Trong thập niênđầu tiên của thế kỉ XXI, Liên bang Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống V.Putin và Tổng thống D.Medvedev đã thực hiện một cuộc cải cách toàn diện,đạt được những thành tự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
VÕ THỊ HẠNH
CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA LIÊN BANG
NGA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Nghệ An - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
VÕ THỊ HẠNH
CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA
LIÊN BANG NGA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: Những nhân tố tác động đến chính trị, kinh tế,
xã hội ở Liên bang Nga từ 2008 đến 2012
Chương 2: Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Liên bang
Nga dưới thời Tổng thống D Medvedev từ 2008 đến 2012
2.2.2.Chính sách đối phó với khủng hoảng của Chính phủ Nga 61
2.2.3 Một số thành tựu khởi sắc của kinh tế Nga giai đoạn
2008 – 2012
69
2.3 Xã hội Liên bang Nga từ 2008 đến 2012 76
Chương 3:Một số nhận xét về tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội của Liên bang Nga từ 2008 đên 2012
87
3.1 Một số nhận xét về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Liên
bang Nga (2008 – 2012)
87
3.2 Những thuận lợi, thách thức và triển vọng quá trình phát triển
chính trị, kinh tế, xã hội ở Liên Bang Nga hiện nay
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: Những nhân tố tác động đến chính trị, kinh tế,
xã hội ở Liên bang Nga từ 2008 đến 2012
Trang 51.2.3.Tình hình xã hội 261.3 Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga từ 2008 đến 2012 và
Chương 2: Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Liên bang
Nga dưới thời Tổng thống D Medvedev từ 2008 đến 2012
2.2.2.Chính sách đối phó với khủng hoảng của Chính phủ Nga 60
2.2.3 Một số thành tựu khởi sắc của kinh tế Nga giai đoạn
2008 – 2012
68
2.3 Xã hội Liên bang Nga từ 2008 đến 2012 75
Chương 3:Một số nhận xét về tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội của Liên bang Nga từ 2008 đên 2012
86
3.1 Một số nhận xét về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Liên
bang Nga (2008 – 2012)
86
3.2 Những thuận lợi, thách thức và triển vọng quá trình phát triển
chính trị, kinh tế, xã hội ở Liên Bang Nga hiện nay
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Kết thúc chiến tranh lạnh, trật tự hai cực Ianta sụp đổ, thế giới bước vàothời kỳ quá độ hình thành một trật tự thế giới mới Xu thế thiết lập một trật tựđơn cực của Mỹ và xu thế vận động hình thành trật tự thế giới đa cực của cáccường quốc tạo nên sự phức tạp trong quan hệ quốc tế giai đoạn này
Trong xu thế vận động chung ấy, Liên bang Nga với tư cách là quốc gia
kế thừa di sản của Liên Xô đang từng bước khôi phục, tìm kiếm lại vị thế củamột cường quốc trong trật tự thế giới mới đang hình thành Trong thập niênđầu tiên của thế kỉ XXI, Liên bang Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống V.Putin và Tổng thống D.Medvedev đã thực hiện một cuộc cải cách toàn diện,đạt được những thành tựu lớn về chính trị, kinh tế, xã hội, tăng cường hộinhập với khu vực và thế giới Nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, xã hộinước Nga dưới thời D.Medvedev để có cái nhìn tổng quan về sự chuyển mìnhcủa một cường quốc “tưởng như đã ngủ quên” này có ý nghĩa khoa học vàthực tiễn sâu sắc
Trang 7Một trong những đặc điểm đặc trưng về nước Nga đầu thế kỷ XXI là quátrình điều hành đất nước mang tính chuyển vế của cơ cấu chính trị “bộ đôiquyền lực V Putin - D.Medvedev” Nghiên cứu tình tình kinh tế, chính trị, xãhội Liên bang Nga nhiệm kỳ D.Medvedev làm tổng thống, V Putin làm thủtướng (2008 - 2012) nhằm hiểu rõ hơn sự thống nhất về đường lối cải cách của
bộ đôi quyền lực này
Mặc dù mục tiêu của quá trình chuyển đổi, xây dựng, phát triển đất nướccủa Việt Nam và Liên bang Nga không giống nhau, song cả hai đều có điểmchung là muốn đưa đất nước thoát khỏi sự khủng hoảng, trì trệ vốn là hậu quảcủa quá trình xây dựng CNXH còn nhiều thiếu sót, hạn chế Việc nghiên cứutình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Liên bang Nga từ 2008 đến 2012 , rút ranhững bài học kinh nghiệm sẽ có ý nghĩa thực tiễn không nhỏ đối với cácquốc gia đang trong quá trình chuyển đổi, trong đó có Việt Nam
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi mạnh dạn chọn
vấn đề: “Chính trị, kinh tế, xã hội của Liên bang Nga từ năm 2008 đến năm
2012” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Nghiên cứu về nước Nga sau chiến tranh lạnh đã được nhiều học giả quantâm, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
Công trình Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỉ XXI của tác giả
Nguyễn An Hà, NXB Khoa học xã hội (2011) đã tập trung nghiên cứu một sốvấn đề chính trị và kinh tế nổi bật của Liên bang Nga trong hai thập niên đầuthế kỉ XXI, dự báo về xu thế vận động cũng như giải quyết các vấn đề chínhtrị và kinh tế chủ yếu của Liên bang Nga tới năm 2020, đánh giá những tácđộng của Liên bang Nga tới thế giới, khu vực và Việt Nam, đưa ra nhữngkhuyến nghị nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác chiến lược Việt Nam – Liênbang Nga giai đoạn 2011 – 2020 Đây là một công trình có giá trị về tư liệu,phương pháp đánh giá về Liên bang Nga Nước Nga giai đoạn 2008 – 2012được trình bày tương đối sơ lược, khái quát do quá trình biên soạn kết thúcvào giữa năm 2011
Trang 8Bên cạnh công trình này, TS Nguyễn An Hà còn có một loạt các bài viếttrên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu liên quan trực tiếp đến tình hình Liên bang
Nga như: Kinh tế Nga với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu; Sự trỗi dậy của
nước Nga trong bối cảnh mới; Khủng hoàng tài chính và những tác động tới Liên bang Nga; Quan hệ thương mại của Liên bang Nga với một số nước APEC; Những động thái mới trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga; Điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế của Liên bang Nga sau khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu… Các bài biết này cũng đã trình bày nhiều khía
cạnh tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Liên bang Nga ở nhiều mức độ khácnhau, cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho quá trình nghiên cứu đề tài này
Cuốn sách Medvedev & V Putin – Bộ đôi quyền lực của học giả Hình
Quảng Trình, Trương Kiến Quốc (Chủ biên) đề cập đến sự thay đổi mang tínhđột ngột, bí mật và khó dự đoán cục diện chính trị Nga V Putin và Medvedev
đã có các chính sách sắp xếp chính trị mang tính chiến lược nhằm đảm bảotính ổn định của quyền lực tối cao của nước Nga, tạo điều kiện ổn định tươngđối cho quá trình thực thi các biện pháp cải cách toàn diện nước Nga Côngtrình có giá trị trong việc mô tả quá trình chuyển giao quyền lực, hình thànhnên cơ cấu đặc thù bộ đôi quyền lực năm 2008
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Sâm trong công trình “Quá trình phát triển
kinh tế - xã hội ở Liên bang Nga (1992 – 2004)” đã chỉ ra bối cảnh quốc tế và
trong nước của Liên bang Nga thời kì hậu Xô viết (1992 – 1999), quá trìnhphát triển kinh tế ở Nga từ 2000 đến 2004, đánh giá về quá trình phát triển,triển vọng, thách thức và bài học kinh nghiệm… Công trình cung cấp nguồn
tư liệu quan trọng cho việc phân tích nhân tố lịch sử tác động đến tình hìnhLiên bang Nga thời kỳ 2008 – 2012
Bài viết của Trần Anh Phương trên Tạp chí Cộng sản với nhan đề
“Nước Nga Xô Viết từ hôm ấy đến hôm nay” đã đề cập đến nước Nga qua các
giai đoạn: Từ nước Nga Xô - viết của Lê-nin đến Liên Xô – Thành trì của hệ
thống XHCN thế giới, Nước Nga khủng hoảng - hậu Liên Xô cũ đến nướcNga trước thời Tổng thống V Pu-tin, Nước Nga hôm nay dưới thời Tổngthống D Medvedev để có cái nhìn xuyên suốt lịch sử phát triển của nước Nga
Trang 9Nhiều bài viết của các tác giả khác nhau trên các Tạp chí Nghiên cứuchâu Âu, Tạp chí cộng sản… đã đề cập đến tình hình cụ thể của nước Nga khikết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống D Medvedev góc nhìn đa chiều từ quá khứđến hiện tại và dự báo tương lai Ngoài ra có nhiều tài liệu tham khảo đặc biệt
như: “Nước Nga mới dưới thời V Putin” ngày 11/02/2008, (TTXVN) ngày 17/02/2008; Phát biểu của Tổng thống V Putin ngày 8/02/2008 “Về chiến
lược phát triển nước Nga đến năm 2020”; “Một số ưu tiên của ứng cử viên Tổng thống D Medvedev”…đề cập đến chiến lược phát triển đất nước của
Liên bang Nga trong giai đoạn xác định
Nhìn chung, nhiệm kỳ của Tổng thống D Medvedev vừa kết thúc,những thành tựu của Liên bang Nga từ 2008 đến 2012 cơ bản mới chỉ đượcnhìn nhận trên cơ sở thực trạng Các công trình nghiên cứu đã có những đánhgiá ban đầu về nhiệm kỳ này ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, tạo dựngmột bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Liên bang Ngagiai đoạn này là một vấn đề còn mới mẻ, cần được quan tâm nghiên cứu
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về đối tượng nghiên cứu, luận văn xác định đối tượng là tình hình chínhtrị, kinh tế, xã hội của Liên bang Nga từ 2008 đến 2012
Về thời gian, luận văn nghiên cứu nhiệm kỳ của Tổng thống D.Medvedev từ khi chính thức nắm quyền tháng 5/2008 đến khi kết thúc nhiệm
kỳ và chuyển giao quyền lực cho Tổng thống V Putin tháng 4/2012
Về nội dung, luận văn tập trung phục dựng bức tranh toàn cảnh về chínhtrị, kinh tế xã hội của Liên bang Nga 2008 - 2012 Để đảm bảo tính kháchquan và logic, đề tài có đề cập những nhân tố tác động đến chính trị, kinh tế,
xã hội Liên bang Nga trong giai đoạn xác định, đồng thời trình bày đặc trưng,triển vọng và tác động của chình trị, kinh tế xã hội nước Nga đối với tình hìnhchính trị, vị thế quốc tế và khu vực của nước Nga giai đoạn này
Ngoài đối tượng, giới hạn nêu trên, những vấn đề khác không thuộcphạm vi nghiên cứu của đề tài
4.Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 104.1 Nguồn tài liệu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở các nguồn tài liệu tin cậy đã đượccông bố trong và ngoài nước:
- Các Thông điệp liên bang, diễn văn, bài phát biểu của lãnh đạo cấp caoLiên bang Nga như V Putin, D.Medvedev… ,các văn kiện về đường lối pháttriển kinh tế xã hội, các chỉ số phát triển của Liên bang Nga
- Các công trình nghiên cứu của các học giả đã công bố thành sáchchuyên khảo, các bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành ở Việt Nam như
Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Quốc tế ….; tài
liệu tham khảo đặc biệt, tài liệu dịch ở Thông tấn xã Việt Nam
4.2.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác– Lênin
Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, luận văn sử dụng các phươngpháp nghiên cứu lịch sử, chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp vớiphương pháp lôgic và các phương pháp bộ môn nhằm tái hiện một cách kháchquan, khoa học tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Liên bang Nga từ 2008 đến
2012 Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp liên ngành nhưtổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận… để giải quyếtnhững vấn đề khoa học đặt ra
Trang 11Chương 3: Một số nhận xét về tình hình chính trị, quá trình phát triển kinh tế
xã hội của Liên bang Nga từ 2008 đến 2012
Trang 12NỘI DUNG Chương 1:
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI
LIÊN BANG NGA TỪ 2008 ĐẾN 2012
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực:
Trong thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, thế giới đã trải qua nhữngbiến động lớn về chính trị, kinh tế và xã hội Đó là sự tan rã của hệ thống xãhội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chấm dứt thời kì đối đầu giữahai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa trong trật tự hai cực và chiếntranh lạnh Trật tự thế giới hai cực Liên Xô và Mĩ chấm dứt, Mĩ trở thành siêucường duy nhất với sức mạnh vượt trội cả về kinh tế, chính trị, quân sự trongthập niên cuối cùng của thế kỉ XX
Tuy nhiên bước sang thế kỉ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tếngày càng gia tăng, sức mạnh kinh tế của các quốc gia, khu vực đang ngày dầntrở thành yếu tố quyết định vị thế của họ trong cấu trúc quyền lực của thế giới
Sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga và Liên minh châu Âucùng với sự gia tăng chủ nghĩa đơn cực, bá quyền của Mĩ tạo nên một số điểmnóng căng thẳng trên bàn cờ chiến lược quốc tế Các cuộc chiến tranh cục bộ,xung đột vẫn còn xảy ra ở một số nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau Tuyvậy, hòa bình hợp tác và phát triển là xu thế chính, phổ biến của thế giới sauchiến tranh lạnh Cục diện thế giới đã và đang trải qua những thời điểm biếnđộng với sự nổi lên của các cường quốc với xu thế hình thành trật tự thế giới
đa cực ngày càng hiện rõ
Trong những năm đầu thế kỉ XXI sự vận động và phát triển của thế giớichịu tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố
Trước hết, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ với xu thế kháchquan đang lôi cuốn hầu hết tất cả các quốc gia vào vòng quay của nó Toàncầu hóa kinh tế với sự phổ biến nền kinh tế thị trường trên cấp độ toàn cầudiễn ra mạnh mẽ cùng với các quá trình tự do hóa kinh tế, tăng cường liên kếtkinh tế khu vực song phương và đa phương Nga cho rằng trong những năm
Trang 13gần đây thế giới đang thực sự thay đổi với sự gia tăng của toàn cầu hóa Quátrình toàn cầu hóa mặc dù có nhiều mâu thuẫn nhưng ngày càng mở rộng, cónhững tác động tích cực tới việc phân chia nguồn lực phát triển kinh tế mộtcách công bằng hơn, tạo ra nền tảng cho một kết cấu đa cực trong quan hệquốc tế Tính tập thể và luật pháp trong quan hệ quốc tế được tiếp tục củng cốtrên cơ sở thừa nhận những hiểm họa chung của nhân loại Trong nền chính trịthế giới, ý nghĩa của yếu tố năng lượng ngày càng gia tăng, vị thế của Liênbang Nga như một cường quốc năng lượng ngày càng được củng cố Mộtnước Nga mạnh hơn, tự tin hơn đã trở thành một nhân tố quan trọng trong sựchuyển biến của thế giới Môi trường cạnh tranh, sự cân bằng dần dần đượchồi phục kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc Mô hình phát triển, địnhhướng phát triển được quan niệm như thước đo của nền văn minh và đối tượnggây nên sự cạnh tranh, xung đột Những giá trị cơ bản của dân chủ và thịtrường được ghi nhận như những nền tảng của đời sống xã hội và đời sốngkinh tế, việc thực hiện chúng có nhiều cách thức phụ thuộc vào đặc thù lịch
sử, văn hóa của các dân tộc cũng như mức độ phát triển kinh tế xã hội của mỗiquốc gia Bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng có nhiều tiêu cựcnhư: sự lan rộng các không gian xung đột trong nền chính trị thế giới, sựxuống cấp trong việc giải trừ vũ khí cũng như kiểm soát vũ khí Bên cạnh đó,cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới phát triển nhanh, nền kinh tế thế giớiđang trong bước chuyển sang kinh tế tri thức và xu thế này không còn là vấn
đề riêng của các nước phát triển
Trong những năm gần đây, việc sử dụng vũ lực để giải quyết những vấn
đề về lợi ích chính trị, không tuân thủ luật lệ quốc tế có chiều hướng gia tăng.Sau sự kiện khủng bố 11/9/2001, nhân loại phải đương đầu với chủ nghĩakhủng bố, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, chủ nghĩa sắc tộc và chiến tranh likhai lan rộng cấp độ toàn cầu Dưới ngọn cờ đấu tranh chống khủng bố, Mỹphát động cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, âm mưu xây dựng thế giới đơncực, ép buộc các nước khác tuân thủ theo hệ thống chính trị và mô hình pháttriển của mình, phớt lờ các đặc thù lịch sử, văn hóa, khu vực và các đặc điểmphát triển ở các nước trên thế giới, tự do áp đặt và xâm phạm nguyên tắc quốc
Trang 14tế Một số nước liên kết với nhau tự cho mình một trách nhiệm mới trong lĩnhvực an ninh và giải trừ vũ khí, tác động tiêu cực làm chậm quá trình giải trừ vũkhí, trong khi một số các nước khác lại tăng cường vũ khí giết người hàngloạt, coi đây như là giải pháp đảm bảo an ninh cho mình Việc quân sự hóa cácquan hệ quốc tế đang tạo nên những đe dọa chia rẽ thế giới mới, thậm chí dẫntới xung đột giữa các nền văn minh Tình hình càng trở nên phức tạp hơn vì nóđang diễn ra trên mặt trận chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế đòi hỏi phải có
sự đối thoại giữa các nền văn hóa và văn minh
Bên cạnh đó, thế giới cũng trải qua các cuộc khủng hoảng về lươngthực, về năng lượng, nghèo đói và dịch bệnh diễn ra tràn lan cùng với sự giatăng về bất bình đẳng giàu nghèo Rõ ràng là nhân loại đang tiến đến giới hạncủa thời khắc cần phải suy nghĩ về kiến trúc một hệ thống an ninh toàn cầumới dựa trên sự cân đối lợi ích một cách sáng suốt của tất cả các chủ thể củacấu trúc đó Nga cần tạo ra những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho công cuộccải tổ bên trong, tác động tích cực tới sự phát triển của thế giới trước hết là vìchính lợi ích của nước Nga Nga quan niệm rằng trong những điều kiện nhưvậy vai trò và trách nhiệm của Nga trong công việc quốc tế ngày càng quantrọng Nga ủng hộ một trật tự thế giới đa cực cùng với những nỗ lực phát triểnkinh tế thị trường, tăng cường tiềm lực quốc phòng, Nga luôn phải điều chỉnhquan hệ chính trị đối ngoại, tăng cường đồng minh, tích cực hội nhập kinh tếthế giới để thực hiện những mục tiêu của mình
Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu diễn ra từ tháng 9/2008
đã tác động nặng nề đến kinh tế thế giới cũng như nước Nga Khủng hoảng từnguồn lương thực đến nhiên liệu, từ tài chính đến chính trị, từ môi trường đến
an ninh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại Từ đầu năm đếnhết tháng 5, khắp thế giới dường như chỉ tồn tại hai từ “lạm phát” Lạm pháttại những quốc gia thuộc khu vực sử dụng đồng Euro đạt mức cao kỷ lục tronglịch sử Tại châu Á, lạm phát đã lên tới 7,5% - gần bằng mức cao nhất trong 9năm qua và cao gấp hơn 2 lần so với mức 3,6% của một năm trước, mànguyên nhân chính là giá năng lượng và giá lương thực tăng cao Càng về cuối
Trang 15năm, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc “vỡ nợ” tín dụng bấtđộng sản càng chứng tỏ sức tàn phá ghê gớm của với hệ thống tài chính thếgiới Nước Mỹ chiếm tới 25% GDP của toàn cầu và một tỷ lệ lớn hơn trongcác giao dịch tài chính quốc tế, nên tác động của cuộc khủng hoảng ở Mỹkhông chỉ ở trong nước Mỹ mà còn vượt cả ra ngoài biên giới Mỹ, tác độngtới nhiều nền kinh tế khác trên thế giới Chính Mỹ rồi lần luợt đến Singapore,Nhật Bản, rồi đến các nước dùng đồng euro cùng tuyên bố suy thoái Một loạtcác nước phải tung ra những gói hỗ trợ kinh tế nhiều tỷ USD mà đỉnh điểm làhồi tháng 10, Cục dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Trung ương châu Âu và 4ngân hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất, nhằmgiảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từcuộc Đại suy thoái năm 1929 - 1933 [30].
Khủng hoảng xảy ra đặt ra những thách thức mới, những vấn đề mớibuộc tất cả các nước vừa phải hợp tác đối phó vừa phải có những điều chỉnhsâu sắc trong chiến lược phát triển của mình Khủng hoảng cũng làm trầmtrọng thêm những vấn đề kinh tế, chính trị của nước Nga, buộc nước Nga vừaphải có những biện pháp ngắn hạn ứng phó với khủng hoảng vừa phải cónhững điều chỉnh mạnh mẽ trong chiến lược phát triển lâu dài
Bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động to lớn đến các vấn đề chính trị
và kinh tế nổi bật của nước Nga trong những thập niên đầu thế kỉ XXI Trongbối cảnh đó, Liên bang Nga luôn luôn khẳng định rằng những thành tựu màNga đạt được phụ thuộc vào những yếu tố quốc tế và khu vực Nga chỉ có thểtồn tại và phát triển trong biên giới hiện nay của mình như một cường quốcnăng động, luôn thực thi các chính sách với mọi vấn đề đang hiện diện trên thếgiới trên cơ sở tính toán thực tế khả năng của mình Từ đầu năm 2008, Tổngthống D Medvedev lên nắm quyền, nước Nga về cơ bản vẫn tiếp tục chiếnlược phát triển này Nội lực của nước Nga là cơ sở để nước này vượt quathách thức, khẳng định vị trí cường quốc trong trật tự thế giới mới đang hìnhthành
Trang 161.2 Khái quát tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Liên bang Nga trước 2008
1.2.1 Tình hình chính trị:
Mục tiêu khôi phục vị thế trên trường quốc tế, lấy lại sự tự tin cho đấtnước luôn là khát vọng của nhân dân và giới lãnh đạo Liên bang Nga kể từ khiLiên Xô sụp đổ năm 1991 Bước sang thế kỉ XXI, mục tiêu này càng được chútrọng và có thể nói đã trở thành kim chỉ nam định hướng con đường phát triểncủa nước Nga Trong Thông điệp Liên bang năm 2003, Tổng thống V Putin
nhấn mạnh: “Nước Nga phải và sẽ trở thành một nước có xã hội công dân
phát triển và nền dân chủ bền vững Ở đó, quyền con người, tự do công dân
và chính trị được bảo đảm đầy đủ Nước Nga phải và sẽ trở thành một nước
có nền kinh tế thị trường có khả năng cạnh tranh, đất nước mà ở đó quyền sở hữu được bảo vệ một cách chắc chắn, các quyền tự do kinh tế cho phép con người làm việc…Nước Nga sẽ là một nước mạnh,có các lực lượng vũ trang hiện đại, được trang bị tốt và cơ động, sẵn sàng bảo vệ đất nước và các nước đồng minh, cũng như các lợi ích quốc gia của đất nước và công dân của nó… Lịch sử dân tộc đã cho thấy, chỉ khi nước Nga là một quốc gia hùng mạnh, nó mới có thể tồn tại và phát triển trong đường biên giới hiện tại”[ 42; tr 7] Theo
đó, nước Nga của thế kỉ XXI đã và đang tạo lập những cơ sở cần thiết, gồmsức mạnh chính trị, sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự và sức mạnh đốingoại để thực hiện mục tiêu tìm lại vị thế cường quốc thế giới của mình Với
sự cầm quyền của V Putin, đến năm 2008 nước Nga đã đạt được nhiều thànhtựu đáng kể
Sau khi nhậm chức ngày 31/12/2000, Tổng thống V Putin tiếp quảnmột di sản đổ nát từ thời Tổng thống Yelstin Đó là sự sụp đổ hệ thống chínhtrị cũ, hệ thống chính trị mới đang trong tình trạng mất ổn định nghiêm trọng.Quyền lực nhà nước dường như bị tê liệt, không thể đảm đương được các chứcnăng cơ bản và tối thiểu như điều hành đất nước, bảo vệ lợi ích nước Nga trênthế giới Các nhóm tài phiệt kiểm soát toàn bộ nền kinh tế và bộ máy chính trị
Tổng thống V Putin đã đánh giá thời kì này như sau: “Đất nước chúng ta thời
kì đó bị chia rẽ sâu sắc bởi những xung đột xã hội phức tạp, sự đối đầu giữa
Trang 17các đảng phái và hệ tư tưởng Chủ nghĩa li khai là mối đe dọa thực sự đối với
an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang Nga”[42; tr8].
Để khắc phục tình trạng trên, V Putin đặc biệt chú trọng tới việc khơi
dậy Chủ nghĩa Đại Nga, lấy đó làm nền tảng hệ tư tưởng mà dựa vào đó mà
người dân và giới lãnh đạo có thể đoàn kết, thống nhất, sát cánh bên nhau vượtqua khó khăn trước mắt, đồng thời chú trọng xây dựng một nhà nước Liênbang tinh gọn, trong sạch, hoạt động có hiệu quả Ưu tiên hàng đầu của Tổngthống V Putin là cải tổ hệ thống chính trị, chỉnh đốn và tăng cường quyền lựcnhà nước liên bang, cải cách hệ thống hành chính, hiện đại hóa hệ thống quản
lí nhà nước từ trung ương đến địa phương
Để củng cố quyền lực của nhà nước liên bang, khắc phục những chia rẽtrung ương và địa phương, sự bất tuân lệnh của chính quyền địa phương, Tổngthống V Putin đã thiết lập hệ thống quyền lực Liên bang theo chiều dọc, lãnhđạo trực tuyến Để vực dậy một đất nước gồm 89 chủ thể: 21 nước cộng hòa,
49 tỉnh, 6 vùng, 1 tỉnh tự trị, 10 khu tự trị, hai thành phố trực thuộc trung ươngđang đứng trước nguy cơ phân liệt, ngày 13/5/2000 Tổng thống V Putin banhành Sắc lệnh 849 yêu cầu các vùng, các lãnh thổ và các nước cộng hòa phảituân thủ các quyết định của Chính quyền liên bang Sắc lệnh chia lãnh thổquốc gia thành bảy khu liên bang: Khu trung tâm (Moskva), Khu Tây bắc(Saint – Petebourg), khu Bắc Kavkaz (Rostov na Don), Khu Vôn ga (Nijni –Novgorod), Khu Oural (Ekaterinbourg), Khu Siberi (Novossibirsk) và khuViễn Đông (Khabarovsk) Đứng đầu mỗi đại khu là một đại diện toàn quyềncủa Tổng thống, do Tổng thống bổ nhiệm Cải tổ Hội đồng Liên bang(Thượng viện) nhằm tăng cường quyền lực cho cơ quan lập pháp, bảo đảm sựđộc lập giữa hành pháp và lập pháp Chỉ hai ngày sau khi ban hành sắc lệnh
849, Tổng thống V Putin đã đưa ra dự luật cải tổ Hội đồng Liên bang Hộiđồng Liên bang gồm 178 thành viên, đại diện cho cơ quan lập pháp và hànhpháp của 89 chủ thể (mỗi chủ thể 2 đại biểu) và đa số họ đều là những ngườiđứng đầu các khu vực, các tỉnh trưởng, tổng thống của các nước cộng hòahoặc lãnh đạo nghị viện các khu vực Điều này đi ngược lại nguyên tắc phânquyền Do đó, Tổng thống V Putin đề nghị thành viên của các Hội đồng Liên
Trang 18bang do địa phương tiến cử, có chức vụ chuyên trách lâu dài, lãnh đạo các chủthể Liên bang sẽ thôi kiêm nhiệm chức vụ này [42; tr16].
Trước khi Tổng thống V Putin cầm quyền hệ thống chính trị đa đảngcủa Nga trong tình trạng đông về số lượng nhưng chất lượng không cao Năm
1998 ở nước Nga có tới hơn 3000 tổ chức chính trị - xã hội đăng kí hoạt độngtrong đó có 95 đảng và 154 phong trào chính trị Nhằm ổn định lại tình hìnhchính trị trong nước, Tổng thống V Putin chủ trương giảm bớt các đảng pháitrên lãnh thổ Nga, tiến tới chỉ có vài chính đảng với sự tăng cường quản lý củanhà nước, có nền tảng quần chúng cố định, xây dựng một hệ thống chính trị đađảng có hai hoặc ba đảng làm nòng cốt Tháng 7/2001, Tổng thống V Putin
đã phê chuẩn luật “chính đảng Liên bang Nga” Việc thông qua luật chínhđảng và sự thay đổi chế độ bầu cử Đuma Quốc gia làm cho tình hình các đảngphái Nga có sự thay đổi, dần dần hoàn thiện và đi vào ổn định, từng bước hìnhthành cục diện 3 phái cùng tồn tại và cạnh tranh với nhau: phái Trung dungđứng đầu là Đảng nước Nga thống nhất; phái Tả đứng đầu là Đảng Cộng sản;phái Hữu đứng đầu là Đảng Quả táo và Liên minh cánh hữu
Putin đã đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm xây dựng một chínhquyền tinh gọn, trong sạch và hoạt động hiệu quả Sắc lệnh số 824 của Tổng
thống Liên bang ra ngày 23/7/2003 “về các biện pháp thi hành cải cách hành
chính trong các năm 2003 – 2004” đã xác định các ưu tiên cải cách hành
chính như sau: hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế,trong đó loại bớt các chức năng thừa của quản lý nhà nước; loại bỏ các chứcnăng kép và độc quyền của các tổ chức chính quyền Liên bang; phát triển cáchệ thống tổ chức tự quản trong các lĩnh vực kinh tế; tổ chức phân chia chứcnăng quản lý hoạt động kinh tế, thanh tra, kiểm soát tài sản nhà nước, giaotrách nhiệm cho các cơ quan nhà nước phục vụ công dân và các pháp nhân;hoàn thành việc phân chia định quyền hạn giữa các cơ quan chính quyền Liênbang và các cơ quan chính quyền của các chủ thể Liên bang, tối ưu hóa hoạtđộng của các cơ quan địa phương trực thuộc các cơ quan chính quyền Liênbang [42; tr17] Cải cách hành chính được tiến hành đồng bộ từ trung ươngđến địa phương, nâng cao tính chuyên nghiệp và mô hình hóa các dịch vụ nhà
Trang 19nước, dần dần hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế,
đồng thời giúp đỡ các tổ chức tự quản phát triển theo nguyên tắc “nhà nước ở
mức độ cần thiết, tự do ở mức độ cần thiết”[ 42; tr18]
Thời kì cầm quyền 8 năm của V Putin có tính nhất quán tương đối liêntục với những tư tưởng về quá trình phát triển chính trị ở Nga Thời kì đầucầm quyền, V Putin tập trung củng cố trật tự hiến pháp nhà nước, hợp lý quanhệ giữa trung ương với địa phương, giải quyết các vấn đề còn tồn tại của đấtnước Hơn thế nữa, ngay từ thời kì đầu cầm quyền, ông đã ý thức rõ ràng môhình kinh tế, chính trị của Nga cần có những thay đổi lớn lao Chỉ có cải cáchchế độ, mới có thể bảo đảm sự phát triển kinh tế Đối với một nước đã thayđổi thể chế mà nói, những hiệu quả phát triển xã hội còn quan trọng hơnnhững cam kết chính trị Nhờ những lí luận chính trị của V Putin, nước Nga
đã đạt những thành tựu chính trị khiến thế giới phải thán phục
Trước hết, nền tảng hệ thống quyền lực của tổng thống đã được V Putinthiết lập Từ sau khi V Putin lên nắm quyền, thông qua một loạt các biện pháphành chính và pháp luật, đã đánh đổ được những thế lực gây cản trở cho sự ổnđịnh và phát triển của đất nước theo kế hoạch và theo từng giai đoạn, thiết lậphệ thống quyền lực với tổng thống là hạt nhân Nguồn gốc của hệ thống quyềnlực này là chủ nghĩa quyền lực và văn hóa chuyên trị truyền thống của Nga, là
sự lựa chọn thực tế của giai đoạn lịch sử đặc trưng Nó lấy thể chế chính trị,hiến pháp hiện hành làm nền tảng, bảo đảm địa vị thế mạnh của nhà nướctrong đời sống chính trị Mối quan hệ trung ương tập quyền giữa trung ương
và địa phương dần dần ổn định, khả năng kiểm soát của trung ương đối với địaphương được đẩy mạnh
Trong thời kì Yeltsin, quyền lực Nhà nước không trực tiếp kiểm soát tưbản mà bọn trùm sỏ còn khống chế đại bộ phận trài sản của quốc gia và thôngqua đó thao túng quyền lực của Nhà nước Quyền lực của Nhà nước và quyềnlực của tư bản nảy sinh tình trạng hoán đổi ngôi vị, dựa vào giao dịch để cânbằng Mối quan hệ sai vị trí giữa quyền lực chính trị và cơ sở kinh tế là mộthiện tượng không bình thường Sau khi nhận chức Tổng thống, V Putin đã ápdụng một loạt các chính sách điều chỉnh, cải cách, hình thành nên cục diện các
Trang 20tập đoàn mạnh khống chế quyền lực nhà nước, dần dần xóa bỏ hiện tượng bọntrùm sỏ thông qua tư bản để khống chế quyền lực Nhà nước Nhà nước cũngtừng bước nâng cao tỉ lệ kiểm soát đối với các đại tư bản, nổi bật là Nhà nướcđẩy mạnh kiểm soát công nghiệp năng lượng mà đại diện là ngành dầu mỏ
Trong nhiệm kì thứ hai của V Putin, cùng với sự thay đổi về so sánhlực lượng trong quốc hội, đấu tranh đảng phái không đủ để đe dọa trực tiếp tớiquyền lực chính trị của V Putin và sự ổn định chính trị của nước Nga Cho dùtrước mắt, nước Nga vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề nhưng cơ bản của hiện thựcchính trị đã xóa bỏ căn bản tình trạng yếu kém bất lực của các cơ quan chínhquyền nhà nước
Sự ủng hộ Đảng nước Nga thống nhất của V Putin từ yếu đến mạnh, cóvai trò quan trọng đối với việc thiết lập hệ thống chính trị tích cực, hiệu quả.Chính đảng mang tính quốc gia là công cụ quan trọng chống phân chia lãnhthổ, thúc đẩy thống nhất đất nước, có thể bảo đảm người dân cấp tiến thân V.Putin có hạt nhân gắn kết có thể tiến hành cải cách và làm cho phương châm,chính sách có tính kế thừa Do Đảng nước Nga thống nhất chiếm đại đa sốtrong Duma Nga, bảo đảm cho các chính sách của V Putin được thuận lợithông qua trong Duma quốc gia và được thực hiện triệt để trong lĩnh vực chínhtrị Có thể nói Đảng nước Nga thống nhất là sức mạnh to lớn của V Putin, tạođiều kiện cho quyền chủ động trong chính trị Đồng thời, sự ủng hộ và chấpnhận của Đảng nước Nga thống nhất của dân chúng cũng cho thấy các chínhsách của V Putin được dân chúng hết sức ủng hộ
Một thành tự không kém phần quan trọng trong thời kỳ này là vấn đềChesnya được giải quyết Ingushetia, Chesnya với các vụ nổ bom đẫm máudiễn ra ngay tại thủ đô Moscow và các thành phố lớn đã đặt ra cho V Putinnhững thách thức nghiêm trọng V Putin đã cho thấy nước Nga kịp thời ngănchặn giải thể quốc gia, dẹp yên chiến tranh Chủ nghĩa chia rẽ nước Nga đượckhống chế có hiệu quả, chủ nghĩa khủng bố cũng bị tấn công Nước Cộng hòaChesnya chính thức trở thành chủ thể thuộc Liên bang Nga về mặt ý nghĩa.Chesnya không chỉ tổ chức bầu cử quốc hội và tổng thống mà còn thông quahiến pháp nước cộng hòa và cả kinh tế, xã hội đang phát triển
Trang 21Trong 8 năm cầm quyền, V Putin đã xây dựng một hệ thống chính trị
ổn định, trong đó tổng thống là hạt nhân Tư tưởng “chủ quyền, dân chủ” đượcthể hiện qua các đặc trưng: phát triển kinh tế là trọng tâm; giải quyết vấn đềphân chia giai cấp kinh tế sâu sắc đã tồn tại ở nước Nga nhiều năm, xây dựng
mô hình phát triển kinh tế sáng tạo là nhiệm vụ chính của nước Nga trước năm2020; Tăng cường chính quyền, pháp chế và trật tự nhà nước là bảo đảm đầutiên của cường quốc Nga cũng như của nhân dân Nga Chủ nghĩa yêu nước và
ý thức cường quốc đã trở thành trụ cột tinh thần của toàn xã hội
Như vậy về chính trị, Tổng thống V Putin đã có nhiều chính sách giúpđất nước phát triển có hiệu quả tích cực, chủ yếu thể hiện ở chỗ cải tổ cácthành phần cấu tạo của Hội đồng Liên bang theo nguyên tắc phân quyền lậppháp và hành pháp, xây dựng chế độ thiết lập đại diện tổng thống ở các khuvực của liên bang, thông qua luật pháp, nhận lệnh trực tiếp của tổng thốnghoặc thay đổi triệt để quan chức hành chính địa phương, đã phát động hợpnhất các chủ thể Liên bang Qua việc thiết lập và nâng đỡ Đảng cầm quyền lớnmạnh, V Putin đã cải thiện hiệu quả mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp vàlập pháp Chính quyền V Putin đã đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực xâydựng không gian pháp luật cho việc thống nhất đất nước, tấn công thế lựctrùm sỏ, tái kiến thiết Chesnya, không chỉ làm cho đất nước từ chỗ xã hội rốiren đến chỗ cục diện chính trị ổn định mà còn nhận được sự ủng hộ của cácchính đảng lớn đối với những chính sách của chính phủ
1.2.2 Tình hình kinh tế
Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Liên bang Nga đã xuất hiện trên
vũ đài chính trị quốc tế với tư cách là nước kế tục chính thống Liên Xô, kếthừa di sản kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật của siêu cường này để lại
Tuy nhiên, sau 10 năm cầm quyền, Tổng thống Yeltsin để lại cho V.Putin một nước Nga khủng hoảng nặng nề và toàn diện Trong những năm 90,GDP của Nga đã giảm 50%, chỉ còn tương đương 1/10 của Mĩ Nếu ở giữathập niên cuối cùng của thế kỉ XX mới chỉ có 20% số người Nga sống dướimức nghèo khổ thì tới tháng 7/1999 tỉ lệ này là 57% Tổng số nợ nước ngoàicủa nước Nga trước khi V Putin lên nắm chính quyền là 158,4 tỉ USD Theo
Trang 22nhận xét của tờ báo Berlin từ “một nhà nước bị moi rỗng ruột và nhiều năm
phải nhờ vào những khoản tín dụng quốc tế để tồn tại” thì rất không dễ dàng
để xây nên một xã hội tự do, nở hoa và giàu có” [44; tr17] Nước Nga phải đối
mặt với những thách thức vô cùng to lớn là nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khủnghoảng chính trị - xã hội và bị cô lập trên trường quốc tế
Trước thực trạng đất nước như vậy nên V Putin ngay từ khi được traoquyền Tổng thống năm 2000 đã thực hiện những nước cờ rất bất ngờ trongquá trình lãnh đạo của mình Báo chí phương Tây đã đưa ra nhận xét về V
Putin: “Putin là người đáng sợ, không quá hi vọng vào Mĩ như người tiền
nhiệm…dù có ý định tiếp cận với Mĩ V Putin không cần dựa vào Mĩ để duy trì quyền lực mà ông ta dựa vào Mĩ để nắm quyền lực” [44; tr18] Mục tiêu
xây dựng chiến lược phát triển kinh tế của nước Nga được xác định là nhiệm
vụ cực kì quan trọng trong chính sách của Tổng thống Nga V Putin Mọichính sách khác như ngoại giao, an ninh…cũng đều tập trung nhằm trước hếttìm cách thúc đẩy những lợi ích kinh tế và thương mại của Nga
Quả thật V Putin đã có cách nhìn nhận rất thực tế với mục đích vàmong muốn đưa nước Nga hòa nhập vào nền kinh tế mới của thế giới Bảnthân V Putin đã nhìn thấy rõ ít nhất ba bài học mà “triều đại Yeltsin” để lại,
đó chính là ba lí do đã đẩy nước Nga rơi vào cảnh “cười ra nước mắt” thời kìhậu Xô Viết Thứ nhất, không đánh giá hết hoặc phủ nhận những thành quảcủa Liên bang Xô viết Thứ hai, không lường trước hết những cái phải trả cho
các cuộc thử nghiệm thời “kinh tế thị trường mang màu sắc tư bản hoang dã”
ở thập niên cuối cùng của thế kỉ XX Thứ ba, tham vọng “đẽo chân cho vừa
giày” và mơ ước sao y bản chính từ những mô hình ngoại quốc [44; tr 18]
Sau khi lên cầm quyền, V Putin đã tiến hành những điều chỉnh lớntrong mục tiêu, chiến lược và chính sách phát triển kinh tế Nga Thời kì đầucầm quyền, V Putin vẫn tiếp tục chính sách cố gắng xây dựng nền kinh tế thịtrường tự do với mục tiêu là ổn định và khôi phục, tiến hành sửa chữa, bổ sung
và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa nền kinh tế thị trường của Yeltsin, đem lại lợiích, xóa bỏ các tập đoàn đặc lợi, cải cách thúc đẩy nền kinh tế, tăng cườngnăng lực quản lí và kiểm soát của Nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 23Giai đoạn giữa thời kì cầm quyền, V Putin đã tiến hành điều chỉnhmạnh, đề ra mục tiêu thực hiện tăng tổng lượng kinh tế trong 10 năm Trongthời kì V Putin cầm quyền, mục tiêu và chiến lược kinh tế có sự thay đổi tolớn so với thời kì Yeltsin, lấy nước Nga thực tại là tọa độ, lấy tăng trưởng kinh
tế là tâm điểm căn bản của tư tưởng kinh tế Tất cả những chính sách có lợicho việc thực hiện mơ ước cường quốc, có lợi cho phục hưng nền kinh tế Ngađều là chính sách được ưu tiên hàng đầu
Chiến lược phát triển kinh tế của V Putin được thấy trong thông điệpliên bang, quy hoạch phát triển kinh tế của chính phủ Nga và các văn kiện liênquan, còn có thể khái quát đơn giản là “một trung tâm”, “bốn trụ cột lớn”.Trong đó, “một trung tâm” là theo đuổi tăng trưởng kinh tế tốc độ cao, hợpthời đại chuyển thành thúc đẩy nền kinh tế phát triển toàn diện Năm 1999,
trong bài phát biểu “Nước Nga chuyển giao thiên niên kỉ”, V Putin đã nói đến
những điều tốt đẹp của việc tăng trưởng kinh tế tốc độ cao, nhấn mạnh nềnkinh tế cần phải phát triển nhanh chóng, đạt được tốc độ tăng trưởng phù hợp
Trong Thông điệp Liên bang năm 2002, V Putin đã nhấn mạnh “muốn làm
cho nước Nga trở thành thành viên kinh tế có ý nghĩa thực sự, có sức mạnh của thế giới, trở thành đối thủ có khả năng cạnh tranh mạnh thì phải nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế” [58; tr115] Năm 2003, V Putin một lần nữa
cụ thể hóa các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế thành “tăng GDP gấp đôi trong 10
năm” Hơn thế nữa, ông cho rằng: nước Nga có đầy đủ các điều kiện đề ra và
thực hiện nhiệm vụ này, nước Nga có khả năng xây dựng nền kinh tế hiện đại hóa và lớn mạnh, cuối cùng xây dựng nên một quốc gia thật sự có sức cạnh tranh”[58; tr115] Trong thông điệp Liên bang năm 2004, V Putin đã chỉ ra:
“để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP, nền kinh tế Nga cần phải chuyển từ
tốc độ tăng trưởng trung bình sang tăng trưởng nhanh, năm 2004 đến năm
2010, tỉ lệ tăng GDP bình quân hàng năm phải đạt 7.9%, hơn nữa cần điều chỉnh và cải tiến cách thức tăng trưởng kinh tế”[58; tr115].
Bốn trụ cột lớn trong chiến lược kinh tế của V Putin là: kiên địnhphương hướng cải cách thị trường hóa, xây dựng chế độ kinh tế thị trường phùhợp với thực tế khách quan của nước Nga; tăng cường vai trò của chính phủ,
Trang 24tăng cường khả năng kiểm soát điều chỉnh nền kinh tế của Nhà nước; phát huytính tích cực và tính chủ động của các loại hình doanh nghiệp, xây dựng cơchế phối hợp chính quyền và doanh nghiệp, vừa có sự phân công vừa có sựhợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong lĩnh vực phát triển kinh tế xãhội; kinh tế, xã hội đều phát triển cân bằng, giúp cho toàn xã hội đều thu đượclợi ích thực tế từ việc phát triển kinh tế Những chiến lược kinh tế trên đềuđược thể hiện rất rõ qua sự điều chỉnh chính sách kinh tế như sau:
Thứ nhất, chỉnh đốn trật tự kinh tế, chính trị, tạo điều kiện ổn địnhchính trị và xã hội để khôi phục và phát triển kinh tế Sau khi V Putin cầmquyền, một loạt các chính sách và biện pháp chỉnh đốn trật tự trong nước, tăngcường quyền lực của Trung ương và cục diện chính sách ổn định đã được ápdụng, ổn định hoàn cảnh chính trị, xã hội Một bộ phận chuyển sang cục diệnchính quyền địa phương tự điều hành, hình thành thị trường nội địa thốngnhất, đánh bại bọn trùm sỏ can thiệp, tấn công tội phạm kinh tế, phát động cảicách kinh tế, nâng cao hiệu quả của chính phủ, ổn định lòng dân, tăng cườngniềm tin đầu tư của các nhà đầu tư
Thứ hai, tiếp tục kiên định cải cách thị trường hóa, hoàn thiện cơ chếkinh tế và cơ chế điều tiết kinh tế cơ bản phù hợp với những nguyên tắc kinh
tế thị trường Trọng điểm chính sách kinh tế của V Putin là hoàn thiện chế độkinh tế thị trường, thông qua đó bù đắp những lỗ thủng, chỉnh đốn trật tự, giúpcho cục diện theo hướng ổn định
Thứ ba, xóa bỏ khủng hoảng tài chính, phát triển hệ thống tiền tệ, điềuchỉnh chính sách tài chính, tạo môi trường tài chính ổn định thông thoáng đểkinh tế tăng trưởng Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 đã làm cho hệthống ngân hàng của Nga đình trệ, thị trường hối đoái, thị trường chứngkhoán, thị trường trái phiếu gần như sụp đổ Sau khi V Putin lên nắm quyền,chính phủ và ngân hàng Trung ương Nga lần lượt chế định, công bố “Chiếnlược phát triển ngành ngân hàng trước năm 2008”, đưa ra hàng loạt các quychế pháp luật, áp dụng nhiều chính sách biện pháp thúc đẩy phát triển hệthống tài chính, tiền tệ và ngân hàng
Trang 25Thứ tư, cải cách thể chế tài chính theo chiều sâu, phòng chống rủi rokinh tế Trong khung chế độ tài chính xây dựng thời Yeltsin, V Putin đã tiếnhành cải cách một loạt về chế độ tài chính, chế độ thu thuế, mối quan hệ giữatài chính trung ương và địa phương Sau năm 2003, chế độ tài chính bắt đầuđược thúc đẩy thông qua quá trình từ “quản lý chi ra” chuyển sang “quản lýkết quả”, nghiêng về phát huy chức năng của các chính sách tài chính đối vớităng trưởng kinh tế, điều chỉnh kết cấu, cải thiện đời sống nhân dân Từ năm
2007 bắt đầu chế định dự tính trung hạn lấy kết quả làm kim chỉ nam, tăngcường rõ rệt khả năng dự doán đối với phát triển kinh tế Quỹ ổn định đượcthành lập năm 2004, đã trở thành “tấm đệm” phòng chống rủi ro kinh tế
Thứ năm, tận dụng thời cơ giá dầu thế giới tiếp tục tăng cao, điều chỉnhchiến lược và chính sách năng lượng, đầu tư phát triển ngành công nghiệpnăng lượng, làm cho năng lượng trở thành động cơ của tăng trưởng kinh tế.Chính phủ V Putin đã tiến hành những điều chỉnh to lớn trong phát triển nănglượng và chính sách năng lượng, khiến nó trở thành sức mạnh chủ yếu thúcđẩy kinh tế V Putin thông qua các doanh nghiệp năng lượng nhà nước lớntiến hành mua lại, xây dựng cục diện ngành công nghiệp năng lượng phù hợpvới lợi ích quốc gia và tăng cường thu thuế, đảm bảo cho Nhà nước, xã hội vàdoanh nghiệp đều được hưởng “nguồn lợi năng lượng”
Thứ sáu, sau khi cầm quyền V Putin luôn coi chính sách xã hội làphương hướng ưu tiên của phát triển kinh tế đất nước Cùng với sự chuyểnbiến của kinh tế, đầu tư cho xã hội không ngừng được nâng cao, phát triểngiáo dục, y tế, nhà ở và nông nghiệp được coi là “bốn công trình lớn của quốcgia”
Thứ bảy, hoàn thiện quy định pháp luật về doanh nghiệp, thúc đẩy cácdoanh nghiệp phát triển, đảm bảo tính bình đẳng cho các doanh nghiệp khitham gia thị trường cạnh trạnh Đồng thời tiếp tục quy phạm hành vi của cácdoanh nghiệp, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn hợp nhất, cải tổ, dẫn dắt cacdoanh nghiệp gia nhập thị trường tư bản quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh củacác doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 26Ngoài ra, chính phủ còn điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại, tíchcực hội nhập tiến trình kinh tế thế giới.
Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống V Putin, chính phủ Nga đã cho ra đờihàng loạt các quy định, chế định, chính sách, thay đổi tính dựa dẫm của nềnkinh tế Nga vào công nghiệp năng lượng, thực hiện chuyển đổi từ phát triểnnhờ tài nguyên sang phát triển sáng tạo Nhờ đó nền kinh tế Nga chuyển đổi từnền kinh tế hỗn loạn sang nền kinh tế trật tự có ổn định, tăng trưởng nhanh và
ổn định Quá trình phục hưng của nền kinh tế được thể hiện:
Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, từ năm 2000 – 2003 trong 4 nămliên tục kinh tế Liên bang Nga phát triển rất khả quan và người ta bắt đầu nghĩđến nước Nga phải phát triển mạnh mẽ hơn, phải đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng để nước Nga trở lại cường quốc không chỉ về quân sự mà cả kinh tếcho tương xứng với địa vị của nước Nga Nền kinh tế Nga tăng trưởng liên tụctrong những năm đầu thế kỉ XXI, năm 2001 tăng 5,1%, 2002 tăng 4,7%, 2003tăng 7,3% Trong khi đó GDP của Nga năm 1999 mới chỉ đạt 220 tỉ USD thìgiai đoạn 1999 – 2003 đã tăng với nhịp độ hàng năm là 6,2% [44; tr20]
Trong giai đoạn 2000 – 2004 kinh tế Nga đã thoát khỏi khủng hoảng và
đi vào thế phát triển ổn định hơn Chính quyền V Putin cũng giữ ổn địnhchính trị, đời sống nhân dân được cải thiện, do đó tạo được sự đồng thuận ủng
hộ của xã hội lớn hơn đối với công việc cải cách kinh tế Mặt khác, chính sự
ổn định chính trị - xã hội đã tác động trở lại, làm tiền đề, nền tảng cho sự tăngtrưởng kinh tế cao hơn trong thời gian này
Giai đoạn 2000 – 2008, những gì nước Nga đạt được thật ấn tượng vàrất đáng tự hào GDP đã tăng khoảng 70%, công nghiệp tăng trưởng 75% vàđầu tư tăng 125% và lọt vào tốp một trong 10 nền kinh tế hàng đầu thế giới.GDP của Nga trong năm 2007 đạt mức năm 1990 nghĩa là nước này đã vượtqua những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm 1990 [42;tr24] Một số thành tựu trong các lĩnh vực cụ thể:
Bảng 1.1 : Một số chỉ số kinh tế vĩ mô của Nga giai đoạn 2001 – 2008
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tăng trưởng GDP (%) 5,1 4,7 7,3 7,2 6,4 6,7 8,1 5,6
Trang 27kì quan trọng của nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tếthị trường
Với chính sách cải cách hệ thống thuế đồng thời ổn định thu chi ngânsách, dưới thời V Putin tình trạng tiền tệ, tài chính có những chuyển biến tốt,năng lực phòng chống rủi ro tăng lên Từ khi V Putin lên nắm quyền ngânsách Liên bang duy trì mức dư trong nhiều năm, nợ nhà nước ngày càng giảm.Năm 2000 là năm đầu tiên trong suốt quá trình cải tổ ngân sách Nga thoát khỏitình trạng thâm hụt, đạt mức thặng dư 2,5% Năm 2004, việc nợ lương giảmhơn 40% và ngân sách Liên bang thặng dư hơn 750 tỷ ruble (tương đương4,9% GDP) Sang năm 2005 các khoản thu ngân sách là 5.121 tỉ ruble (tươngđương 23,6 % GDP), thặng dư ngân sách là 7,4 % GD[42; tr 26]
Đến 1/1/2006 dự trữ ngoại tệ quốc gia đạt 182,24 tỉ USD, cho phép Ngatrả nợ IMF 3,3 tỉ USD, các chủ nợ trong câu lạc bộ Pari 15 tỉ USD, giảm nợnước ngoài của Nga xuống còn 81,5 tỉ USD (10,6% GDP) – một con số rấtthấp so với tiêu chí về mức nợ cho phép của các nước trong liên minh kinh tế -
Trang 28tiền tệ của Liên minh châu Âu (60% GDP) Tính đến tháng 7/2008 lượng dựtrữ ngoại tệ quốc gia của Nga đạt được 568,3 tỉ USD.
Tỷ lệ lạm phát đã được kiềm chế, liên tục giảm từ 18,6% năm 2001xuống 12% năm 2003, năm 2004 là 11,7%, năm 2005 là 10,9 %, năm 2006 là9% Năm 2007 và 2008 tỷ lệ lạm phát có tăng lên đôi chút nhưng đảm bảo phùhợp với mức độ tăng trưởng kinh tế rất cao của Nga Trong năm 2005, tỷ giáđồng ruble nằm trong khoảng 27,5 – 29 ruble/ 1USD [42; tr27]
Nga có 4 ngành kinh tế quan trọng giúp đất nước củng cố và nâng cao
vị thế của mình trên thế giới Đó là lĩnh vực dầu khí, công nghiệp quốc phòng,giao thông (đường bộ, đường biển, đường không), công nghiệp nguyên tử.Phát triển kinh tế nước Nga dựa vào nhiều nguồn tài nguyên, đặc biệt là dầukhí chiếm 13% tổng trữ lượng dầu mỏ và chiếm 34% trữ lượng khí đốt thếgiới Nga đứng đầu thế giới về xuất khẩu khí đốt và thứ hai về xuất khẩu dầu
mỏ Sản lượng điện chiếm 12% sản lượng điện toàn cầu Hiện nay tổ hợpnhiên liệu – năng lượng Nga là một trong những tổ hợp quan trọng nhất vàphát triển nhanh nhất trong nền kinh tế nước Nga, chiếm khoảng 1/4 GDP, 1/3sản lượng công nghiệp và 1/2 nguồn thu ngoại tệ cho đất nước [42; tr28] Từnăm 1999 đến 2007 tích lũy công nghiệp của Nga tăng trưởng 60% Mức dưlợi nhuận của các doanh nghiệp Nga được nâng lên, thua lỗ giảm đi Sản xuấtnông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2006 tăng lên 34,4% Năm 2006 lần đầutiên dư lợi nhuận của các doanh nghiệp nông nghiệp chiếm tỉ lệ vượt quá mứcbình quân của các loại hình doanh nghiệp trong cả nước, tỉ lệ lợi nhuận doanhnghiệp tăng gấp đôi, lợi nhuận ròng tăng gần 30% [58; tr110]
Hơn thế nữa, xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng cùng nhau thúc đẩy nền kinh
tế tăng trưởng Trong tình hình giá dầu quốc tế tiếp tục tăng cao, xuất khẩunguồn nguyên liệu dầu mỏ đã đem lại nguồn thu đô la Mĩ lớn cho Nga Từnăm 2000 đến năm 2007, tổng giá trị xuất nhập khẩu dầu mỏ của Nga đạt lợinhuận 769,4 tỉ USD Từ năm 1999 đến năm 2007 tổng giá trị đầu tư tài sản cốđịnh của Nga tăng 103,6% Tổng giá trị bán lẻ hàng hóa xã hội tăng nhanh,nhu cầu tiêu dùng cao trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế tăngtrưởng [58; tr111] Cùng với việc cải cách, thay đổi mô hình kinh tế, môi
Trang 29trường kinh tế Nga đã có sự cải thiện rõ rệt, có sức hấp dẫn lớn Trong giaiđoạn 2000 – 2008, lượng FDI vào Nga tăng 7 lần, Năm 2005 vốn đầu tư vàonước Nga đạt 26,2 tỉ USD tăng gấp đôi so với năm 2004, Năm 2007 là 82,5 tỉUSD, năm 2008 là 103,8 tỉ USD Môi trường đầu tư được cải biến đã có sứchút lớn với các công ty thế giới Những công ty khổng lồ về sản xuất ô tô hiệnnay đã có mặt tại Nga: Ford, Toyota, Nissan, BMW, Reno, KIA Kinh tế Ngangày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới [42; tr28].
Tóm lại, mặc dù vẫn còn một số vấn đề bất cập trong nền kinh tế Ngasong một thực tế không thể phủ nhận là nền kinh tế Nga đang phục hồi với tốc
độ khá ấn tượng Tổng thống V Putin coi việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tếtốc độ cao là một trong những mục tiêu hàng đầu của quốc gia Hiện nay Ngađang đứng trong tốp 10 nền kinh tế vững mạnh nhất thế giới Vì thế, chính phủ
có nhiều chính sách xã hội quan tâm đến nhân dân, làm cho thu nhập quốc dâncũng được tăng cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nghèo đói giảm
đi đáng kể Những thành tựu đạt được dưới thời V Putin là nền móng vữngchắc, tạo điều kiện cho nước Nga tiếp tục đi theo những định hướng đó, có sự
bổ sung thay thế phù hợp, giúp kinh tế Nga phát triển vững chắc, đặc biệt vượtqua nhanh chóng cơn bão táp khủng hoảng (năm 2008) với những biến đổi sâusắc, tác động đến nhiều quốc gia, nhiều khu vực, châu lục trên thế giới Điềunày không phải nền kinh tế của nước nào cũng có thể làm được trong một thờigian ngắn
1.2.3.Tình hình xã hội
Cùng với việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế thì quan tâm đến đờisống nhân dân là một trong những việc làm quan trọng nhất mà tất cả mọichính phủ của mọi quốc gia đều phải chú trọng đến Do đó, dưới sự cầmquyền của V Putin, chính phủ Nga đã xem đây là ưu tiên hàng đầu nhằm ổnđịnh tình hình xã hội, thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước với nhiềuchính sách cụ thể như sau:
- Cải cách chế độ bảo đảm lương hưu:
Trang 30Sau khi V Putin lên nắm quyền, tình hình kinh tế, chính trị trong nước
ổn định đã tạo điều kiện khởi động lại cải cách bảo hiểm dưỡng lão Chế độbảo hiểm dưỡng lão của Nga bước vào giai đoạn mới Cuối năm 2001 Ngachính thức thực hiện mô hình phương án bảo hiểm lương hưu “ba trụ cột” mớiđược đề ra năm 1998 Do đó lần lượt cho ra đời hệ thống pháp luật về cải cáchbảo hiểm lương hưu: “Luật bảo hiểm lương hưu bắt buộc Nga”, “Luật tiềnnghỉ hưu lao động Liên bang Nga”, “Luật thuế và sửa đổi, bổ sung quy định
về nộp thuế và tiền bảo hiểm Liên bang Nga” Mô hình ba trụ cột này được bắtđầu thực hiền từ ngày 1/1/2002 Theo quy định của pháp luật, tiền bảo hiểmlương hưu của người lao động nghỉ hưu do ba bộ phận: tiền lương hưu cơ bản,tiền bảo hiểm lương hưu, tiền tích lũy lương hưu hợp thành Tiền lương hưu
cơ bản do doanh nghiệp và Nhà nước cùng gánh vác, mỗi tháng doanh nghiệpthu 14% lương của nhân viên Chính phủ dùng khoản tiền này và trích mộtphần tài chính cho vào tiền lương hưu cơ bản dành cho người lao động đã nghỉhưu Tổng số tiền lương hưu cơ bản tương đối thấp, nhưng có thể điều chỉnhtheo sự tăng giá của hàng hóa Tiền bảo hiểm lương hưu do doanh nghiệp chịutrách nhiệm Doanh nghiệp nộp tiền bảo hiểm lương hưu cho công nhân viên,
tỉ lệ phải nộp được quyết định dựa theo độ tuổi và giới tính của công nhânviên Mỗi người lao động gửi tiền bảo hiểm lương hưu là đã lập một tài khoản
cá nhân trong quỹ lương hưu của nhà nước Sau khi nghỉ hưu, tiền lương hưuđược lĩnh mỗi tháng là tổng số tiền trong tài khoản cá nhân chia cho tổng sốtháng lĩnh tiền lương hưu Chính phủ Nga tạm thời quy định giới hạn bảohiểm lương hưu cho người lao động đã nghỉ hưu là 14 năm Hơn nữa, nhànước còn mở rộng phạm vi đối tượng bảo đảm lương hưu, mở ra con đườngđầu tư tiền lương hưu Bắt đầu từ năm 2004, đối tượng nộp bảo hiểm lươnghưu được mở rộng, vấn đề đầu tư tiền lương hưu cũng được quy định rõ ràng.Pháp luật quy định những người làm nghề tự do cũng cần phải nộp tiền bảohiểm lương hưu nhưng khác với công nhân viên trong doanh nghiệp, nhừngngười này sau khi nghỉ hưu không được lĩnh tiền lương hưu cơ bản do Nhànước cấp, mà chỉ có thể lĩnh tiền bảo hiểm lương hưu cá nhân…[58; tr137]
- Cải cách chế độ bảo hiểm y tế:
Trang 31Sang nhiệm kì thứ hai, V Putin bắt đầu chú ý nhiều hơn đến sự nghiệpbảo đảm y tế Do đó đã áp dụng những biện pháp chính sách sau: Trước hết,
mở rộng nguồn tiền cho y tế Trích một phần tiền của quỹ bảo hiểm xã hội đểthực hiện chính sách vệ sinh, y tế Năm 2005, tỉ lệ nguồn tiền từ quý bảo hiểm
xã hội chiếm tới 1,8% tổng số tiền dành cho y tế và chiếm 2,6% vào năm 2006của nước Nga Ngoài ra còn thực hiện thí nghiệm chế độ bảo hiểm y tế chonhững người đã nghỉ hưu từ quỹ lương hưu tại một số khu vực Hai là, giảmkết cấu y tế, mở rộng chức năng các phòng khám Tiến hành khảo sát các bệnhviện và phòng khám hiện hành, giảm số lượng giường tại các bệnh viện vàđóng cửa các bệnh viện và phòng khám có điều kiện lạc hậu Ba là, điều chỉnhkết cấu nhân viên y tế, tăng tiền lương Tăng số lượng nhân viên, y tá cấp cơ
sở và tăng lương của họ lên từ 2 -3 lần để khắc phục tình trạng thiếu hoànthiện của hệ thống dịch vụ y tế cấp cơ sở Bốn là, không ngừng tăng đầu tưcho ngành y tế Năm 2006, đầu tư vào ngành y tế đã chiếm tới 3,2 % GDP(năm 2001 là 2,8%) Năm là, thực hiện dự án quốc gia “khỏe mạnh”, chế địnhchiến lược phát triển y tế Năm 2006 năm thứ nhất thực hiện dự án quy hoạchquốc gia “khỏe mạnh” Nga đã chi tới 78,7 tỉ ruble, chiếm 9,1 % tổng số đầu tưvào y tế [58; tr139] Ngoài ra, để thực hiện kế hoạch cứu trợ khoa học y tếcông nghệ cao trong khuôn khổ dự án quốc gia “khỏe mạnh”, năm 2006 Bộphát triển y tế và xã hội Nga đã chi tới 9,9 tỉ ruble cho nó Tháng 7 cùng nămTổng thống V Putin lại kí sắc lệnh quyết định thành lập bộ phận cứu trợ y tếcông nghệ cao thuộc Bộ phát triển y tế và xã hội Nga, mục đích là nâng cao kĩthuật y tế hiện đại, nghiên cứu, chế định, hiệu quả ứng dụng của các phươngpháp y tế và loại hình chuẩn đoán Trước năm 2008, nước Nga đã xây dựngđược 15 trung tâm cứu hộ y tế công nghệ cao, vốn xây dựng mỗi trung tâmcứu hộ y tế là 1 tỉ USD Ngoài ra, nhằm thúc đẩy ngành y tế phát triển lâu dài
Bộ phát triển y tế và xã hội Nga đang chế định “Chiến lược phát triển y tế 10năm từ năm 2009 đến năm 2019”
- Cải cách chế độ giáo dục:
Với ý tưởng hiện đại hóa giáo dục, năm 2002 Chính phủ Liên bang Ngathông qua “ thực hiện ý tưởng hiện đại hóa giáo dục trước năm 2010” nhằm
Trang 32cải cách sâu sắc Ý tưởng đề ra: mục tiêu của hiện đại hóa giáo dục là xâydựng thể chế phát triển giáo dục ổn định Hiện đại hóa giáo dục bao gồm hiệnđại hóa cơ sở giáo dục, hiện đại hóa giáo dục trung học dạy nghề, đại học vàhiện đại hóa giáo dục trình độ (đại hoạc và sau đại học) Phải coi trọng đặcbiệt đến hiện đại hóa giáo dục, cần tiếp tục thúc đẩy cải cách thể chế giáo dụcđại học vừa học vừa làm, tăng cường công tác nghiên cứu ở các trường đạihọc, nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung dạy học, đảm bảo nuôi dưỡngnhân tài phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất.
Bên cạnh đó, Tổng thống V Putin còn ban hành “luật đại học”, xácđịnh phương hướng cải cách giáo dục theo chiều sâu Tháng 11/2003, ủy bangiáo dục khoa học Duma đã chế định bộ luật đầu tiên của Nga đối với hoạtđộng giáo dục đại học Liên bang – “Luật đại học”, đánh dấu cải cách giáo dụcđại học đã bước vào giai đoạn sâu hơn Tháng 12/2004, hội nghị công tác giáodục của Nga được tổ chức Theo Luật đại học và tinh thần của hội nghị côngtác giáo dục, phương hướng cải cách và phát triển giáo dục đại học có thể thấyrõ: Một là tăng cường chức năng nghiên cứu khoa học của đại học, hai là thiếtlập địa vị pháp nhân, giao quyền tự trị thực tế cho trường đại học, ba là mởrộng giao lưu đối ngoại, bốn là tiếp tục cải cách chế độ học vị, trên cơ sở thựchiện chế độ học vị song song, mở rộng chế độ hai cấp cử nhân và thạc sĩ, năm
là từng bước xóa bỏ trích ngân sách thông thường cho nghiên cứu khoa học,kinh phí cho khoa học được phân cấp theo đề tài mà các trường đại học cạnhtranh được, sáu là xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục, chế định
“tiêu chuẩn giáo dục quốc gia” cho mỗi chuyên ngành, đồng thời chế định chỉtiêu đánh giá thực lực tổng hợp của các trường đại học và trên cơ sở đó, thựchiện chế độ thẩm định, đánh giá đại học trọng điểm Tháng 9/2003, Bộ trưởng
Bộ giáo dục Nga đã kí kết “Tuyên ngôn Bologna” tại Berlin, trở thành quốcgia thứ 40 hòa nhập tiêu chuẩn giáo dục châu Âu Tham gia tiến trình nàynhằm thúc đẩy quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học trong nước, kết hợp với
xu thế giáo dục quốc tế để xây dựng thể chế giáo dục mang màu sắc riêng.Năm 2006 trong thời gian diễn ra hội nghị các nước G8, Phó Bộ trưởng BộGiáo dục Nga đã tuyên bố: Nga kế hoạch thể chế hóa giáo dục đại học của
Trang 33mình sẽ hoàn toàn hòa nhập với tiêu chuẩn của châu Âu trước năm 2010.Chính phủ Nga còn chú trọng thử nghiệm tư hữu hóa giáo dục, phát triển các dự
án chuyên ngành giáo dục Tháng 7/2004, Tổng thống V Putin kí kết “Dự luậtLiên bang về sửa đổi luật giáo dục”, quy định xóa bỏ giới hạn về số lượng sinhviên tự trả học phí các chuyên ngành quan trọng như: kinh tế, pháp luật, quản lícông thương, quản lí hành chính quốc gia…Dự luật cũng quy định, từ năm
2005 bắt đầu giảm chi tài chính cho các chuyên ngành này, mở rộng thu ngânsách từ bên ngoài Để giải quyết vấn đề thanh niên không đủ khả năng chi trảhọc phí của các trường đại học, Bộ Khoa học và giáo dục Liên bang Nga đã rapháp lệnh ủng hộ quy phạm hóa các khoản cho vay giáo dục từ năm 2007 sinhviên mới nhập học có thể xin vay các khoản cho vay giáo dục, lãi các khoản nợgiáo dục này giảm 2% so với lãi suất cho vay của ngân hàng trung ương (hiện là11,5%) Người vay nợ có thể trả nợ trong vòng 10 năm sau khi tốt nghiệp đạihọc, xin vay nợ vừa không cần thế chấp vừa không cần đảm bảo
Chính phủ Nga thực hiện thi thống nhất toàn quốc Tháng 2/2001, Thủ
tướng Nga kí “Quyết định thực hiện thử nghiệm kì thi thống nhất quốc gia”.
Từ năm 2001, Nga bắt đầu tiến hành thử nghiệm kì thi thống nhất quốc gia tạicác trường đại học trên 4 chủ thể Liên Bang Năm 2002 chính thức thành lập
cơ cấu quản lí kì thi thống nhất quốc gia Đến năm 2006, Nga đã xó 80 chủ thểtham gia kì thi thống nhất trong cả nước
Tháng 5/2007, Duma quốc gia đã thông qua Luật sửa đổi về nghĩa vụgiáo dục chế độ 11 năm Từ 1 tháng 9 năm 2007 luật quy định công dân Ngaphải được phổ cập ba cấp giáo dục: tiểu học, phổ thông cơ sở (lớp 9) và hoàntoàn phổ cập giáo dục trung học (11 năm) thay cho nghĩa vụ giáo dục 9 nămtrước đây Hơn thế nữa, từ năm 2006 các dự án ưu tiên giáo dục quốc gia đượcthực thi bao gồm: thưởng ngoài định mức cho chủ nhiệm lớp, thưởng cho giáoviên ưu tú, khuyến khích các trường, viện thực hiện sáng tạo giáo dục, thựchiện tin học hóa giáo dục, ủng hộ tiền đào tạo giáo viên cho các trường dạynghề sơ cấp và trung cấp, nhà nước tài trợ cho các thanh niên xuất sắc…Ngày
23 tháng 12 năm 2005, Chính phủ Liên bang Nga phê chuẩn “Cương yếu phát
triển giáo dục 2006 – 2010” với các mục tiêu cụ thể: chế định thực hiện tiêu
Trang 34chuẩn giáo dục mới cho 60% các ngành học, tỉ lệ sinh viên tiếp nhận côngnghệ thông tin tăng 50% Nâng cao vị trí của Nga trong hàng ngũ chất lượnggiáo dục thế giới, đạt trình độ bình quân của các quốc gia, tổ chức hợp táckinh tế (trong 20 nước đứng đầu) Tỉ lệ các trường chuyển sang thể chế giáodục hai cấp cử nhân – thạc sĩ tăng từ 50% lên 70%, tổng chi cho cương yếu là61,952 tỉ ruble [58; tr145].
Trong nhiệm kì 2 của mình, Tổng thống V Putin đã chú trọng cải cáchnhà ở, đưa ra Luật cải cách nhà ở, giải quyết nhà ở cho nhân dân, giảm thờihạn sắp xếp nhà ở miễn phí cho người có thu nhập thấp từ 20 năm xuống còn
5 – 7 năm, dự tính tổng các khoản tiền từ năm 2006 đến năm 2010 là 902,4 tỉruble [58; tr145] Chính phủ khuyến khích vay thế chấp phát triển nhà ở, xâydựng hệ thống tái cho vay các khoản cho vay thế chấp nhà Chính phủ cònthúc đẩy sự nghiệp cải cách nhà chung cư V Putin sau khi lên cầm quyền đã
hạ quyết tâm tiến hành cải cách nhà chung cư, kế hoạch nâng cao từng bước tỉlệ nộp phí của dân cư đối với việc thu phí nhà chung cư nhưng đồng thời cũngquy định nếu tỉ trọng chi ra cho nộp chi phí nhà chung cư chiếm quá 22% tổngthu nhập gia đình, nhà nước sẽ có hỗ trợ tương ứng
- Chính sách dân số:
Đối với tình hình dân số nghiêm trọng của Nga, sau khi nhận chức, V.Putin bắt đầu đặc biệt quan tâm, chú trọng tới chính sách dân số và giao choChính phủ thành lập “Ủy ban các vấn đề dân số xã hội” Nhằm giảm tỉ lệ tửvong, từ năm 2006 chính phủ thực hiện “dự án ưu tiên quốc gia khỏe mạnh”,chấn hưng lại ngành y học truyền thống của Nga – ngành phòng chống bệnh,
để sớm phát hiện, phòng và chữa trị các bệnh như cao huyết áp, các bệnh dẫntới tỉ lệ tử vong cao khác, kéo dài tuổi thọ bình quân Ngoài ra để giảm tỉ lệdân số tử vong bất ngờ, Nga còn chế định quy hoạch an toàn giao thông, kìmhãm tỉ lệ phát sinh các sự cố thương vong về người, hạn chế nhập khẩu và tiêuthụ những đồ uống chứa cồn, kêu gọi mọi người tránh xa thuốc phiện, xâydựng lối sống lành mạnh Bên cạnh đó, chính phủ Nga đưa ra những biện pháptăng tỉ lệ sinh, khuyến khích thanh niên đẻ nhiều hơn như nâng cao số tiền hỗtrợ sinh hoạt trong thời hạn một năm rưỡi cho gia đình mới sinh con; hỗ trợ
Trang 35giáo dục trước khi đi học cho trẻ em, dựa theo mức độ chi phí bình quân giáodục trẻ em trước khi đi học của phụ huynh, Nhà nước sẽ hỗ trợ 20% cho đứathứ nhất, 50% cho đứa thứ hai, 70% cho đứa thứ ba; Khuyến khích nhận connuôi, tăng gấp đôi chi phí nuôi dưỡng trẻ cho gia đình giám hộ và gia đìnhnhận nuôi, tới mức mỗi tháng không thấp hơn 4000 ruble, đồng thời nânglương cho phụ huynh gia đình nhận nuôi Ngoài ra, Chính phủ còn thiết lập
“Quỹ bà mẹ” và thực hiện cụ thể hóa số liệu chi tiêu của quỹ bà mẹ, hỗ trợmua nhà cho những cặp vợ chồng đang trong độ tuổi sinh đẻ không thấp hơn
30 – 40% giá thị trường của căn nhà mua[58; tr149]
Chính phủ Nga còn khuyến khích dân di cư ngoại lai hợp pháp Nga đãtiếp nhận một lượng lớn những kiều bào ở nước ngoài về nước định cư…Theo
“kế hoạch quốc gia kiều bào ở nước ngoài tự nguyện di cư về Nga” từ năm
2006 đến năm 2012, Nga sẽ đón nhận 300.000 đồng bào ở nước ngoài và giađình họ về nước Tổng số tiền chi cho kế hoạch nhà nước này lên tới 1, 7 tỉruble Liên bang Nga sẽ phân thành ba khu vực A, B, C theo tình hình trình độphát triển kinh tế - xã hội và dân số của 12 khu vực tiếp nhận kiều bào Ba khuvực này hưởng hỗ trợ và tiền di dân khác nhau, điều kiện đãi ngộ tương đối tốtđối với khu vực loại A Ngoài ta chính phủ còn quy phạm hóa trình tự nhậpcảnh của lao động nước ngoài, hạn chế người có quốc tịch nước ngoài hànhnghề bán lẻ [58; tr150]
Như vậy, mục tiêu “dân giàu nước mạnh”, “xây dựng nền kinh tế lớnmạnh” là hạt nhân và cơ sở của phương pháp chiến lược cai trị đất nước của
V Putin Qua 8 năm cầm quyền của V Putin, tình hình chính trị, kinh tế, xãhội Nga đã có những chuyển biến quan trọng Chính trị ổn định, từ một nềnkinh tế hỗn loạn, không có trật tự thành nền kinh tế ổn định, có trật tự, thànhmột trong mười nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới Chính phủ có nhiềuchính sách xã hội tích cực, tiến bộ, quan tâm đến đời sống nhân dân, đượcnhân dân ủng hộ Điều đó góp phần chỉ ra con đường đúng đắn, phươnghướng cho sự phát triển nước Nga trong tương lai với sự nắm quyền của Tổngthống mới Medvedev
Trang 361.3 Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga từ 2008 đến 2012 và tác động của nó
Chính sách đối ngoại là một công cụ quan trọng trong thực hiện chiếnlược phát triển của Liên bang Nga trong những năm đầu thế kỉ XXI Với triết
lí phát huy lòng yêu nước, đoàn kết xã hội, xây dựng nhà nước Liên banghùng mạnh, phát triển kinh tế thị trường, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm
an ninh chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và cải thiện vị thế nước Nga trên thế giới.Theo quan điểm của Tổng thống V Putin, chính sách đối ngoại và an ninh củanước Nga cũng phải lấy lợi ích kinh tế là trên hết Chính vì vậy, trong đườnglối đối ngoại của mình, mục tiêu lâu dài của Tổng thống V Putin là đưa nướcNga trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, còn mục tiêu ngắn hạn là tạo mọiđiều kiện cho phát triển kinh tế Do đó, ông đề ra nguyên tắc ngoại giao phục
vụ kinh tế, chính sách đối ngoại phục vụ mục tiêu đối nội
Năm 2008 khi Medvedev trở thành Tổng thống, ở nước Nga hình thành
cơ chế bộ đôi quyền lực Medvedev – V Putin, phát huy được sức mạnh của cả
hai người như giáo sư Dương Thành khẳng định: “Liên kết Medvedev – V.
Putin sẽ duy trì ổn định chính trị của nước Nga, nhất là nội dung hạt nhân của chủ nghĩa V Putin lấy mô hình kinh tế - chính trị phi tự do và ngoại giao trên thế mạnh sẽ tiếp tục thúc đẩy nước Nga trỗi dậy mạnh mẽ”[28; tr11] Vì
thế về cơ bản, chính sách đối ngoại của Medvedev là sự kế thừa, phát triểnchính sách đối ngoại của V Putin
Quan điểm về chính sách đối ngoại được Tổng thống V Putin thôngqua ngày 28/6/2000 với mục tiêu cơ bản của ngoại giao là: Bảo đảm an ninhquốc gia, phát huy ảnh hưởng đối với quá trình diễn biến của thế giới, tạo môitrường bên ngoài có lợi cho phát triển trong nước, xây dựng mối quan hệ hữunghị với các nước xung quanh, bảo vệ lợi ích của công dân và kiều bào Nga
Thực chất tư tưởng ngoại giao mới của V Putin là bảo đảm cho nhữnglợi ích của quốc gia của Nga, đồng thời không bị trượt vào tình trạng đối đầu
và những phương pháp thù địch, thể hiện sự mềm dẻo, xây dựng mối quan hệđối tác “theo tất cả các hướng”, đạt được sự thỏa hiệp cùng chấp nhận đượcđối với cả Nga và các đối tác của Nga Đúng như Tổng thống V Putin đã từng
Trang 37nhấn mạnh” “Mục tiêu chính sách của chúng ta không phải là ở chỗ phô
trương những tham vọng nào đó mang tính đế quốc, mà là ở chỗ bảo đảm những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho sự phát triển của Nga Ở đây không
có gì đặc biệt cả và chúng ta sẽ xây dựng một chính sách đối ngoại đa phương, chúng ta sẽ làm việc với cả Mĩ, Liên minh châu Âu cũng như các nước châu Âu riêng rẽ Chúng ta sẽ làm việc với các đối tác châu Á của chúng ta với Ấn Độ, Trung Quốc, với các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương”[11; tr14].
Cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế với đường lối đối ngoạilinh hoạt, thực tế, cân bằng đông tây, vai trò và vị thế của Nga trên trườngquốc tế cũng như trong khu vực những năm đầu thế kỉ XXI được cải thiện rõrệt Từ chỗ phụ thuộc vào phương Tây, là con nợ của phương Tây, Nga đã tiếnhành quan hệ hợp tác bình đẳng trong mọi lĩnh vực kinh tế và chính trị Ngađang khẳng định lại vị trí cường quốc của mình trong việc giải quyết các vấn
đề chung của cộng đồng thế giới, trở thành thành viên của nhóm G8, củng cố
vị thế của một cường quốc quân sự, đồng thời đang trở thành một cường quốcnăng lượng Quan hệ của Nga với khu vực châu Á cũng được cải thiện rõ rệttrong khuôn khổ hợp tác đa phương cũng như song phương trong mọi lĩnh vựckinh tế, chính trị, an ninh, quân sự như Tổ chức hợp tác Thượng Hải, APEC,Diễn đàn ASEAN…Theo đánh giá của Bộ Ngoại giao Nga dưới thời Tổngthống V Putin đã khẳng định được tính độc lập tự chủ trong đường lối đốingoại của mình
Chính sách đối ngoại của V Putin vẫn được tiếp tục kế thừa, phát huydưới thời Tổng thống D Medvedev và có sự điều chỉnh cho phù hợp với bốicảnh mới cũng như thế và lực của Nga Ngày 12/7/2008 Tổng thống D
Medvedev đã phê chuẩn “Những định hướng cơ bản chính sách đối ngoại của
Liên bang Nga” mà cơ bản là vẫn kế tục phát triển chính sách của V Putin.
Thực hiện đường lối đối ngoại “tự chủ và có định hướng ưu tiên phát triển
quan hệ với các láng giềng gần” và “Định hướng cơ bản của chính sách đối ngoại (thông qua năm 2000) vẫn là những nguyên tắc chỉ đạo cho hoạt động
Trang 38đối ngoại của LB Nga”1 Tuy nhiên, ngay sau lễ nhậm chức, D Medvedev lậptức phải đối mặt với một tình thế nan giải ở Nam Ossetia (tháng 7 và 8/2008)
và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bắt đầu bùng phát(tháng 9/2008) Những khó khăn kế tiếp đến từ việc tăng trưởng kinh tế đạtđược chủ yếu do giá nhiên liệu thế giới tăng cao, nền kinh tế ngày càng trở nênthiếu cân đối (dầu lửa và khí đốt chiếm tới 2/3 lượng hàng xuất khẩu) cũng nhưkhoảng cách giàu nghèo tăng vọt Tuy nhiên, chính những khó khăn này lại là
cơ sở để tạo ra sự khác biệt trong chính sách đối ngoại của chính quyền Tổngthống D.Medvedev so với 8 năm trước đó Tháng 7/2008, Tổng thống D
Medvedev công bố bản Định hướng chính sách đối ngoại mới mà nội dung của
nó dựa trên luận điểm “nước Nga giờ đây đã vươn dậy” Dường như những khó
khăn nảy sinh lại được chính quyền của ông D Medvedev nhìn nhận nhưnhững cơ hội để nâng tầm vóc nước Nga Điểm nhấn trong chính sách đối ngoại
của Tổng thống D Medvedev là “nước Nga ngày nay trỗi dậy với thế và lực
mới, có được vai trò đầy đủ trong các công việc toàn cầu”[11; tr15].
Chính sách đối ngoại từ chỗ tạo môi trường thuận lợi, ưu tiên cho pháttriển kinh tế thì nay đang trở thành một trong những công cụ quan trọng nhấtđảm bảo cho Nga phát triển và đủ khả năng cạnh tranh trong thế giới toàn cầuhóa Nga không chỉ ủng hộ xu thế đa cực trong quan hệ quốc tế mà còn khẳngđịnh vai trò của mình trong việc hình thành một cấu trúc quan hệ quốc tế mới
mà trung tâm điều tiết của cấu trúc này là Liên hợp quốc Nga nhận thức rõ vaitrò của mình là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,thành viên nhóm G8 và nhiều tổ chức khu vực và quốc tế có uy tín, nhiều cơchế đối thoại và hợp tác liên quốc gia, có nguồn tiềm lực và tài nguyên đáng
kể trong tất cả lĩnh vực, đang hội nhập triệt để vào nền kinh tế và chính trị thếgiới Nga cho rằng cần thay thế cách giải quyết các vấn đề quốc tế theo kiểuphe khối hiện nay bằng các phương pháp ngoại giao đan xen, dựa vào nhữnghình thức tham gia linh hoạt của các cơ chế đa phương trên nguyên tắc an ninhtoàn vẹn của thế giới hiện đại và phải phản ánh được sự đa dạng của nó Trong
1 Nội dung cơ bản của định hướng này là nguyên tắc “thực dụng, đa phương, thúc đẩy lợi ích quốc gia nhưng
không gây đối đầu”
Trang 39“Định hướng cơ bản chính sách đối ngoại” của mình, Tổng thống D.
Medvedev khẳng định: “Nước Nga đã quay trở lại sau hơn 100 năm biệt lập
và tự tách rời và bây giờ đây Nga đang tạo lập con đường trở lại với nền chính trị và nền kinh tế thế giới bằng tất cả các nguồn lực tài nguyên, tài chính và trí tuệ của mình”[11; tr15].
Về ưu tiên giữa các khu vực Medvedev chỉ rõ:
- Hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Nga là phát triển quanhệ hợp tác song phương và đa phương với các quốc gia trong Cộng đồngSNG, nơi Nga đã có sẵn cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự và chính các nướcnày cũng là vùng đệm của Nga Những cơ chế hợp tác đa phương như Cộngđồng kinh tế Âu – Á (EAEC), Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO) và
Tổ chức hợp tác Thượng Hải sẽ được Nga chú trọng phát triển
- Mục tiêu của chính sách đối ngoại của Nga theo hướng châu Âu là tạo rahệ thống hợp tác và an ninh tập thể chung thật sự công khai và dân chủ cho toànkhu vực, một hệ thống có khả năng đảm bảo được sự thống nhất khu vực châu Âu– Đại Tây Dương từ Vancuver đến Vladivostok Nga ủng hộ đạt được sự thốngnhất thật sự của châu Âu, không có các đường phân chia ranh giới, thông qua conđường đảm bảo hợp tác bình đẳng giữa Nga, Liên minh châu Âu và Mĩ
- Những ưu tiên dài hạn trong chính sách của Nga đối với Mĩ là tạo choquan hệ với Mĩ nền móng kinh tế vững chắc, đảm bảo cùng nhau xây dựng vănhóa, điều chỉnh bất đồng trên cơ sở chủ nghĩa hiện thực và tuân thủ tính cân bằnglợi ích nhằm tạo ra sự ổn định cao và tính dự báo được trong quan hệ Nga – Mĩ
- Khu vực châu Á – Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng và ngàycàng lớn hơn trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga Nga đang tiếp tụctham gia tích cực vào những cơ cấu hội nhập chính của khu vực này như Diễnđàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), ASEAN cũng nhưcủng cố Tổ chức hợp tác Thượng Hải, tăng cường quan hệ đối tác chiến lượcvới Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ Nga - Ấn Độ
- Nga sẽ mở rộng hợp tác nhiều nội dung với các nước châu Phi trên cơ
sở song phương và đa phương, bao gồm đối thoại và hợp tác trong khuôn khổ
Trang 40nhóm G8, thúc đẩy giải quyết một cách nhanh chóng những cuộc xung độtkhu vực và tình hình khủng hoảng ở Châu Phi.
- Nga phấn đấu xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Brazil, tăngcường hợp tác chính trị và kinh tế với Argentina, Mexico, Cuba…và các nước
Mĩ Latinh và vùng biển Caribe khác Khuyến khích xuất khẩu sản phẩm côngnghiệp khoa học của Nga sang các nước Mĩ Latinh thực hiện những dự án liêndoanh trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng, công nghệ cao
Chính sách đối ngoại dưới thời Tổng thống D Medvedev cơ bản là sựnối tiếp chính sách đối ngoại của V Putin nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợpvới hoàn cảnh, thế và lực mới của nước Nga Những hoạt động ngoại giao từkhi Medvedev cầm quyền cũng khẳng định sự trỗi dậy ở Liên bang Nga.Những sự kiện nổi bật năm 2008 là việc căng thẳng trong quan hệ Nga, Mĩ vàNATO trong việc mở rộng NATO sang phía đông cũng như triển khai hệthống phòng thủ tên lửa ở Ba Lan và Cộng hòa Séc Tổng thống D Medvedevkiên quyết phản đối NATO kết nạp Ucraina và Grudia Ông cảnh báo, nếu tổchức này mở rộng về phía Đông, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ haibên trong nhiều năm mặc dù không phải là đối đầu Đối phó với việc Mĩ triểnkhai hệ thống phòng thủ tên lửa tại Ba Lan và Cộng hòa Séc, một mặt Nga dựđịnh triển khai hệ thống tên lửa đạn đạo của mình ở Belorusia, áp sát vào láchắn của NATO Mặt khác, Nga có kế hoạch đóng thêm 4 – 5 tàu sân bay vàtăng cường sự hiện diện ở Cuba, tăng cường hợp tác quốc phòng vớiVenezuela, lấn sang sân sau của Mĩ Phản ứng lại việc kí thỏa thuận sơ bộgiữa Ba Lan và Mĩ ngày 14/8/2008 về việc bố trí 10 tên lửa đánh chặn trênlãnh thổ Ba Lan, Ngoại trưởng Nha Lavrôp đã hoãn chuyến thăm dự kiến tớinước này, đồng thời Matxcơva cảnh báo rằng dự án này phá vỡ thế cân bằngquân sự ở châu Âu và Nga có thể hướng các tên lửa của mình vào Ba Lan.Những hành động kiên quyết của Nga với Grudia trong xung đột vũ trang tạiNam Ôxetia và Apkhazia tháng 8/2008, bất chấp những áp lực của Mĩ, NATO,
EU cho thấy Nga rất cứng rắn và sẵn sàng thực thi những tuyên bố của mìnhkhi cần thiết