1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa hiện sinh trong mốt số tiểu thuyết và truyện ngắn tiêu biểu của albert camus

115 4,3K 44
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa hiện sinh trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn tiêu biểu của Albert Camus
Tác giả Albert Camus
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 487,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự khủng hoảng trong đời sống tâm linh con ngời từ cuối thế kỉ XIX, đặc biệt là hai cuộc chiến tranh thế giới thế kỉ XX đã cho thấy sự giới hạn của triếthọc duy nhiên, đồng thời khẳng đị

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh

Lu Mai Tâm

Chủ nghĩa hiện sinh trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn

tiêu biểu của Albert Camus

luận văn Thạc sĩ Ngữ văn

Vinh – 2009 2009

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Phạm vi khảo sát

12

Trang 2

5 Phơng pháp nghiên cứu 13

6 Cấu trúc luận văn 13

Chơng 1 Chủ nghĩa hiện sinh từ triết học đến văn học 14 1.1 Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học 15

1.2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học 38

Chơng 2 Albert Camus và vấn đề phi lí 55

2.1 Vấn đề phi lí trong văn học 55

2.2 Phi lí nh là đối tợng trung tâm trong thế giới nghệ thuật của A Camus 66

2.3 Phi lí nh là chân lí của đời sống 86

Chơng 3 Albert Camus và vấn đề nổi loạn 95

3.1 Vấn đề nổi loạn trong văn học 95

3.2 Nhân vật nổi loạn của A Camus 105

3.3 Bản chất vấn đề nổi loạn trong sáng tác của A Camus 119

Kết luận 128

Tài liệu tham khảo 132

Trang 3

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sự khủng hoảng trong đời sống tâm linh con ngời từ cuối thế kỉ XIX, đặc

biệt là hai cuộc chiến tranh thế giới thế kỉ XX đã cho thấy sự giới hạn của triếthọc duy nhiên, đồng thời khẳng định vai trò của triết học nhân sinh - triết học

đặt con ngời làm đối tợng nghiên cứu, tập trung vào vấn đề bản thể luận, trảlời câu hỏi con ngời là ai, đi tìm ý nghĩa đích thực của đời sống con ngời.Tiêu biểu cho dòng triết học nhân sinh phải kể đến trào lu triết học hiệnsinh - triết học về nỗi lo tồn tại của con ngời Chủ nghĩa hiện sinh đã kết tinh

đợc hoài bão và thất vọng của cả một thế hệ trí thức Toàn bộ khung cảnh tríthức những năm 1950 - 1970 đều nhuốm màu sắc của chủ nghĩa hiện sinh.Cho tới nay phơng Tây vẫn coi hiện tợng luận và chủ nghĩa hiện sinh nh

“những khám phá lớn về triết học thế kỉ XX” [42; 38] Điểm nổi bật của triếthọc hiện sinh là đã tạo nên đợc cả một phong trào rộng lớn và sôi nổi tronggiới văn học

1.2 Albert Camus (1913 - 1960), cùng với Jean - Paul Sartre, đợc xem là hai

nhà văn hiện sinh tiêu biểu nhất Triết lí hiện sinh thấm đẫm trong tác phẩmcủa ông ở Camus, con ngời triết gia hoà vào con ngời nhà văn, ông viết bằngtất cả kinh nghiệm sống thật, bằng những nhu cầu tự thân; ông “không thểsống thiếu nghệ thuật mình làm ra” và cũng “cha bao giờ đặt nó lên hết thảy”[17] Camus đã “làm hiển lộ mâu thuẫn giữa sự phi lí và nhu cầu sáng sủacông bình của con ngời” [1; 252] Tầm vóc của A Camus lớn ở chỗ ông đã

“mang ra ánh sáng những vấn đề cấp thiết đặt ra cho lơng tâm con ngời” Vớichúng ta, A Camus còn là chứng nhân của thời đại ông và là một con ngờitrung thực bình thờng Camus gần gũi với mỗi chúng ta hơn Sartre vì ông “cócái khôn ngoan lịch lãm của Đông phơng” [76; 102] Ông luôn chiêm nghiệmnhững vấn đề triết học sâu sắc bằng những hình tợng nghệ thuật có sức sốngbền lâu

1.3 Sáng tác của Albert Camus để lại không nhiều nhng sức sống và phạm vi

ảnh hởng của chúng còn rất mạnh mẽ Khi nào khi con ngời còn băn khoăn vềthân phận của mình, xung quanh con ngời vẫn tồn tại những điều mà lí tríkhông thể giải quyết đợc thì đọc A Camus ngời ta vẫn còn cảm nhận đợc sựsâu sắc, tầm vĩ đại của nhà văn này Và chúng ta có thể dễ dàng nhận ra thấpthoáng bóng dáng của F Dostoevsky, F Kafka, A Camus, G Marquez…

Trang 4

trong sáng tác của các nhà văn sau này khi đề cập đến sự bất lực của t duy duy

lí thông thờng trong phát hiện, lí giải cuộc sống; khi sử dụng huyền thoại nhmột thủ pháp nghệ thuật độc đáo để nhận chân cuộc đời…

2 Lịch sử vấn đề

Là một nhà văn lớn, sáng tác trong một thời kì không khí văn học sôi

động của thế kỉ XX, Albert Camus đã đợc giới nghiên cứu chú ý ngay từ khitác phẩm đầu tiên của ông đợc công bố Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xin

điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan mà chúng tôi có dịp thamkhảo

2.1 Trên thế giới

Ngay sau khi tiểu thuyết Ngời xa lạ và tập tiểu luận Huyền thoại Sisyphe

đợc công bố (tháng 6 - 1942), Jean - Paul Sartre đã viết Cắt nghĩa Ngời xa lạ” đăng trên tạp chí Cahier du Sud tháng 3 - 1943 Bài viết có những nhận xét

tinh tế, sâu sắc, cho đến nay vẫn đợc đánh giá là bài viết hay nhất về Ngời xa

lạ, và có thể xem ý kiến của Sartre nh một sự gợi dẫn khi tìm hiểu tác phẩm

này Qua bài viết của Sartre, chúng ta biết Ngời xa lạ đợc d luận đơng thời

đánh giá là “cuốn sách hay nhất kể từ thời đình chiến” [49; 188] Sartre nhận

định cái phi lí vừa là một tình trạng sự vật, vừa là ý thức sáng suốt của một sốngời trong tình trạng đó; “nó không phải là đối tợng của một khái niệm đơngiản: nó đợc chiếu sáng bởi một sự bừng tỉnh đầy luyến tiếc” [49; 190].Camus không thể hiện cái nhìn khắc khoải nh Kafka, “ông hoàn toàn bìnhthản giữa những hỗn độn, sự mù quáng bớng bỉnh của tự nhiên là chỗ dựa cho

nó, bảo đảm cho nó, sự bất hợp lí của nó chỉ là một nghịch âm; ngời phi lí làngời yêu một cái gì mang giá trị nhân bản, anh ta chỉ biết những điều tốt đẹp

của thế giới này” [49; 198] Ngời xa lạ đặt chúng ta trong trạng thái bất an

tr-ớc sự phi nhân tính của con ngời Theo Sartre, Ngời xa lạ là một tác phẩm cổ

điển, một tác phẩm viết cho sự phi lí và chống lại sự phi lí “Khi đọc cuốnsách, ngời ta không có cảm giác cùng hiện hữu với cuốn tiểu thuyết mà nhchìm trong một điệu hát buồn tẻ, một khúc hát bằng giọng mũi của ngời ARập Ngời ta có thể tin rằng cuốn sách giống nh một trong những điệu nhạc

mà Courteline nói đến, nó đi mất và không bao giờ trở lại và nó dừng lại bấtthình lình mà ngời ta không hiểu tại sao” [49; 206]

Alain Robbe - Grillet, thủ lĩnh nhóm Tiểu thuyết Mới những năm 60 của

thế kỉ XX ở Pháp, đánh giá rất cao cuốn Ngời xa lạ, coi đó là một tác phẩm

Trang 5

lớn, bởi vì trong cuốn sách đó, Camus đã tạo nên một thế giới mà ông hoàntoàn tin [99; 90] Nói về cái phi lí trong tác phẩm của A Camus, Robbe -Grillet khẳng định: “sự phi lí là vực thẳm không vợt qua đợc tồn tại giữa conngời và thế giới, giữa các khát vọng của tinh thần con ngời và sự bất lực củathế giới trong việc thỏa mãn chúng Cái phi lí không ở trong con ngời, cũng

nh trong các sự vật mà ở trong việc không có khả năng thiết lập giữa chúngmột mối quan hệ nào khác ngoài cái xa lạ” [80; 94-95] Robbe - Grillet nhậnthấy cái phi lí “luôn kéo theo thất vọng, sự rút lui, sự nổi loạn” và nó chính là

“hình thức của chủ nghĩa nhân văn mang tính bi kịch” [80; 95, 96]

Thế giới phi lí xuyên suốt toàn bộ sáng tác của A Camus T tởng đó gặp

đợc sự đồng cảm của rất nhiều ngời, đặc biệt là giới trí thức sau Thế chiến II,khi con ngời cha thoát khỏi bàng hoàng, lo sợ, cha thể thoát ra khỏi nỗi ám

ảnh chiến tranh Nhà phê bình ngời Mĩ Wallace Fowlie nhận định: “Tác phẩm

A Camus hiên ngang đề cập tới những phơng diện bi thiết nhất của thời đạichúng ta, nhng đồng thời tác phẩm ông cũng là lời thiết tha kêu gọi ý chí conngời hãy can đảm đứng lên chế ngự nỗi phi lí oái oăm trong thân phận con ng-ời” Nhà văn Đức Heinz Beckmann ca ngợi “cái đà tiến rắn rỏi của văn nghiệp

A Camus nổi bật rõ ràng trên vẻ tiêu điều thiểu não của văn chơng hiện đại”

ở Nhật Bản, đất nớc chịu thảm họa bom nguyên tử trong Đại chiến II, ngời ta

đã dành cho A Camus “một mối tình cảm tròn trịa”, họ “hớng về A Camus

nh hớng về một làn ánh sáng đẹp nhất của trời Tây” [43; 5]

Trong thiên tiểu luận Cuộc phiêu lu t tởng văn học Âu châu thế kỉ XX 1900

- 1959 [1], R.M Alberes đã viết một thứ lịch sử về tính nhạy cảm của văn học

Âu châu thế kỉ XX Và A Camus, tất nhiên, đã đợc nhắc đến nhiều khi nói vềtâm trạng chung của con ngời trong giai đoạn 1942 - 1959 R.M Alberes nhậnxét: “Camus đã mô tả con ngời mất hớng trong một thế giới hầu nh khôngphải làm ra cho con ngời Ông muốn đạp đổ những ảo tởng cổ kính tônnghiêm đã quả quyết một cách sai lầm rằng đời sống trả lời đúng ý muốn mà

ngời ta có về cuộc đời Ngời xa lạ là cuộc phiêu lu của một ngời cảm thấy

rằng con ngời không thỏa hiệp đợc với đời sống, rằng có sự hiểu lầm giữa conngời và đời sống” [1; 329] Cuộc sống không còn mạch lạc, sáng sủa, cuộc đờivâng theo một mãnh lực phi lí rời rạc, lí trí con ngời không thể thấu đợc sựkhông trật tự nằm ngoài mọi qui luật ấy

Trang 6

Thế giới trở nên xa lạ, con ngời có thể phát triển mọi khả năng và lựachọn bất cứ con đờng nào, nhng con ngời trở nên lạc lõng, bơ vơ Thế giankhông tham dự vào cuộc phiêu lu duy lí của con ngời, vì vậy thế gian trở nênphi lí Theo Jules de Gaultier, “A Camus đặt thế kỉ của ông dới nhãn hiệu biquan, cái bi quan về phơng diện tri thức của con ngời (…) Trí khôn của conngời xoay quanh sự hiện hữu bất động, nhng trí khôn cũng là thành phần của

đời sống và nh vậy nó chối bỏ sự bất động ấy” [1; 241]

Cũng giống nh ý tởng chung của văn chơng sau Thế chiến I, “chỉ có cuộcphiêu lu cụ thể và sống động, nguy hiểm và bi thảm mới có thể đem lại cảmxúc và sự thật” [1; 275-276], Camus cũng mang đến một thông điệp ý nghĩa

về sự tồn tại của con ngời: số mệnh của loài ngời hiển hiện với sự thật đầy đủdới mắt những ngời thành thật đối diện với số mệnh không chút tà tâm Nhân

vật của Camus - bác sĩ Rieux trong Dịch hạch biết rằng chống lại dịch bệnh

cũng vô ích nhng ông vẫn hết bổn phận của ngời thầy thuốc để trung thành vớiloài ngời chống lại sự phi lí

Một số nhà phê bình phơng Tây nói đến chủ nghĩa nhân văn của Camus

và đánh giá đó là chủ nghĩa nhân văn kiểu Địa Trung hải, có nghĩa là “nó

muốn vợt qua mâu thuẫn giữa trí tuệ và tự nhiên một cách nhịp nhàng” Theo

họ, Camus có “một thái độ vừa khớc từ vừa chấp nhận, một nghệ thuật vừakhẳng định vừa phủ định” [46; 119] Pierre Simon thì cho rằng tất cả sáng táccủa Camus tạo dựng một mốc đờng cho một chủ nghĩa nhân đạo thực chứng[23]

2.2 ở Việt Nam

Với t cách là một nhà văn đậm chất hiện sinh chủ nghĩa, A Camus đợcnghiên cứu từ những năm 60 của thế kỉ XX Tuy nhiên, do bối cảnh lịch sử vàyêu cầu chính trị - xã hội nên cách nhìn nhận, đánh giá về A Camus nói riêng

và chủ nghĩa hiện sinh nói chung có sự khác nhau giữa hai miền Nam - Bắc.Những năm 1960 - 1975, ở miền Nam, các tạp chí nh: Sáng Tạo, BáchKhoa, Thông Cảm, Thế Kỉ 20… đã cho đăng khá nhiều bài viết, tác phẩmdịch về triết học, văn học hiện sinh của các tác giả nh: Nguyễn Văn Trung,Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lý Chánh Trung, Trần Văn Toàn, NguyễnQuốc Trụ, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh, Trần Thiện Đạo, Trần PhongGiao, Nguyễn Trọng Văn, Bùi Ngọc Dung, Thụ Nhân, Kiệt Tấn… Chủ nghĩahiện sinh đến Việt Nam sau hai thập kỉ trên quê hơng mình đã thu hút đợc sự

Trang 7

chú ý của một bộ phận lớn trí thức ở miền Nam Việt Nam Theo sự tổng hợpcủa Huỳnh Nh Phơng [76], có lẽ cha và sẽ không có giai đoạn nào ở nớc ta màchủ nghĩa hiện sinh đợc nghiên cứu sâu rộng, dới nhiều góc độ nh vậy “Trongkhi các nhà nghiên cứu miền Bắc thờng thấy ở Sartre khía cạnh phi mác xít,thì ở miền Nam những ngời trí thức tả khuynh lại tìm thấy ở Sartre một chỗdựa và một nguồn động viên để đến gần với cuộc đấu tranh dân tộc do nhữngngời cộng sản lãnh đạo” [76; 99] Từ sự gặp gỡ với chủ nghĩa hiện sinh, một

bộ phận thanh niên trí thức đã lựa chọn cho mình con đờng tham gia vàophong trào cách mạng bảo vệ dân tộc Phong trào yêu nớc của học sinh, sinhviên, trí thức trong các đô thị miền Nam đợc sự cổ vũ rất lớn bởi t tởng dấnthân và hành động của Sartre; hơn nữa chính Sartre trong những năm 60 đãtrực tiếp lên tiếng bênh vực cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong rấtnhiều bài diễn thuyết của mình “Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời

đại không lặp lại Việc tiếp nhận, truyền bá, vận dụng nó cũng là cơ duyên của

lịch sử Nó đã đến và trong cái bối cảnh bi đát của xã hội miền Nam nhữngnăm 1954 - 1975, khi con ngời khao khát tự do và quyền sống, mong muốnsuy t về chính tự do và thân phận làm ngời Sau cách mạng, hoàn cảnh xã hội

đã thay đổi, chủ nghĩa hiện sinh không còn chỗ đứng trong sinh hoạt trí thức”[76; 102]

Xuất phát từ góc độ triết học, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những t ởng hiện sinh biểu hiện trong sáng tác của A Camus nh phi lí, nổi loạn Nhmột lẽ tự nhiên, tác phẩm của Camus đợc xếp vào văn chơng triết học

t-Bùi Ngọc Dung trong bài viết Albert Camus với nền văn chơng triết học

(1963) [27] đã khái quát “Camus không thuộc một trờng phái hay một chủnghĩa nào, nhng ông đề cập đến mọi khía cạnh của mọi vấn đề trong tiểuthuyết và văn chơng” Với Camus, sự phi lí của nhân loại ngày nay mỗi lúcmột tăng thêm nhiều “chỉ vì con ngời quá đại lợng và quá chú trọng đếnnhững khoái lạc về thể xác” Camus đã đặt vào các nhân vật của ông “một sứmạng để phổ biến triết học Thân phận con ngời đợc ông đào sâu tỉ mỉ hơn lúcnào hết, ông dùng triết học để giải đáp tâm hồn con ngời thời hậu chiến vì họcha ra khỏi cơn thảm hoạ của chiến tranh Ta phải công nhận ở Albert Camusmột điều nh các nhà văn đồng thời với ông là dùng văn chơng để chở nhữngtriết thuyết: thân phận của con ngời trớc vấn đề phi lí, vấn đề tự tử, vấn đề nổiloạn…” [27; 35-41]

Trang 8

Thạch Chơng, năm 1960, ngay sau cái chết đầy “phi lí” của Camus mấytháng, nhận thấy: “Giữa hoàn cảnh xã hội lạc loài của nớc Pháp hậu chiến,giữa khí hậu trí thức bi quan mà phái hiện sinh ngự trị, giữa những tiếng đedoạ phá huỷ của trờng siêu thực, và trong viễn ảnh một mùa đông dài tăm tốicủa Đệ Tam Quốc Tế, Albert Camus, một hình bóng trơ trọi, hiện lên nh mộttia nắng ấm hy vọng của Âu châu (…) Camus không đại diện cho hàng ngũnào, không cộng sản, và cũng không hẳn là Pháp: một kẻ lu vong với một triều

đình đã mất” [23]

Thạch Chơng đã trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của A.Camus Ông công nhận sự nổi loạn và bằng lòng sống không cần Thợng đếdẫn dắt nhng tố cáo thái độ ôn hoà của Camus Theo ông, “cái thái độ ôn hoàcủa Camus thực sự rất mơ hồ, và đôi khi không thể thực hiện đợc Mơ hồ bởi

nó không xác định đâu là giới hạn: thế nào là ôn hoà? Là tuyệt đối không sát

nhân, hay chỉ giết có chừng mực? Nếu tuyệt đối không giết thì làm thế nào để

bảo vệ đợc con ngời vô tội khi hắn cũng sắp bị giết? Nếu không thì độ bao

nhiêu nhân mạng là có chừng mực?” Đồng ý rằng phải lên án những vụ sát

nhân luận lí của Hegel cùng phái tả Hegel, của Hitler, Mussolini, Franco,Staline nhng dù vô tình hay hữu ý, đã là cách mạng thì ít nhiều cũng phải kinhqua những vụ bạo sát, “bởi vậy, cái ôn hoà của Camus không thể thực hiện đ-

ợc, đúng hơn nó là một cái cớ để mọi ngời khoanh tay, nhất là hàng ngũ bảothủ” [23]

Camus mang trong mình tâm cảm lu đày Ngời nghệ sĩ này cũng nh rấtnhiều nhân vật của mình thờng trực sự cô đơn miên viễn Ngay trên đất Pháp,

“Viết Ngời nổi loạn (L’Homme révolte), Camus đoạn tuyệt với khí hậu trí

thức Paris khi phê phán chủ nghĩa h vô và cộng sản, mất những ngời đồnghành thời kháng chiến, song ông đã thực sự chấp nhận một trách nhiệm trênmảnh đất lu đày” [79]

Thi sĩ Bùi Giáng, ngời đã dịch nhiều tác phẩm của A Camus sang tiếngViệt, ghi nhận: “Văn Camus chứa chất nhiều d vang u uẩn Mỗi lời, mỗi câu làmỗi tiếng kêu của thế kỉ bị tử thơng” [15; 6]

ở miền Bắc, trớc 1986, sự tiếp xúc với những tác giả, tác phẩm lớn khôngsáng tác theo chủ nghĩa hiện thực rất hạn chế Albert Camus cùng với bậc tiềnbối Franz Kafka và những nhà văn hiện sinh chủ nghĩa, những tác gia kịch phi

Trang 9

lí… ợc giới thiệu trong những chuyên luận dùng cho các trờng đại học chủ đyếu dới góc nhìn cực đoan, đa ra để phê phán và tránh xa.

Tinh thần ấy đợc thể hiện rõ nét trong công trình Phê phán văn học hiện

sinh chủ nghĩa (1978) của Đỗ Đức Hiểu [46] Giáo trình Lịch sử văn học

ph-ơng Tây dùng cho đại học s phạm cũng dành hẳn phần Phụ lục cuối sách (Đỗ

Đức Hiểu viết) để Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa [71; 246-279] Có

thể thấy, để “phê phán”, trớc hết ngời viết đã chỉ ra những đặc điểm của vănhọc hiện sinh chủ nghĩa Những nhận định trong các công trình trên, nếu bỏ điphần cực đoan phía sau, sẽ là những t liệu, gợi ý đáng quí cho những nhànghiên cứu tiếp sau đào sâu Đỗ Đức Hiểu thừa nhận vai trò “ngời tiền bối”của F Kafka với văn học hiện sinh, bởi vì “mối quan hệ giữa tiểu thuyết củaKafka và t tởng hiện sinh chủ nghĩa là không thể chối cãi” [46; 369] A.Camus đợc mệnh danh là cặp bài trùng với F Kafka trong “cuộc chiến chốngphi lí” Chỉ ra khởi điểm là cái phi lí, nổi loạn là sắc thái đáng chú ý nhất củachủ nghĩa hiện sinh của Camus, Đỗ Đức Hiểu đã ghi nhận những đóng góptích cực trong tác phẩm của Camus, “nó đứng ở bên kia chủ nghĩa phát xít, nókhông đồng tình với bất công và tội ác, với chiến tranh phi nghĩa, với khủng

bố dã man” [46; 119] “Camus phản kháng bạo lực phi nghĩa mà ông gọi làlịch sử phi lí tính, song đồng thời ông cũng cự tuyệt bạo lực chính nghĩa mà

ông gọi là lịch sử lí tính; và ông đánh giá ngang bằng hai thứ bạo lực ấy; sailầm nghiêm trọng của Camus là ở chỗ ấy Ông tìm đến con đờng ôn hoà,nhiều khi có nghĩa là thoả hiệp với kẻ thù của loài ngời…” [46; 119-120]

Trong chuyên luận nghiên cứu Về t tởng văn học phơng Tây hiện đại

(1986) [84], quan điểm của Phạm Văn Sĩ về chủ nghĩa hiện sinh cũng cha có

sự thay đổi so với các công trình nói trên Ông nhấn mạnh một số khái niệm

đặc thù của chủ nghĩa hiện sinh: cái phi lí, cái tự do, dấn thân Theo ông, sự tự

do lựa chọn mà các nhà văn hiện sinh khoác lên mình nhân vật (nh nhân vậtSisyphe của A Camus) chỉ là “lựa chọn giữa phục tùng nhẫn nhục và khinh bỉkiêu hãnh, trong khi các quan hệ vẫn không thay đổi” Đó là tự do trừu tợng,

“tự do của một tồn tại không có nguyên nhân và không có mục đích” [84;262]

Từ sau 1986, tinh thần đổi mới trong t duy đã đem lại không khí cởi mở,dân chủ hơn cho nghiên cứu văn học Nhiều hiện tợng văn học trớc đó bị coi

là “có vấn đề” đã đợc nhìn nhận lại Nhiều nhà nghiên cứu có trách nhiệm đã

Trang 10

trả lại cho những tác giả lớn của văn học thế giới đúng tầm vóc của họ, ngời

đọc Việt Nam đợc tiếp cận với những tài năng, những giá trị đích thực của vănhọc thế giới; và các nhà nghiên cứu nh ngời hớng đạo, giúp chúng ta “mặckhải”, nhận biết đợc thực sự văn học thế giới đã đi đến đâu, chúng ta đang ở

đâu trong sự phát triển không ngừng ấy Văn học Pháp hiện đại, nổi bật là trào

lu văn học hiện sinh cũng đợc đánh giá lại, trả lại đúng ý nghĩa và giá trị củanó

Sự tiếp cận, đánh giá lại A Camus cũng nh trào lu hiện sinh Pháp nóichung ở Việt Nam có những thuận lợi riêng, đó là chúng ta có một đội ngũchuyên gia văn học Pháp đầy tâm huyết, có điều kiện tiếp cận văn học Pháp từnguyên tác (trờng hợp Franz Kafka, việc tiếp cận khó khăn hơn từ nhiều vấn

đề, trong đó có hàng rào ngôn ngữ) Có thể kể tên các nhà nghiên cứu, dịchgiả văn học Pháp uy tín nh: Hoàng Nhân, Phùng Văn Tửu, Đặng Anh Đào,

Đặng Thị Hạnh, Vũ Đình Bình, Vũ Đình Phòng, Lê Hồng Sâm, Nguyễn VănDân, Trần Hinh…

Các nhà nghiên cứu chú ý đến sự lựa chọn hình thức thể hiện trong tácphẩm của A Camus vì tự bản thân sự lựa chọn ấy đã tạo nên hiệu ứng nghệthuật, tự nó nói lên thông điệp của nhà văn Đặng Anh Đào ghi nhận “cách tân

và truyền thống không loại trừ nhau ngay trong một tác phẩm A Camus vừa

đợc xem nh ngời kế thừa văn chơng giáo huấn của một số tác giả Pháp truyềnthống vừa là một trong những ngời in dấu ấn của nền văn nghệ “tiền phong”

Pháp thế kỉ XX” [31; 8] Phùng Văn Tửu trong công trình Tiểu thuyết Pháp

hiện đại những tìm tòi đổi mới (2002) [104] chú ý đến nghệ thuật kể chuyện

của A Camus

Trong khảo luận Văn học phi lí [24], Nguyễn Văn Dân quan tâm đến

đóng góp của t tởng triết học về cái phi lí, phân tích hành động chống lại cáiphi lí ở những tác phẩm của A Camus trong sự so sánh với F Kafka F Kafka

và A Camus đợc xem là hai nhà văn tiêu biểu nhất cho dòng văn học phi lí

Chơng về A Camus do Hoàng Nhân viết trong công trình Văn học phơng

Tây [32] đã cho một cái nhìn khái quát về con ngời và văn nghiệp A Camus.

Camus đã “thể hiện nỗi lo âu, sự sợ hãi của thân phận con ngời trớc bao nhiêubiến động và tai ơng trong nửa đầu thế kỉ XX ở phơng Tây (…) Ông khôngbàn đến những vấn đề siêu hình phức tạp nh thực tế và h vô, tồn tại và bảnthể v.v… mà chỉ nói về ý nghĩa của hiện sinh và thân phận con ngời” [32;

Trang 11

737] Hoàng Nhân cũng nói đến t tởng nhân văn ôn hoà, thoả hiệp xuyên thấmtrong các tác phẩm của A Camus T tởng ấy khi gặp gỡ với sự bế tắc trong đờisống thực tại với bao điều nghịch lí, “chắc chắn sẽ không có tác dụng tích cựcvới các thế hệ đang trởng thành của thời đại chúng ta” [32; 759].

Gần đây, trong công trình Tiếp cận văn học Pháp (2007) [99], Liễu

Tr-ơng một lần nữa đặc biệt chú ý đến sự phi lí trong tác phẩm Ngời xa lạ - tác

phẩm đánh dấu sự xuật hiện của A Camus trên văn đàn Pháp Bài viết của

Liễu Trơng nh một sự gợi nhắc lại ý muốn của A Camus khi viết Ngời xa lạ

-tả “tính trần trụi của con ngời trớc sự phi lí” “Phi lí là độ không của sự dấn

thân Sự thật trong Ngời xa lạ cũng nh trong Huyền thoại Sisyphe là một sự

thật tiêu cực, là một khởi đầu cần thiết cho sự dấn thân tích cực” [99; 105]

Từ những ý kiến có liên quan đến vấn đề chủ nghĩa hiện sinh trong sángtác của Albert Camus mà chúng tôi đã tham khảo đợc, có thể nhận thấy:

- Từ rất sớm, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy và quan tâm đến nhữngphạm trù trung tâm trong t tởng hiện sinh của A Camus, nổi bật là cái phi lí,

sự nổi loạn

- T tởng về cái phi lí, sự nổi loạn của A Camus thờng đợc truy xét từ

ph-ơng diện đạo đức, qui về tích cực hoặc tiêu cực; để kiến giải cho những luận

đề triết học…

- Nhiều phân tích nghiễm nhiên xem A Camus là một triết gia hiện sinh

và tác phẩm văn học của ông đợc nhìn nhận dới ý nghĩa con thuyền chở t tởngtriết học…

Trên thực tế, A Camus không phải là một triết gia hiện sinh, ông khớc từcả danh hiệu nhà văn hiện sinh Camus là ngời nghệ sĩ trong phong trào hiệnsinh Vì vậy, chúng tôi muốn nhìn nhận những biểu hiện của chủ nghĩa hiệnsinh trong sáng tác của Camus ở t cách là đối tợng nghệ thuật của một ngờinghệ sĩ đích thực Tự bản thân chúng đã có những giá trị thẩm mĩ và đóng gópmột phần không nhỏ vào văn nghiệp của ông Thế giới nghệ thuật của Camus

là một lời giải đáp vì sao ông là một trong những nhà văn Pháp hiếm hoi ở thế

kỉ XX liên tục có tên trong danh sách tác giả đợc lựa chọn để đọc trong thế kỉXXI qua những cuộc điều tra về thị hiếu văn học của giới trẻ Pháp [48], liêntục đợc công chúng ngỡng mộ tác phẩm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

3.1 Để có cơ sở nhìn nhận, đánh giá đúng những đóng góp của chủ nghĩa hiện

sinh trong sáng tác của A Camus, chúng tôi đi vào tìm hiểu một số tiểuthuyết, truyện ngắn tiêu biểu của ông trên nền tảng triết học, mĩ học của thời

đại tác giả sống nhằm đạt đến cái nhìn khách quan và hệ thống đối với vấn đề

đặt ra Đây là nhiệm vụ cần thiết với một công trình nghiên cứu mang tính líluận, đặc biệt là với những đề tài có liên quan trực tiếp đến những khái niệmtriết học

3.2 Đi sâu tìm hiểu tiểu thuyết, truyện ngắn của A Camus qua sự khảo sát,

phân tích, khái quát, so sánh (giữa tiểu thuyết, truyện ngắn với kịch, tiểu luậncủa Camus, giữa sáng tác của Camus với sáng tác của F Kafka, J - P Sartre vàcác tác giả khác…) để thấy đợc những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh nh lànhững dấu hiệu thẩm mĩ đáng tin cậy khẳng định và lí giải những đóng gópcủa A Camus trong lịch sử văn học thế giới; thấy đợc qui luật: đằng saunhững tác giả lớn, bên trong những tác phẩm lớn bao giờ cũng có nền tảng t t-ởng triết học, mĩ học của thời đại Chính nền tảng ấy tạo nên chiều sâu, tầmkhái quát và những lớp ý nghĩa mà mỗi lần tiếp xúc, mỗi lần đợc đọc lại,những tác phẩm ấy lại lộ ra những vỉa sáng mới, lại một lần đợc “phát hiện”

3.3 Từ việc nhận thức một hiện tợng văn học tiêu biểu, chúng tôi cố gắng mở

rộng trờng nhìn về chủ nghĩa hiện đại - một phạm vi văn học còn nhiều vấn đềhấp dẫn mời gọi sự khám phá

4 Phạm vi khảo sát

Sự khảo sát của chúng tôi chủ yếu chỉ giới hạn trong những tác phẩm sau:

- Kẻ xa lạ (Tiểu thuyết, Nguyễn Văn Dân dịch), in trong Văn học phi lí,

Nxb Văn hoá thông tin, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, H, 2002

- Dịch hạch (Tiểu thuyết, Nguyễn Trọng Định dịch), Nxb Văn học, H,

Trang 13

- Huyền thoại Sisyphe (Tiểu luận, Nguyễn Văn Dân dịch), in trong Văn học phi lí, Nxb Văn hoá thông tin, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông

Tây, H, 2002

- Tiểu luận Giao cảm, Bề trái và bề mặt (Trần Thiện Đạo dịch), Nxb Văn

hoá thông tin, H, 2004

- 5 bài trong Tiểu luận Mùa hè (Helene lu đày, Những cây hạnh, ẩn ngữ,

Promethee tại địa phủ, Trở lại Tipasa) và phần Nhập đề phản kháng

(phần đầu cuốn Ngời nổi loạn), Bùi Giáng dịch, in trong Sơng tỳ hải, Nxb

Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh, 2007

- Giữ cho thế cuộc khỏi tan rã, Văn nghệ sĩ với hiện đại, in trong Những bậc

thầy văn chơng thế giới t tởng và quan niệm, Nxb Văn học, H, 1995.

- Diễn từ (Phạm Toàn dịch), http://www.vietbao.com

Ngoài Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung luận

văn đợc triển khai trong ba chơng:

Chơng 1 Chủ nghĩa hiện sinh từ triết học đến văn học

Chơng 2 Albert Camus và vấn đề phi lí

Chơng 3 Albert Camus và vấn đề nổi loạn

Chơng 1 Chủ nghĩa hiện sinh từ triết học đến văn học

Thế kỉ XX đã qua chứng kiến những cuộc phiêu lu vĩ đại của loài ngời,

“đã từng quay cuồng qua bao điên đảo vọng tởng và cũng từng nhìn nhận ranhững sự thật thâm nghiêm” [37; 33] Lịch sử đã ghi nhận, vào năm 1900,nhân loại đã chuyển sang một bớc ngoặt hoàn toàn mới, dự báo những thay

đổi bão táp của thế kỉ mới bằng một loạt những sự kiện quan trọng, độc đáotrong đời sống khoa học và văn hóa Đó là năm ra đời của tác phẩm hiện t ợng

luận quan trọng Nghiên cứu logic của E Husserl, tác phẩm phân tâm học

Diễn dịch về những giấc mơ của S Freud, lí thuyết lợng tử của Max Planck, kĩ

thuật truyền thanh vô tuyến của R.A Fesenden… Tiếp theo đó, những phátminh mang tính cách mạng liên tiếp ra đời: du hành bằng máy bay (1903),thuyết tơng đối của A Einstein (1905), trờng phái Lập thể trong hội họa do P

Trang 14

Picasso và G Braque khởi xớng (1906), bản nhạc theo chủ nghĩa biểu hiện

đầu tiên của A Schoenberg (1908), lí thuyết mới về cấu trúc nguyên tử của N.Bohr (1913), đĩa nhạc Jazz đầu tiên (1917)…

Tất cả những thay đổi trong đời sống khoa học, nghệ thuật, t tởng này

đ-ợc giới học thuật phơng Tây gọi chung là chủ nghĩa hiện đại - một khái niệm

có nội hàm rất rộng và mang tính chất mở Với t cách là thuật ngữ của nghiên

cứu văn học, mĩ học, nghệ thuật, chủ nghĩa hiện đại đợc dùng để “gọi bao

quát toàn bộ những khuynh hớng, trào lu, trờng phái văn học, nghệ thuậtkhông tiếp tục truyền thống chủ nghĩa hiện thực từ thế kỉ XIX, từ những trào l-

u nảy sinh trớc hoặc sau Đại chiến I (…) đến những trào lu nảy sinh sau Đạichiến II” [47; 277] Từ những nền tảng: ý chí luận của Schopenhauer, của F.Nietzsche; trực giác luận của H Bergson; hiện tợng luận của E Husserl; phântâm học của S Freud, C Jung; chủ nghĩa hiện sinh của M Heidegger, J - P.Sartre, A Camus; triết lí xã hội của trờng phái Frankfurt… chủ nghĩa hiện đại

thể hiện tinh thần chống truyền thống, chống chủ nghĩa qui phạm, tích cực tìmkiếm những phơng thức biểu đạt mới để thể hiện những cảm thức mới

Chủ nghĩa hiện sinh là một khám phá lớn về triết học của thế kỉ XX Nó

đã tạo nên đợc cả một phong trào rộng lớn và sôi nổi trong giới văn học

1.1 Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học

1.1.1 Khái lợc về triết học hiện sinh

theo Jacques Colette, một nhà nghiên cứu chuyên về Kierkegaard, trong

tập Que sais - Je thì thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh đợc dùng lần đầu tiên trong

một cuốn sách ở Ytaly vào những năm 30 của thế kỉ XX Nhng nó thực sự trởthành phổ biến từ năm 1944 trong cuộc luận chiến của Sartre ở Pháp Tuần

báo Cộng sản Action (Hành động) do Francis Ponge lãnh đạo ra mắt bạn đọc

một “hiệu chỉnh” về chủ nghĩa hiện sinh, và nh vậy, thuật ngữ này đã đợcdùng lần đầu xuất phát từ những t tởng của Heidegger [30; 77]

Sự quen thuộc của những cụm từ: hiện sinh, chủ nghĩa hiện sinh, văn học

hiện sinh… lâu nay đã khiến nhiều ngời ngộ nhận, không phân biệt giữa triếthọc hiện sinh và lối sống hiện sinh Hơn nữa, ở Việt Nam, nhiều khi, triết họchiện sinh chỉ đợc hiểu qua lối sống hiện sinh ở Sài Gòn những năm 1954 -

1975 Chính quan niệm sai lầm nh vậy đã khiến nhiều ngời có “ác cảm” vớitriết học hiện sinh, coi đó là triết lí hành động của những kẻ chỉ muốn sốngcho riêng mình, chiều theo bản năng của mình

Trang 15

E Mounier nhận thấy cái phi lí mới nhất của thế kỉ XX là cái mốt hiệnsinh Hằng ngày, ngời ta vẫn nói chuyện bừa bãi về triết hiện sinh, trong khi

“ý nghĩa đích thực của triết hiện sinh là làm cho con ngời thôi không nói bừabãi nữa” [70; 7]

Nói một cách chặt chẽ, bất cứ triết thuyết và khoa học nào cũng có thểmang danh là hiện sinh bởi vì chúng đều là những khám phá về cuộc sống, vềcác hiện tợng xung quanh đời sống con ngời, đáp ứng nhu cầu nào đó trong sựnhận thức của con ngời Tuy nhiên, với ý nghĩa một trào lu t tởng, triết họchiện sinh là một phản ứng của con ngời chống lại sự thái quá của triết học duynhiên, duy lí Nó không lấy cuộc sống nói chung mà lấy cuộc sống của conngời nói riêng làm vấn đề đầu tiên của triết học Nó đả kích triết học cổ điển

đã quá lãng quên cuộc sống của con ngời để chú tâm vào triết lí về sự vật và

những sản phẩm của tinh thần Gọi là hiện sinh vì triết học này coi cuộc sống

cụ thể, hôm nay, ở đây của con ngời là vấn đề chính yếu Triết hiện sinh làmột triết thuyết hành động và nhập cuộc, vì thế những câu hỏi mà nó đặt ra có

ý nghĩa hơn rất nhiều những câu trả lời nó tìm thấy Các nhà hiện sinh chủnghĩa thờng băn khoăn vì sao, vì mục đích gì con ngời chúng ta sinh sống ở

đời, con ngời là ai, con ngời sẽ đi tới đâu, cuộc sống với chúng ta có nghĩa lígì, đời đáng sống hay không đáng sống… Những câu hỏi này khiến bất cứ aicũng phải nhìn nhận lại cuộc sống của mình Đó cũng là lí do khiến triết hiệnsinh đợc gọi là triết học của sự bừng tỉnh

T duy hiện sinh đã có những biểu hiện ban đầu ngay từ thời cổ đại khicon ngời biết chiêm nghiệm về thân phận mình Socrate (470 - 399 TCN), nhJaspers nói - một trong những nhân vật lớn nhất trong lịch sử nhân loại nóichung, ngang hàng với Khổng Tử, Phật Thích Ca và Jesus, đã không chủ trơngxây dựng một vũ trụ luận nh các triết gia trớc và cùng thời với ông vì theo

ông, loài ngời phải để cho thần thánh nhiệm vụ chú ý tới vũ trụ ngoại tại, còncon ngời phải chú ý tới những gì trực tiếp liên hệ với mình, “Hãy tự biếtmình!” Ông đợc các triết gia hiện sinh đánh giá cao ở thái độ chấp nhận sứmệnh mà thần minh ủy nhiệm, dám bảo vệ ý nghĩa cuộc sống của mình đếncùng và đã uống thuốc độc tự vẫn để chứng minh cho quan điểm của mìnhrằng sự thật còn cao hơn sự sống Trong thần thoại Hi Lạp, Promethee lừa dốicả thần Zeus để giúp đỡ loài ngời, thà bị xích vào đá còn hơn phải làm nô lệ

cho Zeus bạo chúa Trong Kinh Thánh, Adam và Eva cùng ăn trái cấm trong

Trang 16

vờn Địa đàng, bị Thợng đế trừng phạt xuống trần gian làm ngời, phải trải quatất cả những buồn vui, đau khổ của con ngời trần thế, luôn mang mặc cảm tộilỗi; Abraham vì niềm tin Thợng đế, sẵn sàng ném Isaac con trai mình theo yêucầu của Ngài, vui mừng chấp nhận thà Isaac tin rằng mình là quái vật còn hơn

để nó mất niềm tin vào Thợng đế Thánh Augustine (354 - 430), giám mụcthành Hippo (La Mã) với những tác phẩm gây nhiều ảnh hởng về ý chí tự docủa con ngời đã thu hút sự chú ý của các triết gia sau này nh Pascal,Schopenhauer, Nietzsche, Kierkegaard… B Pascal (1623 - 1620) đã miêu tảtình trạng bất an của con ngời trong một thế giới mênh mông rộng lớn, ôngnhận ra trái tim có những lí lẽ mà lí trí không bao giờ hiểu đợc Pascal hầu nh

đã đề cập tới mọi vấn đề của hiện sinh Đặc biệt đến cuối thế kỉ XIX, sựkhủng hoảng trong triết học bắt đầu gia tăng, những mầm mống cho chủ nghĩahiện sinh có điều kiện để phát triển S Kierkegaard (Đan Mạch, 1813 - 1855)

đợc xem là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh với quan điểm về tính chủ thể củanhân vị; F Nietzsche (Đức, 1844 - 1900) đợc xem là ông tổ của hiện sinh vôthần khi hoài nghi tất cả những giá trị cũ và khẳng định “Thợng đế đã chết”.Khi hiện tợng luận của E Husserl (Đức, 1859 - 1938) ra đời, những t tởng củaNietzsche, Kierkegaard có một qui chế triết học và các triết gia sau đó đã làmcho chủ nghĩa hiện sinh trở thành một triết học nh các trào lu triết học đã có.Chủ nghĩa hiện sinh là “khuynh hớng triết học hình thành trớc Đại chiến

I ở Nga với Chestov (1866 - 1938), Berdiaeff (1866 - 1948), sau Đại chiến I ở

Đức với M Heidegger (1889 - 1976), K Jaspers (1883 - 1969), M Buber(1878 - 1965), trong thời kì Đại chiến II ở Pháp với J - P Sartre (1905 - 1980),Merleau - Ponty (1908 - 1961), A Camus (1913 - 1960), S de Beauvoir (1908

- 1986), sau đó phổ biến ở các nớc khác tại châu Âu và ở Hoa Kì” [47; 278]

ở chủ nghĩa hiện sinh, triết học đợc khảo sát nh một lĩnh vực nhận thức gầnvới sáng tác nghệ thuật và khác với khoa học Nhận thức duy lí là bất cập đốivới hiện sinh của con ngời, nhng hiện sinh lại có thể khám phá bằng sự trảinghiệm trực tiếp, bởi vậy có thể miêu tả nó gần với cung cách miêu tả củanghệ thuật Điều này cũng giải thích vì sao triết học hiện sinh lại gây đợcphong trào rộng lớn trong văn học

Triết học hiện sinh, theo cách nói của M Fragonard [93] trong cuốn Từ

điển lịch sử văn hóa thế kỉ XX, là triết học về nỗi lo tồn tại của con ngời Nó là

thứ triết học của sự khủng hoảng Hiện sinh là trào lu t tởng rất thịnh hành và

Trang 17

có ảnh hởng rộng rãi nhất ở phơng Tây thế kỉ XX, cho đến nay nó vẫn đợc

ng-ời phơng Tây quan tâm

Triết học hiện sinh vừa là sự kế tục, vừa là sự phủ định những thành tựutriết học trớc đó Đặt sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh vào khungcảnh châu Âu, có thể thấy nó tiếp nối truyền thống triết học phơng Tây phảnkháng lại t tởng tách khỏi cuộc sống cụ thể, thiên về nhận thức trừu tợng, hệthống và là sự phản ánh những dao động, hoài nghi, xao xuyến, băn khoăn tr-

ớc những đổ vỡ do Thế chiến II gây nên

Đã có rất nhiều ngộ nhận về phong trào triết học hiện sinh ngay ở châu

Âu; ở Việt Nam, ngộ nhận càng nhiều và càng trầm trọng hơn Danh từ chủ

nghĩa hiện sinh đợc dùng để gọi thái độ sống phóng túng, bừa bãi, hởng thụ,

buồn nôn, hoài nghi, chán đời, trụy lạc… mà một thời đợc mệnh danh là “mốtsống hiện sinh” và coi đó là là sự thể hiện của học thuyết hiện sinh Nhữngbiểu hiện trên, nếu có nguồn gốc từ triết hiện sinh, chỉ là từ phần triết lí tiêucực trong triết học Sartre, không phải tất cả chủ nghĩa hiện sinh chỉ có vậy.Ngay trong triết thuyết của Sartre, những khía cạnh cách mạng đáng nói hơnnhiều, đặc biệt là t tởng chính trị và dấn thân chính trị của Sartre vào tất cảnhững tranh đấu cho tự do, công chính, công bằng xã hội suốt những năm

1940 - 1960 của thế kỉ XX và lí thuyết về văn chơng, về phê bình văn chơngcủa ông

Triết học truyền thống phơng Tây từ Platon, Aristotle… thời cổ đại đếnnhững Descartes, Kant, Hegel… sau này, đều lấy vạn vật trong thế giới tựnhiên làm đối tợng nghiên cứu Bởi vậy nó đợc gọi chung là triết học về thiênnhiên Mục đích của triết học đó là tìm ra căn nguyên của vũ trụ Con ngờicũng bị coi là một trong số hàng vạn vật Trong tơng quan với thế giới tựnhiên, con ngời vô cùng nhỏ bé, bị vũ trụ lấn át, con ngời bị bỏ quên

Nhận thức đợc điều đó, triết học hiện sinh đặt con ngời và ý nghĩa cuộcnhân sinh làm đối tợng nghiên cứu Triết hiện sinh chỉ chú trọng đến thânphận, hành động, cuộc sống và cái chết của con ngời Con ngời đợc triết hiệnsinh tôn vinh, là chủ thể của vạn vật, cao hơn vạn vật Con ngời trong triếthiện sinh là con ngời cụ thể - những cá thể riêng biệt, độc đáo có chủ thể tính

và tự do tính - chứ không phải là con ngời phổ quát của Aristotle Con ngờihiện sinh không sống trong những quan niệm trừu tợng mà sống trong cuộcsống hàng ngày, cụ thể, có suy ngẫm về quá khứ, dự tính về tơng lai, có đời

Trang 18

sống nội tâm, luôn dùng suy nghĩ để xác nhận ý nghĩa thực sự của mỗi ngời,mỗi vật cố gắng thoát khỏi màu sắc kinh viện, bác học của triết học truyềnthống.

Triết học hiện sinh nhấn mạnh tới tính chủ thể, độc đáo của mỗi con

ng-ời “Chủ đích của triết hiện sinh là làm cho mỗi ngời ý thức và ý thức mộtcách bi đát về địa vị làm ngời của mình, đồng thời triết hiện sinh nhắc cho tabiết nếu ta thụ động, ta sẽ bán rẻ thiên chức làm ngời của ta và nh vậy chúng

ta sẽ rơi xuống hàng sự vật” [35; 28] Trách nhiệm hiện sinh của con ngời thểhiện ở sự lựa chọn cách thức hành động để khẳng định bản thân mình, đểchứng minh sự độc đáo, sáng tạo, khẳng định cá tính, bản lĩnh của riêng mình,không giống bất cứ ngời nào khác Con ngời hiện sinh ý thức đợc mỗi ngời làmột nhân vị độc đáo, một kì diệu của Thợng đế, của Tạo hóa “Độc đáo không

có nghĩa là lập dị (…) ngang tàng không có nghĩa là phá phách Độc đáo chỉ

có nghĩa là mỗi ngời đợc sinh ra với những điều kiện thể chất và tinh thầnkhác hẳn nhau” [35; 28] Con ngời phải đảm nhận lấy sự tự do của mình Sựlựa chọn hành động trong mỗi thời điểm là cách thể hiện ý nghĩa của cuộc đờimình, là cách mình tạo nên giá trị bản thân và định mệnh của mình Mỗi quyết

định là một giá trị hiện sinh, vì mỗi quyết định đòi hỏi một ý thức thận trọng

và một tinh thần trách nhiệm cao cả

T tởng hiện sinh coi trọng tự do cá nhân, đề cao tính độc đáo, sáng tạo,tính tự chịu trách nhiệm của mỗi ngời Điều này phù hợp với cuộc giải phóngcon ngời cá nhân mà phơng Tây đã và đang thực hiện Nội dung của triết họchiện sinh không đợc diễn tả bằng những câu định nghĩa trừu tợng nh triết cổtruyền mà dùng các hình thức ngôn từ dễ hiểu, cụ thể, sinh động, có sức hàmsúc cao của văn chơng nh nhật kí, tiểu thuyết, kịch… Do vậy, triết hiện sinh

đã làm đợc một cuộc cách mạng, đó là đã “đa triết lí vào đời sống và hớng dẫn

đời sống bằng những suy nghĩ triết học” [35; 23] Triết hiện sinh đã đợc giớitrí thức phơng Tây những năm 1950 - 1970 đón nhận nhiệt tình Những ngờitrẻ đang băn khoăn về số phận, đầy hoài nghi về tơng lai… đã tìm thấy ở t t-ởng hiện sinh một chỗ dựa tinh thần Thời kì đó, J - P Sartre và A Camus đợcxem là những ngời thầy t tởng của thanh niên châu Âu

Chính việc đề cao tự do cá nhân, tự do từ trong bản năng, từ trong trựcgiác một cách thái quá đã là một động lực kích thích ngời ta đến một lối sốngphóng túng, tự cho phép mình có quyền hởng thụ hết mọi khoái thú của cuộc

Trang 19

đời Mặt khác, ngời ta tìm thấy trong chiều sâu của chủ nghĩa hiện sinh t tởng

về tự do - mỗi ngời là một nhân vị tự do, tự đảm nhận lấy định mệnh củamình, mỗi ngời là một nhân vị độc đáo, cô đơn gánh vác định mệnh của mình,mỗi ngời là một cuộc đời, chúng ta “bị” tự do, không ai sống thay và chết thaychúng ta đợc - làm động lực, chỗ dựa về t tởng cho hành động của mình Ngời

ta có niềm tin để thể hiện hết mình trong những dự phóng, để khẳng định tàinăng, bản ngã của mình

Trào lu hiện sinh ảnh hởng tới tầng lớp trí thức miền Nam Việt Namnhững năm 1954 - 1975 gần nh là một cơ duyên của lịch sử Trong hai thậpniên ấy, chủ nghĩa hiện sinh đã tác động tới đời sống xã hội miền Nam ViệtNam trên các bình diện nh lí thuyết triết học và văn học, sáng tác văn học, thái

độ sống Tuy nhiên, trong một hoàn cảnh xã hội đầy bi đát, cùng với trào luhiện sinh là những trào lu t tởng khác từ phơng Tây, nhất là sự ảnh hởng củaphân tâm học, lối sống hiện sinh Mĩ cộng với những giá trị t tởng truyền thốngcủa phơng Đông tất cả cộng hởng làm cho đời sống văn hóa - xã hội miềnNam giai đoạn đó vô cùng phức tạp

Đến nay, thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh đã có vị trí chắc chắn trong đời

sống xã hội và đi vào lịch sử triết học hiện đại Chủ nghĩa hiện sinh đã đợcbàn luận rất nhiều, song dờng nh t duy hiện sinh vẫn không ngừng vơn xatrong xã hội hiện đại Chủ nghĩa hiện sinh không phải là một học thuyết cứng

nhắc, bó hẹp mà luôn rộng mở Ngay lúc phát triển ở cao trào, là một chủ

nghĩa thì cũng cho thấy sự đa dạng của các loại chủ nghĩa hiện sinh Hầu nh

có bao nhiêu nhà triết học, bao nhiêu nhà văn dùng từ hiện sinh thì có bấy

nhiêu loại chủ nghĩa hiện sinh Hơn nữa, ngoại trừ Sartre, không nhà văn, nhàtriết học nào nhận mình là hiện sinh chủ nghĩa Song, về bản chất, họ đềugiống nhau ở chỗ cùng đề cao quan điểm chủ thể tính, coi hiện sinh là tính thứnhất, có trớc bản chất Một cách khái quát nhất có thể phân chủ nghĩa hiệnsinh thành hai nhánh: hiện sinh vô thần (ngành tả) và hiện sinh hữu thần(ngành hữu) Hai ngành này cùng chung chủ trơng “lấy triết học con ngời đểchống lại sự quá trớn của hai nền triết học cổ điển tức triết học quan niệm vàtriết học về vũ trụ” [35; 66]

1.1.2 Các triết gia hiện sinh tiêu biểu

Chủ nghĩa hiện sinh không phải chỉ do một nhà lí luận kiệt xuất nào đề ra

mà đó là sự tiếp nối từ những mảnh t tởng hiện sinh có trong lịch sử loài ngời

Trang 20

từ thời cổ đại “Lịch sử loài ngời đã đánh dấu những chuỗi thức tỉnh hiện sinh,kêu gọi con ngời tự suy t về mình và trở về nhiệm vụ chính yếu của mình”[70; 9] Đó là bài học đầu tiên hiền triết dạy cho môn đệ trong thánh kinh

Upanishad (thế kỉ VII TCN) của ngời ấn Độ về “Sự bất túc của trí tuệ”, là

tiếng gọi thống thiết “Hãy tự biết mình!” của Socrate, là số phận những nhân

vật trong Kinh Thánh của đạo Kitô, là tâm trạng bất an, mối lo âu không

ngừng nghỉ về thân phận “cây sậy yếu ớt” của con ngời trong t tởng B Pascal(1623 - 1662), là sự thức tỉnh khả năng tri giác trực tiếp của con ngời màSpinoza bàn đến hay nói nh Bergson, là sự trực giác - khả năng nhận thức chân

lí tuyệt đối nằm ngoài lí t duy duy lí thông thờng, dờng nh thoát khỏi sự kiểmsoát của trí tuệ…

Sự phát triển t tởng hiện sinh thành một chủ nghĩa là sự kết hợp, vận dụng

t tởng triết học của F Nietzsche, Sosren Kierkegaard và phơng pháp khoa họchiện tợng luận của E Husserl

Có sự phân chia tơng đối thành hai ngành triết học hiện sinh vì, hai ngànhnày mặc dù có điểm chung lớn nhất nh đã nói ở trên nhng có sự đối lập nhau ởnhững điểm căn bản trong thái độ đối với con ngời và Thợng đế Hiện sinh tôngiáo công nhận, đề cao sự giao tiếp với tha nhân, coi tính liên kết giữa các chủthể là cách hiện sinh hoàn hảo, thúc đẩy sự phát triển của con ngời; ngợc lại,hiện sinh vô thần đề cao sự tranh đấu chống lại tha nhân để không bị tha hóa,vì “Địa ngục là tha nhân” (Sartre) Hiện sinh tôn giáo coi Thợng đế là lời mờigọi con ngời tiến lên không ngừng, là cái đích và động lực cho con ngời vơntới; hiện sinh vô thần gạt bỏ Thợng đế ra ngoài cuộc sống của con ngời vì tinvào Thợng đế là thừa nhận bị giới hạn, không hoàn toàn tự do

S Kierkegaard (Đan Mạch, 1813 - 1855) đợc coi là ông tổ của chủ nghĩahiện sinh và cũng là ngời đi đầu trong ngành hiện sinh tôn giáo Triết học của

ông là sự phủ định tuyệt đối triết học duy niệm, duy lí của Kant, Hegel Đó làtriết học về đời sống, đem con ngời về với cuộc đời và bản thân mình.Kierkegaard nói nhiều về niềm tin và đam mê “Đam mê là hành vi trung thựccủa con ngời” [30; 32] và “đức tin là đam mê cao cả nhất của con ngời” [35;113] Đức tin giúp chúng ta vợt qua cái tầm thờng để vơn lên cái tuyệt đối, vợtqua cái bình thờng để vơn lên độc đáo Kierkegaard cũng là ngời đầu tiên bàn

đến tính chủ thể của nhân vị biểu hiện trong trực giác - một lĩnh vực nằmngoài sự kiểm soát của lí trí Điều này đợc hiện tợng luận của Husserl trình

Trang 21

bày thành một khoa học và là cơ sở cho mọi triết học hiện sinh của các triếtgia sau này.

Karl Jaspers (Đức, 1883 - 1969) chịu ảnh hởng mạnh mẽ bởi t tởng của

W Dilthey, E Husserl Triết học về tồn sinh của Jaspers đợc nuôi dỡng bởi

tinh thần của Nietzsche và của Kierkegaard (mà ông mợn ý niệm tồn sinh),

gợi hứng phóng khoáng từ Dilthey và từ Husserl, và có lẽ hơn cả là từHeidegger [37; 522] Toàn bộ triết học về tồn sinh đợc ông triển khai trong

bộ Triết học (Philosophie - 1932) Triết học của Jaspers là một lời mời gọi

tham dự cuộc trải nghiệm khắt khe về những giới hạn mà không một cá nhânnào có thể thoát ra ngoài: đau khổ, thất bại, sự giao tiếp với thế giới bên ngoài,cái chết… Với Jaspers, hiện sinh bắt đầu xuất hiện khi con ngời ý thức sâu xa

rằng mình là một chủ thể Bằng phơng pháp soi vào hiện sinh, Jaspers vạch

cho ta thấy vô thần là con đờng cùng, là giới hạn của h vô, vì thế không thể

đạt tới siêu việt bằng con đờng này Soi vào con đờng tôn giáo, ông khôngchào đón nhiệt tình các tôn giáo nh những con đờng dẫn thẳng tới siêu việt

Ông nhận ra những “u điểm lớn lao, nhng cũng tố cáo những nguy hiểm màcác hình thức tôn giáo sùng bái mang lại cho hiện sinh” “Nỗi bi ai của sự kh-

ớc từ tôn giáo là tiếng nói rõ nhất của phần siêu hình học Jaspers Đó là một

sự khớc từ đầy xót xa, khác hẳn giọng châm biếm của Voltaire hoặc nhómMác - xít” [35; 236, 237] Ông khớc từ tôn giáo vì đức tin tôn giáo thờng làmột an nghỉ - những tín đồ thờng tự coi mình đã đạt tới chân lí tuyệt đối và chỉmình họ có chân lí tuyệt đối đó Mặt khác, đức tin tôn giáo có thể sinh ra sùngbái mê tín “Tự nó tôn giáo không sinh ra những mê tín đó, nhng vì bản tínhcon ngời là lời biếng, mà lời biếng thì sinh ra mê tín Mê tín chỉ là thứ tôn giáo

rẻ tiền, tôn giáo của những ngời không có can đảm sống đời sống tinh thầncủa tôn giáo đích thực (…), muốn lấy vài hình thức dễ làm (lẩm bẩm vài câukinh, đốt nắm hơng, dâng một số tiền, tổ chức một buổi tế lễ linh đình… …) ( )

để thay thế cho sinh hoạt thâm thuý của đức tin” [35; 239]

Thấy đợc những nguy hiểm mà niềm tin tôn giáo có thể mang lại songJaspers không tuyệt đối chối bỏ tôn giáo Theo ông, tôn giáo là một hình thứccần thiết cho hiện sinh, và hiện sinh phải vợt qua giai đoạn tôn giáo để tiến tới

niềm tin triết học - một khái niệm đợc coi là đóng góp độc đáo của Jaspers

cho lịch sử triết học Ông quan niệm “triết học không thể cung cấp cho conngời những cái mà tôn giáo đã ban cho con ngời” Niềm tin triết học đợc định

Trang 22

nghĩa “là niềm tin của con ngời vào những khả năng của mình Niềm tin nàynói lên tự do tính của con ngời” “Niềm tin là một hành vi hiện sinh, khi hiệnsinh tự ý thức rằng mình sống trong tơng quan với siêu việt, trong thực tại củasiêu việt” [35; 241, 242] Niềm tin là động lực giúp chúng ta vơn lên mãi mãicho đến khi thể hiện đợc sự sống mật thiết với siêu việt (Thợng đế).

Triết học của Jaspers lay tỉnh con ngời, thúc đẩy những u t của con ngời

về định mệnh làm ngời của mình “Hành trình là số kiếp con ngời trong trầngian” [37; 527], Jaspers chứng minh cho chúng ta thấy chính cuộc hành trình

đầy bi đát của thân phận ấy là nguồn an ủi vô tận cho con ngời Ông cổ vũ conngời vơn lên, thoát khỏi cảnh sa lầy trong cảm giác tự thỏa mãn, tự bằng lòngvới cuộc sống bình bình

Gabriel Marcel (Pháp, 1889 - 1973) là “một trong những phát ngôn viêncông giáo quan trọng ở Pháp” [37; 569] trong thế kỉ XX Khởi điểm của triếthọc Marcel là sự chống đối Hegel

Marcel phủ nhận hoàn toàn chủ nghĩa duy lí, ông hớng triết học của mìnhvào sự trải nghiệm làm ngời, muốn “phục hồi sức mạnh hữu thể học” [37;562] Marcel đợc xem là một triết gia hiện sinh điển hình và là ngời khai sinh

phong trào hiện sinh ở Pháp, mặc dù trên thực tế, khi chủ nghĩa hiện sinh từ

nhng năm 1945 đợc Merleau - Ponty và Jean - Paul Sartre biến thành một cái

mốt t tởng thì Marcel cực lực công kích cụm từ này Marcel nhận học thuyết

của mình là chủ nghĩa Socrate mới (Neo Socratisme).

Marcel học tập Socrate trong quan niệm về chân lí tuyệt đối: về phơngpháp, luôn đặt ra những câu hỏi để hớng tới chân lí tuyệt đối; về mục đích,luôn hớng tới chỗ đối diện với thực tại Con đờng đi tìm chân lí cũng là con đ-ờng phát triển của khoa học, nghệ thuật Theo ông, chúng ta phải biết nghingờ những gì tởng nh là chân lí mà ta cha kiểm nghiệm Hơn nữa, không baogiờ đợc phép cho rằng mình đã đạt tới chân lí tuyệt đối, không đợc phép chorằng mình biết tất cả về mình, về thế giới xung quanh… Con ngời, trên hànhtrình cuộc đời mình, luôn đặt ra những câu hỏi và đi tìm những câu trả lời.Tuy nhiên sẽ không bao giờ có câu trả lời toàn vẹn cho câu hỏi về cuộc nhân

sinh của chúng ta Cái toàn vẹn không bao giờ đạt tới đợc Marcel gọi là huyền

nhiệm Huyền nhiệm là thế giới tinh thần không thể giải thích đợc, là những

tri thức ta có về nhân vị con ngời, về tha nhân, về Thợng đế

Trang 23

T tởng hiện sinh của Marcel tập trung vào hai khái niệm hiện hữu và

chiếm hữu (tồn tại và sở hữu - être và avoir) Chiếm hữu là hình thức suy đồi

của hiện hữu Hiện hữu là thái độ của những nhân vị đối với chính mình, đốivới ngời khác, chiếm hữu là thái độ của ta trớc sự vật, đối với thế giới đồ vật.Marcel phê phán các nhà triết học duy tâm và duy vật đã khách thể hóa conngời, tìm cách định nghĩa con ngời trong khi con ngời là một chủ thể có tự do

và định mệnh Tự do và định mệnh là hai điểm làm con ngời khác sự vật, vàlàm cho một ngời đã vơn lên hiện sinh khác một ngời đang sống trong tìnhtrạng sự vật Tự do không phải là muốn làm gì thì làm, muốn quyết định và sửdụng bản thân mình nh thế nào cũng đợc Tự do đích thực là hành vi sáng tạocủa ngời hiện sinh Ngời tự do tự tìm lấy đờng đi cho mình hoặc học tậpnhững ngời đi trớc khi đã suy xét kĩ và thấy phù hợp với ý hớng của mình.Phàm là con ngời, ai cũng có thể và phải sống tự do, tự chủ nếu không muốn

tự đánh mất t cách ngời của mình Sự tự do và sáng tạo của ngời hiện sinh làsáng tạo chung tay với Thợng đế, là sự sáng tạo trên nền tảng những giá trịcủa lịch sử, văn hóa dân tộc, nhân loại để lại Chính việc lầm tởng sáng tạo làlàm nên những cái khác thờng, lập dị, không giống ai, coi mình là khởi pháttạo nên một kỉ nguyên mới… của một bộ phận thanh niên tự nhận mình làhiện sinh đã đẩy họ vào lối sống lập dị, lố lăng tới mức ngông cuồng…, gây

ác cảm cho những ngời từ khoảng cách xa nhìn vào trào lu hiện sinh Lối sốngnày có căn nguyên từ quan niệm về tự do tuyệt đối, tự do quá trớn và phi lí củaSartre Sự tự do lựa chọn đợc Marcel giới hạn trong hoàn cảnh cụ thể Một

điểm đặc biệt nữa trong triết học Marcel là t tởng công nhận và kính yêu thanhân “Tha nhân chỉ thực sự hiện hữu với tôi một khi tôi cởi mởi với họ” [78;14] Marcel còn dành nhiều giấy mực phân tích rất cụ thể về tình yêu, cho tathấy những suy tởng tuyệt vời trong một học thuyết rất ngời về tình yêu Triết học Marcel có tầm ảnh hởng rộng rãi ở châu Âu Những biểu hiện

về hiện hữu, tình yêu, tha nhân… không bao giờ làm chúng ta thỏa mãn đợc,vì thế, đòi hỏi phải có một Thợng đế Thợng đế là tình yêu vĩnh cửu và thuầntuý Hớng tới một xã hội ở đó mỗi ngời lấy tình yêu đích thực để đối xử vớingời khác là điểm căn cốt trong học thuyết của Marcel mà chủ nghĩa nhân vịngợi ca Trong một thời đại con ngời nhận ra mặt trái của văn minh kĩ thuật,nhận ra khoa học không giải thoát đợc mà ngợc lại, nô lệ hóa con ngời, sựbình an gắn liền với nỗi bất an… thì triết học của Marcel còn đáng để suy

Trang 24

ngẫm, còn có thể gợi ý cho chúng ta những điều bổ ích về một xã hội nhân

đạo hơn, trân trọng con ngời hơn

Ngoài các triết gia trên, ngành hiện sinh hữu thần còn có các đại biểukhác nh Max Scheler (Đức, 1874 - 1928), Vladimir Soloviev (Nga, 1853 -1900), Leon Chestov (Ucraina, 1866 - 1938), Nikolai Berdiaeff (Nga, 1874 -1948), Martin Buber (Do Thái, 1878 - 1965), Paul Tillich (ngời Mĩ gốc Đức,

1886 - 1965), Karl Barth (Thụy Sĩ, 1886 - 1968)…

Friederich Nietzsche (Đức, 1844 - 1900) cùng với Kierkegaard là tiênphong của chủ nghĩa hiện sinh Nếu Kierkegaard là ông tổ của hiện sinh tôngiáo thì Nietzsche là khởi thuỷ của hiện sinh vô thần “Nietzsche nổ bùng nhmột tiếng sét lạ giữa một khung trời trống vắng” [70; 13] Nietzsche tuyên bố

“Thợng đế đã chết”, có nghĩa ông bắt con ngời chấp nhận một thực tế chân líluôn mang tính quan điểm và có giới hạn Triết học của Nietzsche đối thoại lạivới tất cả những chân lí cũ Nietzsche chống đối lại quan niệm của các tôngiáo về một đấng tối cao sinh ra và chỉ đạo cuộc sống con ngời Nietzscheluôn luôn hoài nghi: “Con ngời chỉ là một sự lầm lẫn của Thợng đế hay Thợng

đế chỉ là một sự lầm lẫn của con ngời” [72; 20] Bằng một vốn hiểu biết cực kìsâu rộng và lối đặt vấn đề sắc bén, Nietzsche đã chỉ ra những điểm đáng học

tập và hạ bệ những điều ông cho là không chấp nhận đợc ở những thần tợng

trong lịch sử văn hóa nhân loại từ những nhà thông thái Hi Lạp cổ đại tớinhững nhà văn hóa ở thế kỉ XIX thời đại ông sống Nietzsche bày tỏ sự khâmphục với những ngời thầy nh Napoleon Bonaparte, Goeth, Schillers,Schopenhauer, Stendhal, Dostoevsky, Beethoven, Emerson… Với Nietzsche,Dostoevsky là ngời duy nhất dạy ông đợc “vài điều” về tâm lí học Đó lànhững bài học về giá trị một con ngời trong t tởng của Dostoevsky: “1 Tội ác

phải đợc xếp vào những cuộc phản kháng trật tự xã hội hiện hữu Một kẻ phản

kháng có thể là một ngời đáng thơng và đáng khinh, nhng một cuộc phảnkháng chống lại thứ xã hội yếu hèn của chúng ta thì không hề làm giảm giá trịcủa một ngời 2 Không đợc xét đoán giá trị của một ngời căn cứ vào một hành

động duy nhất Trong mọi tội ác hầu nh đều biểu lộ những đức tính mà khôngngời nào đợc thiếu 3 Phải bãi bỏ tử hình và sự ghê tởm dành cho kẻ tội phạmvì ngời ta không thể nâng dậy một ngời bằng cách hành hạ và khinh bỉ hắn Sựkhinh bỉ ngợc đãi là một sự đồi bại và đồi bại hóa tâm hồn còn tệ hại và dãman hơn cả tội ác 4 Những kẻ tội phạm thờng là những kẻ man rợ, mãnh liệt,

Trang 25

quá trớn không thích nghi nổi với những điều kiện sinh tồn nền nếp, nghèonàn, gò bó, tiết chế của xã hội 5 Sự gia tăng của tội ác có thể là một triệuchứng báo hiệu sự băng hoại của xã hội nhng đồng thời nó cho thấy khả tínhcủa một nền văn minh mới; một sự bình phục mới: không có thời nào nhiềutội ác khủng khiếp bằng thời Phục Hng, bình minh của nền văn minh hiện tại.

6 Tất cả những kẻ tội phạm đều có thể là những kẻ phi nhân Nhng tất cảnhững vĩ nhân đều thiết yếu phải là những kẻ tội phạm” [72; 217-218]

Nietzsche đã dùng chính phong cách của Kinh Thánh để đa ra những quan

niệm mới trái ngợc triệt để với quan niệm đạo đức truyền thống của Thiên

chúa giáo và Do Thái giáo (Zarathustra đã nói nh thế) Ông có quan điểm

chống chủ nghĩa bài Do Thái và chống chủ nghĩa dân tộc Đức, tuy nhiên triết

lí ngời hùng của ông lại đợc Đức Quốc xã tôn vinh và coi ông là bậc tiền bối,khiến Nietzsche bị mang tiếng xấu Sau Thế chiến II, triết gia ngời Đức,Walter Kaufmann (1921 - 1980) đã bền bỉ cố gắng khôi phục lại danh tiếngcho Nietzsche trong cộng đồng các nớc nói tiếng Anh và vào nửa sau của thế

kỉ XX, Nietzsche đợc coi là nhân vật quan trọng có ảnh hởng lớn trong triếthọc hiện đại Các trào lu hiện sinh chủ nghĩa, phân tâm học, chủ nghĩa hậuhiện đại… đã học đợc từ Nietzsche rất nhiều, nhất là từ ý tởng “con ngời làmột cái gì đó cần phải đợc vợt qua” nh lời Zarathustra nói

Martin Heidegger (Đức, 1889 - 1976) là ngời “tiên báo một đột biến sâu

xa trong lịch sử t tởng và xuyên suốt chiều dài của truyền thống lịch sử siêuhình học, từ những ngời Hi Lạp cho tới ngày nay” [37; 531]

Tác phẩm quan trọng nhất của Heidegger, Hữu thể và thời gian (1927),

đánh thức mối quan tâm về vấn đề hữu thể Triết học của ông đợc xây dựng

trên chữ Dasein (Da: hiện diện, sein: hiện hữu, Dasein: hiện hữu nh một hiện

diện) [35; 351] Con ngời là một hữu thể đang hiện hữu nh một hiện diện, mộthữu thể tại thế Tồn tại ngời là một hiện hữu ý thức đợc sự hiện hữu của chínhmình, có khả năng nhận thức, tra vấn về vấn đề hiện hữu Ông quan tâm tớitính thời gian vì thời gian là cái làm nên ý nghĩa của tồn tại, cho thấy sự hiệnhữu của con ngời Đặt trong vòng giới hạn thời gian tồn tại, Heidegger quan

niệm con ngời ngay từ khi sinh ra đã đủ tuổi già để chết đi, cho nên bản chất

con ngời Dasein đó là sự lo âu, u t về “thân phận tử vong” của mình Lo âu làbản chất trung thực của hiện hữu

Trang 26

Heidegger không thừa nhận khái niệm chủ nghĩa hiện sinh nhng “những

suy t của ông về tồn tại và Dasein, về tính thời gian, về lo âu đã chứng tỏ ôngkhông những là nhà hiện sinh mà còn đi sâu hơn các vị hiện sinh tiền bối, làngời góp phần làm cho chủ nghĩa hiện sinh đợc phong phú hơn” [30; 41-42].Heidegger còn có đóng góp lớn cho lịch sử văn học thế giới với những công

trình nghiên cứu về ngôn ngữ nh cuốn Tại sao có nhà thơ Theo ông, ngôn

ngữ, tự nó có sự biểu hiện, có tiếng nói riêng mà chúng ta, với việc xem nó

nh công cụ, vật chất hóa nó, đồng nhất nó với tiếng nói, với một phần thể xáccon ngời, bị kĩ trị hóa thành phơng tiện truyền thông… đã làm “chết” đi tiếngnói riêng của nó Heidegger quan niệm “Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể”,

là nơi trú ngụ của tồn tại Chỉ có những nhà thơ bằng sự tế vi, nguyên sơ củatâm hồn mới có thể lắng nghe tiếng nói của ngôn ngữ

Maurice Merleau - Ponty (1908 - 1961) đợc lịch sử triết học ghi nhận lànhà hiện tợng học vĩ đại nhất của nớc Pháp Ông phát triển hiện tợng học củaHusserl để phản ứng lại Bergson và chủ nghĩa duy linh cho rằng thân xác conngời cản trở, làm hạn chế sự phát triển của đời sống tinh thần, làm giảm đi sựcao khiết của đời sống nôi tâm Merleau - Ponty chủ trơng “Tôi là thân xáctôi”, ông muốn chứng minh rằng “thân xác không phải là nhà tù của linh hồn,

mà hoàn toàn ngợc lại, linh hồn lại là nhà tù của thân xác” [37; 565]

Cảm kích trớc Husserl và quan niệm của Husserl về thế giới sống,

Merleau - Ponty đã kết hợp phơng pháp tiên nghiệm của Husserl với nhữngvấn đề nhận thức luận và sự định hớng hiện sinh từ Heidegger, Marcel Ôngnhấn mạnh bản chất trần tục của tồn tại ngời mà trên cả là tính xác thịt củacon ngời Ông nhấn mạnh tính u việt của tri giác Tất cả các chức năng caohơn của ý thức nh sự hiểu biết, ý chí đều có nguồn gốc và phụ thuộc vào sựphản ánh của chủ thể, tồn tại thể xác có nghĩa là tri giác Tồn tại ngời theoMerleau - Ponty bao gồm ba đặc tính: tự do, cô độc và sáng tạo

Mặc dù cùng với Sartre sáng lập và đồng chủ biên tạp chí Les Temps

Modernes (Thời hiện đại, Thời Mới) nhng t tởng của Merleau - Ponty không

giống Sartre Ông không lấy tôi để chống lại tha nhân, “cái nhìn của tha nhân

chỉ biến tôi thành sự vật và cái nhìn của tôi chỉ biến tha nhân thành sự vật khinhững cái nhìn đó chỉ là cái nhìn vô nhân đạo mà thôi” [30; 34]

Jean - Paul Sartre (1905 - 1980) là một trong những hiện tợng văn hóa

độc đáo và tiêu biểu nhất của thế kỉ XX ở Pháp cũng nh trên toàn thế giới

Trang 27

Sartre là sự gặp gỡ kì lạ giữa: khuynh hớng duy tâm lí của Pháp nơi Ribot,Janet, Bergson; hiện tợng luận Husserl, hữu thể học Heidegger; triết họcHegel; triết học Marx Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một sự tìm tòi lớn.Sartre là đại biểu lớn cho cả triết học và văn học hiện sinh.

Sartre là triết gia duy nhất chấp nhận danh từng chủ nghĩa hiện sinh cho

mình ông giành lấy danh hiệu hiện sinh chủ nghĩa và bảo vệ chủ nghĩa hiệnsinh của mình một cách cơng quyết trong mọi cuộc tranh luận Ông còn dànhhẳn một bản thuyết trình dài khẳng định “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhânbản” để trả lời cho những lời bình phẩm về triết thuyết của ông, nhất là từnhững ngời công giáo và những ngời cộng sản Nhắc tới triết học hiện sinh,ngời ta thờng nghĩ ngay tới Jean - Paul Sartre Mặt khác, Sartre nổi tiếng bởimột tài năng đa dạng: một triết gia đặc biệt, một nhà văn sắc bén với nhiều thểloại, một nhà báo, nhà tâm lí, nhà hùng biện… Cuộc đời riêng của ông cũng

có những sự kiện nổi bật đợc chú ý nh “hợp đồng hôn nhân” với Simond deBeauvoir, từ chối giải thởng Nobel Văn học 1964, tham gia tòa án Rousselchống cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam của Mĩ, đứng đầu phong trào “mộtchiếc thuyền cho Việt Nam”… Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre không dừng lại

ở lí luận mà tạo nên cả một phong cách sống Sartre nổi tiếng và đợc phổ biến

đến nỗi đợc mệnh danh là “nhà triết học best - seller” [42; 403]

Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre đợc gọi là chủ nghĩa hiện sinh hành độngvì ông quan niệm con ngời đợc định nghĩa theo hành động, “không có mộtchủ thuyết nào lạc quan hơn thuyết hiện sinh, vì thuyết này cho rằng địnhmệnh con ngời nằm trong tay con ngời Thuyết hiện sinh cũng không phải làmột mu toan để làm con ngời thất vọng buông xuôi không hành động nữa, vìthuyết này cho rằng con ngời chỉ có thể hi vọng ở trong hành động thôi, vàyếu tố duy nhất có thể giúp con ngời sống đợc, đó là hành động” [82; 42]

Để bảo vệ quan điểm chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản,Sartre tập trung vào vấn đề con ngời và phát triển quan niệm về tự do Ông chorằng các học thuyết trớc kia, duy tâm hay duy vật, đều bỏ quên con ngời, coicon ngời nh một vật phụ thuộc, một thành phần rất nhỏ bé của giới tự nhiên.Chủ nghĩa hiện sinh trả con ngời về đúng vị trí, ý nghĩa của nó, nghiên cứu sựtồn tại cụ thể của con ngời cụ thể Phát triển quan niệm “Tồn tại có trớc bảnchất” của Husserl, Sartre cho rằng ý thức và chủ quan tính của con ngời có tr-

ớc hoạt động nhận thức Con ngời là một hữu thể tự ý thức về bản thân mình,

Trang 28

luôn hớng tia nhìn về tha nhân và luôn có nguy cơ bị tha hóa (phóng thể, vongthân) Con ngời là những dự phóng, dự tính về tơng lai Thợng đế là mộtphóng thể của con ngời, là tha thể dới hình thức cao quí nhất Con ngời luôntheo đuổi những giá trị cao quí, vô cùng đó nhng không bao giờ đạt tới đợc.

Đây là nguyên nhân dẫn tới tính phi lí, bi đát của cuộc đời con ngời Bản tínhcon ngời là muốn làm Thợng đế, nó lao vào đam mê tự hủy hoại mình để lậpnên một hữu thể tự thân tự biết và tự quyết về tồn tại của mình, tức là để biếnmình thành Thợng đế Mâu thuẫn này không thể giải quyết đợc Vậy nênSartre nói “Đời ngời là một đam mê vô ích” [35; 307] Hơn nữa, đặt con ngờitrong giới hạn cuối cùng - cái chết - điều mà chúng ta ai cũng ý thức đợc nó sẽ

đến nhng cụ thể đến vào lúc nào và nh thế nào thì chúng ta hoàn toàn bất khảtri, mệnh đề trên của Sartre vẫn có lí Thợng đế là một phi lí nên Sartre phủnhận Thợng đế

Quan niệm về tự do của Sartre có nhiều điểm đáng nói Ông chủ trơng tự

do tuyệt đối, nghĩa là đứng trong mỗi hoàn cảnh, con ngời luôn tự quyết vềmình và tự quyết một cách không chút lệ thuộc vào hoàn cảnh sống Mỗi cánhân đều có tự do nhng tự do đó không ngừng bị đe dọa, nguy cơ đầu tiên đến

từ tha nhân, tha nhân chính là địa ngục cho tôi Sartre muốn con ngời, bằnghành động dấn thân, toàn quyền sáng tạo ra mình và phải tự phát minh ramình Sartre đã “nâng con ngời lên bậc chúa tể, tự mình đặt luật lệ cho vũ trụ

và cho chính mình” [35; 325] Nếu chủ nghĩa Marx vui mừng vì con ngời ợc” tự do thì Sartre nhấn mạnh con ngời “bị” tự do Tự do là định mệnh bi đátcủa con ngời Tự do của con ngời có trớc bản chất của con ngời và làm chobản chất của con ngời trở nên cái có thể Sartre tin vào khả năng của con ngời

“đ-dù con ngời ngẫu nhiên đợc sinh ra, đợc ném vào thế giới một cách vô cớ,trống rỗng, mang định mệnh tự do tuyệt đối Con ngời tự chịu trách nhiệm vớitất cả những việc mình làm, bằng hành động tạo nên bản chất của mình Sartrechủ trơng dấn thân, nhập cuộc để vợt qua bản thân mình, hớng về những mụctiêu, dự tính của mình Con ngời là một dự phóng không ngừng, nó có quántính phóng thể, cho nên phải hành động để không bị tha hóa Tuy đầy niềm tin

ở con ngời nhng “vì quá đề cao chủ thể tính của con ngời, Sartre đã cô đơnhóa con ngời” [35; 372], vì quá đề cao tính chất độc đáo của mỗi cá nhân nên

tự do Sartre chủ trơng sa xuống tự do cá nhân Phủ nhận cả mối liện hệ với thếgiới bên ngoài, với tha nhân, con ngời của Sartre cô đơn tuyệt đối Đây cũng là

Trang 29

điểm mà mốt sống hiện sinh tìm đợc chỗ dựa Vì không thể tin ai, những ngời

tự cho là hiện sinh ấy sống theo quan điểm của mình, muốn thể hiện sự tự do,

độc đáo của mình ở một góc độ tiêu cực, cực đoan Sở dĩ triết thuyết của Satrethu hút đợc đông đảo thanh niên vì tuổi trẻ còn mang nhiều mơ ớc, khát vọngmột tự do tuyệt đối; triết học của Sartre phù hợp với khát khao thể hiện cátính, khẳng định bản thân của họ Hơn nữa, Sartre có mãnh lực thu hút đặcbiệt Cuộc đời ông là một bi kịch, đầy mâu thuẫn: có một Sartre thánh thiện,thuần khiết, biết đồng cảm và cũng có một Sartre biện hộ cho bạo lực, mộtSartre vơn tới sự tự do cao cả của ý chí và một Sartre đam mê đi áp bức… Sự

độc đáo và vĩ đại của Sartre làm nên vị trí không thể thay thế của ông tronglịch sử triết học và văn học của riêng nớc Pháp và của cả thế giới Qua sự thẩm

định của thời gian, khi đọc lại Sartre, những thế hệ sau nh chúng ta càng đợcnhắc nhở một điều mà Sartre đã bỏ quên, đó là không bao giờ đợc phép quênhoàn cảnh mình đang sống vì đó chính là nơi chúng ta hành động, chiến đấu,

đau khổ và hạnh phúc

Trên đây là sự trình bày một cách khái quát nhất về một số triết gia hiệnsinh tiêu biểu Trong đó, Heidegger, Jaxpers, Marcel và Sartre đợc xem là bốntrụ cột của triết hiện sinh hiện đại, những triết gia khác mà chúng tôi trình bày

có đóng góp rất lớn làm cho hiện sinh trở thành một chủ nghĩa và tạo nên sứchấp dẫn cũng nh ảnh hởng sâu rộng của triết học này trong đời sống t tởngcũng nh đời sống xã hội phơng Tây thế kỉ XX

1.1.3 Những luận đề chính của triết học hiện sinh

Phong trào hiện sinh là một phong trào rộng lớn, gồm nhiều khuynh hớngkhác nhau Tuy nhiên, vợt lên mọi sự khác nhau, tất cả các triết gia hiện sinhcùng thống nhất với nhau ở quan niệm triết học không phải là khoa tìm hiểunhững nguyên lí, qui luật của tự nhiên mà là khoa tìm hiểu hiện sinh, tìm hiểu

ý nghĩa đời sống con ngời Triết hiện sinh đã chia sẻ tôn chỉ triết học này vớihai triết thuyết hiện đại khác là phong trào mác xít và phong trào nhân vị “Cả

ba triết thuyết hiện đại đều nhắm một mục tiêu: sinh hoạt con ngời Nhng tùytừng phơng diện ngắm, ba triết thuyết đó đã khác nhau: triết mác xít nhắm conngời trong xã hội, triết nhân vị nhắm con ngời nhân linh, đồng thời đề cao tự

do nhân vị và đề cao những mối giao tiếp xã hội; còn triết hiện sinh chỉ chútrọng đến ý nghĩa đời sống và tự do cá nhân của mỗi con ngời” [35; 470] Conngời trong triết học hiện sinh là con ngời độc đáo, cô đơn, luôn nhận thấy

Trang 30

những giới hạn và cố gắng vợt qua giới hạn Con ngời luôn có gắng vì nỗi sợhãi bị lãng quên, vì tham vọng đợc sống trong tim và óc kẻ khác nhDostoevsky từng nói Trớc giới hạn lớn nhất của đời ngời - cái chết, tất cả sự

cố gắng trớc đó, dù con ngời đạt tới sự viên mãn thì nó vẫn không thoát khỏi

h vô khi sánh với cái vô cùng

Là triết học về nhân vị, tức là về tất cả những gì trong mỗi con ngời đòihỏi không thể bị đối xử nh một đồ vật, chủ nghĩa hiện sinh xây dựng cho mìnhmột hệ thống phạm trù khá cụ thể xoay quanh hai vấn đề trung tâm: tính chủthể và tính tự do của nhân vị Đó là các khái niệm: hữu thể (ý thức, hiện hữu,hiện sinh, cái tự nó, cái cho nó), h vô (không hữu thể), buồn nôn, cô đơn, lo âu(xao xuyến, liều, tuyệt vọng, thất bại), tha hóa, cái chết, trách nhiệm, siêu việt

(thăng hoa), dự phóng, Thợng đế, tha nhân, nhập cuộc (hành vi) (xem Sơ đồ

hệ thống phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh [30; 127]).

E Mounier đã tìm ra mời hai luận đề chính của t tởng hiện sinh khi khảocứu về trào lu triết học hiện sinh [70], [82] Những luận đề này làm nên sựphong phú của trào lu triết học hiện sinh và cũng giúp chúng ta thực sự phảinhìn nhận lại cuộc sống của chính mình, suy ngẫm nhiều hơn về cuộc đời vàcũng không thôi hi vọng về thân phận làm ngời của mình Đó là:

1 Sự ngẫu nhiên của cuộc sống con ngời

Sự tồn tại của mỗi cá nhân chúng ta nh ngẫu nhiên bị ném xuống cuộc

đời mà không biết ai ném Tại sao tôi đợc sinh ra, tại sao tôi đợc sinh ra ở đây

mà không phải ở nơi khác, tại sao tôi đợc sinh ra vào thời đại này mà khôngphải thời đại khác, tại sao có con ngời… Khi con ngời có ý thức và tự mìnhsống đời sống của mình thì đã thấy mình ở đó rồi Sartre nói con ngời ở đó,

nh thế, không nghĩa lí gì cả, con ngời là một sự thừa Ngẫu nhiên có mặt, ngẫunhiên chết đi, chúng ta không thể không thừa nhận sự h vô bao quanh cuộcsống con ngời

2 Sự bất lực của lí trí

Thuyết đề này đợc nêu lên từ B Pascal Lí trí của con ngời bất lực trongviệc tìm hiểu vận mệnh của chính con ngời Pascal đã nhận thấy sự giới hạn,bất toàn của lí trí vì có những điều chúng ta quyết định theo tiếng gọi của tráitim mà lí trí không thể nào hiểu đợc, nhng con ngời lại luôn luôn phải dùng lítrí để phân tích mọi sự

3 Sự nhảy vọt của con ngời

Trang 31

Triết hiện sinh đợc xem là triết lí về con ngời bị thơng, bi thiết, thất vọng.Tuy nhiên, nó không phải là một thứ triết lí cầu an trong đau khổ mà ném conngời thẳng vào sự bất hạnh của mình Nó là một triết học can đảm dù là can

đảm trong tuyệt vọng Con ngời luôn vợt lên cái mình hiện là, hớng tới cáimình sẽ là Triết hiện sinh mời gọi con ngời tự tạo nên cuộc đời mình bằngcách tiến vợt, nhảy vọt trong từng phút giây mặc dù có thể là nhảy vọt vào hvô Hiện sinh là một triết học lạc quan cổ vũ sự cố gắng của con ngời

4 Sự dòn ải của cuộc sống con ngời

Mỗi ngày tôi sống là mỗi ngày tôi tiến gần sự chết, nh Heidegger nói,ngay từ khi sinh ra đã đủ tuổi già để chết Nhận thức điểm mốc cuối cùng củamình, ngời hiện sinh luôn có gắng để vợt lên Đó cũng chính là hai dòng suy

t song song tạo nên sự lo âu, xao xuyến về thân phận con ngời Con ngời sinh

ra để chờ đợi cái chết, cuộc đời là hành trình đi tới mộ, vì vậy, con ngời luônquyết định hành động, vợt lên trong nỗi sợ hãi bị lãng quên

5 Sự phóng thể (sự vong thân, sự tha hóa)

Con ngời luôn đứng trớc nguy cơ bị phóng thể, biến thành kẻ khác Sựtiếp xúc với tha nhân, với thế giới bên ngoài làm rơi mất những gì có trongbản tính tôi, đồng thời những yếu tố từ tha nhân, từ ngoại giới lại ăn nhập vàotôi Điều này liên tiếp diễn ra Do vậy, con ngời không thể điều khiển đợccuộc đời đầy ngẫu nhiên của mình

6 Đời ngời có hạn, thần chết lại vội vã

Triết hiện sinh chống lại sự che giấu hoặc cố tình quên đi một sự thật củacon ngời: con ngời sinh ra để rồi chết đi Bởi vậy, các triết gia hiện sinh nóinhiều về sự chết Tự đảm nhận cái chết của mình, đó là việc không ai có thểlàm thay cho tôi đợc Vì thế, tôi cần phải sống cho ra sống, “sống để luôn chờchết trong mọi nơi mọi lúc và nhìn thẳng vào mặt ngời bạn đồng hành từnggiây từng phút này” [70; 70] Nhà thơ vĩ đại ngời ấn, R Tagore, có những suynghiệm rất hay về điều này: thần Chết là ngời bạn thủy chung nhất của conngời, luôn ở bên con ngời ngay từ lúc con ngời có mặt trên đời, và con ngờiphải sống nh thế nào đó để khi thần Chết gõ cửa chúng ta không phải ân hậnvì không có gì làm quà tặng cho Ngời

7 Sự cô độc và bí mật

Giao tiếp với tha nhân là một qui luật không thể cỡng lại của cuộc sốngcon ngời Tuy nhiên, cô độc lại nh một thứ quà tặng vĩnh cửu cho con ngời

Trang 32

“Chúa đã bỏ loài ngời, Phật đã bỏ loài ngời…” (lời bài hát của Trịnh CôngSơn) lánh mặt vào yên lặng, bỏ rơi nhân loại sau khi tổ tông phạm tội, khi conngời luẩn quẩn trong vòng tham, sân, si… Định mệnh của con ngời là sống

đơn độc, chết cô độc, không ai sống thay cuộc đời chúng ta đợc Ngay cả quátrình vợt lên không ngừng để khẳng định bản ngã độc đáo của mình cũng làquá trình vơn tới cô đơn tuyệt đối Con ngời không thể có đợc sự cảm thôngtrực tiếp của tha nhân Mỗi cá nhân là một thế giới bí mật

8 Sự h vô

Với triết học hiện sinh, sự h vô nh một nét chính yếu của cuộc sống conngời Sartre nói “Đời ngời là một đam mê vô ích” Con ngời luôn hớng tới cáituyệt đối vô cùng nhng sự thật không bao giờ đạt đợc điều đó Nhng dù saovẫn phải cố gắng để tiến lên ý nghĩa đích thực của một cuộc hiện sinh là luônvơn lên cái tuyệt đối để rồi cảm thấy thất vọng hoàn toàn vì không bao giờ tachạm tới chân lí Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và thúc đẩy khát vọng sống củacon ngời khi tiệm cận với h vô

9 Sự cải hóa

Đời sống riêng t đích thực của mỗi cá nhân không phải sinh ra là có sẵn.cá nhân đó phải tự tìm lại bản tính của mình bằng hành động của chính mình.Trong cuộc sống hàng ngày, con ngời có xu hớng hòa tan vào thế giới mà conngời tự nhận là mình thuộc về thế giới đó và bị thế giới đó xâm chiếm hoàntoàn Con ngời trở thành một kẻ sống không chân thực trong thế giới “ngờita”, say sa với những cái bình thờng, không thích những cái mới lạ, cá biệt,cầu an với một cuộc sống đầy đủ cả về tinh thần lẫn vật chất Ngời ta khôngnghĩ rằng mình bị hòa tan, chìm vào thế giới của tha nhân, của cộng đồng,

đánh mất tính chất hiện sinh thể của mình Sartre gọi thái độ vô thởng vô phạt,

trốn tránh trách nhiệm cá nhân đó bằng danh từ buồn nôn Để là một hiện sinh

thể đúng nghĩa, con ngời phải dấn thân, nhập cuộc, tự mình làm nên bản chấtcủa mình

10 Vấn đề nhập thể (gia nhập, dấn thân, tham gia)

Triết học hiện sinh thay thế hình ảnh tháp ngà tĩnh lặng về con ngời bằng

sự vợt lên, phá vỡ, bùng nổ Con ngời là một thực thể ở đời, trong một hoàn

cảnh đã có sẵn, một hữu thể tại thế nh Heidegger nói Chúng ta chỉ có thể

cống hiến cho cuộc đời một hình ảnh mà hoàn cảnh ban cho ta Trong giới hạnkhả năng và hoàn cảnh của mình, mỗi cá nhân có thể phát triển tối đa để tạo

Trang 33

hình ảnh cho mình Con ngời là sự tự do và phải tự đảm nhận trách nhiệm lựachọn, tham gia, hành động để tự tạo nên vận mệnh của mình Ngời nào tựmình lựa chọn, tự mình tạo nên mình, tự mình là thành quả của mình, kẻ ấymới thực sự hiện hữu Hơn nữa, chúng ta đã bị tham gia ngay từ khi có mặttrên cõi đời Nếu thụ động, chúng ta không có phần của chúng ta, vậy nên cầnthiết là tham gia với t cách tự do, chủ động, tích cực.

11 Vấn đề tha nhân

Tha nhân là một vấn đề chính yếu của triết hiện sinh Con ngời luôn sốngtrong mối tơng quan với những ngời khác Và chúng ta luôn đứng trớc mâuthuẫn: khát vọng hòa nhập, thông cảm với tha nhân và nguy cơ bị tha hóa,biên thành tha nhân Con ngời là dự tính của mình, mình tự tạo ra mình, mìnhphải tự chịu trách nhiệm về việc làm của mình và có trách nhiệm với tha nhân

12 Đời sống dám liều

Con ngời phải hành động, dám liều, dám sống theo ý mình dới con mắtsoi dõi của tha nhân “Linh động, căng thẳng, quả quyết, nhập thể: đó là bốn

nốt của gam nhạc hiện sinh viết lên bài ca tranh đấu và hoạt động” [70; 15].

Trên đây là sự tổng hợp những nội dung t tởng hiện sinh hiện đại Mỗi tácgiả đào sâu t tởng theo một chiều hớng và theo chủ quan của mình Nhữngluận đề này, tùy theo mức độ, đã đợc thể hiện cụ thể trong các tác phẩm vănhọc hiện sinh chủ nghĩa

1.2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học

1.2.1 Khái quát về phong trào văn học hiện sinh

Trong văn học, chủ nghĩa hiện sinh chỉ bộc lộ rõ rệt nh một trào lu ởPháp thời kì trớc, trong và ngay sau Đại chiến thế giới II Văn học hiện sinhgắn bó mật thiết với triết học hiện sinh, có ý nghĩa thức tỉnh chúng ta suy nghĩ

Trang 34

cụ thể, sinh động đã gợi hứng cho độc giả biết suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời,không sống thừa ra nh một sự vật.

Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng đối với hiện sinh của con ngời, nhận thứcduy lí là bất cập, nhng sự trải nghiệm trực tiếp lại có thể khám phá đợc Dovậy, lối t duy của triết hiện sinh rất gần với t duy nghệ thuật Đây cũng là cănnguyên giải thích vì sao một số nhà triết học hiện sinh lại tìm đến hình thứctác phẩm văn học để trình bày quan điểm của mình Jean - Paul Sartre vàSimond de Beauvoir là những nhà văn, đồng thời là những nhà triết học hiệnsinh tiêu biểu Một số tác giả lại đi vào phân tích sáng tác nghệ thuật tức làmviệc của những nhà lí luận, phê bình nh Heidegger, Chestov, Marcel Thậmchí, những bậc tiền bối của t tởng hiện sinh cũng là những nhà văn tên tuổi nhPascal, Nietzsche

Có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng đối với chủ nghĩa hiện sinh, văn họcchính là triết học của nó do có sự tơng đồng từ bên trong giữa phơng phápluận triết học hiện sinh với phơng pháp luận sáng tác văn học: cùng bắt nguồn

từ cái cụ thể, t duy bằng cái cụ thể Tác phẩm văn học hiện sinh không đơnthuần là phơng tiện chở triết học hiện sinh, nó là một bộ phận của triết họchiện sinh Bản thân các tác phẩm văn học hiện sinh có một đời sống độc lậpvới triết học hiện sinh khi nó đạt đến những giá trị thẩm mĩ đích thực, vì nh A.Camus nói, nghệ thuật “chỉ sống vì những ép buộc do nó tự đặt ra cho nó, nóchết vì những ép buộc do kẻ khác đặt ra” [10; 64]

Có một văn chơng hiện sinh ở châu Âu, một phong trào văn nghệ hiệnsinh ở Mỹ, Nhật Bản vào những năm 1940 - 1960 của thế kỉ XX, tuy nhiên rấtkhó để định nghĩa thế nào là văn chơng hiện sinh Có thể thấy mỗi thời đại cómột nền văn chơng của riêng mình Sự phát triển của văn học, nghệ thuật đã đicùng sự phát triển của lịch sử loài ngời Từ thời thần thoại, sử thi cổ đại lấy

đời sống kì diệu, thần thánh, nhân vật đợc đo bằng kích thớc vũ trụ làm trungtâm trung tâm đến văn học đơng đại hôm nay - tác phẩm nh là những mảnh

vỡ, không trọng tâm… là cả một hành trình dài qua nhiều chặng đờng pháttriển Đặc điểm thời đại bao giờ cũng đợc ghi dấu trong văn học Sau Thếchiến II, triết học hiện sinh trở nên rầm rộ và văn học cũng nhuốm màu hiệnsinh Văn học hiện sinh cũng phức tạp nh trào lu t tởng triết học hiện sinh vậy.Nhng dù có sự phân li trong sáng tác, tất cả các nhà văn hiện sinh hội tụ ở một

điểm: họ “không ca ngợi Chân Thiện Mĩ xa xôi, không lí tởng hoá cuộc đời,

Trang 35

cũng không tả chân những cái vụn vặt, nhng muốn vạch trần tất cả ý nghĩacuộc nhân sinh cùng với những thảm cảnh của con ngời đã phản tỉnh mà đồngthời lại cha hiểu đợc cái sống và cái chết của mình có ý nghĩa gì không” [36;13].

Triết học là sự khám phá thế giới và bản thân con ngời Văn học và nghệthuật nói chung, suy cho cùng là sự thể hiện khát vọng tự nhận biết và tự biểuhiện mình của con ngời Sau chiến tranh thế giới II, tâm trạng chung của conngời là hoang mang, hoài nghi, đổ vỡ… Con ngời không còn thấy “Thế giới làTôi” nh ở thế kỉ XIX nữa mà nhận ra “Tôi không phải là Thế giới” [28; 245].Kiếp ngời trở nên mong manh, lí trí con ngời không đủ khả năng lí giải nổivận mệnh của mình nữa Ngời ta nhận thấy thế giới đã trở nên giống với thếgiới của F Kafka Khoa học duy lí không khoả lấp đợc cảm quan về nỗi cô

đơn thờng trực trong con ngời Từ giã quan niệm mình là một tiểu vũ trụ, tự tạitrong sự vận động của đại vũ trụ là thế giới tự nhiên, con ngời đứng giữa hiệntại, vĩnh biệt quá khứ, đối diện với một tơng lai không biết đi về đâu Cho dùchúng ta có cố tình tự xoa dịu bằng cách nào đó thì cảm giác bất an về thânphận vẫn bám riết chúng ta, và khi trở về với thế giới bên trong của chínhmình, ý thức đó càng rõ rệt hơn Các nhà văn coi Dostoevsky là khởi điểm củathuyết hiện sinh xuất phát từ quan niệm con ngời sẽ đợc phép làm tất cả nếuThiên Chúa không hiện hữu của ông Kafka, một trong những ngời mở đờngcho sự phát triển của chủ nghĩa hiện đại trong văn học, phá vỡ quan niệm vănhọc phản ánh hiện thực theo truyền thống chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX, đợccoi là bậc tiền bối của văn học hiện sinh Các nhà văn hiện sinh học đợc rấtnhiều ở Kafka trong việc tạo dựng một thế giới nghệ thuật độc đáo trong tácphẩm Thế giới trong sáng tác của Kafka là một thế giới huyền hoặc, phi lí, là

ảo ảnh, huyền bí không thể nắm bắt Văn học không là sự sao chụp máy móchiện thực; hơn nữa, những gì chúng ta nhìn thấy đợc cha phải là tất cả cuộcsống Văn học ở một phơng diện nào đó là sự tởng tợng của nhà văn về nhữngkhả năng có thể có của thế giới Trí tởng tợng của con ngời là vô hạn, bởi thế,nhà văn có thể đi đến tận cùng của sự sáng tạo, và vì thế, văn học có khả năng

bù đắp cho con ngời những cuộc sống khác mà trên thực tế con ngời không có

điều kiện để trải qua Cũng giống nh thời trang, không phải mọi ý tởng chỉ đểứng dụng vào các trang phục hàng ngày, mà đó còn là một nghệ thuật ở đó,con ngời có thể thoả sức thể hiện khả năng sáng tạo, tởng tợng về cách phục

Trang 36

sức trên cơ thể ngời, làm thế nào để thể hiện hết vẻ đẹp của hình thể Thờitrang không phải chỉ để ứng dụng cũng nh văn học không phải chỉ để tuyêntruyền, để nói một điều gì đó đã quá rõ ràng Bản chất tiếp nhận nghệ thuật là

có tính khả biến, cho nên những tác phẩm càng nhiều lớp ý nghĩa biểu tợng, tự

nó, theo thời gian, cùng với sự tiếp nhận của các thế hệ ngời đọc, sẽ càng giàulên những lớp ý nghĩa mới

Phơng Tây đã có những tác phẩm văn học triết lí của Rabelais, Swift,Voltaire, Goeth; những tác phẩm văn chơng triết học của Montaingne,Descartes, Bergson; những tác phẩm triết học của văn học nh chủ nghĩa thựcchứng của A Comte chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa Bergson Chủ nghĩa hiện sinhlàm phong phú thêm tinh thần triết lí của văn học phơng Tây “Văn học hiệnsinh gồm những tác phẩm văn học thể hiện những phạm trù hiện sinh: cái phi

lí, buồn nôn, lo âu, tự do, dấn thân… Một lớp nhà văn đông đảo đã phát biểu

t tởng triết học của mình thông qua truyện, kí, tiểu thuyết, kịch Vì vậy, vănhọc hiện sinh đợc phổ biến rộng rãi, không những trong giới trí thức, sinhviên, mà cả trong những ngời cha hề tiếp xúc với triết học” [71; 265]

Cơ duyên kết hợp giữa triết học hiện sinh và văn học không phải do ýmuốn của các nhà triết học hay các nhà văn mà do có mối liên hệ bên tronggần gũi giữa phơng pháp luận triết học và phơng pháp luận sáng tác văn học.Cả hai đều quan tâm đến cái cụ thể, đến sự sinh động, độc đáo của mỗi conngời - mỗi hiện sinh thể Các nhà văn hiện sinh chú ý đến quá trình vận độngcủa thân phận con ngời trong những hoàn cảnh bi đát Nỗi bất an thân phậnlàm ngời từ sáng tác của Dostoevsky, Kafka đã đợc tiếp tục một cách xuất sắcbởi các nhà văn hiện sinh chủ nghĩa, đặc biệt là ở Sartre và A Camus Sartrenhận thấy lịch sử một đời sống nào đó là lịch sử một cuộc thất bại Đời ngờicũng là một kế hoạch hữu hạn Nó có điểm mốc cuối cùng là cái chết - tất cả

đều ý thức đợc điều này nhng không ai biết cụ thể thời điểm chết của mình

nh thế nào Và những dự định của con ngời liên tiếp bị bỏ dở vì cái chết cắtngang Kafka đã thể hiện rất rõ tình trạng này của con ngời trong cấc sáng tác

của ông, nhất là ở hai tiểu thuyết Lâu đài và Vụ án Chúng ta thấy ở đó hình

ảnh về sự thất bại não nề của đời ngời Cuộc đời là một hành trình vô hạn, liêntục, mệt mỏi, chúng ta càng hớng tới đích thì nó lại càng lùi xa theo mỗi bớc

ta đi

Trang 37

Khi nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka [28; 246-260],

tác giả Trơng Đăng Dung đã phát hiện: “Thực ra, nỗi lo âu và sự tha hoá lànhững hiện tợng đi cùng với nhau, cùng tăng lên hoặc giảm đi trong quá trìnhlịch sử nhân loại Về phơng diện này có thể nói lịch sử nỗi lo âu của con ngời

là đặc trng của lịch sử nhân loại Xã hội phát triển đồng thời với việc phát sinh

ra những nỗi lo âu mới và bên cạnh nỗi lo sợ có nguồn gốc tự nhiên đã xuấthiện nỗi lo sợ có nguồn gốc xã hội mà nền tảng của nó là sự tha hoá giữa ngời

với ngời Nh vậy, bên cạnh nỗi lo sợ Thợng đế đã xuất hiện nỗi lo sợ con

ng-ời!” [28; 250].

Trào lu văn học hiện sinh chủ nghĩa một lần nữa đánh thức công cuộckhám phá hành trình của thân phận con ngời Nữ văn sĩ hiện sinh chủ nghĩanổi tiếng, Simond de Beauvoir cho rằng “Nhà văn không nên hứa trớc nhữngngày mai ca hát, mà phải biết miêu tả cuộc đời nh nó xuất hiện dới mắt chúng

ta, ngõ hầu dấy lên trong lòng ngời ý chí thay đổi nó Bức tranh y trình bàycàng chính xác, đáng tin bao nhiêu thì y đạt đến mục đích đợc bấy nhiêu: tácphẩm đen tối nhất không phải là tác phẩm bi quan ngay khi nó kêu gào tự do,cho tự do” [34; 270] Các nhà văn hiện sinh dờng nh luôn cố gắng tìm lời giải

đáp cho những câu hỏi về chính con ngời: Con ngời là ai? Con ngời từ đâu

đến? Con ngời sẽ đi về đâu?, mặc dù sau bao nhiêu nỗ lực vẫn không thể cómột câu trả lời rõ ràng, toàn vẹn Những băn khoăn, ám ảnh, những ảo giác,những than thở thầm kín… trong các tác phẩm văn học hiện sinh chủ nghĩa cósức lay động rất lớn tới tâm t ngời đọc Giữa thế kỉ XIX, K Marx mở một lốithoát cho khoa học khi đa ra phơng châm vấn đề không phải là thay đổi thếgiới mà là cải tạo thế giới, giữa thế kỉ XX, A Camus đã thấy “Thế hệ tôi biếtrằng nó sẽ không cải tạo đợc thế giới”, và hôm nay, con ngời đã tận mắt chứngkiến và biết rõ những nguy cơ to lớn từ sự trả thù của tự nhiên, từ sự khớc từnhững giá trị tinh thần truyền thống Khi con ngời hiện đại còn thấy những bikịch trong đời sống của mình thì thông điệp trong các sáng tác văn học hiệnsinh chủ nghĩa vẫn còn sức lan toả, cảnh tỉnh

Không khí văn học hiện sinh chủ nghĩa mờ chìm dần và đợc thay thế bởinhững trào lu khác nh cấu trúc luận, tiểu thuyết Mới… từ những năm 60 củathế kỉ XX Tuy nhiên, giá trị và sự tác động của nó vẫn nh những đợt sóngngầm thỉnh thoảng vợt lên bề mặt đại dơng, vỗ vào tâm hồn con ngời thời hiện

đại và để lại những nhịp điệu riêng Từ thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay,

Trang 38

ngời ta đã có sự quan tâm trở lại đối với chủ nghĩa hiện sinh Trong một xã hộitiện nghi, hiện đại, con ngời phải chịu đựng những sự đổ vỡ về tinh thần, mấtnhững giá trị truyền thống vững chắc để bám víu thì văn học và triết học hiệnsinh có thể là một phơng cách giúp ngời ta tìm lại sự cân bằng, “xốc” lại niềmtin mãnh liệt vào t cách làm ngời bi đát mà cao cả trong mỗi cá nhân.

Nh vậy, rất khó để xác định một phạm vi thật cụ thể cho trào lu văn họchiện sinh chủ nghĩa “Nếu căn cứ vào một loạt dấu hiệu về tâm trạng tinh thần(cảm nhận cực kì căng thẳng về khủng hoảng của nền văn minh thế kỉ XX,xem nó nh cái đang làm xói mòn các giá trị và ý nghĩa tinh thần; biện luậnsiêu hình về sự “mất mát ý nghĩa” này thông qua việc nêu ra tính bi đát muônthuở của thân phận con ngời, những ý đồ vô vọng nhằm khắc phục nó, nhằmgây dựng từ bên trong một định hớng thế giới quan của chính cái cá nhân đã

bị bỏ rơi trong cô độc giữa sự thù địch của tồn tại) và hiểu theo nghĩa rộng thìvăn học hiện sinh bao gồm một dòng đa tạp những hiện tợng mà dấu hiệuchung là một chủ nghĩa nhân bản bi đát (…), có chung các bậc tiền bối làPascal, Kierkegaard, Nietzsche, Kafka, Dostoevsky” [47; 279]

1.2.2 Các tác gia văn học hiện sinh tiêu biểu

Trong trào lu văn học hiện sinh, có một số nhà văn đồng thời cũng là nhàtriết học, tiêu biểu nh: J - P Sartre, Simone de Beauvoir, Merleau - Ponty; một

số nhà văn mà tác phẩm của họ mang đậm tính luận đề triết học hiện sinh, tiêubiểu là Hermann Hesse, A Camus [103; 18-19]

Tuy nhiên, khi kể tên các nhà văn hiện sinh chủ nghĩa thì ngoài những tácgiả trên, chúng ta vẫn thấy trong các tài liệu còn kể đến F Kafka, AlfredDoeblin, Nikos Kazantzakis, Miguel de Unamuno, Andre Malraux, WilliamGolding, Iris Murdoch, James Baldwin, Abe Kobo, Norman Mailer, SamuelBecket, Ionexco… Đây là những nhà văn hiện đại viết thành công về thânphận con ngời Trên thực tế, Sartre, Camus và Beauvoir - ba đại diện của vănhọc hiện sinh Pháp, là ba tác giả văn học hiện sinh chủ nghĩa “chính thống”nhất

Jean - Paul Sartre (1905 - 1980), bắt đầu từ cuốn tiểu thuyết Buồn nôn

(1938), đợc coi là ngời đứng đầu của chủ nghĩa hiện sinh Dù ngay từ tácphẩm văn học đầu tiên này đã cho thấy Sartre dùng văn học nh một phơng tiệnhữu hiệu để mang chở t tởng triết học của mình nhng sách văn học (và cảnhững tác phẩm triết học) của ông vẫn bán rất chạy Sartre là nhà văn lớn sáng

Trang 39

tác trên nhiều thể loại: tiểu thuyết (Buồn nôn, Những con đờng tự do), truyện ngắn (tập truyện Bức tờng, H ảo), kịch (Ruồi, Kín cửa, Cô gái điếm lễ độ,

Những bàn tay bẩn, Chết không mai táng, Quỷ thẩn và Thợng đế…), hồi kí

(Chữ nghĩa)… Sartre quan niệm viết là một dạng của hành động Ông đã viết

nh điên cho tới lúc mắt ông không nhìn đợc nữa và để lại cho chúng ta mộtkhối lợng tác phẩm văn học, triết học, chính trị… đáng nể

Cuốn tiểu thuyết dới dạng nhật kí - Buồn nôn “mở đầu một thời đại hiện

sinh ở châu Âu” [46; 102], đặt nền móng, cơ sở cho học thuyết cái phi lí, bớcnhảy hiện sinh và tự do Các tác phẩm văn học của Sartre cho thấy ông là mộtnhà t tởng độc đáo, một nhà văn tài năng với một thế giới nội tâm phong phú.Sartre khai thác tâm trạng u uất của xã hội phơng Tây ngay trớc chiến tranhthế giới thứ hai, dự đoán một thế giới sụp đổ mà con ngời phải tự đứng dậy từnỗi bàng hoàng bất hạnh để tự khẳng định mình một cách tuyệt vọng Không

có Thợng đế, con ngời phải tự lo liệu lấy cuộc sống của mình, con ngời phải tựlàm nên bản chất của mình bằng tự do lựa chọn hành động Con ngời từ bỏquá khứ, tự tạo ra cuộc sống của bản thân mình, có bản năng hớng tới tơng laibằng những dự định và luôn bị ám ảnh bởi khoảng trống của h vô

Albert Camus (1913 - 1960) là nhà văn Pháp sinh ra và lớn lên tạiAlgérie, đợc trao giải thởng Nobel về Văn học năm 1957 vì đã đa ra ánh sángnhững vấn đề đặt ra cho lơng tâm loài ngời ở thời đại chúng ta Không nóinhiều về đủ mọi lĩnh vực nh Sartre, Camus chỉ sáng tác văn học ông là mộtngời nghệ sĩ trong phong trào hiện sinh ở Việt Nam, thanh niên, trí thức miềnNam trớc 1975 biết đến chủ nghĩa hiện sinh phần lớn qua tác phẩm củaCamus

Trong khi Sartre cho rằng con ngời tự do tuyệt đối thì Camus bảo sự tự docủa con ngời bao giờ cũng có một giới hạn nhất định, nhất là sự tự do của thanhân Camus xác định thế hệ mình - những nhà văn viết trong một thời đạichịu những nỗi đau khổ, mất mát của chiến tranh - có trách nhiệm diễn tả ýniệm con ngời trong các tác phẩm của mình Văn chơng cũng thực hiện nhiệm

vụ của triết học, phơi bày những thực tại của con ngời, phản ánh đúng thânphận con ngời cùng những băn khoăn, xao xuyến Tính chất triết lí, bộc lộ t t-ởng khiến các tác phẩm văn học có ý nghĩa sâu sắc

Camus chủ trơng dấn thân trong nghệ thuật vì “ngày nay, mọi văn nghệ sĩ

đều bị đẩy xuống con thuyền của thời đại của họ” [10; 38], ngay cả việc

Trang 40

không tham gia cũng bị coi là một cách lựa chọn Theo ông, “nghệ thuật lầnbớc giữa hai vực thẳm, một bên là phù phiếm, một bên là tuyên truyền Trên

đỉnh cheo leo là con đờng đi của đôi chân nghệ sĩ, mỗi bớc tiến là cả một cuộcphiêu lu, một cuộc mạo hiểm cực độ” Nghệ thuật phải đợc tự do - một sứmệnh cao cả và khó khăn nh phép tu khổ hạnh Nghệ thuật không thể phục vụ

đảng phái nào, mà chỉ phụng sự nỗi thống khổ và quyền tự do của con ngời.Nghệ thuật “chỉ sống vì những ép buộc do nó tự đặt ra cho nó, nó chết vìnhững ép buộc do kẻ khác đặt ra” [10; 63, 64]

Sáng tác của A.Camus là minh chứng cho quan niệm nghệ thuật của ông

Camus thực hiện sứ mệnh cao cả của một con ngời tự do - là con ngời nghĩa

là có quyền không đợc nói dối Nhân vật của Camus cũng là những ngời trung

thực Những trang viết của ông hiển hiện những sự thật bi đát về con ngời, là

sự nhạy bén bắt kịp cảm thức thời đại A Camus, tiếp tục F Kafka, là ngời

đẩy quan niệm về cái phi lí lên đỉnh điểm Các nhà văn sau ông nh các tác giakịch phi lí hầu nh không phải bổ sung gì về đề tài mà chú trọng vào sự cáchtân hình thức

Simond de Beauvoir (1908 - 1986) là học trò xuất sắc của Sartre, là ngời

vợ trong “hợp đồng hôn nhân” với Sartre Với lối văn trong sáng, không trauchuốt, hoa mĩ, hoàn toàn dựa vào cảm giác cá nhân, với lối suy tởng, thái độsống sáng suốt trớc cuộc đời và những tri thức về tâm lí, xã hội học, Beauvoir

có một địa vị vững chắc trong nền văn nghệ Pháp hiện đại Bà cũng là nhà vănnữ đợc tôn vinh, là đại biểu cho khuynh hớng văn chơng nữ quyền

Beauvoir tán thành quan điểm về một nền văn nghệ dấn thân của Sartre

Theo bà, nhà văn chỉ lôi kéo sự chú ý của ngời đọc qua những điều sự thật lôi

kéo anh ta “Cá nhân nào dấn thân vào thời đại mình, con ngời nào ráng sức

bấu vào lịch sử bằng hành động, hay bằng công phẫn, hay bằng nổi loạn, ắtcũng có với cuộc đời nhiều mối liên hệ phong phú và thật sâu sắc hơn nhữngcon ngời lảng xa cuộc đời lùi vào những tháp ngà” [34; 252] Văn nghệ là mộtsinh hoạt tác thành bởi con ngời, cho con ngời trong ý hớng bày tỏ cuộc đời.Viết là hành động tìm kiếm chính mình của nhà văn Beauvoir cho rằng khôngthể có văn nghệ khi ta đắm mình trong niềm vô vọng tuyệt đối, vì vô vọng tức

là không còn tin mình có thể trông cậy vào đâu nữa Bà cũng ủng hộ quanniệm văn nghệ phải đợc tự do Ngời ta có quyền tin tởng ở tơng lai, tin tởngmột ngày mai tốt đẹp cũng nh có quyền nói tới phần thất bại, đau khổ mà bất

Ngày đăng: 18/12/2013, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w