Thời phong kiến đã có khá nhiều tài liệu đề cập đến chợ: Quốc sử quán triều Nguyễn có “Đại Nam nhất thống chí” thống kê một số chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai; Tác giả Trịnh Hoài Đức giới thiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN QUANG HỒNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TSNguyễn Quang Hồng – người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tường tận tôi từ khinhận đề tài cho đến khi luận văn hoàn thành
Tôi xin cảm ơn quý thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử và khoa đào tạo Sau đại họctrường Đại học Vinh và Phòng Tổ chức cán bộ trường Đại học Sài Gòn đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình rèn luyện và học tập
Tôi xin cảm ơn các anh, chị ở Bảo tàng Đồng Nai, Thư viện tỉnh Đồng Nai, Vănmiếu Trấn Biên Đồng Nai, Ban quản lý di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Thư viện Tổnghợp thành phố Hồ Chí Minh và nhiều cơ quan ban ngành địa phương… đã nhiệt tình cungcấp, giới thiệu nhiều nguồn tài liệu có giá trị cho việc hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do năng lực hạn chế và thời gian ngắn nên luậnvăn hoàn thành không thể tránh khỏi thiếu sót cả về nội dung và hình thức Vì vậy, tôi rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, gia đình, những ngườithân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập
và làm việc
Xin chân thành cảm ơn!
Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012 Tác giả
Trang 3III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
IV Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
V Đóng góp của luận văn 6
VI Bố cục luận văn 6
NỘI DUNG Chương 1:CHỢ Ở BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1698 ĐẾN NĂM 1861 7
1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1861 7
1.1.1 Địa danh Biên Hòa – Đồng Nai 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.3 Điều kiện xã hội 11
1.2 Khái quát về chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến 1861 19
1.2.1 Khái niệm chợ 19
1.2.2 Cơ sở hình thành chợ 19
1.2.3 Ảnh hưởng của thương cảng Cù Lao Phố đối với chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai … 28
1.2.4 Chợ trấn 33
1.2.5 Chợ huyện 39
1.2.5.1 Huyện Phước Chánh 39
1.2.5.2 Huyện Bình An 42
1.2.5.3 Huyện Long Thành 43
1.2.6 Chợ làng xã 46
1.2.6.1 Chợ làng An Hòa 48
1.2.6.2 Chợ làng Hiệp Hòa 49
1.2.6.3 Chợ làng Tân Uyên 51
1.2.6.4 Chợ nổi Nhà Bè 53
* Tiểu kết chương 1……….56
Chương 2: CHỢ Ở BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI THỜI THUỘC PHÁP (1861 - 1945) 59
Trang 42.1 Những tác động về chính trị - xã hội đến hoạt động của chợ ở
Biên Hòa – Đồng Nai 59
2.1.1 Thực dân Pháp chiếm Biên Hòa 59
2.1.2 Phong trào chống Pháp của nhân dân Biên Hòa từ 1861 đến 1945 59
2.1.3 Biên Hòa thời thuộc Pháp (1861-1945) 60
2.1.3.1 Về chính trị 60
2.1.3.2 Về kinh tế 61
2.1.3.3 Giáo dục 64
2.1.3.4 Văn hóa – xã hội……… 65
2.2 Hoạt động của chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai (1861-1945) 66
2.2.1 Chợ tỉnh 66
2.2.2 Chợ huyện 71
2.2.2.1 Huyện Phước Chánh 71
2.2.2.2 Huyện Long Thành 74
2.2.2.3 Chợ làng xã 77
* Tiểu kết chương 2 93
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỢ ĐỐI VỚI KINH TẾ, VĂN HÓA – XÃ HỘI Ở BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI 97
3.1 Một số nét nổi bật của chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến năm 1945 97
3.2 Ảnh hưởng của chợ đối với sự phát triển Biên Hòa – Đồng Nai 105
3.2.1 Ảnh hưởng của chợ đến kinh tế 105
3.2.2 Ảnh hưởng của chợ đối với đời sống văn hóa – xã hội 111
* Tiểu kết chương 3 119
KẾT LUẬN 121
PHỤ LỤC……….126
MỞ ĐẦU
Trang 5I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Về mặt khoa học
Mùa xuân năm Mậu Dần 1698, chính thức đánh dấu bước ngoặt quan trọng côngcuộc mở nước về phương Nam; Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vàokinh lý, ổn định bộ máy quản lý hành chính, chính thức đưa vùng đất Biên Hòa - ĐồngNai vào lãnh thổ nước ta Huyện Phước Long với dinh Trấn Biên được thành lập, là tiềnthân bộ máy hành chính tỉnh Biên Hòa - Đồng Nai về sau Từ trước tới nay có khá nhiềunhà sử học trong và ngoài nước nghiên cứu về vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai từ góc độkinh tế, văn hóa, đời sống tinh thần, nhưng còn khá ít công trình sử học nghiên cứu vềchợ ở nơi này Do đó, nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển cũng như vị trí của cácchợ trong khoảng thời gian đề tài xác định là góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt độngsản xuất kinh tế nói chung, kinh tế thương nghiệp nói riêng vùng đất mới được xác lập Ngay từ khi mới thành lập, chợ là nơi hội tụ dân cư nhiều nơi trên bến dưới thuyền,
kẻ bán người mua thực phẩm tươi sống như rau, quả, thịt, cá,… công cụ lao động, vậtphẩm thờ cúng tổ tiên,… những thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày Từ đó, việc nghiêncứu về chợ có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự hình thành và phát triển vùng đất BiênHòa - Đồng Nai thời Nguyễn Nghiên cứu về thời Nguyễn với nhiều vấn đề đã và đangtiếp tục được kế thừa, đánh giá nhằm đi đến sự thống nhất khi tìm hiểu về một vùng đất
có bề dày lịch sử, văn hóa trong lãnh thổ của dân tộc Việt Nam
Từ thực tế đó, đề tài “Chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ 1698 đến 1945” cần phải
được nghiên cứu nhằm góp phần khỏa lấp khoảng trống trong tìm hiểu lịch sử về diệnmạo sự hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai hơn 300 năm qua
Dưới thời Nguyễn, chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai (1698-1861) đóng vai trò hết sứcquan trọng đối với đời sống vật chất, tinh thần của cư dân vùng đất nơi đây Ngoài chứcnăng mua bán trao đổi hàng hóa, chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai còn giữ vị trí then chốttrong sự tiếp biến, giao lưu, gìn giữ, lan tỏa văn hóa giữa các vùng miền trong nước, giữacác quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Từ 1861-1945, thực dân Pháp đã chiếm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai và thiết lập
bộ máy cai trị, từng bước thực hiện chương trình khai thác thuộc địa với việc du nhậpphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, trong đó có Biên Hòa – Đồng Nai.Vùng đất này là một trong nhiều địa phương, Pháp tiến hành khai thác thuộc địa sớm
Trang 6nhất Nghiên cứu chợ trong giai đoạn này của đề tài, góp phần tìm hiểu đầy đủ diện mạokinh tế, văn hóa - xã hội ở Biên Hòa - Đồng Nai trước những biến động của tình hìnhchính trị Việt Nam nói chung và Biên Hòa nói riêng
Vì vậy, nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai
là góp phần tìm hiểu sự phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp,dân cư, địa vực cư trú, giao lưu, tiếp biến, lan tỏa, gìn giữ văn hóa giữa các vùng miền,giữa các cộng đồng dân cư Do đó, đề tài không dừng lại ở sự tìm hiểu hoạt động, sinhhoạt thường nhật của con người qua buôn bán trao đổi hàng hóa ở chợ mà còn tạo dựnglại bức tranh toàn cảnh đời sống vật chất, tinh thần, phong tục tập quán, lề lối sinh hoạtcủa cư dân vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
Qua nghiên cứu đề tài góp phần giáo dục tinh thần yêu quê hương, trân trọng nhữnggiá trị vật chất, tinh thần của cha ông dày công xây dựng qua nhiều giai đoạn để có mộtBiên Hòa - Đồng Nai tươi đẹp hôm nay
Là người sinh sống và công tác ở Biên Hòa – Đồng Nai có điều kiện thuận lợi trongnghiên cứu lịch sử địa phương Với ý nghĩa khoa học, thực tiễn trên, tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài “Chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1945” nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp Thạc sỹ khoa học lịch sử Việt Nam
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Chợ là lăng kính phản phản ánh mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa - xãhội của cư dân ở một vùng, khu vực nhất định Chợ là nơi biểu thị sự phát triển kinh tế,giao lưu, tiếp biến, lan tỏa, giữ gìn văn hóa Biên Hòa là một trong những vùng đất mớihình thành và phát triển sớm ở Nam Bộ Với vị trí đắc địa, điều kiện tự nhiên thuận lợi,sớm thu hút đông đảo lưu dân người Việt, người Hoa đến định cư sinh sống lập nghiệp
Sự phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, lâm ngư nghiệp tạo điều kiện cho sự
Trang 7trao đổi hàng hóa giữa các lĩnh vực của địa phương Hình thức trao đổi các loại hàng hóa
ấy diễn ra các tụ điểm mua bán ở chợ Qua lăng kính hoạt động của chợ, sẽ phản ánh đầy
đủ các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Tuynhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào về hoạt động củachợ ở Biên Hòa - Đồng Nai Các công trình nghiên cứu khoa học lịch sử của tỉnh ĐồngNai chỉ mới dừng lại ở góc độ điểm qua sơ lược các chợ trên địa bàn Biên Hòa - ĐồngNai, mà chưa đi sâu điều tra nghiên cứu một cách đầy đủ, thứ tự, hệ thống, tác động của
nó đối với đời sống vật chất, tinh thần của dân cư
Thời phong kiến đã có khá nhiều tài liệu đề cập đến chợ: Quốc sử quán triều Nguyễn
có “Đại Nam nhất thống chí” thống kê một số chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai; Tác giả Trịnh
Hoài Đức giới thiệu trong bộ “Gia Định Thành thông chí” với nội dung đề cập đến sựhoạt động thương nghiệp cảng thị Cù Lao Phố ở Biên Hoà cuối thế kỷ XVII (Bản dịchcủa Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn hoá Phủ Quốc vụ khanh xuất bản năm 1972); bộ “ĐạiNam nhất thống chí: Lục tỉnh Nam Việt” của Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch TuTrai Nguyễn Tạo, năm 1973, cũng nói đến các hoạt động thương mại, buôn bán trao đổihàng hóa của cư dân vùng đất Đồng Nai và Nam Bộ
Thời kỳ đất nước thống nhất sau năm 1975, các công trình nghiên cứu khoa học vềBiên Hòa - Đồng Nai có đề cập đến hoạt động sơ lược của chợ với một số công trình:
“Làng Bến Gỗ xưa và nay” của tác giả PGS.TS Diệp Đình Hoa (Nhà xuất bản Đồng Nai
năm 1995), “Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai” (Nhà xuất bản
Đồng Nai năm 1997), “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” của tác giả Sơn Nam (Nhà xuất bản Trẻ năm 1997), Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (Nhà xuất
bản Đồng Nai năm 1998), “Lịch sử Đảng bộ Thành phố Biên Hòa” (Nhà xuất bản Đồng
Nai năm 1999), “Làng Bến Cá xưa và nay” của tác giả Diệp Đình Hoa, Phan Đình Dũng (Nhà xuất bản Đồng Nai năm 1998), “Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh” của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền (Nhà xuất bản Văn học năm 1999), “Gia Định Thành thông chí” của
Trịnh Hoài Đức, bản dịch và hiệu đính của Lý Việt Dũng và Huỳnh Văn Tới (Nhà xuấtbản Tổng hợp Đồng Nai năm 2005), “Gia Định Thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức,bản dịch của Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Giáo
dục năm 1998); “Địa chí Đồng Nai” gồm 5 tập của UBND tỉnh Đồng Nai (Nhà xuất bản
Trang 8Đồng Nai năm 2001); “Cù lao Phố lịch sử và văn hoá” của Đỗ Bá Nghiệp (Nhà xuất bản
Đồng Nai năm 1998)
Bên cạnh đó, một số luận văn, luận án nghiên cứu về Nam Bộ, Đồng Nai nói lênphần nào hoạt động thương nghiệp của cư dân Biên Hòa – Đồng Nai Gắn liền với hoạtđộng của chợ, luận văn “Người Hoa ở Đồng Nai 1945-2005” của thạc sĩ Trịnh Thị MaiLinh trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh có đề cập đến sự nhập cư, định hình và phát triểnkinh tế của người Hoa trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
Luận văn “Sự thay đổi địa giới hành chính tỉnh Đồng Nai từ năm 1862 đến năm1975” của Thạc sĩ Thái Thị Hiền Lương trường ĐH Vinh đã nói lên sự tác động của việcthay đổi hành chính đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của vùng đất Biên Hòa– Đồng Nai, trong đó có hoạt động của chợ
Luận văn “Chợ trong đời sống người Việt Nam Bộ” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoatrường ĐHKHXH&NV TP Hồ Chí Minh cho chúng ta thấy được bức tranh, diện mạo,lăng kính đời sống vật chất đậm nét nông nghiệp của cư dân Nam Bộ nói chung, cư dânBiên Hòa - Đồng Nai nói riêng Qua đó, chúng ta thấy được sự đa dạng, phong phú cáchoạt động mua bán trao đổi hàng hóa giữa các nơi trong nội vùng, giữa vùng này với vùngkhác Đồng thời, qua hoạt động thương nghiệp ở chợ đã tạo điều kiện cho sự giao lưu,tiếp biến, lan tỏa, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc
Qua một số công trình nghiên cứu kể trên, có thể thấy vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nhiên cứu, nhà khoa học Tuy nhiên, chođến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu sưu tầm, phân tích, so sánh, đánhgiá sự hình thành phát triển của chợ đối với quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa
- xã hội của Biên Hòa - Đồng Nai một cách đầy đủ Chính vì vậy, tác giả mong muốnđược đi sâu sưu tầm, phân tích, so sánh, đánh giá sự hình thành, phát triển và tác động củachợ đối với đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai trên
cơ sở kế thừa những kết quả đã có nhằm tiếp cận và nghiên cứu đề tài: “Chợ ở Biên Hòa
- Đồng Nai từ 1698 đến 1945” một cách toàn diện.
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Đề tài tập trung nghiên cứu về các chợ hình thành, tồn tại và phát triển ở địa bànBiên Hòa - Đồng Nai giai đoạn 1698-1945 (gồm chợ làng xã, chợ huyện, chợ trấn, chợtỉnh)
2 Phạm vi nghiên cứu
* Về mặt thời gian
Luận văn nghiên cứu “Chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1945” qua hai giai
đoạn từ năm 1698 đến năm 1861 và từ năm 1861 đến năm 1945
*Phạm vi không gian
Luận văn lựa chọn không gian là vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến năm1945
IV NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nguồn tài liệu
Mục đích, nội dung và những vấn đề cần phải giải quyết của luận văn “Chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1945” đã đặt tác giả trước một công việc cụ thể và phức tạp.
Đó là việc thu thập, chọn lọc và hệ thống tài liệu Tài liệu chính được khai thác là nguồntài liệu thư tịch, vì phạm vi nghiên cứu của đề tài lùi về quá khứ khá xa so với hiện tại.Luận văn sử dụng những tư liệu thư tịch của các nhà nghiên cứu từ thế kỷ XIX đếntài liệu mới nhất là năm 2008, bao gồm các xuất bản phẩm chuyên khảo về miền Nam, vềĐồng Nai Ngoài ra, tác giả còn sử dụng những bài nghiên cứu được công bố trên các tạpchí chuyên ngành như: Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Văn hoá dân gian, Vănhoá nghệ thuật, Xưa và Nay, các trang web có nội dung liên quan đến đề tài Đặc biệt, lànguồn tài liệu được lưu trữ tại Thư viện tỉnh Đồng Nai; Thư viện Bảo tàng tỉnh Đồng Nai;Thư viện văn miếu Trấn Biên, Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh…
2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logíc được sử dụngnhằm rút ra những nét đặc trưng của chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai
- Để giải quyết những nội dung đề tài đặt ra, chúng tôi còn sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu liên ngành như: xã hội học, khảo cổ học, dân số học, thống kê học, khảosát trên hiện trường lịch sử,
V ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Trang 10Đề tài “Chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1945” có những đóng góp khoa
học như sau:
- Luận văn tái hiện một cách khá toàn diện về diện mạo hoạt động của “Chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1945” Từ đó, chúng tôi cố gắng làm rõ quá trình hình
thành, phát triển của chợ, mạng lưới chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1945 Trên
cơ sở đó, rút ra một số đặc điểm về sự hình thành chợ qua các hoạt động sản xuất nôngnghiệp, thủ công nghiệp, phát triển cùng với sự tập trung đông đảo dân cư
- Luận văn làm sáng tỏ hơn nữa vị trí, vai trò của chợ đối với đời sống vật chất, tinhthần của cư dân vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Đồng thời, dưới tác động của chợ đã kíchthích, thúc đẩy sản xuất kinh tế trên nhiều mặt dần thay đổi theo hướng tích cực
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp cho nhà nước hoạch định chính sáchphát triển kinh tế nói chung, thương nghiệp nói riêng, tham khảo xây dựng quy hoạchphát triển chợ ở các địa phương trên toàn tỉnh
- Luận văn là tài liệu góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương tạicác trường THCS, THPH,
VI BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm có ba chương, kết luận và phụ lục
Ảnh hưởng của chợ đối với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội
ở Biên Hòa – Đồng Nai
NỘI DUNG Chương 1 CHỢ Ở BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI TỪ 1698 ĐẾN 1861 1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai từ 1698 đến 1861
Trang 111.1.1 Địa danh Biên Hòa – Đồng Nai
Danh xưng Đồng Nai có từ bao giờ thật khó mà khảo chứng chính xác Về mặt hànhchính, tên gọi Đồng Nai được chính thức trở thành tên đơn vị tỉnh bắt đầu vào năm 1976.Tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa – LongKhánh, Tân Phú Kể từ đó cho đến nay, tỉnh Đồng Nai trải qua nhiều lần thay đổi địa giớihành chính nhưng tên gọi vẫn giữ nguyên
Theo sử sách xưa, danh xưng Đồng Nai được dùng để chỉ một vùng đất Phủ Biêntạp lục của Lê Qúy Đôn có viết: “Đất Đồng Nai từ cửa biển Cần Gìơ, Soi Rạp, Cửa Đại,Cửa Tiểu toàn là rừng rậm hàng mấy vạn dặm ”[39;10] Trịnh Hoài Đức trong tácphẩm khảo cứu Gia Định thành thông chí ghi chép rằng: “Bà Rịa ở đầu trấn Biên Hòa, làđất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm Nai Rịa, cá Rí Rang, ấy làlấy xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long
Hồ vậy” [39;10] Bộ tư liệu sử: “Đại Nam nhất thống chí” tập thượng quyển thứ năm, của Quốc sử quán triều Nguyễn có nhiều chỗ đề cập tên Đồng Nai: “Chợ Lộc Dã ở phía Nam
hạ lưu sông Phước Long, huyện Phước Chánh, nguyên xưa kia là cánh đồng hươu nai ở nên đặt tên ấy, hoặc gọi là Lộc Động, tục danh chợ Đồng Nai cũng là ở chỗ này Xét sáu tỉnh Gia Định mà thông xưng là Đồng Nai vì khai thác chỗ Đồng Nai trước hết, nên cứ chỗ gốc cũng gồm đủ chỗ ngọn”[73;1651] Những ghi chép trên và một số tư liệu trong sử
sách khác được trích dẫn trong các công trình nghiên cứu giới thiệu về Đồng Nai sau này.Ngoài ra, danh xưng Đồng Nai cũng xuất hiện nhiều trong các ca dao, tục ngữ như: “Nhà
Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về; Đồng Nai xứ sở lạ lùng/Dướisông sấu lội, trên rừng cọp um; Làm trai cho đáng nên trai/Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đãtừng; Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai/Ai về xin nhớ cho ai theo cùng…”
Trong công trình nghiên cứu “Cù Lao Phố lịch sử và văn hóa” do Nhà Bảo tàngĐồng Nai thực hiện, xuất bản năm 1988, nhiều tác giả có đề cập đến địa danh Đồng Nai
Chương mở đầu, khởi nguyên Cù Lao Phố có đoạn viết: “Ở nước ta, hầu như đâu đâu cũng có một dòng sông gắn với một vùng đất Sông Đồng Nai, từ buổi đầu mở cõi về phương Nam, có vai trò quan trọng là đưa những nguồn nhân lực đến đây khai hoang lập nghiệp và nó đã nối kết các cộng đồng cư dân cũ mới, hòa trộn các ngọn nguồn văn hóa
để rồi cấu thành một tổng thể đa chất và với một nỗ lực trung nguyên nào đó chúng ta cũng tìm ra được những hạt giống nguyên sơ ánh lên một sắc màu riêng biệt”[69;7]
Trang 12Một công trình nghiên cứu khác với tên gọi “Làng Bến Cá xưa và nay”, tác giả DiệpĐình Hoa, Phan Đình Dũng thực hiện, xuất bản năm 1998, cũng đề cập đến địa danhĐồng Nai Ngay từ đầu chương một có tên gọi Đồng Nai và Bến Cá, các tác giả đi ngayvào địa danh Đồng Nai.
Phần Đồng Nai được viết: “Đồng Nai là một địa danh thuần Việt, ngày nay là tên của một trong 61 tỉnh thành Nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Đồng Nai, tuy rất rõ ràng song vẫn làm băn khoăn không ít người muốn quan tâm một cách thấu đáo Thế kỷ XIX, các tác giả của cuốn Đại Nam nhất thống chí đã: “xét: 6 tỉnh Gia Định mà gọi chung là Đồng Nai, là vì lúc mới khai phá, bắt đầu từ Đồng Nai, nên lấy chỗ gốc mà bao trùm”[37;9] Do đó có thể thấy rằng cho đến thế kỷ XIX, Đồng Nai có thể là địa danh chỉ
một địa điểm cụ thể, một làng, xã, ấp thôn, địa danh lớn như phạm vi một tỉnh hiện nay,một địa danh phiếm chỉ cả vùng Đông Nam Bộ, hoặc cả một vùng đầu thế kỷ XX, chúng
ta vẫn quen gọi là Nam Kỳ lục tỉnh, tức 6 tỉnh của vùng đất Nam Bộ, trong đó có ĐồngNai
Bằng những tư liệu được dẫn ra ở trên đã góp phần làm rõ về nguồn gốc, ý nghĩa củađịa danh Đồng Nai Với sự cấu tạo địa hình của vùng đất này có sông, bãi bồi ven sông,
cù lao trên sông, đất đai màu mỡ phì nhiêu, gò đồi thoai thoải…thuận lợi cho sự sinh
trưởng của sinh giới mà con người là chủ thể nổi bật Như một quy luật tất yếu “Đất lành chim đậu”, vùng đất này sớm trở thành nơi hội tụ, giao lưu của các cộng đồng dân cư Vì
thế, đất Đồng Nai trở thành một vùng đất thu hút cư dân Việt đến khai phá, mở ra mộtthời kỳ phát triển mới Khi dân cư ngày một đông đúc, sản xuất phát triển, chợ búa hìnhthành để giải quyết mối liên hệ xã hội qua hoạt động trao đổi hàng hóa, giao lưu cộngđồng, thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội Như vậy, trải qua bao biến thiên muôn màucủa lịch sử, danh xưng Đồng Nai ngày nay đã trở thành tên gọi của đơn vị hành chánh cấptỉnh Danh xưng của một vùng đất, của một dòng sông, của một hào khí oai hùng, của mộtphức hệ văn hóa hàm chứa cái thiêng liêng, hàm ẩn một sức sống mãnh liệt trong sự tồntại của con người Biên Hòa - Đồng Nai
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Đồng Nai có vị trí, địa hình thuận lợi ở nhiều mặt Đồng Nai nằm ở 10022’30’’ đến
10036’ vĩ Bắc và 107010’ đến 10604’15’’ kinh Đông, giao thoa giữa cao nguyên Trung Bộ
Trang 13và đồng bằng Bắc Bộ; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Bắc giáp Lâm Đồng, Tây Bắcgiáp Bình Dương, Bình Phước; Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Nam giáp tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu; có quốc lộ trực tiếp đến các đô thị trong khu vực, đường sắt xuyên Việt quađịa bàn Đồng Nai dài 85 km, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và sân bay quân sự Biên Hòa
là cầu hàng không thường trực; bến cảng Thị Vải, đủ để giao thương với tàu vạn tấn đến
từ khắp nơi Với vị trí này, Đồng Nai như là nút giao thông, giao lưu kinh tế - văn hóatrong vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam
* Đặc điểm khí hậu
Khí hậu ở Đồng Nai thuộc khu vực Châu Á nhiệt đới, gió mùa; chịu ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam; ngoài ra còn chịu sự chi phối của không khí chítuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10; rõ rệt hai mùa mưa nắng Mùa khô kéodài 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau), mùa mưa 6 hoặc 7tháng (từ tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 11) Nhiệt độ trung bình tháng: 23,9 - 290C thấphơn so với tiêu chuẩn trung bình vùng nhiệt đới (26-300C)
Khí hậu Đồng Nai với chế độ nắng, gió, mưa, nhiệt ẩm ở tỉ lệ cao, ổn định và phân
bổ khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp, phát triển côngnghiệp và sinh hoạt văn hóa, du lịch
* Địa hình
Địa hình Đồng Nai thuộc dạng địa hình trung du chuyển tiếp từ vùng cao nguyên(cao nguyên Nam Trung Bộ) đến đồng bằng (đồng bằng Nam Bộ), khá bằng phẳng, độdốc không cao, chỉ 8% đất có độ dốc lớn hơn 150; đến 82,09% đất có độ dốc nhỏ hơn 80
Trang 14Độ cao trung bình dưới 100m so với mặt biển, giảm dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, cóthể phân thành 4 dạng tiêu biểu: Địa hình đồng bằng với độ cao trung bình 5 - 10 mét somặt biển (đồng bằng thấp và đồng bằng cao), địa hình bậc thềm độ cao trung bình 10 - 45mét, địa hình đồi 45 - 200 mét, địa hình núi thấp với độ cao trung bình trên 300 mét; trong
đó địa hình đồi được xem là đặc trưng của tỉnh
- Đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét (Đất xám, nâu xám, đất loang lổ)phân bố ở các huyện Xuân Lộc, Long thành, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Biên Hòa, ĐôngVĩnh Cửu, phù hợp với các loại cây ngắn ngày nhất là các loại đậu và cây ăn trái
* Rừng
Nguồn sản phẩm từ rừng của Biên Hòa - Đồng Nai còn khá lớn Trước đây rừngĐồng Nai chiếm 45% diện tích đất tự nhiên Do nhiều nguyên nhân, rừng Đồng Nai hiệnchỉ còn khoảng 19,2% (số liệu đến tháng 10-1995) Trong đó có 130.789 ha rừng tựnhiên, với trữ lượng gỗ trên 4 triệu m3, với nhiều loại gỗ quí như cẩm lai, gõ mật, gụ,giáng hương, sao, trắc, mun…; hàng triệu cây tre, nứa và nhiều loại cây dược liệu quí Rừng Đồng Nai còn có nhiều loại thú quí, hiếm như tê giác, voi, bò tót, hươu, nai, sơndương, khỉ, dọc Đặc biệt khu rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên nối liền với rừng của haitỉnh Lâm Đồng, Bình Phước rộng trên 35 ngàn hecta đã được qui hoạch thành khu rừngquốc gia
* Khoáng sản
Các loại tài nguyên khoáng sản ở Đồng Nai gồm có: khoáng sản kim loại, phi kim,
đá quý, và nước khoáng…
Các khoáng sản kim loại chủ yếu phân bố ở Đồng Nai gồm vàng, bô xít, thiếc, chì, kẽm Các mỏ vàng nhỏ ở Hiếu Liêm, Vĩnh An và các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường
La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm Quặng bôxit phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã
Trang 15Đà) và lâm trường La Ngà với trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m³ Thiếc chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật, hàm lượng thấp, tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray Chì kẽm đa kim được phát hiện ở núi Chứa Chan
1.1.2 Điều kiện xã hội.
Trước khi cư dân Việt đến Biên Hòa – Đồng Nai, “trên vùng đất rộng mênh môngnày, lúc bấy giờ có các dân tộc Stiêng, Mạ, Lơ ho, M’nông, Chơ ro sinh sống”[61;101].Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai trở nên sôi độngvới sự xuất hiện của lớp dân cư Việt từ miền Trung vào Thế kỷ XVI – XVIII, lịch sử ViệtNam chứng kiến cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến, làm cho nhân dân
“Bị khổ sở điêu đứng, những người dân miền Thuận Quảng phải rời bỏ quê hương bản quán, tìm đất sống Đồng Nai – vùng đất gần như vô chủ lại màu mỡ, phì nhiêu đã thu hút mạnh mẽ lưu dân Việt Làn sóng di cư tự phát của lưu dân Việt vào đất Đồng Nai ngày càng tăng Thành phần lưu dân rất đa dạng, gồm: nông dân nghèo, người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, tù nhân bị lưu đày, binh lính đào ngũ ”[61;102] Tiến trình
nhập cư của lưu dân Việt vào đất Đồng Nai diễn ra liên tục trong suốt thế kỷ XVII Điểm
đầu đặt chân trong quá trình di dân của lưu dân Việt là Mỗi Xuy (Bà Rịa) Từ đây, “Di dân người Việt ngược sông Đồng Nai, hoặc mở đường bộ tiến sâu vào vùng đất Đồng Nai Các địa điểm định cư và khai khẩn sớm là vùng Nhơn Trạch, Long Thành, Bến Gỗ, Bến Cá, Bàn Lân, Cù Lao Rùa, Tân Triều, Cù Lao Tân Chánh, Rạch Lá Buông, Cù Lao Ngô, Cù Lao Kinh ”[61;105] Những lưu dân Việt đến vùng đất mới Đồng Nai, họ đã
chọn những địa điểm thuận lợi để định cư Ai muốn ở đâu, mở làng lập ấp chỗ nào tùythích, vì lúc ấy sự quản lý hành chính chưa được xác lập Một trong nhiều điểm đến của
cư dân Việt là Cù Lao Phố, đến thế kỷ XVII trở đi “ người Kinh đến khai hoang lập ấp,chính yếu là tại Cù Lao Phố ngày nay và vùng lân cận Cù Lao Phố lúc ấy có 32 xóm:xóm Chợ Chiếu về sau là xã Hưng Phú ”[86] Thành quả lao động cần cù trong khaihoang và sản xuất của lưu dân Việt cùng với các tộc người bản địa trong thế kỷ XVII đãlàm biến đổi bước đầu bộ mặt kinh tế - xã hội vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
Năm 1679, nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên xin chúaNguyễn cho tỵ nạn trên đất Việt Thấy họ thế cùng lực tận, chúa Nguyễn đã cho phép họnhập cư Thế là, Trần Thượng Xuyên cùng gia binh của mình tiến vào cửa biển Cần Giờrồi ngược sông Đồng Nai lên định cư ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai Buổi đầu đến định cư khai
Trang 16phá, “Nhóm Hoa kiều này khắc phục những trở ngại thiên nhiên trong đời sống hàngngày Họ tham gia khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp, nhưng đó chỉ là một phươngtiện để sau đó chuyển sang kinh doanh buôn bán”[61;109] với sự thành lập và phát triểnthương cảng Cù Lao Phố.
Vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai trở thành đơn vị hành chính của chúa Nguyễn bởicông lao to lớn của Nguyễn Hữu Cảnh vào năm 1698 Trong thế kỷ XVIII, công cuộckhai khẩn đất đai ở đây được mở mang nhanh chóng nhờ các chính sách khuyến khíchkhai hoang của chính quyền chúa Nguyễn Vì thế, nhiều làng xóm mới được thành lập,làm cho diện mạo kinh tế - xã hội có nhiều đổi thay so với trước
Sau khi đánh bại chính quyền Tây Sơn, nhà Nguyễn thành lập năm 1802 tiếp tục xâydựng chính quyền trung ương tập quyền Từ đó, vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai dưới sựxác lập và quản lý của chính quyền nhà Nguyễn với bao thăng trầm của lịch sử
Giai đoạn từ 1802 đến 1858 là thời kỳ triều đình nhà Nguyễn củng cố chế độ quânchủ trung ương tập quyền, lãnh thổ thống nhất và mở rộng hơn bao giờ hết Giai đoạn từ
1858 trở đi, cả nước bước vào thời kỳ đấu tranh chống Pháp và chịu sự đô hộ của chúng.Trong bối cảnh chung khó khăn đó của đất nước, Biên Hòa – Đồng Nai cũng không nằmngoài sự tác động của lịch sử
Lịch sử Biên Hòa – Đồng Nai cũng mang những đặc điểm chung của lịch sử dân tộc,song vẫn có những nét riêng biệt Từ năm 1698 đến nửa sau thế kỷ XVIII, là thời kỳ BiênHòa – Đồng Nai đặt dưới quản lý của chính quyền chúa Nguyễn Từ năm 1802 đến năm
1861, là thời kỳ Biên Hòa – Đồng Nai đặt dưới sự quản lý của chính quyền tự chủ nhàNguyễn Từ năm 1861 trở đi là thời kỳ thuộc Pháp Trong chương này tôi đề cập sự hìnhthành, hoạt động của chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai dưới thời chúa Nguyễn và chính quyềnnhà Nguyễn còn tồn tại với tư cách là nhà nước phong kiến độc lập tự chủ
* Đơn vị hành chính
Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào Nam
kinh lý, tại đây ông tiến hành “chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tinh binh
và thuộc binh Mở rộng đất đai được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những người dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về Nam cho đến ở cho đông Thiết lập xã thôn,
Trang 17phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làm sổ đinh điền Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập xã Thanh Hà, ở Phiên trấn lập
xã Minh Hương Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ”[75;111].
Sau khi phong trào Tây Sơn bùng nổ năm 1775, lịch sử Biên Hòa - Đồng Nai cũngmang những nét chung của cả dân tộc Năm 1792, phong trào Tây Sơn kết thúc, lịch sửdân tộc nói chung, lịch sử Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng bước sang trang mới với sự thayđổi trên nhiều bình diện
Năm 1802, triều Nguyễn thành lập, đã hoàn thành thống nhất đất nước từ Bắc đếnNam Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long đổi thànhphủ gồm 4 huyện là Bình An, Phước Chánh, Long Thành, Phước An Năm 1832, nămMinh Mạng thứ 12 thực hiện cuộc cải cách hành chính trên cả nước và trấn Biên Hòa đổithành tỉnh Biên Hòa Năm 1836, triều đình tiến hành công cuộc đạc điền lập địa bạ Năm
1837, đặt thêm phủ Phước Tuy và 2 huyện Ngãi An và Long Khánh Năm 1838, đặt thêmphủ Phước Bình và tình trạng đơn vị hành chính này tồn tại cho đến khi Pháp chiếm tỉnhBiên Hòa năm 1861 Từ năm 1861 trở đi, Biên Hòa – Đồng Nai có nhiều lần thay đổi địagiới hành chính giữa các huyện, tỉnh
Sau đại thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nướcthống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội Năm 1976, tỉnh Đồng Nai thành lập trên cơ sở sápnhập các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa – Long Khánh và Tân Phú
* Dân cư
Theo nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như khảo cổ học, dân tộc học, cổ sinhhọc, địa lý học trên địa bàn vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã có con người xuất hiện từrất sớm “có niên đại khoảng 600.000 đến 2.500 năm trong điều kiện khí hậu cận nhiệt đớinóng ẩm”[10;29] Cư dân bản địa vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai bao gồm nhiều tộcngười có quá trình phát triển liên tục và luôn sáng tạo Mỗi bộ tộc đều có nét đặc trưngvăn hóa riêng biệt, song chúng vừa bổ sung, vừa đan xen lẫn nhau để hình thành nên mộtnền văn hóa đa dạng, độc đáo, phù hợp với điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa của một
vùng bán sơn địa Điều đó được thể hiện “vùng đất Đồng Nai từ thế kỷ thứ nhất đến thế
kỷ XV sau công nguyên là điểm hội tụ, giao lưu của các cộng đồng dân cư Với điều kiện lịch sử cụ thể của một giai đoạn phát triển có nhiều biến thiên của xã hội, đất Đồng Nai
Trang 18trở thành một vùng đất mở thu hút cư dân Việt đến khai phá, mở ra một thời kỳ phát triển mới”[61;97].
Tộc người Việt (kinh):
Theo nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu ghi chép, vùng đất Biên Hòa – Đồng Naihầu như hoang vắng vào thế kỷ XVI, sang đầu thế kỷ XVII ngày càng trở nên sôi độngcủa cư dân mới đến mà chủ yếu là người Việt từ vùng Thuận Quảng Nguyên nhân sự di
cư người Việt đến vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai là gì? Đó là do cuộc chiến tranh tươngtàn giữa hai dòng họ phong kiến: họ Trịnh ở Đàng ngoài và họ Nguyễn ở Đàng trong Sựtàn phá của chiến tranh, sự vơ vét khánh kiệt của chính quyền phong kiến chúa Nguyễn đãđẩy người nông dân đến cảnh bần hàn, lầm than, buộc họ phải rời bỏ ruộng vườn, làngmạc, xiêu tán đi khắp nơi để mưu cầu cuộc sống đã được Lê Quý Đôn ghi nhận trong Phủbiên tạp lục thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) “Trong cõi đã xảy ra hạn và đói,dân xiêu dạt và chết đói rất nhiều”[17; tờ 28a] hay thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1775) “Ở Thuận Hóa luôn mấy năm mất mùa đói kém, nhà nước phải xuất phát lúa khokhẩn cấp cho dân đói không ngừng, còn binh sĩ và nhân dân thì ly tán và sinh lòng hoangmang, lừng chừng”[17; tờ 44a]
Trong cuộc tìm kiếm nơi sinh tồn của cư dân người Việt do biến cố lịch sử gây nên
thì vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai như “đất lành chim đậu” Vào đầu thế kỷ XVI, vùng
đất Biên Hòa - Đồng Nai hầu như vô chủ, là nơi thu hút đông đảo lưu dân Việt tìm đất lập
nghiệp Với “Tiếng lành đồn xa”, làn sóng di cư ngày một tăng lên, trong số lưu dân Việt
đến vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, bên cạnh những nông dân nghèo khổ là thành phầnchủ yếu, còn có những người trốn binh dịch, sưu thuế, các tù nhân bị lưu đày, thầy lang,thầy đồ nghèo và cả những người giàu có muốn tìm vùng đất mới để làm giàu thêm.Tiến trình di cư của lớp người Việt đầu tiên vào vùng đất mới Biên Hòa - Đồng Nai
“lập nghiệp làm nhiều đợt trước cả thời Trịnh - Nguyễn phân tranh”[33], nhưng số lượng
tăng lên mạnh mẽ hơn vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII Để đi vào vùng đất mới
phương Nam, những lưu dân Việt thực hiện nhiều cách thức khác nhau “Phần đông họ
chọn phương thức tự động, đi lẻ tẻ, hoặc cả gia đình, hoặc người khỏe mạnh đi trước tạodựng cơ sở rồi đón gia đình đến sau, hoặc vài gia đình cùng làng xóm kết nhóm cùng đivới nhau”[39;68] Cho đến cuối thế kỷ XVII, thế và lực của chúa Nguyễn ở vùng đấtBiên Hòa - Đồng Nai và Gia Định tăng lên mạnh mẽ, điều này đã khuyến khích sự định
Trang 19cư lâu dài của người Việt trên vùng đất mới với “dân số vùng này đã hơn 40.000 hộ, tổngnhân khẩu khoảng 200.000 người”[61;104] Do dân số ngày càng tăng, diện tích đất canhtác ngày một mở rộng, làng xóm mới hình thành làm cho sản xuất hàng hóa phát triển vàviệc buôn bán đã sớm trở thành một hoạt động kinh tế mới sôi nổi Trong thế kỷ XVIII,cũng như nhiều nơi khác tại Nam Bộ, vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai đã xuất hiện nhiềunơi buôn bán, nhiều chợ búa hình thành như chợ Lộc Dã hay chợ Dinh - chợ Đồng Nai,chợ Bến Cá, chợ Bến Gỗ, chợ Bàn Lân Trong điều kiện đó, một hệ thống chợ được hìnhthành nhanh chóng và liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các địa bàntrong vùng, giữa vùng này với vùng khác và giữa nước ta với các nước láng giềng.
Tộc người Hoa
Sử sách cho biết một bộ phận người Hoa đến Đồng Nai vào năm 1679 Nhóm ngườiHoa gồm Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) đem 50 thuyền,3.000 gia nhân đến xin trú ngụ, Chúa Nguyễn Phước Tần cho khai khẩn đất phương Nam:Nhóm Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn đến Mỹ Tho (Tiền Giang); nhóm Trần ThượngXuyên đến Bàn Lân (Biên Hòa) cư trú khai phá Với khả năng giỏi buôn bán, nhóm ngườiHoa đã có công xây dựng Cù Lao Phố (xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa hiện nay) sớmtrở thành một thương cảng phát triển mạnh thời đấy,“nói lên sự phát triển kinh tế mạnh
mẽ của Cù Lao Phố, tạo tiền đề cho sự hình thành trung tâm buôn bán vào bậc nhất củaNam Bộ - Thương cảng Cù Lao Phố mà người Hoa gọi là Nông Nại Đại Phố, trong thế kỷXVIII”[60;326]
Tộc người Chơro
Tộc người Chơro là cư dân bản địa của Đồng Nai Theo các nguồn sử liệu, trước khilưu dân Việt đến Đồng Nai khẩn hoang lập nghiệp vào thế kỷ XVI, thì người Chơro cùngcác nhóm người Mạ, Kơ Ho, X’Tiêng đã từng cư trú và sinh sống Chính vì vậy, ngườiChơro và những nhóm cư dân trên được xem là cư dân bản địa hay cư dân gốc, cư dân tại chỗ của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
Nhìn chung, các tộc người trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai đã trải qua quá trình
cư trú từ vùng chuyển tiếp đồng bằng đến vùng rừng núi đã hòa hợp với nhau cùng
“chung lưng đấu cật” khai phá rừng rú, lập bản làng mới Mặc dù có sự khác nhau về
nguồn gốc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán,…nhưng do những tác động của lịch sử, nhucầu sinh tồn buộc cư dân vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai phải kề vai, sát cánh, đoàn kết
Trang 20nhằm chống lại “thiên tai địch họa” để bảo vệ bản mường, quê hương xứ sở Từ sự cư
ngụ, cộng cư đã định hình, mở rộng địa lý phát triển dân số trên địa bàn mới, làm cho cưdân vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai có sự giao thoa, đan xen, lan tỏa về văn hóa lẫn nhaugiữa các tộc người trên địa bàn toàn vùng Chính sự cộng cư, tương tác đó đã tạo nên mộtdiện mạo nhiều màu sắc văn hóa như tập quán, phong tục, lề lối, kinh nghiệm, bản sắc,phong cách… trong đó có chợ Với sự hội tụ dân cư thuộc nhiều tộc người khác nhau,nhiều vùng miền khác nhau đã hình thành nên nhiều nét văn hóa khác nhau Với nền kinh
tế đa dạng, sự phát triển chênh lệch nhau giữa các vùng nên việc giao lưu buôn bán traođổi hàng hóa giữa các tộc người là nhu cầu thiết yếu Sự đa dạng về văn hóa của các tộcngười là một trong những nhân tố tạo nên những nét riêng về văn hóa cho sinh hoạt chợ ởcác tiểu vùng kinh tế khác nhau ở Biên Hòa – Đồng Nai Với sự phân bố không đồng đều
về tự nhiên của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai đã tạo nên sự giao lưu trao đổi hàng hóaqua các hoạt động mua bán ở chợ và nó đã tạo ra đặc điểm riêng của từng chợ như chợtrấn, chợ tỉnh, chợ huyện, chợ làng xã đã phần nào phản ánh bức tranh sinh động về kinh
tế, xã hội từ cuối thế kỷ XVII đến năm 1945
* Giao thông
Nằm trên tuyến đường thiên lý Bắc Nam, Biên Hòa – Đồng Nai có vị trí giao thôngthuận lợi cả về đường bộ và đường sông Tuyến đường bộ từ Biên Hòa – Đồng Nai đếnPhú Xuân được nhà Nguyễn cho xây dựng một hệ thống nhà trạm Tuyến đường bộ nàyphục vụ cho các loại hình giao thông phổ biến như đi bộ, đi ngựa, đi voi…mà trong đóchủ yếu là đi bộ
Khác với giao thông đường bộ, giao thông đường thủy ở Biên Hòa - Đồng Nai hoạtđộng khá nhộn nhịp, tấp nập và đông đúc với nhiều loại phương tiện lưu thông như tàu,thuyền, bè…Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở miền Nam và đứng thứ batoàn quốc Bên cạnh các phụ lưu chằn chịt giữ vai trò cung cấp nước ở thượng nguồn, ở
hạ lưu sông Đồng Nai có hai phụ lưu giữ vai trò giao thông rất quan trọng cho vùng đấtBiên Hòa - Đồng Nai, đó là sông Sài Gòn và hệ thống sông Vàm Cỏ chảy từ Campuchia
về cùng ở phía hữu ngạn Sông Sài Gòn dài khoảng 130 km, sông Vàm Cỏ Đông dàikhoảng 283 km và Vàm Cỏ Tây dài khoảng 235 km Lòng sông rộng và sâu, thủy triều tácđộng mạnh nên việc đi lại trên sông rất thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
Trang 21vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai nói riêng và Gia Định – Sài Gòn, đồng bằng sông CửuLong nói chung.
Vào giữa thế kỷ XVII, vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai khá hoang vắng nên việc giaothông đi lại gặp rất nhiều khó khăn giữa các tiểu khu trong vùng cũng như với các vùngphụ cận Với địa hình sông ngòi, kênh rạch khá chằn chịt nên “phương tiện di chuyểnchính là thuyền buồm và ghe bầu vì thời bấy giờ việc đi lại giữa các phủ miền Trung vớivùng đất mới Đồng Nai chủ yếu là bằng đường biển”[61;102] Tuy nhiên, tuyến đường bộ
từ miền Trung vào vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai cũng đã được hình thành theo conđường đi của người Việt di cư Để có được con đường đi bộ từ miền Trung vào vùng đấtmới thì người Việt “phải mạo hiểm trèo đèo vượt suối đi dần từng chặng một, đến một địaphương ở một thời gian, thấy trụ được thì ở luôn, thấy không trụ lại được thì đi tiếp, cứthế lần hồi rồi cũng vào tới vùng đất mới Đồng Nai”[61;102]
Đến nửa cuối thế kỷ XVII, số lượng lưu dân người Việt vào vùng đất Biên Hòa Đồng Nai qua nhiều đợt khá lớn, mặc dù chưa có một tài liệu nào thống kê cụ thể Điểmđầu tiên của cư dân người Việt đặt chân lên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai là Mỗi Xuyhay còn gọi là Mô Xoài Đây là “địa đầu của vùng đất mới nằm trên trục giao thôngđường bộ từ Bình Thuận vào, giáp biển, nằm giữa mũi Thùy Vân ở phía Nam và mũi Bà
-Két ở phía Bắc và vùng vịnh biển mang tên Ô Trạm”[61;104] Qua dẫn chứng trên, có thể
khẳng định rằng một tuyến đường bộ đã được hình thành và nối liền từ miền Trung vàoBình Thuận và đến vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai
Theo Đại Việt tạp chí của Thượng Tân Thị dịch thì tỉnh Biên Hòa có 4 trạm giao
thông với tổng cộng chiều dài là 116 dặm gồm trạm Biên Thạnh dài 20 dặm, trạm BiênLong dài 40 dặm, trạm Biên Phước dài 28 dặm, trạm Biên Lễ dài 28 dặm [84]
Trạm Thuận Biên: Ở chỗ giáp giới Bình Thuận và Biên Hòa (nay là Bình Tuy), phíaNam đến trạm Biên Thạnh hơn 30 dặm Trạm Bình Thuận phụ trách 30 người, trạm Biên
Hòa 30 người Chia làm 3 ban, mổi ban 20 người Đầu niên hiệu Gia Long đặt ra 4 trạm: Thuận Biên, Xích Lam, Mổi Riêng và Nhà Bè Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) cải định làm 5 trạm: Thuận Biên, Biên Thạnh, Biên Long, Biên Phước, Biên Lễ Năm Thiệu Trị
nguyên niên (1841) đặt làm thêm một trạm phụ gọi là Biên Lộc
Trạm Biên Thạnh: Ở thôn Tân An, huyện Phước An, phía Nam đến trạm Biên Longdài hơn 20 dặm
Trang 22Trạm sông Biên Long: Ở thôn Long Hưng, huyện Phước An, phía Nam đến trạmsông Biên Phước dài hơn 29 dặm.
Trạm sông Biên Phước: Ở sông Nhà Bè, huyện Phước An
Trạm sông Biên Lễ: Ở thôn Phước Lễ, huyện Phước An, phía Nam đến trạm sôngGia Cẩm dài 29 dặm
Trạm phụ sông Biên Lộc: Ở thôn Trường Lộc, huyện Long Thành, phía Tây đến tỉnhthành dài 20 dặm Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), nhận thấy từ trạm sông Biên Lễđến tỉnh thành đường nước quá xa nên mới đặt thêm trạm này
Tóm lại, tổng thể tất cả các nhân tố về điều kiện tự nhiên, xã hội đã có ảnh hưởng vàchi phối đến tiến trình hình thành và phát triển hệ thống chợ Trấn, chợ Tỉnh, chợ huyện,
và chợ làng xã của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Nhưng chính sự ra đời và phát triểncủa hệ thống chợ đã tác động tỉ lệ thuận đến sự phát triển kinh tế xã hội của vùng đất BiênHòa – Đồng Nai
1.2 Khái quát về chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến 1861
1.2.1 Khái niệm chợ
Chợ nơi được cộng đồng dân cư trong vùng thỏa thuận với nhau dùng làm địa điểm
để mua bán chung hàng ngày hoặc vào những ngày nhất định trong tháng để họp chợ[82;317]
Ngoài ra, khái niệm về chợ còn bắt nguồn từ tiếng la tinh (mercatus) = buôn bán vàđặc trưng trong nghĩa hẹp của nó là địa điểm, nơi mà được buôn bán Ở chợ sẽ gặp gỡgiữa người mua và người bán
1.2.2 Cơ sở hình thành chợ
Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất đượchàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang nó đi trao đổi với người khác để lấymột loại hàng hóa nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Thuở ban đầu, chợ chủ yếu
là nơi để mọi người trao đổi sản phẩm dư thừa với nhau, dựa trên một thước đo là sự thỏathuận của hai bên Về sau cùng với sự ra đời của tiền tệ, chợ không chỉ là nơi trao đổi màdiễn ra việc mua và bán hàng hóa - một bên là những người có sản phẩm đem ra để bán,còn một bên là khách hàng dùng tiền để mua các sản phẩm cần thiết cho mình hoặc cácsản phẩm để đem bán lại
Trang 23Như vậy, do nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa của con người là nguyên nhân trựctiếp của sự hình thành và phát triển chợ Khi hoạt động thương nghiệp ở chợ hình thànhthì cũng là lúc xuất hiện sự phân công lao động mới trong xã hội Đó là, người phụ nữ giữvai trò hoạt động múa bán, trao đổi hàng hóa ở chợ là chủ yếu Quá trình hình thành vàphát triển chợ là một tiến trình vận động theo quy luật khách quan cung - cầu của xã hộiloài người Chợ là lăng kính phản ánh quá trình phát triển kinh tế xã hội của một tiểuvùng, khu vực cụ thể nhất định nào đó Những cơ sở hình thành về chợ đó được bổ sungliên tục cùng với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm cho diện mạo củachợ ở nước ta ngày một đa dạng về loại hình, phong phú về sản phẩm trao đổi hàng hóa,quy mô về phát triển, là nơi hội tụ những tinh hoa trong lao động sản xuất và sáng tạo củacon người.
Theo luận văn Thạc sỹ Trần Thị Thanh Hà trường ĐH Vinh khi viết về hệ thống chợ
ở Nghệ An từ đầu thế kỷ XIX đến 1945 cho rằng: chợ của phương Tây xuất hiện theophương thức phổ biến là “ban đầu sự trao đổi thường hay xuất hiện giữa các công xã khácnhau”, thì chợ ở Việt Nam ra đời gắn liền với sự phát triển của công xã nông thôn, mọithứ trao đổi chỉ diễn ra trước hết và chủ yếu trong công xã cho đến khi làng phong kiếnđược xác lập thì sự trao đổi mới dần mở ra với các làng xung quanh[31;18]
Theo GS Hà Văn Tấn: “đã đến lúc chúng ta phải chú ý đầy đủ đến các mối liên hệ giữa làng với bên ngoài, tức là những mối liên hệ ngoài cấu trúc Có thể chia những liên
hệ đó ra làm hai loại: Một loại gồm những liên hệ giữa làng này với làng khác, tức mối liên hệ giữa các hệ thống tương đương, mà ở đây chúng tôi gọi là liên hệ liên làng Loại thứ hai gồm những liên hệ giữa làng với cộng đồng hay khu vực rộng lớn hơn, tức mối liên hệ giữa hệ thống coi làng với các hệ thống lớn chứa đựng nó, mà ở đây chúng tôi gọi
là liên hệ siêu làng Cộng đồng siêu làng rộng hẹp với các thứ bậc khác nhau Khi cộng đồng tộc người đã tiến tới trình độ dân tộc thì cộng đồng siêu làng lớn nhất là nước, là dân tộc” [81].
Như vậy, khi làng bản mới được xác lập sẽ có quy mô khác nhau, sự liên kết khácnhau giữa nội bộ trong từng làng, giữa làng này với làng khác và giữa vùng này với vùngkhác Đó có thể được xem là cơ sở để xác định về chợ và hệ thống chợ dưới thời Nguyễn
và các thời kì sau trong cả nước nói chung và vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai nói riêng
Sự hình thành, phát triển của chợ và hệ thống chợ ở vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai cũng
Trang 24không nằm ngoại lệ của xu thế phát triển tất yếu của lịch sử đó Sự phát triển của chợ, hệthống chợ là sự tương tác song hành cùng với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, nóphản ánh trạng thái thịnh suy của từng giai đoạn lịch sử đất nước nói chung và từng địaphương nói riêng trong đó có vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.
Lần trở về lịch sử, vào thời nhà Hồ năm 1403, Hồ Hán Thương ban hành cân, thước,thưng, đấu, định giá tiền giấy, cho dân mua bán với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế xã hội Với việc định giá tiền giấy của nhà Hồ trong việc lưu thông hàng hóa,hoạt động thương mại là một cải cách vĩ đại dưới chế độ phong kiến Việt Nam Sự hìnhthành và phát triển hệ thống chợ với tư cách là nơi lưu thông hàng hóa và mạng lướithương nghiệp xã hội ra đời kéo theo sự quản lý của nhà nước phong kiến được xác lập
Để từ đó sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động thương nghiệp được cụ thể, nề nếp,chặt chẽ… cho các giai đoạn lịch sử về sau
Nền kinh tế chính Việt Nam thời phong kiến là sản xuất nông nghiệp mang nặng tính
tự túc, tự cấp Bên cạnh nghề nông, người nông dân còn tranh thủ thời gian nông nhànlàm thêm nghề thủ công truyền thống của làng xã Trên cơ sở đó, mỗi làng xã vừa có hoạtđộng sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp dẫn tới hoạt độngthương nghiệp ra đời để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư Hoạt động chợ làng nhộnnhịp hay vắng vẻ tùy thuộc vào mức độ dân cư, mối liên hệ giữa các làng, các vùng lâncận với nhau Trên cơ sở đó, làng xã trở thành một đơn vị kinh tế thương nghiệp với hoạtđộng chợ làng khá tấp nập Chợ làng vừa là trung tâm trao đổi các sản phẩm nông nghiệp,thủ công nghiệp, hàng hóa khác vừa là nơi giao lưu, lan tỏa, tiếp biến văn hóa giữa cácvùng miền trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Để cho hoạt động thương nghiệp ở chợ diễn ra một cách quy cũ, hệ thống, lànhmạnh và phát huy vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nên từ khá sớm đã có “Lệ mởchợ” Sử liệu trực tiếp về chợ thì mãi đến thời nhà Lý mới thấy ghi nhận lần đầu tiên, vàrất sơ lược: Vào năm 1035, vua Lý Thái Tông cho “mở chợ Tây Nhai có hành langdài”[85;264] Trải qua một thời gian dài phát triển của chế độ phong kiến, đến thế kỷ XVImới có tư liệu viết hiếm hoi liên quan đến chợ Đó là bài văn bia do một vị tiến sĩ họĐặng viết và được khắc trên “Nguyễn Kiều thị bi” (bia chợ Nguyễn Kiều), ghi việc xâydựng lại chợ Nguyễn Kiều ở xã Phúc Hải huyện Ngư Thiện ở tỉnh Thái Bình vào năm TânMão, niên hiệu Đại Chính 2 (1531) đời vua Thái Tông nhà Mạc.Đến thời Lê Dụ Tông
Trang 25(1679-1731) niên hiệu Thái Bảo (1720-1729), để thống nhất quản lý hệ thống chợ trong
cả nước, nhà nước phong kiến đã cho đặt Thị Mải Ty để quản lý các hoạt động của hệthống chợ [84; 40,41]
Như vậy đến cuối thế kỷ XVIII, vấn đề hoạt động của hệ thống chợ trên phạm vi cảnước đã được Nhà nước quản lý tương đối đầy đủ Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khácnhau nên hoạt động của chợ và hệ thống chợ làng xã chủ yếu mang nặng tính trao đổihàng hóa nông nghiệp, thủ công nghiệp theo hộ gia đình Hoạt động trao đổi hàng hóa ởchợ làng xã, mang tính tự sản xuất, tự tiêu dùng là biểu hiện một nền kinh tế tự cấp, tự túckhép kín và dẫn đến sự kìm hãm sự phát triển của chợ, hệ thống chợ, làm cho thươngnghiệp kém phát triển, giao lưu văn hóa bị thu hẹp trên nhiều mặt
Chính quyền Tây Sơn kết thúc, năm 1802 nhà Nguyễn thành lập – triều đại phongkiến cuối cùng của Việt Nam Dưới chính quyền nhà Nguyễn, lãnh thổ nước ta thống nhất
và mở rộng hơn bao giờ hết, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau Cương vực lãnh thổ trở
về một mối, triều đình nhà Nguyễn có điều kiện bắt tay vào công cuộc hồi sinh đất nướcsau thời gian dài khói lửa chiến tranh Triều đình tiến hành nhiều biện pháp ổn định đấtnước như tổ chức lại bộ máy nhà nước, phân chia đơn vị hành chính, đề ra chính sáchphát triển kinh tế, ổn định xã hội, mở rộng quan hệ ngoại giao…Một trong những chínhsách đó, triều đình nhà Nguyễn ưu tiên phát triển kinh tế Để tạo điều kiện cho hoạt độngthương nghiệp, nhà nước đã thống nhất tiền tệ và đo lường Đỗ Bang với công trìnhnghiên cứu kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn đã thống kê “toàn bộ hệthống tiền tệ triều Nguyễn có thể phân theo 4 loại hình với những đặc trưng không giống
nhau”[4;23], đã tạo nên sự linh hoạt trong lưu thông và tiêu thụ hàng hóa:
Loại thứ nhất là các thoi (đính, thỏi) vàng bạc: chủ yếu được dự trữ trong ngân sáchcủa triều đình Trung ương và các cơ quan chính quyền địa phương để sử dụng việc công.Loại này, được đúc theo dạng khối hình chữ nhật gồm nhiều kích cỡ khác nhau Mặt trướcđồng bạc ghi niên hiệu, mặt sau ghi trọng lượng Những thỏi bạc có in giá tiền thì trongmức độ nhất định nào đó có thể xem là loại tiền mặt như dạng tiền đồng chúng ta sử dụngngày nay để trao đổi hàng hóa
Loại thứ hai là tiền kim và ngân tiền: hầu như mỗi vua nhà Nguyễn dưới thời trị vìcủa mình đều cho đúc tiền vàng và tiền bạc Các loại tiền kim và ngân tiền chủ yếu là củatriều đình dùng để ban thưởng những người có công, không phải để lưu thông trên thị
Trang 26trường, vì vậy khi xác định giá trị thì các loại tiền này thường phải dựa vào trọng lượng,hàm lượng của nó như dạng thoi, nén để giao dịch hàng hóa.
Loại thứ ba là tiền kẽm: dưới triều Nguyễn tiền kẽm có dạng tròn và mỏng, giữa có
lỗ vuông Thời Gia Long, tiền kẽm được quy định mỗi đồng nặng bảy phân, một mặt khắc
4 chữ “Gia Long thông bảo”, mặt còn lại khắc hai chữ “thất phân”, mỗi quan tiền nặnghai cân mười lạng Tiền kẽm là đơn vị nhỏ nhất, cơ bản nhất trong ba đơn vị quan, tiền vàđồng, đồng tiền kẽm luôn luôn mang mệnh giá một đồng trong suốt thế kỷ XIX
Loại thứ tư là tiền đồng: đây là loại tiền căn bản nhất của triều Nguyễn từ thời GiaLong đến Thành Thái với số lượng được đúc lớn nhất Tùy thuộc vào nhu cầu cụ thể củatừng vùng, từng thời kỳ để tiến hành đúc tiền đồng nhằm đáp ứng hoạt động lưu thônghàng hóa trên thị trường Tiền đồng có nhiều loại, kích cỡ, trọng lượng khác nhưng giá trịcủa nó thay đổi theo trọng lượng của đồng tiền, thời giá sử dụng, và tùy thuộc vào nhữngquy định có tính chất pháp quy của nhà nước phong kiến
Vào năm Gia Long thứ 10 (1812), nhà Nguyễn ban hành việc thu thuế hàng hóa cóquy định như sau: “phàm các nơi chợ búa quan ải, người buôn hàng hóa qua lại, thời sởtuần ti cứ 40 phần thu thuế một phần, trong đó có lệ đánh thuế người luôn qua bến đò,tuần, thị trường nào, hoặc chiếu số gánh, hoặc chiếu nhân suất, hoặc tính ra đầu thuyền,hoặc tính cân lạng không ở lệ, cứ 40 phần thu thuế một phần”[4;52] Như vậy, mức thuthuế hàng hóa của nhà Nguyễn là không cao, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngthương mại trong nước nói chung và hoạt động của hệ thống chợ nói riêng
Theo quy luật khách quan, để giao dịch hàng hóa giữa nước này với nước khác thìgiữa các nước phải thống nhất quy định trao đổi tỉ giá ngoại tệ Và tỉ giá ngoại tệ của triềuNguyễn với các đồng bạc nước ngoài đầu thế kỷ XIX, ta có thể tham khảo tỉ giá sau đây[4;35,37]:
Đây là bảng tỉ giá ngoại tệ của triều đình nhà Nguyễn với các nước
Một đồng 8 quan tiền 6,7 quan tiền 5 quan tiền 6 quan tiền
(Nguồn: Đỗ Bang - kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn trang 35)
Giá các mặt hàng trên thị trường tự do trong nước
Trang 27Loại Năm GiáĐường cát ở Đà Nẵng (1 cân = 604,5g) 1830 6,3 đồng
Gỗ lim loại 1 ở Thanh Hóa (6m X 0,4m) 1834 15 quan
Gạo trắng ở Thừa Thiên (1 phương = 30 lít) 1835 2 quan 3tiềnGạo trắng ở Tây Nam Bộ (1 phương = 30 lít) 1840 1quan 5 tiền
(Nguồn: Đỗ Bang - kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn trang 35,37)
Để thống nhất đo lường trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện thuận lợi trong việcquản lý và lưu thông hàng hóa trên thị trường, nhà Nguyễn quy định cách tính theo cácđơn vị như tạ, yến, cân, lượng, đồng cân, phân Cách tính như sau:
(Nguồn:Đỗ Bang - kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn trang 21)
Qua cơ sở hình thành và phát triển chợ, hệ thống chợ đã nêu nhằm đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội, đây một nhu cầu tất yếu khách quan xuyên suốt của lịch sử loàingười nói chung và cá thể từng quốc gia nói riêng.Việt Nam là quốc gia có lịch sử hìnhthành lâu đời với mỗi vùng, mỗi khu vực đều có quá trình hình thành sớm muộn khácnhau nhưng đều nằm trong khối tổng hòa phát triển của dân tộc Việt
Biên Hòa - Đồng Nai là vùng đất mới có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, đất đaimàu mỡ, phì nhiêu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Rừng vùng đất Biên Hòa - ĐồngNai có nhiều sản vật đáp ứng nhu cầu của cư dân mới đến lập nghiệp Hầu hết những lưudân Việt đến định cư tại vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai từ cuối thế kỷ XVII là nông dânnghèo đi tìm vùng đất mới để mưu sinh Vì vậy, khi họ đặt chân lên vùng đất này, một sốgia đình đã sinh sống bằng nhiều nghề khác nhau như đánh bắt cá, làm mắm, săn bắn,khai thác gỗ, khai thác quặng, buôn bán và một số nghề thủ công như dệt vải, làm mộc,dệt chiếu, đan lát, làm gốm, làm gạch…còn lại đa số chọn nghề nông làm nguồn sinhsống chính như Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “Trấn Biên Hòa nhân dân siêng cày cấy, dệtcửi đều có sản nghiệp”[21; tờ 33a]
Nông nghiệp là kinh tế chính của dân tộc Việt nên sản xuất lương thực, thực phẩmtrở thành vấn đề quan trọng hàng đầu, bởi cha ông ta quan niệm “có thực mới vực đượcđạo” Việc khai phá đất đai lúc ấy diễn ra chủ yếu là tự phát, chưa có sự tổ chức của chính
Trang 28quyền Diện tích khai hoang tùy thuộc vào khả năng bản thân, gia đình hay từng nhómnhỏ với lực lượng lao động ít nhiều khác nhau Do “việc canh tác 5, 10 mẫu tuy làm sơ sàinhưng chắc ăn hơn làm kỹ trên diện tích đôi ba mẫu vì chim, chuột, thú rừng có phá cũngkhông mất hết”[39;73] Qua đó, chứng tỏ rằng lưu dân Việt đã tự do sở hữu về ruộng đấtnên đã kích thích họ tận lực khai khẩn nhằm mở rộng diện tích trồng trọt, có cơ hội thoátkhỏi đói nghèo, vươn lên làm giàu Đất đai đã không phụ lòng người, có sức người sỏi đácũng thành cơm, những lưu dân Việt với đức tính cần cù, siêng năng, kiên trì khắc phụckhó khăn gian khổ, dựa vào sức mạnh đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùngchung số phận nghèo khổ cố vươn lên tìm cuộc sống mới ấm no hạnh phúc Dưới bàn baylao động cần cù của những lưu dân Việt làm cho diện mạo sản xuất nông nghiệp vùng đất
Biên Hòa - Đồng Nai thay đổi rõ rệt Vì “khi lưu dân Việt đến khai khẩn, mở rộng diện tích canh tác, họ đã áp dụng những kinh nghiệm quý báu và kiến thức cổ truyền trong nghề trồng lúa nước tích lũy từ bao đời ở quê hương, thì ngành nông nghiệp trồng lúa nước ở xứ Đồng Nai được hình thành và từng bước phát triển cả về quy mô lẫn năng suất, sản lượng”[39;74] Tuy nhiên, để cho sản lượng lúa tăng ngoài việc áp dụng kỹ
thuật sản xuất, những lưu dân Việt đã biết chọn giống cho phù hợp với các loại ruộng,
thời tiết theo mùa vụ mà sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã dẫn: “Lúa
có nhiều loại: lúa canh và lúa thuật, trong đó có xen thứ lúa dẻo Lúa canh là thứ lúa không dẻo, hạt gạo nhỏ, cơm mềm, mùi rất thơm, là thứ lúa có cái mang (đuôi) ở đầu hạt lúa Lúa thuật là thứ lúa dẻo, hạt tròn mà lớn Lúa có tên riêng như lúa móng tay, lúa móng chim, lúa mô cải, lúa càn đông, lúa cà nhe, lúa tráng nhất, lúa chàng co…Nếp có nếp hương, nếp sáp; thứ nếp đen có tên là nếp than, sắc tím, nước cốt đen dùng nhuộm màu hồng, nhơn khi còn nóng rưới mỡ heo, lá hành và muối trắng trộn cho đều, mùi vị rất ngon và giòn”[23; 2a, 1b]
Khi sản xuất ngày một phát triển, dân cư đông đúc cũng là lúc làng xóm mới lần lượt
ra đời Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, làng xã là một nét văn hóa rất điển hình, nhất là từnhững ngày đầu lưu dân Việt khai khẩn vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai còn hoang hóa,nhiều bệnh tật, đầy rẫy thú dữ và rắn rết Những lưu dân Việt đi đầu tiên không thể sốngđơn độc mà họ phải nương tựa vào nhau, liên kết lại với nhau, sống cạnh bên nhau nhưquê hương của họ Với “đất lành chim đậu”, “trời sinh voi sinh cỏ”, cư dân Việt đã sinh
đẻ tự nhiên và các đợt di cư tiếp sau nên “xóm được mở rộng thành ấp, thành thôn, thành
Trang 29xã rồi tách ra thành tôn, xã mới Các thôn, xóm ban đầu chỉ là là sự kết hợp tự phát, trên tinh thần tương thân tương ái, chưa có luật lệ gì ràng buộc, chưa có những quy chế chặt chẽ với những lệ làng, hương ước như các xã miền Bắc và miền Trung”[39;76] Các thôn,
xóm giai đoạn đầu chủ yếu hình thành dọc theo ven sông, ven kênh rạch, nơi các giồngđất cao có điều kiện đi lại bằng đường thủy thuận lợi, có đủ nước ngọt cho sinh hoạt vàtưới tiêu cho cây trồng Dần dà về sau, khi giao thông bằng đường bộ được mở rộng, pháttriển thì làng, xóm mới mở rộng lên các vùng cao hơn Cứ thế, làng xóm mới hình thànhdần theo cấp số nhân của sự tăng dân số
Làng xóm cũ là cơ sở hình thành cho các làng xóm mới, dần dần tạo thành các liênkết làng với nhau trên một vùng dân cư rộng lớn, làm thay đổi bộ mặt dân cư, sản xuấtkinh tế của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Như vậy, trên cơ sở kinh tế nông nghiệp, thủcông nghiệp khá phát triển, và ở một mức độ nhất định nào đó đã mang tính chất sản xuấthàng hóa nên “việc buôn bán trao đổi hàng hóa ở vùng đất phía nam nói chung, vùng đấtBiên Hòa - Đồng Nai nói riêng đã sớm được mở rộng trong thế kỷ XVIII”[61;131]
Một trong những mặt hàng buôn bán quan trọng nhất lúc bấy giờ là lúa gạo từ vùngBiên Hòa - Đồng Nai, Gia Định ra Thuận Quảng và mua hàng hóa từ Thuận Quảng trởvào Vì vậy, lúa gạo đã sớm trở thành thứ nông sản hàng hóa quan trọng nhất vùng BiênHòa – Đồng Nai và Gia Định đã được ghi chép trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn:
“Miền Gia Định bao gồm cả Biên Hòa - Đồng Nai có rất nhiều thóc gạo…Những lúc bìnhthường, người ta (ý nói những người giàu có) chuyên chở gạo thóc ra bán ở thành PhúXuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc, nhiễu, trừu, đoạn của người Tàu đem vềmay mặc, nên quần áo của họ toàn là hàng hoa màu tươi tốt đẹp đẽ…”[18; tở 243b].Qua một số dẫn chứng trên, vào khoảng những năm 70 của thế kỷ XVIII hoạt độngthương nghiệp diễn ra sầm suất ở Gia Định trong đó có vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.Một nhân tố trung gian cho các hoạt động thương nghiệp sôi nổi đó là sự hình thành, pháttriển của chợ và hệ thống chợ ở vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Chợ được hình thành là
do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hóa trong dân cư Đầu tiên, chợ cóthể hình thành một cách tự phát hoặc quá trình tự giác của con người, là một hoạt độngtrao đổi hàng hóa không thể thiếu của mọi người dân Do nhu cầu vận chuyển, trao đổihàng hóa nên người dân thường chọn địa điểm gần trục giao thông để lập chợ, nếu không
Trang 30ở bên đường bộ thì cũng phải “bên dưới có sông bên trên có chợ” thì mới thuận tiện cho
sự phát triển của thương nghiệp
Qua nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng chợ nước ta xuất hiện từ khá sớm, với nhiềuloại hình khác nhau: chợ làng xã, chợ huyện, chợ trấn, chợ tỉnh Chợ làng không chỉ làtrung tâm mua bán của cả làng mà còn là nơi gặp gỡ trao đổi của các làng láng giềng xungquanh Quy mô lớn hơn chợ làng là chợ huyện, chợ huyện là trung tâm hoạt động trao đổihàng hóa cho cả huyện đồng thời là nơi tiếp xúc, giao thoa văn hóa với các huyện lân cận,gần xa Với sự nhôn nhịp, sầm uất, đông đảo, đa dạng các hoạt động giao thương hànghóa đó là chợ trấn, chợ tỉnh Đây là nơi diễn ra nhiều hoạt động gặp gỡ, trao đổi hàng hóacủa dân cư nhiều nơi trong tỉnh tụ hội về, đồng thời nó là trung tâm của sự giao lưu hànghóa giữa nhiều tỉnh thành với nhau, nhiều vùng với nhau, thậm chí nhiều quốc gia vớinhau Chợ tỉnh trở thành mạch máu lưu thông cho các hoạt động xã hội, nó là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hóa của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Mỗi chợ đều có một cái tênriêng nhất định thường được lấy tên từ địa danh nơi cư dân khai phá xây dựng làng xóm
để mở chợ phục vụ nhu cầu dân sinh
Theo sách Đại Nam nhất thống chí ghi nhận, tỉnh Biên Hòa có 2 phủ, 4 huyện và 3
huyện kiêm nhiếp cụ thể như sau [73; 249, 251]:
STT Tên phủ Số huyện Số xã, thôn phường
1 Phước
- Huyện Phước Chánh: 6 tổng, 89 xã, thôn, phường
- Huyện Bình An: 6 tổng, 58 xã thôn, là huyện kiêm nhiếp
- Huyện Phước Bình: 5 tổng, 60 xã, thôn, phường
- Huyện Nghĩa An: 5 tổng, 51 xã, thôn, phường
2 Phước
- Huyện Long Thành: 4 tổng, 61 xã, thôn
- Huyện Phước An: 4 tổng, 61 xã, thôn
- Huyện Long Khánh: 6 tổng, 47 xã, thôn
Theo ghi chép trong “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn,
năm 1851 trên toàn Nam Kì lục tỉnh có 93 chợ, trong đó tỉnh Biên Hòa có 19 chợ, quán.Các chợ ở Biên Hòa - Đồng Nai được ghi cụ thể trong Đại Nam nhất thống chí như sau[73; 1651-1653]:
1 Phước Lộc Dã, Bến Cá, Tân Uyên, Đồng Chợ Chiếu hiện nay không
Trang 31Chánh Bản, Bình Long, Tân Lân, Chợ
1.2.3 Ảnh hưởng của thương cảng Cù Lao Phố đối với chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai
Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh hạ lưu huyện Phước Chánh thì tự chia ralàm hai nhánh ôm trọn một dải đất phù sa bồi đắp Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ởphía Đông - Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa –thành phố Biên Hòa với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha Cù lao Phố còn được gọi làĐông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố Tuy nằm cách biển gần 100 km nhưng
là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền, thuận lợi cho tàu thuyền có trọng tảilớn neo đậu
Theo nhiều công trình nghiên cứu khoa học, trước khi nhóm người Hoa của TrầnThượng Xuyên đến định cư ở Bàn Lân thì tại Cù Lao Phố đã có người Việt đến khai phá.Theo Trần Hiếu Thuận, Cù Lao Phố đã có 3 xóm: “xóm Chợ Chiếu, xóm Rạch Lò Gốm
và xóm chùa”[86] Giai đoạn từ 1679 đến 1698 là thời gian nhóm di dân người Hoa doTrần Thượng Xuyên dẫn đầu đến định cư, tập trung khai hoang, xây dựng nhà cửa, mởmang đường sá ở Cù Lao Phố
Cù Lao Phố có điều kiện tự nhiên thuận lợi với hai con rạch nhỏ là rạch Ông Án, vàrạch Lò Gốm, đưa nước sông Đồng Nai chảy vào những cánh đồng trong nội vùng cù lao,tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt Khu vực ven bờ cù lao không phù hợp để sảnxuất nông nghiệp vì chịu sự tác động lớn của thủy triều Ven bờ cù lao dọc theo sôngĐồng Nai, nhiều nơi có đất sét tạo điều kiện cho nghề gốm phát triển Cù lao Phố đã sớm
Trang 32tập trung nhiều nghề thủ công truyền thống như làm gốm, đúc đồng, dệt tơ lụa, dệt chiếu,làm đồ gỗ…Có một số nghề còn để lại dấu ấn sâu sắc trong dân chúng với những tên gọigắn liền với địa danh như chợ Chiếu, xóm Lò Đúc, rạch Lò Gốm…
Như vậy, với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, các nghề thủcông hình thành và mở rộng đã tạo ra sự đa dạng các loại sản phẩm hàng hóa Nền kinh tế
Cù Lao Phố phát triển mạnh mẽ, nhất là kinh tế hàng hóa, tạo tiền đề cho sự thành lậptrung tâm thương mại trong thế kỷ XVIII
Theo nhà văn Sơn Nam, viết: “Vùng Cù Lao Phố, nòng cốt của Biên Hòa Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu, với đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống Sài Gòn Nhóm dân Trung Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên gây cơ sở lớn ở Cù lao Phố, chọn vị trí thuận lợi, sát mé sông; Ở đầu phía Tây cù lao Đại Phố, lúc mới mở mang, Trần Thượng Xuyên chiêu tập người thương buôn nước Trung Quốc đến lập ra phố xá, mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lát đá ong, đường phố nhỏ lát đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội”[68;238]
Thời chúa Nguyễn, thương cảng Cù Lao Phố - trung buôn bán sầm uất lớn nhấtkhông chỉ ở vùng đất Biên Hòa- Đồng Nai mà còn cho cả vùng đất mới đồng bằng sôngCửu Long Cảnh mua bán nhộn nhịp, sầm uất của Cù Lao Phố đã được Trịnh Hoài Đức
mô tả tỉ mỉ trong Gia Định thành thông chí: “xưa nay thuyền buôn đến đây hạ neo xong, thì lên bờ thuê phố ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, lại lấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân cất lên, thương lượng giá cả, chủ mua hàng định giá mua bao tất cả những hàng hóa xấu tốt, không bỏ xót lại thứ gì Đến ba ngày trương buồm trở về, gọi là hồi đường, chủ thuyền có yêu cầu mua giúp vật gì thì người buôn ấy cũng chiếu y ước đơn mua giùm chở đến trước kì giao hẹn, hai bên chủ khách chiếu tính hóa đơn thanh toán rồi cùng nhau đàn ca vui chơi, đã được nước ngọt tắm rửa sạch sẽ, lại không lo trùng hà ăn lủng ván thuyền, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất thuận lợi”[22; 29].
Phạm vi hoạt động mua bán ở Cù Lao Phố trong giai đoạn này được giới hạn về phía nam
vì nơi đó nhiều thuận lợi cho tàu thuyền cập bến Các tàu buôn thường đến giao thương ở
Cù Lao Phố như tàu buôn phương Tây, Trung Quốc, Mã Lai…mà nhiều nhất là tàu buôn
Trang 33Trung Quốc với đội ngũ thương nhân người Hoa giữ vai trò nòng cốt vì “khách hàng chính của Cù Lao Phố cũng như các thương cảng Đàng Ngoài và Đàng Trong là người Hoa Trong điều kiện mà việc giao dịch buôn bán giữa hai nước là nếp cũ từ lâu đời, thì các thương nhân Hoa kiều có vai trò, vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế ở các địa điểm giao lưu, trong đó có Cù Lao Phố được coi như một cảng trên sông”[103]
Qua dẫn chứng trên, chứng tỏ hoạt động trao đổi hàng hóa diễn ra rất nhộn nhịp tại
Cù Lao Phố Vậy hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa ở đây diễn ra như thế nào? Để cóđược một khối lượng lớn hàng hóa giao dịch cho các thương nhân buôn bán thì chắc chắnrằng phải có một quá trình tập hợp, vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi có chucầu tiêu thụ Thế là kẻ mua, người bán sẽ gặp nhau ở một nơi trao đổi nhất định nào đó làchợ Chợ là một địa điểm trung gian luân chuyển hàng hóa Hàng hóa với số lượng nhấtđịnh được tập hợp ở nhiều chợ khác nhau hình thành một khối lượng lớn đáp ứng nhu cầucủa thương nhân buôn bán ở thương cảng Cù Lao Phố Các thương nhân đi thu mua hànghóa ở từng địa phương hoặc các tụ điểm rải rác đây đó, dần dần hình thành một dâychuyền vận chuyển sản phẩm ở nhiều chợ Từ đó, hình thành một hệ thống “chợ đầu mối”
để tập kết hàng hóa từ các chợ làng xã đưa về mà theo công trình nghiên cứu Cù Lao Phốliệt kê: Thượng nguồn có trường giao dịch ở miệt thác Trị An, rồi chợ Bến Cá (BìnhThảo), chợ Băng Bột (ở tổng Bình Chánh)…, miệt dưới có chợ Bà Lị (Bà Rịa xưa) haychợ Bình Quý (ở huyện Bình An) và các quán Bình Đàng, Bình Đán… Ngoài ra, do giaothông chủ yếu lúc bấy giờ là đường thủy nên nhiều chợ ven sông nhanh chóng phát triểnmạnh mẽ và đóng vai trò đầu tàu trong trao đổi hàng hóa như chợ Xóm Chiếu (Cù LaoPhố), chợ Lộc Dã hay chợ Đồng Nai (Thôn Tân Lân), chợ Bến Gỗ (Thôn An Hòa), chợĐồng Môn (Thôn Phước Thiền), chợ Đồn (thôn Bình Long)…Có lẽ, hàng hóa xuất khẩuchủ yếu ở thương cảng này là lúa gạo Hoạt động mua bán ở Cù Lao Phố là thu gom hànghóa để cung cấp cho thị trường Các thương nhân ở đây mua những gì, ở đâu thì trong các
thư tịch cổ không thấy ghi chép cụ thể Thế nhưng, “Theo lời của Trùm Chân trong Phủ Biên tạp lục thì họ thu mua lúa gạo từ các nơi Thứ hai, các thuyền buôn nhất là thuyền buôn Bồ Đà (Java) mua cau, các loại dược thảo, lâm sản, măng khô, ngà voi, sừng tê giác, da tê giác, gân nai, da rái, thịt voi khô, da trâu…Thứ ba, ghe thuyền thương buôn trong xứ ta và nước ngoài có thể mua các thứ mà ở Đồng Nai sản xuất nhiều như đường, sắt, đá ong, lãnh là, vải, lụa…”[20;357].
Trang 34Mặt hàng thứ hai sau lúa gạo là các loại lâm thổ sản Rừng vùng đất Biên Hòa Đồng Nai có nhiều loại gỗ quý dùng để đóng tàu thuyền, dựng nhà cửa, đình, chùa, miếumạo… và cũng là một mặt hàng trao đổi hàng hóa tại thương cảng Cù Lao Phố mà Lê
-Quý Đôn ghi nhận trong Phủ Biên tạp lục “Gia Định sản xuất nhiều gỗ tốt Tra xét sổ sách
của cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên kê biên hai xứ là nguồn Đồng Môn cùng thủ Quang Hóathuộc huyện Phước Long có các thứ gỗ sao, trắc, dầu, giáng hương, gụ”[20;237] Bêncạnh gỗ, còn có nhiều loại hàng hóa lâm sản quý hiếm khác như ngà voi, sừng tê, tê tê,…các loài dược thảo quý, sáp ong, mật ong là những sản phẩm được các thương lái ưachuộng Ngoài ra, còn có các mặt hàng nông phẩm khác như đường mía, bông vải,chuối…; các loài hải sản như tôm, cua, cá…; hàng thủ công mỹ nghệ như đồ gốm, dệtchiếu, đá…là những sản phẩm xuất khẩu khá phổ biến ở thương cảng Cù Lao Phố
Theo luận văn Thạc sĩ của tác giả Trịnh Thị Mai Linh nghiên cứu về người Hoa
Đồng Nai cho rằng: “Người Hoa khi mới bước chân đến đất Đồng Nai, là nghĩ ngay đến vấn đề thương nghiệp và phát triển thương nghiệp ở vùng đất mới Thương cảng Cù Lao Phố nổi tiếng sầm uất một thời cũng là do giao thương được với nước ngoài, mà vai trò trong hoạt động thương mại của người Hoa ở Đồng Nai lúc bấy giờ là không thể phủ nhận Họ không bỏ lỡ một cơ hội khai thác nào dù lớn, hay nhỏ mà họ nhìn thấy trên thương trường”[51;28] Với khả năng nhạy bén, lanh lợi trong buôn bán, người Hoa đã
xây dựng mạng lưới “chân rết” làm đại lý thu mua nguyên liệu, hàng hóa tại các chợ làng
xã, sau đó vận chuyển về Cù Lao Phố Một mạng lưới chợ chuyển tiếp hàng hóa hình
thành “như chợ Tân Bản (lúa gạo), Mỹ Khánh, Bình Long (hàng vạn bạc), Chợ Đồn (gốm, cát, đá ong), Tân Mai, Vĩnh Thanh, Bình Trước, Bình Phước (lúa gạo), Đồng Bản, Thủ Đồn Xứ (gỗ quí, thú rừng), Bình Sơn (đá rửa dùng tô nhà), Phú Hội (xuất trà), An Lợi (xuất sầu riêng), Long Tân (chuối), Phước An (cá Buôi, sò huyết), Phước Khánh (lúa gạo thơm), Tam An (tôm càng), Bến Cá (tôm cá), Bến Gỗ (gỗ), Hội Bài (cá), Long Phước (chuối, xoài)”[39;85]
Với sự cung cấp các loại sản phẩm hàng hóa dồi dào, Cù Lao Phố thu hút nhiềuthương nhân đến cảng Cù Lao Phố Họ mua hàng, rồi tập kết chúng lại đủ số lượng Thờigian hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân có thể diễn ra vài ba ngày Quy trìnhhoạt động mua bán của thương nhân ở đây khá chặt chẽ, khép kín, uy tín bởi vì giữa
người mua và người bán có một quy ước khá rõ ràng “…chủ thuyền có yêu cầu mua giúp
Trang 35vật gì thì người buôn ấy cũng chiếu y ước đơn mua giùm chở đến trước kì giao hẹn, hai bên chủ khách chiếu tính hóa đơn thanh toán rồi cùng nhau đàn ca vui chơi…”[22;29] Bởi vì, “Hoạt động thương mại Cù Lao Phố trong giai đoạn này gồm 2 việc: nhập hàng hóa, “mua bao tất cả những hàng hóa tốt xấu, không bỏ sót thứ gì” để bán ra khắp xứ từ miệt dưới Mỗi Xuy, Nhà Bè bao gồm cả các địa phương ở huyện Tân Bình, lên miệt trên bao gồm cả hữu ngạn và tả ngạn sông Đồng Nai, vùng trung lưu thậm chí bán ra cho các man sách, các dân tộc ít người ở thượng nguồn sông Đồng Nai”[39;88].
Hàng hóa nhập khẩu của cảng Cù Lao Phố để phân phối đi các chợ trong vùng phổbiến là đồ sứ Trung Quốc, tơ lụa, vải, thuốc Bắc; các loại dược phẩm, đồng để đúcchuông, gạch ngói để xây dựng chùa chiền, miếu mạo và các loại khác như nhang đèn,giấy tiền, vàng bạc…phục vụ tâm linh cho đời sống tinh thần của nhân dân Với các hoạtđộng trao đổi hàng hóa hai chiều của thương cảng Cù Lao Phố đã tạo điều kiện thuận lợicho sự giao thoa hàng hóa giữa các vùng miền với nhau Nhân tố trung gian thúc đẩy sựgiao lưu hàng hóa đó là hệ thống chợ được hình thành từ nhu cầu dân cư trên địa bànvùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Ngược lại, qua hoạt động của thương cảng Cù Lao Phố
đã kích thích cho hệ thống chợ phát triển mạnh mẽ, góp phần phát triển kinh tế - xã hộivùng đất Biên Hòa – Đồng Nai một thời Tuy nhiên, sau phong trào Tây Sơn thì thươngcảng Cù Lao Phố ngày một trở nên hoang phế “…Từ đấy, chỗ này biến thành gò hoang;sau khi trung hưng, người ta tuy có trở về, nhưng dân số không được một phần trăm lúctrước”[25;114] Sự suy tàn của thương cảng Cù Lao Phố do biến động của thời cuộc lúcbấy giờ cũng đã ít nhiều tác động đến hoạt động thương nghiệp vùng đất Biên Hòa- ĐồngNai trong đó có hệ thống chợ Thời hoàng kim của Cù lao Phố kéo dài hơn 90 năm mớidần đánh mất vai trò trung tâm thương mại của Đàng Trong, thay vào đó là Chợ Lớn và
Mỹ Tho
Tóm lại, thương cảng Cù Lao Phố tồn tại non trăm năm nhưng đã để lại nhiều dấu ấnđẹp đẽ trong hoạt động thương mại lẫy lừng một thời ở vùng đất phương Nam Thươngcảng Cù Lao Phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống chợ phát triển vùng đất BiênHòa – Đồng Nai thuở ban đầu mới khai phá Với vị trí thuận lợi, thương cảng Cù Lao Phố
là nơi tiếp nhận và xuất khẩu nhiều loại sản phẩm hàng hóa nông ngiệp, thủ công nghiệp,thủy sản, thổ sản…được chuyển đến từ các chợ trong vùng Hàng hóa từ thương cảng CùLao Phố, qua hệ thống “chân rết” của các chợ rồi tỏa đi các ngỏ ngách của làng xóm
Trang 36nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân Như vậy, thương cảng Cù Lao Phố đã giữ một vaitrò rất quan trọng cho sự phát triển, mở rộng hệ thống chợ của vùng đất Biên Hòa - ĐồngNai.
1.2.3 Chợ trấn
Năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, huyệnPhước Long thuộc dinh Trấn Biên được nâng lên thành phủ Phước Long, các tổng đượcnâng lên thành huyện Trấn Biên Hòa (1808 - 1832) hay tỉnh Biên Hòa (1832 – 1861), cóđịa giới hành chính hết sức rộng, bao gồm vùng đất các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - VũngTàu, Bình Phước, một phần tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, vớitổng diện tích lên đến trên 17.000 km² Mặc dù, qua nhiều lần thay đổi tên gọi đơn vịhành chính từ dinh Trấn Biên, trấn Biên Hòa, tỉnh Biên Hòa thì Biên Hòa vẫn giữ vai trò
là trấn lỵ của cả vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai
Ban đầu khi mới thành lập, lỵ sở dinh Trấn Biên đặt tại thôn Phước Lư, huyện PhướcChánh nhưng sau đó đã dời về tọa lạc tại thôn Tân Lân, làng Bình Trước Sự di dời lỵ sở
đơn vị hành chính đó được Trịnh Hoài Đức lý giải và mô tả: “Lỵ sở trấn Biên Bòa khi xưa đặt ở địa phận thôn Phước Lư, huyện Phước Chánh, đất ẩm thấp hằng có nạn lụt Năm Gia Long 15 (1816) dời qua gò cao thôn Tân Lân, hoạch định ra thành sở, ngang dọc đều
20 tầm, trong chia làm đường chữ tỉnh, giữa dựng vọng - cung, 2 bên tả hữu có lầu chuông trống, chỗ chính giữa sau vọng - cung làm 3 công - dinh, rộng 80 tầm, mà chia ra làm 3 phần, duy có dinh giữa rộng thêm 5 tầm, dài 60 tầm, 2 con đường tả hữu đều 7 tầm, chu vi xây tường gạch, phía sau làm dãy kho chứa 31 gian, lợp ngói xây gạch dày chắc, 2 bên tả hữu làm thừa - ty và quân trại, có chia khu vực chỉnh tề” [25;103] Như
vậy, sau khi nhà Nguyễn thành lập, vua Gia Long muốn tăng cường sự quản lý của nhànước từ Trung ương đến địa phương bằng việc cơ cấu lại đơn vị hành chính mà Biên Hòa
là một ví dụ Cũng qua sự mô tả sở lỵ mới trấn Biên Hòa của Trịnh Hoài Đức, chứng tỏchính quyền nhà Nguyễn đã chọn thôn Tân Lân xây dựng thành trung tâm hành chính,kinh tế của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Sự hình thành trung tâm lỵ sở dẫn đến sự tậptrung đông đảo dân cư xung quanh và phố thị từng bước được hình thành Vì từ cuối thế
kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, dân cư vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai tăng lên nhanhchóng đặc biệt là các trung tâm hành chính mà lỵ sở thôn Tân Lân không là ngoại lệ.Theo địa chí Đồng Nai “năm 1769 có khoảng 40.000 dân đến năm 1819 có khoảng
Trang 37485.500 dân”[61;144] Như vậy, trong vòng 50 năm dân cư đã tăng lên 445.500 người,trong đó người Hoa có lẽ là không ít và họ tập trung chủ yếu gần trung tâm hành chính,nơi thuận lợi cho hoạt động buôn bán để phát huy khả năng vốn có của họ Theo địa chítỉnh Biên Hòa năm 1923: “Dần dà làng Bàn Lân trở thành trung tâm buôn bán quan trọng,tàu buôn các nước tích cực lui tới, ngược dòng sông Đồng Nai để giao thương và trao đổihàng hóa”[98;41]
Đối với trấn lỵ Biên Hòa, sau khi thành lập đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tếcủa vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Khi có trấn, có dân thì nhu cầu hoạt động trao đổihàng hóa tất yếu diễn ra và một ngành nghề mới phi nông nghiệp hình thành đó là thươngnghiệp Những người hoạt động thương nghiệp đã thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp, họtập trung buôn bán ở các tụ điểm thuận lợi, thế là chợ trấn Biên Hòa hình thành Vì vậy,
mà xung quanh trấn Biên Hòa có một hệ thống chợ hoạt động rất nhộn nhịp chi phối đờisống vật chất, tinh thần cho toàn vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai như chợ Dinh ở thôn TânLân, chợ Đồn, chợ Chiếu, chợ Bến Cá, chợ Đồng Ván, chợ Bến Gỗ…mà trong đó chợDinh giữ vai trò nòng cốt
Điều kiện tự nhiên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai có nhiều tố chất tạo ra sản phẩmhàng hóa đáp ứng nhu cầu tại chỗ cho con người và góp phần giao dịch với nhiều nơikhác Hoạt động giao dịch hàng hóa được diễn ra ở nhiều chợ trên vùng đất Biên Hòa -Đồng Nai, trong đó chợ Trấn giữ vai trò nòng cốt Theo ghi nhận của địa chí Đồng Nai,
hàng hóa nơi này có thể giao dịch mua bán ở chợ rất phong phú: “Trấn Biên Hòa có nhiều mỏ đá ong dùng để xây vách tường, sân hè, cừ sông và phần mộ kiên cố không thua
gì đá núi Muối trắng sản xuất ở vùng Vũng Dương thuộc huyện Phước An giá rất rẻ, 100 cân giá 1 tiền kẽm Các loại vải, lãnh, là nơi nào cũng có, duy ở huyện Phước An có lãnh đen mềm láng là tốt đệ nhất trong cả nước Rượu ở Thạch Than (Biên Hòa) ngon hơn nhiều nơi khác, thuở ấy ghe tàu thường mua chở về kinh đô làm quà tặng, hảo danh là rượu Đồng Nai Giấy bản ở huyện Phước An, thuốc lào ở huyện Long Thành, lá buông ở huyện Phước Bình, vỏ gai và thuộc nhựa trám ở huyện Long Khánh, sáp và mật ong ở các sóc người dân tộc, đệm buồm ở các huyện Nghĩa An và Long Khánh…Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ: đồ vàng bạc, đồ gốm, chiếu…Các lâm sản: nhung hưu, sừng tê, trầm hương, kỳ nam, dược liệu, ngà voi…”[61;211]
Trang 38Chợ Dinh là chợ của trấn Biên Hòa Chợ này có nhiều tên gọi khác nhau mà theoĐại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn thì “Chợ Lộc Dã ở phía Nam hạlưu sông Phước Long, huyện Phước Chánh, nguyên xưa kia là cánh đồng hươu nai ở nênđặt tên ấy, hoặc gọi là Lộc Động, tục danh chợ Đồng Nai cũng là ở chỗ này”[73;1651].Như vậy, chợ Dinh, chợ Lộc Dã, chợ Lộc Động, chợ Đồng Nai là một
Đối với hoạt động thương nhiệp ở chợ trấn thì thường diễn ra trên quy mô lớn vớivai trò của một chợ trung tâm giao lưu hàng hóa chi phối hoàn toàn các hoạt động buônbán của hệ thống chợ vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Sự hình thành và phát triển chợDinh hay chợ Biên Hòa gắn liền với sự mở mang vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Đối vớichợ Việt Nam có lẽ được hình thành từ thời lập quốc Trong tâm thức người dân Việt, chợViệt Nam không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, sản phẩm trong cộng đồng và giữa các cộngđồng người Việt với nhau mà chợ gắn liền với tiến trình của lịch sử dân tộc, mang đậmdấu ấn văn hóa đặc sắc Đã có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói lên hình ảnh, vẻ đẹp, bảnchất của chợ đối với tâm hồn người Việt như:
“Anh về hái đậu trẩy cà
Để em đi chợ kẻo mà lỡ phiên…”
Đảm nhận chủ yếu trong hoạt động thương nghiệp bấy giờ là phụ nữ, với quan niệmphong kiến, phụ nữ ngoài thiên chức sinh con, nuôi dạy con cái, còn phải tề gia, nội trợ,chạy chợ, thêu thùa, giặt giũ và đảm đang mọi mặt trong gia đình Còn người đàn ôngtheo quan niệm phong kiến lúc bấy giờ là có nhiệm vụ xã hội như việc làng, việc họchành, đi phu, đi lính, làm quan, làm thầy giáo…Sự phân công nghề nghiệp một cách tựnhiên theo nhu cầu phát triển của xã hội theo giới tính đã phần nào làm cho thươngnghiệp với vai trò đảm nhận là phụ nữ trong vòng phụ thuộc và nhỏ bé, nhưng cũng chínhnhờ sự năng động của thương nghiệp đã thành bài học dạy cho phụ nữ ngày một khônngoan, lanh lợi, tháo vát, đảm đang…và trở thành tiêu chí chọn vợ cho trai tráng:
“Trai khôn chọn vợ chợ đông Gái khôn tìm chồng ở chốn ba quân” hay
“Đi một bữa chợ, học một mớ khôn”
Hình ảnh của chợ Dinh hay chợ Biên Hòa của trấn Biên Hòa cũng sớm đi vào cadao, tục ngữ với sắc thái riêng của địa phương Khi mô tả sự nhộn nhịp, tấp nập kẻ mua,
người bán ở chợ Dinh trấn Biên Hòa có câu: “Đố anh con rết mấy chân/ Cầu ô mấy nhip/
Trang 39Chợ Dinh mấy người” Hay khi nói đến sự đa dạng về hàng hóa, trao đổi ở chợ Đồng Nai
như một lời mời gọi mọi người đến mua bán, thưởng ngoạn cảnh sinh hoạt rộn ràng của
chợ trấn Biên Hòa: “Chị hưu đi chợ Đồng Nai/ Ghé qua Bến Nghé còn nhai thịt bò…”.
Chợ như một lăng kính phản ánh sự sinh hoạt, các đặc trưng sản phẩm của mỗi vùng đất,
là nét riêng tính cách con người nơi phố chợ, mà chợ trấn Biên Hòa như một tổng thể điểnhình bằng hình ảnh:
“Sáng mai đi chợ Biên Hòa Mua một vuông vải ta Đem về cho con Hai nó cắt…”
“Biên Hòa có bưởi Thanh Trà Thủ Ðức nem nướng, Ðiện Bà Tây Ninh”… (Ca dao Đồng Nai)
Có rất nhiều loại sản phẩm hàng hóa được giao dịch tại thương cảng Cù Lao Phố nóiriêng và tại nhiều chợ của trấn Biên Hòa nói chung, trong đó lúa gạo là mặt hàng chủ yếu.Với điều kiện tự nhiên thuận lợi nên nghề trồng lúa ở vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai pháttriển mạnh Lúa gạo ở Đồng Nai nhiều và giá rẻ “một tiền (60 đồng) đong được 16 đấuthóc Cứ lường theo bát được gạt bằng miệng mà dân địa phương thường dùng thì ba bát
ấy ngang với 30 bát của nhà nước Một quan tiền đong được 300 bát đồng của nhà nước(tức bát định chuẩn) Giá rẻ như vậy, các nơi khác chưa từng có”[19;233] Qua đó, chothấy tiền là phương tiện chủ yếu trong hoạt động mua bán hàng hóa, không còn hình thứctrao đổi hàng hóa vật đổi vật, và một nền kinh tế thương nghiệp hàng hóa theo hướng tưbản sớm hình thành ở trấn Biên Hòa
Sự phát triển mạnh mẽ sản xuất đã từng bước làm cho nhiều ngành nghề chuyểnsang chuyên môn hóa ở vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, và việc trao đổi hàng hóa, buônbán đã sớm trở thành một hoạt động kinh tế sôi nổi ở chợ trấn Biên Hòa Một thươngnhân tên là Trùm Châm đã từng buôn gạo ở Gia Định (bao gồm cả Biên Hòa - Đồng Nai)với hơn 10 chuyến đi đã kể lại với Lê Quý Đôn về cách thức buôn gạo, làm cá khô để bán
của cư dân ở đây như sau: “Khi đến địa giới Gia Định, xứ Vũng Tàu là xứ hải đảo có cơ dân thì thu buồm nghỉ ngơi một chút, hỏi thăm nơi nào được mùa, nơi nào mất mùa, biết
rõ nơi nào được mùa mới đến Trước vào cửa Cần Giờ, rồi vào cửa Soài Rạp, cuối cùng vào cửa Đại, cửa Tiểu Đến nơi nào cũng thấy buồm đầy bến Khi đã mặc cả thành giá thì người bán tự sai người nhà chuyển thóc xuống thuyền cho Một tiền sổ (60 đồng) mua
Trang 40được 16 đấu thóc, mỗi đấu bằng 3 bát ngang miệng của hộ phiên, tức là 30 bát quan, tính
ra một quan tiền đong được 300 bát quan thóc Không có nơi nào giá thóc rẻ như thế Ở
đó, gạo nếp, gạo tẻ đều trắng dẻo, cá tôm to và béo không thể ăn hết nên dân thường luộc
chín phơi khô để bán”[19; tờ 90a, 90b]
Bên cạnh canh tác trồng lúa là chính, người Việt còn quan tâm đến việc trồng cácloại hoa màu khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình như khoai, đậu, bắp, mè, bông,dâu, mía, chuối, đu đủ…và nhiều rau cải khác Các loại cây, rau, củ, quả này thường đượctrồng trên các gò cao ráo thuận lợi cho sự sinh trưởng của chúng Các mặt hàng rau, củ,quả này sau khi thu hoạch được đem ra các chợ để bán mà chợ trấn Biên Hòa là nơi tiêuthụ nhiều nhất
Mía là loại cây được trồng khá nhiều vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai nên Trịnh HoàiĐức viết: “Vùng trồng mía nổi tiếng lúc bấy giờ là huyện Phước Chánh, tỉnh BiênHòa”[74;tờ 82] Qua đó, chứng tỏ vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã có truyền thống trồngmía ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XVII, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề thủ cônglàm đường ra đời sau đó, và sản phẩm đường được giao dịch ở nhiều chợ mà chợ BiênHòa không ngoại lệ
Ngoài việc làm ruộng, trồng hoa màu, những lưu dân Việt trong quá trình khẩnhoang còn chú ý đến việc lập vườn, chăn nuôi Vì một hình ảnh khá quen thuộc đối với cưdân Việt là “trên vườn dưới ruộng” hay “trước vườn sau ruộng”, “trên heo dưới cá”, “trên
gà dưới vịt” Với tập quán truyền thống lâu đời, người Việt sau khi khai hoang làm ruộngthì họ chọn một khu đất khá cao bên cạnh mảnh ruộng để làm vườn, chăn nuôi vừa tạocảnh mát mẻ, đầm ấm, vừa có hoa quả, thực phẩm ăn hàng ngày cũng như để cúng tế ông
bà tổ tiên, thần nông đầu mùa hạt, sau mùa gặt, các dịp lễ tết, ma chay, …Ngoài đáp ứngnhu cầu tại gia, các bà nội trợ thường đem những hàng hóa dư thừa đó ra các chợ trong đó
có chợ trấn Biên Hòa để bán và mua những nhu yếu phẩm cần thiết
Vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai vốn dồi dào các nguyên vật liệu từ tự nhiên để pháttriển các ngành nghề thủ công truyền thống Vì thế, bên cạnh việc phát triển sản xuấtnông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, những lưu dân Việt chú ý đến các nghề thủ công nhưlàm mộc, gốm, gạch ngói, nung vôi, dệt chiếu, dệt vải, đúc đồng, làm đá, rèn sắt, làmgiấy, làm chum, làm đồ đi ngựa, làm vật dụng bằng đồi mồi, chạm bạc, làm lọng, làmgiày, làm nón,… Ban đầu, người nông dân tranh thủ lúc nông nhàn làm thêm nghề thủ