Ngày nay, tiếng Anh ở Ấn Độ được chính người Ấn xem như “disản vàng”, nhưng xét ở góc độ nào đó chúng ta lại thấy những biểu hiện củachủ nghĩa thực dân mới trong sự “bành trướng” của An
Trang 1Trờng đại học vinh khoa lịch sử
Trang 2Trờng đại học vinh khoa lịch sử
Giáo viên hớng dẫn : ThS Trần Thị Thanh Vân
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hằng
Trang 3Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫnThS Trần Thị Thanh Vân cùng các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử và xingửi đến các thầy, cô giáo lời cảm ơn chân thành nhất.
Vì thời gian và nguồn tài liệu có hạn nên khóa luận không thể tránhkhỏi những thiếu sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp của các quýthầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2010
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A.MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục của khóa luận 6
B.NỘI DUNG 7
Chương 1 Bối cảnh lịch sử của quá trình truyền bá Anh ngữ ở Ấn Độ 7
1.1 Cơ sở văn hoá ngôn ngữ của Ấn Độ trước khi thực dân Anh xâm nhập 7
1.1.1 Cơ sở hình thành sự đa dạng về ngôn ngữ ở Ấn Độ 7
1.1.2 Ngôn ngữ Ấn Độ qua các chặng đường du nhập và phát triển 10
1.2 Người Anh thiết lập chế độ thực dân ở Ấn Độ 15
1.2.1 Bước đầu xâm nhập của thực dân phương Tây vào Ấn Độ 15
1.2.2 Thực dân Anh hoàn thành quá trình xâm lược Ấn Độ 20
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 Chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân Anh ở Ấn Độ 25
2.1 Chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân Anh trong giai đoạn cai trị của công ty Đông Ấn Anh (1757-1858) 25
2.1.1 Giai đoạn thăm dò và truyền bá tiếng Anh ở Ấn Độ 25
2.1.2 Giai đoạn tiếng Anh được củng cố và phát triển ở Ấn Độ 30
2.2 Chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân Anh trong giai đoạn cai trị trực tiếp của chính phủ Anh (1858 - 1947) 34
Tiểu kết chương 2 41
Chương 3 Hệ quả của chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân Anh ở Ấn Độ 43
3.1 Hệ quả tiêu cực 43
3.2 Hệ quả tích cực 52
3.2.1 Những giá trị lịch sử - văn hóa 52
3.2.2 Những giá trị mang tính thời đại 59
C KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Sự thống trị của thực dân Anh ở Ấn Độ là một giai đoạn lịch sử bithương, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong tiến trình phát triển lịch sử Ấn Độnói riêng, lịch sử thế giới nói chung Trong khoảng hơn hai thế kỉ xâm lược,thực dân Anh đã viết lên những trang sử tối tăm nhất, đã thủ tiêu và san bằngnhững giá trị vĩ đại, cao đẹp có từ ngàn xưa trên đất nước này Mặc dù gótgiày của chủ nghĩa thực dân đã ra đi nhưng những hậu quả của chế độ thựcdân vẫn hiện hữu trên đất nước đã từng được xem là thuộc địa “xương sống”của đế quốc Anh
2 Nằm trong nền thống trị mà thực dân Anh thiết lập, chính sách vănhóa - ngôn ngữ tuy không điển hình như chính sách về chính trị hay kinh tế,nhưng nó được xem là công cụ quan trọng để phục vụ nền thống trị thực dân
ở Ấn Độ Bất cứ một quốc gia nào khi xâm lược một dân tộc khác, thườngmang theo ngôn ngữ và văn hóa để áp đặt lên tất cả các vấn đề của đối tượng.Trong lịch sử Ấn Độ, người Aryan đã làm như thế, đã mang ngôn ngữ và vănhọc Sanskrit đến Ấn Độ Người Mughul xâm lược và thống trị Ấn với nềnvăn hóa và ngôn ngữ Persian Người Anh cũng vậy, họ đã truyền bá tiếngAnh vào Ấn Độ nhằm mục đích đồng hóa dân tộc Ấn, biến tiểu lục địa nàythành thuộc địa của riêng mình Chính sách này đã được thực hiện xuyên suốtcùng với sự tồn tại của Đế chế Anh ở Ấn Độ
Đó là một trong những chính sách cơ bản thể hiện bản chất thâm độccủa thực dân Anh nói riêng cũng như chủ nghĩa đế quốc nói chung Nghiêncứu chính sách văn hóa của thực dân Anh ở Ấn Độ thì chúng ta không thểkhông nghiên cứu về vấn đề này Tìm hiểu về chính sách truyền bá Anh ngữcủa thực dân Anh ở Ấn Độ và hệ quả của nó sẽ giúp chúng ta có cách nhìntoàn diện hơn về chế độ thực dân Anh ở Ấn Độ Đó cũng là cơ sở quan trọng
Trang 6để nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc - một giai đoạn phát triển để lại nhiềudấu ấn thời đại của Chủ nghĩa tư bản
3 Hơn nữa cho đến thời điểm này những hệ quả về chính sách văn hóa
- ngôn ngữ của thực dân Anh ở Ấn Độ vẫn còn, thậm chí nó còn trở thành thếmạnh của Ấn Độ Thế giới đang bước vào kỉ nguyên phát triển mới với xu thếtoàn cầu hóa, quốc tế hóa, những thành tựu của cuộc cách mạng thông tin đãkết nối nhân loại bằng một ngôn ngữ chung đó chính là Anh ngữ Tiếng Anhkhông còn là một hiện tượng văn hóa gắn bó với một nền văn hóa riêng biệtnào nữa, mà ngày nay nó trở thành công cụ giao tiếp quốc tế và phát triểnmạnh trong bối cảnh toàn cầu hóa Ấn Độ với lợi thế về tiếng Anh đã gianhập vào “Gia đình quốc tế” Anh ngữ và trở thành “điểm bán hàng trong thịtrường quốc tế Anh ngữ” [23] Xuất phát từ ý nghĩa đó, tiếng Anh ở Ấn Độ đãthực sự mang lại những giá trị tích cực cho dân tộc Ấn Độ trong xu thế pháttriển của thời đại
4 Ngày nay, tiếng Anh ở Ấn Độ được chính người Ấn xem như “disản vàng”, nhưng xét ở góc độ nào đó chúng ta lại thấy những biểu hiện củachủ nghĩa thực dân mới trong sự “bành trướng” của Anh ngữ “Đế chế đã ra
đi nhưng chủ nghĩa thực dân phương Tây vẫn hiện thân ở những nước vốntừng là thuộc địa của nó” [23] Đế chế của Anh ngữ đã được thiết lập mà
“thuộc địa” của nó tiếp tục phụ thuộc vào phương Tây qua ngôn ngữ và kiếnthức thu nhận Đó là hệ quả lâu dài nằm ngoài tầm kiểm soát của các nước đãtừng là thuộc địa của thực dân phương Tây mà Ấn Độ là một ví dụ điển hình
Do đó, từ việc nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy được phần nàodiện mạo của chủ nghĩa thực dân mới, dù chỉ trong khía cạnh ngôn ngữ
5 Với những nỗ lực của mình, Ấn Độ đang cố gắng khép lại quá khứ,đồng thời tận dụng và phát huy những yếu tố tích cực, “yếu tố xây dựng” dochính hệ quả của nền cai trị thực dân để lại, từng bước tạo đà cho sự cất cánhcủa mình trong tương lai Đó không chỉ là việc làm cần thiết đối với riêng Ấn
Trang 7Độ mà còn có ý nghĩa đối với tất cả những nước đã từng là thuộc địa của Chủnghĩa thực dân trong đó có cả Việt Nam chúng ta Do vậy nghiên cứu vấn đềnày cũng là việc làm cấp thiết và mang ý nghĩa thực tiễn
Xuất phát từ những lý do trên, là một sinh viên ngành lịch sử thì việcnghiên cứu và làm sáng tỏ thêm các vấn đề lịch sử là một việc làm có ý nghĩa
Bởi vậy, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Chính sách truyền bá Anh ngữ
của thực dân Anh ở Ấn Độ và hệ quả của nó” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2 Lịch sử vấn đề
Chế độ thực dân Anh ở Ấn Độ điển hình cho chế độ cai trị trực tiếp của
tư bản Anh đối với thuộc địa.Trong đó chính sách văn hoá - ngôn ngữ là mộtchính sách quan trọng để thực dân Anh thiết lập và cai trị Ấn Độ, và vì vậy nó
đã để lại nhiều hậu quả sâu sắc trong lịch sử Ấn Độ Nên khi nghiên cứu vềchế độ cai trị của thực dân Anh ở Ấn Độ chúng ta không thể không tìm hiểu
về chính sách này Trong các công trình nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ ở giaiđoạn này các tác giả hầu như đều đề cập đến phạm vi nghiên cứu của đề tài ởcác góc độ và mức độ khác nhau
K.Marx, người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, ngay từ năm
1853 đã có những bài viết đăng trên báo “Diễn đàn hàng ngày của NewYork”, nghiên cứu về “sự thống trị của Anh ở Ấn Độ và những kết quả tươnglai của sự thống trị Anh ” Trong những bài viết này, ông đã nêu lên nhữnghành động mang tính thực dân của công ty Đông Ấn Anh - một giai đoạn đầucủa nền thống trị thực dân Mặc dù chỉ giới hạn trong giai đoạn đầu của nềnthống trị thực dân Anh ở Ấn Độ nhưng những bài viết của K.Marx đã thực sự
có giá trị Đặc biệt ông đã đưa ra luận điểm về “hai sứ mệnh” của người Anh
ở Ấn Độ, bước đầu đã có những nhìn nhận khách quan về các yếu tố tích cực
mà họ đã để lại ở đất nước này
Tác phẩm “Ấn Độ hôm nay và ngày mai” (bản dịch tiếng Việt) củaR.Panmơđơt, từng là phó chủ tịch Đảng cộng sản Anh là công trình nghiên
Trang 8cứu quý báu về lịch sử Ấn Độ Trong tác phẩm này ông đã nghiên cứu tươngđối sâu về nền thống trị của Anh, nhưng tác phẩm cũng chỉ nhấn mạnh nhiềuđến sự biến đổi của xã hội thuộc địa mà chưa đi sâu vào các chính sách cụthể.
Jawaharlal.Nehru trong tác phẩm “Phát hiện Ấn Độ” (tập 1-2-3, Nhàxuất bản Văn học, 1997) đã trình bày một cách khá chi tiết cụ thể về lịch sử
Ấn Độ, trong đó ông đã nhấn mạnh đến “Sự mâu thuẫn trong nền thống trịAnh ở Ấn Độ” và những hệ quả mà nó đưa đến Đặc biệt J.Nehru đã nghiêncứu khá sâu về sự mâu thuẫn trong “nền giáo dục Anh ở Bengal”, trong đóông đã nhận ra được những nhân tố tích cực mà nền giáo dục Anh đã đưa đếncho Ấn Độ
Việc tìm hiểu về lịch sử Ấn Độ cũng được các học giả Việt Nam quantâm nghiên cứu Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã viếtnhiều bài báo nghiên cứu về Ấn Độ trong đó Người đã chú trọng tìm hiểu
“Lối cai trị của người Anh trên thuộc địa Trung Quốc, Xu Đăng, Ấn Độ ”.Tác giả Văn Tân trong cuốn “Ấn Độ và đế quốc Anh” bước đầu cũng đãnghiên cứu về lịch sử Ấn Độ dưới sự thống trị của thực dân Anh
Với sự ra đời của ngành Ấn Độ học, cho đến nay đã có nhiều công trình
có giá trị được xuất bản:
- Nước Cộng hoà Ấn Độ do Nhà xuất bản Sự thật in năm 1983
- Ấn Độ qua các thời đại do Nhà xuất bản Giáo dục in năm 1986
- Văn hoá Ấn Độ của Cao Huy Đỉnh được xuất bản 1993
- Đặc biệt cuốn lịch sử Ấn Độ do giáo sư Vũ Duơng Ninh chủ biênđược xuất bản năm 1996 là chuyên khảo đầu tiên về lịch sử Ấn Độ
- Các giáo trình Lịch sử thế giới cận đại, Lịch sử thế giới hiện đại củacác trường Đại học trong nước
- Bên cạnh đó, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử cũng có những bài viết đềcập đến phạm vi của đề tài
Trang 9Nhìn chung, những công trình khoa học chúng tôi nêu ở trên đã đề cậpđến nhiều khía cạnh của vấn đề, song chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách chi tiết và hệ thống về chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dânAnh ở Ấn Độ và hệ quả mà nó để lại Tuy nhiên những tư liệu quý đó sẽ là cơ
sở giúp chúng tôi tiếp cận để hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân Anh ở Ấn Độ
- Hệ quả của chính sách truyền bá Anh ngữ đối với Ấn Độ
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Tài liệu
Việc tìm hiểu nội dung của đề tài không phải là một vấn đề mới mẻ.Song để tìm hiểu vấn đề một cách chi tiết và toàn diện thì nguồn tài liệu trongnước cũng không nhiều Tuy nhiên, để hoàn thành tốt khoá luận, ngoài sự nỗlực của bản thân tác giả còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáohướng dẫn Th.S Trần Thị Thanh Vân để có thể tiếp cận, thu thập và xử lý tốtcác nguồn tài liệu
Các nguồn tài liệu được sử dụng cho khoá luận bao gồm:
Trang 10- Các công trình của các học giả nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt.
- Các công trình của các nhà sử học Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đề tài đặt ra chúng tôi dựa vào chủ nghĩaduy vật biện chứng, các quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin làm cơ sởphương pháp luận cho việc nghiên cứu
Đây là một đề tài lịch sử mang màu sắc văn hóa nên chúng tôi sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic
- Kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch đại và đồng đại
- Các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương pháp đốichiếu, phương pháp thống kê toán học
5 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khoáluận được chia thành 3 chương:
Chương 1 Bối cảnh lịch sử của quá trình truyền bá Anh ngữ ở Ấn Độ.Chương 1 Chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân Anh ở Ấn Độ.Chương 3 Hệ quả của chính sách truyền bá Anh ngữ của thực dân
Anh ở Ấn Độ
Trang 11B NỘI DUNG
Chương 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ ANH NGỮ
Ở ẤN ĐỘ
1.1 Cơ sở văn hóa - ngôn ngữ của Ấn Độ trước khi thực dân Anh xâm nhập
1.1.1 Cơ sở hình thành sự đa dạng về ngôn ngữ ở Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia lớn ở châu Á, một trong những cái nôi văn minhcủa nhân loại Đây là một nền văn hóa cổ xưa và lâu đời, nhưng lại trường tồnqua những thăng trầm của lịch sử và chưa bao giờ chết đi Cho đến hiện nay,bên trong cái dáng vẻ hiện đại, người ta vẫn dễ dàng nhận ra cái tâm hồn củahàng nghìn năm quá khứ hiện hữu trên đất nước này Những đợt xâm lược vànhững thế kỉ thống trị của các tộc người Hi Lạp, người Hồi giáo và sau đó làthực dân phương Tây, cùng những ảnh hưởng của văn hóa đem theo đã khônghuỷ diệt được nền văn hóa Ấn Độ, mà trái lại đã bị hòa tan vào dòng chảymênh mông của truyền thống Ấn Độ Đất nước Ấn Độ của Đức phật Thích ca,của Hoàng đế A-sô-ka vẫn còn in lại những dấu ấn đậm nét trên đất nước Ấn
Độ của Tago và Gian-đi Dòng sông Hằng thơ mộng và vĩ đại được ví nhưmột biểu tượng đầy ý nghĩa của nền văn hóa Ấn Độ truyền thống: “Dòng sôngHằng chính là hỉnh ảnh tượng trưng của nền văn hóa và triết học lâu đời của
Ấn Độ, luôn luôn thay đổi, luôn luôn trôi chảy nhưng trước sau vẫn là mộtdòng sông Hằng ấy” [7; 5]
Tính bền vững và khả năng tiếp nhận những yếu tố mới của văn hóa Ấn
Độ được biểu hiện sâu sắc trước hết ở mặt ngôn ngữ.Trải qua hàng nghìn nămlịch sử, ngôn ngữ Ấn Độ cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện Từnhững ngôn ngữ sơ khai ban đầu của nền văn minh sông Ấn đã tìm thấy được
Trang 12cho đến nay, ngôn ngữ Ấn Độ đã phát triển thành một hệ thống đa dạng vàphong phú với hàng trăm thứ ngôn ngữ khác nhau.
Cơ sở căn bản tạo nên tính đa dạng của ngôn ngữ Ấn Độ chính là do tínhchất cách biệt của các vùng địa lý và sự đa dạng về tộc người Đó là cơ sở nềntảng đầu tiên cho sự xuất hiện các loại ngôn ngữ ở Ấn Độ, và đồng thời cũng lànhân tố ảnh hưởng xuyên suốt tiến trình phát triển của yếu tố văn hóa này
Sự xuất hiện bất kì một loại ngôn ngữ nào cũng gắn liền với một tộcngười trên một vùng địa lí nhất định Ở Ấn Độ, mối liên hệ này càng được thểhiện rõ nét hơn bất kì nơi nào Vốn là “một bán đảo hình tam giác lớn”, “tiểulục địa” này bị ngăn cách với thế giới bên ngoài bởi Ấn Độ Dương và dãy núiHimalaya hùng vĩ nhất thế giới Địa hình Ấn Độ bị cắt xẻ và dược chia làm 3khu vực rõ rệt: vùng núi Himalaya ở phía Bắc, tiếp đến là vùng đồng bằng ẤnHằng và cao nguyên Đê Can ở phía Nam
Himalaya theo tiếng Phạn có nghĩa là “nơi cư trú của tuyết”, là một bứctường thành khổng lồ án ngữ về phía Bắc Nhờ thế Ấn Độ đã tránh đượcnhững ảnh hưởng khí hậu khắc nghiệt của lục địa Những ngọn gió từ Đạidương thổi vào trong mùa hạ đã bị cản lại ở trên núi này, biến thành nhữngtrận mưa rào tưới nhuần cho cả miền đồng bằng Ấn - Hằng rộng lớn
Về phía Nam rặng Himalaya là dải đồng bằng Ấn - Hằng, một trongnhững đồng bằng rộng lớn nhất thế giới Nó được tạo nên bởi châu thổ củahai dòng sông lớn đã từng nuôi dưỡng đất nước Ấn Độ từ ngàn đời xưa: sông
Ấn ở phía Tây và sông Hằng ở phía Đông Vùng đồng bằng rộng lớn và màu
mỡ này là địa bàn sinh hoạt chủ yếu của Đất nước và con người Ấn Độ, lànguồn sữa mẹ nuôi dưỡng cho cả một dân tộc trên bước đường trưởng thành
Vì thế đồng bằng Ấn - Hằng được xem như là sân khấu biểu diễn của nhữngdiễn biến, đổi thay, những cuộc thăng trầm trong lịch sử Ấn Độ Có thể coi đó
là mặt tiền của tòa nhà văn hóa - văn minh của đất nước Ấn Độ truyền thống
Trang 13Cao nguyên Đêcan ở phía Nam là miền đất cổ, nhìn chung kém màu
mỡ, kinh tế và sinh hoạt nơi đây có phần lạc hậu hơn so với miền đất phíaBắc Chính vì vậy, nơi đây, được coi như là một nhà bảo tàng của những nềnvăn hóa cổ xưa nhất Ấn Độ, nơi gìn giữ truyền thống Ấn Độ tránh khỏi mọi
sự biến động và xáo trộn
Những hình ảnh kỳ vĩ và thơ mộng nói trên cùng với những ưu ái màthiên nhiên ban tặng, là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để Ấn Độ sớm trởthành một trong những cái nôi của loài người Từ thời cổ đại, nơi đây đã làđịa bàn sinh sống lý tưởng của con người Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa lànhững điều kiện thuận lợi cho con người sinh tụ và phát triển nền văn minhsớm Trên mỗi vùng địa lý nhất định, đã hình thành nên những tộc người khácnhau, nói những thứ ngôn ngữ khác nhau Đó là tiền đề đầu tiên cho sự pháttriển đa dạng của ngôn ngữ Ấn Độ về sau
Mặt khác, trên bước đường tiến tới văn minh, suốt hàng nghìn năm lịch
sử, trải qua những cuộc thiên di, những cuộc xâm nhập, Ấn Độ đã tồn tại vàtiếp nhận nhiều làn sóng người khác nhau tràn vào và trụ lại ở đây Nhữngchủng tộc này đã lai tạo và pha trộn với nhau tạo thành một hỗn hợp nhânchủng khó tách biệt Tuy nhiên, dựa trên một số tiêu chí cơ bản có thể chiathành 4 nhóm tộc người chính, đó là: chủng tộc Nêgrôit, chủng tộc Đraviđian,chủng tộc Aryan và chủng tộc Môngôlôit
Quá trình này không chỉ tạo nên sự đa dạng về mặt dân cư mà còn gópphần hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc với những ngôn ngữ dân tộcphong phú và đa dạng Bởi bất kỳ một tộc người nào đến đây, họ cũng mangtheo những bản sắc văn hóa - ngôn ngữ riêng của mình Sau đó, trong quátrình cộng cư và giao lưu giữa các tộc người cũng đã làm xuất hiện thêmnhững yếu tố văn hóa - ngôn ngữ mới, góp phần là giàu thêm cho ngôn ngữ
Ấn Độ
Trang 141.1.2 Ngôn ngữ Ấn Độ qua các chặng dường du nhập và phát triển
Là một trong những nền văn hóa cổ xưa nhất, Ấn Độ trước khi có sựxâm nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai đã xây dựng cho mình được mộtnền văn hóa bản địa đầu tiên Đó chính là nền văn minh sông Ấn mà thời giantồn tại của nó được bắt đầu từ đầu Thiên niên kỉ III TCN (cách ngày nay 5000năm) và đến giữa Thiên niên kỉ II TCN thì bị hủy diệt Chủ nhân của nền vănminh bản địa này có khả năng là người Đraviđian - có nguồn gốc đại dương
xa xưa và là một trong những bộ lạc di cư đến Ấn Độ sớm nhất Trong quátrình khai quật di chỉ khảo cổ Mohengiô - Đarô và một số thành phố khácthuộc nền văn minh sông Ấn, người ta đã phát hiện có tới 396 chữ tượng hìnhkhác khắc tên các quả Ấn Sau quá trình cố gắng giải mã văn tự này, các nhàngôn ngữ bước đầu nhận định đó là một loại chữ viết thuộc nhóm ngôn ngữĐraviđian III Sau đó, người ta cũng đã tìm thấy những đồ gốm cổ thuộc thời
kì đồ đá mới, có ghi chú bằng chữ Brahmi
Theo dòng chảy của lịch sử, cùng với sự xâm nhập của các thế lựcngoại bang, ở tiểu lục địa này đã xuất hiện các loại ngôn ngữ, mà sự tồn tại vàphát triển của nó còn tùy thuộc và sự đồng thuận của văn hóa bản địa
Tiếp sau nền văn hóa sông Ấn của người Đraviđian, lịch sử Ấn Độđược coi như là chính thức bắt đầu với sự hoạt động của các bộ tộc ngườiAryan Người Aryan có nguồn gốc xa xưa ở vùng Trung Á, ở đó có những tộcngười da trắng, vóc người cao, mũi thẳng, nói theo một ngữ hệ chung màngười ta gọi là ngữ hệ Ấn - Âu Vào khoảng giữa Thiên niên kỉ II TCN, cáctộc người Aryan đã tràn xuống vùng Ba Tư, Apganistan Một bộ phận ngườiAryan đã vào Ấn Độ đẩy lùi những người bản địa xuống phía Nam Từ đóngười Aryan định cư và hỗn chủng với các tộc người bản địa, trở thành yếu tốchủ thể, đặt nền móng cho nền văn minh Ấn Độ truyền thống
Khi đến Ấn Độ, người Aryan đã mang theo những yếu tố văn hóa,trong đó có cả ngôn ngữ của mình vào đây Tiếng Phạn (Sanskrit hay Sam
Trang 15Skrity) “là một thứ ngôn ngữ phong phú lạ lùng, mang đủ hoa rực rỡ, đủ cácthứ lá xum xuê” [14; 356] đã xâm nhập vào Ấn Độ và trở thành một thứ ngônngữ đầy tính văn chương Đây là ngôn ngữ biểu đạt cơ bản của văn học Ấn
Độ trong suốt nhiều thế kỉ Mặc dù chỉ là từ ngôn ngữ dùng trong giới tăng lữ,trí thức, song tiếng Phạn lại có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa Ấn
Độ trong suốt tiến trình lịch sử Sau đó, Prakrits - từ chỉ các thổ ngôn ngữ ở
Ấn Độ phát triển thành một loại ngôn ngữ quan trọng nhất Tiếng Pali - mộtdạng biến thể của chữ Phạn trở thành ngôn ngữ của tín đồ Phật giáo, còn Jain
là ngôn ngữ của tư duy và văn học Tiếng SansKrit trở thành biểu tượng củanền văn minh Vê-dic và là ngôn ngữ được dạy trong các trường học Pra Kritsphát triển trong những cộng đồng người phổ biến như Hinđi, Gujarati,Marithi, Bengali, Punjabi
Tiếp sau người Aryan, người Ba Tư (nay là Iran) bắt đầu xâm nhập vào
Ấn Độ và xây dựng đế chế của mình ở đây vào khoảng giữa thế kỉ VI TCN.Cũng như Ấn Độ, “Iran khá mạnh về các nền tảng để ảnh hưởng thậm chí cảnhững người xâm lược và thu hút họ” [14; 314] Ba Tư là một trong số rấtnhiều dân tộc và chủng tộc đã đến tiếp xúc, ảnh hưởng tới nền văn hóa và đờisống Ấn Độ, song đó lại là dân tộc lâu đời nhất và bền bỉ nhất Ngôn ngữ của
họ, cũng giống như tiếng Pháp ở Châu Âu, đã trở thành ngôn ngữ của các dântộc có văn hóa ngang qua những dải châu Á rộng mênh mông Khi vào Ấn
Độ, ngôn ngữ Ba Tư đã có ảnh hưởng liên tục và xuyên suốt, trở thành ngônngữ của triều đình và đất nước Tất cả mọi ngôn ngữ hiện đại đều đầy rẫy các
tư Ba Tư Điều này cũng khá tự nhiên với các ngôn ngữ xuất phát từ tiêngPhạn, và đặc biệt đối với ngôn ngữ Hindustani mà tự nó là một sản phẩm hôhợp, nhưng ngay cả ngôn ngữ Đraviđian ở phía Nam củng đã chịu ảnh hưởngcủa ngôn ngữ Ba Tư
Đầu thế kỉ IV TCN, Ấn Độ bị Alếchxanđrốt - vua xứ Makêđônia của
Hi Lạp xâm chiếm Sự xâm nhập của đạo quân Alếchxanđrốt vào đất Ấn và
Trang 16sự thành lập của các vương quốc chư hầu ở đó đã có những hậu quả lịch sửsâu sắc Nó đã du nhập nền văn hóa Hi Lạp vào Ấn Độ và hỗn dung với nềnvăn hóa bản địa, lần đầu tiên trong lịch sử đã tạo nên một cuộc giao lưu kinh
tế - văn hóa sâu rộng giữa phương Đông và phương Tây, coi như một cầu nốigiữa văn minh Địa Trung Hải và văn minh châu Á thời cổ đại Hòa vào dòngchảy đó, tiếng Hi Lạp cũng đã được du nhập vào Ấn Độ và có ảnh hưởngtrong nghệ thuật và kiến trúc của người Ấn Trong khi đó lại diễn ra một cuộccách mạng trong lĩnh vực tôn giáo từ thế kỉ V đến thế kỉ IV TCN, đã tác độngtới tín ngưỡng và tôn giáo Ấn Độ Đạo Phật (Buddhism) vào đạo Giai - na(Jainism) đã tuyên bố một cuộc cách mạng chống lại đa thần giáo Họ truyền
bá một thứ tôn giáo không biệt tuổi tác, giới tính cũng như đẳng cấp, và sửdụng thổ ngữ các địa phương chứ không phải tiếng Phạn - là ngôn ngữ của
họ Bởi vì hơn ai hết, các tôn giáo hiểu rằng tiếng Phạn không phải là ngônngữ của dân chúng mà chỉ là ngôn ngữ của những người có học ở Ấn Độ Vìvậy, họ tìm đến một thứ ngôn ngữ có tính phổ cập hơn để tôn giáo của mình
có thể đi tới dân chúng Và do đó ngôn ngữ Prakrits đã được sử dụng nhiềuhơn cả, nhất là đối với đạo Phật Tiếng Pali - một loại ngôn ngữ được pháttriển từ Prakrits đã trở thành ngôn ngữ của các tín đồ Phật giáo Và như vậycác tôn giáo này đã cộng thêm những sắc thái văn hóa - ngôn ngữ cho tiểu lục
Ấn Độ
Sự ra đi của Alếchxanđrốt đã mở đường cho đế chế Morya được thiếtlập vào thế kỉ IV và III TCN, tiếp đó sau công nguyên là đế chế Gup-ta thốngtrị từ thế kỉ IV đến thế kỉ VI Điều đặc biệt là ở các địa phương lại có sự cát
cứ của các tiểu quốc, họ sử dụng thổ ngữ trong nghệ thuật, âm nhạc, văn học,kiến trúc và tôn giáo Do đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thổ ngữ ở Ấn
Độ có dịp được khởi sắc
Lịch sử Ấn Độ gọi là những triều đại trước thế kỉ X này là những ngườikhai hoang (Settlers), và ngôn ngữ của họ như tiếng SansKrits, Pali và những
Trang 17ngôn ngữ khác được gọi là ngôn ngữ của những người khai hoang Hầu hếtnhững kẻ đi xâm lược đã định cư và làm nên sự phong phú của văn hóa và disản ngôn ngữ Ấn Độ.
Bắt đầu từ thời điểm này, tiểu lục địa Ấn Độ lại đứng trước nguy cơxâm nhập của một nền văn hóa mới từ các tín đồ Hồi giáo Trong khi Hác-sađang trị vì trên một vương quốc hùng mạnh ở Bắc Ấn Độ thì Hồi giáo đanghình thành và phát triển ở Ảrập Các quốc gia của người Hồi giáo có khuynhhướng thiện chiến và thường xâm lấn các nước khác Ấn Độ trong tình trạngchia cắt và rối ren trở thành miếng mồi hấp dẫn cho các thế lực xâm lượcngoại tộc Do đó, đạo Hồi cũng được mang tới Ấn Độ như là một lực lượngchính trị và có nhiều ảnh hưởng tới văn hóa Ấn Độ
Nhưng trước khi là một lực lượng chính trị, đạo Hồi - với tính cách mộttôn giáo, đã tới Ấn Độ từ nhiều thế kỉ trước Người mở đường cho đạo Hồi dunhập vào Ấn Độ được gắn liền với vai trò của thương nhân Ảrập Từ thế kỉ VII
họ đã đến Ấn Độ và tiến hành chinh phục bờ biển Ấn với mục đích cướp bóchơn là định cư Tiếp đó, các nhà truyền giáo cũng đã tới Ấn Độ để truyền báđức tin mới đó và họ được hoan nghênh “Nhà nước cũng như nhân dân Ấn Độkhông hề phản đối và cũng không hề có xung đột tôn giáo xảy ra [15; 10] Do
đó, văn hóa Hồi giáo đã có điều kiện để du nhập và phát triển một cách tựnguyện trên vùng đất được mệnh danh là ‘‘xứ sở của các tôn giáo” [12; 11]
Đạo Hồi chỉ thực sự xâm nhập vào đất nước này từ đầu thế kỉ XIII, khivương triều Hồi giáo Đêli được thiết lập và phát triển mạnh dưới triều đạiMô-gôn (từ thế kỉ XVI dến thế kỉ XVIII) Văn hóa Hồi giáo theo giai cấpthống trị ngoại bang vào Ấn Độ, cạnh tranh với văn hóa Hinđi, được chấpnhận và phát triển Hồi giáo đã đóng góp những dấu ấn quan trọng đối vớitruyền thống văn hóa Ấn Độ Một sự tổng hợp tự hình thành: những phongcách kiến trúc mới xuất hiện, thức ăn và áo quần thay đổi, cuộc sống bị ảnhhưởng và đa dạng hóa về nhiều phương diện khác Sự tổng hợp này thể hiện
rõ rệt trong ngôn ngữ Tiếng Ba Tư (Persian) trở thành ngôn ngữ chính thức ởtriều đình, và là ngôn ngữ của tòa án và văn học, nhiều từ Ba Tư cũng đã đi
Trang 18vào ngôn ngữ dân gian Tiếng Arabic (Ảrập) là ngôn ngữ của tôn giáo Islam.Như là một kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa chúng với những ngôn ngữ
Ấn, một ngôn ngữ mới ra đời được gọi là tiếng Urdu xuất hiện vào cuối thế kỉXVIII Từ “Urdu” trong tiếng Thổ Nhĩ Kì nghĩa là “quân đội” hoặc “doanhtrại”, nó sử dụng hệ thống kí tự Arabic và ngữ pháp Hinđi Urdu nhanh chóngphát triển trở thành ngôn ngữ phổ biến rộng rãi nhất, “ngay ở cả những nơi nókhông phải để nói” [14; 336]
Nhìn một cách tổng thể trên phương diện này có thể nói rằng Ấn Độ làmột bức tranh chắp hình nhiều màu của những tiếng nói khác nhau Không cómột tiếng nói và một chữ viết chung, trái lại, rất nhiều ngôn ngữ và thổ ngữcùng tồn tại Tài liệu dè dặt nhất cũng ghi nhận đến 200 ngôn ngữ, có tài liệuđưa con số lên tới 1600, trong đó có tới 60 thổ ngữ vào độ chỉ có khoảng 100nghìn người sử dụng Trên tờ giấy bạc 10 đồng Ru-pi của Ấn Độ, có ghi tới
12 thứ chữ viết tương ứng với 12 thứ ngôn ngữ khác nhau Sự phong phú ấylại được tiếp tục khi ngữ hệ La tinh được truyền bá vào Ấn Độ
Như vậy, cùng với sự xâm nhập và định cư của nhiều cộng đồng người,lịch sử Ấn Độ đã tiếp nhận, đồng thuận và phát triển nhiều loại ngôn ngữ làmnên sự đa sắc của nền văn hóa dân tộc Là một quốc gia hướng nội với đặcđiểm văn minh trọng tĩnh đã giúp Ấn Độ có thể bảo lưu được những giá trịvăn hóa- ngôn ngữ của mình Mặt khác, yếu tố lịch sử- văn hóa này cũng làmcho Ấn Độ có khả năng tiếp nhận những yếu tố văn hóa ngôn ngữ mới theocon đường hòa bình, tự nguyện Điều này đã được chứng minh bởi sự xuấthiện và tồn tại của các loại ngôn ngữ như Sanskrit, Pessian hay Arabic ở Ấn
Độ Đối với tiếng Anh cũng vậy, nó đã được du nhập và phát triển ở đây gópphần làm cho ngôn ngữ Ấn Độ ngày càng phát triển đa dạng và phong phúhơn Tuy nhiên, có một điều khác là tiếng Anh được truyền bá ở Ấn Độ vìnhững mục đích thực dân, và do đó sự phát triển của ngôn ngữ này ở đây còntùy thuộc vào chính sách của kẻ xâm lược cũng như sự đồng thuận của nềnvăn hóa bản địa
Trang 191.2 Người Anh thiết lập chế độ thực dân ở Ấn Độ
1.2.1 Bước đầu xâm nhập của thực dân phương Tây vào Ấn Độ
Từ cuối thời trung đại, do nền kinh tế hàng hóa thành thị Tây Âu và cáchoạt động thương mại đường biển phát triển, tư bản phương Tây đã nhiều lầntìm đường buôn bán với các nước phương Đông, trong đó có Ấn Độ
Sau những phát kiến địa lí, cánh cửa nhìn sang phương Đông đã đượcrộng mở Châu Âu tư bản đã choáng ngợp trước những cảnh tượng mới bày ratrước mắt mình Phương Đông xa xôi, cổ kính đầy huyền bí và giàu có khôngcòn nằm trong trí tưởng tượng nữa mà đã “lấp ló hiện ra bên kia bờ đạidương” [8; 78] Nhờ vào những tiến bộ về kĩ thuật mà biển cả mênh môngkhông còn là trở ngại chính trên con đường chinh phục những miền đất xa lạ
ấy Nếu các nhà thám hiểm với đầu óc thơ mộng và phiêu lưu đã tìm đến đâynhằm thỏa mãn tính hiếu kì, thì ngược lại, các nhà tư bản lại rất tỉnh táo vàthực tiễn, không hề bị những tình cảm lãng mạn đối với những miền đất xa lạ
ấy làm lung lạc ý chí Đối với họ, “đi sang phương Đông có nghĩa là đi buônlấy lãi” [8; 78] Lý tưởng thương mại thực dân hóa đã ngày càng thắng thếtrước động cơ tôn giáo và phù hợp với sự phát triển nội tại của xã hội châu Âulúc bấy giờ Trong những hoàn cảnh đó, dưới con mắt của các tư bản phươngTây, Ấn Độ hiện ra như một miền đất lý tưởng “Đó là phương Đông, là toàn
bộ phương Đông mà bấy lâu người ta hằng mong ước” [8; 79]
Trong khi đó, theo quy luật hưng thịnh và suy tàn của các triều đạiphong kiến, lịch sử Ấn Độ vẫn viết tiếp trang sử của chế độ phong kiến.Vương triều của đế chế Mô-gôn đã được lập nên vào năm 1526 Xét ở mức độnào đó, đây thực sự vẫn là một vương triều hùng mạnh trong công cuộc ổnđịnh, thống nhất và phát triển quốc gia Ấn Độ sau nhiều thế kỉ chia cắt, rốiren Chính vì vậy mà thế kỉ XVI của A-cơ-ba (Akbar) - ông vua thứ III củatriều đại Mô-gôn, “Ấn Độ bề ngoài cũng có vẻ trình bày quang cảnh không
Trang 20những của một triều đình tráng lệ mà cả một nền thương mại mậu dịch, chếtạo, nghề nghiệp phồn vinh” [22; 10]
Song sự cường thịnh của đế quốc Mô-gôn cũng chỉ tồn tại trong mộtthời gian nhất định Những người kế vị A-cơ-ba đã không gánh vác đượctrách nhiệm một cách xứng đáng Trong lòng đế quốc Mô-gôn đã bộc lộ dầnnhững mâu thuẫn, những điểm bất đồng làm suy yếu thế lực của chính quyềntrung ương, gây nên những rạn nứt về nhiều mặt Trước những biến động củathế giới, những điểm yếu này đã thực sự đưa đến cơ hội cho thực dân phươngTây tìm được cánh cửa để xâm nhập vào tiểu lục địa Ấn Độ Và quả thực nhưmột tất yếu lịch sử, Ấn Độ đã trở thành con mồi béo bở trước “nanh vuốt củabầy sói thực dân” [8; 78]
Tư bản Bồ Đào Nha là đại biểu đầu tiên đặt chân lên Ấn Độ Ngay từcuối thời kì trung đại, người Bồ Đào Nha rất thích hợp để lãnh đạo các cốgắng của người châu Âu khai thác nền thương mại của Ấn Độ Dương Họ đã
có kinh nghiệm của hàng loạt chuyến đi thám hiểm dài ngày và được “chủnghĩa dân tộc cuồng nhiệt thôi thúc họ” [22; 13]
Năm 1498, Vaxcô Đơ Gama (Vasco de Gama), sau khi đi vòng quanhven biển châu Phi đã đặt chân lên Ca-li-út (nay thuộc bang Kê-ra-la) miềnTây Ấn Độ Theo dấu chân Vaxcô Đơ Gama, các thương nhân Bồ Đào Nha
đã vượt biển sang Ấn Độ buôn bán và tìm cách lập thương điếm ở vùng biểnTây Nam Năm 1510, người Bồ Đào Nha do An-bun-kéc-cơ chỉ huy đã chiếmđóng và lập thương điếm ở Goa, sau đó là Daman và Điu Những thươngđiếm này cùng với Ma-lăc-ca ở Đông Nam Á và Hoc-mu-đo ở vịnh Ba Tư đãtạo thành một tuyến đường buôn bán Đông - Tây vượt đại dương vô cùng tấpnập, nối liền Đông Nam Á với vịnh Péc-xích
Sau Bồ Đào Nha, người Hà Lan cũng mở đường tới Ấn Độ Năm 1602,sau khi thành lập xong công ty Đông Ấn (Veree nigde Oost indischeCompagnie - V.O.C), người Hà Lan có ưu thế hơn hẳn so với người Bồ Đào
Trang 21Nha Chỉ một năm sau, Hà Lan chiếm thương điếm Cô-chin của người Bồ vàphát triển thành một thương cảng tấp nập Hơn một thế kỉ sau, mãi đến năm
1765, Hà Lan mới bị thực dân Anh gạt ra khỏi thương điếm này
Việc người Anh khởi đầu một cách muộn màng việc khai thác conđường từ mũi Cáp tới Ấn Độ Dương và các vùng xa hơn không phải là dothiếu quan tâm đến buôn bán ở phương Đông Các chuyến đi của John Cabot
từ Bristol dưới triều đại của vua Herry VII (1485 - 1509) đã được thực hiệnnhằm vào các thị trường hương liệu và tơ tằm lớn ở châu Á
Thomas Stephans là người Anh đầu tiên đến Ấn Độ trong thế kỉ XVI.Vào năm 1578, “những bức thư ông ta gửi cho cha mình đã khích lệ tính tò
mò và ưa mạo hiểm của người Anh”, và 4 năm sau đó, 3 thương gia ngườiAnh là: Newberry, Fitch và Leeds đã tìm đường tới Ấn Độ theo con đương điqua Đông Địa Trung Hải Nhưng việc thiếu kiến thức về buôn bán và hànghải ở Ấn Độ Dương là một cản trở lớn trong việc cạnh tranh với Bồ Đào Nha.Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XVI, kiến thức địa lí của người Anh đã tiến bộ rấtnhanh Năm 1598, việc xuất bản cuốn sách “Intinerario” (Lộ trình) của LinseHoter bằng tiếng Anh đã cung cấp thông tin tốt nhất về vấn đề buôn bán vàhàng hải ở Ấn Độ Dương đã gây nên một sự quan tâm lớn Dư luận London
đã thực sự ủng hộ việc thành lập công ty để buôn bán với Đông Ấn qua conđường mũi Hảo vọng Bước qua ngưỡng cửa của thế kỉ XVII, vào ngày cuốicùng của năm đầu tiên (31/12/1600), nữ hoàng Anh Ê-li-za-bét (Elizabeth) đãchính thức ra lệnh thành lập công ty Đông Ấn Độ Anh
Công ty Đông Ấn Anh ra đời như là một lời khẳng định quyết tâm củangười Anh trong cuộc đua tranh với người Bồ Đào Nha và Hà Lan trên conđường chinh phục mảnh đất Ấn Độ mới lạ và hấp dẫn Không có một lý do nào
có thể cản trở khát vọng của người Anh, kể cả sắc lệnh của vua Phi-líp II kýnăm 1594 cấm không cho các nhà buôn Anh và Hà Lan đi vào cảng Liston
Trang 22Cho đến thế kỉ XVII, sức mạnh hải quân Anh đã vươn lên và đánh bạingười Bồ Đào Nha trên biển Ấn Độ Công ty Đông Ấn Anh được chính phủbảo trợ với một quyền hạn rộng lớn nên chẳng bao lâu đã nhanh chóng pháthuy được thế mạnh của mình Ban đầu, quan hệ buôn bán của công ty với cácchính quyền Hồi giáo địa phương có phần tốt đẹp Nhà vua Jehangir thuộcvương triều Mô-gôn đã ưu đãi công ty, ban dụ cho phép thương nhân Anhđược tự do buôn bán trên toàn đế quốc Nhờ vậy, vào năm 1693 người Anh đãthiết lập được thương điếm Ma-đrát trên bờ biển vùng Đông Nam Ấn Thựcdân Anh đã xây dựng ở đây một pháo đài kiên cố và lập cảng, tạo nên mộtthành phố đông đúc và giàu có Đây là một thắng lợi nhẹ nhàng nhưng vôcùng quan trọng cho thương nhân Anh, thắng lợi từ sự bất cẩn của người Ấn.Trong suốt một thế kỉ, “không một ai ở Ấn Độ để ý gì đến người Anh Việcngười Anh lúc này kiểm soát các đường biển và trên thực tế đã đánh đuổingười Bồ Đào Nha không hề có ý nghĩa quan trọng gì đối với vua chúa Mô -gôn hoặc các cố vấn của họ” [15; 112] Khi đế quốc Mô - gôn đã thực sự suyyếu dưới triều đại Aurungzeb, người Anh đã tiến hành một mưu toan có tổchức để mở rộng thuộc địa của họ ở Ấn Độ bằng chiến tranh.
Năm 1661, thực dân Anh lập ra thương điếm Bom-bay Đó là một hònđảo nhỏ ven biển trước kia thuộc Bồ Đào Nha, sau đó được người Bồ tặng lạicho vua Anh như một món quà hồi môn của công chúa Bồ là Ca-tê-rin(Catherine) Bom-bay được công ty Đông Ấn đầu tư xây dựng thành căn
cứ chính của Anh ở bờ biển phía Tây
Thương điếm lớn nhất và sau này trở thành “đại bản doanh” của thựcdân Anh ở Ấn Độ là Can-cút-ta (Calcutta), được thành lập vào năm 1690.Tiếp đó, chúng đã cho xây dựng ở đây một pháo đài kiên cố gọi là pháo đàiUyliam (tên nhà vua Anh) nhằm chống lại những hoạt đông nổi dậy của nhândân địa phương
Trang 23Như vậy là vào cuối thế kỉ XVII, người Anh đã giành được một số vịtrí vững chắc ở Ấn Độ và thiết lập các đồn tiền tiêu trên bờ biển “Với 3thương cảng căn cứ lớn là Ma-đrát, Bom-bay và Can-cút-ta, công ty Đông ẤnAnh đã bám chắc những móng vuốt sắc nhọn của chúng vào toàn bộ vùngduyên hải Ấn Độ, khống chế mặt biển và uy hiếp những địch thủ của mình,tiến lên độc chiếm tiểu lục địa” [8; 83-84].
Nhưng việc thực hiện âm mưu đó không phải là dễ dàng, bởi lúc nàyPháp cũng đã mở rộng hoạt động chiếm thuộc địa ở viễn Đông Là tên thựcdân đến Ấn Độ sau cùng nhưng thực dân Pháp lại có tham vọng rất lớn Năm
1664, công ty Đông Ấn Pháp thành lập, đặt dưới sự điều khiển của Colbe - làđại thần của vua Lui XIV và là một tín đồ của chủ nghĩa trọng thương Đểthực hiện được tham vọng của mình, ngay từ đầu chính phủ Pháp đã trao chocông ty những quyền hạn rất lớn đối với miền đất chinh phục: được quyềntuyên chiến, đình chiến Công ty còn được chính phủ bảo trợ, bảo vệ tàuthuyền chống lại mọi địch thủ Với những thế mạnh ban đầu đó, bằng sự khônkhéo của mình, thực dân Pháp đã thỏa thuận được với một số tiểu vương vàchiếm được một số lãnh địa quan trọng như: Pondicherry, Mahe, Yanam.Pondicherry cách Madras không xa, phát triển thành trung tâm của công tyĐông Ấn Pháp
So với Anh, quy mô hoạt động của công ty Đông Ấn Pháp nhỏ hơn, tổchức kém chặt chẽ hơn, nhưng lại là đối thủ cạnh tranh gay gắt của Anh ở Ấn
Độ Pháp đã thành lập được những đơn vị đánh thuê người bản xứ (Xi-pay),đưa quân chiếm đóng một số nơi dưới danh nghĩa “viện trợ” và được chínhquyền bản xứ ủng hộ Pháp đã giành được hai vương quốc ở Nam Ấn làHyderabad và Carnatic Chính vì vậy cho đến giữa thế kỉ XVIII, sự cạnh tranh
và xung đột giữa Anh và Pháp đã trở nên vô cùng gay gắt
Vào lúc này, ở Ấn Độ tư bản Đức, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, cũnglần lượt đặt chân đến Với dã tâm độc chiếm Ấn Độ, thực dân Anh càng đẩy
Trang 24mạnh hơn nữa việc tiêu diệt đối thủ của mình, hoàn thành quá trình xâm lượctiểu lục địa này
1.2.2 Thực dân Anh hoàn thành quá trình xâm lược Ấn Độ
Cho đến giữa thế kỉ XVIII, sự lớn mạnh của công ty Đông Ấn Anh đãđánh bại được sự cạnh tranh và tham vọng của các đối thủ khác Đối thủ duynhất mang tính đối trọng với công ty Đông Ấn Anh chỉ còn lại công ty Đông
Ấn Pháp “Việc 2 tên thực dân kẻ cướp cùng có mặt ở Ấn Độ và cùng nuôidưỡng những mưu đồ chinh phục đất nước này đã không thể không dẫn đếnmâu thuẫn và xung đột” [8; 84-85] Do đó, như một điều đã được đoán địnhtrước, một cuộc chiến tranh đã nổ ra giữa Anh và Pháp kéo dài từ năm 1746đến năm 1763 nhằm độc chiếm thuộc địa rộng lớn này
Cuộc chiến tranh giữa Anh và Pháp đã diễn ra hết sức quyết liệt, ở cảtrên bộ lẫn trên biển Pháp đã từng kéo quân đến bao vây và đánh chiếm Ma-đrát(Madras) năm 1746 nhưng đã phải trả lại cho Anh 2 năm sau đó theo thỏathuận của Hiệp định hòa bình Aixla chpelle Thế lực của Anh ngày càng đượccủng cố, đặc biệt là sau khi chúng đã đánh bại được quân đội của tiểu vươngBen-gan được Pháp ủng hộ trong trận Plát-xây (Plassey-1757), và chiếm đượcvùng này Sau đó, năm 1761 Anh tiến hành bao vây Pondicherry trong 5tháng Quân Pháp kiệt quệ, đói khát phải hạ vũ khí đầu hàng Thực dân Anhtràn vào triệt hạ toàn bộ thành phố Để đối phó với dư luận và gỡ thể diện,chính phủ Pháp đã triệu hồi viên sĩ quan chỉ huy Pondicherry về nước, đem raxét xử và tuyên án tử hình
Với Hòa ước Pa-ri năm 1763, Anh đã đập tan được ý đồ chinh phục Ấn
Độ của Pháp, chỉ còn để lại cho Pháp 5 thành phố ven biển, trong đó cóPondicherry Sự thất bại của Pháp đã chứng tỏ sự vươn lên mạnh mẽ củangười Anh về kinh tế, quân sự, và cả kinh nghiệm xâm lược Điều đó càngcủng cố hơn nữa tham vọng độc chiếm thuộc địa Ấn Độ của thực dân Anh.Tuy nhiên, dù các đối thủ phương Tây hầu như đã bị loại ra khỏi Ấn Độ,
Trang 25nhưng những cản trở trên con đường chinh phục thuộc địa này của Anh khôngphải là đã hết Đó chính là sự chống đối của người dân bản địa.
Nếu như với những đối thủ đến từ phương Tây, Anh chỉ cần sức mạnhcủa kinh tế và quân sự cũng có thể loại được đối phương, thì với cuộc đọ sứclần này đòi hỏi ở Anh sự khôn ngoan, kiên trì, và những mánh khóe thực dân.Bởi thực tế, dù không có sự thống nhất của toàn dân tộc Ấn nhưng sự chốngtrả quyết liệt của các tiểu vương quốc vừa mang tinh thần dân tộc, vừa theo lýtưởng tôn giáo đã là những cản trở lớn cho người Anh Đối thủ trong cuộctranh chấp “quyền bá chủ” với Anh lúc này là liên bang Maratha, Haider Ali(Công quốc Mysore) và một số tiểu quốc khác
Công quốc Mysore là trở ngại chính cho Anh ở phía Nam Lãnh vươngMysore - Haider Ali là một con người xuất chúng, một trong những nhân vậtđáng chú ý của lịch sử Ấn Độ “Ông có một thứ lý tưởng quốc gia nào đó và
có những đức tính của một lãnh tụ có tầm nhìn xa trông rộng” [15; 124] Bằngnhãn quan của một nhà chính trị, ông đã nhận ra tầm quan trọng của sức mạnhtrên biển và mối đe dọa ngày càng tăng của người Anh dựa trên sức mạnh củaHải quân Ông đã tiến hành cải tổ quân đội, dùng người Pháp làm sĩ quan chỉhuy, áp dụng chiến thuật mới, coi trọng kỷ luật Do vậy với Haider Ali vàTipu Suntan, người Anh không thể xem thường Họ đã giáng cho người Anhnhững đòn thua đau đớn và gần như phá vỡ thế lực của công ty Đông Ấn ởphía Nam Với một đối thủ như vậy, thực dân Anh phải mất hơn 30 năm(1767 - 1799), tiến hành tới 4 cuộc chiến tranh mới có thể bình định xong.Giờ đây, trên chiến trường chỉ còn có người Anh và người Maratha cho cuộcquyết đấu cuối cùng
Người Maratha có lý tưởng mang màu sắc tôn giáo và tính địa phương
rõ rệt Nhưng họ thực sự đã thống nhất và củng cố sức mạnh của mình trênnền dân tộc chủ nghĩa Là một cát cứ ở miền Tây Ấn Độ, ngay từ đầu thế kỉXVIII, họ đã lấn át được chính quyền Mô-gôn Sau khi vương quốc Mysore bị
Trang 26tiêu diệt, Maratha đã trở thành đối tượng số một của Anh như chính CharlesMetcalfe - một trong những quan chức Anh giỏi nhất Ấn Độ đã công nhận:
“Ấn Độ chỉ còn hai lực lượng lớn, người Anh và người Maratha, và tất cả cácquốc gia khác đều thừa nhận ảnh hưởng của một trong hai bên đó” [15; 125].Nhưng giữa các thủ lĩnh Maratha lại có sự đối địch và mâu thuẫn lẫn nhau.Lợi dụng điều này, Anh tiến lên đánh bại từng người một Và đến năm 1818,lực lượng Maratha cuối cùng bị đập tan và những thủ lĩnh lớn đại diện cho nó
ở miền Trung Ấn Độ đã khuất phục và chấp nhận quyền chúa tể của công tyĐông Ấn Anh Khi đó, cản trở cuối cùng của Anh chỉ còn lại công quốc độclập ở Pun Jap
Pun Jap là xứ sở phân tán ở Tây Bắc Ấn Độ Ranjit Singh, là một ngườitheo đạo Sikh đã thống nhất và mở rộng vương quốc Sikh sang tận Kashmir
và tỉnh biên giới Tây Bắc Sau khi Ranjit Singh chết (1838), trong nội bộvương quốc lại xuất hiện nhiều mâu thuẫn Đó là cơ hội tốt để thực dân Anhnhảy vào tiêu diệt vương quốc này
Đầu thế kỉ XIX, Anh đưa quân xâm lược Afghanistan nhưng vấp phải
sự chống trả quyết liệt của người Sikh Để có thể rảnh tay cho việc tập trungđánh Afghanistan, Anh đã tiến hành đàm phán và mua chuộc được Gulab (đạidiện chính phủ Sikh ở Peshawa) làm nội ứng cho mình Nhờ vậy quân Anh đãtránh được sự mai phục của quân Sikh, đánh được Khyben và uy hiếp đượcKabul Tiếp đó, Anh phát động cuộc chiến tranh chống vương quốc Sikh với
âm mưu làm suy yếu đối thủ và chiếm Peshawa làm căn cứ Thực hiện âmmưu này thông qua Hiệp ước Amritsar, thực dân Anh đã cắt vùng Kashmir rakhỏi vương quốc Sikh để thưởng cho G.Singh Kashmir trở thành căn cứ hậucần quan trọng của quân Anh Dựa vào thủ phủ lợi hại này, thực dân Anh tiếnhành cuộc chiến lần thứ 2 chống vương quốc Sikh và chiếm được toàn vùngPun Jap (tháng 3/1849) Pun Jap là vùng đất cuối cùng trở thành thuộc quốccủa công ty Đông Ấn Anh
Trang 27Như vậy, trải qua hơn hai thế kỉ thực dân Anh đã từng bước hoàn thànhcông cuộc xâm lược của mình ở Ấn Độ Với bước đi đầu tiên là sự thăm dò vàđặt lòng tin với việc “xin phép” hoàng đế Ấn Độ mở xưởng nhà máy Surat(1615) và lập các thương điếm Dần dần, họ mở rộng và lấn sâu vào đất liền.Cuộc chiến Plassey (1757) đem đến cho họ một khu vực rộng lớn (Bengal.Bihar, Orissa) và miền duyên hải phía Đông Sau khi tiêu diệt chính quyềntrung ương ở Delhi, tiến tới tiêu diệt vương quốc Mysore (1799) và vươngquốc Maratha (1818), thì thực dân Anh đã hoàn thành một bước lớn trongchặng đường cuối cùng Cuộc chiến chống người Sikh thắng lợi đã hoànchỉnh lãnh thổ thuộc địa rộng lớn cho thực dân Anh Rõ ràng, với chính sáchxâm lược theo kiểu “tằm ăn lá” thực dân Anh đã từng bước hoàn thành quátrình chinh phục Ấn Độ.
Song song với quá trình xâm lược và chinh phục, người Anh đã tiếnhành thiết lập chế độ thống trị của mình lên đất nước Ấn Độ Những chínhsách thực dân trên các phương diện về chính trị, kinh tế cũng như văn hóa -giáo dục mà người Anh thực thi ở đây không nằm ngoài mục đích biến tiểulục địa này thành thuộc địa của riêng mình Do đó, chính sách văn hóa -ngôn ngữ cũng phải dựa trên những tham vọng về kinh tế và chính trị.Người Anh phát triển Anh ngữ và giáo dục nhằm mục đích “đồng hóa” dântộc Ấn Theo đó, với các giai đoạn khác nhau, tiếng Anh đã được truyền bá
và phát triển vào Ấn Độ Tuy nhiên, nếu như trong chính sách chính trị vàkinh tế, thực dân Anh đã xây dựng được một chế độ bóc lột thực dân nặng
nề ở thuộc địa, thì trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục nói chung và chính sách
về văn hóa - ngôn ngữ nói riêng, chính quyền cai trị không dễ dàng đề rađược chính sách hợp lý
Tiểu kết chương 1
Là một trong những nền văn hoá cổ xưa nhất, Ấn Độ trước khi có sự xâm nhập của các yếu tố văn hoá ngoại lai đã xây dựng cho mình được một nền
Trang 28văn hoá bản địa đầu tiên Đó chính là nền văn minh sông Ấn của người
Đraviđian
Trên bước đường tiến tới văn minh, suốt hàng nghìn năm lịch sử, Ấn Độ
đã tồn tại và tiếp nhận nhiều làn sóng người khác nhau tràn vào và trụ lại ở đây Quá trình này không chỉ tạo nên sự đa dạng về mặt dân cư mà còn góp phần hình thành nên một nền văn hoá đặc sắc với những ngôn ngữ dân tộc phong phú và đa dạng
Bắt đầu từ thế kỉ XVI, sau những thành tựu vĩ đại của công cuộc phát kiến địa lý, lịch sử Ấn Độ được đánh dấu bước sang một trang mới khi phải đối mặt với sự xâm lược của thực dân phương Tây
Trong cuộc chạy đua bành trướng thuộc địa lý tưởng này, Anh tuy là kẻđến sau nhưng với kinh nghiệm của một tên thực dân đầu sỏ đã nhanh chóng đánh bại các đối thủ, vươn lên độc chiếm Ấn Độ
Chiếm được Ấn Độ , Anh đã thực sự thể hiện rõ ưu thế của một tên thực dân có thế lực Tuy nhiên, không giống với người Aryan, người Ba Tư
và sau đó là các tín đồ Hồi giáo đã tới Ấn Độ và xem đó như là nhà của mình để góp phần xây dựng nền văn hoá dân tộc Nguời Anh tới Ấn Độ dể bắtđầu cho những hành động xâm lược thực dân Do đó chính sách văn hoá-ngônngữ cũng phải dựa trên những tham vọng về kinh tế và chính trị Người Anh phát triển Anh ngữ và giáo dục nhằm mục đích đồng hoá dân tộc Ấn Theo
đó, với các giai đoạn khác nhau tiếng Anh đã được truyền bá và phát triển ở
Ấn Độ
Trang 292.1.1 Giai đoạn thăm dò và truyền bá tiếng Anh ở Ấn Độ
Trước không khí sôi động của cả châu Âu đang hướng về phươngĐông, hướng về Ấn Độ, thực dân Anh cũng đã không tự cho mình cái quyềnđược đứng ngoài cuộc Vào ngày 31 tháng 12 năm 1600, nữ hoàng Elizabeth
đã kí quyết định thành lập công ty thương mại Luân-đôn (London) ở Đông
Ấn, được gọi là công ty Đông Ấn Anh (East Indian Company - E.I.C), với sốvốn ban đầu là 50 nghìn bảng Anh (chỉ gần bằng một phần mười số vốn củacông ty Đông Ấn Pháp)
“Mục đích đầu tiên của công ty Đông Ấn trong việc buôn bán với Ấn Độ
là mục đích điển hình của các công ty độc quyền, thuộc phái trọng thương,kiếm lời bằng cách đảm bảo cho mình độc quyền buôn bán hàng hóa và sảnphẩm của một nước hải ngoại Mục tiêu lớn lao không phải là tìm kiếm các thịtrường tiêu thụ những sản phẩm của Anh mà là chiếm đoạt những sản phẩm(đặc biệt là hương liệu, vải bông, tơ tằm) của Ấn Độ” [17; 30] Do vậy màtrong mắt người Anh, công ty và những đại lí của họ chỉ là “chim mồi” đúngnhư Burke đã miêu tả họ Phải đến sau chiến thắng Plassey 1757, quyền lựcthực sự của thương gia Anh mới được thiết lập ở Ấn Độ Công ty được chínhphủ Anh bảo trợ với một quyền hạn lớn nên chẳng bao lâu đã phát huy đượcthế mạnh của mình Cuộc chiến Plassey đã đưa đến cho họ một khu vực rộnglớn ở Bengal và là mốc đánh dấu việc người Anh chính thức đặt ách đô hộ ở
Ấn Độ
Trang 30Vấn đề thực sự cần thiết là phải ban bố một văn kiện luật pháp để hợpthức hóa việc cai trị của E.I.C tại Ấn Độ, và người Anh cũng không thể kiểmsoát thuộc địa này nếu như thiếu kiến thức thực tế Do đó, người Anh đã đưa
ra chính sách phát triển Anh ngữ và giáo dục nhằm “đồng hóa” dân tộc Ấn,tạo ra một tầng lớp người dân bản địa nói tiếng Anh, hưởng quyền lợi củachính phủ Anh, theo tư tưởng sống của phương Tây, phục vụ trong hệ thốngquan chức của nền thống trị thực dân Tuy nhiên, dưới thời cai trị của toànquyền Robert Clive, những chính sách này chưa được thực hiện Mọi việc chỉthay đổi dưới thời của Warren Hasting khi ông được bổ nhiệm làm Toànquyền vào năm 1774 Trước đó, đạo luật điều chỉnh được ban bố vào năm
1773 quy đình quyền quản lí trực tiếp của công ty ở Ấn Độ
Warren Hasting là người đặc biệt quan tâm đến văn hóa Ấn, nhất là đốivới triết học và văn học Ông yêu Bhagavad Gita và sử thi vĩ đại Mahabharata
và đã “bập bẹ” dịch được những tác phẩm này ra tiếng Anh Sự cố gắng củaông nhằm mục đích khơi dậy niềm thích thú của người Âu đối với văn hóa
Ấn Trong thời đại của ông còn có William Jones - một viên thư kí của Hộiđồng Anh ở Can-cút-ta (calcutta), công bố một luận văn mà sau này được gọi
là tác phẩm văn học và lịch sử ngôn ngữ Một người khác là Wilkins đã dịchđược Bhagavad Gita, in ra tiếng Ba Tư và tiếng Ben - gan, và đồng thời ôngcũng là tác giả cuốn Atlas của Bengal Warren Hasting cũng đã thiết lập mộtbản tin về lịch sử và văn hóa Ấn Độ, một cơ sở để dẫn người Anh tiếp tục chế
độ thực dân trong 175 năm sau
Mặc dù vậy, tuy là dân tộc đại diện cho sự phát triển văn minh nhưngvới thuộc địa, tư tưởng chỉ đạo đối với chính quyền thực dân là phải hạn chế
sự phát triển của dân tộc Ấn, đẩy nhân dân Ấn vào con đường tối tăm Họphản đối việc dạy tiếng Anh cho người Ấn Độ cũng như việc mở rộng các hệthống trường lớp Do đó, trước năm 1800, giáo dục của công ty ở Ấn Độ chỉdành cho những đứa trẻ Âu, con của nhân viên công ty hoặc một số ít là người
Trang 31Ấn gốc Anh., mà không hề chú ý tới giáo dục cho người Ấn Phải đến cuốithế kỉ XVIII, khi công ty đã kiểm soát được những vùng lãnh thổ rộng lớnnhư Pun Jap và Sind, người Anh bắt đầu nghĩ tới việc giáo dục người bản địa
để “khai hóa” họ Bởi họ nghĩ rằng: “để giao thương với một người văn minhthì sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn rất nhiều so với người ở trình độ lạc hậu, dãman” [23] Vì vậy giáo dục người Ấn đã trở thành chiến lược và mục đích lâudài của công ty
Kế hoạch chi tiết đầu tiên của nền giáo dục Anh ở Ấn Độ đã được soạnthảo vào năm 1792 bởi Charles Grant - một giám đốc của E.I.C và là một tín
đồ Thiên chúa giáo Vì thế mà những nội dung truyền bá đầu tiên bằng tiếngAnh ở Ấn Độ là giáo lí Đạo Kitô, nhưng cũng thông qua đó phổ biến nhữngkiến thức về thành tựu văn hóa, kinh tế và xã hội của cộng đồng Theo Grant,tiếng Anh và nền giáo dục Phương Tây chinh phục Hinđu giáo nhưng cuốicùng vẫn chỉ để thực hiện mục đích về thương mại và chính trị Vì vậy ông đã
đề nghị chính phủ Anh đẩy mạnh hơn nữa việc giới thiệu tiếng Anh ở Ấn Độ.Quan điểm này được thể hiện ở Tuyên bố đổi mới được ban hành năm 1813.Theo đó, Pháp luật Anh đã công nhận nghĩa vụ và quyền hạn của công tytrong việc truyền bá những kiến thức cho người Ấn và lực lượng được tínnhiệm không chỉ là người truyền giáo nữa mà còn có các nhà phương Đônghọc người Anh
Mặc dù năm 1814 công ty đã gửi các thông điệp để bắt đầu cho chínhsách giáo dục mới của mình, nhưng không có chính sách nào được thực hiện.Mãi đến năm 1823, khi mà thời điểm Ủy ban chung về truyền bá công cộngđược thành lập thì tình hình mới được cải thiện Ủy ban gồm 10 thành viên,ủng hộ cả giáo dục phương Tây lẫn phương Đông Tổ chức này đã công nhận
sự thành lập các trường cao đẳng về tiếng Phạn như Calcutta Madrassa andBenares Sanskrit College, Poona Sanskrit College (1821) và hai trườngnghiên cứu về Phương Đông học ở Agra (1823) và Calcutta (1824) Ủy ban
Trang 32cũng đã đảm nhận việc in ấn các sách tiếng Sanskrit và Arabic, đồng ý chocác học giả phương Đông dịch các sách từ tiếng Anh sang các ngôn ngữ kinhđiển của Ấn Độ Người Anh muốn thông qua việc làm này có thể gây ấntượng tốt đẹp về mình đối với người Ấn, đặc biệt là những học sinh bản địa.
Sau tuyên bố 1813, các nhà truyền đạo Anh được tự do vào Ấn Độ.Một số lượng lớn đã xâm nhập vào thuộc địa Ấn, với kế hoạch giáo dục người
Ấn, dạy cho họ một ngôn ngữ mới, một tôn giáo mới và một nền văn hóa mới.Công ty Đông Ấn Anh và chính phủ gián tiếp cổ vũ họ, và là lực lượng hậuthuẫn của họ Công ty đã sử dụng các nhà truyền đạo như là “thế lực đại diện
để làm bất cứ những gì phải làm trong khi công ty thì say đắm với thương mạicòn chính phủ thì tham vọng bành trướng đế chế” [23]
Giữa năm 1815 cho đến năm 1840, nhiều trường học về Thiên chúagiáo đã được thành lập trên đất nước Ấn Độ như: The Baptist MissionSchools (1815), The Bishop’s College at Sibpur (1830), The Calcutta SchoolSociety’s School (1819), The Jaya Narayan Ghoshal’s English School atBenares (1818), và quan trọng nhất trong số đó là General Assembly’sInstitution (1830) được thành lập bởi một nhà truyền giáo người Xcốtlen làAlexander Duff Ông là người hiểu được vai trò quyết định của giáo dụcthông qua phương tiện trung gian là tiếng Anh trong việc chuyển biến mộtngười Ấn thành con chiên của Chúa
Trong những năm của thập niên thứ 2, một trường phái tư tưởng nổi lêntrong các giới cầm quyền ủng hộ việc dạy tiếng Anh, nhưng điều đó bị chốngđối Tuy nhiên, với tư cách là biện pháp thực nghiệm, một số lớp dạy tiếngAnh được gắn vào trường Ả Rập ở Delhi và Calcutta Kết quả là, từ năm 1824đến 1825, các lớp dạy tiếng Anh đã được mở ở Calcutta, Madras, TheBenares Sanskrit College, Delhi College, Agra College và các cơ quan giáodục Đông Phương học khác “Những người Ấn Độ trẻ tuổi dường như bị lôicuốn bởi quan điểm mới, chủng tộc mới Họ nghĩ rằng đây là thời kì văn hóa
Trang 33phục hưng ở Ấn Độ Họ đổ xô tới các lớp học tiếng Anh, bắt đầu viết thơ, văn
và các bài nghiên cứu bằng tiếng Anh và báo chí xuất bản cho họ Một số đãthông thạo tiếng Anh và hiểu sâu sắc văn học Anh, điều mà “thậm chí khôngthể có được ở châu Âu” [23]
Nếu giáo dục là hình thức đâu tiên mà người Anh lựa chọn để truyền bátiếng Anh thì báo chí lại trở thành nhân tố thúc đẩy sự lan tỏa của ngôn ngữnày ở thuộc địa Nhưng đối với người Anh, “máy in và thật sự là mọi máymóc cũng bị coi là nguy hiểm và có tính bùng nổ đối với trí tuệ Ấn Độ, khôngnên được khuyến khích bất cứ bằng cách nào, vì nó dẫn tới sự truyền bá dấyloạn và phát triển kĩ nghệ” [15; 213] Nhưng dường như thực tế đã đi ngượclại với những tính toán của chính phủ Anh Trong khi máy in tư nhân khôngđược khuyến khích Chính phủ không thể tiến tiến hành được công việc màkhông có sự in ấn và sự và những ấn loát chính thức Do đó người Anh buộcphải cho phép những máy móc này được hoạt động ở Calcutta, Madras và ởmột số nơi khác Máy in tư nhân đầu tiên được các nhà truyền giáo sử dụng ởSerampore, và lần đầu tiên tờ báo bằng tiếng Anh đã được một người Anh ởCalcutta cho ra mắt vào năm 1780 Sự kiện này đã mở đầu cho sự phát triển
nở rộ của báo chí ở Ấn Độ Từ năm 1780 đến năm 1795, báo chí tiếng Anh đãđược xuất bản ở Calcutta, Madras và Bombay, và đến thời điểm này chúngcũng đã khuyến khích người Ấn viết báo bằng tiếng Anh
Vì vậy, đến năm 1818 tờ báo ở Ấn Độ đầu tiên được xuất bản bằngtiếng Anh, và cũng năm đó các nhà truyền giáo dòng Baptist ở Seramporexuất bản những tờ báo bằng tiếng Bengal của người Ấn Tuy nhiên những tờbáo đó thông thường phê phán chính phủ, dẫn tới xung đột và sự thiết lập mộtnền kiểm duyệt chặt chẽ Trước tình hình đó, chính quyền thực dân đã cho rađời “Bản điều chỉnh III”, quy định sự cầm giữ không cần xét xử Bản điềuchỉnh này đã đưa đến quyền hành cho các nền toàn quyền xiết chặt sự kiểmsoát đối với dòng chảy của những tư tưởng mới
Trang 342.1.2 Giai đoạn tiếng Anh được củng cố và phát triển ở Ấn Độ
Đến thời điểm đầu thập kỉ 30 của thế kỉ XIX, bắt đầu những khó khănđối với công ty Đông Ấn Anh trong việc cai trị Ấn Độ, khi nhân viên củacông ty chỉ có người Anh mà thiếu việc bổ nhiệm người Ấn trung thành biếttiếng Anh Trước thực trạng đó, Lord William Bentinck sau khi được bổnhiệm làm toàn quyền ở Ấn Độ năm 1828, ông đã viết một bức thư cho Uỷban truyền bá công cộng để đề xuất về việc cần thiết phải lấy tiếng Anh làmngôn ngữ chính thức của chính quyền và giáo dục ở Ấn Độ Vấn đề đó đãđược giải quyết khi Lord Macaulay tới Ấn Độ vào tháng 6 năm 1834 và đượcchọn là thành viên thứ nhất của Hội đồng quản trị của Toàn quyền, và đồngthời ông cũng là giám đốc của Ủy ban truyền bá công cộng Để có thể triểnkhai cho chính sách mới, Lord Macaulay đã thông qua một kế hoạch mangtên “The Minute” vào ngày 2 tháng 2 năm 1835 Bản kế hoạch này được xemnhư là “Bản Tuyên ngôn của giáo dục tiếng Anh ở Ấn Độ” Sau đó LordWilliam Bentinck đã công nhận “The Minute” vào ngày 7 tháng 3 năm 1835.Cuối cùng, chính quyền Anh cũng buộc phải ủng hộ việc dạy tiếng Anh ở Ấn
Độ, thể hiện bằng “Giác thư Macaulay về giáo dục tháng 2 năm 1835”
Nội dung của “The Minute” nghĩa là giáo dục cho người Ấn từng phút,rất rõ ràng về kết quả của việc giáo dục tiếng Anh ở Ấn Độ Trong đó “TheMinute” nhấn mạnh “chúng ta phải kết nối mối quan hệ giứa chúng ta và hàngtriệu người mà chúng ta cai trị, những người có máu và màu da Ấn nhưng lại
có thị hiếu, quan điểm, tinh thần và trí tuệ Anh” [23] Với quan điểm này,Macaulay đã tấn công một cách mạnh mẽ vào hệ thống kiến thức và văn hóa,vào ngôn ngữ và văn học, vào cả tôn giáo của người Ấn Từ đó, việc truyền
bá văn hóa cũng được tiến hành trên tất cả các mặt ngôn ngữ, văn học và tôngiáo Theo ông đó là trung tâm về mặt văn hóa của Đế chế và sự bành trướngthương mại của công ty
Trang 35Bắt đầu từ năm 1837, việc truyền bá tiếng Anh ở Ấn Độ được chuyểnsang giai đoạn phát triển mới và thu nhiều kết quả quan trọng Tiếng Anh đãtrở thành ngôn ngữ chính thức của giáo dục ở Ấn Độ Chính sách của công tyĐông Ấn Anh là thành lập các trường trung học dùng tiếng Anh hoặc cả tiếngAnh lẫn tiếng địa phương ở mỗi quận Các trường trung học dùng tiếng Anhnếu chất lượng tốt thì sẽ được nâng cấp lên bậc Cao đẳng Bên cạnh đó, một
số trường truyền giáo cũng dạy tiếng Anh, và theo thống kê năm 1845 cókhoảng 30 nghìn trường loại này Sự “quyến rũ” từ sự bổ nhiệm của chínhquyền Anh đã thúc đẩy nhiều thanh niên Ấn tìm đến với các trường dạy tiếngAnh Họ hi vọng sẽ được ưu tiên khi tìm việc làm, và có thể còn có cơ hội đểtìm được một công việc tốt
Sau William Bentinck, Lord Auckland làm Toàn quyền Ấn từ năm
1835 đến 1842 Ông không thay đổi chính sách cũ mà tiếp tục đi theo “lối đi”của Macaulay và còn khẳng định: “Nếu phủ nhận tiếng Anh và giáo dục bằngtiếng Anh tức là phủ nhận cả nền giáo dục” [23] Tiếng Anh và nền giáo dụcbằng tiếng Anh tiếp tục được củng cố đến năm 1850 Việc học tiếng Anh đãphát triển thành một phong trào mạnh mẽ ở Ấn Độ, trong đó mạnh nhất ởBengal và Madras là những trung tâm quan trọng của công ty Đông Ấn Anh
Tuy nhiên, việc truyền bá tiếng Anh và nền giáo dục phương Tây đãgặp một số trở ngại Kế hoạch giáo dục của Macaulay đã khẳng định tiếngAnh là ngôn ngữ của chính trị và thương mại, giáo dục tiếng Anh là nhằm tạo
ra một lớp người Ấn trung thành, “chỉ mang tính Ấn trong màu da và máu,còn lại khác mọi thứ” [23] Họ sẽ giúp chính quyền bằng khả năng tiếng Anhcủa họ, và tất nhiên, họ không phải là số đông Bên cạnh đó, giáo dục tiếngAnh theo Macaulay chỉ tiến hành chủ yếu trong các khu vực đô thị mà khôngphổ cập trên toàn lãnh thổ Mặt khác tiểu lục địa Ấn Độ lại là một quốc gia đasắc tộc - đa ngôn ngữ và điều này lại liên quan tới vấn đề in ấn Khái niệm về
in sách, mua bán và đọc sách đã không tồn tại ở Ấn Độ cho đến khi người Anh