấu chặt chẽ,
có kịch tính Lời văn khúc chiết, giản dị, ngôn ngữ trong sáng Cốt truyện ờng đợc dẫn dắt một cách có nghệ thuật để hấp dẫn ngời đọc Kết thúc thờng
th-đột ngột bất ngờ Mỗi truyện nh một màn hài kịch có giói thiệu, thắt nút và
mở nút
Tóm lại, từ những ý kiến đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan một lần nữa ta có thể khẳng định rằng Nguyễn Công Hoan là một nhàvăn có biệt tài truyện ngắn - đặc biệt là truyện ngắn trào phúng Quả đúng
nh lời nhận xét của Nguyễn Hoành Khung: “Chức năngTruyện ngắn trào phúng củaNguyễn Công Hoan là hiện tợng cha có tới hai lần trong văn học Việt Nam”.[13, 290]
1.3 Vài nét về tác giả Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1904 tại làng Xuân Cầu,
huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, xuất thân trong một gia đình quan lại nhohọc thất thế, bất mãn với chế độ thực dân và xã hội mới Ông bắt đàu văn
nghiêp của mình vào những năm 20 và tập truỵện ngắn đầu tiên là Kiếp hồng nhan, ra đời năm 1923 Nhng phải đến năm 1935 với tập truyện ngắn Kép T Bền, Nguyễn Công Hoan trở thành nhà văn có danh tiếng trên văn đàn Việt
Nam lúc bấy giờ Nguyễn Công Hoan viết nhiều nhng thành công nhất là ở thểloại truyện ngắnb trào phúng Với hàng trăm truyện ngắn trào phúng, ông đãdựng nên bức tranh sinh động về cái xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác,
đầy rẫy bất công, giả dối, thối tha đơng thời… Đồng thời nhà văn thể hiện kháchân thực, cảm động tình cảnh cơ cực của những ngời nghèo khổ, từ ngời phu
xe, anh kép hát, em bé ăn mày, những con sen, thằng nhỏ ở thành phố đến
Trang 26ng-ời nông dân ở nông thôn Ông đã bênh vực họ khi họ bị ức hiếp, vu oan giáhọa.
Trong thời kỳ mặt trận dân chủ (1936 - 1939), ngòi bút trào phúng của
ông càng sắc mang tính chiến đấu mạnh mẽ ở nhiều truyện, nhà văn hớng
đến những vấn đề thời sự, chính trị nóng bỏng đơng thời, đả kích những âm
mu chính sách lừa bịp của chính quyền thực dân Tuy vậy, tiếng c ời tràophúng của Nguyễn Công Hoan cũng có khi thiếu một nội dung xã hộinghiêm túc
Cách mạng Tháng Tám thành công, mang lại cho toàn dân tộc một tinhthần và khí thế mới Nguyễn Công Hoan hăng hái tham gia công tác cáchmạng và tiếp tục sáng tác các tác phẩm văn học có giá trị
Nguyễn Công Hoan quả là tấm gơng của một ngời đã có cống hiến trọnvẹn cả đời mình cho sự nghiệp văn học và là tấm gơng của một ngời lao độngmiệt mài vì nghệ thuật hơn nửa thế kỷ
1.4 Tiểu kết chơng 1
ở chơng 1 chúng tôi đã trình bày vấn đề tình thái từ - một vấn đế đã và
đang đợc các nhà nghiên cứu quan tâm và ngày càng đợc làm sáng tỏ hơn
Đây là vấn đề phức tạp nhng khá tinh tế nên thu hút đông đảo sự có mặt củacác tác giả nghiên cứu vào các thời điểm khác nhau Các tác giả nớc ngoàicũng nh tác giả Việt Nam, mỗi ngời một khía cạnh theo các tiêu chí khác nhau
đã làm nổi bật đợc đặc trng cơ bản của vấn đề tình thái, tạo nên sự toàn vẹn vàhấp dẫn của nó Từ loại là một phạm trù ngữ nghĩa, là đặc trng cơ bản của cácngôn ngữ đơn lập đặc biệt là tiếng Việt Đó là lớp từ đợc phân loại dựa trên ýnghĩa phạm trù và khả năng kết hợp TTT là một lớp từ loại đợc xếp vào loại
h từ Tuy thế, nếu thiếu đi lớp từ loại này thì giá trị thông báo của phát ngônkhông gây sự hấp dẫn của ngời đọc chính sự có mặt của nó tạo nên giá trị mớicho phát ngôn
Để nhận biết đợc TTT đứng đầu phát ngôn thì các tác giả cũng đa ra cáctiêu chí nhận diện chúng ở khoá luận này chúng tôi cũng dựa trên đặc trngngữ nghĩa của TTT để đa ra tiêu chí nhận diện Các tiêu chí nhận diện sẽ làchiếc chìa khoá công cụ hữu ích để chúng ta thâm nhập sâu vào thế giới tìnhthái
Truyện ngắn là một thể loại của văn học hiện đại, nó có quá trình ra
đời, phát triển trong giai đoạn văn học hiện đại, ở thời kì trung đại đã có dấuhiệu manh nha nhng cha trở thành một thể loại cụ thể sinh động Những đặc
điểm của nó có sức chi phối rất mạnh đối với nhà văn và độc giả tạo ra nét khu
Trang 27biệt của nó của nó đối với các thể loại cùng thời nh tiểu thuyết hiện đại, thơhiện đại…cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về truyện ngắn, mỗi địnhnghĩa nêu lên đợc một vài khía cạnh của nó
Nguyễn Công Hoan là đại diện xuất sắc của trào lu văn học hiện thựcphê phán Việt Nam, ông đã làm đợc điều mà nhiều ngời cùng thời e ngại hoặcsai đờng Nguyễn Công Hoan là ngời mở đờng, chỉ lối cho thế hệ sau tiếp bớc,
ông là ngời đầu tiên đặt viên gạch xây dựng nên nền móng của văn học hiệnthực
Trang 28Chơng 2 vai trò và chức năng của các từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
2.1 Vai trò của các tình thái từ
Theo tác giả Cao Xuân Hạo trong một phát ngôn thì gồm hai phần.Phần thứ nhất mang nghĩa miêu tả, phần này do các thực từ đảm nhận Phầnthứ hai mang nghĩa tình thái, phần này thờng do các TTT hay tổ hợp từ mangnghĩa tình thái đảm nhận Nghĩa tình thái gồm nhiều loại, phản ánh thái độcủa ngời nói đi kèm theo nội dung mệnh đề chứ không phải miêu tả trực tiếpniềm tin, thái độ, tâm trạng của họ [dẫn theo 10, 282]
TTT là một phơng tiện ngôn ngữ mang nghĩa tình thái thờng đi kèm vớinghĩa miêu tả lời nói Về vị trí ở trong phát ngôn chúng có thể đứng đầu phátngôn, có thể đứng cuối Trọng tâm của khoá luận này chúng tôi đi sâu tìmhiểu các TTT đứng đầu phát ngôn
Các TTT đứng đầu phát ngôn là một trong những phơng tiện để làmphong phú lợng thông tin vẫn có tạo sắc thái riêng cho phát ngôn đó, biến nộidung phát ngôn có công dụng trong các tình huống giao tiếp cụ thể, mang đếncho phát ngôn có phẩm chất là công cụ giao tiếp, công cụ tơng tác xã hội Đây
là những thông tin làm chính xác hơn cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn
Nh vậy TTT đảm nhận vai trò biểu đạt nghĩa tình thái đảm nhận vai tròbiểu đạt nghữ nghĩa tình thái Thành phần này chủ yếu đợc thực hiện ở chức
Trang 29năng liên nhân, khi thực hiện chức năng liên nhân các TTT đồng thời thể hiệnnhiều vai trò cụ thể khác nhau Xét trong lời nhân vật giao tiếp ở truyện ngắnNguyễn Công Hoan, các TTT thực hiện các chức năng khác nhau.
Có thể cụ thể hoá vai trò của TTT là:
a) Chức năng liên nhân
Chức năng liên nhân là chức năng xác lập mối quan hệ giữa các vai giaotiếp trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: thân sơ, gần gũi, thân thiện, xa lánh haylấp lửng…
Quan hệ liên nhân thuộc bình diện chức năng, t cách liên nhân là t cáchtrao đổi TTT là phơng tiện có khả năng biểu thị ý nghĩa liên nhân, chẳng hạn
khi dùng “Chức năngô hay” trong ví dụ: ô hay! anh về thì ngời nói thể hiện sự ngạc nhiên trớc một hành động không hề nghĩ tới Sử dụng từ “Chức năngà” trong ví dụ: à! ra thế, tôi không biết chuyện đó, thể hiện sự bất ngờ, ngạc nhiên trớc một sự vật
đã đợc mọi ngời biết đến Từ “Chức năngchà” trong ví dụ: Chà! Cô giáo thực tập xinh quá! Thể hiện ngời nói ngạc nhỉên về một điều mới đợc khám phá ra có tác
động đến ngời khác
b) Bộc lộ tình tình cảm, cảm xúc
TTT có khả năng bộc lộ tình cảm, thái độ của ngời nói trong câu, tức làtình cảm, cảm xúc đối với đối tợng đợc nói đến trong phát ngôn Nghĩa tìnhthái hết sức phong phú và phức tạp, chúng gồm nhiều sắc thái nghĩa khácnhau
Ví dụ:
<1> Hóm đáo để! Ai bảo cậu nó đâu thì nó bảo chết rồi, chứ nó không
bảo cậu nó đi Tây nữa
(Nỗi vui sớng của thằng bé khốn nạn, tr 63)
ở đây tác giả thể hiện sự bình giá của mình trớc một hiện tợng đứa trẻ
có bố đã mất, mẹ nó có thêm ngời đàn ông khác nhng nó cứ tởng là bác hàngxóm
<2> - Giời đất ơi! Khi hai cánh tay tôi đợc tự do, tôi sung sớng nh trông
thấy ông bà ông vải, tôi vội vàng nói: Bẩm xin quan lớn cho con dậy con mớinói đợc
(Thằng ăn cớp, tr.427)
Nhân vật thể hiện sự than phiền, kêu ca trớc quan lớn về sự việc xảy ra
c) Biểu thị quan hệ xã hội
Trang 30TTT có khả năng biểu thị quan hệ xã hội của ngời nói đối với ngờinghe Mối quan hệ này có khi bộc lộ trực tiếp, có khi không bộc lộ trực tiếpnhng qua sắc thái tình cảm, qua cách sử dụng TTT, vị thế của các nhân vật hộithoại cũng đợc xác định Vị thế đó là các quan hệ xã hội nh thứ bậc tuổi tác,
địa vị xã hội, dòng tộc… ợc bộc lộ rất rõ trong giao tiếp văn hoá của ngời đ
Việt Chẳng hạn từ “Chức năngdạ” xuất hiện trong câu: Dạ! Tha ông cháu đã biết lỗi của mình thì chứng tỏ ngời nghe là ngời ông, tuổi tác cao, địa xã hội cũng
khác so với nhân vật giao tiếp là ngời cháu Ngời cháu thể hiện sự lễ phép, tôn
kính, tôn trọng với ngời ông Từ “Chức năngtrời đất” trong Trời đất! Mày làm gì thế này? Biểu thị hai nhân vật giao tiếp ở đây là cùng tuổi tác, ngang hàng với
nhau
Vậy TTT là lớp từ đợc sử dụng trong phát ngôn để biểu thị một số ýnghĩa nh: thái độ, tình cảm, sự đánh giá của ngời nói đối với nội dung phátngôn, với hiện thực và đối với ngời hội thoại
d) Chức năng hớng thoại
Khi thực hiện chức năng liên nhân trong hội thoại các TTT không chỉbộc lộ tình cảm và vị thế của ngời tham gia giao tiếp mà còn có nhiệm vụ rấtquan trọng là hớng thoại khi tham gia giao tiếp Những ngời thực hiện hộithoại sẽ đa ra các lời trao - đáp và những lời trao đáp ấy bao giờ cũng hớng tới
đối tợng cụ thể nào đó Ngời đợc hớng tới có trách nhiệm lắng nghe và đáp lạilời đáp tơng ứng, ví dụ:
- Đây có phải là nhà ông chủ ôtô “Chức năngcon cọp” không?
- Phải, ông hỏi gì?
- Tha cụ, ông chủ có ở nhà không ạ?
- Tha cụ, tôi hỏi thế này tí không phải, cụ có phải là cụ sinh ta ông chủtôi không ạ?
- Không phải, con vú già đây
(Nguyễn Công Hoan - Báo hiếu: trả nghĩa mẹ)
Trang 31rằng thứ ngôn ngữ là chửi bới, nguyền rủa, đe dọa, nh đang thách thức cùng xã
hội thực dân phong kiến đó Hình tợng bà cụ Tứ trong truyện ngắn Làng (Kim
Lân) là thứ ngôn ngữ dịu dàng, nhỏ nhẹ của ngời nông dân Việt Nam trớcCách mạng tháng Tám Mỗi nhân vật có ngôn ngữ riêng không lẫn lộn với ai.Trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan cũng phân thành nhiều hạng ngời cùng
với thứ ngôn ngữ đi kèm Chẳng hạn, ngôn ngữ của lão chủ t sản trong Răng con chó nhà t sản với ngời ăn mày là hống hách, địa chủ, bề trên, xem con
chó hơn con ngời
2.2 Về số lợng TTT đứng đầu phát ngôn
2.2.1 Số lợng TTT đầu phát ngpôn trong tiếng toàn dân
Qua khảo sát về TTT đứng đầu phát ngôn trong cuốn Từ điển tiếng Việt,
Nxb Đà Nẵng, chúng tôi cụ thể hoá ở bảng sau:
Bảng 2.2
1 A - A a a Anh Tràng! Anh Tràng đã về chúng mày ơi.
- A chết chửa, hình nh hôm nay quên không mua chanh.
(tr.1) (tr.1)
2 à ơi à ơi! Cái ngủ mày ngủ cho ngoan
Mẹ mày đi cấy đồng sâu cha về
(tr.1)
3 á á kìa, chóng thân nhỉ? Nom đẹp đôi lắm (tr.2)
4 á à á à, anh này giỏi nhỉ? (tr.2)
5 à - à quên, anh vừa nói gì nhỉ?
- à bây giờ tao mới nghĩ ra, thảo nào ban nãy nói chuyện nó, mày cứ bênh chầm chập
10 Cha chả - Buồn tình cha chả buồn tình
- Không ai lẻ bạn cho mình kiếm đôi
- Cha chả, lặn lội đa chồng ra tới đây, dữ ác ôn