Luận văn, khóa luận, thạc sĩ, đề tài, báo cáo, chuyên đề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN QUẾ KỲ CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI CHÍNH VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH-2009
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Văn học trung đại Việt Nam là một loại hình văn học tồn tại và phát triển
trong thời trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Thời kì này chịu sự chiphối sâu sắc của ý thức hệ tư tưởng, của văn học, mĩ học phong kiến và truyềnthống văn hoá các dân tộc Việt Nam Văn học trung đại Việt Nam có một hệ thốngthi pháp riêng với nhiều thể loại kể cả thể loại nội sinh và ngoại nhập Mỗi một thểloại lại có chức năng riêng trong việc chuyển tải nội dung, tư tưởng, những vấn đềnhân sinh thiết thực mà cuộc sống yêu cầu qua những hình thức nghệ thuật khácnhau mang tính quan niệm Vì vậy, luận văn này làm sáng rõ chức năng của một
số thể loại chính của văn học trung đại Việt Nam trong việc thể hiện “thiên chức”của mình như: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ…,theo tiên chỉ “văn dĩ tải đạo, thi ngôn chí” mà các nhà văn trung đại thường lấylàm chuẩn mực
1.2.Để thực hiện các chức năng rất đỗi thiêng liêng cao quý đó: tác động trực tiếp
đến tư tưởng, tình cảm, góp phần thanh lọc tâm hồn, di dưỡng tính tình, hoàn thiệnnhân cách, giúp con người “tự nhận thức” mà sống tốt hơn, đẹp hơn…thì mỗi mộtthể loại lại có một số hình thức nhất định cho phù hợp với phẩm chất nghệ thuật,tính chất giáo huấn tuyên truyền, có tính quan phương như: thể thơ, các biện pháp
tu từ, kết cấu, các hình thức mang tính quan niệm… Luận văn này làm sáng rõ cáchình thức mà các nhà văn, nhà thơ sử dụng để thực hiện các chức năng của mình ởcác phương diện: cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu, sự tự biểu hiện
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là chức năng củamột số thể loại chính vận văn, tản văn trong văn học trung đại Việt Nam
Trang 32.2 Phạm vi nghiên cứu
Do văn học trung đại Việt Nam có rất nhiều thể loại kể cả nội sinh và ngoạinhập nên để cho tập trung, cho có chiều sâu nên ở luận văn này, chúng tôi chỉnghiên cứu chức năng của một số thể loại quan trọng như về thơ có: Thơ Đườngluật, truyện thơ; về tản văn có: truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi, kí
3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài, chúng tôi nhằm thực hiện các mục đích sau:
- Tìm hiểu chức năng của một số thể loại văn học trung đại và các hình thứcthực hiện các chức năng đó
- Từ chức năng thể loại đi vào thực hiện phân tích một số tác phẩm theo đặctrưng thể loại để có cái nhìn toàn vẹn, thấu đáo bản chất của vấn đề, hiện thực đờisống, thế giới tinh thần của nhà văn Và qua đó, thấy đước cá tính sáng tạo, hìnhthức nghệ thuật mà nhà văn thể hiện qua tác phẩm
4 Lịch sử vấn đề
Việc phân chia các thể loại văn học trung đại Việt Nam, trong đó có chức năngcủa từng thể loại đã được nhiều tác giả nói đến trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều
công trình nghiên cứu khoa học Công trình đầu tiên là Việt âm thi tập do Phan Phu
Tiên thực hiện gồm 624 tác phẩm Đây là công trình sử biên, trong đó có các bài tựa
có tính chất là phê bình, nghiên cứu Tiếp theo là công trình Tinh tuyển chi gia luật
thi do Dương Đức Nhan thực hiện, tập hợp 427 bài thơ của 13 tác giả đời Trần, Hồ
và Lê sơ Công trình thứ ba là Trích diễm thi tập do Hoàng Đức Lương thực hiện,
tập hợp 427 bài thơ Ý thức phân loại thơ đã thể hiện rõ Bùi Huy Bích có công
trình Hoàng Việt văn tuyển gồm 8 quyển, tổng cộng 112 tác phẩm, chia theo các thể
loại kí,chế sách, tản văn, công văn phú, văn tế, minh, chiếu, biểu…
Trang 4Lê Quý Đôn ở thiên văn nghệ chí trong Lê triều thông sử chia tác phẩm ra
thành 4 loại: hiến chương (16 loại ), Thi văn (66 tác phẩm ), Truyện kí (19 tácphẩm), Phương kĩ (14 tác phẩm )
Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo viết: “Văn chương có nhiều thể cách,
mỗi thể cách có lối đặt câu riêng, nhưng đại khái thì nên chia hai lối là lối có vần vàlối không có vần Lối có vần như là thơ, phú, minh, tán, ca, ngâm khúc điệu…Lốikhông có vần như là kinh nghĩa, văn sách, luận, kí, tứ lục tiểu đối…” [9, tr 6].Quan niệm này mang tính khoa học và hệ thống
Năm 1932, Bùi Kỉ trong Quốc văn cụ thể có giới thiệu các thể loại theo tên gọicủa người xưa: Lục bát, song thất lục bát, hát xẩm, hát nói, mưỡu, thơ cổ phong,Đường luật, minh, trâm, tán, từ khúc, phú, văn tế, chiếu, biểu, cáo, hịch, trướng,kinh nghĩa,văn sách, tựa, truyện, kí, bia, luận, chèo, tuồng
Năm 1943, trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đề cập đến việc
phân loại thể loại.Tác giả đã phân biệt “các thể văn mượn của tàu và các thể vănmượn của ta” Những thể mượn của tàu được chia làm hai loại : Vận văn (Văn cóvần: Thơ, phú, văn tế ); biền văn (Văn không có vần mà có đối : câu đối tứ lục, kinhnghĩa) Các lối văn xuôi của Tàu: tự, bạt, truyện, kí, bi, luận Những thể riêng củata: lục bát, song thất và các biến thể của hai lối ấy
Nguyễn Huệ Chi trong Khảo luận văn bản thơ văn Lí-Trần, căn cứ vào những
đặc điểm và phương thức biểu hiện của tác phẩm, chia thành 5 loại với 15 thể: Thơ
ca gồm: thơ sấm vĩ, thơ suy lí, thơ trữ tình, thơ tự sự; Biền văn gồm: phú, hịch, cáo,chiếu, chế, biểu, tấu; Tản văn gồm: văn bình luận, văn thư tín, văn ngữ lục; Tạpvăn: luận thuyết tôn giáo; Truyện kể: truyện, sử, bi, kí
Công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử đi
theo hướng thể loại với các nhóm: Nhóm 1: Các thể thơ trữ tình, Nhóm 2: Phú vàcác thể văn; Nhóm 3: Thể loại truyện chữ Hán Ở phần thơ trữ tình, tác giả viết :
Trang 5“Phần lớn thơ làm trong các dịp tiễn tặng, hoạ thơ người khác, đề thơ kỉ niệm, tứccảnh, tức sự, thư sự…Khi muốn bộ lộ nỗi lòng thì họ gọi là Ngôn hoài, Thuậthoài…” [tr 170 ] Hay trong thể phú, tác giả cũng đề cập đến chức năng của thểnày: Tính nội dung của thể phú thể hiện ở cách sử dụng Tính chất chung của phú là
ca ngợi Có hai loại phú – phúng gián và tỏ chí [tr 267]
Cuốn: Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi chủ biên đề cập đến các thể loại cả văn học trung đại và văn học hiện đại (riêngmột số thể loại không có như: truyện truyền kì) Chẳng hạn, khi đề cập đến thơ trữtình, tác giả viết: “Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện nhữngbiểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ những cung bậc tình cảm cho tới nhữngchính kiến, những tư tưởng triết học” [tr 269]
Công trình: Vấn đề phân loại thể loại văn học Việt Nam trung đại, tác giả Biện
Minh Điền khẳng định: “Vậy là, nhìn vào hệ thống thể loại, có thể khu biệt từnggiai đoạn, từng thời kì văn học và có thể nhận diện từng loại hình văn học Chính vìthế, hướng theo thể loại là xu thế chủ đạo trong sáng tác, nghiên cứu, phê bình vàgiảng dạy văn học hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thếgiới” [6] Cũng theo tác giả: phương án phân loại là cơ sở để đi sâu tìm hiểu, nghiêncứu các thể loại trong văn học Việt Nam trung đại Có ba phương diện cần khảo sát:nội dung, chức năng và thi pháp của thể loại
Cuốn: Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại những vấn đề văn xuôi tự sự,
Nguyễn Đăng Na khẳng định: “Văn xuôi tự sự là một bộ phận hữu cơ không táchrời quá trình phát triển của văn học Việt Nam Song, với tư cách là một loại hìnhnghệ thuật, văn xuôi tự sự có những đặc trưng và quy luật diễn tiến riêng Qua bachặng đường lịch sử với chiều dài mười thế kỉ (X – XIX) và ba xu hướng phát triển,cùng với các loại hình thể loại văn học khác, văn xuôi tự sự đã hoàn thành sứ mệnhlịch sử mà thời đại giao phó: phản ánh đời sống tâm linh của người Việt Nam thời
Trang 6trung đại Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, các tác gia văn xuôi tự sự khôngngừng tìm tòi, kế thừa và đổi mới cả nội dung lẫn hình thức tác phẩm đặng từ đódần dần tự hoàn chỉnh cả ba hình thức tự sự: truyện ngắn, kí và tiểu thuyết chươnghồi” [39].
Chuyên đề: Văn chính luận Việt Nam thời trung đại, tác giả Phạm Tuấn Vũ nói
khá rõ các chức năng của các thể: cáo, chiếu, hịch…Công trình này đã gợi ý chochúng tôi tiếp tục nghiên cứu các chức năng của một số thể loại quan trọng của vănhọc trung đại Việt Nam
5 Đóng góp của luận văn
Qua luận văn, chúng tôi hi vọng sẽ tìm hiểu sâu hơn chức năng của một số thểloại quan trọng được học trong chương trình phổ thông và phương thức thể hiệnchúng, cá tính sáng tạo của tác giả Từ đó hình thành cho độc giả kĩ năng, cách đọctác phẩm theo đặc trưng thể loại, cụ thể cách đọc thơ Đường luật, truyện thơ, truyệntruyền kì, tiểu thuyết chương hồi, kí
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp tổng hợp khái quát
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, phần “Kết luận” và mục “Tài liệu tham khảo”, nội
dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề thể loại văn học của văn học trung đại Việt Nam và
các chức năng của nó
Chương 2 Chức năng của một số thể loại vận văn
Chương 3 Chức năng của một số thể loại tản văn
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ
CÁC CHỨC NĂNG CỦA NÓ 1.1 Một số đặc điểm về chức năng của văn học trung đại Việt Nam
1.1.1 Văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam chỉ một loại hình văn học tồn tại và phát triểntrong thời trung đại ở Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX) Đây là văn học củathời kì gắn với chế độ phong kiến Tuy nhiên chú ý thời trung đại của từng thời kì,từng khu vực, từng quốc gia có sự khác nhau Theo B.L Rip tin: văn học trung đạinhiều điều chưa xác định Tuy nhiên những cơ sở vững chắc của khái niệm nàykhông thể phủ nhận vì tính chất loại hình
Văn học trung đại Việt Nam chịu sự chi phối sâu sắc của ý thức hệ tư tưởng,của mĩ học phong kiến, tiếp thu tinh hoa của văn học dân gian Điều này là tất yếubởi vì văn học luôn vận động, theo sát, phục vụ cuộc sống Các nhà văn trung đạitrong quá trình sáng tác thường chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng “trung quân áiquốc” Quan niệm phong kiến chính thống cho rằng: nước với vua là một NguyễnTrãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu…đã trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ quanniệm này Là một người có tri thức uyên thâm, từng đỗ đầu ba kì thi, luôn cháybỏng một khát vọng “trí quân trạch dân”, từng làm quan nhưng do hoàn cảnh đấtnước ta bị thực dân Pháp xâm lược nên Nguyễn Khuyến đã cáo quan về ở ẩn Ôngtừng dặn con cháu: “Trầm tư ty lạp quân ân trọng” (Suy nghĩ cho kĩ thì ơn của vua
dù bé nhỏ như sợi tơ hạt tóc vẫn là nặng; ông tự nói về mình: “Quân ân vị báo đầutiên bạch” (ơn vua chưa trả được mà đầu đã bạc) Đến cuối đời, nhà nho Yên Đổvẫn canh cánh trong lòng tâm sự u uất, day dứt, thẹn thùng, ân hận :
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời
Trang 8Nguyễn Đình Chiểu thì từng ước có một vị vua anh minh, tập hợp sức mạnhnhân dân đánh tan, quét sạch quân xâm lược:
Chừng nào thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông
(Xúc cảnh)
Khi đất nước có ngoại xâm thì văn học là một vũ khí sắc bén, vô cùng lợi hại,
cổ vũ động viên tinh thần quân dân vùng lên giết giặc lập công Trong thi phẩm
Bảo kính cảnh giới (số 5), Nguyễn Trãi viết:
Văn chương chép lấy đôi câu thánh
Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,
Có nhân, có trí, có anh hùng
Văn chương phải gắn với sự nghiệp, gắn nhiệm vụ làm văn với bổn phận làmngười Văn chương phải gắn với hành động “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược”,phải gắn với phẩm chất “Có nhân, có trí, có anh hùng” Muốn bảo vệ cuộc sống vàkhẳng định giá trị con người thì trước hết phải bảo vệ Tổ quốc, khẳng định dân tộc,bởi “nước mất thì nhà tan” Văn chương phải chuyển tải được thông điệp thiêngliêng, cao quý đó
Lí Thường Kiệt từng dõng dạc khẳng định chủ quyền:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Nghe thật hào sảng nhưng không kém phần xúc động, tự hào! Và tác giả đã nêucao quyết tâm, ý chí của cả toàn thể dân tộc, của con cháu Lạc Hồng:
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
(Bài thơ thần- Lí Thường Kiệt)
Trang 9Quân địch khi nghe xong phải run sợ, mất tinh thần chiến đấu.
Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc
Tuấn…là một trong những áng văn có tính luận chiến rất rõ, có giá trị muôn đời bởi
tư tưởng nhân văn sâu sắc
Khi đất nước sạch bóng quân thù thì yêu nước là dốc toàn trí, toàn lực để xâydựng đất nước hùng cường, no ấm, mấu mực theo xã hội Nghiêu, Thuấn ở TrungQuốc Yêu nước còn là phê phán những hủ lậu, những điều trái tai gai mắt, đi ngược lại với đạo đức, lợi ích, truyền thống dân tộc Đó là phê phán cảnh ăn chơi sa
đoạ trong phủ chúa Trịnh (trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác và
nhiều tác phẩm khác), là bọn quan lại “rỗng tuếch về trí tuệ”, “hữu danh vô thực”,trong thời buổi hỗn loạn không làm được việc gì cho dân cho nước Nguyễn
Khuyến gọi chúng là những ông “Phỗng đá”:
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?
(Ông Phỗng đá- Nguyễn Khuyến)
Văn học trung đại Việt Nam còn kế thừa truyền thống nhân đạo Đó sự đồngcảm, sẻ chia trong hoạn nạn cuộc đời, thông cảm cho những số phận bất hạnh, đặcbiệt là nhũng người phụ nữ phải sống trong xã hội nam quyền độc đoán, đầy rẫy
những hủ tục, bất công, những định kiến hẹp hòi, phi lí Vũ Nương trong Người con
gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, Thuý Kiều, Đạm Tiên trong Truyện Kiều, những
người vợ có chồng đi chinh chiến biền biệt trong “ Chinh phụ ngâm khúc” củaĐặng Trần Côn, những người phụ nữ sống trong u sầu, tủi nhục trong cung Tần,phủ Chúa “giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?”, là số phận của những người vợ lẽ,những người phụ nữ không chồng mà chửa trong thơ Hồ Xuân Hương…Mỗi người
có nỗi niềm tâm sự riêng, nỗi khổ riêng nhưng trong tận cùng oan trái, khổ đau, họvẫn ngời lên vẻ đẹp nhân cách của lòng vị tha, hiếu thảo, đức hi sinh…Và qua đó,
Trang 10các tác giả trung đại bày tỏ những khát vọng giải phóng con người khỏi áp bức đaukhổ Đó là khát vọng về tình yêu tự do như qua câu chuyện tình yêu giữa Thuý Kiều
và Kim Trọng trong truyện Kiều; Phạm Kim và Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang
của Phạm Thái Như chúng ta biết, sống trong xã hội phong kiến, hôn nhân xuấtphát từ tình yêu tự do là điều không tưởng Hôn nhân phải môn đăng hộ đối, cha mẹđặt đâu con ngồi đấy, người phụ nữ luôn bị động, phải lệ thuộc, không có quyềnquyết định hạnh phúc đời người Nguyễn Du đã gióng lên tiếng nói nhân bản, đầy ýnghĩa, phải trả lại đúng nghĩa, đích thực của những cuộc hôn nhân: sự đam mêmãnh liệt, có sự bí ẩn, đầy sáng tạo, hôn nhân phải xuất phát từ tình yêu tự do…Bêncạnh đó, Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải còn bày tỏ về khát vọng công lí Đây làvấn đề muôn thuở mà xã hội nào cũng hướng tới
Văn học trung đại Việt Nam cũng dành một phần lớn để tố cáo những thế lựchắc ám đã chà đạp con người, gieo rắc nhiều đau khổ, đẩy họ vào bước đường cùng.Thế lực này khá đông đảo từ tầng lớp vua quan như Hồ Tôn Hiến đến bọn lưu manhnhư tên sở Khanh, bọn đầu trâu, mặt ngựa ào ào như sôi, những tên buôn thịt bánngười sống bằng nghề nhơ nhớp như Bạc Bà, Bạc Hạnh trong truyện Kiều Chà đạpThuý Kiều là cả một xã hội Cũng chính chế độ nam quyền độc đoán đã giết chết
người vợ hiện thục, nết na có “tư dung tốt đẹp” Vũ Thị Nương trong Người con gái
Nam Xương của Nguyễn Dữ Bất nhân, vô liêm sỉ như Trọng Quỳ thua bạc, gán vợ,
khiến vợ tự tử gây ra bao xót xa, bức xúc cho người đọc mọi thế hệ …Chủ nghĩanhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng từ bibác ái của đạo Phật, tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo
Văn học trung đại Việt Nam đã kế thừa sự thông minh dí dỏm, sự lạc quan,luôn tin tưởng vào tương lai dù trong sự khốn khó nhất, bi đát nhất của văn học dângian Xã hội còn nhiều điều bất cập, chà đạp nhân phẩm con người, gây cho họ baođau khổ Trong thơ văn của các tác giả trung đại, đặc biệt là trong thơ Hồ Xuân
Trang 11Hương, chúng ta vẫn thấy những nụ cười tươi rói nhưng không kém phần cay độc,
sự quấy đạp, muốn bứt tung, muốn vươn mình ra khỏi ao đời mờ nhạt, để khẳngđịnh mình, khẳng định bản ngã
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước nonRắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước- Hồ Xuân Hương ).
Viết về chiếc bánh trôi nước nhưng thực ra là tác giả đang viết về giới mình.Người phụ nữ vừa đẹp người lại đẹp nết, đáng lẽ phải được trân trọng, thương yêuhết mực nhưng sống trong xã hội phong kiến, họ bị xúc phạm thậm tệ, họ chịu “kiếp
ốc nhồi” Dù trải qua phong ba bão táp cuộc đời, họ vẫn luôn “giữ tấm lòng son”,
chung thuỷ, đằm thắm trong tình cảm Lí Thông trong truyện thơ Thạch Sanh, gian
ác thâm hiểm nên bị trừng trị đích đáng, ngược lại Chàng Thạch Sanh dũng cảm,hào hiệp, nhân hậu, cuối cùng có cuộc sống hạnh phúc được làm vua, lấy công
chúa Từ Thức trong Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, trích Truyền kì mạn lục “cao
nghĩa sẵn lòng cứu giúp sự nguy khốn cho người”, cởi tấm áo cừu gấm trắng, đưavào tăng phòng để chuộc lỗi cho Giáng Hương vì làm cành hoa bị gãy Chàng vốnthích cuộc sống tự do, hoà hợp với thiên nhiên, coi thường danh lợi: “ta không thể
vì số lượng năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong áng lợi danh Âu là một mái chèo
về, nước biếc non xanh vốn chẳng phải phụ ta vậy” Có âm đức tất có dương báo,chàng lấy vợ tiên và sống trong tột đỉnh của giàu sang Nhưng chàng vốn là ngườirất nặng lòng với quê hương nên đã từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý, thần tiên vềvới cuộc sống đời thường… Chắc chắn khi sáng tác, các tác giả trung đại đã chịuảnh hưởng từ văn học dân gian, cụ thể là từ truyện cổ tích: ở hiền gặp lành, ác giả ácbáo…
Trang 12Đặc điểm thứ hai của văn học trung đại Việt Nam, đó là thời kì dài văn họcđược viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Lúc đầu do chưa có chữ viết, lại chịu ách đô
hộ, thống trị, đồng hoá rất thâm độc của bọn phong kiến phương Bắc nên cha ôngchúng ta phải mượn văn tự Hán để gửi gắm tiếng lòng cũng như chuyển tải nhữngthông điệp, những chân lí cuộc sống qua thơ văn Nhưng với tinh thần dân tộc, vớitruyền thống kế thừa nhưng có chọn lọc và không ngừng sáng tạo cho phù hợp vớitâm hồn, tính cách dân tộc, hiện thực Việt Nam, cha ông ta đã sáng tạo chữ Nômtrên cơ sở chữ Hán để ghi âm tiếng Việt Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Nguyễn Khuyến…là một trong những người thành công khi sử dụng chữ Nôm
để sáng tác Nữ sĩ Hồ Xuân Hương được Xuân Diệu mệnh danh là bà chúa thơNôm Nguyễn Trãi có tập thơ được xem là bông hoa nghệ thuật đầy cách tân cả ở
phương diện nội dung và nghệ thuật Quốc âm thi tập Truyện Kiều của đại thi hào
đân tộc Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm…Điều dễ nhận thấy là các tácgiả văn học trung đại Việt Nam đã có sự cách tân khi sử dụng thể thơ, đặc biệt làviệc sử dụng ngôn ngữ đời thường, thuần Việt với các thành ngữ, tục ngữ…rất gầngũi và phù hợp với tâm lí, tư tưởng, trình độ tiếp nhân của độc giả lúc bấy giờ
Trong bài Mời trầu của Xuân Hương có những câu thơ nghe thật nhẹ nhàng, tự
nhiên nhưng đầy lắng đọng, có sức thẩm thấu, ngân rung:
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi
Nữ sĩ đã lấy những hình ảnh rất quen thuộc mà bất cứ người bình dân nào cũngbiết: quả cau, miếng trầu Đến câu thứ hai với ba từ liên tiếp: “Này”, “XuânHương”, “quệt”… đã thể hiện tài năng, cá tính cũng như bản lĩnh của một conngười luôn có tư tưởng chống lại số phận, những cái giả dối, trơ trẽn trái với lẽ tự
Trang 13nhiên và của lòng người đồng thời luôn khao khát một tình yêu tròn đầy, viên mãn.
Từ “này” là đại từ chỉ thị mang tính xác định “Này” nói rõ miếng trầu của Hồ XuânHương Nó có hai nghĩa: chỉ thái độ suồng sã, thân mật; đồng thời chỉ bản lĩnhbướng bỉnh, có ý thức về bản thân mình “Xuân Hương” là một cách xưng hô bạodạn Trong văn học trung đại, cách xưng hô của chị em là dùng đại từ phiếm chỉ:
em, thiếp, tôi…không mấy ai xưng tên Nghe rất tội nghiệp! Nhưng với XuânHương có lẽ là bà là người phụ nữ duy nhất dám xưng tên mình vào trong thơ Điều
đó chỉ rõ bản lĩnh của nữ sĩ như là một lời thách đố đối với xã hội nam quyền, thểhiện thái độ của một con người có ý thức, có bản lĩnh Can đảm vô cùng! “Quệt” làmột động từ cũng giống như bôi nhưng hành động này dứt khoát Mới quệt chỉ sựtươi nguyên, tinh khôi của miếng trầu Lời mời trầu của Xuân Hương vừa tự nhiên,vừa khiêm tốn, tha thiết nhưng vẫn thể hiện sự chủ động, sự ý thức của bản thânmình
Đặc điểm quan trọng nhất của văn học trung đại Việt Nam là văn học thời kìnày có một hệ thống thi pháp riêng: có thi pháp tác giả, thi pháp tác phẩm…Hệthống thi pháp này thể hiện trên nhiều phương diện như quan niệm văn học Kháiniệm về văn học thời xưa được hiểu một cách không thống nhất Có cách hiểu rấtrộng, văn học bao gồm tất cả những thứ viết trên lụa và trên giấy Nhưng có quanniệm rất hẹp, văn học chỉ bao gồm ba thể loại: Thơ, tiểu thuyết và những tác phẩm
du hí Có quan niệm khác với hai quan niệm này: ngoài thơ, tiểu thuyết, du hí, vănhọc còn có cáo, chiếu, biểu hịch Bởi vậy, quan điểm văn chương thời trung đạikhông có sự phân biệt giữa văn, sử, triết Người ta gọi “văn sử triết bất phân” Đờitrước khi cầm bút để chép sử hay luận về triết học, người ta có ý thức làm rõ củamột công trình khoa học Ai cầm bút cũng luôn vươn tới ý đẹp, lời hay mang nétthẩm mĩ Vì vậy, đó là những tác phẩm mang tính thẩm mĩ Văn học coi trọng cáiluân lí Những loại được coi trọng nhất là đạo đức, triết học, luân lí Những cuốn
Trang 14tiểu thuyết bị xem thường Nhà văn cảm thụ thế giới và cảm hứng thế giới khôngphải như một khách thể độc lập mà là có sự giao cảm giữa thi sĩ với thiên nhiên vàthế giới Điều này nó xuất phát từ quan niệm “thiên nhân tương cảm”, trời ngườicảm ứng với nhau Trong văn chương thường có bút pháp tượng trưng, ước lệ.Chẳng hạn tùng, cúc, trúc, mai tượng trưng cho người quân tử Các tác giả trung đạikhi sáng tác thông qua một hệ thống ước lệ rất chặt chẽ và phức tạp với ba tính chất
cơ bản sau Thứ nhất là tính chất uyên bác và cách điệu hoá cao độ Uyên bác thểhiện văn chương đầy những điển tích, điển cố Cách điệu hoá cao độ được nhà văntạo ra một thế giới nghệ thuật mang cốt cách cao sang không tầm thường Thứ hai,tính chất sùng cổ Cái gì càng xa xưa là chân lí, đạo lí Thứ ba, tính phi ngã, không
cá thể hoá, có khuynh hướng hoà cái tôi vào trong cái ta Cái tôi cá nhân, cái tôitrong sáng tạo nghệ thuật ít được chú trọng Văn học trung đại hướng về thế đạonhân tâm Từ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểuđến Phùng Khắc Khoan đều nói đến chức năng công dụng của văn học Điều này dochịu ảnh hưởng sâu sắc quan niệm văn học của Trung Quốc Trực tiếp là quan niệmcủa Khổng-Mạnh, quan niệm Nho giáo Khảo sát văn học Việt Nam Trung đại cảsáng tác cũng như lí luận, chúng tôi nhận thấy: thế nào là đặc trưng của văn học hayvăn học là gì?, cha ông ta có bàn đến tuy rằng không nhiều Ý kiến của Hoàng ĐứcLương: “văn chương là sắc đẹp cả ngoài sắc đẹp, là ngon ngoài cả vị ngon” Phan
Kế Bính: Ta xem trong sách, nghe những lời nghị luận…tươi như hoa, đẹp nhưgấm…gọi là văn chương của loài người Theo ông văn là đẹp, chương là sáng Vănchương là bức tranh vẽ cái đẹp của tạo hoá Phan Kế Bính chỉ ra khái quát ba yếu tố
cơ bản trong quan niệm văn chương là gì của các tác giả văn học Việt Nam trungđại:
Văn chương là một bức tranh khách thể
Văn chương là tư tưởng, tình cảm, là quan niệm của chủ thể
Trang 15Ngôn từ (lời nói) đòi hỏi phải sáng và đẹp.
Các tác giả trung đại thấy được việc sáng tạo văn học là việc luyện ý, câu, nhạc,luôn đặt văn chương trong nhiều mối quan hệ với Tâm – Trí - Đạo -Tình - Cảnh -Sự
- Nhạc - Thể cách… Ngô Thì Nhậm thì phát biểu: Văn chương để giúp đời Ôngcha ta thời trung đại nhấn mạnh chức năng xã hội học: cao cả, có quan hệ sâu sắcthế đạo nhân tâm
Tóm lại, văn chương để giáo hoá đạo lí, di dưỡng tính tình Văn chương làphương tiện để kí ngụ, cảm hoài, bộc lộ nỗi lòng Văn chương là một vũ khí để giúpđời, để bảo vệ thế nước tục dân Ở phương diện này, chúng ta thấy mệnh đề trongquan niệm của Nho giáo “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”
Về quan niệm thẩm mĩ: cái đẹp bao giờ cũng gắn với cái đạo đức, gắn với cáihữu ích, hữu dụng Tiêu chuẩn về cái đẹp theo quan niệm của cha ông ta là cái đẹpphải có sự cân đối, hài hoà Cấu trúc câu từ, chương, cú pháp, vần, đối…trở thànhtiêu chí hàng đầu Cái đẹp trong văn học trung đại thường được chưng cất rất côngphu Từ ngữ được tinh luyện, cô đúc, hàm súc, ý tại ngôn ngoại, lời hữu hạn, ý vôcùng, “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, thường được gắn với các điển tích, điển cố.Thiên nhiên làm chuẩn mực để đánh giá cái đẹp Nguyễn Du khi miêu tả vẻ đẹp chị
em Thuý Kiều “mỗi người một vẻ” đều gắn với các hình ảnh như: hoa, mây,tuyết…Điều này khác với văn học hiện đại nhất là trong thơ Xuân Diệu Tác giả đãlấy con người làm chuẩn mực của cái đẹp
Tác giả văn học trung đại với nhiều tên gọi “Thi ông”, “Ngâm ông”, “Vănnhân”, “Thi gia”, “Thi hào”… thường là đội ngũ tri thức, làm quan Họ được họcsách vở thánh hiền, thông thạo kiến thức kinh điển, ngay từ nhỏ đã được tiếp xúc,làm quen với nhiều hình thức thể cách của thi ca (thể, vần, đối, thanh…), lớn lênqua thi cử càng được tôi luyện “nghệ thuật ngôn từ”, thường giỏi chữ Hán, chữNôm và thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo nên trong quá trình sáng tác, họ
Trang 16chịu ảnh hưởng của hệ ý thức luận này “Nhìn từ góc độ ý thức hệ tư tưởng, vănhoá, thấy có hai kiểu tác giả chủ yếu trong văn học trung đại Việt Nam: kiểu tác giả
Thiền gia (xuất hiện sớm nhất) và kiểu tác giả Nho gia” (PGS.TS Biện Minh Điền
-Nghiên cứu văn học số 4-2005 ) Nhìn chung, cái tôi cá nhân, cá tính sáng tạo, cái
bản thể của nhà văn chưa được thể hiện đậm nét, chưa trở thành một xu thế chung.Nói như thế không có nghĩa là cái tôi nhà thơ bị xoá nhoà nhưng nó khá mờ nhạt.Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…đã đóng dấu ấnkhó phai mờ trong lịch sử văn học dân tộc bởi tài năng, bản lĩnh, nhân cách cũngnhư tư tưởng nhân văn sáng ngời Hồ Xuân Hương đầy tự tin, nói thẳng, muốn quẫyđạp, bứt tung, muốn vươn mình ra khỏi ao đời mờ nhạt, ra khỏi những định kiến phi
lí, hẹp hòi…để khẳng định mình, làm chủ số phận Nữ sĩ đã để lại nhiều dư vị, dưvang trong lòng bạn đọc bởi sự táo bạo, độc đáo hơn người, bởi tư tưởng rất hiệnđại Nguyễn Du khi viết “máu chảy đầu ngòi bút”, thấu hiểu lẽ đời và tình ngườinhưng tư tưởng còn chứa đầy mâu thuẫn, khi sáng tác ông còn bị ám ảnh, còn nặng
tư tưởng thiên mệnh “cái tài đi với cái tai một vần” nhưng mọi thế hệ người đọc
Việt Nam đều khâm phục tài năng, đức độ của ông Truyện Kiều của ông rất thành
công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật: khắc học ngoại hình, tính cách, tâm línhân vật ; xây dựng hai hệ thống nhân vật chính diện - phản diện với ý nghĩa phảnánh mâu thuẫn xã hội đương thời; bút pháp tả cảnh ngụ tình Tác phẩm còn là thànhtựu về ngôn ngữ thơ ca: phong phú, chính xác, đẹp đẽ và cũng chính Nguyễn Du đãđưa thể thơ lục bát lên đỉnh cao và trở nên mẫu mực về thể loại
Văn học trung đại Việt Nam chia làm bốn giai đoạn nhỏ Dựa vào nội dungcảm hứng, giáo sư Nguyễn Lộc chia như sau: Từ thế kỉ X-XIV Đây là giai đoạn tập
trung vào nội dung dân tộc, nội dung yêu nước như Quốc tộ của nhà sư Đỗ Pháp Thuận, Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, thơ văn Lí Trần, văn học kháng Minh…
xoay quanh hào khí Đông A, những vấn đề nhân sinh Từ thế kỉ XVI đến nửa đầu
Trang 17thế kỉ XVIII, văn học tập trung vào nội dung xã hội, ý thức nhận thức về xã hội,cảm hứng thế tục với Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan… Cảmhứng yêu nước phức tạp hơn Nội dung cơ bản là phê phán hủ lậu, những tệ nạn xãhội, giai cấp phong kiến đang suy tàn Từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX,
cảm hứng xã hội bao trùm Văn học đặt ra vấn đề con người cá nhân với Chinh phụ
ngâm của Đặng Trần Côn, Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm, thơ Hồ Xuân
Hương, các tác phẩm của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…Con người lúc này đòihỏi phải được giải phóng, với những nhu cầu khát vọng sống của nó được đảm bảo,nên trào lưu nhân đạo chủ nghĩa nổi lên rất đậm Văn học giai đoạn nửa sau thế kỉXIX, vấn đề dân tộc, vấn đề giải phóng được đặt ra do nhu cầu của xã hội “Cuộcthử lửa với phương Tây” Giai đoạn này ngọn lửa yêu nước được khơi dậy NguyễnĐình Chiểu là lá cơ đầu, có nhiều đóng góp nhất cho dòng văn chương yêu nướcchống Pháp nửa sau thể kỉ XIX
1.1.2 Các thể loại văn học trung đại Việt Nam
Thể loại là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng loại hình văn học vì là nơi nhận radiện mạo, đường nét của một loại hình văn học Loại (loại thể văn học) nhằm chỉquy luật loại hình của tác phẩm “Đó là sự tổ chức, sự sắp xếp các tác phẩm có cùngphương thức tiếp cận đối tượng nghệ thuật, có chung phương thức cấu trúc hìnhtượng và chung phương thức cấu trúc lời văn vào thành từng loại hoặc từngthể”(TS Lê Văn Dương) Loại có tự sự, trữ tình, kịch Quan niệm này có từ thờiAristote
Thể là khái niệm nhỏ hơn loại nằm trong loại hay còn gọi là thể loại Thể loạivăn học là một hình thức tổ chức ngôn từ theo một dạng thức nhất định nào đó thểhiện cảm xúc, những tư tưởng, tình cảm của con người trước một hiện tượng đờisống
Trang 18Thể loại mang tính lịch sử bởi sự xuất hiện của các thể loại trong lịch sử vănhọc của mỗi dân tộc được xác định bằng nhu cầu xã hội, bằng khả năng, bằng nhucầu hoạt động văn hoá Tính lịch sử thể loại được biểu hiện trên các mặt Mỗi thểloại chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học Sau đó, nóbiến đổi hoặc là được một thể loại mới bổ sung Các Mác: Thần thoại là một thểloại đi không trở lại Chức năng của từng thể loại tương quan giữa các thể loại mỗithời kì khác nhau Chức năng của thơ Đường luật trong văn học trung đại Việt Namkhác với chức năng của thơ Đường luật trong văn học hiện đại Việt Nam Do tư duynghệ thuật, trình độ tiếp nhận của từng thời kì là khác nhau Tính lịch sử của thểloại còn biểu hiện ở chỗ sự khác nhau của cùng một thể loại trong những thời kì lịch
sử khác nhau Thể loại mang tính loại hình Mỗi một thể loại thể hiện một giới hạntiếp xúc với đời sống, một cách tiếp cận, một trường quan sát, một quan niệm đốivới đời sống Mỗi thể loại qui định một cách giao tiếp với người đọc đồng nghĩamỗi thể, loại vừa có mặt ổn định nhưng đồng thời có mặt biến đổi vì các phươngthức phản ánh đời sống của văn học là có hạn Sự tiếp cận của con người với hiệnthực suy cho cùng là có ba cách: kể lại (tự sự), trực tiếp bộc lộ cảm xúc (trữ tình),diễn lại (kịch); do đặc điểm của phương thức tư duy nghệ thuật trong mỗi thời kìtrong là không giống nhau
Thể loại mang tính dân tộc vì thể loại gắn liền với ngôn ngữ, tâm lí, truyềnthống văn hoá của dân tộc Ngay cả những thể loại được coi là phổ biến ở nhiều dântộc thì vẫn có những nét riêng khác nhau
Thể loại văn học là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng loại hình của văn học TheoPGS.TS Biện Minh Điền, văn học trung đại Việt Nam hiện diện qua qua một hệthống thể loại với các đặc điểm nổi bật Thứ nhất, có sự hỗn dung, đan xen hay cóthể gọi là đậm tính nguyên hợp Chẳng hạn thể truyện truyền kì, thường có pha trộnthể loại Thể loại chính: văn xuôi pha trộn với văn vần (đoản thi hoặc phú hoặc văn
Trang 19tế) Cuối truyện thường có lời bình (văn nghị luận) Không phải tác giả truyệntruyền kì lộn xộn, tâm lí có vấn đề mà tác giả có ý thức thể hiện tài năng của mình
“khoe tài” Điều quan trọng hơn là tâm lí nhân vật phức tạp hơn nên cần có nhiềuphương diện để thể hiện Thứ hai, mang tính quy phạm cao, có đặc trưng thi pháphết sức chặt chẽ Thể thơ Đường luật là minh chứng tiêu biểu cho luận điểm này.Thứ ba, tên thể loại thường được nêu ngay từ đầu đề của tác phẩm B.L Ríptin nhậnxét: “Thể loại là một phạm trù chủ đạo được thể hiện trong cách thường xuyên nêubật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm” “Vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung
cổ của phương đông theo phương pháp loại hình” Tạp chí nghiên cứu văn học, số
2/ 1974 - B.L.Ríptin Quan niệm này nhìn chung là đúng nhưng chưa toàn diện,
chẳng hạn chữ “lục”, trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ thuộc thể loại truyện truyền kì, còn chữ “lục” trong Bắc hành tạp lục của Nguyến Du lại bằng thơ Thứ
tư, tên thể loại thường được gọi theo chức năng và nội dung của nó Chẳng hạn,chức năng của thể hịch: Lời đứng đầu một vương triều tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh mộtphong trào nhằm vạch rõ tội ác của đối phương và khích lệ mọi người chiến đấutiêu diệt kẻ thù
Do hoàn cảnh xã hội cũng như tư duy nghệ thuật của từng thời kì là khác nhaunên mỗi thể loại xuất hiện, phát triển, đạt đến đỉnh cao hoặc biến đổi, có thể “khôngtrở lại” Chẳng hạn, khi đất nước có ngoại xâm hoặc trong nước đang có nạn binhđao, loạn lạc, tranh vương, tranh bá thì thể hịch phát triển Khi giai cấp phong kiếnthối nát, phản động, đi lại lợi ích nhân dân, dân tộc thì thể loại truyện truyền kì pháttriển vì các tác giả trung đại đã mượn các yếu tố kì để tăng sự hấp dẫn cho tác phẩmcũng như giúp độc giả nhận thức xã hội, giáo huấn mọi người Khi đất nước thanhbình thì thường thể phú chiếm độc tôn bởi phú thường dùng trong thi cử, để ca ngợivương triều, đặc biệt các tác giả phú qua tác phẩm của mình khuyên vua một cáchkín đáo bằng cách ca ngợi công lao, đức độ, chiến công của người xưa…Khi quyền
Trang 20sống con người bị xâm phạm, ý thức cá nhân bùng lên mạnh mẽ thì truyện thơ pháttriển Tóm lại, chính nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại.
Diễn trình các thể loại văn học trung đại Việt Nam Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV,đây là giai đoạn chúng ta hoàn toàn vay mượn các thể loại Trung Quốc như thơ cổphong, thơ Đường luật…Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII, sang thế kỉ XV, bắt đầu
xuất hiện tác phẩm văn học dân tộc như tác phẩm: Bồ đề thắng cảnh thi trích trong
Lê triều ngự chế quốc âm thi thuộc thể song thất lục bát.
Bài Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng của Lê Đức Mao (1504) thuộc thể hát ả đào Năm 1700 xuất hiện tác phẩm: Song tinh bất dạ của Nguyễn Hữu Hào theo thể loại
truyện Nôm
Bên cạnh xuất hiện những thể loại nội sinh còn có những thể loại ngoại nhập.Đây cũng là giai đoạn phát triển đột khởi của truyện truyền kì như tập truyện
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Đến giai đoạn này các thể loại thuộc văn học
hành chức như: thể cáo, hịch, chiếu… nhường vị trí cho các loại hình văn học hìnhtượng; chú ý đến cấu tạo Điều đó cho thấy những phương thức trong tư duy, trongcách nhận thức đời sống của các tác giả trung đại có sự phát triển Giai đoạn từ thế
kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là giai đoạn phát triển đầy đủ các thể loại đã có và mớixuất hiện trong văn học Việt nam Đến giữa thế kỉ XIX, sự phát triển này tương ứngvới nội dung, chức năng của các thể loại Một số thể loại tiêu biểu của giai đoạn này
như Truyện Nôm: Song tinh bất dạ của Nguyễn Hữu Hào, tiểu thuyết chương hồi:
Nam Triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm; thể ngâm khúc như Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn; Chim trong lồng của Nguyễn Hữu Cầu
báo hiệu cho thể loại hát nói Giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, giai đoạn cuối của vănhọc trung đại Việt nam Giai đoạn này có sự chi phối mãnh liệt của thực dân Pháp,
sự chống quân xâm lược của nhân dân ta nên văn học có sự thay đổi về nội dung
Về mặt thể loại, có những thay đổi một số thể loại dài hơi như: ngâm khúc, tiểu
Trang 21thuyết chương hồi…các thể loại ngắn phát triển mạnh như thơ cổ phong, thể hátnói, văn tế, thơ Đường luật…một số thể loại văn vần được bảo lưu thành tựu nhưthơ đường luật Một số thể loại mang tính hiện đại dưới hình thức chữ quốc ngữ
xuất hiện như thể loại du kí tiêu biểu là Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Kí Tiểu thuyết: Thầy La zô rô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887)
1.1.3 Chức năng của một số thể loại văn học trung đại Việt Nam
Văn học có vai trò, giá trị rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn, nhâncách, năng lực cảm thụ văn học của người đọc Xét từ bình diện lao động nhà vănthể hiện chức năng văn học tức là nhằm trả lời câu hỏi: sáng tác văn học để làm gì?nhằm mục đích nào?
Chức năng văn học thống nhất trong đa dạng Tính thống nhất biểu hiện: vănhọc góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho con người hay bồi dưỡng nhân cáchcho con người Tính đa dạng được biểu hiện văn học giúp cho con người tự bồidưỡng tình cảm, tư tưởng thẩm mĩ cho mỗi con người có rất nhiều khía cạnh So vớicác hình thái khác mỗi chức năng của từng văn học có tính đặc thù riêng Chứcnăng của văn học cũng có quan điểm lịch sử Ví dụ, xét trong các giai đoạn pháttriển của văn học trung đại thì giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, cảm hứng yêunước nổi lên rất đậm, vai trò của chức năng giáo dục rất lớn nhưng đến giai đoạnnửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, vai trò của chức năng nhận thức…Chứcnăng của văn học được biểu hiện trên nhiều khía cạnh: chức năng nhận thức tức lànói đến khả năng đáp ứng sự hiểu biết của văn học cho con người và thế giới Vănhọc chú ý sự tìm tòi cùng một lúc cả hai hướng: khám phá những quy luật kháchquan và đi sâu vào những bí ẩn của thế giới bên trong của con người Secnưsepxki(Nga) nhận xét “Văn học là cuốn bách khoa thư về cuộc sống”, thật toàn diện vàthấu đáo Chức năng giáo dục, văn học có khả năng có thể cải tạo, xây dựng conngười, giúp con người sống tốt hơn, đẹp hơn Điều đó được thể hiện, văn học làm
Trang 22cho tình cảm con người lành mạnh, tâm hồn trong sáng, giúp con người trọng lẽphải, giúp con người có tính người, góp phần nhân đạo hoá con người Chức năngthẩm mĩ là chức năng quan trọng nhất của văn học vì cái đẹp trong nghệ thuật caohơn cái đẹp trong đời sống, cái đẹp được điển hình hoá, được lí giải Bên cạnh đó,văn học còn có các chức năng như chức năng giao tiếp, chức năng dự báo… Cácchức năng này chỉ tách rời nhau về mặt lí thuyết Trong tác phẩm, các phương diệntrong chức năng văn học trong một chỉnh thể thống nhất định hình không tách rời vàkhi tiếp xúc với tác phẩm, các mặt trong chức năng cùng đến một lần nhưng trên cơ
sở nền tảng thẩm mĩ, trên cơ sở xúc động thẩm mĩ
Chức năng của thể loại lại nằm trong chức năng của văn học bởi mỗi thể loạivăn học lại có giới hạn tiếp xúc, một cách tiếp cận, một trường quan sát, một quanniệm đối với đời sống Chức năng của thơ Đường luật khác với thể thơ lục bát,truyện truyền kí khác với kí, tiểu thuyết chương hồi khác với phú…Chẳng hạn,chức năng của thể cáo: một thể văn thư nhà vua dùng để ban bố cho thần dân nhằmtrình bày chủ trương, công bố kết quả một sự nghiệp Chức năng của thể hịch nhằmvạch rõ tội ác của đối phương và khích lệ mọi người chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù.Chức năng của thể phú: dùng để phúng gián có nghĩa là khuyên vua một cách kínđáo Bên cạnh đó phú cũng có chức năng tả chí Thể loại văn tế thì nổi lên với nămchức năng: kể tính nết, công đức của người chết và bày tỏ sự thương tiếc của ngườicúng tế; dùng văn tế để đả kích; dùng văn tế để tế người sống; dùng văn tế để bày tỏlòng biết ơn và tự phê phán; dùng để vĩnh biệt các tệ nạn.Trong năm chức năng củavăn tế thì chức năng đầu tiên là quan trọng nhất…Chúng tôi sẽ nói kĩ một số chứcnăng của một số thể loại mà chúng tôi sẽ khảo sát trong chương sau
Trang 23
1.2 Các hình thức để thể hiện chức năng của văn học trung đại Việt Nam 1.2.1 Hình thức bên ngoài
Tác phẩm văn học cũng như mọi khách thể khác đều tồn tại ở hai phương diệnhình thức: hình thức bên trong và hình thức bên ngoài Hêghen cho rằng: hình thứcđồng thời vừa chứa đựng nội dung vừa là một cái gì nằm ngoài nội dung Cái gìnằm ngoài nội dung là biểu hiện sinh động cá biệt Đó là hình thức bên ngoài Hìnhthức bên ngoài của tác phẩm văn học là thể văn (văn xuôi, thơ, kịch) Chẳng hạn,thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật gồm có tám câu, mỗi câu bảy chữ, gồm có bốnphần: hai câu đề; hai câu thực; hai câu luận; hai câu kết Phú thuộc thể loại bán thibán văn Tính chất thơ được thể hiện ở chỗ: có vần, có nhịp điệu còn tính chất vănxuôi được thể hiện ở chỗ câu văn dài ngắn khác nhau Truyện thơ nôm trung đại lúcđầu được sáng tác theo thơ Đường luật, sau đó chủ yếu được sáng tác theo thể thơlục bát Bên cạnh thể văn, hình thức bên ngoài còn được thể hiện rõ ở các biện pháp
tu từ được tác giả sử dụng như nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, thậmxưng, đối…
1.2.2 Hình thức bên trong
Sáng tạo ra tác phẩm văn học, nhà văn bắt đầu bằng việc sáng tạo hình thức màtrước hết là trước hết là hình thức bên ngoài để cho tác phẩm có một sự tồn tại cụthể giống với hiện thực đời sống nhưng nhà văn sáng tạo ra tác phẩm chủ yếu là đểthể hiện cái quan niệm về con người và cuộc đời Do đó, họ phải tạo ra các hìnhthức mang tính quan niệm riêng của mình về và đó là hình thức bên trong Hìnhthức bên trong là hình thức chứa đựng những nội dung, tư tưởng và cá tính sáng tạođộc đáo của nhà văn
Nguyễn Trãi là một con người đa tài ,nhiệt huyết yêu nước, “đêm ngày cuồncuộn nước triều dâng” nhưng gặp nhiều oan khiên thảm khốc Sự nghiệp văn họccủa ông khá đồ sộ và đạt nhiều thành tựu ở cả thơ ca cũng như văn xuôi, văn biền
Trang 24ngẫu Quốc âm thi tập là tập thơ có những dấu ấn khó phai mờ Tập thơ được sáng
tác theo thể thơ đường luật nhưng có nhiều cách tân về hình thức thơ và qua đó thểhiện con người cũng như “cái chí” của ông Thứ nhất đó là, tác giả đã xen vào bàithơ Đường luật câu thơ sáu chữ gọi là thơ đường luật xen lục ngôn Theo khảo sátcủa các nhà nghiên cứu, trong tập thơ có tới 72% số bài có hiện tượng này Thứ hai,nếu trong thơ đường luật có quy định rất chặt chẽ về số câu, đối, nhịp phải là chẵntrước 4/3 hoặc 2/2/3 “ luật thơ nghiêm như luật hình ” (Phạm Quỳnh) thì cũng trong
tập thơ này có khoảng 1/5 câu thơ Nôm ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau Bài Bảo kính
cảnh giới, 43 (Gương báu răn mình, bài số 43), thể hiện khá rõ điều đó :
Rồi, hóng mát thưở ngày trường,
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương
Bài thơ trên có hai câu sáu chữ xen vào và có những câu ngắt nhịp lẻ trước,chẵn sau (3/4) như:
Thạch lựu hiên/ còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì/ đã tịn mùi hương
Sự cách tân về hình thức đó đã thể hiện cá tính sáng tạo của tác giả, không chịurập khuôn máy móc và đặc biệt quan trọng nhấn mạnh điểm kết tự của hồn thơ ỨcTrai là dân tộc, là đất nước, là nhân dân Trong bài thơ trên là mong ước cháy bỏngcủa tác giả không phải cho bản thân được vinh hoa phú quý mà làm sao cho nhândân luôn được sống trong thanh bình, ấm no
Trang 25Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng có nhiều cách tân đầy sáng tạo Thứ nhất, bà sửdụng rất nhiều từ thuần Việt có tính chất động như: các thành ngữ, tục ngữ, các từláy, đặc biệt là việc gieo những vần chết, rất oái ăm nhưng hết sức độc đáo Từ ngữsinh ra vần Nó có hai thanh, âm trầm bổng, thanh trắc bằng Mỗi từ có phần vần,phần vần bao giờ cũng có khả năng lôi kéo âm thanh, làm cho từ ngữ rất sinh động.
Từ vần này, Hồ Xuân Hương đã dùng những từ lấp láy tạo ra vần lắt léo nhiều như:rúc rích, vo ve, xù xì, khom khom…tạo ra âm thanh cao mà đặc sắc của tiếng cười
là âm thanh cao Vần ênh trong bài Chiếc bánh: nổi nênh, lênh đênh, gập ghềnh, tấp
tênh gợi cái gì đó bấp bênh, mong manh, dễ tan vỡ hoặc vần eo trong bài Quán
khánh như vẽ ra cảnh cheo leo, hiểm trở:
Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo !
Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ kèo tre đốt khẳng kheo
Ba chạc cây xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biếc cảnh leo teo,
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai nó lộn lèo!
Có những từ ngữ không thể đưa vào văn chương được nhưng con người “không
những độc đáo mà hai lần độc đáo” (Xuân Diệu – Bà chúa thơ Nôm) đưa vào được:
le te, rầu rĩ, khẳng kheo…Đây là một tài nghệ của bà Nó linh lợi không quê mùa
So với Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Du,Nguyễn Khuyễn, Chu Mạnh Trinh…ta thấy phần lớn những người này đều giốngnhau Họ tìm đến thiên nhiên, coi thiên nhiên như bầu bạn, như người tri âm, tri kỉ,khi họ chán ghét cuộc sống Thiên nhiên là nơi họ thoát khỏi trần tục Khi trở về vớithiên nhiên, tâm hồn họ thanh thản như “rửa ráy” được những dơ bẩn Họ có nhân
Trang 26cách hơn, thanh thản hơn Họ tìm cách hoà nhập với thiên nhiên nên họ hay nhâncách hoá thiên nhiên-biến thiên nhiên thành những con người Giọng điệu khác biệtqua từng bài, từng cảnh thiên nhiên Trong từng bài có phong cách, cú pháp riêng
do nhu cầu cảm xúc khác nhau Hồ Xuân Hương không hề coi thiên nhiên như bạn.Khi đến với thiên nhiên bà không thanh thản Bà cũng không nhân cách hoá thiênnhiên Bà nhìn thấy ở thiên nhiên như cái vốn có và bà đã gán cho nó những tínhchất, những khát vọng, cái chí mà mình mong muốn có, thực hiện Vì vậy, thơ thiênnhiên của Hồ Xuân Hương như một cái máy, như một cảm quan để ghi nhận cáitình thiên nhiên mà Hồ Xuân Hương dành cho thiên nhiên, cho cuộc sống Tất cảđều có sức sống rất thật:
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc,
Thớt dưới sương pha đượm má hồng
mà giọng điệu, cảnh sắc, âm thanh có khi thay đổi:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
(Tự tình 2)
Hay: Oán hận trông ra khắp mọi chòm
(Tự tình1)
Trang 27Thiên nhiên không gượng mà xuất hiện rất tươi tắn Trong chừng mực nào đó,tác giả “dựng dậy” một thiên nhiên tưởng bình thường nhưng cao rộng, có hìnhkhối, màu sắc, âm thanh, chấp cánh cho nhà thơ vươn tới những cảm xúc vũ trụ:
Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng thử coi đất ngắn dài
Nhịp thơ cũng được nữ sĩ biến đổi cho phù hợp với cảm xúc, tâm trạng Chẳng
hạn là nhịp 1/3/3 trong bài thơ Tự tình: Trơ/ cái hồng nhan/ với nước non hay Này/ của Xuân Hương/ đã quệt rồi trong bài Mời trầu…Tất cả góp phần thể hiện cá tính,
sự táo bạo, không chịu rập khuôn của con người ưa vận động, có hoài bão tunghoành, có sức sống mãnh liệt nhưng đồng thời cũng thể hiện rõ sự lắt léo, trắc trở,không phẳng lặng trong cuộc đời của nữ sĩ
Nguyễn Du khi miêu tả Thuý Vân, Thuý Kiều cũng thể hiện quan niệm rõ Vẻ đẹp của Thuý Vân là: trang trọng, khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang, hoa cười ngọc thốt, mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Một vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang, tròn đầy, báo hiệu cuộc sống yên ổn, phẳng lặng về sau Còn vẻ đẹp của ThuýKiều khiến hoa phải ghen, liễu phải hờn báo hiệu cuộc sống đa đoan nhiều trắc trở, gập ghềnh, sóng gió Rõ ràng, những tác giả trên đã tạo ra “vân chữ” riêng, những hình thức độc đáo trong lịch sử văn học dân tộc
Trang 28Chương 2 CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI VẬN VĂN 2.1 Chức năng thơ trữ tình trung đại Việt Nam
Thơ ca là thể loại phát triển khá sớm và chiếm ưu thế trong nền văn học dântộc Người xưa đã dùng thơ ca để chuyển tải những tư tưởng, tình cảm, những ước
mơ khát vọng, những trạng thái tâm trạng, để phản ánh hiện thực Nhà thơ qua tácphẩm của mình đã gửi gắm tiếng lòng đang thổn thức, đang gào thét, những trăn trởbăn khoăn về lẽ đời, tình người Đọc tác phẩm, độc giả sẽ cảm nhận được thế giớitình cảm phong phú đó, những chân lí cuộc sống, những phát hiện về cái đẹp củacuộc đời được người nghệ sĩ chuyển tải qua một hình thức nghệ thuật không lặp lại.Nhà thơ qua tác phẩm thể hiện mình, tìm kiếm mình Một tác phẩm thực sự có giátrị phải là tác phẩm mới mẻ về nội dung và độc đáo về hình thức thể hiện, là bônghoa trông thấy lần đầu, lần cuối, gợi cho người đọc một sự rung động thực sự, cónhững liên tưởng sâu xa, chứa đựng ý nghĩa nhân văn sâu sắc Tác phẩm “như mộtcuộc hành trình mở” (PGS.TS Trương Đăng Dung) để người đọc không ngừng tìmtòi, cắt nghĩa, lí giải, suy tưởng không biết chán
Ở phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam, thơ ca là loại hìnhphát triển nhất vì một số lí do sau Thứ nhất, một số triều đại phong kiến có tổ chứcthi thơ để tuyển chọn nhân tài Thứ hai, xã hội Việt Nam là xã hội có nền văn minhnông nghiệp phát triển lâu đời, mà con người trong xã hội ấy có tư duy trữ tình pháttriển, có thế giới nội tâm phong phú Họ thường sống kín đáo, khép mình Điều nàykhác với các nước có ngành thương nghiệp, công nghiệp phát triển khá sớm Conngười trong xã hôi ấy thường cởi mở, hoạt bát hơn, tư duy giao tiếp phát triển hơnnên gắn với hình thức văn xuôi, kịch phát triển hơn
Thơ ca cùng với các hình thức nghệ thuật khác ngày càng phát triển Chúng tôi
đã khảo sát, nghiên cứu một số khái niệm về thơ mà chúng tôi cho là khả thoả đáng
Trang 29Bạch Cư Dị đời Đường trong thư gửi Nguyên Chẩn (kí Nguyên Cửu) đưa ra
thuyết cây thơ rất được các nhà thơ ngày xưa tán thành và ngày nay nó vẫn có giátrị: ‘Thi dã: căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thục nghĩa” Giáo sư Nguyễn Khắc Phidịch: với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa.Câu nói đầy hình ảnh và đặc biệt nó thể hiện khá đầy đủ thấu đáo bản chất của thơ.Thứ nhất, tác giả nêu lên được những yếu tố then chốt cơ bản của thơ: tình, ngônngữ, âm thanh, ý nghĩa Thứ hai, tác giả chỉ ra được các mối liên hệ giữa các yếu tố
đó trong một chỉnh thể sống động Tuy nhiên, quan niệm về thơ của ông cũng bịkhống chế bởi tư tưởng, quan niệm của các nhà thơ ngày xưa: tình là đạo lí, nghĩakhông phải là mọi ý nghĩa mà nó phải mang tải một chân lí Hơn nữa tình cảm trongthơ phải khác với tình cảm thông thường Nó phải đạt đến độ mãnh liệt, cao trào;phải là thứ tình cảm kết tinh, phải mang giá trị nhất định Tác giả chưa nói rõ điềunày
Quan niệm thơ của các nhà cấu trúc chủ nghĩa lại hướng sự tìm tòi vào đặctrưng cấu trúc của ngôn ngữ thơ Tương tác phổ biến của họ là phân biệt đối lậpngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ mang tính chất thơ
Jakobson viết: “Nhưng tính chất thơ được hiểu ra như thế nào? Theo cái cách từngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải là vật thay thế đơn giản, đạilượng được chỉ định theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa củachúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng Không phải là các dấu hiệu vô
hồn của hiện thực mà còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng của chúng” Thơ là gì?
Jackobson dịch tạp chí văn học 1996 Quan niệm này cũng gần như trùng hợp với
với một số nhà văn, nhà thơ khác như Valey, Breton, Satre…khi họ đối sánh ngônngữ văn xuôi với thơ hay
Tiếp tục triển khai lí thuyết về tính tự quy chiếu của ngôn ngữ thơ nói trêntrong tiểu thuyết luận ngôn ngữ và thi ca, sau khi nhắc lại về hai thao tác của hành
Trang 30động ngôn ngữ là lựa chọn và kết hợp, Jackobson nêu một sự kết hợp rất cơ bản vềchức năng thơ ca là đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa lên trục kết hợp
Từ một số ý kiến trên, chúng ta có thể nêu lên một số đặc điểm về thơ trữ tình Thứ nhất, xét về phương thức tiếp cận đối tượng nghệ thuật, tác giả không xâydựng những tính cách hoàn chỉnh, đa dạng các biến cố, có mở đầu, phát triển và cókết thúc mà chủ yếu là thông qua con đường bộc lộ trực tiếp cảm xúc của tác giả vàcủa nhân vật trữ tình Khác tự sự và kịch ở nhận thức nghệ thuật, trong tác phẩm trữtình không có sự tái hiện mở rộng và chi tiết về các sự kiện, các hành vi các quan hệqua lại của con người mà trữ tình nắm bắt thế giới bên trong của con người Nói thơ
ca trữ tình chủ yếu là thơ ca chủ quan nội tại , là sự biểu hiện của chính nhà thơ nhưBêlinxki là rất thoả đáng “Trong tác phẩm trữ tình, nhà thơ không nhằm mục đích
kể và tả những điều quan sát trong thế giới hiện thực mà chủ yếu là những điều xảy
ra trong thế giới nội tâm và cũng chính vì vậy việc tái hiện các quan hệ xã hội, cáchứng xử của con người với con người trong tác phẩm trữ tình không đóng vai trò gìlớn và phổ biến Do không có sự tái hiện ấy như trong tác phẩm tự sự hay nói cáchkhác tác phẩm trữ tình nhằm thể hiện phương diện chủ thể của thế giới, do đó việcmiêu tả thế giới bên ngoài, những cảnh đời bên ngoài nếu có chỉ nhằm phục vụnhiệm vụ trữ tình” (TS Lê Văn Dương)
Thứ hai, xét về phương thức cấu trúc hình tượng, tác phẩm trữ tình phổ biến làkhông có cốt truyện hiểu theo nghĩa chặt chẽ nhất của thuật ngữ cốt truyện vì tácphẩm trữ tình bộc lộ cảm xúc Dung lượng tác phẩm trữ tình thường là ngắn vì trạngthái cảm xúc khó có thể kéo dài Ở tác phẩm trữ tình, cái tôi trữ tình chiếm vai tròhết sức quan trọng và thường xuất hiện dưới dạng nhân vật trữ tình Ở đây cần phânbiệt khái niệm cái tôi trữ tình với nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình nhằm chỉ hìnhtượng người đang thực hiện, thể hiện trực tiếp cảm xúc, ý nghĩ Còn cái tôi trữ tìnhthống nhất nhưng không đồng nhất với nhân vật trữ tình Cái tôi nghiêng về diện
Trang 31mạo riêng, độc đáo nổi bật trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ Trái lại nhân vật trữtình chỉ là một bộ phận của cái tôi trữ tình Mỗi quan hệ giữa giữa nhà thơ và nhânvật trữ tình được biểu hiện trên hai mặt Nhà thơ là một cá nhân có tiểu sử xác địnhvới một nhân vật trữ tình được nhà thơ sáng tạo ra thì giống như nguyên mẫu trongđời thường với điển hình nghệ thuật nghĩa là người ta xem nhân vật trữ tình là mộthiện tượng khái quát như là một tính cách văn học được sáng tác trên cơ sở lấy sựthật trong tiểu sử nhà thơ làm nguyên mẫu Ở đây tính tư liệu của việc biểu hiện trữtình, sự quan sát của bản thân nhà thơ, sự bộc bạch phải chiếm ưu thế so với hư cấu,
so với tưởng tượng Cùng với hiện tượng do mình sáng tạo ra, nhà thơ bày tỏ tìnhcảm chân thành của bản thân trong những tình huống trữ tình tới mức người đọc tinrằng những tình cảm ấy là thực, là thật Chúng ta không nên đối lập nhân vật vật trữtình với nhà thơ vì: văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Vì vậy,sáng tác của bất kì của một nhà thơ nào bao giờ cũng bằng cách này hay cách khácbao giờ cũng gắn với tiểu sử của nhà thơ đó Không đối lập nhưng cũng không đồngnhất nhân vật trữ tình với bản thân nhà thơ vì nhân vật trữ tình là một hiện tượngnghệ thuật có mặt trong tác phẩm mang theo một giọng điệu, một cách nghĩ, mộtcách cảm, một cách nhìn nhất định Ngược lại tác giả tức là nhà thơ là một conngười có thật ở ngoài đời với tiểu sử cụ thể mà giữa văn và đời, giữa kết quả sángtạo và đời sống thực luôn luôn có một khoảng cách nhất định vì nhân vật trữ tìnhgắn với cách cảm, gắn với cách nghĩ trong từng tình huống trữ tình cụ thể khiến chocùng một tác giả nhưng có thể có nhiều nhân vật trữ tình khác nhau Trong tácphẩm trữ tình, nhà thơ thường hiện diện như người đại diện cho xã hội, cho thời đại
và cho nhân loại nghĩa là nhà thơ đã tự nâng mình lên một tầm khác với cái tôitrong đời sống cá biệt Trong tác phẩm trữ tình, nhân vật trữ tình thường xuất hiệndưới hai dạng: nhân vật tự thuật tâm trạng như tâm trạng của nữ sĩ Hồ Xuân Hươngtrong chùm thơ tự tình; nhân vật trữ tình nhập vai như người chinh phụ do tác giả
Trang 32nhập vai trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Trong nhân vật trữ tình nhập
vai có hai dạng: nhân vật trữ tình nhập vai vào tâm trạng và nhân vật trữ tình nhậpvai vào hiện tượng thiên nhiên Nhân vật trữ tình cũng khác với đối tượng trữ tình.Đối tượng trữ tình là đối tượng để người viết trang trải nỗi niềm thường là nguyênnhân khơi gợi cảm xúc cho người viết
Thứ ba, xét về phương thức cấu trúc lời văn, về mặt tổ chức, câu thơ trong tácphẩm trữ tình phân theo dòng, cuối dòng thường có vần Thơ trữ tình cũng như cácloại hình nghệ thuật khác cũng sử dụng các phương thức tu từ như ẩn dụ, hoán dụ,nói lái, độc ngược, độc xuôi, nói lửng, chiết tự Ngôn từ thơ trữ tình hàm súc, giàutính nhạc Tính nhạc được thể hiện trên ba mặt: sự cân đối, sự trầm bổng, sự trùngđiệp Sự cân đối được thể hiện ở sự hài hoà của các dòng thơ Sự trầm bổng đượcthể hiện ở sự thay đổi các âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh bằng và thanhtrắc Sự trùng điệp được thể hiện việc dùng vần, điệp câu, điệp ngữ, láy đi láy lại cótác dụng dính nối các dòng thơ lại với nhau giúp người đọc dễ nhớ, dễ thuộc Ngôngữ thơ trữ tình giàu tính biểu tượng, sử dụng hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng Đến với thơ trữ tình, người đọc có một tâm thế tiếp nhận đặc biệt Đó là xemtiếng nói trữ tình trong thơ cũng là tiếng nói trữ tình của mình Khi sự đồng nhấtgiữa nhân vật trữ tình và người đọc thơ được thể hiện, thế giới trữ tình bỗng trởthành một thế giới mở, hiểu theo nghĩa thời gian, không gian được nhắc trong đóbỗng trở thành thế giới biểu trương mà ý nghĩa không còn bị đóng khuôn trongtrong những hình thái cá biệt cụ thể nữa
“Thơ trữ tình cổ điển là sản phẩm tinh tuý của thời trung đại, thời thống trị của
ý thức về tính bất biến của vũ trụ, về sự thống hợp của thế giới, sự đồng nhất của bayếu tố: thiên, địa, nhân Thời mà người ta nhìn nhận sự thay đổi trong xã hội chỉ làmột sự thay đổi luân chuyển tuần hoàn khép kín, thời của khuôn vàng thước ngọc
áp đặt lên mọi ứng xử, hành động của con người kể cả hành động sáng tạo nghệ
Trang 33thuật” (TS Phan Huy Dũng) Thơ trữ tình cổ điển với ba thể thơ tiêu biểu: thơĐường luật, thể hát nói, thể ngâm khúc Thơ cổ điển có niêm luật chặt chẽ với vần,đối, nhịp, số câu, số từ được quy định nghiêm ngặt, hầu như không sử dụng hư từ.Nội dung bài thơ được dồn vào từ, hình ảnh Điều này khác với thơ ca hiện đại Đa
số các bài thơ được sáng tác theo thể thơ tự do, hay thơ văn xuôi đều không quyđịnh số câu, số từ (trong thơ tự do câu thơ dài nhất thường không quá 12 âm tiết ),vần ( trong thơ văn xuôi không yêu cầu phải có hiệp vần) đối, nhịp điệu cũng thayđổi buông lơi theo dòng cảm xúc Nội dung bài thơ không chỉ được thể hiện qua từ,hình ảnh, mà còn thể hiện ở nhịp, giọng điệu Trong thơ văn xuôi, chúng ta thườngthấy có các hình thức lập luận: nếu…thì, hình thức đối thoại gạch đầu dòng…Tất cảnhững yếu tố trên góp phần chuyển tải được nhiều trạng thái tâm lí khác nhau,những vẫn đề nhân sinh, những thông điệp cuộc sống mà người nghệ sĩ muốn tâm
sự cũng bạn đọc
Thơ Đường luật hay còn gọi là thơ cận thể hay thơ cách luật là thể thơ đượcchuyển hoá ở đời Đường Trung Quốc Thơ đường luật có ba dạng: bát cú, tứ tuyệt,bài luật hay trường luật là loại thơ có vần, có đối, dài từ 20 câu trở lên
Thơ Đường luật xuất hiện khá sớm Thi phẩm Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận
được xem là bài thơ Đường luật đầu tiên Sang thế kỉ XV có những tập thơ quy mô
được sáng tác theo thể thơ Đường luật như tập thơ được viết bằng chữ Hán: Ức Trai
thi tập Đặc biệt xu hướng Việt hoá thơ đường luật được biểu hiện mạnh mẽ Tập
thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có 71/ 254 bài là thơ Đường luật Từ thế kỉ
XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII có những tập thơ đường luật Quy mô được viết bằng
chữ quốc âm như Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm có đến 1000 bài,
hiện tại còn hai phần Tập thơ Nôm của Trịnh Căn có 100 bài thơ Nôm đường luật.Hiện tượng độc đáo là liên kết những thơ đường luật để tạo thành truyện thơ như:Vương Tường, Tô Công phụng sứ, Lâm tuyền kì ngộ Từ nửa sau thế kỉ XVIII đến
Trang 34nửa đầu thế kỉ XIX, thơ Đường luật vẫn là thể được sử dụng nhiều nhất Đặc biệtthơ đường luật có sự biến đổi về phong cách Nửa sau thế kỉ XIX, thơ Đường luậtđạt nhiều thành tựu và có khuynh hướng trào phúng.
Thơ Đường luật hay còn gọi là thơ cận thể phải đáp ứng được sáu yêu cầu cơbản sau:
Về bố cục, gọi 4 câu: nhất, nhị, tam, tứ; 4 liên, liên đầu (câu 1- câu 2), liên cằm(câu 3-4), liên cổ (câu 5-6), liên đuôi (câu 7-8) Đến đời Nguyên, Dương Tải gọitheo chức năng: khai- thừa- chuyển - hợp Ở Việt Nam gọi là đề- thực- luận- kết
Về niêm (dính) Dính hai câu thơ thuộc hai liên khác nhau Nguyên tắc dính:lấy câu thơ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên cùng thanh với câu hai của câu thứhai của câu lẻ thuộc liên dưới Một bài thơ Đường luật có bốn chỗ dính
Về luật: sự đối thanh theo chiều ngang Sự phân phối bằng trắc trong thơ cậnthể khác nhau
Về vần: vị trí của vần, vần chân (cước vận) rơi vào câu 1 và các câu chẵn Cónăm chỗ hiệp vần, chủ yếu vần bằng Số lượng: năm
Về đối : vần thứ hai và thứ ba đối: đối tứ, đối ý, đối thanh
Về nhịp (tiết tấu): Do thơ Đường luật có thi pháp rất chặt chẽ, người Trung Hoađặt ra một số lệ đặc biệt: bất luận, nhất - tam - ngũ bất luận; nhị - tứ - lục phânminh
Thơ Đường luật chấp nhận hiện tượng chiết vận, lạc vận, tạo ra một số câu thơđộc đáo: cô nhạn xuất quần, cô nhạn nhập quần, thất minh, thất luật
Tóm lại, đây là một thể loại thuộc thơ trữ tình thời trung đại Việt Nam có cácchức năng và nội dung, mang tính quy phạm cao
2.1.1 Thơ tỏ chí theo kiểu trực tiếp
Người ta thường nói, thơ trữ tình cổ điển là thơ trữ tình tỏ chí, nói chí dù viết về
đề tài gì, các thi nhân cũng không quên nói lên cái chí của mình “Nhưng theo một
Trang 35cái nhìn phân loại cụ thể, chúng ta vẫn có thể nói tới một loại thơ tả chí riêng trongcái loại biệt thơ ấy mà đặc điểm nổi bật của thể thơ ấy là nhà thơ trực tiếp bày tỏ chí khí, ý nguyện, hoài bão của mình.” ( TS Phan Huy Dũng).
Ý niệm “thi ngôn chí” là một ý niệm có từ thời Nghiêu Thuấn Nó thường đượcnhắc đến như một mệnh đề mĩ học, nói về bản chất của thơ nói chung Từ “chí”theo từ nguyên Trung Quốc có nghĩa là kí ức, ghi chép, chí hướng, hoài bão TừMao thi tự, “chí” hợp với “tình” Các nhà thơ Việt Nam dường như là không ai nóiđến (hoặc bằng nghị luận hoặc bằng cảm xúc, hình ảnh thơ ) rằng: “ Thơ là để nóichí” Vấn đề là chí đặt ở đâu?, “Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh,
có kẻ chí để ở sự nhàn dật” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) “Nếu chí mà ở đạo đức thì tấtphát ra lời lẽ hồn hậu; chí mà ở sự nghiệp thì tất nhả ra khí phách hào hùng; chí ởrừng, suối, gò hoang thì thích giọng thơ liêu tịch; chí ở gió mây, trăng, tuyết thìthích vẻ thơ thanh cao; chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư; chí ở niềm cảmthương thì làm ra điệu thơ ai oán” (Phùng Khắc Khoan)… Các tác giả trung đạiViệt Nam có thể đặt chí trước nhiều bối cảnh, tình huống, quan hệ khác nhau,nhưng nhìn chung, họ vẫn “ưu tiên cho việc đặt nó trước quan hệ với nghĩa lớn, vớivận mệnh của đất nước” Và vũ trụ, càn khôn luôn luôn là không gian lí tưởng cho
sự hiện diện của con người “hữu chí”, “ nam nhi chí”
Ngôn hoài, cảm hoài, thuật hoài, thuật hứng, tức sự…là những nhan đề quenthuộc trong thơ ca trung đại
Xuất phát từ đặc điểm trên nên cái tứ phổ biến trong tâm trạng của loại thơ nàyđược triển khai dựa trên sự đối lập nhưng đồng nhất giữa nhân vật trữ tình với cácđại lượng lớn của vũ trụ như trời - đất, sông - núi, xưa - sau…Trong tương quan ấy,kích thước con người như được phóng to lên và khả năng giao cảm giữa con người
và thiên địa gần như là vô giới hạn
Trang 36Về kết cấu, với tứ thơ trên, “nhà thơ có thể bắt đầu bằng những câu nói vẽ lênhình ảnh của mình, cũng có khi nhà thơ khẳng định ngay cái chí của mình ngay vàolúc bài thơ rồi mới vẽ cái nền đằng sau là một bối cảnh vô cùng khoáng đãng Tacũng gặp trường hợp nhà thơ trình bày cùng một lúc vừa hình ảnh bản thân vừahình ảnh vũ trụ trong một tứ thơ được sáng tạo bằng những liên tưởng xuất thần rấtthị vị Nhìn chung do những hạn chế tất yếu về ngôn từ nên các nhà thơ không tránhkhỏi cách trình bày đối tượng theo thứ tự lớp sau nhưng nhìn bao quát cả bài, chúngtôi có cảm nhận rất rõ ràng: hình ảnh thiên nhiên vũ trụ đã được dương lên như mộtcái khung, như một cái nền để ôm vào giữa Hình ảnh con người với những phẩmchất tự tôn, tự tại, tự túc, tự lạc…của nó” (TS Phan Huy Dũng)
Trong những bài thơ tả chí, những quan hệ xác lập của thời đại đã được thiênnhiên hoá, vũ trụ hoá bằng việc nhà thơ quy các sự kiện cụ thể vào các phạm trùphố quát như thời, thế, vận, mệnh Quy cách sắc thái tình cảm phong phú vào cáckhái niệm chung nhất như: sầu, hận, bi, phẫn Quy các phản ứng có thể rất đa dạngcủa nhân vật trữ tình vào các hành động công thức rất dễ nhận ra như: cúi đầuxuống đất, ngửa mặt lên trời, mài kiếm, xắn tay, nghiến răng…
2.1.1.1 Thơ trữ tình nói về việc lập công danh
Tư tưởng chính thống của Nho giáo là đối với trang nam nhi sống trên cõi đời
là phải lập công danh để lại tiếng thơm cho hậu thế Tư tưởng này đã ăn sâu vàotiềm thức, nếp cảm, nếp nghĩ của bao thế hệ người Việt và trở thành lí tưởng sống,trở thành chuẩn mực để mọi người cùng phấn đấu Dân gian đã từng lưu truyền bài
ca dao:
Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng
Trang 37Làm trai phải từng trải, có vốn sống, có sự hiểu biết…để giúp đời, lưu bang tế
thế Nguyễn Quảng Nghiêm, trong Hưu hướng Như Lai có một chí khí táo bạo vượt
ra khỏi sự ràng buộc của giáo chỉ nhà Phật:
Làm trai lập chí xông trời thẳm,
Theo gót Như lai luống nhọc mình
Ở hai câu đầu bài thơ: Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão đã làm sống dậy một tráng sĩ
với thế đứng vững chãi và dẫu rằng nhừng người ấy đã chiến đấu bao năm thángvẫn bừng bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang, bất khuất sẵn sàng xả thân vìdân tộc, mang tầm vóc vũ trụ:
Hoành sóc (sáo) giang sơn cáp kỉ thu
(Cắp ngang ngọn giáo bảo vệ non sông đã mấy mùa thu)
Hình ảnh người tráng sĩ lại được lồng trong hình ảnh dân tộc, hình ảnh của cảthế hệ Phạm Ngũ Lão, của dân tộc đang sống trong “Hào khí đông A” với sức mạnh
ba quân được ví như như sức mạnh của hổ báo làm át sao Ngâu (sao to và sáng),cũng có cách hiểu khác không kém phần ý nghĩa: sức mạnh của ba quân có thể nuốttươi trâu
Hình ảnh người tráng sĩ của Phạm Ngũ Lão là hình ảnh kì vĩ nhưng chân thựckhông phải là hình ảnh ước lệ, ngoa dụ như trong chinh phụ ngâm của Đặng TrầnCôn hay trong thơ Lê Thánh Tông:
Miệng hàm thèm gương dạ nuốt trâu
Chí hăm hở dang tay bắt vượn
Trong bối cảnh đó, Phạm Ngũ Lão bộc lộ cái chí của mình cũng là cái chí củangười tráng sĩ nói chung:
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tan nghe chuyện Vũ Hầu
Trang 38Tác giả với tư cách là một vị tướng đã tự cảm thấy hổ thẹn, day dứt, còn vương
nợ với đời, với đất nước giang sơn vì chưa lập được chiến công lẫy lừng, làm nênnghiệp lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng Khổng Minh trừ giặc, cứu nước Phạm NgũLão quả là con người khiêm tốn, giàu ý chí, rất đáng được khâm phục
Nguyễn Công Trứ cũng là người đã thực hiện chí nam nhi của mình một cáchngang tàng Ông đã tự bằng lòng về mình, tự đánh giá cao nhân cách của mình Làmột người có nhiều công trạng như khai hoang lấn bãi…Tác giả từng ý thức, từngdõng dạc phát biểu:
Không công danh thà nát cỏ cây
Hay:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Trong Bài ca ngất ngưởng được sáng tác theo thể hát nói, tác giả đã tự thuật lại
quãng đời lên xuống đảo điên Mở đầu là một câu thơ bằng tiếng Hán rất trangtrọng thể hiện sự tự tin, sự kiêu hãnh, sự ý thức trách nhiệm về mình:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
(Mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải là phận sự của ta)
Tiếp đến ông giới thiệu về mình một cách nghiêm trang lại vừa hài hước:
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Thái độ tự tôn cá nhân thật độc đáo, không phải ai cũng dám làm nhất là trong
xã hội phong kiến Và ông đã liệt kê hàng loạt chức danh mà mình đã từng đảmnhận cũng là mà cách để khẳng định mình: mở đầu là học vị thủ khoa vẻ vang, tiếp
đó là chức tước Tham Tán, Tổng đốc Đông, Phủ Doãn Thừa Thiên, là chiến tích
“Lúc bình Tây cờ đại tướng Tất cả đã khẳng định rằng, Nguyễn Công Trứ đã thựchiện chí nam nhi của mình một cách ngang tàng Chí nam nhi của tác giả được diễnđạt qua những từ ngữ Hán Việt uy nghiêm trang trọng, qua âm điệu nhịp nhàng
Trang 39được tạo nên bởi cách sử dụng điệp từ và cách ngắt nhịp câu thơ như: Khi Thủkhoa/ khi Tham Tán/ khi Tổng đốc đông.
Hồ Xuân Hương nhà thơ độc đáo vô song (GS Nguyễn Lộc), một con ngườiđầy bản lĩnh, đầy cá tính, rất mực tài năng Đứng trước đền thờ Sầm Nghi Đống,một tên tướng bại trận, phải thắt cổ nhục nhã, tác giả ước:
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
(Đề đền Sầm Nghi Đống)
Nếu đổi thành cái phận được trọng của phận làm trai, Xuân Hương sẽ thực hiệnđược cái chí làm trai của mình, sẽ làm được cái việc anh hùng to tát lẫy lừng trongbốn biển hơn kia, chứ khong phải cái sự anh hùng của Sầm Can đảm vô cùng,mạnh mẽ vô cùng, thẳng thắn không ai bằng Nữ sĩ là người đầu tiên trong lịch sửvăn học dõng dạc xưng tên mình một cách trịnh trọng, đường hoàng : Xuân Hương,khiến nhiều trang nam nhi thời xưa cũng phải e dè, nể phục
Nguyễn Xuân Ôn thì viết:
Thử sinh dĩ phụ tang bồng chí
Mạc tác đồ ngư lão giản biên
Nghĩa là:
Đời này đã phụ chí tang bồng,
Đừng có làm con mọt già ở nơi sách vở
Đất nước bị quân thù xâm lược, giày xéo thì cái chí là phải dốc toàn sức, toàntrí phục vụ dân tộc, đấu tranh cho lẽ phải, bảo vệ giá trị con người, sự bình yên chocuộc sống Sách vở thánh hiền không còn phù hợp đối với những người “hữu chí”
Sau này, Phan Bội Châu trong bài: Xuất dương lưu biệt cũng quả quyết:
Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Trang 40Bên cạnh cá nhân trực tiếp bày tỏ chí khí của mình thì trong thơ trữ tình trungđại, chúng ta còn thấy cái chí của cả toàn thể dân tộc, của cả thời đại Khi đất nước
có xâm lăng thì cả một rừng cánh tay giơ cao: quyết chiến, quyết thắng!, cuốnphăng bè lũ cướp nước, bán nước đem lại cuộc sống hoà bình ấm no cho nhân dântheo cái mô hình lí tưởng mà các triều đại phong kiến Việt Nam thường lấy làmchuẩn mực: xã hội Nghiêu, Thuấn ở Trung Quốc “Khi nào người Tây nhổ hết cỏnước Nam thì mới thôi người Nam đánh Tây” Bởi nước ta là một nước có chủquyền, có vị trí địa lí, thuận theo lẽ trời:
Sông núi nước Nam vua nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
(Bài thơ thần của lí Thường Kiệt)
Nguyễn Trãi trong áng văn chính luận mẫu mực: Bình Ngô đại cáo, cũng từng
khẳng định, đầy tự hào:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
Với giọng điệu trang nghiêm, trịnh trọng đầy tự tin, Nguyễn Trãi đã nhắc lại và
có bổ sung về địa lí và truyền thống dân tộc: là nước độc lập có tên nước là ĐạiViệt, có lãnh thổ, có lịch sử, có nền văn hiến riêng và đặc biệt, Nguyễn Trãi đã dùng
từ “xưng Đế” để khẳng định người đứng đầu đất nước chúng ta cũng ngang hàng