1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chúa nguyễn với công cuộc mở đất và phát triển kinh tế xã hội đàng trong

121 886 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chúa Nguyễn Với Công Cuộc Mở Đất Và Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Đàng Trong
Tác giả Mai Phương Ngọc
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trờng Sa đợc đánh giá là một trong những trang đẹp nhất và bi hùng nhất của lịch sử dựng và giữ nớc của dân tộc mà các chúa Nguyễn là ngời khai sáng..

Trang 1

Bộ Giáo dục và đào tạo

TrƯờng đại học vinh

-mai phơng ngọc

chúa nguyễn với công cuộc mở

đàng trong

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Vinh - 2008

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

-mai phơng ngọc

chúa nguyễn với công cuộc mở đất

Trang 3

Lời cảm ơn

ý tởng về đề tài này đợc bắt đầu từ một gợi ý của PGS TS Nguyễn Cảnh Minh đúng một năm về trớc, nhân dịp luận văn hoàn thành, tôi xin đợc bày tỏ sự cảm ơn đối với PGS

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi cũng đã nhận đợc sự giúp đỡ của các trung tâm th viện, các viện nghiên cứu, sự góp ý của nhiều nhà khoa học, tôi cảm ơn tất cả những đóng góp và khích lệ ấy

Luận văn này cũng là điểm khép lại một quá trình 6 năm tôi đợc học tập dới giảng đờng đại học Vinh Tôi muốn đợc cảm ơn những thầy giáo, cô giáo

đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian qua cũng nh đã sửa chữa giúp tôi những sai sót khi thực hiện đề tài

Tôi cảm ơn gia đình của tôi, bạn bè của tôi - những ngời thân yêu đã luôn ở bên, ủng hộ, chia sẻ với tôi ngay cả trong những lúc khó khăn nhất

Đặc biệt, tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Trọng Văn, ngời thầy đã không chỉ tận tâm hớng dẫn tôi thực hiện đề tài mà còn giúp đỡ, động viên và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập

Với bản thân tôi, đây là một đề tài rộng và khó, song là vấn đề mà tôi tâm đắc Thực hiện đề tài, tôi mong muốn và hi vọng đây sẽ là bớc khởi đầu,

là nền tảng để có thể thực hiện tiếp các công trình chuyên sâu hơn về thời kì lịch sử hơn hai thế kỉ họ Nguyễn gây dựng vơng quyền trên vùng đất mới Tôi mong nhận đợc những ý kiến xây dựng của quý thầy cô, các bạn để luận văn

đợc hoàn chỉnh hơn nữa

Tôi trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các bạn!

Tác giả

Mục lục

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 8

3.1 Đối tợng nghiên cứu 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu 8

Trang 4

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 9

4.1 Nguồn t liệu sử dụng trong luận văn 9

4.2 Phơng pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Bố cục của luận văn 10

Chơng 1: sự xác lập quyền lực của chúa Nguyễn 11

1.1 Từ đất tổ Tống Sơn đến hoàng thành Thăng Long 11

1.1.1 Gia Miêu - Tống Sơn và dòng họ Nguyễn Phúc 11

1.1.2 Phò giúp vua Lê gây dựng lại cơ đồ 15

1.2 Xác lập vơng quyền trên vùng đất mới 17

1.2.1 Sự kiện Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá 17

1.2.2 Từng bớc thực hiện ý đồ cát cứ 22

1.2.3 Tổ chức chính quyền của chúa Nguyễn 31

Chơng 2: chúa Nguyễn với công cuộc mở đất phía Nam 38

2.1 Công cuộc Nam tiến trớc thời các chúa Nguyễn 38

2.1.1 Con đờng Nam tiến trong lịch sử dân tộc 38

2.1.2 Sự mở rộng đất nớc qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê 40

2.2 Công cuộc Nam tiến thời chúa Nguyễn 48

2.2.1 Mở rộng lãnh thổ xuống vùng duyên hải Nam Trung bộ 48

2.2.2 Mở đất Nam bộ 55

2.2.3 Xác lập chủ quyền trên các vùng quần đảo biển Đông 66

2.3 Nhìn nhận về công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn 70

Chơng 3 Vai trò của chúa nguyễn trong việc phát triển kinh tế - xã hội hội Đàng Trong 76

3.1 Chúa Nguyễn với những chính sách phát triển kinh tế Đàng Trong 76

3.1.1 Những chính sách trong nông nghiệp 76

3.1.2 Những chính sách đối với thủ công nghiệp 83

3.1.3 Chúa Nguyễn và sự phát triển thơng nghiệp 87

3.2 Những chính sách ổn định và phát triển xã hội của chúa Nguyễn 96

3.2.1 Chính sách di dân lập làng 96

3.2.2 Những chính sách đối với ngời Chăm, ngời Khmer và các tộc ngời Thợng 101

3.3 Tác động của các chính sách về kinh tế - xã hội của chúa Nguyễn 106

Trang 5

3.3.1 Sự xuất hiện những nhân tố mới trong nền kinh tế và vai trò của

giao thơng đối với sự phát triển xã hội Đàng Trong 106

3.3.2 Sự hng khởi của các đô thị 109

3.3.3 Đời sống nhân dân Đàng Trong 116

Kết luận 121

Tài liệu tham khảo 126 Phụ lục

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đã có một “thời kì của những thế hệ đã có một tinh thần tiến thủ và

ý chí khai thiết đặc biệt trong lịch sử dân tộc, thời kì của những công trình mở rộng cơng thổ trên một phần đất quan trọng ở phơng Nam” [47; 5], đó là thời

kì từ khi các chúa Nguyễn lập cơ đồ trên vùng Thuận Hoá bắt đầu từ năm

1558 Từ thời điểm ấy, ngời Việt Nam cùng với các dân tộc sinh sống trên dải

đất này đã thực thi và hoàn thành trọn vẹn một sứ mệnh thiêng liêng: sứ mệnh

đi mở cõi Còn nhớ, sử cũ ghi rằng đời vua Lê Thánh Tông, sau cuộc chinh phạt chiếm đợc vùng đất mới, nhà vua đã cho khắc vào núi Thạch Bi một thông tri, tởng nh lời tuyên bố cho ranh giới cuối cùng giữa ngời Chăm và

ng-ời Việt: “Chiêm Thành qua đấy, quân thua nớc mất, An Nam qua đấy, tớng

chết quân tan” [56; 32] ấy vậy mà tính từ thời điểm khi vị vua anh minh Lê

Thánh Tông khắc ghi lời đó, chỉ đúng ba thế kỉ sau, lãnh thổ Đại Việt đã tiến xuống tận mũi Cà Mau, chủ quyền Đại Việt đợc khẳng định trên các vùng quần đảo biển Đông Chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trờng Sa đợc đánh giá là một trong những trang đẹp nhất và bi hùng nhất của lịch sử dựng và giữ nớc của dân tộc mà các chúa Nguyễn là ngời khai sáng Chỉ trong khoảng hai thế kỉ rỡi, các chúa Nguyễn đã tạo dựng nên một sự nghiệp vĩ đại: xác lập và bảo vệ chủ quyền trên toàn bộ Nam trung bộ và Nam bộ của Việt Nam, kể cả vùng biển Phải hiểu bao nỗi gây dựng gian nan mới biết thêm nâng niu quý

Trang 6

trọng từng tấc đất Tổ quốc ngày nay đang có Và càng biết giá trị từng tấc đấtthiêng liêng của Tổ quốc thì hơn bao giờ hết, càng phải biết trân trọng đónggóp của những lớp ngời đã tạo nên kì tích ấy.

1.2 Đến lập nghiệp trên vùng Thuận Hoá, họ Nguyễn đến một vùng đất

“Ô châu ác địa”, trên một diện tích nhỏ hơn rất nhiều so với họ Trịnh, vớinhững c dân có truyền thống văn hoá mang nhiều điểm khác biệt so với ngờiViệt Thế nhng, họ Nguyễn không chỉ tồn tại đợc trên vùng đất mới, đẩy lui đ-

ợc những cuộc tấn công của họ Trịnh trong suốt gần nửa thế kỉ, mà còn mởrộng lãnh thổ xuống phía Nam Cũng từ đó, Kinh kì, Phố Hiến không còn lànhững trung tâm phồn thịnh duy nhất nữa, đã có một vùng kinh tế khác hìnhthành: vùng Thuận Quảng, đã có những Huế, Hội An dần xuất hiện ở đó, khiKhổng giáo, ý thức hệ thống trị xã hội Đàng Ngoài, đã không còn giữ đợc vịthế đó của nó nữa, lại hứa hẹn rất nhiều đối với những sự phát triển mang màusắc mới, tầm vóc mới cho những lực lợng chính trị mới Không phải ngẫunhiên mà thời kì đó, mảnh đất phơng Nam của các chúa Nguyễn lại là sự hivọng, niềm mơ ớc về cuộc sống mới của những c dân đang phiêu tán vì đói

nghèo Cũng không phải ngẫu nhiên mà có nhà nghiên cứu đánh giá Đây là

một thay đổi căn bản và đầy ấn tợng trong lịch sử Việt Nam Về tầm quan trọng, sự kiện này có thể sánh với việc Việt Nam giành đợc độc lập từ tay Trung Hoa vào thế kỉ 10 Thoạt nhìn, sự kiện có dáng dấp một câu chuyện về một dòng họ đã có thể tồn tại và triển nở về mặt chính trị sau khi đã đánh mất quyền hạn đang có Nhng về bản chất, đây lại là một sự kiện đã dẫn đến việc thành lập một hệ thống Nhà nớc mới và một nền văn hoá phồn thịnh”

[56; 17] Điều quan trọng hơn nữa, chính Đàng Trong giai đoạn này đã đa lạinhững diện mạo mới và định hình cho sự phát triển của vùng đất trong nhữngthời kì tiếp theo Bởi thế, càng không thể phủ nhận vai trò của các chúaNguyễn trong tiến trình của lịch sử dân tộc

1.3 Thế nhng, “sự đoàn kết dân tộc và cuộc kháng chiến chống ngoại

xâm là hai chủ đề trọng tâm của Việt Nam thời hiện đại Tiếc thay, cuộc thử nghiệm của họ Nguyễn đã đi ngợc lại cả hai chủ đề này” [56; 17] Sự tồn tại

của họ Nguyễn trên mảnh đất Đàng Trong đã phá vỡ sự thống nhất quốc giatrong suốt hơn 200 năm Rồi tiếp đó, Nguyễn ánh đã cầu cứu lực lợng củabên ngoài để giành lại quyền lực dòng họ, khiến hậu thế còn than thở, chêtrách “cõng rắn cắn gà nhà” Lịch sử cũng không quên trách nhiệm của nhà

Trang 7

Nguyễn - hậu duệ của các chúa Nguyễn trong việc đất nớc bị xoá tên trên bản

đồ thế giới vào nửa sau thế kỉ XIX, đến nỗi toàn dân tộc phải trải qua cuộckháng chiến trờng kì mới rửa đợc mối nhục vong quốc nô Có lẽ cũng bởi vậy

mà lịch sử mở đất, dựng nớc của các chúa Nguyễn cha đợc đánh giá xứng

đáng Đành rằng, sự chia cắt bởi đôi bờ sông Gianh đã để lại những hậu quảnặng nề cho sự phát triển đất nớc Vậy nhng, cũng trong bối cảnh ấy, lãnh thổdân tộc lại mở rộng hơn bao giờ hết, kinh tế, xã hội có những bớc phát triểnmới, đó cũng chính là biện chứng của lịch sử Do đó, nghiên cứu về những

đóng góp của các chúa Nguyễn cũng là để có thêm sự nhìn nhận chân xác vềmột thời kì trong quá trình đi lên của dân tộc Đó là một vấn đề khoa học cần

đợc khảo cứu nghiêm túc, khách quan

1.4 Nghiên cứu về thời kì này, nhiều học giả đã chỉ ra rằng tính năng

động và mềm dẻo của các chúa Nguyễn thật thích hợp với việc phát triển xãhội Đàng Trong, khi họ cởi mở hơn trớc các cơ hội từ bên ngoài và có tính h-

ớng ngoại hơn so với đối thủ của họ là họ Trịnh ở phơng Bắc Bởi thế, Đàng

Trong, ra đời trong nội chiến, biến mất trong nội chiến, nhng Đàng Trong đã

định hình lại Việt Nam trong mọi quy mô có thể” [56; 219] Và nh vậy, việc

nghiên cứu về những đóng góp của các chúa Nguyễn trong lịch sử không chỉ

là sự tri ân đối với lớp ngời đã có công lao trong việc mở mang bờ cõi, để biếttrân trọng và giữ gìn từng tấc đất của Tổ quốc thân thơng, điều đó còn chochúng ta những bài học trong công cuộc xây dựng đất nớc hôm nay

Chính từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Chúa Nguyễn với

nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thế kỉ XVI, XVII, XVIII là những thế kỉ chia cắt trong lịch sử dân tộc,

đồng thời lại có rất nhiều những vấn đề dờng nh khá “nhạy cảm” trong nhữngbối cảnh nhất định Có lẽ cũng bởi một phần nh thế mà các công trình nghiêncứu về Đàng Trong còn chiếm một vị trí khiêm tốn so với các vấn đề lịch sửthuộc các giai đoạn khác Song, ngày nay, trong xu thế đổi mới, nhìn nhậnmột cách công bằng các sự kiện đã diễn ra trong lịch sử của dân tộc, vấn đềlịch sử Việt Nam thời các chúa Trịnh - vua Lê ở Đàng Ngoài với các chúaNguyễn ở Đàng Trong đang trở thành một hớng nghiên cứu mới, thu hút nhiều

sự quan tâm của các học giả

Trang 8

Từ năm 1929, với mong mỏi “Than ôi! Tôi nghe có từng biết gây dựng

gian nan, thì mới biết giữ gìn báu trọng …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu

mồ hôi máu mặt của ông cha …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu trong khi tu tạo nên cái cơ đồ …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu tất sẽ giật thót mình mà lo tự tu tự tỉnh tự phấn tự lệ để bảo toàn lấy công nghiệp huyết hãn của ông cha” [90; 4], soạn giả Ngô Văn Triện đã viết cuốn “Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta”(nhà in Long Quang, Hà Nội, 1929) Dù với một dung lợng

ngắn trên 30 trang đánh máy, nhng cuốn sách đã khái quát lại toàn bộ chặng

đờng mở đất về phía Nam của lịch sử dân tộc Trong đó, phần viết về quá trình

mở rộng lãnh thổ dới thời chúa Nguyễn đợc tác giả chú trọng

Nhận thấy khoảng trống khi các sử liệu về xứ Thuận Hoá, xứ QuảngNam, phủ Gia Định trong thời kì các chúa Nguyễn làm chủ và mở mang đất

ấy cha đợc khai thác và chép thành sách, năm 1967, Phan Khoang viết “Việt

Sử xứ Đàng Trong” (NXB Văn học, 2001) Tác phẩm đợc đánh giá là một bản

“lợc đồ” vẽ lại đờng đi của tiền nhân ta mấy thế kỉ trớc trong cuộc khẩn hoanglập ấp ở vùng đất mới Trong cuốn sách, tác giả đã viết về các chúa Nguyễn,công việc các chúa Nguyễn làm ở Nam Hà, từ chiến tranh với họ Trịnh đến côngcuộc Nam tiến, tổ chức chính quyền, ngoại giao của các chúa Nguyễn và đờisống nhân dân Đàng Trong Có thể coi cuốn sách nh một giáo trình về lịch sử

Đàng Trong với những nét khái quát toàn diện trên các mặt, tuy rằng trên cáclĩnh vực tổ chức chính quyền, kinh tế, xã hội còn sơ lợc Đây cũng là nguồn tàiliệu quan trọng cho chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài

Cuốn “Việt Nam sử lợc” của Trần Trọng Kim (NXB Văn hoá thông tin, 1999), “Việt sử tân biên” của Phạm Văn Sơn (quyển III, Sài gòn, 1959), “Lịch

sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX” của Đào Duy Anh (NXB Văn hoá

thông tin, 2006) đều là những cuốn sách mang tính chất thông sử trong đócũng đã đề cập tới giai đoạn này với những nét khái lợc và những nhận định

ban đầu Năm 2007, Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành cuốn “Lịch sử

Việt Nam” tập IV, thế kỉ XVII - XVIII Cuốn sách là một công trình nghiên

cứu công phu của các tác giả Viện sử học, trong đó đã đề cập tới các vấn đềcủa lịch sử thế kỉ XVII, XVIII dựa trên một nguồn t liệu khá phong phú

Trên từng phơng diện của đời sống xã hội ở các thế kỉ XVI, XVII,

XVIII, cũng đã có những tác phẩm nghiên cứu nh cuốn “Ngoại thơng Việt

Nam hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu XIX” của Thành Thế Vỹ (NXB Sử học, Hà

Nội, 1961), cuốn “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỉ XI - XVIII”, tập II,

Trang 9

thế kỉ XI - XVIII của tác giả Trơng Hữu Quýnh (NXB Khoa học xã hội, HàNội, 1983) Các tác phẩm này cho chúng ta sự nhìn nhận về diện mạo chungcủa kinh tế nông nghiệp, ruộng đất và tình hình ngoại thơng của Việt Namthời kì này, trong đó có cả sự phát triển của Đàng Trong.

Ngày nay, trong xu thế nhìn nhận lại nhà Nguyễn thì các công trìnhnhiên cứu về các chúa Nguyễn trên các tạp chí cũng ngày một nhiều hơn Có

thể kể ra đây các bài viết trên Tạp chí cộng sản nh Đỗ Bang với bài “Ngoại

th-ơng Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1614-1625)”, số 6, năm

2002; Phan Thanh Hải viết “Tìm hiểu hệ thống thủ phủ thời các chúa

Nguyễn”, số 9-10, năm 2004; Trần Thị Vinh có bài “Thể chế chính quyền

Đàng Trong dới thời các chúa Nguyễn”, số 10, năm 2004; … Trên tạp chí X Trên tạp chí Xa

và Nay cũng có nhiều bài nghiên cứu về lịch sử vùng đất Đàng Trong nh “Chủ

quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ” của Vũ Minh Giang, số

tháng 2 2007; “Nam tiến (từ dinh Trấn Biên Phú Yên đến dinh Trấn Biên

-Đồng Nai)” đăng trên số tháng 3 - 2008 của tác giả Nguyễn Đình Đầu; hay

bài “Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long” của Lê Xuân Diệm, số

tháng 4 - 2008 … Trên tạp chí XTrong các công trình nh kỷ yếu hội thảo khoa học lần thứ

hai về triều Nguyễn “Những vấn đề văn hoá - xã hội thời Nguyễn” (NXB Khoa học xã hội, 1995) hay cuốn “Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn” (NXB

Văn hoá Sài gòn, 2007) cũng có những bài viết đề cập tới một vài vấn đề trongthời kì này

Gần đây nhất, vào tháng 10 năm 2008, vừa tròn 450 năm kể từ mùa

đông năm 1558, Nguyễn Hoàng, ngời con thân yêu của Thanh Hóa vào Nam

mở cõi, UBND tỉnh Thanh Hóa và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức

hội thảo “chúa Nguyễn và vơng triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ

XVI đến thế kỉ XIX” Hội thảo đã giúp cho giới sử học Việt Nam đánh giá

khách quan, toàn diện và xích lại gần nhau hơn trong việc nhận thức về nhữngthành tựu và cả những hạn chế của chúa Nguyễn và Vơng triều Nguyễn Vềphần chúa Nguyễn, hội thảo đã có những bài viết nghiên cứu về nguồn gốcdòng họ, không gian văn hóa nơi phát tích dòng chúa Nguyễn, một số phơngdiện trong vấn đề mở cõi, vấn đề thủ thủ, đô thị Đàng Trong thời các chúaNguyễn, cũng có những tham luận đề cập chung tới sự thịnh suy của ngoại thơng

Đàng Trong các thế kỉ XVI - XVIII Hội thảo đã cung cấp cho chúng tôi thêmmột cách tiếp cận và một phần t liệu trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 10

Tìm hiểu về lịch sử Việt Nam giai đoạn vua Lê - chúa Trịnh, chúaNguyễn không thể không đề cập tới một nguồn t liệu quan trọng của nhữngngời nớc ngoài nghiên cứu về Việt Nam hay đã đến Việt Nam trong thời điểm

đó nh cuốn “Xứ Đàng Trong năm 1621” của Cristophoro Borri (NXB thành

phố Hồ Chí Minh, 1998) Nguồn t liệu bút kí ấy cũng đã đợc Lê Nguyễn tập

hợp trong “Xã hội Đại Việt (Qua bút kí của ngời nớc ngoài)” (NXB Văn nghệ

thành phố Hồ Chí Minh, 2004) Nhìn chung các bút kí là những t liệu quýsong chỉ mang tính chất những cảm nhận, sự ghi chép còn giản lợc ở đây,

đặc biệt, cần phải kể đến công trình nghiên cứu rất có giá trị của tác giả Li

Tana “Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18” (NXB

Trẻ, 1999) Đây là một công trình khoa học nghiêm túc dựa trên nguồn t liệudồi dào đã đa đến cho ngời đọc những nét khắc hoạ về tình hình kinh tế, xã

hội mà trong đó nh chính tác giả đã nói “chú trọng tới những thay đổi và khác

biệt hơn là tới tính liên tục và những điểm giống nhau, để qua đó làm rõ hơn tầm quan trọng của Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam” [56; 18] Cuốn

“Những ngời châu Âu ở nớc An Nam” của Charles B.Maybon (Nguyễn Thừa Hỉ

dịch, NXB Thế giới, Hà Nội, 2006) cũng đề cập tới những mối quan hệ vềchính trị, thơng mại, tôn giáo giữa phơng Tây và Đại Việt qua các phái bộ vàcác cuộc tiếp xúc, thơng lợng ngoại giao, những chuyến đi của các tàu buôn,hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ, công việc buôn bán của các thơng điếmngoại quốc, trong đó có mối quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Xem xét về các công trình trên, có thể rút ra một số nhận xét nh sau:Thời Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong tronglịch sử nớc ta so với các giai đoạn trớc không phải là một thời kì quá nghèonàn về mặt sử liệu Bởi lẽ chúng ta có chính sử, t sử, lại có cả các thiên kí sựcủa những giáo sĩ phơng Tây đã bắt đầu đến nớc ta trong thời kì ấy Những bộchính sử, t sử dù quan điểm viết có đối lập nhau nhng lại giúp cho việc đốichiếu, so sánh để đa đến những nhận định, đánh giá khách quan Đó là các bộ

nh Đại Việt Sử Kí Toàn th và Đại Việt Sử Kí bản kỉ tục biên, Khâm định Việt

sử thông giám cơng mục, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên Chúng ta cũng có những bộ sử viết riêng về hình thế núi sông, sản

vật, phong tục, thành quách, lệ cũ, nhân tài,… Trên tạp chí Xcủa vùng đất Đàng Trong rất có

giá trị nh Ô châu cận lục của Dơng Văn An, Phủ biên tạp lục của Lê Quý

Đôn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức Dẫu vậy, việc nghiên cứu

Trang 11

về thời kì này so với sự khảo cứu các giai đoạn khác, cho đến nay vẫn cha

t-ơng xứng với vị thế của nó trong lịch sử

Các công trình đã nghiên cứu về lịch sử Đàng Trong chủ yếu tập trungvào việc tìm hiểu diễn trình mở rộng, khai phá vùng đất này, tình hình kinh tếxã hội, những bớc phát triển và suy vong của Nhà nớc Đàng Trong mà cha cónhững công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống những đónggóp, vai trò của các chúa Nguyễn trong khoảng hai thế kỉ rỡi gây dựng cơ đồtrên mảnh đất mới

Vì vậy, kế thừa những thành quả nghiên cứu đã có, chúng tôi mongmuốn trên cơ sở những cứ liệu lịch sử để nhìn nhận một cách chân xác, kháchquan và có hệ thống những đóng góp của các chúa Nguyễn đối với lịch sử dântộc trong công cuộc mở đất và phát triển kinh tế - xã hội Đàng Trong

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là những đóng góp của chúa Nguyễntrong công cuộc mở đất và phát triển kinh tế - xã hội Đàng Trong

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đóng góp của các chúa Nguyễn trong lịch sử là một vấn đề lớn, baoquát trên nhiều phơng diện khác nhau Xét về mặt thời gian, thời kì lịch sử đóvào thế kỉ XVI, XVII, XVIII, bắt đầu từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủThuận Hoá năm 1558 cho đến khi chúa Nguyễn bị phong trào Tây Sơn đánhbại năm 1777 Nhận thấy đây là một vấn đề khá rộng và khó, song chúng tôithực hiện với mong muốn có một cái nhìn tổng quan về đóng góp của chúaNguyễn với lịch sử dân tộc Mặc dù vậy, trong đề tài này, chúng tôi chỉ dừnglại giới hạn việc nghiên cứu những đóng góp chủ yếu nhất của các chúaNguyễn trong vấn đề mở rộng lãnh thổ về phía Nam và phát triển kinh tế xãhội Đàng Trong Đối với việc nghiên cứu về tình hình kinh tế xã hội của vùng

đất này, chúng tôi chỉ xác định trong phạm vi chủ yếu tập trung tìm hiểu vềchính sách của các chúa Nguyễn đối với nông nghiệp, thơng nghiệp, thủ côngnghiệp cũng nh một số chính sách trong việc ổn định xã hội mà cha có thamvọng nghiên cứu toàn bộ các phơng diện của vấn đề Đồng thời trong quá trìnhtìm hiểu những tác động của các chính sách đó, chúng tôi cũng chỉ dừng lại ởnhững tác động mang tính trực tiếp nhất từ công cuộc mở đất và phát triểnkinh tế xã hội Đàng Trong của chúa Nguyễn

Trang 12

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu sử dụng trong luận văn

Luận văn đợc thực hiện dựa trên các nguồn tài liệu sau:

- Các công trình chính sử, t sử đợc biên soạn trong thời kì đó, ghi lạinhững sự kiện, công việc vua - chúa đã làm, các di văn còn giữ lại đợc nh cácchiếu, chế, biểu… Trên tạp chí X

- Nhóm các tài liệu sách, báo, tạp chí, ấn phẩm nghiên cứu chuyên sâuhoặc mang tính chất tổng hợp về giai đoạn lịch sử cần tìm hiểu

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề đã đặt ra, chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duyvật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phơng pháp luận cho việcnghiên cứu Là một đề tài lịch sử nên phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic

đợc đặc biệt coi trọng Luận văn dựa trên cơ sở những tài liệu, xem xét sự vận

động của các sự kiện lịch sử trong mối liên quan chặt chẽ với nhau, từ đó phântích, xử lý, hệ thống hoá, khái quát hoá vấn đề, rút ra những nhận xét, đánhgiá

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp khác nh: Phơng pháp

so sánh đối chiếu, phơng pháp thống kê nhằm hỗ trợ cho hai phơng phápchủ yếu trên

5 Đóng góp của luận văn

- Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi hi vọng làm sáng rõ hơn vềnhững đóng góp của chúa Nguyễn trong lịch sử Từ đó, có một cái nhìn tổngquan, rõ ràng và hệ thống về vai trò dòng họ Nguyễn, công và tội đối với dântộc Đây là một vấn đề khoa học hiện đang đợc tập trung khảo cứu

- Nghiên cứu về đóng góp của chúa Nguyễn cũng là tìm về một giai

đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc với rất nhiều sự kiện đa lại những đánh giákhác nhau Thực hiện đề tài cũng góp phần nhìn nhận một số sự kiện lịch sửhiện còn nhiều ý kiến cha thống nhất

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn

đ-ợc bố cục thành ba chơng nh sau:

Chơng 1: Sự xác lập quyền lực của chúa Nguyễn

Chơng 2: Chúa Nguyễn với công cuộc mở đất phía Nam

Trang 13

Ch¬ng 3: Vai trß cña chóa NguyÔn trong viÖc ph¸t triÓn kinh tÕ - x· héi

§µng Trong

Trang 14

Chơng 1.

sự xác lập quyền lực của chúa Nguyễn

1.1 Từ đất tổ Tống Sơn đến hoàng thành Thăng Long

1.1.1 Gia Miêu - Tống Sơn và dòng họ Nguyễn Phúc

Vùng đất xứ Thanh trong lịch sử là vùng đất lắm chúa nhiều vua Cũngbởi vậy mà nơi đây có nhiều Quý hơng của các bậc đế vơng Thời Lê Hoàn có

Kẻ Sập, Lê Lợi có Lam Sơn, đến các chúa Trịnh có Sóc Sơn - Biện Thợng vàcác chúa Nguyễn, sau này là triều Nguyễn, cũng một lòng hớng về đất tổ GiaMiêu - Tống Sơn, nơi đây sau này đợc nhà Nguyễn tôn là Quý hơng, Quýhuyện Theo sách tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX thì Gia Miêu thuộctổng Thợng Bạn Tổng này có hai hơng: Gia Miêu ngoại, Gia Miêu nội và mờitrang là: Gia Miêu thợng, Đông Đô, Quảng Đô, Khắc Ninh, Hoàng Vân, Yến

Vỹ, Bảo Đối, Mỹ Lu, Động Tiên, Động Hậu, trong đó Gia Miêu ngoại trang

đợc xem là nơi phát tích của dòng chúa Nguyễn [99; 541] Gia Miêu ngoạitrang xa là một vùng đất cổ Dấu vết của văn hóa Đông Sơn đã tìm thấy ở hồBến Quân Với đặc điểm địa hình của một vùng bán sơn địa, vùng này cónhững dấu ấn sâu đậm của không gian văn hóa Việt - Mờng Đất Tống Sơn đ-

ợc sử cũ ghi rằng: Kể về núi sông sầm uất, chỉ có huyện Tống Sơn là có nhiềuhơn Gia Miêu ngoại trang là đất tổ của các vơng triều Nguyễn… Trên tạp chí XVì là đất phátphúc to, khí tốt chung đúc còn lâu dài [99; 541-542] Cùng với quá trình định

c là sự phát triển của các dòng họ đã đến đây lập nghiệp nh họ Nguyễn, họMai, họ Bùi, họ Phạm… Trên tạp chí XTrong đó dòng họ Nguyễn là lớn nhất

Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi lại “họ Nguyễn ở trấn

Thuận Hoá, tiên tổ là Nguyễn Công Duẩn ngời Gia Miêu ngoại trang huyện Tống Sơn, theo Lê Thái Tổ định thiên hạ có công, làm quan đến Phụng thần

vệ tớng quân Gia Đình Hầu, tặng Thái Bảo Hoành quốc công” [34; 58] Song,

gia phả dòng họ Nguyễn cho chúng ta biết rằng, tổ tiên đầu tiên của họNguyễn ở Gia Miêu là khai quốc công thần nhà Đinh - Nguyễn Bặc, ngời đã

có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân Khi sự nghiệp hoàn thành,năm 971, ông đợc phong làm Định quốc công Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và

Đinh Liễn bị sát hại, Nguyễn Bặc bắt đợc Đỗ Thích đem giết Sau đó, khi LêHoàn lên ngôi, với t tởng trung quân phong kiến, Nguyễn Bặc đã cùng Đinh

Điền, Phạm Hạp dấy quân đánh Lê Hoàn và bị Lê Hoàn đánh bại Quê hơng

Trang 15

của Nguyễn Bặc đợc xác định ở Đại Hữu, Gia Phơng, Gia Viễn tỉnh NinhBình Khi Nguyễn Bặc rời Hoa L vào Thanh Hoá chuẩn bị lực lợng chống LêHoàn, ông đã bí mật đa vợ và hai con vào Gia Miêu để phòng bất trắc, bảo vệnòi giống [5; 61].

Sang thời Lý, họ Nguyễn ở Gia Miêu có ba ngời làm quan, đó làNguyễn Đê làm chức đô hiệu kiểm, Nguyễn Viễn làm tả tớng quốc và NguyễnPhụng làm tả đô đốc Thế kỉ XIII, Nguyễn Nộn là một võ tớng đã để lại têntuổi của mình trong lịch sử, là ngời có tài có chí Ban đầu, Nguyễn Nộn dấybinh đánh lại nhà Lý, sau đợc Trần Tự Khánh thu dụng, trở thành chỗ dựaquan trọng của triều đình và đợc phong Hoài Vũ Vơng Thời Trần, họ Nguyễn

có nhiều ngời làm quan nh Nguyễn Thế Tứ giữ chức đô hiệu kiểm, NguyễnNạp Hoà là đại tớng quân, Nguyễn Công Luật là hữu hiệu kiểm Khi Lê Lợidựng cờ phục hng nền độc lập cho dân tộc, có nhiều ngời họ Nguyễn đã thamgia trong cuộc khởi nghĩa vĩ đại ấy Nguyễn Nh Trác đợc phong phó quậncông, Nguyễn Văn Thao là Trừng quốc công Có nguồn tài liệu cho rằng,Nguyễn Trãi - ngời cùng với Lê Lợi là linh hồn của cuộc khởi nghĩa, cũng làdòng dõi họ Nguyễn Gia Miêu [5; 61] Trong cuộc đấu tranh gian khổ mà oaihùng qua mời năm “nếm mật nằm gai” đó còn in đậm những công trạng củangời đợc Lê Quý Đôn chép là tiên tổ họ Nguyễn - Nguyễn Công Duẩn SáchPhủ biên tạp lục chép về dòng họ Nguyễn từ Nguyễn Công Duẩn nh sau:

“Con là Đức Trung, đời Nhân Tông làm Điện tiền chỉ huy sứ, có công cùng

với Nguyễn Xí mu giết nghịch đảng rớc lập Thánh Tông, làm quan đến đô đốc Trinh quốc công, kinh lợc Yên Bang, đánh dẹp Chiêm Thành có nhiều công lao, con gái làm tiệp d, sinh ra thái tử, một nhà quý hiển, khi chết đợc tặng Thái úy Trinh quốc công Hiến Tông lên ngôi, tôn mẹ làm Trờng Lạc thái hậu, càng hậu đãi họ ngoại, làm quan ở triều đến hơn 200 ngời Uy Mục đế lên ngôi, đuổi hết về nhà Con là Nguyễn Văn Lãng thông thao lợc, giỏi thiên văn, sức khoẻ bắt đợc hổ, bấy giờ làm Thuỷ quân vệ chỉ huy sứ giữ thành Tây Đô, họp quân ba phủ xứ Thanh Hoá tôn Tơng Dực đế làm vua, đánh tan quân Lê

Vũ mà chiếm kinh thành, giết Uy Mục đế; đầu đời Hồng Thuận, lấy công đầu

đợc phong Thái uý Nghĩa quốc công bình chơng quân quốc trọng sự, chết đợc tặng Nghĩa Huân vơng, tế và táng đều dùng lễ vơng giả, đợc đúc tợng đồng Con là Hoằng Dụ làm quan đến đô đốc An Hoà hầu, có tài văn võ, đánh giặc Trần Cảo, đóng đinh ở Bồ Đề bờ phía Bắc, nghe nói Nguyên quận công Trịnh

Trang 16

Duy Sản giết vua, đem quân sang sông đốt kinh thành Duy Sản sợ, rớc Chiêu Tông về Tây Đô, An Hoà hầu cũng về Tống Sơn, rồi rớc vua ra Thiên Quan,

đánh tan Trần Cảo, lấy lại kinh thành, dẹp yên xứ Kinh Bắc ” [34; 58] Đại

Nam thực lục tiền biên trong phần chép về Thái tổ Gia Dụ hoàng để

Nguyễn Hoàng cũng ghi về Nguyễn Hoằng Dụ: “Ông nội là Trừng quốc

công, huý là [Dụ], lên 8 tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thông thuộc võ nghệ Triều Hiến Tông nhà Lê, làm kinh lợc sứ Đà Giang, đến khi Uy mục

đế vô đạo, về Tây kinh giúp Lê Oanh khởi binh ở Thanh Hoa, mu việc giữ yên xã tắc Khi Oanh lên làm vua (tức Tơng Dực đế), đợc phong thái phó Trừng quốc công” [73; 27].

Cho đến năm 1613, dới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, khi “Chúa lên

nối ngôi, sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ ngời ta gọi là chúa Phật Từ đấy mới xng quốc tính là họ Nguyễn Phúc” [73; 47].

Có một luận điểm cũng đáng lu ý, khi nghiên cứu về quan hệ thân thuộc

và chính trị giữa hai dòng họ chúa Trịnh ở Sóc Sơn và chúa Nguyễn ở GiaMiêu trớc năm 1558, AntoshchenKo Vladimir đã chỉ ra: vào năm 1451, hoànghậu Nguyễn Thị Anh, quê ở xã Bố Vệ (huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) sai giếtcả hai trởng tộc đơng thời và hai con cả (trởng tộc tơng lai) của họ Trịnh ởThủy Chú và Kim Bôi vì lý do “kết đảng” Có khả năng giữa dòng họ Nguyễn ởGia Miêu và dòng họ Nguyễn ở Bố Vệ có mối quan hệ nào đó, do vậy, hành

động “cắt đầu” hai vọng tộc họ Trịnh là lí do đối đầu giữa hai dòng họ sau này.Tác giả cũng phân tích tình hình rối ren của Đại Việt những năm đầu thế kỉ XVI

và khẳng định: sau khi vị trí đứng đầu hàng ngũ đại thần thuộc về Trịnh Duy Sản,hai khối liên minh quân sự Trịnh - Nguyễn của Thanh Hóa ngày càng bị lôi cuốnvào cuộc tàn sát lẫn nhau không có quy củ đến nỗi Trần Chân (con nuôi TrịnhDuy Sản) sai đào mả Nguyễn Văn Lang và chém đầu Đó là một hành động màcon cháu họ Nguyễn không thể tha thứ đợc [104; 5-6]

Dẫu rằng đã có những mối liên hệ nh vậy giữa hai dòng họ nhAntoshChenKo Vladimir đã chỉ ra, song, để coi đó nh là nguyên nhân đa tới

sự đối lập giữa hai dòng họ sau này thì cần phải đợc xem xét lại Bằng chứng

là Nguyễn Kim vẫn mến tài mà gả con gái đầu là Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm.Cũng chính từ mối nhân duyên này mà từ đó họ Trịnh ở Sóc Sơn - Biện Thợngbắt đầu cho công cuộc thay đổi vị thế của mình trong lịch sử

Trang 17

Nh vậy, dù trải qua những cuộc biến thiên, những bớc thăng trầm, song

họ Nguyễn ở Gia Miêu là một dòng họ có danh vọng Trong suốt gần 7 thế kỉ(từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI), dòng họ đã có nhiều con cháu là công thần củacác triều đại Bản lĩnh của họ Nguyễn còn thể hiện ở truyền thống của mộtdòng họ nhiều đời làm võ tớng Điều đó đặc biệt sâu sắc trong thế kỉ XVI khi

họ Nguyễn là ngời khởi nghiệp phò giúp vua Lê gây dựng lại cơ đồ

1.1.2 Phò giúp vua Lê gây dựng lại cơ đồ

Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép “An Hoà hầu chết Đăng Dung

bèn chuyên giữ binh quyền, đánh bắt Nguyễn Kính hàng, bức hiếp Chiêu Tông, cuối cùng thành việc cớp ngôi” [34; 59] Thực ra, việc nhà Mạc thay

nhà Lê cũng là một tất yếu của lịch sử, khi các vua Lê nh Lê Uy Mục, Lê

T-ơng Dực đã không đủ tài trí, đức độ để dẫn dắt muôn dân Song, với t tởngtrung quân phò rập chính thống, khi hoài niệm về cuộc khởi nghĩa Lam Sơncòn in đậm trong tâm trí của nhân dân, khi lòng ngời vẫn còn nặng nghĩa vớinhà Lê thì hành động của Mạc Đăng Dung bị coi là thoán ngôi vô đạo Trongbối cảnh đó, ngời con trởng của An Hoà hầu là Nguyễn Kim đã chứng tỏ dũngkhí và bản lĩnh dòng họ khi xớng nghĩa cần vơng diệt Mạc, xây nền phục

dựng nhà Lê Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Triệu tổ Tĩnh hoàng đế, huý

[Kim], con trởng Trừng quốc công, đầu làm quan ở triều Lê, chức Hữu vệ

điện tiền tớng quân, [tớc] An thanh hầu Năm Bính Tuất [1527], Mạc Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê Năm Đinh Hợi [1528] nhà Lê mất Triệu tổ giận họ Mạc tiếm nghịch, chí muốn khôi phục nhà Lê” [73; 28] Về sự kiện này, Đại

Việt sử kí toàn th chép: “Bấy giờ, bọn Thanh Hoa hữu vệ điện tiền tớng quân

An Thanh hầu Nguyễn Kim (ngời Bái Trang, huyện Tống Sơn, có thuyết nói là con của Hoằng Dụ) dẫn con em chạy sang Ai Lao Chúa nớc ấy là Sạ Đẩu cho rằng ta là nớc có quan hệ môi răng với họ, mới đem nhân dân và đất đai Sầm Châu cấp cho Kim Từ đó Nguyễn Kim nuôi dỡng sĩ tốt, chiêu nạp những

kẻ chạy trốn, làm phản, ngầm tìm con cháu họ Lê lập nên để mu khôi phục”

[60; 112-113] Nguyễn Kim đã thu phục đợc lực lợng đông đảo “hào kiệt,

quần chúng có hàng mấy nghìn ngời, voi có ba chục thớt” [73; 28] Đại Nam

thực lục tiền biên có ghi lại sự kiện năm Canh Dần (1530), Nguyễn Kim đemquân ra Thanh Hoa, đánh thắng quân của họ Mạc do tớng Ngọc Trúc chỉ huy

và năm 1531, đánh phá đợc tớng Mạc là Nguyễn Kính ở huyện Đông Sơn Các

bộ sử cũ đều ghi nhận công lao to lớn của Nguyễn Kim trong việc tôn phò nhà

Trang 18

Lê Đại Việt sử kí toàn th chép “cựu thần nhà Lê là An Thanh hầu Nguyễn

Kim tôn lập con Chiêu Tông là Ninh ở Ai Lao Trớc đây, Kim ở Ai Lao nuôi quân chứa sức, sai ngời về trong nớc tìm khắp con cháu nhà Lê, tìm đợc con Chiêu Tông là Ninh lập nên làm vua, đổi niên hiệu là Nguyên Hoà (tức Trang Tông) để sửa lại quốc thống …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu Vua phong Kim là thái s Hng quốc công” và

“nền móng trung hng bắt đầu từ đấy” [60; 116-119] Năm 1540, Nguyễn Kim

đem quân về đánh Nghệ An, thanh thế lẫy lừng, xa gần theo về quy phục.Năm 1542, ông lại thống lĩnh tớng sĩ các dinh đi trớc, tiến đánh Thanh Hoa và

Nghệ An, “thế quân càng thêm mạnh” [60; 123] Năm sau, 1543, vua Lê “gia

thăng Kim làm thái tể, sai làm đô tớng, tiết chế tớng sĩ các dinh” [60; 124]

Thế nhng, khi công cuộc trung hng đang thu đợc những chiến công quantrọng thì An Thành hầu Nguyễn Kim bị sát hại Cái chết của Nguyễn Kim là do

“bị hàng tớng là Trung Hậu hầu đánh thuốc độc chết” [34; 60] (Điều này thống

nhất với Đại Nam thực lục tiền biên và Đại Việt sử kí toàn th, riêng Khâm địnhViệt sử thông giám cơng mục ghi là do hàng tớng là Dơng Chấp Nhất đầu độc)

Đó là vào năm 1545, khi Nguyễn Kim cùng vua Lê tiến quân đi đánh vùng SơnNam Vua Lê đã truy tặng là Huân Tĩnh công, thuỵ Trung Hiến

Dòng họ Nguyễn Gia Miêu, thời Hậu Lê, từ Nguyễn Công Duẩn, đếncon là Đức Trung, rồi đời sau là Nguyễn Văn Lãng, tới Nguyễn Hoằng Dụ đãtạo nên một trờng phái quyền lực mà thanh thế ngày càng trở nên vững chắc.Chính điều đó đã tạo đà cho Nguyễn Kim phất lá cờ nghĩa gây dựng triều LêTrung Hng Nguyễn Kim đã kế thừa xứng đáng truyền thống của một dòng họnổi tiếng về ngành võ luôn biết vơn lên trong những cuộc đổi thay của lịch sử.Khi Nguyễn Kim qua đời, quyền lực thuộc về tay ngời con rể là Trịnh Kiểm -ngời Sóc Sơn, Biện Thợng, xuất thân hàn vi nhng có tài mu lợc, đã đợcNguyễn Kim mến tài mà gả cho ngời con gái đầu là Ngọc Bảo

Dù cha thể thay cha nắm giữ binh quyền, nhng hai ngời con trai củaNguyễn Kim cũng là những bậc dũng tớng Sau cái chết của cha, vua Lê

“phong con trởng của Kim là Uông làm Lãng quận công, con thứ là Hoàng

làm Hạ Khê hầu, sai đem quân đi đánh giặc” [60; 124]

Đại Nam thực lục tiền biên chép về Nguyễn Hoàng: “Chúa tớng vai

lân, lng hổ, mắt phợng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, ngời thức giả đều biết là bực phi thờng …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu Đầu làm quan triều Lê, đ ợc phong Hạ Khê hầu Đem quân đánh Mạc Phúc Hải (con tr ởng Mạc Đăng Doanh), chém đợc tớng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn đ ợc

Trang 19

vua yên uỷ khen rằng: Thực là cha hổ sinh con hổ“ ”” [73; 30] Kế tiếpcha, hai ngời con trai của Nguyễn Kim cũng đã đóng góp trong công cuộctrung hng nhà Lê Thế nhng, bấy giờ vua Lê phong Trịnh Kiểm làm đô t-ớng tiết chế các dinh quân thuỷ bộ các xứ kiêm tổng nội ngoại bình ch ơngquân quốc trọng sự, Thái s Lợng quốc công Mọi công việc trong nớc, từtrù tính mu lợc đến phong tớc bổ quan xa gần đều đợc tuỳ mình quyết

định, sau mới tâu vua Họ Nguyễn, từ vị thế ngời khởi nghiệp của sự trunghng, đến thời điểm này quyền lực đã thuộc về họ Trịnh Bắt đầu với TrịnhKiểm, họ Trịnh đã bớc lên vũ đài chính trị, từ một dòng họ nghèo khó trởthành “phi vơng phi bá quyền khuynh thiên hạ” Cũng từ đây, họ Trịnh, họNguyễn, từ tình thông gia đã thêm một mối mâu thuẫn Mối mâu thuẫn đóngày càng sâu sắc Và nếu nh các bậc anh hùng thờng xuất hiện trong buổigiao thời, khi “tranh tối tranh sáng”, thì cũng chính trong hoàn cảnh phứctạp đó của xã hội Đại Việt thế kỉ XVI đã đa tới sự xác lập vơng quyền củamột dòng họ trên vùng đất mới - họ Nguyễn, mà hệ quả của nó tác độngsâu sắc tới tiến trình đi lên của lịch sử dân tộc

1.2 Xác lập vơng quyền trên vùng đất mới

1.2.1 Sự kiện Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ Thuận Hoá Theo Quốc sửquán triều Nguyễn, đó là lối thoát của Nguyễn Hoàng trớc sự bức bách củaTrịnh Kiểm Đại Nam thực lực Tiền biên, trong phần chép về Thái tổ Gia Dụ

hoàng đế Nguyễn Hoàng có ghi: “Bấy giờ Hữu tớng triều Lê là Trịnh Kiểm

(bấy giờ xng là Lợng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc Tả tớng là Lãng quận công Uông (con trởng Triệu tổ) bị Kiểm hãm hại Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình cho kín

đáo để họ Trịnh hết ngờ” [73; 30] Sách Đại Nam liệt truyện Tiền biên, phần

chép về Nguyễn Ư Tỵ (Đại Nam thực lục Tiền biên ghi là Ư Dĩ), viết: “Trịnh

Kiểm đố kỵ vì Thái tổ có công to thờng muốn mu hại Ư Tỵ biết việc này, khuyên Thái tổ giả cách bị điên, có những cử chỉ thất thờng khiến cho Trịnh kiểm khỏi

để ý Mu sĩ của Kiểm là Nguyễn Hng Long khuyên Kiểm giết Thái tổ đi Có ngời mật báo với Thái tổ, Thái tổ cả sợ, bàn với Ư Tỵ Ư Tỵ nói: Kiểm có lòng nham

hiểm, ta nên tránh xa Thuận Hoá là đất hiểm trở kiên cố, có thể giữ mình đợc Vậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ, và là chánh phi Trịnh Kiểm) nói với Kiểm, xin vào trấn thủ Thuận Hoá, rồi sau sẽ mu làm việc

Trang 20

lớn”” [74; 75-76] Cơng mục cũng chép: “Cả hai đều bị Trịnh Kiểm nghi kị Rồi Tả tớng bị Kiểm làm hại Còn Thái tổ Gia Dụ hoàng đế ta thì tự lắng xuống, kín

đáo giữ mình” [76; 137].

Những dẫn chứng trên cho thấy các bộ quốc sử của triều Nguyễn trongcách chép về sự kiện năm 1558 đã cho rằng: sau khi Nguyễn Kim bị ám hại,quyền lực nằm trong tay Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm vì lo sợ trớc công trạngngày càng lớn của anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng đã sinh lòng nghi

kỵ, sát hại Nguyễn Uông Trớc tình thế đó, Nguyễn Hoàng buộc phải tìm cáchthoát thân - bàn với Ư Dĩ, đợc Ư Dĩ khuyên nhờ chị gái là Ngọc Bảo, vợ TrịnhKiểm xin vào làm trấn thủ Thuận Hoá Điều này càng thôi thúc NguyễnHoàng khi Nguyễn Hoàng cho ngời đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

thì đợc khuyên rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [73; 31] Từ trớc

đến nay, khi nghiên cứu về giai đoạn lịch sử này, chúng ta đều phải dựa vàonguồn sử liệu của quốc sử quán triều Nguyễn, do đó sự kiện Nguyễn Hoàng vàotrấn thủ Thuận Hoá cũng đợc nhìn nhận trên cơ sở nh thế

Song, ngày nay, trong xu thế nhìn nhận lại vai trò, vị trí của chúa Trịnh,cũng có ý kiến cho rằng đánh giá việc Trịnh Kiểm có mu đồ ám hại NguyễnUông, Nguyễn Hoàng và việc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá cũngnằm trong mu đồ ấy là không thoả đáng Tác giả Li Tana trong “Xứ Đàng

Trong lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18” thì viết: “Trịnh Kiểm

chỉ có ý tống khứ một địch thủ Nhng ông đã đi sai nớc cờ Và thay vì tống khứ, ông lại cho không Nguyễn Hoàng một vơng quốc” [56; 15] Vậy, cần phải

nhìn nhận vấn đề này nh thế nào một cách chân xác, khách quan?

Khảo sát các bộ sử cũ cho thấy, ngoài các đoạn trích trên, từ khiNguyễn Kim chết (1545) đến khi Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá(1558), không có một quyển sử nào ghi lại về việc Nguyễn Uông đã chết nhthế nào Cái chết của Nguyễn Uông có chăng cũng chỉ có thể xem là một sựngờ vực về một âm mu của Trịnh Kiểm mà thôi! Chép về sự kiện năm 1558,

Đại Việt sử kí toàn th chỉ ghi ngắn gọn: “Tháng 10, Thái s Trịnh Kiểm vào

chầu, dâng biểu tâu sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh Công là Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân và trấn thủ xứ Thuận Hoá để phòng giặc phía

đông cùng với Trấn quận công (không rõ tên) ở Quảng Nam cứu viện cho nhau Mọi việc ở xứ này, không cứ lớn hay nhỏ, và các ngạch thuế đều giao cả cho, hàng năm đến kì hạn, thì thu nộp” [60; 132] Đại Việt thông sử của Lê

Trang 21

Quý Đôn, trong phần chép về nghịch thần truyện Mạc Phúc Nguyên cũng chỉ

viết: “Tháng 10, Thái s triều Hoàng đế ở nơi hành tại, bàn về kế sách đánh

giặc Mạc, phát biểu ý kiến rằng …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu “Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu huân Tĩnh công là Nguyễn Hoàng, một ngời trầm tĩnh cơng nghị, lại có mu l-

ợc, đối với quân sĩ có độ lợng, khoan dung, giản dị Vậy xin bổ ông làm Trấn thủ, để trị an nơi biên thuỳ và chống giặc phơng Đông Và lại cùng với Trấn quận công ở xứ Quảng Nam, cùng làm binh cứu viện lẫn nhau Hết thảy các việc to nhỏ ở địa phơng ấy, xin đều để cho ông đợc tuỳ nghi định đoạt, lại xin

uỷ ông thu các sắc thuế, nộp về triều đình đúng kỳ hạn, để thêm vào sự chi tiêu trong nớc ”…biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu Vua Anh Tông thi hành theo ý kiến này, tự đấy Phúc Nguyên không dám nhòm ngó tới hai xứ Thuận Quảng” [33; 378-379].

Nh vậy, ngoài các tác phẩm của quốc sử quán triều Nguyễn, các bộ sử

cũ đều ghi về sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá với một ngòi bútkhá trung dung và súc tích Nội tình của sự kiện ấy, chúng ta chỉ biết quanhững bộ sử của quốc sử quán triều Nguyễn, điều đó khiến sự nghi ngờ vềmức độ thoả đáng khi dành cho Trịnh Kiểm - họ Trịnh những trang viết nhnguyên nhân đẩy Nguyễn Hoàng vào vùng đất “Ô Châu ác địa” cũng khôngphải là không có cơ sở

Chúng tôi thiết nghĩ rằng, để tìm hiểu về sự kiện năm 1558 - họNguyễn vào trấn thủ Thuận Hoá, cần phải xuất phát từ một trong những mốiquan hệ chủ yếu của xã hội Đại Việt đã đợc định hình từ thế kỉ XV: mối quan

hệ hoàng quyền - thần thuộc Mối quan hệ này có hai mặt Mặt thứ nhất, vớichức năng đặc biệt liên hệ với việc “trị dân coi quân” của hoàng quyền trong

hệ thống tổ chức Nhà nớc phong kiến, làm cho “tập đoàn Nhà nớc” Lê sơmang tính chất tập quyền chuyên chế của một hoàng quyền duy nhất, mộtquốc tính duy nhất, một đế vị thiên tử duy nhất Nhng mặt khác, khi nhữngngời nối nghiệp đã không đủ uy nghi và năng lực để cai quản đất nớc thì cũng

từ đó các tớng lĩnh trong quan hệ thần thuộc xuất hiện mu bá đồ vơng Giai

đoạn lịch sử thế kỉ XVI - XVII - XVIII là biểu hiện rõ nét cho tính phức tạpcủa mối quan hệ này Trong xã hội Đại Việt, hoàng quyền là tuyệt đối, vĩnhhằng Sức mạnh của hoàng quyền là sức mạnh của một “ngoại lệ quyền” Vàcũng bởi vậy, hoàng quyền bao giờ cũng có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với cácdòng họ phong kiến Họ Trịnh và họ Nguyễn cũng không nằm ngoài mục đích

ấy Thực chất, họ Nguyễn, họ Trịnh đều xuất phát từ ý đồ xác lập, khẳng định

Trang 22

vai trò dòng họ mình Song trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, phù Lê diệt Mạc làcái cớ duy nhất xác đáng, là ngọn cờ hiệu triệu nhân tâm cả nớc Cả họ Trịnh

và họ Nguyễn đều nhận thức rõ điều đó Công cuộc khôi phục quốc thống nhà

Lê của họ Nguyễn rồi họ Trịnh thực chất cũng chính là quá trình thiết lập vịthế của dòng họ mình

Chúng tôi cho rằng, nhìn nhận điều đó sẽ giúp chúng ta xem xét sự kiệnnăm 1558 một cách chân xác hơn Sự kiện vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558không chỉ đơn thuần là lối thoát của Nguyễn Hoàng do sự bức bách của TrịnhKiểm, thực ra đó còn xuất phát từ chính “mu bá đồ vơng”của cả hai dòng họ

Nguyễn Kim là ngời khởi nghiệp cho sự trung hng Thế nhng sau đó

ng-ời đợc trọng trách nắm quyền bính rồi thay vua Lê điều hành, quản lí đất nớc

là các chúa Trịnh Vị trí của chúa Trịnh bên vua Lê hẳn không thể làm họNguyễn an lòng chấp thuận? Phải thấy rằng, Nguyễn Hoàng đã có một tầmnhìn sâu rộng khi vào Thuận Hoá - và cũng chính trong sự kiện năm 1558 đãngầm mang t tởng đó của họ Nguyễn Điều này đợc thể hiện qua lời Ư Tỵ

khuyên Nguyễn Hoàng: “Vậy nên …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu xin vào trấn thủ Thuận Hoá, rồi sau sẽ m

-u làm việc lớn”

Với Trịnh Kiểm, chấp nhận cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, phải

chăng Trịnh Kiểm đã “đi sai một nớc cờ”? Phải chăng Trịnh Kiểm không

nhận ra vị trí chiến lợc của Thuận Hoá? Phải chăng Trịnh Kiểm không hề nghĩ

đến hậu hoạ về sau? Thực ra Trịnh Kiểm đã thấy Thuận Hoá là đất quan trọng

“Xứ Thuận Hoá là một kho tinh binh trong thiên hạ, thời xa, quốc triều ta bắt

đầu gây dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô Xứ ấy, địa hình hiểm trở, dân khí cơng cờng, lại có rất nhiều nguồn lợi trên rừng và dới

bể sông Về phơng diện trọng yếu không có xứ nào có thể hơn Gần đây, quan quân kinh lợc hàng mấy chục năm mới lấy đợc Vậy nên hết sức bảo thủ, để làm nh một bức bình phong vững chắc” [33; 378-379] Trịnh Kiểm cũng đã

nhận thấy đợc Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng là những anh hùng xuất thế Bởivậy mà cái chết của Nguyễn Uông trở nên nhiều nghi hoặc Nhng, sau TrịnhKiểm còn có Ngọc Bảo, món nợ tình cảm này khiến Trịnh Kiểm dẫu có dãtâm cũng khó có thể thực thi theo lời mu sĩ Nguyễn Hng Long Dầu vậy,Nguyễn Hoàng là một mối lo của Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm nhận thấy đểNguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá sẽ có nhiều cái lợi trong bối cảnh bấygiờ, sau rồi có cơ hội thuận tiện sẽ tính lại Để Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá,trớc hết, Trịnh Kiểm “tống khứ đợc một địch thủ” ngay cạnh mình, để đặt

Trang 23

thêm một dũng tớng đối phó với con cháu Chế Bồng Nga vẫn thờng sang quấynhiễu lãnh thổ Đại Việt Dù nhà Lê đã đặt đợc tam ty ở Thuận Quảng, nhng

“nhân dân vẫn cha một lòng Kiểm đơng lấy làm lo” [73; 31] Giữ yên đợc Thuận Quảng thì họ Trịnh có thể rảnh tay đối phó với quân Mạc “Nh vậy thì

một khoảng xứ Ô Châu, khỏi phải để ý lo tới, hạ thần sẽ khỏi phải phân tâm,

mà chỉ dốc hết ý chí về việc đông chinh; Bắt đầu kinh lý xứ Sơn Nam và xứ Sơn Tây, rồi thứ đến khôi phục Kinh đô cũ, tiễu trừ thoán nghịch Nghiệp trung hng

có thể sẽ sớm thành công” [33; 378-379] Nh vậy, sự tính toán này trớc hết giúp

Trịnh Kiểm trong công cuộc trung hng nhà Lê

Cả hai họ Trịnh - Nguyễn đều dùng vua Lê làm tấm bình phong - sửdụng một hoàng quyền trên danh nghĩa để xây dựng, thực thi quyền lực trênthực tế của mình Sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558cũng nằm trong mu tính đó của cả hai dòng họ Đó là sự gặp gỡ giữa ý chí mộtdòng họ muốn thoát khỏi sự bức bách, xác lập địa vị với mong muốn “đẩy lui”

đồng thời lợi dụng một “địch thủ” thực hiện mục đích của mình Cũng khôngthể trách cứ họ Nguyễn hay họ Trịnh, đó là một tất yếu khi các vua Lê Trunghng chỉ còn sống nhờ vào cái bóng hoàng quyền của nhà Lê trong hoài niệmcủa nhân dân Và điều quan trọng là chính từ công cuộc trấn thủ Thuận Hoá

đã đa đến các sự kiện về sau, họ Nguyễn từng bớc hình thành cơ sở cát cứ củamình ở Thuận Quảng

1.2.2 Từng bớc thực hiện ý đồ cát cứ

Đại Nam thực lục tiền biên ghi lại: “Mậu ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê

chính trị năm 1, Minh Gia tĩnh năm 37), mùa đông, tháng 10, chúa bắt đầu vào trấn Thuận Hoá, 34 tuổi …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu Dựng dinh ở xã ái Tử (thuộc huyện Vũ Xơng, tức nay là Đăng Xơng)” [73; 31] Miền đất Ô châu, nơi họ Nguyễn vào lập

nghiệp, dù đã có lịch sử khai thác lâu đời nhng cho đến thế kỉ XVI, đây vẫn

là vùng biên viễn xa xôi, xứ đày ải của những tù nhân và tù binh: “ nhân

dân Thuận Hoá bấy giờ gồm những thành phần rất phức tạp Ngoài những ngời chăm lo cày cấy, làm ăn còn những ngời còn theo nhà Mạc, hoặc khuấy động cho nhà Mạc, những ngời tù đày, những du đảng, phiêu lu, từ các miền Nghệ Thanh hoặc xa hơn nữa xâm nhập qua các thời đại, đi tìm may mắn ở miền đất mới, những quan quân bất mãn họ Trịnh hoặc bị lầm lỗi phải bỏ vào Nam, những thổ hào, thổ tù c ờng ngạnh, nhũng nhiễu lơng dân, những ngời Chàm còn ở lại” [47; 110] Tất cả bấy nhiêu hạng ngời,

Nguyễn Hoàng sẽ phải khai hoá, buộc họ làm ăn, thu phục nhân tâm, làm

đợc điều đó mới mong trụ vững trên vùng đất mới và gây dựng cơ đồ Đókhông phải công việc dễ dàng Cũng chính trong thử thách, tài trí của vị

Trang 24

chúa Tiên họ Nguyễn càng đợc khẳng định: “Chúa vỗ về quân dân, thu

dùng hào kiệt, su thuế nhẹ nhàng, đợc dân mến phục, bấy giờ thờng xng là chúa Tiên Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy ” [73; 32] Bấy giờ,

Nguyễn Hoàng đợc sự hợp sức của những ngời thân tín từ đất Tống Sơn,nhất là của Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phớc Trị, Mạc Cảnh Huống đã ra sức khuyasớm chăm lo, tiến hành công cuộc khai thác quy mô trên vùng đất mới.Nhiều làng xã đợc lập nên bên cạnh những đồn điền, ruộng đồng và thônxóm cũ

Nguyễn Hoàng vừa có tài cai trị vừa là một tớng tài giữ yên cơng vực

lãnh thổ Sử cũ ghi lại những sự kiện nh khi “Thế Tổ đã chết, trong nhà lục

đục, hai xứ Thanh Hoá và Nghệ An đều lay động, duy hai xứ Thuận Quảng vẫn yên lặng” [34; 61] Hay vào năm 1572, nguỵ Tiên quận công là ngời châu

Bố Chính làm hớng đạo cho nhà Mạc, dẫn nguỵ Lập quận công từ Hải Dơng

đem thuỷ quân 60 chiếc thuyền vào đánh cớp miền Thuận Quảng Thổ dânnhiều ngời hàng Đoan quận công chia binh chống giữ, dụ tớng giặc đến, giếtngay ở đất Qua Qua Quân giặc vỡ chạy, chết đuối cả, Tiên quận công thoátchạy đợc về châu Bố Chính Cũng từ đấy, nhà Mạc không còn nhòm ngó đến

đất Thuận Quảng nữa Chính Lê Quý Đôn, sử gia Lê - Trịnh cũng phải phê

rằng: “Đoan quận công có uy lợc, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối.

Cai trị hơn mời năm, chính sự khoan hoà, việc gì cũng thờng làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ Quân dân hai xứ thân yêu mến phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, ngời không ai trộm cớp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an c lạc nghiệp” [34; 62].

Đối với họ Trịnh, thời gian đầu để tạo vị thế trên vùng đất mới, đồngthời tập trung vào việc diệt kẻ thù chung là họ Mạc, Nguyễn Hoàng đã thựchiện đầy đủ nghĩa vụ thuế khoá và giữ mối quan hệ thân thuộc, trung thành

“hàng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nớc, triều đình cũng đợc nhờ”

[34; 62] Không chỉ là kho binh lơng, là hậu phơng cho họ Trịnh trong cuộcchiến tranh Nam - Bắc triều, Nguyễn Hoàng còn góp sức đánh bại các thế lựcnổi dậy của họ Mạc Điều này ít nhiều đã gây đợc lòng tin tởng hoặc hạn chế

đợc sự nghi ngờ của Trịnh Kiểm Đại Việt sử kí toàn th còn chép lại sự kiện

năm 1569: “Mùa thu, tháng 9, trấn thủ Thuận Hoá là Đoan quận công

Nguyễn Hoàng vào chầu, lạy chào ở hành tại, lại đến phủ thợng tớng lạy

Trang 25

mừng, giãi bày tình cảm anh em, rất thơng yêu quý mến nhau”[58; 139] Năm

1570, quân Mạc mở nhiều cuộc tấn công vào vùng Thanh - Nghệ, vua Lê phảigọi Nguyễn Bá Quýnh vừa thay Bùi Tá Hán làm trấn thủ Quảng Nam, ra làmtrấn thủ Nghệ An Trong hoàn cảnh đó, trớc khi chết một tháng, Trịnh Kiểm còndâng biểu xin giao cho Nguyễn Hoàng làm trấn thủ luôn cả hai xứ Thuận Hoá vàQuảng Nam Vua Thế Tông, năm Gia Thái thứ 1 (1573), vua Lê sai đem sắc đếnThuận Hoá phong Đoan quận công làm thái phó, sai chứa thóc để phòng bị biênthuỳ, hàng năm nộp thuế sai d 400 cân bạc 500 tấm lụa

Năm 1592, họ Trịnh đánh đổ đợc nhà Mạc, vua Lê xa giá trở về kinhthành Thăng Long Năm 1593, Nguyễn Hoàng thân chinh đem sổ sách về binhlơng, tiền lụa, vàng bạc, châu báu của hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam raBắc yết kiến dâng nộp vua Lê Việc làm này của Nguyễn Hoàng đợc vua Lê

khen ngợi “Tháng 5, chúa đem binh quyền [ra Đông đô] yết kiến Vua Lê yên

ủi rằng: Ông trấn thủ hai xứ, dân nhờ đợc yên, công ấy rất lớn”” [71; 38].

Hơn 8 năm ở ngoài Bắc, Nguyễn Hoàng đã có nhiều công lao trong việc cùng

họ Trịnh đàn áp những cuộc nổi dậy chống đối của d đảng nhà Mạc, giúp vua

Lê - họ Trịnh củng cố vững chắc nền thống trị của mình Phủ biên tạp lục của

Lê Quý Đôn chép “Bấy giờ Đoan quận công đã 69 tuổi rồi, vua lu lại làm

Thái uý hữu tớng, tiến phong quận công vẫn lĩnh đạo Thuận Quảng Rồi đi

đánh đảng giặc ở Sơn Nam và Hải Dơng, miền Bắc thì đánh Thái Nguyên, miền Tây thì đánh Tuyên Quang, hỗ giá rớc vua đến Nam Quan ở Lạng Sơn

để giảng hoà với quan tam ty của nớc Đại Minh, đều có công” [34; 63].

Sau hơn 8 năm ở ngoài Bắc, năm 1600, nhân sự kiện có cuộc nổi dậycủa Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khê ở cửa Đại An, NguyễnHoàng xin quân đi đánh dẹp rồi thừa cơ vợt biển trốn về Thuận Quảng HọTrịnh cho ngời đuổi theo nhng không kịp Do lực lợng lúc này còn yếu,Nguyễn Hoàng cha thể ra mặt chống đối họ Trịnh, nên đã để ngời con thứnăm là Hải và ngời cháu là Hắc ở lại Bắc làm con tin Khi Trịnh Tùng viết

th trách cứ và khuyên nên giữ việc thuế cống, Nguyễn Hoàng còn đáp lễ vàhẹn kết nghĩa thông gia, đem con gái Ngọc Tú gả cho con tr ởng Trịnh Tùng

Trang 26

thì “bấy giờ chúa đã ở Đông đô 8 năm, đánh dẹp bốn phơng đều thắng, vì có

công to, nên họ Trịnh ghét” [73; 41], vì vậy muốn giữ lại để kiềm chế Phủ

biên tạp lục thì ghi rằng: “Đoan quốc công thấy mình công danh ngày càng

lớn mà không từng đợc thởng thêm, lại bị bon di thần của nhà Mạc xui lừa, không đợc yên tâm, mu xử bọn thuỷ tớng quân là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga

và Bùi Văn Khê làm phản ở cửa biển Đại An, rồi tự xin đi đánh, đến nơi giả cách thua, bèn đi đờng biển về thẳng Thuận Hoá” [34; 63].

Theo sử gia C.Maybon: khi cha con ông cháu Nguyễn Hoàng trở raThăng Long năm 1793 thực chẳng phải có ý mừng vua Lê chúa Trịnh và ở lại

8 năm cũng chẳng do thiện chí nào khác hơn là nghiên cứu mọi hành động,mọi chính sách, các bí mật quân cơ của họ Trịnh và lòng dân Bắc hà đối vớivua Lê chúa Trịnh Nhng thời kì nghiên cứu này kéo quá dài là do họ Trịnh đã

cố giữ họ Nguyễn ở lại vì nghĩ rằng Trịnh Kiểm đã lầm thả hổ về rừng, nay hổtrở ra đồng bằng thì cố nhốt hổ vào cũi sắt mãi mãi [82; 83- 84]

Nh vậy, có thể thấy, trong gần nửa thế kỉ đầu tiên sau khi NguyễnHoàng vào trấn thủ Thuận Hoá, hai họ Trịnh, Nguyễn vẫn cha ra mặt chống

đối nhau Dù mang sẵn một mối mâu thuẫn song th từ hai bên vẫn còn dùnglời lẽ ôn hoà, thậm chí còn sử dụng hôn nhân làm sợi dây duy trì mối quan hệgiao hảo bề ngoài Sở dĩ nh vậy vì họ Nguyễn vẫn cần đợc yên ổn dành thờigian tạo dựng và củng cố lực lợng Họ Trịnh tuy biết cái họa họ Nguyễn nhngvẫn phải hoà hoãn vì sợ bị kẹp vào thế hai gọng kìm giữa họ Mạc - họNguyễn Thêm nữa, cả hai họ Trịnh, Nguyễn đều cha dám khởi sự trớc vì sợ

mất lòng dân Cả hai đều có công phù Lê diệt Mạc, “nếu Nguyễn đánh trớc

thì Trịnh dựa vào Lê mà cho Nguyễn cậy công làm phản Nếu Trịnh đánh

tr-ớc thì Nguyễn sẽ nói Trịnh lạm quyền giết hết công thần để mu đồ thoán nghịch” [82; 89] Nhng chính nhờ gần nửa thế kỉ đó, họ Nguyễn đã xây dựng

đợc miền Thuận Quảng trở nên cờng thịnh, để rồi sau cuộc trở về của NguyễnHoàng, họ Nguyễn thực thi một chính sách mới mà ý đồ tách ra khỏi sự ràngbuộc của chính quyền Lê - Trịnh ngày càng rõ nét hơn

Về Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng “cho dời dinh sang phía đông dinh ái

Tử (bấy giờ gọi là Dinh Cát)” [73; 41].

Năm 1602, Nguyễn Hoàng sai Nguyễn Phúc Nguyên - con trai thứ sáucủa mình làm trấn thủ dinh Quảng Nam Về sự kiện này, Đại Nam thực lục

tiền biên ghi: “Quảng Nam đất tốt dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào

Trang 27

nhiều hơn Thuận Hoá mà số quân thì cũng bằng quá nửa Chúa thờng để ý kinh dinh đất này Đến đây, đi chơi núi Hải Vân, thấy một giải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển Chúa khen rằng: Chỗ này là đất

yết hầu của miền Thuận Quảng Liền v ” ợt qua núi xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên), xây kho tàng, chứa lơng thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ” [73; 42] Hai năm sau, Nguyễn Hoàng bắt đầu

thay đổi các khu vực hành chính “lấy huyện Điện bàn thuộc phủ Triệu phong

đặt làm phủ Điện bàn, quản năm huyện (Tân phúc, An nông, Hoà vang, Diên khánh, Phú châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam Đổi phủ Tiên bình làm phủ Quảng bình, phủ T ngãi làm phủ Quảng ngãi, huyện Lệ Giang thuộc phủ Thăng hoa (nay đổi làm Thăng bình) làm huyện Lễ dơng, huyện Hy giang làm huyện Duy xuyên” [73; 43] Năm 1611, Nguyễn Hoàng đặt phủ Phú Yên Lời

di chúc của Nguyễn Hoàng với hoàng tử thứ sáu Nguyễn Phúc Nguyên có thể

coi là minh chứng rõ nhất cho ý định cát cứ của vị chúa Tiên: “Đất Thuận

Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành sơn) và sông Gianh (Linh giang) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá bia (Thạch Bi sơn) vững bền Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của ngời anh hùng Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời Ví bằng thế lực không địch đợc, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dạy của ta” [73; 44].

Ngời kế nghiệp Nguyễn Hoàng - chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đã thựcthi đúng nh lời di chúc ấy

Năm 1614, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cải tổ bộ máy hành chính màmục đích là thải hồi hết các thuộc tớng họ Trịnh, tự bổ dụng các quan lại.Việc làm của Nguyễn Phúc Nguyên thể hiện thái độ rõ ràng trong việc hạnchế và loại bỏ sự giám sát của chính quyền Lê - Trịnh đối với các hoạt độngcủa đất Đàng Trong

Năm 1620, sử cũ có ghi lại sự kiện con thứ 7 và thứ 8 của Nguyễn Hoàng

là chởng cơ Hiệp và Trạch mu loạn, đã gửi th xin họ Trịnh phát binh và hẹn làmnội ứng Mu kế của Hiệp và Trạch không thành, 5000 quân Trịnh kéo vào đóng

ở Nhật Lệ rồi lại phải rút về Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Chúa thấy

Trịnh vô cớ nổi binh, từ đấy không nộp thuế cống nữa” [73; 50].

Không có cuộc tấn công của họ Trịnh vào đất Thuận Quảng, nhng sựkiện năm 1620 đã trở thành mốc dấu cho thời kì mà ý đồ của cả hai dòng họ

Trang 28

bộc lộ công khai để tất yếu đa đến cuộc xung đột tơng tàn giữa hai tập đoànphong kiến, đa đất nớc vào vòng binh đao khói lửa Cũng chính sự kiện đó đãcho Nguyễn Phúc Nguyên một cái cớ để không nộp thuế cống Thực ra cả họTrịnh và họ Nguyễn đều cần đến một cái cớ Họ Trịnh cần một cớ để tiêu diệt họNguyễn, kẻ thù còn lại, mối lo canh cánh cho vị trí của mình Họ Nguyễn cũngcần một cái cớ để tuyên bố chống lại họ Trịnh, khôi phục lại quyền hành của vua

Lê, nhng thực ra cũng để bảo vệ lợi ích của dòng họ mình

Mu đồ này của họ Nguyễn đợc chính chúa Nguyễn Phúc Nguyên bộc lộ

khi năm 1623, Trịnh Tùng mất, chúa đã bảo với các tớng rằng: “Ta muốn

nhân cơ hội này nổi nghĩa binh để phò vua Lê, nhng đánh ngời trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc ngời làm nguy là bất võ Huống chi ta với họ Trịnh

có nghĩa thông gia, chi bằng trớc hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình rồi sau hãy liệu kế” [73; 51] Đúng nh sử gia C.Maybon nhận định, có lẽ đó

chỉ là những lời tô vẽ của sử gia triều Nguyễn, thực chất là do họ Nguyễn vẫncha đủ lực lợng để Bắc tiến mà thôi! Thực ra, chính các sử gia triều Nguyễncũng phải thừa nhận về việc không nộp su thuế là chủ đích của các chúa

Nguyễn Đại Nam thực lục tiền biên ghi rằng: Đầu là Đào Duy Từ từng

khuyên chúa đừng nộp thuế cho họ Trịnh Chúa nói: tiên vơng tài trí hơn đời cũng còn phải đi lại thông hiếu Ta nay nhỏ mọn không bằng tiên vơng, đất

đai binh giáp lại không bằng một phần mời của Đông đô, nếu không nộp thuế cống thì lấy gì để giữ đất đai mà nối nghiệp trớc? Duy Từ th ” a rằng: Thần

nghe nói dẫu có trí tuệ, không bằng nhân thời thế Cứ uy vũ anh hùng, m u kế sáng suốt của tiên vơng, không phải là không giữ đợc đất đai Song thời bấy giờ những thuộc tớng ở ba ty đều tự họ Trịnh cất đặt …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu , phàm cử động việc gì cũng bị bọn họ kiềm chế, nên tiên vơng phải nhẫn nại nh thế Nay chúa thợng chuyên chế một phơng, quan liêu tự quyền cất đặt, một lời nói ra ai còn dám trái Thần xin hiến một kế, theo kế ấy thì không phải nộp thuế, mà giữ đợc đất

đai và có thể dựng nên nghiệp lớn”” [73; 56-57] Nh vậy, khi có đủ thực lực,

các chúa Nguyễn sẵn sàng công khai bộc lộ ý đồ của mình Chúa Nguyễn đã

sử dụng việc không nộp thuế để thực thi điều đó và đã buộc họ Trịnh đến chỗkhông thể nhẫn nhịn hơn mà phải phát binh trớc

Với họ Trịnh, gây sự chiến tranh với họ Nguyễn không phải là điều dễdàng Dẫu sao họ Trịnh vẫn phải e dè phần nào bởi họ Nguyễn trớc sau bềngoài vẫn tỏ ra trung chính phò vua giúp nớc Không phải ngẫu nhiên mà

Trang 29

Phạm Văn Sơn hạ bút phê rằng “Có điều đặc biệt là nhất cử nhất động của

Hoàng đều luôn luôn phủ một lớp vàng son nhân nghĩa vì Hoàng là con ngời rất sành chính trị, còn họ Trịnh thì có phần kiêu ngông không coi d luận sĩ phu và nhân dân ra gì hết” [82; 84] Nguyễn Phúc Nguyên lên kế nghiệp cha

cũng tỏ rõ là một anh tài Giờ đây, họ Trịnh chỉ còn vin vào cái cớ lơng thuếcủa triều đình không đợc nộp đầy đủ để lấy danh nghĩa cho cuộc xuất binh

Năm 1624, Trịnh Tráng sai Công bộ thợng th Nguyễn Duy Thì và Phạm

Văn Tri vào đòi thuế, chúa Nguyễn đã trả lời rằng: “Hai xứ Thuận Hoá liền

mấy năm không đợc mùa, dân gian túng đói, vì thế không nỡ thu thuế Khi khác đợc mùa sẽ chở nộp cũng cha muộn” [73; 51] Sứ giả nhà Trịnh đành

phải quay về và họ Trịnh vẫn cha thực thi đợc ý đồ của mình

Sang năm 1626, một lần nữa Trịnh Tráng lại sai sứ vào đòi thuế và đòichúa Nguyễn đến Đông đô Nguyễn Phúc Nguyên đã đáp trả đó là do ý riêngcủa họ Trịnh, chứ không phải ý vua Lê mà khớc từ Năm 1627, chúa Trịnh sai

Lê Đại Nhậm phụng sắc vua Lê đòi chúa Nguyễn cho con vào chầu và phảinộp 30 thớt voi đực, 30 chiếc thuyền làm lệ tiến cống nhà Minh Họ Nguyễn

đã chối từ Và lần này, sợi dây mong manh để duy trì quan hệ giữa hai họTrịnh - Nguyễn đã không thể duy trì đợc nữa Họ Trịnh phát binh Cái cớ lơngthuế đã hoàn thành nhiệm vụ của nó Cả họ Trịnh và họ Nguyễn đã dùng cuộcchiến để loại trừ đối thủ, khẳng định vị trí dòng họ mình

Trong quá trình chiến tranh rồi hòa hoãn với họ Trịnh, năm 1630,Nguyễn Phúc Nguyên làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc cho TrịnhTráng Đây không chỉ là sự khẳng định dứt khoát chính quyền chúa Nguyễn ởphía Nam là chính quyền độc lập, cắt đứt hẳn mọi quan hệ lệ thuộc với chínhquyền Lê - Trịnh ở phía Bắc, mà còn đánh dấu quá trình chuyển đổi căn bản

từ một chính quyền địa phơng, mang tính chất quân sự của nhà nớc Lê - Trịnhsang một chính quyền dân sự của chúa Nguyễn Tác giả Vũ Minh Giang nhận

định: “Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng

ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Lê - Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn Nó còn phản ánh một ớc nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đờng lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hớng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội Về mặt khách quan việc làm của Phúc Nguyên có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc” [99; 139].

Trang 30

Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn trải qua bảy lần đại chiến, cuối cùngthì sơn hà bị rạch đôi Cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều không thể có đợc vị trí

độc tôn của mình bên cạnh vua Lê Song, cũng qua cuộc chiến gần nửa thế kỉ

ấy, họ Trịnh đã buộc phải thừa nhận mảnh đất Đàng Trong của các chúaNguyễn Họ Nguyễn đã thành công trong ý đồ cát cứ, xây dựng nghiệp lớn.Cũng trên mảnh đất Đàng Trong, họ Nguyễn dần thiết lập tổ chức chính quyềncủa mình mà về thực chất là sự xác lập của một nhà nớc mới, khác biệt so vớinhà nớc Đàng Ngoài

1.2.3 Tổ chức chính quyền của chúa Nguyễn

Từ một chính quyền địa phơng, họ Nguyễn đã tạo dựng một vơngquyền, với một nhà nớc mới Quá trình đó phát triển dần theo diễn tiến củacông cuộc cát cứ và việc xây dựng lực lợng của chúa Nguyễn Đó vừa là biểuhiện, vừa là kết quả của quá trình này

Trong thời kì hơn nửa thế kỉ cai trị của Nguyễn Hoàng, mọi thể chế

chính quyền họ Nguyễn vẫn theo sự sắp đặt của vua Lê - chúa Trịnh: “Phàm

quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa” [73; 31]

Nguyễn Phúc Nguyên lên thay cha, năm 1614 đã thực thi một thay đổilớn nhằm độc lập hơn với chính quyền Lê - Trịnh: cải cách bộ máy hành chínhtheo phiên chế họ Nguyễn Tam ty của nhà Lê trớc kia bị huỷ bỏ mà thay vào

đó là ba ty, ở Chính dinh thì ba ty này là ty Xá sai, coi việc văn án từ tụng, do

đô tri và kí lục giữ, ty Tớng thần lại, coi viêc trng thu tiền thóc, phát lơng choquân các đạo, do cai bạ giữ Ty Lệnh sử, coi việc tế tự, lễ tiết và chu cấp l ơnghớng cho quân đội Chính dinh, do nha uý giữ Về những thuộc viên thì mỗi ty

có 3 câu kê, 7 cai hợp, 10 thủ hợp, 40 ty lại Ngoài ra còn đặt ty Nội lệnh sửkiêm coi các thứ thuế, hai ty Tả, Hữu lệnh sử chia nhau thu tiền sai d ở hai xứnộp về Nội phủ Các dinh ở ngoài có nơi chỉ đặt một ty Lệnh sử, có nơi đặt hai

ty Xá sai và Tớng thần, lại có nơi kiêm đặt hai ty Xá sai và Lệnh sử Nh vậy,

tổ chức chính quyền của chúa Nguyễn vẫn cha có đợc sự thống nhất, điều đóthể hiện tính chất bớc đầu của công cuộc xây dựng một nhà nớc cát cứ

Năm 1638, Nguyễn Phúc Lan bắt đầu đặt thêm các chức Nội tả, Ngoạitả, Nội hữu, Ngoại hữu làm “tứ trụ đại thần”, là những chức quan cao cấptrong chính quyền trung ơng, đứng trên tam ty

Sang thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng 3 năm 1693, “ngày ất mão,

chúa coi chầu …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu bầy tôi đến mừng, tấn tôn chúa làm Thái phó quốc công, lại

Trang 31

dâng tôn hiệu là quốc chúa Từ đấy sắc lệnh đều xng là quốc chúa” [73; 147].

Đại Nam thực lục tiền biên cũng ghi lại sự kiện năm 1702, Nguyễn Phúc Chusai Hoàng Thần, Hng Triệt đem quốc th và cống phẩm sang Quảng đông để

cầu phong Nhà Thanh cũng nhận thấy “Nớc Quảng Nam hùng thị một phơng,

Chiêm thành, Chân lạp đều bị thôn tính, sau tất sẽ lớn” Thế nhng, vì nhà Lê

còn đó nên nhà Thanh không thể nào phong cho chúa Nguyễn đợc, “việc

phong bèn thôi” [73; 159]

Năm 1709, “mùa đông, tháng 12, ngày nhâm dần, đúc quốc bảo Sai lại

bộ đồng tri là Qua Tuệ th coi việc chế tạo (ấn khắc chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo Năm ấy đúc xong, về sau liệt thánh truyền nhau lấy làm quốc bảo …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu ” [73; 170] )

Nh vậy, có thể thấy đến thời Nguyễn Phúc Chu, ý đồ xng vơng vị trên

đất Đàng Trong đã đợc thực thi, song không thành Phải đợi tới khi NguyễnPhúc Khoát lên nối nghiệp, dù cha đợc sự công nhận của nhà Thanh, điều nàymới thành hiện thực

Năm Giáp Tý (1744), Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vơng Sử nhàNguyễn ghi rằng đây là do lời của triều thần nài nỉ, còn chúa thì “nhún nhờngkhông chịu nhận” Từ đây, các danh xng đều đợc định lại, phủ chúa gọi là

điện, thần dân khai trình công việc trớc đây dùng chữ “thân” nay gọi là “tấu”

Từ đờng thì gọi là tông miếu, vợ chúa trớc kia xng là Chánh phu nhân nay vợcả gọi là Tả hành lang, vợ thứ là Hữu hành lang

Hệ thống chính quyền trung ơng cũng đợc tổ chức lại thành 6 bộ: bộLại thay cho Nha ký lục ở Chánh dinh, bộ Lễ thay cho Nha uý, Đô tri gọi là

bộ Hình, Cai bộ phó đoán gọi là bộ Hộ Đặt thêm bộ Binh và bộ Công, Hànlâm viện thay cho Văn chức Từ đây, triều phục các quan văn võ đến y phụccủa nhân dân Đàng Trong cũng thay đổi, châm chớc theo chế độ của các đờitrớc Chúa Nguyễn xng Thiên vơng với các thuộc quốc, tuy vậy vẫn dùng niên

hiệu vua Lê trong các công văn Có nhà nghiên cứu đánh giá: “Nh vậy việc

x-ng vơx-ng, đúc ấn của Võ Vơx-ng có lẽ cũx-ng chỉ để thể hiện tinh thần củx-ng cố địa

vị ở Đàng Trong tạo nên đối trọng với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chứ không

hề có ý định xng hùng xng bá chia cắt đất nớc” [83; 22] Thực ra, chúng ta

không đợc quên các chúa Nguyễn, cũng nh các chúa Trịnh trong một thời giandài đã luôn sử dụng vua Lê để che chắn cho mu bá đồ vơng của mình Cũng

nh vậy, khi thực lực đã có đủ, các chúa Nguyễn sẵn sàng tách ra hẳn nhà Lê

Trang 32

Bởi vậy mà có cuộc cầu phong của chúa Nguyễn Phúc Chu Song việc nhàThanh thấy nớc An Nam còn có vua Lê mà từ chối phong vơng khiến cho cácchúa Nguyễn dầu sao chăng nữa, vẫn cần phải dựa vào danh nghĩa vua Lê đểthực thi quyền lực của mình trên mảnh đất Đàng Trong.

Về việc dựng đặt các trị sở của chính quyền trung ơng Đàng Trongcũng thể hiện ý đồ của các chúa Nguyễn trong việc thiết lập một Nhà nớc mớiquy củ, vững chắc Ban đầu, khi vào trấn trị Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng cho

đóng dinh ở xã ái Tử, thuộc huyện Vũ Xơng, là nơi khoảng giữa giáp giới haiphủ của Thuận Hoá là Tiên Bình và Triệu Phong Năm 1570, sau khi ra Tây

Đô yết kiến vua Lê trở về, Nguyễn Hoàng đã cho dời dinh sang xã Trà Bát,cách ái Tử khoảng 2 km Năm 1600, sau 8 năm ở Đông Đô, về lại ThuậnHoá, Nguyễn Hoàng đã cho dời dinh sang phía đông ái Tử gọi là Dinh Cát.Năm 1626, khi nguy cơ của cuộc chiến tranh với họ Trịnh đã gần kề ngay trớcmắt, Nguyễn Phúc Nguyên đã quyết định chuyển từ Dinh Cát dời vào xã PhúcYên, huyện Quảng Điền, cách Huế khoảng 15 km Năm 1635, Nguyễn PhúcLan tiếp tục cho dời thủ phủ sang Kim Long, thuộc huyện Hơng Trà, cáchHuế chỉ còn vài cây số Năm 1687, sau cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kếtthúc, Nguyễn Phúc Trăn lên ngôi lấy phủ cũ ở Kim Long làm Thái miếu, choxây dựng phủ mới ở Phú Xuân Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, thủ phủ đợc dờisang xã Bác Vọng, nhng chỉ đến năm 1738, Nguyễn Phúc Khoát đã cho lập lại

ở Phú Xuân, bên tả phủ cũ Khi Nguyễn Phúc Khoát xng vơng, phủ chính đợc

đổi là Đô thành, nơi ở của chúa cũng đổi thành Điện Từ đây, thủ phủ của cácchúa Nguyễn đã ổn định Có thể nhận thấy rằng trị sở chính quyền trung ơngcủa các chúa Nguyễn đã dần đợc dịch chuyển và phía Nam và đóng vị trítrung tâm theo quá trình chúa Nguyễn mở rộng cơng vực lãnh thổ Dù vậy, sựdịch chuyển này không phải là nhiều, chủ yếu nhằm đảm bảo an toàn cho cáctrung tâm chính trị của Đàng Trong

Về tổ chức chính quyền địa phơng, ngay từ năm 1615, Nguyễn Phúc

Nguyên đã “bắt đầu qui định quy chế về chức vụ của phủ huyện: Tri phủ, tri

huyện giữ việc từ tụng; thuộc viên có đề lại, thông lại chuyên việc tra khám, huấn đạo, lễ sinh chuyên việc tế tự, còn tô thuế sở tại thì đặt quan lại khác để trng thu” [73; 47] Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1707 đã qui định:

“Nhân số xã nào từ 999 ngời [trở xuống] thì cho 18 ngời làm tớng thần xã

tr-ởng, 400 ngời [trở xuống] cho 8 ngời làm tớng thần xã trtr-ởng, từ 199 ngời [trở

Trang 33

xuống] cho 2 ngời làm tớng thần xã trởng, từ 70 ngời [trở xuống] cho một

ng-ời làm tớng thần xã trởng” [73; 164-165]

Cho đến giữa thế kỉ XVIII, khi họ Nguyễn đã làm chủ đợc một vùng đấtrộng lớn từ Nam dải Hoành Sơn đến mũi Cà Mau và kiện toàn bộ máy chínhquyền trung ơng, năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã cho đặt lại toàn bộ

đơn vị hành chính của Đàng Trong thành 12 dinh và một trấn: “ở ái tử gọi là

Cựu dinh, ở An trạch gọi là Quảng bình dinh, ở Võ xá gọi là Lu đồn dinh, ở Thổ ngõa gọi là Bố chính dinh, ở Quảng nam gọi là Quảng nam dinh, ở Phú yên gọi là Phú yên dinh, ở Diên khánh, Bình khang gọi là Bình khang dinh, ở Bình thuận gọi là Bình thuận dinh, ở Phúc long gọi là Trấn biên dinh, ở Định viễn gọi là Long hồ dinh” [73; 208] và một trấn Hà Tiên.

ở các dinh trấn đều đặt chức chức trấn thủ, cai bạ và kí lục để cai trị,riêng hai phủ Quảng Ngãi và Qui Nhơn thuộc dinh Quảng Nam, đặt hai chứctuần phủ và khám lí Hà Tiên có chức đô đốc

Dới dinh là các Phủ và Huyện ở Phủ có Tri phủ, ở huyện có Tri huyện

đứng đầu Dới Tri phủ, Tri huyện là các thuộc viên nh Phủ lại ở phủ, Đề lại ởhuyện có nhiệm vụ giữ các văn án từ tụng hay Phủ thông lại, Huyện thông lại

có nhiệm vụ theo Tri phủ, Tri huyện sai phái và tra xét các công việc từ tụngtrong phủ hoặc trong huyện

Dới huyện là Tổng và Xã ở xã, họ Nguyễn cho đặt các chức dịch là ớng thần và Xã trởng Những nơi gần miền núi hoặc ven biển thì đợc đặt thànhcác thuộc Thuộc gồm những phờng, thôn, man, nậu lẻ tẻ hợp lại Theo ĐạiNam thực lục tiền biên thì phủ Thăng Hoa có 15 thuộc, phủ Điện Bàn 4 thuộc,phủ Quảng Ngãi 4 thuộc, phủ Qui Ninh 13 thuộc, phủ Phú Yên 38 thuộc, phủBình Khang 20 thuộc, phủ Duyên Ninh 14 thuộc, phủ Bình Thuận 20 thuộc.Vào thời chúa Nguyễn Phúc Chú đã từng sai Ký lục Chính dinh là Nguyễn

T-Đăng Đệ đi tuần xét các phủ xứ Quảng Nam và chiếu theo hộ tịch nhiều hay ít

mà đặt các chức dịch Thuộc có từ 500 ngời trở lên thì đặt một ngời cai thuộc,một ngời kí thuộc, 450 ngời trở xuống thì đặt một kí thuộc, 100 ngời trởxuống thì đặt một tớng thần, duy các thuộc Hoa Châu, Phú Châu, Liêm Hộ,Võng Nhi, Hà Bạc thì đặt thêm một đề lãnh [73; 191]

Ngoài ra, họ Nguyễn còn đặt riêng một ngạch quan chức gọi là “bản ờng quan” chuyên việc thu thuế từ phủ, huyện trở xuống mà không cần đến

đ-đội ngũ quan chức địa phơng bao gồm các chức nh: Chánh phó đề đốc, Chánhphó đề lãnh, Ký lục, Cai phủ, Cai tri, Ký phủ, Th ký, Cai tổng, Lục lại Năm

Trang 34

1725, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho giảm bớt số viên chức của Bản đờngquan để giảm phiền phức cho dân Chúa Nguyễn qui định: xứ Thuận Hóa: mỗiphủ đặt 1 Đề đốc, Đề lãnh, Ký lục, Cai phủ, Th ký, mỗi huyện đặt 3 Cai tri, 3

Th kí, 4 Lục lại, mỗi tổng đặt 3 Cai tổng, mỗi thuộc có 1 Cai thuộc và 1 Lụclại ở xứ Quảng Nam: mỗi phủ đặt một Chánh hộ khám lý, Đề đốc, Đề lãnh,

Ký lục, Cai phủ, Th ký, mỗi huyện đặt một Cai tri, Th kí, Lục lại, mỗi tổng 3viên Cai tổng, mỗi thuộc đặt 1 viên Đề lãnh, 1 viên Cai thuộc, 2 viên Ký thuộc

và 2 viên lục lại, số còn d thì thải bớt Mặc dù vậy, số lợng quan lại ở Đàng

Trong vẫn quá nhiều “tính cả trong hai xứ, quan bản đờng chính ngạch vẫn

nhiều, đặt thừa quá lạm, và tớng thần xã trởng nhiều gấp đôi, không kể xiết”

Lê Quý Đôn nhận xét: “Triều nhà Trần trong nớc chia làm 24 lộ Minh

Tông còn bảo sao có một nớc nh lòng bàn tay mà đặt quan nhiều nh thế Quảng Nam và Thuận Hóa chỉ hai trấn thôi mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hơng trởng, kể có hàng nghìn, nhũng lạm quá lắm Tất cả bổng lộc

đều lấy ở dân, dân chịu sao đợc” [34; 186-187] Điều đó cho thấy chính

quyền chúa Nguyễn còn khá cồng kềnh, phức tạp Tổ chức chính quyền ĐàngTrong cũng không có sự thống nhất giữa các địa phơng và mức độ tập quyềncũng không cao nh ở Đàng Ngoài Đây cũng là tính chất của quá trình từng b-

ớc thiết lập nhà nớc mới, trên một vùng đất mà bản thân diện tích của nókhông ổn định theo hớng ngày càng đợc mở rộng về phía Nam Mặc dù bộmáy chính quyền Đàng Trong đã sớm bộc lộ những hạn chế ngay trong bớc

đầu xây dựng, thế nhng đồng thời, Nhà nớc ấy cũng có rất nhiều những điểmtiến bộ đa lại sự phát triển kinh tế xã hội

Sử gia C.Maybon nhận xét rằng: “Sự trung thành của họ Nguyễn đã là

điều đáng ngờ thì thâm tâm của họ Nguyễn chỉ có hai điều:

1) Giành nhau địa vị với họ Trịnh

2) Giành không đợc thì lập triều đình riêng một góc trời Phải chi Nguyễn đạp đổ đợc Trịnh, ảnh hởng và uy thế tràn khắp Bắc hà thì số phận các ông vua Lê đã chắc hơn gì…biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu” [82; 177].

Trang 35

Có thể nói, họ Nguyễn, bắt đầu với Nguyễn Kim, đã là dòng họ mở đầucho một sự nghiệp lớn lao: trung hng nhà Lê Sự nghiệp ấy cha thành thìNguyễn Kim bị đầu độc chết, họ Nguyễn đánh mất vị thế của mình bên vua

Lê, đánh mất vai trò tại triều đình Thăng Long Cũng chính điều đó lại dẫn tới

hệ quả sự xác lập của vơng quyền chúa Nguyễn trên vùng đất mới Nhận xétcủa sử gia Maybon là một sự thật, đó cũng là tất yếu Không thể đòi hòi ở lịch

sử những điều vợt qua bản thân thời đại ấy Các vua Lê chỉ còn là những chiếcbóng của một thời vàng son đã đi qua, không thể yêu cầu chúa Trịnh hay chúaNguyễn phải trao trả quyền lực khi bản thân các vua Lê đã tự đánh mất giangsơn, khi cơ đồ đó là do chúa Nguyễn, chúa Trịnh gây dựng nên bằng tài trí,công sức của chính mình

Với sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558, mầm cát

cứ đất nớc đã hình thành Và sau đó gần 70 năm đã bùng nổ cuộc chiến tranhliên miên của hai họ Trịnh - Nguyễn, cuối cùng lấy sông Gianh chia đôi đất n-

ớc, đó là tội lỗi của họ Trịnh, họ Nguyễn trớc lịch sử dân tộc Đã đành là vậy!Thế nhng, cũng trong bối cảnh ấy, lãnh thổ dân tộc lại mở rộng hơn bao giờhết, kinh tế, xã hội có những bớc phát triển mới cha từng có, đó cũng là một kìtích đáng trân trọng trên mảnh đất Đàng Trong, cũng là đóng góp to lớn củacác chúa Nguyễn với dân tộc mà mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong những ch-

ơng tiếp theo

Chơng 2.

chúa Nguyễn với công cuộc mở đất phía Nam

2.1 Công cuộc Nam tiến trớc thời các chúa Nguyễn

2.1.1 Con đờng Nam tiến trong lịch sử dân tộc

Trang 36

Phạm Văn Sơn viết: “Bàn về Nam tiến là một công cuộc mở đất nuôi

dân từ năm bảy thế kỉ trở về đây, chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng vô biên của nó Từ đời Lý qua đời Trần, đến Hậu Lê, nhờ sự yên ổn vui hòa luôn bốn năm trăm năm, nhân khẩu đợc gia tăng mạnh khiến vùng Trung châu Bắc Việt xa kia hoang vu rộng rãi là nh thế mà nay đã thành ruộng ấp tốt tơi, nhng lại cũng vì thế mà đồng bằng Bắc Việt đã trở nên chật hẹp thêm

về diện tích canh tác …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu thế tất nhiên nguồn sống của dân ta mỗi ngày mỗi nh

đi dần đến chỗ bế tắc” [82; 291] Mở đất chính là quá trình giải quyết nạn

Hơn nữa, cần phải thấy một điều rằng, sự tranh chấp để xác lập và bảo

vệ chủ quyền giữa các quốc gia cũng nằm trong bối cảnh chung của nhữngcuộc chiến tranh Đông Nam á ở thời điểm bấy giờ Sự ghi chép của sử cũ chothấy ngay cạnh lãnh thổ Đại Việt, quốc gia Chiêm Thành cũng sẵn sàng cónhững cuộc tấn công xâm chiếm Đại Việt khi đủ lực lợng Nhân dân vùngbiên giới luôn phải chịu sự quấy nhiễu của quân Chiêm Và sự thực đã diễn racho thấy, một đặc điểm nổi bật trong cuộc Nam tiến của dân tộc Việt là cuộcNam tiến không phải là một đờng thẳng, không phải một quá trình dễ dàng

Đó là sự đấu tranh liên tục, khi ngời Việt có đất của ngời Chiêm, nhng cũng

có khi ngời Chiêm đã vào chiếm tận kinh đô của Đại Việt Nhiều nghiên cứu

của các học giả cho thấy rằng: “ngời Chàm là giống ngời hung bạo, gan dạ, và

là những thủy thủ kiên cờng” [47; 34] Sống ở những thung lũng chật hẹp dọc

duyên hải, phía tây ngăn cách bởi núi cao, phía đông là biển cả nên họ phải đitìm những gì họ không có Vì vậy ngời Chàm thờng mu đồ tiến ra bắc, vàonam xâm chiếm các vùng đồng bằng màu mỡ phì nhiêu của Đại Việt và ChânLạp Các vua Chàm phần nhiều đều hiếu chiến nên thờng duy trì một đội quân

đông đảo Đặc biệt từ thế kỉ XII, XIII, Chiêm Thành có lực lợng thủy quânhùng mạnh, gồm các thuyền lớn, trên có pháo tháp và những thuyền nhẹ.Trong nhiều trận đánh, ngời ta thấy hạm đội gồm hơn trăm chiếc thuyền yểm

Trang 37

trợ lục quân Với đội quân đó, ngời Chiêm Thành đã bao phen làm khốn khổcác lực lợng đô hộ Trung Quốc, quấy phá nớc Việt, từng làm chủ vơng quốcChân Lạp một thời gian và cũng với một chiến thuật đặc biệt, đã làm choMông Cổ, hùng mạnh nhất toàn cầu phải thất bại và rút lui [47; 33] Thế nhngcũng chính vì hiếu chiến, Chiêm Thành trong quá trình đó cũng tự làm suyyếu chính mình, tạo thành cơ hội cho dân tộc Việt Chân Lạp lại giáp ChiêmThành, con đờng Nam tiến xuống Chiêm Thành, Chân Lạp thành con đờngduy nhất để nớc Việt xây dựng thế lực cho mình.

Từ những điều đó cho chúng ta thấy rằng, Nam tiến cũng chính là cuộc

đấu tranh gay gắt để tồn tại trong bối cảnh bấy giờ của các dân tộc trên bán

đảo Đông Dơng ở đây, chúng tôi cũng xin đợc viện dẫn một đoạn trong

“Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta” của Ngô Văn Triện khi tác giả phân tích về

con đờng Nam tiến của dân tộc: “Xét về cơng vực nớc ta đời Hùng dựng nớc

khác hẳn bây giờ; cứ nh sử cũ thì nói bấy giờ phía đông giáp bể Nam, phía tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên nớc Tàu bây giờ) phía Bắc đến hồ Động

Đình (thuộc tỉnh Hồ Nam) phía nam đến nớc Hồ Tôn (sau là Chiêm Thành)

Đến năm Vĩnh An thứ 7 (264), Ngô Tôn Hu lại lấy ba quận mà đặt làm Quảng Châu, châu Giao châu Quảng chia hẳn ra bắt đầu từ đấy về sau trải qua mấy phen cách mệnh, nhng ngời mình cũng chỉ khôi phục đợc đất châu Giao mà thôi; đến đời Ngô, Đinh độc lập mà đất châu Quảng đã không còn mong gì khôi phục lại đợc nữa Mở xem bản đồ thì nớc ta mất đất châu Quảng tức là mất đi quá nửa phần nớc, cơng vực chỉ còn quanh quanh một xứ Bắc kì

và 3 tỉnh Thanh, Nghệ Tĩnh phía bắc Trung kỳ mà thôi Đất thì nhỏ hẹp mà số dân sinh sản một nhiều, sự thế không thể không tìm đờng bành trớng Nh trên

đã nói, ba mặt đông tây bắc không phải là con đờng có thể tiến đợc, tự nhiên

là phải tiến xuống mặt nam, huống chi những dân Chiêm thành, Chân lạp ở mặt nam lại thờng hay vào quấy nhiễu nớc ta, ta chẳng diệt họ thì họ cũng chẳng để cho ta đợc yên, nhân thế mà nam tiến là một con đờng phải đi của

ta, mà sự mở mang bờ cõi của nớc ta gồm cả ở trong một cuộc nam tiến vậy”

Trang 38

cộng đồng dân tộc thống nhất Đó chính là thành quả vĩ đại của công cuộcNam tiến và chúng tôi cũng dựa trên cách nhìn nhận nh thế để tìm về với hànhtrình mở đất gian lao mà hào hùng của dân tộc.

2.1.2 Sự mở rộng đất nớc qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê

Thực ra, sử cũ còn ghi lại cuộc xung đột giữa ngời Việt và ngời Chămdiễn ra ngay từ thời nhà Đinh sau khi Đinh Bộ Lĩnh truyền ngôi cho connhỏ là Đinh Nhuệ, Ngô Tự Khánh là một sứ quân bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại

đã bỏ trốn vào Chiêm Thành, xin vua Chiêm sang đánh n ớc ta Song, trên ờng tiến quân, quân Chiêm gặp bão lớn, thuyền đắm rất nhiều nên phải rútquân về

Thời Tiền Lê, buổi đầu Lê Hoàn sai sứ sang thông hiếu với vua nớc

Chiêm Thành, nhng sứ giả bị vua Chiêm bắt giam Năm 982, sau khi đánh bạiquân Tống, Lê Hoàn bèn phát quân đi đánh Chiêm Thành Đại Việt sử kí toàn

th chép: “Vua thân đi đánh Chiêm Thành, thắng đợc …biết cái nông nỗi đổ biết bao nhiêu Bắt sống đ ợc quân sĩ của chúng nhiều vô kể, cùng là kĩ nữ trong cung trăm ngời, cùng một nhà s ng-

ời Thiên Trúc, lấy các đồ quí đem về, thu đợc vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh s”[58;

222] Để thuận tiện trong việc tấn công quân Chiêm, Lê Hoàn đã sai Ngô TửYên đem 3 vạn quân mở con đờng bộ đi từ cửa bể Nam Giới đến châu Địa Lý(đất Chiêm, nay thuộc Quảng Bình, Li Tana thì cho rằng lúc này châu Địa Lýcha thuộc Đại Việt nên con đờng này vẫn phải nằm trong địa phận Việt Nam)

Lê Hoàn còn sai đào một con kênh mà theo Đào Duy Anh “có thể từ Bắc do

sông Chính Đại mà vào Thanh Hóa và từ sông Mã theo đờng kênh mới đào, tục gọi là sông nhà Lê, để vào sông Bà Hòa” [3; 227] Hai con đờng thủy, bộ

đó sau này đã trở thành con đờng ngời Việt sử dụng nhằm Nam tiến

Nhng ngời Chăm cũng không phải ngồi im cam chịu Trong suốt từ

“năm 979 đến 997, họ cũng đã thực hiện nhiều cuộc ruồng bố tại thủ đô của

nớc Đại Việt mới giành đợc độc lập và dọc biên giới phía Nam của nớc này”

[56; 25]

Mặc dù vậy, có thể thấy rằng, các cuộc xung đột ấy cũng chỉ nằm trong

“một hình thức tiêu biểu của chiến tranh tại Đông Nam á” là nhằm vào việc bắt ngời và lấy của “hơn là những bớc đầu của phong trào Nam tiến của Việt

Nam” [56; 25]

Trang 39

Sang thời Lý, nền độc lập đã vững vàng, các triều đại quân chủ nớc ta

đều muốn bành trớng về phía Nam khi dân số ngày càng tăng, dải đất vốn có

đã trở nên chật hẹp “và bắt buộc nớc Chiêm Thành, cha đợc khai hóa, yếu

nhỏ hơn mình, phải giữ bổn phận một phiên thuộc, ch hầu nh mình đối với Trung Quốc vậy Còn Chiêm Thành thì vì cái thâm thù đối lập và nhục nhã

nh vua bị giết, kinh đô bị tàn phá đã chịu đựng từ lâu đời, vì cái bản tính hiếu chiến, cái nhu cầu của một xứ nghèo nàn, đã phải tìm mọi cách để chống đối,

để xâm lăng, trong đó có sự thần phục và triều cống Trung Quốc để dựa thế,

mà cách ấy, Đại Việt muốn ngăn cản” [47; 40] Cũng chính bởi nh thế mà

cuộc chinh chiến giữa Đại Việt và Chiêm Thành đã diễn ra hàng thế kỉ

Năm sau khi Lý Thái Tổ lên ngôi (1011), nớc Chiêm Thành sai sứ sangdâng s tử, nhng sau đó không thông sứ nữa Năm 1020, Lý Thái tổ sai KhaiThiên vơng Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh Chiêm Thành ở trại

Bố Chính, đến núi Long Tị chém đợc tớng Chiêm là Bố Lệnh tại trận, ngờiChiêm chết mất quá nửa [58; 246] Đến đời vua Thái Tông, đã 16 năm Chiêm

Thành không nạp cống, vua Thái Tông “e trong nớc lại có ch hầu khác họ nào

đó cũng nh Chiêm Thành”, “không phải cách để ngời phơng xa phải sợ đợc”

nên quyết tâm đem quân đi đánh dẹp Năm 1043, vua sai đóng vài trăm chiếcthuyền, đặt các hiệu là Long, Phụng, Ng, Xà, Hổ, Báo, Anh Vũ để dùng vàoviệc chiến trận, lại hạ lệnh sửa soạn áo giáp và binh khí cho quân lính Năm

1044, Lý Thái Tông thân hành làm tớng, đem đại quân đi đánh Chiêm Thành.Quân Chiêm thua to, vua Sạ Đẩu và hơn ba vạn ngời bị giết, năm nghìn ngời

bị bắt sống Quân của vua Lý Thái Tông còn thu đợc 30 thớt voi, rồi tiến vàothành Phật Thệ, bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi múa hát điệuTây Thiên, lại sai sứ đi khắp các hơng ấp phủ dụ dân chúng [72; 266] Nhữngngời của nớc ấy bị bắt thì nhà vua xuống chiếu lấy trấn Vĩnh Khang và ĐăngChâu đặt ra làng xóm phỏng theo tên gọi cũ của Chiêm Thành, cho họ nhậnlấy mà ở

Đời vua Lý Thánh Tông, năm 1069, quân Chiêm vào quấy rối nơi biêngiới Nhà vua giao cho nguyên phi quyền coi việc nớc và thân chinh đi đánhChiêm Thành, bắt đợc vua Chiêm là Chế Củ và năm vạn ngời Chiêm đem về.Chế Củ đã xin dâng đất ba châu là Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh (thuộc QuảngBình và Quảng Trị) để chuộc tội Đời Nhân Tông, vào năm 1075, vua sai LýThờng Kiệt vào kinh lý ba châu ấy, vẽ lại hình thế núi sông Nhà Lý đổi châu

Trang 40

Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh và xuống

chiếu chiêu mộ dân đến ở Phan Khoang đánh giá: “Chiếu chiêu mộ di dân

này là một văn kiện quan trọng trong lịch sử nớc ta, ấy là bớc đầu của cuộc nam tiến mà dân tộc theo đuổi 6,7 thế kỉ sau này nữa” [47; 47].

Sau khi Chế Củ mất, Chế Ma Na lên nối ngôi còn thực hiện nhiều lầnviệc cớp lại ba châu ấy, nhng cuối cùng cũng phải trả lại cho Đại Việt Cũng

từ đó, đất Quảng Bình và một phần đất Quảng Trị thuộc hẳn vào lãnh thổ nớc

ta

Thời nhà Trần, khi vua Trần Thái Tông lên ngôi, Chiêm Thành đã hai

lần sai sứ sang cống, song vẫn không từ bỏ việc quấy nhiễu và đòi lại ba châu

đã mất Năm 1252, vua Trần tự dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, bắt đợc vơngphi là Bố Gia La, nhiều thần, thiếp và nhân dân rồi về

Tháng 6 năm Hng Long thứ 14 (1306), vua Trần đã gả công chúaHuyền Trân cho vua Chiêm Trớc đó, năm Hng Long thứ 13 (1305), vuaChiêm sai sứ là Chế Bồ Đài và hơn trăm ngời đem vàng bạc, hơng quí, vật lạ

đến dâng sính lễ Triều thần đều không bằng lòng, chỉ có Văn Túc Vơng ĐạoTái và Trần Khắc Chung tán thành Sau đó, Chế Mân dâng hai châu Ô và Lýlàm lễ nạp trng Cuộc hôn nhân của công chúa Huyền Trân đã đem về cho ĐạiViệt phần đất phía Nam của tỉnh Quảng Trị cùng với Thừa Thiên và phía Bắctỉnh Quảng Nam Năm sau, 1307, vua Anh Tông sai Hành khiển Đoàn NhữHài đến tuyên bố đức ý của nhà vua với mảnh đất mới và đổi hai châu Ô, Lýlàm Thuận Châu và Hóa Châu, chọn ngời trong dân chúng làm quan, miễn tôthuế ba năm để vỗ về

Thời gian sau, Chiêm Thành vẫn thờng hay đem quân sang quấy nhiễu

đòi lại đất và trả thù việc nhà Trần đã bội ớc mà đa công chúa Huyền Trân trở

về sau cái chết của Chế Mân mà không chịu hỏa thiêu theo tục lệ ngời Chiêm.Cuối thời Trần, Chiêm Thành nhiều lần đa quân ra cớp phá Đại Việt và đã balần tấn công vào Thăng Long, khiến vua tôi nhà Trần phải chạy khỏi kinhthành Bấy giờ là triều đại thịnh trị của Chiêm Thành, khi ngời Chiêm có mộtanh hùng, một dũng tớng: Chế Bồng Nga Đến đời vua Thuận Tông, thợng t-ớng Trần Khát Chân đón đánh quân Chiêm ở sông Hải Triều Chế Bồng Ngatrúng đạn mà chết Mất vị vua lãnh đạo có tài, từ đó Chiêm Thành không cònhùng cờng nữa, lịch sử Chiêm Thành và cả lịch sử bang giao của Chiêm Thành

và ngời Việt chuyển sang một chơng mới

Ngày đăng: 18/12/2013, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Dơng Văn An (1997), Ô châu cận lục, Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn Nguyên dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục
Tác giả: Dơng Văn An
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
[2]. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hoá sử cơng, NXB thành phố Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB thành phố Hồ ChÝ Minh
Năm: 1992
[3]. Đào Duy Anh (2005), Đất nớc Việt Nam qua các đời, NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nớc Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2005
[4]. Đào Duy Anh (2006), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX, NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2006
[5]. X.B (1967), “Một số t liệu về dòng họ Nguyễn Phúc ánh”, Nghiên cứu lịch sử, số 103, tr 61 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số t liệu về dòng họ Nguyễn Phúc ánh”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: X.B
Năm: 1967
[6]. Huỳnh Công Bá (2002), “Hiểu thêm về khái niệm “Nam tiến” từ trong công cuộc khai khẩn Thuận Hóa hồi trung thế kỉ”, Nghiên cứu lịch sử, số 4 (323), tr 83-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu thêm về khái niệm “Nam tiến” từ trong công cuộc khai khẩn Thuận Hóa hồi trung thế kỉ”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Năm: 2002
[7]. Đỗ Bang (1992), “Phố cổ Thanh Hà”, Nghiên cứu lịch sử, số 2 (261), tr. 43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố cổ Thanh Hà”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1992
[9]. Đỗ Bang (1996), Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỉ XVII - XVIII, NXB ThuËn Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỉ XVII - XVIII
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: NXB ThuËn Hãa
Năm: 1996
[10]. Đỗ Bang - Đỗ Quỳnh Nga (2002), “Ngoại thơng Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1614- 1625) ”, Nghiên cứu lịch sử, số 6 (325), tr 30 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại thơng Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1614- 1625) ”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang - Đỗ Quỳnh Nga
Năm: 2002
[11]. Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử học bị khảo
Tác giả: Đặng Xuân Bảng
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 1997
[12]. Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, NXB thành phố Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Cristophoro Borri
Nhà XB: NXB thành phố Hồ ChÝ Minh
Năm: 1998
[13]. Léopold Cadiére (1996), Thay đổi trang phục thời Võ Vơng hay là sự khủng hoảng về tín ngỡng vào thế kỉ XVIII, tập II, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi trang phục thời Võ Vơng hay là sự khủng hoảng về tín ngỡng vào thế kỉ XVIII
Tác giả: Léopold Cadiére
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1996
[14]. Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái (2004), Đại Nam quốc sử diễn ca, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam quốc sử diễn ca
Tác giả: Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2004
[15]. Bùi Hạnh Cẩn (1978), “ý đồ và hoạt động của các giáo sĩ nớc ngoài trên đất nớc Việt Nam thế kỷ 17-18”, Nghiên cứu lịch sử, số 2 (189), trang 28 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ý đồ và hoạt động của các giáo sĩ nớc ngoài trên đất nớc Việt Nam thế kỷ 17-18”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Năm: 1978
[16]. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chơng loại chí, tập 1, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1961
[17]. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chơng loại chí, tập 3, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1961
[18]. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chơng loại chí, tập 4, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1961
[19]. Phan Trần Chúc (2000), Thế kỷ XVIII - Tĩnh đô vơng và thời Lê mạt, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế kỷ XVIII - Tĩnh đô vơng và thời Lê mạt
Tác giả: Phan Trần Chúc
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2000
[20]. Quỳnh C - Đỗ Đức Hằng (1996), Các triều đại Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh C - Đỗ Đức Hằng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1996
[21]. Bùi Thế Cờng (c.b) (2007), Khoa học xã hội Nam bộ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học xã hội Nam bộ
Tác giả: Bùi Thế Cờng (c.b)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2:  So sánh thuế đánh trên ruộng t  (tính theo thăng của phía - Chúa nguyễn với công cuộc mở đất và phát triển kinh tế   xã hội đàng trong
Bảng 3.2 So sánh thuế đánh trên ruộng t (tính theo thăng của phía (Trang 82)
Bảng 3.5: Lệ thuế đối với tàu các nớc - Chúa nguyễn với công cuộc mở đất và phát triển kinh tế   xã hội đàng trong
Bảng 3.5 Lệ thuế đối với tàu các nớc (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w