1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đối ngoại của thái lan và quan hệ thái lan việt nam từ 1991 đến 2003

112 1,4K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách đối ngoại của thái lan và quan hệ thái lan - việt nam từ 1991 đến 2003
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 313,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự biến chuyển và tác động dù trực tiếp hay gián tiếp của xu thếhoà bình ổn định, hợp tác với những quan hệ mang tính đa dạng, phụ thuộc, bổ sung lẫn nhau, thậm chí cạnh tranh và loại tr

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử thếgiới hiện đại Sự biến chuyển và tác động dù trực tiếp hay gián tiếp của xu thếhoà bình ổn định, hợp tác với những quan hệ mang tính đa dạng, phụ thuộc,

bổ sung lẫn nhau, thậm chí cạnh tranh và loại trừ nhau đã buộc các quốc giaphải đánh giá khách quan những cơ hội và thách thức, kịp thời có sự điềuchỉnh chính sách ngoại giao, kinh tế đa đất nớc hội nhập, đáp ứng yêu cầu và

xu thế phát triển của thời đại

Trong hơn một thập kỷ qua, vấn đề nổi cộm và luôn đợc các nớc quantâm, coi đây là yếu tố có tính chất quyết định trong chiến lợc phát triển lâu dàicủa mình đó là, tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại, tăng cờng thiết lậpcác mối quan hệ đối tác để tranh thủ mọi cơ hội phát triển bảo đảm lợi ích dântộc, từng bớc nâng cao vị thế trong cộng đồng quốc tế Thái Lan - một quốcgia nằm ở khu vực ĐNA, cũng không đứng ngoài những tác động và xu thếchung của bối cảnh khu vực, thế giới

Những năm 90 trở lại nay, Thái Lan đã và đang có sự thay đổi một cáchcơ bản chính sách đối ngoại, đa dạng hoá quan hệ và “mở cửa ra các phía”nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều quốc gia trên cơ sở phát huy nội lực

đất nớc, đặc biệt không ngừng củng cố quan hệ với các nớc trong khu vựcnhằm tạo môi trờng ổn định cùng hợp tác phát triển Thái Lan coi việc thúc

đẩy quan hệ đối ngoại là khâu đột phá đầu tiên trong chiến lợc phát triển đa

đất nớc “cất cánh” trở thành nớc có vị trí “số 1” ở khu vực ĐNA Thái Lan làmột quốc gia có truyền thống ngoại giao khá thành công so với các nớc trongkhu vực, gần gũi về mặt địa lý và có nhiều nét tơng đồng văn hoá với ViệtNam Tìm hiểu chính sách đối ngoại của Thái Lan để làm rõ tính chất và tác

động của nó với các nớc trong khu vực, từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm của Thái Lan trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại mới để

có thể tham khảo phục vụ cho việc hoạch định đờng lối đối ngoại của ViệtNam trong giai đoạn hiện nay là một việc làm cần thiết

Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, quan hệ Thái Lan - Việt Nam tuy

đã có những khi tốt đẹp (giai đoạn 1946 - 1947, 1976 - 1978), nhng chủ yếudiễn ra trong sự đối đầu căng thẳng Kể từ thập kỷ 90 đến nay, mối quan hệ

Trang 2

này đã bớc sang một trang mới Thực tế cho thấy, thời gian qua hai nớc đã cónhững chuyển biến vợt bậc trong việc giải toả mọi nghi kị, mâu thuẫn, tăng c-ờng xây dựng lòng tin và bắt tay cùng hợp tác có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực.

Để quan hệ Thái - Việt ngày càng thân thiết và sâu sắc hơn nữa cần phải thấy

đợc những thành tựu, hạn chế hợp tác của hai nớc trong hơn 10 năm qua, trêncơ sở đó tìm ra những nguyên nhân, bài học cho quan hệ hai nớc trong tơnglai

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (12/2001), kế thừa đờng lối đốingoại thời kỳ đổi mới, một lần nữa Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định thựchiện nhất quán “đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá, đadạng hoá các quan hệ quốc tế”, với phơng châm: “Việt Nam muốn là bạn, là

đối tác tin cậy với tất cả các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển” [7, tr.119]

Chính sách đối ngoại mới của Thái Lan và chủ trơng, quan điểm của

Đảng ta sẽ là những cơ sở vững chắc để hai nớc vợt qua thách thức, tận dụngmọi cơ hội thúc đẩy hợp tác phát triển

Vì những lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Chính sách đối

ngoại của Thái Lan và quan hệ Thái Lan - Việt Nam từ 1991 đến 2003

Trang 3

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1 Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Thái Lan thời kỳ sau chiếntranh lạnh là nội dung thờng xuyên đợc đề cập trên các sách, báo, tạp chí, cácchuyên khảo, các ấn phẩm định kỳ trong và ngoài nớc

ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau cả trực tiếp lẫn gián tiếp, một sốcuốn sách xuất bản trong những năm gần đây đã đã ít nhiều nói về vấn đề nàynh: “Chiến lợc phát triển và triển vọng của Thái Lan thế kỷ XXI” của HoàngLan Hoa, Nxb CTQG, 1996, đề cập đến một trong những yếu tố thúc đẩy TháiLan phát triển đó là, đẩy mạnh quan hệ đối ngoại với các nớc; cuốn: “TháiLan một số nét chính về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá và lịch sử” củaNguyễn Khắc Viện, Nxb TTLL, 1998, phần về chính trị có nêu đờng lối ngoạigiao của Thái Lan những năm đầu thập kỷ 90; các tác giả Nguyễn Tơng Lai,Nguyễn Thị Quế, Phạm Nguyên Long với cuốn: “Quan hệ Việt Nam - TháiLan trong những năm 90”, xuất bản năm 2001, ở chơng 2, phần “Khái quáttruyền thống đối ngoại của Thái Lan”, cũng đã nêu bật đợc chính sách đốingoại của nớc này thời kỳ hậu chiến tranh lạnh Trong số các cuốn sách đãxuất bản không thể không kể đến cuốn: “Quan hệ đối ngoại của các nớcASEAN” của hai tác giả Nguyễn Xuân Sơn và Thái Văn Long, Nxb CTQG,

1997 Cuốn sách này đã tập trung làm rõ những nét cơ bản trong chính sách

đối ngoại và quan hệ của các nớc ASEAN, trong đó Thái Lan đợc nói đến nh

là một điển hình về đờng lối ngoại giao “uyển chuyển” thu đợc nhiều thànhcông, trong đó có giai đoạn những năm 90 Nhìn chung, những cuốn sách trênmới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát những nét chính, thời lợng dành cho vấn

đề này còn ít, cha làm rõ đợc quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại cũng

nh quan hệ giữa Thái Lan với một số nớc trong và ngoài khu vực kể từ sau khichiến tranh lạnh kết thúc đến nay

Có thể nói, phần tập trung đi sâu nghiên cứu nhiều nhất vấn đề này chủyếu đợc phản ánh trên các tạp chí, báo, ấn phẩm định kỳ, Nổi bật trong cácbài viết đã đợc công bố, có: “Chính sách biến Đông Dơng từ chiến trờng thànhthị trờng và tác động của nó tới quan hệ kinh tế Thái Lan - Đông Dơng” củaNguyễn Thu Mỹ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á (NCĐNA), số 4,năm 1991; “Quan hệ Thái Lan với các nớc Đông Nam á lục địa từ thập niên

90 của thế kỷ XX đến nay” của Đặng Thanh Toán, Tạp chí NCĐNA, tháng1/2004; “Vai trò của Thái Lan trong việc liên kết châu á với châu âu”, Tạp

Trang 4

chí NCĐNA, tháng 4/2004 Nguồn tài liệu đề cập vấn đề này một cách cậpnhật nhất phải kể đến đó là, các Bản tin tham khảo đặc biệt, Bản tin chủ nhậtcủa Thông tấn xã Việt Nam, nh: “Điểm lại chính sách đối ngoại của Thái Lannăm 1993 (Free/Year/Book, 13/3/1994); “Thái Lan: những động thái mới trênchính trờng” (16/2/1997); “Chính sách ngoại giao và kinh tế hiện nay của TháiLan” (17/11/1998); “Thái Lan - tình hình chính trị nội bộ và chính sách đốingoại” (6/12/2000); “Thái Lan - chính sách đối ngoại trong thế kỷ XXI”(3/2/2000); “Chính sách đối ngoại thời gian gần đây của Thái Lan”(12/7/2002); “An ninh quốc tế và chính sách đối ngoại của Thái Lan”(19/11/2003)v.v Tuy rất phong phú về số lợng, phản ánh cụ thể các sự kiện

và có nhiều cách đánh giá, nhận xét sâu sắc, song những tài liệu này cha tổnghợp một cách hệ thống quá trình thay đổi chính sách đối ngoại của Thái Lan

từ đó rút ra những điểm cơ bản trong những chính sách đó

2.2 Quan hệ Thái Lan - Việt Nam trong những năm gần đây đã có bớcphát triển rõ rệt, hợp tác ngày càng cụ thể trên nhiều lĩnh vực nhất là về chínhtrị - ngoại giao, kinh tế Chính vì vậy, nhiều tác giả đã dành thời gian để tìmhiểu mối quan hệ này, trong số đó đáng quan tâm là cuốn sách của các tác giảNguyễn Tơng Lai, Nguyễn Thị Quế, Phạm Nguyên Long: “Quan hệ Việt Nam

- Thái Lan trong những năm 90” Đây là một công trình viết khá đầy đủ, chitiết các bớc phát triển quan hệ chính trị, kinh tế của hai nớc trong thập kỷ qua.Tuy nhiên, về lĩnh vực hợp tác văn hoá mặc dù kết quả còn rất khiêm tốn, thìvẫn cha đợc đề cập đến Hơn nữa, quan hệ giữa hai nớc mới chỉ đợc phản ánhtrong khoảng thời gian những năm 90 (1989 - 1999), trong khi những nămcuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đợc đánh giá là toàn diện, sâu sắc và có nhiềutriển vọng nhất trong lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Thái Lan còn bỏngõ Ngoài ra, có nhiều bài nghiên cứu về quan hệ Việt - Thái từ 1991 đến

2003, tiêu biểu là: “25 năm quan hệ kinh tế Thái Lan - Việt Nam và triểnvọng” của Nguyễn Xuân Thắng đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế thếgiới; tác giả ngời Thái Lan Thayniathip Sripana có bài trên Tạp chí NCĐNA,

số 6 (2001): “25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Thái Lan - Việt Nam”;

“Tăng cờng sự hiểu biết, quan hệ hợp tác ngày càng tốt đẹp Thái Lan - ViệtNam” Thông tấn xã Việt Nam, (8/5/2000); “Thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt -Thái” Báo Đầu t (2/3/1998); “Viêt - Thái hợp tác ngày càng cụ thể” của Hồng

Lê đăng trên Tuần Báo quốc tế, (24/3/1998); “Phát triển mối quan hệ hữu nghị

Trang 5

láng giềng và sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực” Báo Nhân dân, ngày 9/10/1998;

“Tiến tới mối quan hệ ổn định lâu dài trong thế kỷ XXI”, Báo Văn hoá(8/2001).v.v

Về cơ bản, các tác giả đã cố gắng vẽ lên bức tranh toàn cảnh tình hìnhquốc tế, khu vực sau chiến tranh lạnh và những tiến triển tốt đẹp trong quan hệThái Lan - Việt Nam trên nhiều lĩnh vực hợp tác, song mới chỉ dừng lại ở từngthời điểm cụ thể của mối quan hệ láng giềng cùng khu vực, mà cha thấy đợctính chất của mối quan hệ đó dới ảnh hởng và tác động của nhiều yếu tố chủquan và khách quan, đặc biệt là tác động từ sự điều chỉnh chính sách đối ngoạicủa Thái Lan vào đầu thập kỷ 90

Khắc phục những hạn chế vừa trình bày, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọccác nguồn tài liệu phong phú, những gợi ý và kết quả nghiên cứu của nhiều tácgiả đi trớc, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và có những kiến giải vấn đề đãnêu với cách nhìn nhận cụ thể và hệ thống hơn

Trang 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ những tác động của bối cảnh quốc tế, khu vực đến sự điều chỉnhchính sách đối ngoại của Thái Lan; những nội dung, biện pháp và kết quả TháiLan đã đạt đợc trong quá trình triển khai chính sách này từ 1991 đến nay

Đồng thời, qua việc khảo sát quan hệ giữa Thái Lan và một số nớc trong đó cóViệt Nam, đề tài chứng minh luận điểm: Sự thay đổi trong chính sách đốingoại của Thái Lan đã làm cho quan hệ Thái - Việt có sự biến đổi về chất, bớcsang một giai đoạn hợp tác toàn diện và sâu sắc với nhiều kết quả cha từng cótrong quan hệ của hai nớc

Để thực hiện mục đích của luận văn, nhiệm vụ đặt ra trong khi nghiêncứu là: phân tích làm rõ các chính sách ngoại giao của Thái Lan, nhất là trongnhững năm cuối thế kỷ XX, đầu XXI; đánh giá những mặt tích cực, hạn chế vàthực chất của những chính sách đó; trình bày tơng đối đầy đủ những nội dung

và kết quả quá trình hợp tác Việt - Thái trên các mặt chính trị - ngoại giao,kinh tế, văn hoá, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm, những đề xuất cho

quan hệ hai nớc trong giai đoạn hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu và các nguồn tài liệu

4.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài đợc xác định:

- Về mặt thời gian, tập trung tìm hiểu những điểm cơ bản chính sách

đối ngoại của Thái Lan và quan hệ Việt - Thái trong khoảng 12 năm, từ 1991

đến 2003 Dĩ nhiên, để làm rõ điều này, luận văn sẽ tiến hành khái quát truyềnthống ngoại giao của Thái Lan cũng nh những bớc thăng trầm trong quan hệThái - Việt thời gian trớc năm 1991

- Đề cập đến chính sách đối ngoại của Thái Lan từ sau chiến tranh lạnh

đến nay, luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu mục tiêu, biện pháp cùng vớinhững nội dung cụ thể mà nớc này đã triển khai trong quan hệ với các nớc,các khu vực và tổ chức quốc tế Về quan hệ Thái - Việt, luận văn tập trungtrình bày những nội dung cơ bản mà mà hai nớc đã hợp tác đạt kết quả trêncác lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá Những lĩnh vực hợp tác khác sẽ khôngtrình bày riêng thành từng mục mà chủ yếu đợc lồng ghép trong các mụcchính của luận văn

4.2 Với phạm vi nghiên cứu nh trên, kế thừa những kết quả đã có, chúngtôi xác định nguồn tài liệu chính phục vụ cho việc hoàn thành luận văn là:

Trang 7

- Nhóm tài liệu về quan điểm của Đảng và Nhà nớc: Các văn kiện Đạihội Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ơng

- Nhóm tài liệu gốc: Các bìa diễn văn, thông điệp, tuyên bố ngoại giaocủa chính phủ Thái Lan, các văn kiện đợc ký kết, văn bản ghi nhớ và các hiệp

định song phơng giữa Thái Lan và Việt Nam

- Nhóm các tài liệu sách, báo, tạp chí, ấn phẩm, nghiên cứu chuyên ngànhnói về chính sách đối ngoại của Thái Lan, Việt Nam và quan hệ Thái - Việt

5 Phơng pháp nghiên cứu và đóng góp của luận văn

5.1 Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng, kết hợp hai phơngpháp chủ yếu đó là, phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc để thể hiện cáchdiễn giải quá trình hình thành và phát triển của một vấn đề, qua đó rút ranhững nhận định mang tính khái quát và tổng hợp

Do tính chất của một đề tài nghiên cứu về chính sách và quan hệ đốingoại nên ngoài hai phơng pháp trên, các phơng pháp khác nh: thống kê, sosánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp cùng với việc tham khảo nguồn t liệuthuộc nhiều quan điểm, khuynh hớng khác nhau, đợc xem là những yếu tố gópphần vào sự thành công của luận văn

5.2 Những đóng góp của luận văn

Bằng cách tiếp cận lịch sử kết hợp với phân tích lý luận và đối chiếu vớithực tiễn chính sách đối ngoại của Thái Lan và quan hệ Thái Lan - Việt Namtrong sự so sánh với khu vực và quốc tế, luận văn đã có một số đóng góp về lýluận và thực tiễn sau đây:

- Phân tích, đánh giá chính sách đối ngoại của Thái Lan và bớc đầu nêu lênnhững tính chất và điểm cơ bản của nó, từ đó rút ra những bài học quý báu,căn cứ vào điều kiện cụ thể để áp dụng cho công cuộc đổi mới nớc ta hiệnnay

- Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có những nét tơng đồng về văn hoá,

có quan hệ với nhau khá sớm trong lịch sử Quan hệ này sẽ đợc phát triển tốt

đẹp và gặt hái đợc nhiều thành công hơn nữa thông qua sự hiểu biết, cảmthông lẫn nhau Trên cơ sở nhìn nhận một cách khách quan những cơ hội vàthách thức, hai nớc có thể cùng nhau tháo gỡ khó khăn để hợp tác phát triển h-ớng tới một tơng lai lâu dài

Trang 8

- Luận văn cũng đã cho thấy những đặc điểm, quy luật riêng, chung trongquá trình vận động và phát triển của mỗi nớc, từ đó đa ra những giải pháp tối unhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai nớc không ngừng phát triển

- Đóng góp những tài liệu mang tính lý luận chung dới góc độ quan hệquốc tế về một giai đoạn (từ 1991 đến nay) trong chính sách đối ngoại củaThái Lan

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn đợc trình bày trong 2 chơng, 6tiết, kèm theo 1 phụ lục và bản chữ viết tắt

Trang 9

Nội dung

Chơng 1 Chính sách đối ngoại của Thái Lan

từ 1991 đến 2003

1.1 Những yếu tố ảnh hởng đến chính sách đối ngoại của Thái Lan

1.1.1 Vài nét về Vơng quốc Thái Lan

Thái Lan nằm ở phía Tây bán đảo Đông Dơng và phía Bắc bán đảoMalaca, giáp với Mianma, Lào, Cămpuchia, Malaixia, Vịnh Thái Lan và biểnAndaman Định c rất sớm ở phần đất nằm giữa hai nền văn minh ấn Độ vàTrung Hoa, các dân tộc Thái Lan đã trải qua hàng nghìn năm xây dựng và bảo

vệ đất nớc, lập đợc nhiều thành tựu to lớn Theo lịch sử Thái Lan, ngời Tháixuất hiện ở vùng núi An-tai (Tứ Xuyên - Trung Quốc) cách đây khoảng 4.500năm, về sau di c xuống đất Thái Lan ngày nay Năm 1238, ngời Thái lập Vơngquốc Xu-khô-thai (ở Đông Bắc Thái Lan hiện nay) và năm 1350 chuyển kinh

đô xuống Ao-uốt-thay-a (phía Bắc Băng Cốc) Cuộc chiến tranh kéo dài 400năm với Miến Điện đã làm cho kinh đô Ao-uốt-thay-a của ngời Thái bị huỷdiệt năm 1767 Tặc-xỉn - một vị tớng ngời Thái gốc Hoa đã giành lại đợc độclập và dời đô về Thon-bu-si Vua Ra-ma I lên ngôi (1772), lấy Băng Cốc làmthủ đô

Thái Lan là một đất nớc tơi đẹp - “Đất nớc của nụ cời” Nhân dân TháiLan cần cù, sáng tạo đã để lại nhiều công trình văn hoá, kiến trúc đặc sắc V-

ơng quốc Thái Lan có diện tích: 513.115 km2 gồm 76 tỉnh, đợc chia thành 4khu vực địa lý: miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng màu mỡ miền Trung, vùng

Đông Bắc chủ yếu là cao nguyên cằn cỗi và khu vực đồi núi phía Nam giàu tàinguyên thiên nhiên Ngoài ra, Thái Lan còn có bờ biển dài 1840 Km và mộtVịnh Thái Lan giàu tiềm năng Dân số Thái Lan gần 62 triệu ngời, trong đó:ngời Thái (53%), ngời Lào (27%), ngời Hoa (12%) và ngời Mãlai (4%), cònlại là các dân tộc khác Đạo Phật là quốc đạo với 95% số dân theo đạo này.Ngôn ngữ chính là tiếng Thái, bên cạnh đó, tiếng Anh và tiếng Trung Quốc đ-

ợc sử dụng rộng rãi

Thái Lan có nền kinh tế nông, công nghiệp và du lịch phát triển khámạnh Trong cái nôi của nền nông nghiệp lúa nớc ĐNa, Thái Lan là một nớc

Trang 10

xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Từ những năm 70 của thế kỷ XX, Thái Lan

động viên sức mạnh của tất cả các ngành kinh tế theo hớng xuất khẩu, coiASEAN, Mỹ, Nhật, Liên minh châu Âu, là thị trờng xuất khẩu chính Nhờvậy, hàng năm Thái Lan đã xuất khẩu từ 35 đến gần 40 tỉ USD, trong đó hàngcông nghiệp chiếm 3/4 giá trị xuất khẩu Năm 2002, GDP của Thái Lan đạt5,2%; 6 tháng đầu năm 2003 đạt hơn 5% [47, tr.12] Những điều kiện trên

đây góp phần hình thành đờng lối ngoại giao của Thái Lan trong suốt quátrình xây dựng và phát triển đất nớc

1.1.2 Khái quát chính sách đối ngoại của Thái Lan trớc năm 1991.

Nhắc đến Thái Lan, ngời ta nghĩ đến một đất nớc có truyền thống ngoạigiao mềm dẻo, tỉnh táo với phơng sách “lựa chiều” và “cân bằng lực lợng”nhằm đảm bảo lợi ích dân tộc [24, tr.106]

Vốn là dân di c muộn xuống vùng ĐNA nên ngời Thái đã phải khôngngừng xây dựng, củng cố đảm bảo chỗ đứng vững chắc trên vùng đất mới [18]

Họ đã thực hiện sự nghiệp bảo tồn, phát triển quốc gia và dân tộc bằng nhữngsách lợc ngoại giao mềm dẻo nhằm tận dụng triệt để các điều kiện có lợi vềmình Chính sách ngoại giao của các vơng Triều Thái Lan trong những thế kỷtrớc đây chủ yếu nhằm đạt mục đích giữ vững độc lập dân tộc, phát triển đất n-

ớc, bành trớng thế lực ra bên ngoài Tinh thần ngoại giao này ảnh hởng rất lớn

đến chính sách đối ngoại của Thái Lan trong những thế kỷ sau đó

Từ giữa thế kỷ XIX, các nớc t bản phơng Tây ra sức cạnh tranh nhautìm kiếm thuộc địa Các nớc ĐNA lần lợt rơi vào tay thực dân Anh, Pháp, HàLan Thái Lan (quốc hiệu lúc đó là: Xa-giảm thờng đợc gọi là Xiêm) là nớcduy nhất ở ĐNA thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Trớc âm mu xâm lợc củachủ nghĩa t bản phơng Tây, Vơng triều Rama IV(1851 - 1868) (còn gọi làMông-cut), đã thực hiện đờng lối ngoại giao “ngả theo chiều gió” tranh thủmâu thuẫn giữa các nớc đi xâm lợc để bảo vệ nền độc lập Vào cuối thế kỷ XIX

đầu XX, thực dân Anh, và Pháp siết chặt gọng kìm từ hai phía vào bán đảo

Đông Dơng, đe doạ nền độc lập nhiều nớc Vua Rama V Chulalongcon 1910) đã thi hành nhiều chính sách khôn khéo, uyển chuyển, biến Thái Lan trởthành vị trí “nớc đệm” giữa hai thế lực thực dân Anh và Pháp Một trong nhữngbiện pháp để bảo vệ đất nớc đó là, Thái Lan đã triệt để tiến hành chơng trìnhcanh tân đất nớc, đa chuyên gia và khoa học kỷ thuật phơng Tây vào các lĩnhvực kinh tế, ngoại giao, an ninh và quốc phòng Dựa vào đây, Thái Lan bằng

Trang 11

(1868-mọi cách đặt quan hệ ngoại giao thân thiết với các cờng quốc này để đối phóvới cờng quốc kia Năm 1855, Rama IV đã ký với Anh bản hiệp ớc hữu nghị vàthơng mại Xiêm - Anh, ký với Mỹ và Pháp vào năm 1856, Đan Mạch và Bồ

Đào Nha năm 1860, Thụy Điển, Bỉ, ý năm 1868 Bằng những nỗ lực ngoại giaokhôn ngoan, Thái Lan trở thành “vùng hoãn sung” giữa các thế lực thực dân,

do đó vẫn là một nớc độc lập

Các nớc t bản phơng Tây có mu đồ và mục đích riêng khi quan hệ vớiThái Lan, nhng lại không thể tự mình quyết định và dễ dàng thâu tóm nớcnày Ngày 15/1/1896, hai nớc thực dân đi đầu trong cuộc xâm chiếm thuộc địaAnh và Pháp đã ký với nhau bản tuyên bố chung coi Thái Lan là nớc đệm giữahai thuộc địa của Anh, Pháp và cam kết quyền độc lập tự chủ của Thái Lan Dĩnhiên, để có đợc điều này, Thái Lan đã phải mất đi một phần không nhỏ vềchủ quyền chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng… Nh Nhng điều quan trọng làtrớc sự xâm lợc của thực dân, những hiệp ớc bất bình đẳng nói trên đã giúpcho Thái Lan tránh đợc tất cả mọi vũ lực của các cờng quốc phơng Tây, lợidụng mâu thuẫn giữa các nớc này để giữ vững độc lập và tìm ra cho mình con

đờng phát triển đi lên

Trong chiến tranh thế giới I (1914 - 1918), Thái Lan với danh nghĩa lànớc ủng hộ và đứng về phía Đồng minh nên có đợc nhiều quyền lợi Thànhcông này không những khẳng định thêm quyền độc lập toàn vẹn lãnh thổ củaThái Lan mà còn nâng điạ vị của Thái Lan lên ngang hàng và đợc hởng mọiquyền lợi nh các nớc khác trong phe Đồng minh Đứng trong hàng ngũ các n-

ớc thắng trận, Thái Lan đợc quyền tham gia và trở thành thành viên Hiệp ớcVécxay (1919), là một trong những quốc gia thành viên đầu tiên của Hội quốcliên (thành lập năm 1920) Chiến tranh thế giới I đã làm cho hầu hết các nớctham chiến trong đó có thực dân Anh và Pháp suy yếu về mọi mặt Mỹ là nớckhông trực tiếp tham gia chiến tranh, lợi dụng chiến tranh “đục nớc béo cò”nên ngày càng mạnh và trở thành cờng quốc đứng đầu thế giới về kinh tế,quân sự Tận dụng cơ hội này, Thái Lan đã nghiêng hẳn về Mỹ, lên tiếng ủng

hộ mục đích của Mỹ và đề nghị các nớc tham gia hội nghị Vécxay sửa đổi lạinhững điều khoản bất bình đẳng trong các hiệp ớc đợc ký kết giữa Thái Lan vàcác nớc trớc đây Đề nghị này nhanh chóng đợc Mỹ (nớc đầu tiên) chấp thuậnthay thế vào đó là một bản hiệp ớc mới ký vào ngày 16/12/1920 Kết quả này

đã tạo điều kiện để Thái Lan ký lại một loạt hiệp ớc với các nớc châu Âu và

Trang 12

châu á nh: Hiệp ớc Thái - Nhật (30/03/1924), Hiệp ớc Thái - Pháp(14/2/1925), Hiệp ớc Thái - Anh (14/7/1925)… Nh Qua những hiệp ớc này, TháiLan đã từng bớc lấy lại đợc một số chủ quyền, nâng cao vị trí của mình và tạo

điều kiện để tiếp tục đấu tranh dần dần bãi bỏ hết những điều khoản bất bình

đẳng còn lại Từ năm 1932, Thái Lan tiến hành cuộc cách mạng t sản nhằm lật

đổ giai cấp phong kiến thống trị, thiết lập nền quân chủ lập hiến (theo mô hìnhthể chế chính trị của Anh) thành công mà không gây đổ máu Nền chính trịThái Lan luôn diễn ra một quá trình đấu tranh để thay nhau cai trị đất nớc giữahai thế lực quân phiệt và dân chủ, nhng dù quân phiệt hay dân chủ cũng đều

có chính sách ngoại giao thực dụng truyền thống “ngả theo chiều gió”

Trong chiến tranh thế giới II (1939 - 1945), một lần nữa Thái Lan đã ápdụng chính sách đối ngoại khôn khéo bằng mọi cách thu vén quyền lợi cho mình

Khi phát xít Nhật tiến hành chiến tranh xâm lợc ĐNA vào ngày1/12/1941, chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ là Phi-bun Song-kram, vì thấyNhật rất mạnh nên đã “ngả” theo Nhật, ký với Nhật hiệp ớc an ninh tham giakhối “Thịnh vợng chung” của Nhật (5/1941) Tháng 1/1942, Thái Lan tuyênchiến với Anh và Mỹ, Nhật Bản đã coi Thái Lan nh một đồng minh Nhng saukhi Nhật tuyên bố đầu hàng phe đồng minh không điều kiện (8/1945), chínhphủ mới của Thái Lan đợc thành lập do một nhân vật thân Mỹ đứng đầu là Xể-

ni Pra-mốt lập tức gửi công hàm tuyên bố huỷ bỏ lời tuyên chiến trớc đây vớiAnh và Mỹ Khi quân Anh với t cách là nớc đồng minh vào tớc vũ khí quân

đội Nhật và nhân cơ hội đó trừng phạt biến Thái Lan thành thuộc địa củamình, Mỹ đã nhanh chóng tuyên bố “không coi Thái Lan là nớc bại trận, thù

địch mà là nớc bị phát xít Nhật chiếm đóng cần đợc giải phóng” [14, tr.52].Với lời tuyên bố của Mỹ “rằng Thái Lan sẽ trở lại vị trí trớc kia của mìnhtrong cộng đồng các quốc gia nh một nớc tự do có chủ quyền độc lập” [17,tr.361], Thái Lan không những bớc ra khỏi chiến tranh với thiệt hại không

đáng kể, mà còn thủ tiêu đợc những hậu quả do việc hợp tác với phát xít Nhậtgây ra, đàng hoàng trở thành thành viên Liên Hiệp quốc

Sau chiến tranh thế giới II, Mỹ lần lợt hất cẳng Anh, Pháp và mở rộng

ảnh hởng của mình ở khu vực ĐNA Mỹ trở thành “Ngời bạn thiện chí” trongquan hệ với Thái Lan ở nhiều phơng diện chính trị, kinh tế Mỹ tiến hành xâydựng một số căn cứ quân sự trên đất Thái Lan, biến Thái Lan thành bàn đạpchống phá phong trào cách mạng Đông Dơng Sau năm 1945, Thái Lan hoàn

Trang 13

toàn thân Mỹ Chính sách đối ngoại truyền thống “mở cửa các phía” để cânbằng các thế lực đã đợc hình thành bởi các vơng triều trớc đây, nay có sự điềuchỉnh “mở cửa các phía” nhng đứng về một thế lực mạnh nhất (Mỹ) để mu cầulợi ích tối đa cho đất nớc

Chiến tranh lạnh với sự đối đầu giữa hai phe đối lập do Liên Xô và Mỹcầm đầu đã làm cho tình hình thế giới trở nên căng thẳng trong suốt nửa cuốithế kỷ XX Do bị chi phối bởi ý thức hệ Đông - Tây nên khu vực ĐNA luôn là

“điểm nóng”, vị trí chiến lợc quan trọng của nhiều nớc lớn Thái Lan nhanhchóng trở thành căn cứ quân sự và là bàn đạp để Mỹ tiến hành chiến tranhxâm lợc các nớc khác, trong đó có ba nớc Đông Dơng

Khi Mỹ can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dơng (9/1950), giữa TháiLan và Mỹ đã ký các hiệp ớc hợp tác về kinh tế và kỷ thuật, hiệp ớc về viện trợquân sự Thái Lan đã tiếp đón nhiều đoàn cố vấn kinh tế, kỷ thuật và quân sựcủa Mỹ Không những thế, Thái Lan đã chủ động tham gia hiệp ớc Manila vàgia nhập SEATO tháng 9/1954 Đây là một phòng tuyến mới do Mỹ đứng đầunhằm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực ĐNA Vớiviệc tham gia SEATO, chính sách đối ngoại của Thái Lan phụ thuộc hẳn vào

mu đồ xâm lợc của Mỹ Điều này đợc chứng minh qua việc Thái Lan đợcchọn là nơi tổ chức Hội nghị đầu tiên của SEATO vào tháng 1/1955 và BăngCốc trở thành trụ sở của tổ chức này Từ năm 1966, theo đế quốc Mỹ, quân

đội Thái Lan đã trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lợc ba nớc Đông Dơng vớidanh nghĩa là thành viên của SEATO Thái Lan đợc mệnh danh là “tàu sânbay không thể nhấn chìm” của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dơng vàchiến tranh Việt Nam là đỉnh điểm quan hệ mật thiết Thái - Mỹ Có thể nói,giai đoạn này quan hệ Thái Lan - Mỹ đạt đợc sự thống nhất cao, vì đây làquan hệ mà cả hai bên đều có thể đáp ứng đợc những mục đích riêng chonhau Đối với Thái Lan, xét trên phơng diện lợi ích dân tộc, đất nớc này đã cónhững cơ hội phát triển vợt bậc nhờ vào sự giúp đỡ của Mỹ Trong lịch sử pháttriển kinh tế Thái Lan, giai đoạn 1961 - 1972 đợc xem là “thời kỳ vàng thứnhất” [9, tr.168]

Vào giữa những năm 70, cùng với thắng lợi của nhân dân ba nớc ĐôngDơng chống đế quốc Mỹ xâm lợc, tình hình thế giới có những thay đổi nhất

định, cán cân quan hệ giữa các nớc lớn không còn đa lại sự u thế nh trớc đâycho Mỹ Trung Quốc nằm trong thế tam giác chiến lợc Mỹ - Nga - Trung đã

Trang 14

vơn lên khẳng định mình và trở thành quốc gia đóng vai trò quan trọng trong

đời sống chính trị quốc tế Trung Quốc trở thành một trong năm nhân tốkhông thể thiếu đợc trong an ninh khu vực châu á - Thái Bình Dơng bao gồm:

Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, ấn Độ, Liên Xô

Sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dơng và những biếnchuyển của tình hình thế giới, đã không cho phép Mỹ quyết định những vẫn

đề mình muốn, u thế của Mỹ giảm sút đáng kể Trớc tình hình đó, chính sách

đối ngoại của Thái Lan (vốn rất thân Mỹ) có phần giao động và lỡng lự.Chính phủ Thái Lan vừa phải duy trì quan hệ với Mỹ và các nớc t bản phơngTây để đảm bảo vốn, kỷ thuật, thị trờng cho nền kinh tế phát triển, vừa lại hếtsức lo ngại bỏ qua các nớc lớn khác, nhất là nớc láng giềng Trung Quốc đangngày càng lớn mạnh Điều này đã buộc Thái Lan phải có những tính toán để

đa ra chính sách mới trong quan hệ đối ngoại Thái Lan đã thi hành nhiềuchính sách tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao với các nớc Đông Dơng, khôngngừng tăng cờng thúc đẩy bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc, coi đây lànhững mục tiêu hàng đầu của chính sách đối ngoại… Nh Chính sách “ngoại giaogiao động” (tìm chỗ dựa vào thế lực bên ngoài mong kiếm nhiều lợi lộc khicác nớc lớn đang có sự điều chỉnh chiến lợc) [51, tr 150] triển khai cha đợcbao lâu thì đầu những năm 80, Thái Lan chuyển sang “ngoại giao lựa chọn”bắt đầu từ “Vấn đề Cămpuchia” Thái Lan thi hành đờng lối thân Mỹ, tiếp tục

đối đầu với các nớc Đông Dơng

Tuy nhiên, trong nội các Chính phủ Thái Lan không đạt đợc sự nhất trícao về “Vấn đề Cămpuchia”, có những quan điểm trái ngợc với chính sách đốingoại thân Mỹ, đối đầu với các nớc Đông Dơng Sự tác động của d luận vàthái độ thiện chí của nhân dân các nớc Đông Dơng đã làm cho Thái Lan cónhững nhìn nhận, đánh giá tích cực xung quanh vấn đề này, từng bớc điềuchỉnh chính sách ngoại giao với mục tiêu tồn tại hoà bình, phấn đấu ổn định

và phát triển trong khu vực

Năm 1988, ngời đứng đầu chính phủ Thái Lan Chạt-chai Chu-hạ-văn đã

có những thay đổi cơ bản trong quan hệ đối ngoại với các nớc láng giềng,

“biến Đông Dơng từ chiến trờng thành thị trờng” Có thể nói, đây là mặt tíchcực đợc sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nhằm thiết lập nền hoà bình, ổn địnhkhu vực Để bày tỏ quan điểm giải quyết “Vấn đề Cămpuchia” theo hớng hoàbình, đối thoại, Thái Lan chủ động tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ cấp nhà nớc

Trang 15

giữa Thái Lan với Cămpuchia (1988), với Lào (1988), với Việt Nam(1988,1989) Những cuộc gặp gỡ này đã làm cho các nớc hiểu nhau hơn, sựnghi kị đối đầu dần đợc xoá bỏ, mở ra nhiều hớng phát triển tích cực trongquan hệ sau này.

Từ việc khái quát chính sách đối ngoại của Thái Lan từ trong quá khứ

đến trớc khi chiến tranh lạnh kết thúc, có thể rút ra nhận xét:

Thứ nhất, các chính sách đối ngoại đợc triển khai mang tính thực dụng

và không năm ngoài mục đích là giữ vững nền độc lập, tranh thủ sự ủng hộcủa các nớc lớn để phát triển kinh tế, tạo tiềm lực về quốc phòng, an ninh đốiphó với mọi kẻ thù Dù ở chế độ phong kiến hay nền quân chủ lập hiến, nhữngngời đứng đầu đất nớc luôn nhất quán quan điểm ngoại giao đặt lợi ích dân tộclên hàng đầu bằng những chính sách: “ngả theo chiều gió”, “cân bằng lực l-ợng”… Nh

Thứ hai, đờng lối ngoại giao Thái Lan luôn đáp ứng kịp thời những yêu

cầu và nhiệm vụ đặt ra đối với sự tồn tại và phát triển đất nớc Mục đích trong

đờng lối đối ngoại của Thái Lan ít có sự thay đổi, nhng để đạt đợc mục đích

đó, Thái Lan đã sử dụng nhiều biện pháp khôn khéo, uyển chuyển, thờngxuyên điều chỉnh ngoại giao của mình phù hợp với bối cảnh quốc tế đồng thờivẫn bảo đảm lợi ích quốc gia Điều này đã giúp Thái Lan thoát khỏi sự xâm l-

ợc của thực dân phơng Tây vào cuối thế kỷ XIX và là nớc dành đợc nhiềuquyền lợi trong hai cuộc chiến tranh thế giới

Thứ ba, trong chính sách đối ngoại, Thái Lan bao giờ cũng u tiên quan

hệ với các nớc lớn có tiềm lực kinh tế mạnh Thái Lan có mối quan hệ đặc biệtvới Mỹ, bởi Mỹ không chỉ đã ra tay cứu Thái Lan thoát khỏi nguy cơ xâm lợckhi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, mà còn là nớc giúp đỡ Thái Lan về tấtcả các mặt trong phát triển kinh tế Nếu nh không có sự viện trợ về vốn, kỷthuật của Mỹ thì Thái Lan khó có thể phát triển một cách vợt bậc so với các n-

ớc ĐNA khác (nếu nh năm 1986 đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào Thái Lanchỉ đạt 925 triệu USD thì năm 1988 con số này lên tới 6,2 tỷ USD, tỷ lệ tăngtrởng kinh tế trung bình trong 5 năm từ năm 1986 đạt mức 10%, gấp 2 lần sovới dự tính)

Thái Lan là một nớc điển hình của khu vực ĐNA về áp dụng chính sách

đối ngoại khéo léo và đã đạt đợc những thành công nhất định Đây là tiền đề

Trang 16

quan trọng để Thái Lan tiếp tục bớc vào giai đoạn phát triển mới từ 1991 đếnnay.

1.1.3 Bối cảnh quốc tế và khu vực ĐNA sau chiến tranh lạnh.

Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với việc sụp đổ trật tự thế giới hai cựcIanta (đợc thiết lập từ sau chiến tranh thế giới thứ hai) làm cho tình hình thế

giới có nhiều biến chuyển sâu sắc Là một trong hai siêu cờng của thế giới

trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Liên Xô sụp đổ kéo theo sự tan rã của trật tựthế giới cũ, mở đầu cho thời kỳ thế giới chuyển từ hai cực sang đơn cực do Mỹ

đứng đầu

Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại là một sự thật lịch sử đau lòng

đối với các dân tộc và nhân dân yêu chuộng hoà bình, tiến bộ trên toàn thế giới.Chính sự sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa đã làm cho tơng quan lực lợng trên thếgiới thay đổi có lợi cho Mỹ và các nớc t bản Mỹ trở thành siêu cờng duy nhất

về tiềm lực kinh tế, quân sự Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ đã đa ra chiến lợc “vợttrên ngăn chặn”, học thuyết “can dự và mở rộng” mà thực chất của nó đợc nêu

rõ trong “Chiến lợc an ninh quốc gia của Mỹ thế kỷ XXI” (công bố vào tháng10/1998): Chúng ta phải đứng đầu thế giới Chúng ta cần thể hiện rõ ràng ý chí

và khả năng của chúng ta lãnh đạo thế giới Để sống trong an ninh và thịnh ợng, Mỹ cần tiếp tục giữ vai trò ngời đứng đầu

v-Tuy nhiên, gần nửa thế kỷ chạy đua vũ trang và thất bại chiến tranh ởmột số nơi nh Triều Tiên, Đông Dơng, nặng nề nhất là ở Việt Nam, đã làmcho tình hình kinh tế - xã hội của Mỹ gặp nhiều khó khăn, uy tín bị giảm sút

Sự tan rã của Liên Xô và suy yếu tơng đối của Mỹ là cơ hội thuận lợi để NhậtBản và Tây Âu vơn lên khẳng định vị trí của mình trong quan hệ quốc tế Bêncạnh đó, “Nga, Trung Quốc và ấn Độ đang tìm cách hạn chế tham vọng của

Mỹ, bảo vệ lợi ích của bản thân, xích lại gần nhau trong việc phấn đấu chomột thế giới đa cực” [53, tr.61] Điều đáng quan tâm là, trong bối cảnh đó,mặc dù còn gặp không ít khó khăn về kinh tế, xã hội và cả chính trị nội bộ nh-

ng các nớc đang phát triển không ngừng nỗ lực tiếp tục tăng cờng đoàn kết,bảo vệ lợi ích của mình Các nớc này chủ trơng đa dạng hoá quan hệ quốc tế

để tìm cơ hội phát triển mọi mặt cho đất nớc Nh vậy, quan hệ quốc tế đangdiễn ra một sự sắp xếp lại lực lợng theo u tiên hàng đầu là phát triển kinh tế.Theo đó, quan hệ giữa mỗi quốc gia, giữa một quốc gia với khu vực, tổ chứccũng biến đổi, các nớc nhanh chóng hoà nhập vào trào lu cải cách để bảo vệ

Trang 17

toàn vẹn lãnh thổ, đa đất nớc phát triển Sau chiến tranh lạnh, tiêu chí để đánhgiá sức mạnh của một quốc gia đã thay đổi chủ yếu bằng tiềm lực kinh tế vàtài chính

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, cách mạng khoa học kỷ thuật (vốn cónhiều phát minh đợc ra đời trong những mục tiêu chạy đua vũ trang của haisiêu cờng Xô - Mỹ) tiếp tục phát triển mạnh mẽ và có những bớc đột phá trênnhiều lĩnh vực Cách mạng khoa học kỷ thuật trở thành lực lợng sản xuấtchính tác động hầu nh toàn bộ đời sống con ngời Những phát minh khoa học

về công nghệ thông tin, số hoá, tự động hoá ở trình độ cao đã dẫn tới việc hìnhthành nền kinh tế tri thức Nhiều cơ hội và kể cả những thách thức đang đặt racho tất cả các nớc dù lớn hay nhỏ phải tiến hành cải cách thể chế và cơ cấukinh tế hợp lý trong quan hệ quốc tế đa chiều

Nhìn chung, hoà bình và phát triển là hai trào lu lớn trên toàn thế giới từsau chiến tranh lạnh đến nay Sự sụp đổ trật tự thế giới hai cực do hai siêu c-ờng Xô - Mỹ đứng đầu đã cho thấy quân sự không còn là nhân tố quyết định

đến sự thắng bại về toàn cục mà điều kiện để đảm bảo sức mạnh của một quốcgia đó là kinh tế “Nhân tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng đang dần trởthành vị trí chủ đạo trong quan hệ quốc tế ngày nay” [48, tr.181] Nhật Bản vàmột số nớc phơng Tây từ thân phận của những nớc bại trận trong chiến tranhthế giới II, nay trở thành những trung tâm quyền lực mới của thế giới, vì sớmtập trung đầu t và áp dụng khoa học kỷ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến

để phát triển kinh tế

Tuy đặc trng nổi bật của những năm 90 thế kỷ XX là chạy đua vũ trang

đợc thay thế bằng hợp tác và cạnh tranh kinh tế, xu thế hoà bình là chủ yếu,song thế giới cha hết rối loạn bởi những yếu tố mất ổn định, vẫn còn tiềm ẩnnhững xung đột về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, khu vực giàu có tàinguyên

Châu á Thái Bình Dơng trong đó khu vực ĐNA là tiêu điểm chú ýtrong chính sách đối ngoại của nhiều nớc lớn (Mỹ, Nhật Bản ) vì những lý dosau:

Một là, vị trí địa chính trị - kinh tế của khu vực này vốn đã đợc nhiều

n-ớc quan tâm, nay chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo ra “khoảng trống quyền lực”

và là cơ hội cho bất kỳ nớc lớn nào muốn nắm lấy huyết mạch kinh tế, vị tríchiến lợc này chính trị này để mở rộng phạm vi ảnh hởng của mình Xu thế

Trang 18

vừa hợp tác vừa đấu tranh trở thành xu thế chủ đạo ở khu vực châu á -TháiBình Dơng, do đó luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn có tính đan xen giữa cácnớc lớn.

Hai là, từ sau chiến tranh lạnh, khu vực ĐNA và các nớc ASEAN với

môi trờng kinh tế thuận lợi, tốc độ tăng trởng kinh tế cao đã trở thành mộttrong những khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới Đây là

điều hấp dẫn đối với tham vọng và mục đích của các nớc lớn khi mà kinh tế

đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế

Ba là, chiến tranh lạnh kết thúc, đối thoại thay thế cho đối đầu trở thành

xu thế chủ đạo trên thế giới Những khác biệt về hệ t tởng, chế độ xã hộikhông còn mang ý nghĩa quyết định, thay vào đó là quan hệ bình đẳng cùngchung lợi ích và phát triển

Sự thay đổi này đã góp phần xoá đi những nghi ngờ, e ngại giữa các nớctrong khối ASEAN và Đông Dơng mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp cho các nớcnày xích lại gần nhau hơn Lời tuyên bố của Thái Lan vào năm 1989 “biến

Đông Dơng từ chiến trờng thành thị trờng” và việc đạt đợc một giải pháp toàn

bộ cho “Vấn đề Cămpuchia” cùng với chính sách đổi mới của Việt Nam và nỗlực của ASEAN đã đa đến mối quan hệ hữu nghị hợp tác về mọi mặt giữa cácnớc ASEAN và các nớc Đông Dơng Mục tiêu chung của ASEAN cũng nh cácnớc trong khu vực ĐNA là tiến tới đảm bảo hoà bình, ổn định và an ninh khuvực, tạo điều kiện thuận lợi xây dựng và phát triển kinh tế Điều này cũng làmong muốn chung của nhiều quốc gia trong xu thế của thời đại Chính vì vậy,châu á - Thái Bình Dơng nói chung và khu vực ĐNA nói riêng đã trở thànhtrung tâm trong chính sách của các nớc lớn Để có điều kiện ổn định và pháttriển, những nớc này tích cực xây dựng quan hệ đối tác chiến lợc cân bằng và

ổn định, tạo ra môi trờng quốc tế thuận lợi nhằm tăng cờng an ninh quốc giaphát triển kinh tế

Chính sách của Mỹ đối với ĐNA sau chiến tranh lạnh:

Vị trí ĐNA và các nớc ASEAN đợc nâng lên rõ rệt so với thời kỳ chiếntranh lạnh, thu hút sự chú ý của nhiều nớc trong đó có Mỹ Bộ trởng ngoạigiao Mỹ W.Christophơ tuyên bố: “Những quan tâm về kinh tế là trung tâmtrong chính sách đối ngoại của Mỹ” [54] Vì vậy, Mỹ đã khẳng định: “Đây làkhu vực năng động nhất không khu vực nào quan trọng hơn đối với chúng tôi(Mỹ) không chỉ về phơng diện xuất khẩu và công ăn việc làm mà cả về an

Trang 19

ninh và quá nhiều lợi ích khác” [55] Từ những nhận định nh vậy, Mỹ đã đề ramục tiêu an ninh ở ĐNA là duy trì an ninh với Thái Lan và Philippin; duy trìthoả thuận tiếp cận an ninh với Singapo và các nớc ASEAN khác, khuyếnkhích sự vơn lên của một khối ASEAN vững mạnh, đóng vai trò có thể làmcho khu vực châu á - Thái Bình Dơng ổn định và thịnh vợng Chính sách

ĐNA của Mỹ kết hợp hai quan điểm: một là, không ngừng tăng cờng có hiệuquả với ASEAN thông qua việc ủng hộ và tham gia tích cực đối thoại an ninhtrong diễn đàn an ninh khu vực (ARF); hai là, cố gắng tìm ra nhiều sáng kiếntrong quan hệ song phơng với từng quốc gia ĐNA để ổn định chính trị, đẩymạnh cải cách kinh tế theo hớng thị trờng

Từ việc phân tích tình hình thế giới và khu vực ĐNA sau chiến tranhlạnh, có thể rút ra mấy nhận xét sau:

- Sự sụp đổ của trật tự hai cực do Liên Xô và Mỹ đứng đầu làm cho cáncân so sánh lực lợng có sự thay đổi đáng kể Bên cạnh Mỹ là siêu cờng mạnh,

đã dần dần xuất hiện những trung tâm kinh tế phát triển Nhật Bản, Tây Âu.Quan hệ giữa các nớc lớn phát triển theo hớng đa cực, do đó, Mỹ tuy mạnhnhng không thể một mình quyết định các vấn đề quốc tế mà phải tìm cáchdung hoà các mâu thuẫn nhằm thực hiện mục đích riêng của mình

- Yếu tố kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ quốc tế Xu hớngvừa hợp tác vừa cạnh tranh là xu hớng chính trong quan hệ giữa các nớc Cácnớc lớn đều cần nhu cầu ổn định để phát triển nên có xu hớng xây dựng quan

hệ đối tác chiến lợc cân bằng và ổn định, tạo ra các điều kiện quốc tế thuận lợinhằm bảo vệ an ninh quốc gia và phát triển kinh tế

- Những nỗ lực của các nớc trong khu vực cùng với xu thế chung củathế giới, ĐNA trở thành điểm chú ý của nhiều nớc, đầu tiên phải kể đến Mỹ,Nhật Bản, Trung Quốc Những cố gắng của ASEAN và những thay đổi đángghi nhận trong việc thiết lập quan hệ gần gũi, đảm bảo ổn định hoà bình vàkhông ngừng hợp tác phát triển kinh tế giữa các nớc trong khu vực ĐNA đãlàm cho các nớc lớn có cách nhìn nhận khách quan hơn, từng bớc điều chỉnhchính sách đối ngoại và tăng cờng xác lập ảnh hởng của mình tại khu vực pháttriển năng động này

Nh vậy, bớc vào thập kỷ 90 của thế kỉ XX, cũng nh nhiều nớc khác,Thái Lan đang đứng trớc nhiều cơ hội và thách thức để phát triển đất nớc trênnhiều phơng diện, trong đó thúc đẩy hợp tác với các nớc đợc coi là yếu tố

Trang 20

quan trọng chi phối đến nền chính trị, kinh tế - xã hội của Thái Lan Nắm bắt

đợc thời cơ, khéo léo sử dụng chính sách đối ngoại hợp lý trong quan hệ vớicác nớc lớn nhỏ, biết đi đúng luồng, đúng hớng phát triển thời đại, nhằm đảmbảo lợi ích quốc gia và hội nhập vào xu thế chung của thế giới là vấn đề đặt ra

đối với những nhà lãnh đạo Thái Lan

1.2 Chính sách đối ngoại của Thái Lan từ 1991 đến 2003.

1.2.1 Mục tiêu và quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Thái Lan.

Trớc những thay đổi của tình hình thế giới và khu vực, vốn là một nớc

có truyền thống ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, dễ thích ứng bắt nhịp với xuthế phát triển của thời đại, Thái Lan đã điều chỉnh chính sách đối ngoại phùhợp với điều kiện mới Điểm cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Thái Lannhững năm đầu thập kỉ 90 đó là đặc biệt coi trọng lợi ích kinh tế trong quan hệvới tất cả các nớc Mọi chính sách, biện pháp nhanh chóng đợc triển khainhằm đa Thái Lan sớm hoà nhập vào sự phát triển của khu vực và thế giới.Việc Thái Lan coi trọng lợi ích kinh tế cũng có nghĩa là Thái Lan đang cốgắng xây dựng một đờng lối ngoại giao độc lập, tự chủ lấy quan hệ hòa dịu,hợp tác với tất cả các nớc làm cơ sở để đa đất nớc phát triển

Trớc bối cảnh quốc tế và khu vực có những thay đổi lớn, các chính phủThái Lan thấy rằng, nếu tiếp tục duy trì chính sách đối ngoại đặt lợi ích anninh lên hàng đầu (vốn ra đời từ những năm 60) chỉ càng làm cho Thái Lan bịcô lập, ít có cơ hội hợp tác kinh tế để trở thành một nớc phát triển Xu thế lúcnày đã đi vào hòa bình ổn định, đặc biệt là khu vực ĐNA sau khi “Vấn đềCămpuchia” đợc giải quyết, hợp tác phát triển chiếm vai trò chủ đạo Vì vậy,

là một thành viên của tổ chức ASEAN, Thái Lan không thể đứng ngoài nhữngbiến đổi đó mà cần phải có những chính sách kịp thời, từng bớc khẳng định vịtrí của mình trong khu vực

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Thái Lan đợc xúc tiến một cách

đồng bộ, cụ thể không những đối với khu vực ĐNA mà còn cả với các nớctrên thế giới, trong đó có những nớc đồng minh truyền thống nh Mỹ, NhậtBản, Trung Quốc,… Nh nhằm thực hiện những mục tiêu cơ bản sau:

Một là, bảo đảm môi trờng quốc tế, khu vực ổn định tạo điều kiện cho

việc hợp tác phát triển kinh tế của đất nớc

Hai là, tăng cờng quan hệ với tất cả các nớc, các khu vực và tổ chức

quốc tế, trong đó không ngừng nỗ lực cải thiện quan hệ với các nớc Đông

Trang 21

D-ơng nhằm đa đất nớc hợp tác toàn diện trong khuôn khổ tổ chức ASEAN; tậndụng mọi cơ hội để phát huy tiềm năng thế mạnh của mình trong các mốiquan hệ song phơng lẫn đa phơng.

Ba là, giữ đợc thế cân bằng và cố gắng trở thành “cầu nối” trong quan

hệ với các nớc lớn, tránh sự phụ thuộc quá lớn vào một nớc cụ thể nhng vẫntranh thủ đợc sự ủng hộ giúp đỡ của các nớc này để phát triển đất nớc, đặc biệt

là Mỹ

Bốn là, không ngừng đẩy mạnh phát triển kinh tế biến Thái Lan thành

một trong những “con rồng” châu á, là “trung tâm”, là “lãnh đạo” trong khuvực ĐNA cả về quân sự, an ninh, chính trị, kinh tế, từ đó trở thành “Nhà lãnh

đạo t tởng”, trung tâm văn hóa, văn minh của khu vực

Những mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Thái Lan nổi lên một

điểm cơ bản đó là, lợi ích quốc gia dân tộc luôn đợc bảo đảm và đặt lên hàng

đầu Sự phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các nớc của Thái Lan cũng khôngnằm ngoài mục đích tận dụng tối đa những cơ hội thúc đẩy nền kinh tế pháttriển, từng bớc xác lập vai trò của mình trong khu vực

Để đạt đợc mục tiêu trên, Thái Lan đã tích cực triển khai nhiều hoạt

động đối ngoại đối với khu vực và thế giới Có thể nói, chính sách đối ngoạimới của Thái Lan đợc hình thành từ cuối những năm 80, bắt đầu từ cách nhìnnhận của Chính phủ Chạt-chai về Đông Dơng Thủ tớng Chạt-chai nhận địnhrằng: “Có thể hạn chế bớt khả năng dẫn tới cuộc chiến tranh và xung đột quốcgia thông qua việc phát triển quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trong khu vựcvới nhau” [20, tr.19] Để làm rõ cho nhận định của mình, ông giải thích: “Khicác dân tộc và nhân dân đầu t vào lãnh thổ của nhau, khi các dân tộc và nhândân tơng hỗ với nhau về hoạt động kinh tế trên quy mô lớn và khi các dân tộc

và nhân dân dợc hởng thành quả từ các hoạt động đó thì họ sẽ ít có động lực

để cầm vũ khí chống lại nhau” [20, tr.19] Đây là toàn bộ cơ sở t tởng cho mộtchính sách đối ngoại “biến Đông Dơng từ chiến trờng thành thị trờng”, đồngthời cũng là một điểm căn bản trong chính sách của Thái Lan từ năm 1991

đến nay Những chính sách của Chính phủ Chạt-chai có ý nghĩa tiến bộ trong

sự nỗ lực mở rộng quyền dân chủ và tạo nên bớc ngoặt quan trọng trong quan

hệ với các nớc ở khu vực và thế giới, thể hiện sự năng động, mềm dẻo trongchính sách đối ngoại mà Thái Lan đã và đang triển khai

Trang 22

Bớc chuyển biến quan trọng trong chính sách đối ngoại của Thái Lan

đ-ợc chính thức tiến hành dới chính quyền của thủ tớng Anăn Pan-gia- chun Saucuộc đảo chính ngày 23/2/1991, chính phủ do thủ tớng Anăn Pan-gia-chun

đứng đầu tiếp tục duy trì đờng lối đối ngoại của cựu thủ tớng Chạt-chai Điềunày đợc thể hiện qua lời tuyên bố của Bộ trởng ngoại giao Thái Lan với báochí rằng: Thái Lan sẽ áp dụng nền ngoại giao theo hớng thị trờng thay cho nềnngoại giao an ninh Một thực tế cho thấy, trong thời gian này tình hình chínhtrị nội bộ Thái Lan lâm vào khủng hoảng trầm trọng Các phe phái đấu tranhlật đổ lẫn nhau, nguy cơ khủng bố thờng xuyên đe dọa làm cho tình hình đấtnớc trở nên căng thẳng Vì vậy, thi hành chính sách đối ngoại tích cực nh trên

sẽ giúp Thái Lan có điều kiện tập trung đối phó với những khó khăn trong

n-ớc, từng bớc mở rộng quan hệ với các nớc bên ngoài Nhng điều quan trọnghơn cả trong chính sách của Thái Lan là nhằm mục đích “không đợc bỏ lỡ cơhội một khi hoà bình trở lại Đông Dơng”, bởi vì “Nhật Bản - một siêu cờng vềkinh tế và Pháp - ông chủ thực dân cũ của Đông Dơng đang ở t thế sẵn sàngtiến vào nắm lấy cơ hội làm ăn kinh tế vùng này” Nếu “không chuẩn bị tốt để

đón nhận bớc ngoặt lớn lao này” thì Thái Lan sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển vàngày càng tụt hậu so với các nớc khác trong khu vực cũng nh thế giới (dẫntheo Nation, số ra ngày 1/3/1989)

Tháng 10/1992, Chuôn-lịk-phay đợc bầu làm thủ tớng Thái Lan và ông

đã triển khai chính sách đối ngoại của mình một cách cụ thể thiết thực hơn.Vấn đề đầu tiên đợc chính phủ quan tâm nhằm tạo dựng niềm tin và uy tín đốivới các nớc là không ngừng cam kết thực hiện nhân quyền - dân chủ, điều màtrớc đây cha khi nào Thái Lan chú trọng Chính phủ Chuôn-lịk-phay luôn “cốgắng thực hiện phần trách nhiệm của mình hậu thuẫn dân chủ và quyền conngời ở trong nớc cũng nh khu vực” [8, tr.4] Qua đây, Thái Lan cố gắng thuhẹp khoảng cách với các nớc trong đó chú trọng những nớc mà trớc đây TháiLan coi là thù địch, để tiến tới bắt tay hợp tác phát triển Thái Lan tích cựcủng hộ xu thế hoà bình, các nớc tôn trọng, giúp đỡ tạo điều kiện lẫn nhau đểcùng phát triển Bộ trởng ngoại giao Thái Lan Pra-song trả lời trớc báo chírằng, nằm trong lợi ích của tất cả các nớc là phải đa ra những khuyến khích và

động viên chứ đừng tìm kiếm một chính sách cô lập chỉ có thể làm hại chonhân dân của nớc đó mà thôi Chính sách đối ngoại tích cực này đã làm choquan hệ giữa Thái Lan với một số nớc láng giềng đầu những năm 90 về cơ bản

Trang 23

xoá bỏ đợc những nghi kị bất đồng, chuyển sang giai đoạn hợp tác phát triển.Thái Lan đã lên án chính sách cấm vận các nớc quan hệ kinh tế với Việt Namcủa Mỹ; ủng hộ các nớc Đông Dơng, Mianma gia nhập tổ chức ASEAN; trongnăm 1993, Chính phủ Thái Lan đã cung cấp viện trợ kỷ thuật và kinh tế cho cả

ba nớc Đông Dơng, với tổng trị giá 8,01 triệu USD… Nh Những việc làm tích cựcnày đợc nhiều nớc hoan nghênh ủng hộ, coi đây là cơ sở củng cố lòng tin,cùng với Thái Lan vợt qua mọi trở ngại trong quá khứ hớng tới tơng lai hợptác mới

Chính sách đối ngoại của Thái Lan đối với các nớc lớn, đặc biệt là đồngminh lâu đời Mỹ cũng có những thay đổi nhất định Mặc dù Thái Lan vẫn tiếptục duy trì quan hệ với Mỹ nhng xét về mức độ thì đã có sự thay đổi Hậu quảcủa những năm theo Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Đông Dơng đã làm cho TháiLan gặp không ít khó khăn ngay sau khi Mỹ rút quân khỏi khu vực ĐNA: nềnkinh tế vốn lệ thuộc nhiều vào Mỹ nay phải đối đầu với thử thách tự vơn lên;tình hình nội bộ chính trị luôn ở trong tình trạng rối loạn; uy tín và lòng tin

đối với các nớc trong khu vực giảm sút một cách nghiêm trọng… Nh Từ nhữngkhó khăn này, Thái Lan hiểu ra một điều rằng, nghiêng hẳn về siêu cờng Mỹ(để có đợc những nguồn lợi trớc mắt) chống lại các nớc khác, thậm chí lại làcác nớc láng giềng trong cùng khu vực không phải là phơng sách tối u để pháttriển đất nớc, mà chỉ tạo ra khoảng cách ngày càng lớn đối với các nớc trongkhu vực Chính vì vậy, trong quan hệ với Mỹ ở giai đoạn này, Thái Lan cóphần cầm chừng và không thực sự gắn bó nh trong thời kì chiến tranh lạnh.Song, Thái Lan luôn cố gắng để Mỹ thấy rằng, Thái Lan vẫn là một đồngminh truyền thống Điều đó vừa tạo điều kiện cho Thái Lan khi quan hệ vớicác nớc trong khu vực và thế giới, vừa tranh thủ đợc “nhân tố Mỹ” để pháttriển đất nớc Mối quan hệ Thái Lan - Mỹ so với trớc đó có phần giảm sút,xuất phát từ hai lý do sau: thứ nhất, Thái Lan đang cố gắng tạo dựng cho mìnhmột vị thế độc lập, củng cố lòng tin đối với tất cả các nớc trong và ngoài khuvực Thái Lan muốn xóa hình ảnh của một đất nớc đã từng theo Mỹ có mặt tạichiến trờng Đông Dơng, nhằm tăng cờng hợp tác với các nớc trong bối cảnhmới Vì vậy, nếu quá thân mật với Mỹ thì Thái Lan khó có thể có đợc sự cảmthông, chia sẻ từ các nớc này và do vậy mục tiêu đa ra trong chính sách đốingoại của mình cũng không thể thực hiện đợc; thứ hai, sau khi khu vực ĐNAkhông còn là nơi đối đầu căng thẳng mà trở lại một khu vực hòa bình ổn định

Trang 24

thì chính sách của các nớc lớn trong đó có Mỹ cũng bắt đầu thay đổi Mỹquan tâm nhiều đến quan hệ đa phơng hơn là quan hệ song phơng kiểu nhquan hệ Mỹ - Thái trớc đây Do vậy, Thái Lan cũng là một nớc bình đẳng nhcác nớc khác trong sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực châu

á - Thái Bình Dơng nói chung, ĐNA nói riêng Điều này đợc chứng minh, khiThái Lan - quốc gia ASEAN cuối cùng gia nhập Phong trào không liên kết(10/1993) Mỹ đã không hề phản đối, thậm chí còn cho rằng, vấn đề này hoàntoàn không ảnh hởng đến “quan hệ quân sự tay đôi dễ chịu” cũng nh sự hợptác trong lĩnh vực ngoại giao giữa hai nớc Tất cả những điều trên cho thấy,quan hệ Thái Lan - Mỹ đã có sự thay đổi căn bản

Sự nới rộng trong chính sách của Mỹ đối với Thái Lan đã tạo điều kiệnthuận lợi cho Thái Lan nhanh chóng triển khai chính sách đối ngoại mới củamình, bảo đảm lợi ích và đa đất nớc phát triển Tuy nhiên, cũng trong thờigian này có một vấn đề ảnh hởng đến quá trình thực hiện chính sách đối ngoạicủa Thái Lan đó là vấn đề Khơme Đỏ Việc Chính phủ Thái Lan phải ở vàothế thủ và không đa ra đợc chứng cứ để phản bác sự chỉ trích của quốc tế chorằng nớc này vẫn duy trì mối quan hệ đặc biệt với Khơme Đỏ - lực lợng đãkịch liệt chống lại cuộc tổng tuyển cử và lập Chính phủ Liên hiệp do Liên Hợpquốc bảo trợ ở Cămpuchia vào tháng 5/1993, chứng tỏ trong chính sách đốingoại của mình, Thái Lan vẫn còn có nhiều tham vọng Dĩ nhiên, xét một cáchtổng thể thì nét chủ đạo trong đờng lối đối ngoại của Thái Lan những năm đầuthập kỷ 90 vẫn là, tăng cờng hoà bình hợp tác với phơng châm tự do và độclập

Từ năm 1992 đến 1996, nội bộ chính trị Thái Lan gặp nhiều khó khăn,nội các nhiều lần thay đổi thủ tớng và bộ trởng ngoại giao (trong vòng 4 năm

đã thay đổi bốn lần thủ tớng), nhng chính sách đối ngoại về cơ bản không thay

đổi Chính phủ Thái Lan qua các đời thủ tớng lên nắm quyền vẫn tiếp tục triểnkhai mạnh mẽ các hoạt động đối ngoại đa dạng hóa quan hệ với các nớc nhằmbảo đảm môi trờng quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế

Sau khi giải quyết về cơ bản các mâu thuẫn, nghi kị trong quan hệ songphơng, Thái Lan từng bớc giúp đỡ nhóm nớc Đông Dơng và Mianma sớm đợckết nạp vào Hiệp hội các quốc gia ĐNA Chính phủ Thái Lan tự nhận chomình ở một vị trí trung tâm có nhiệm vụ liên kết hai nhóm nớc trong khu vực

ĐNa Việc kết nạp các nớc láng giềng vào tổ chức khu vực giúp cho Thái Lan

Trang 25

có một biên giới an toàn, môi trờng chính trị ổn định để phát triển kinh tế.

Điều đáng chú ý là, Thái Lan đã quyết định xoá bỏ “Đạo luật chống cộng sản”trong hiến pháp của mình Đây là một nhận thức chính trị tích cực trong chínhgiới Thái Lan Nó chứng tỏ chính sách đối ngoại của Thái Lan không chỉ bằng

lý thuyết mà còn đợc cụ thể hóa bằng những việc làm, tiến tới xóa bỏ sự ngăncách đối với các nớc Đông Dơng trong đó có Việt Nam

Ngoài ra, Thái Lan còn u tiên cho việc thúc đẩy quan hệ với các đồngminh truyền thống Mỹ, Nhật Bản, Tây âu và các nớc ASEAN khác để tranhthủ tối đa những cơ hội phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nớc Thái Lan mởrộng hợp tác với các nớc thuộc khu vực Đông Âu, Trung Đông, Nam á, ChâuPhi và Mỹ latinh trên tinh thần đa dạng hóa quan hệ và mở rộng thị tr ờng thếgiới phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao vị thế của TháiLan trên trờng quốc tế

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra ở khu vực ĐNA nhữngnăm 1997, 1998 đã làm cho tình hình kinh tế, chính trị Thái Lan gặp nhiềukhó khăn Nhng cha bao giờ chính sách đối ngoại của Thái Lan lại đợc phản

ánh một cách rõ nét nhất về “nhịp độ” cũng nh “sức sống” của đất nớc vànhân dân Thái Lan dới thời cầm quyền của các thủ tớng Chao-va-lit Giông-chay-giút (11/1996 - 1997), Chuôn-lịk-phay (11/1997 - 2/2001) và Thắc-xỉn(2001 đến nay) Kể từ khi bùng nổ cuộc khủng hoảng (7/1997) đến nay, cácchính phủ nối tiếp nhau đã đa chính sách ngoại giao của Thái Lan đi vừa tròn

“một chu kì khép kín” Đó chính là nỗ lực nhằm kéo Thái Lan thoát khỏi khókhăn nghiêm trọng trong một thế giới cạnh tranh khắc nghiệt Dới sự lãnh đạocủa ba đời thủ tớng khác biệt, chính sách đối ngoại của Thái Lan chuyển từchỗ ràng buộc chủ yếu với các nớc láng giềng sang mở rộng hữu nghị vớicộng đồng quốc tế để rồi nay trở lại với xu hớng thân châu á hơn Thái độ nônnóng thúc đẩy quan hệ giữa Thái Lan với các nớc láng giềng đặc biệt là TrungQuốc trong thời gian 1996 - 1997 của thủ tớng Chao-va-lit đã không mang lạikết quả nh mong muốn Nguyên nhân chủ yếu là, những chính sách này tiếnhành trong khi đất nớc đang gặp khủng hoảng, hơn nữa trong quan hệ với cácnớc nói trên, Chính phủ Chao-va-lit luôn tỏ ra mình là “đàn anh”, điều màkhông phải lúc nào cũng đợc các nớc hoan nghênh Chính sách đối ngoại phầnnào quốc tế hóa hơn của Chính phủ Chuôn-lịk-phay có phần coi trọng quan hệvới các nớc phơng Tây trong đó dành cho Mỹ một sự quan tâm nhất định Để

Trang 26

đối phó với tình hình khó khăn trong nớc, ông Chuôn-lịk-phay chọn con đờngkết thân với phơng Tây thông qua việc tỏ thái độ đồng tình về vấn đề bảo vệnhân quyền dân chủ Sau khi ASEAN kết nạp Mianma đợc một năm, Thái Lan

đã tìm cách cải thiện quan hệ của tổ chức ASEAN với phơng Tây bằng cáchkêu gọi các thành viên ASEAN mở cửa cùng nhau tham vấn về những đề tàitác động tới toàn bộ khu vực Với những cố gắng của mình, tháng 11/2000,chính phủ của thủ tớng Chuôn-lịk-phay đã đạt đợc thỏa thuận thiết lập đối táchợp tác với Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) Tuy nhiên, về phơngdiện kinh tế Thái Lan lại tìm cách đa dạng hóa thị trờng xuất khẩu của mình

và giảm phụ thuộc vào các khách hàng truyền thống nh Mỹ, Nhật Bản và EU.Thái Lan mở rộng tìm kiếm thị trờng mới trong đó Trung Quốc, các nớc Nam

á trở thành những mục tiêu thơng mại hàng đầu Có thể thấy, sự thay đổi này

đợc thúc đẩy bởi những yêu cầu và nhiệm vụ đang đặt ra của nền kinh tế TháiLan Khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã buộc các Chính phủ Thái Lan đa rathử nghiệm nhiều chính sách với mọi cố gắng để “vật lộn” với những khókhăn chồng chất trong nớc Để ổn định và đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng,Thái Lan tăng cờng quan hệ với các nớc phơng Tây, đặc biệt là Mỹ Trongcuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000, kết quả thăm dò của Viện nghiên cứuDusít cho thấy 40,7% ngời dân thủ đô Băng Cốc ủng hộ G Bush của ĐảngCộng hoà làm tổng thống Mỹ, có 23,7% ủng hộ A Gore của Đảng Dân chủ

Điều đó chứng tỏ Thái Lan rất quan tâm đến việc ai sẽ làm tổng thống Mỹ.Thái Lan mong muốn G Bush trở thành tổng thống Mỹ, vì nh vậy sức ép của

Mỹ đối với Thái Lan về các vấn đề quan hệ quốc tế sẽ giảm đi Việc Mỹ

“không can thiệp thô bạo” vào các nớc khác sẽ giúp Thái Lan giảm bớt mâuthuẫn với các nớc láng giềng để tăng cờng hợp tác

Với chính sách đối ngoại khôn khéo và quyết tâm của chính phủChuôn-lịk-phay, Thái Lan đã dần dần thoát khỏi cuộc khủng hoảng và tiếp tục

có những bớc phát triển mạnh mẽ dới thời thủ tớng Thắc-xỉn So với các đờithủ tớng tiền nhiệm của mình, chính phủ của ông Thắc-xỉn đã đa ra nhiềuchính sách mới, song về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của những chính sáchtrớc đó đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu Vừa là phản xạ, vừa là chủ định,chính sách đối ngoại của thủ tớng Thắc-xỉn đã tách khỏi quan điểm quốc tếhóa và cố tạo dấu ấn của lập trờng dân tộc chủ nghĩa trong các mối quan hệsong phơng và đa phơng [40, tr.6]

Trang 27

Sau khi lên làm thủ tớng Thái Lan (2/2001), ông Thắc-xỉn đã nêu rõchính sách đối ngoại của Thái Lan là: “sẽ mở ra một thời kỳ mới trong cácquan hệ tay đôi với các nớc láng giềng bằng cách nhấn mạnh tới ngoại giao cánhân” [38], tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực kinh tế, tiếp tục đờng lối đốingoại của Thái Lan trong những năm gần đây Trong quan hệ với các nớcASEAN, ông nhấn mạnh Thái Lan tuân thủ nguyên tắc không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau đã đợc các nớc trong Hiệp hội nhất trí Để chứngminh cho đờng lối đối ngoại và thiện chí của mình, ngay sau khi lên nắmquyền, thủ tớng Thắc-xỉn đã tiến hành viếng thăm các nớc ASEAN, mở đầucho một giai đoạn mới trong quan hệ giữa Thái Lan với các nớc trong khu vực.Qua những chuyến thăm này, Thái Lan muốn tăng cờng hơn nữa lòng tin, sựtôn trọng giữa các nớc đối với nhau Thái Lan tìm cách thúc đẩy quan hệ trựctiếp giữa các cấp lãnh đạo để liên hệ ngay khi có tình hình nảy sinh trong quan

hệ với các nớc láng giềng Bởi vì theo ông Thắc-xỉn, nếu quan hệ giữa TháiLan với các nớc láng giềng không sâu sắc thì sẽ không tiến hành chính sáchliên kết khu vực một cách thuận lợi Mục tiêu của Thái Lan là tạo quan hệláng giềng tốt và liên kết nhất trí giữa các nớc ASEAN Theo đó, vai trò củaThái Lan ở khu vực ĐNA là phải đề xớng phơng hớng giải quyết các vấn đềkhu vực, liên kết mối quan hệ giữa các nớc trong khu vực; tăng cờng hợp tácchính trị, kinh tế thông qua hội nghị hàng năm của ASEAN, Khu vực mậudịch tự do (AFTA); giúp đỡ một số nớc thành viên ASEAN còn tụt hậu vềkinh tế để ASEAN - 10 quốc gia có thể tập hợp sức mạnh của 500 triệu dâncùng phát triển Ngoài ra, Thái Lan còn có vai trò khai phá, xây dựng lòng tinkhu vực để tạo cơ sở bảo đảm an ninh con ngời làm nền tảng cho an ninh hợptác khu vực; vai trò điều phối giữa khu vực ĐNA với các khu vực khác trên thếgiới, chẳng hạn ĐNA với Đông Bắc á Nh vậy, tăng cờng hợp tác ASEAN,Thái Lan đang cố gắng để bảo vệ ổn định hòa bình cho khu vực Hòa bình ởkhu vực ĐNA nói riêng và châu á nói chung tuỳ thuộc vào sự cân bằng quyềnlực giữa các nớc Do đó, Thái Lan không ngừng tăng cờng thi hành chính sách

đối ngoại cân bằng với các siêu cờng, đồng thời tạo nên sự mật thiết trongquan hệ với các nớc láng giềng

Sau sự kiện ngày 11/9/2001, bức tranh địa chiến lợc chính trị, địa chiếnlợc kinh tế của thế giới đã có sự thay đổi Đứng trớc tình hình mới, Thái Lan

đa ra những chính sách quan trọng nhằm đáp ứng kịp thời lợi ích của quốc gia

Trang 28

trong đó điều mà Thái Lan quan tâm nhất là kinh tế phải đi đôi với an ninh.Bằng việc hợp tác với Liên Hợp quốc trong cuộc chống khủng bố, chống matuý và nhiều vấn đề khác, Thái Lan góp phần với thế giới xây dựng lòng tin vềmọi mặt và còn chứng tỏ lập trờng của mình là sẵn sàng trấn áp những nảysinh gây trở ngại đối với tiến trình hòa bình, hợp tác, phát triển của thế giới.Bên cạnh thúc đẩy quan hệ với các nớc trong khu vực, Thái Lan vẫn rất coitrọng quan hệ với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, vì đây là những thị trờng xungyếu, là các bạn hàng và đối tác thơng mại quan trọng của Thái Lan.

Do nhu cầu ổn định và phát triển nên trong chính sách đối ngoại từ

1991 đến nay, Thái Lan luôn quan tâm đến vấn đề an ninh khu vực và đã cónhững việc làm cụ thể: thúc đẩy hoạt động của các diễn đàn, lôi kéo các bêncam kết mang tính chất xây dựng nhằm tăng cờng ổn định an ninh Thái Lan

có tiếng nói chung với tất cả các nớc trong khu vực về việc duy trì một nền anninh có lợi cho phát triển Chính phủ Thái Lan cho rằng: “Trạng thái động củamột nhóm các quốc gia trong khu vực, bao trùm sự kiên quyết, sung sức vàdẻo dai cho phép phát triển sức đề kháng dân tộc của mỗi quốc gia với tinhthần thống nhất khu vực, hợp tác và trung thành, đối phó đợc với mọi đe dọa

và thử thách bên trong cũng nh bên ngoài trực tiếp hay gián tiếp đe dọa tới sựtồn tại đến đời sống của đất nớc này cũng nh lợi ích của toàn khu vực” [21,tr.10]

Thái Lan đã đa ra đề nghị và tổ chức thành công Diễn đàn an ninh khuvực ASEAN (ARF) để làm nơi thảo luận các vấn đề liên quan tới an ninhtrong khu vực Từ lâu, Thái Lan đã chủ trơng thúc đẩy những liên kết chínhthức và không chính thức trong các vấn đề chính trị và an ninh giữa các khuvực Hiện nay, Thái Lan là thành viên duy nhất của ĐNA có mặt trong Tổchức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) Vì vậy, Thái Lan đóng một vai tròquan trọng trong quá trình liên kết châu á với châu Âu Thông qua nhữnghoạt động tích cực dới hình thức là cầu nối giữa hai châu lục, địa vị của TháiLan trên trờng quốc tế và khu vực không ngừng đợc nâng cao Không nhữngthế Thái Lan còn có thể “thiết lập đợc cho mình các mạng lới quốc tế liênquan đến các chính sách kinh tế, môi trờng an ninh và chính trị” [15, tr.80].Ngoài ra, Thái Lan còn đa ra sáng kiến thành lập Diễn đàn đối thoại châu á(ACD) vào tháng 6/2002, là một diễn đàn đối thoại tự do với mục đích thúc

đẩy toàn cầu hóa dẫn đến mối quan hệ bền vững, công bằng và hợp lý giữa các

Trang 29

nớc châu á; không ngừng thúc đẩy các chơng trình hợp tác giữa châu á vớichâu Âu nhằm tìm kiếm các biện pháp thúc đẩy cơ chế hợp tác trong đầu tgiữa khu vực ĐNA với các khu vực khác; Thái Lan kêu gọi các nớc thành viênASEAN thiết lập các cơ quan quốc gia hoạt động nh những trung tâm phòngchống khủng bố.v.v… Nh Những việc làm này đã giúp Thái Lan trở thành nhà

điều phối viên trong việc đem lại an ninh ở khu vực ĐNA và trên toàn thế giới

Với những kết quả đã đạt đợc, vị trí và vai trò của Thái Lan phần nào đã

đợc khẳng định Những mục tiêu đặt ra ngay từ đầu trong chính sách đối ngoạicủa Thái Lan dần dần trở thành hiện thực dới thời thủ tớng Thắc-xỉn

Về phơng diện kinh tế, Chính phủ Thái Lan tích cực thúc đẩy chơngtrình liên kết hợp tác kinh tế khu vực, tiểu khu vực, trong đó tăng cờng hợp táckinh tế tiểu vùng Mêkông nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế, chính trị củamình Thái Lan đa ra sáng kiến thành lập AFTA, qua đó phát huy vai trò lợithế kinh tế của mình trong khu vực Để đạt đợc điều này, Thái Lan đã tích cựcgiúp đỡ các nớc ASEAN, đặc biệt là các nớc Đông Dơng trong việc tham giaAFTA Thái Lan và các nớc Đông Dơng đã đa ra danh sách các mặt hàngtrong diện cắt giảm theo chơng trình CEPT Kim ngạch buôn bán cũng nh quátrình đầu t song phơng giữa Thái Lan với các nớc trong khu vực ĐNA vì vậy,không ngừng đợc tăng lên Những năm qua, Thái Lan là nớc tích cực trongviệc khởi xớng, tuyên truyền cho kế hoạch hợp tác phát triển tiểu khu vực nh

“Tứ giác vàng” (Thái Lan - Lào, Mianma - Nam Trung Quốc); “Tam giác kinhtế” (Thái Lan - Malaixia - Inđônêxia); “Khu kinh tế vòng tròn” (Đông BắcThái Lan - Trung Nam Lào - Đông Bắc Cămpuchia - miền Trung Việt Nam).Trong số đó, chơng trình hợp tác và phát triển bền vững sông Mêkông đã đợcThái Lan cùng với các nớc Lào, Cămpuchia, Việt Nam triển khai một cách cóhiệu quả, mang lại lợi ích cho cả ba nớc Chính những hoạt động tích cực củaThái Lan trong các chơng trình hợp tác dựa trên khuôn khổ khu vực, nguyêntắc và phơng hớng của ASEAN không những làm cho các nớc ASEAN hợp tácphát triển thu nhiều kết quả mà còn góp phần nâng cao lòng tin, củng cố sứcmạnh giữa các quốc gia, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ hợp tác ngày càng sâusắc, toàn diện của các nớc trong khu vực ĐNA, cũng nh giữa ĐNA với thếgiới

Nhìn chung, từ khi lên cầm quyền đến nay, thủ tớng Thái Lan Thắc-xỉn

đã đa ra những chính sách đối ngoại và triển khai nó một cách hiệu quả đáp

Trang 30

ứng kịp thời tình hình đặt ra của đất nớc Xu thế hòa bình, ổn định và sự pháttriển không ngừng của khu vực là một lợi thế lớn để Thái Lan thực thi chínhsách đối ngoại đa dạng hóa quan hệ với các nớc, giữ thế cân bằng và tranh thủ

sự giúp đỡ của các nớc lớn, đồng thời không ngừng tăng cờng hợp tác với cácnớc trong khu vực nhằm từng bớc xác lập vị trí dẫn đầu của mình trongASEAN

1.2.2 Quan hệ giữa Thái Lan và một số nớc.

Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp điều kiện mới, TháiLan từng bớc chuyển sang chính sách đa dạng hoá các mối quan hệ, đảm bảomôi trờng quốc tế thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nhằm đa Thái Lan trởthành “con rồng”, trung tâm phát triển của châu á

Để đạt đợc mục tiêu trên, trớc hết Thái Lan u tiên thúc đẩy quan hệ vớicác đồng minh truyền thống là Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu và các nớc ASEAN,trong đó Mỹ chiếm vị trí số một Ngoài ra, Thái Lan còn mở rộng quan hệ vớicác khu vực khác nh Nam á, Đông âu, Mỹ latinh trên tinh thần đa dạng hoáquan hệ, mở rộng thị trờng trao đổi buôn bán, giao lu văn hoá nhằm tạo điềukiện cho đất nớc phát triển và nâng cao vị thế của mình trên trờng quốc tế Sựchủ động, tích cực tham gia vào việc giải quyết các vấn đề khu vực và thế giớicủa Thái Lan trong những năm qua cũng là những việc làm thiết thực nhằm

đạt mục tiêu nêu trên

- Quan hệ Thái Lan - Mỹ

Với chính sách đối ngoại truyền thống “ngả theo chiều gió”, ngay từ

đầu, Thái Lan đã coi Mỹ là “ngời bạn thân thiện” bởi Mỹ vốn là một siêu cờngthế giới trong suốt thế kỷ qua Thái Lan luôn dành cho Mỹ vị trí số một trongtoàn bộ chính sách đối ngoại của mình, nhất là kể từ sau chiến tranh thế giới

II Dĩ nhiên, sự giúp đỡ của Mỹ đối với Thái Lan là sự giúp đỡ “có đi có lại”

và không nằm ngoài những mục đích chính trị, quân sự của Mỹ

Chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô đã làm thay đổicăn bản trong so sánh lực lợng của thế giới, nhng cả Thái Lan và Mỹ đều tồntại những cơ sở và những ràng buộc lẫn nhau để tiếp tục duy trì quan hệ

Về phía Mỹ, trong bối cảnh hầu nh các nớc lớn đều điều chỉnh chính

ách đối ngoại hớng về khu vực châu á - Thái Bình Dơng trong đó có ĐNA vớimong muốn có đợc vị trí xứng đáng tại khu vực này, thì Mỹ không thể thờ ơ,

mà phải bằng mọi cách để chiếm đợc khu vực phát triển năng động này,

Trang 31

khẳng định sức mạnh vốn có của mình Muốn vậy, Mỹ phải không ngừng mởrộng tất cả các mối quan hệ song phơng, đa phơng với các nớc lớn nhỏ khácnhau nhằm tạo dựng đợc lòng tin và uy tín đối với các nớc trong khu vực

ĐNA, từ đó “xây dựng đợc một cấu trúc khu vực để duy trì phát triển kinh tế,thúc đẩy sự hợp nhất và bảo đảm sự ổn định lâu dài” [48, tr.196] Vì vậy, tiếptục duy trì và phát triển quan hệ thân thiết với Thái Lan dựa trên những tiền đề

đã có trong suốt quá trình quan hệ trớc đó là nhiệm vụ hàng đầu trong mụctiêu đối ngoại của Mỹ Hơn nữa, sự nghi kị và những mâu thuẫn giữa Thái Lan

và các nớc ĐNA trớc đây đã đợc xoá bỏ giúp cho các nớc ASEAN có điềukiện hợp tác phát triển Thái Lan sẽ đóng vai trò cầu nối giữa Mỹ với các n ớcASEAN trong quá trình hợp tác kinh tế, ổn định an ninh khu vực Điều nàynằm trong chính sách châu á - Thái Bình Dơng nói chung, ĐNA nói riêng của

Mỹ những năm đầu thập kỷ 90

Về phía Thái Lan, mặc dù từ sau chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoạicủa Thái Lan là “mở cửa ra các phía” nhằm giữ thế cân bằng và không ngừngcủng cố quan hệ với các nớc trong khu vực, nhng nền tảng của chính sách đóvẫn dựa vững chắc trên quan hệ Thái - Mỹ Trong chính sách đối ngoại vớiquan hệ song phơng hay đa phơng, Thái Lan không thể xa rời hay coi nhẹquan hệ với Mỹ Truyền thống quan hệ giữa hai nớc cũng nh “nhân tố” Mỹ chiphối rất lớn đến sự phát triển của Thái Lan trên nhiều phơng diện chính trị,kinh tế, quân sự Với tình hình Thái Lan ở thời điểm hiện nay, không thể phủnhận rằng, mối quan hệ Thái - Mỹ là một trong những vấn đề chiến lợc củaThái Lan trong tơng lai [43]

Ngoài ra, giữa Thái Lan và Mỹ cùng chung nhiều mục đích ở khu vực

ĐNA, trong đó có vấn đề an ninh khu vực Do nhu cầu và phát triển của cả hainớc, Thái Lan và Mỹ đặc biệt quan tâm đến an ninh và đã có nhiều hoạt độngnhằm tăng cờng sự ổn định an ninh khu vực Thái Lan đa ra sáng kiến và đã tổchức thành công diễn đàn ARF, tăng cờng mua sắm vũ khí, trang bị quốcphòng để tăng khả năng phòng thủ Mỹ không ngừng duy trì và tiếp thêm sinhlực cho các liên minh trụ cột giữa Mỹ với Nhật bản, Hàn Quốc, Thái Lan vàPhilippin nhằm giữ vững ổn định an ninh của Mỹ ở ĐNA và các khu vực khác

Những năm đầu khi chiến tranh lạnh vừa kết thúc, quan hệ Thái Lan

-Mỹ có phần giảm sút chủ yếu là do phía -Mỹ Chính phủ Thái Lan đứng đầu làChuôn-lịk-phay đã cố gắng bằng mọi cách để lấy lại lòng tin của Mỹ ở nhiều

Trang 32

vấn đề Mỹ nghi ngờ, trong đó có việc Thái Lan bị Mỹ đa vào danh sách cácnớc bị theo dõi vì hành vi lạm dụng buôn bán Năm 1993 quan hệ Thái Lan -

Mỹ đợc cải thiện đáng kể Tháng 9/1993, Mỹ quyết định đa Thái Lan ra khỏidanh sách những nớc nằm trong diện theo dõi của Mỹ Mỹ không hề phản đốikhi Thái Lan, quốc gia ASEAN cuối cùng gia nhập Phong trào không liên kết(10/1993) Năm 1995, Thái Lan và Mỹ đã tiến hành 36 cuộc tập trận chung,năm 1997 hai nớc triển khai kế hoạch tập trận “Hổ mang vàng 97” và đón

đoàn t lệnh Mỹ ở khu vực Thái Bình Dơng Quan hệ kinh tế giữa hai nớckhông ngừng phát triển, xuất khẩu sang Mỹ chiếm 20% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của Thái Lan, và là một trong 20 bạn hàng lớn nhất của Mỹ Chính sáchngoại giao của Thái Lan có chiều hớng “ngả” theo siêu cờng Mỹ quá mức.Thái Lan tích cực theo đuổi vấn đề dân chủ và nhân quyền - là công cụ ngoạigiao của Mỹ dùng để gây sức ép các nớc châu á nh Trung Quốc, Malaixia,Inđônêxia, khi đăng cai Hội nghị khu vực châu á về nhân quyền vào năm

1993 Việc Thái Lan đa ra chính sách ngoại giao “can dự linh hoạt” bất chấp

d luận để ủng hộ, theo đuôi Mỹ trong cuộc tấn công Irắc là những bằng chứngquan hệ gắn bó của Thái Lan với Mỹ

Từ năm 1996, Thái Lan bắt đầu có chiều hớng phát triển quan hệ vớicác tổ chức quốc tế có tiềm lực nh Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), tăng c-ờng quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản , nhng Thái Lan vẫn duy trì và khôngngừng đẩy mạnh quan hệ với Mỹ Trong trật tự thế giới mới do Mỹ làm báchủ, tăng cờng quan hệ với Mỹ Thái Lan sẽ thu nhận đợc nhiều lợi ích cả về

an ninh, quân sự, kinh tế, kỷ thuật, tri thức Thái Lan dựa vào Mỹ lấy đó làmcơ hội để phát triển Song, các nhà lãnh đạo Thái Lan cũng nhận thức đợcrằng, quan hệ quá mật thiết với Mỹ sẽ không có lợi trong khi ấn Độ, TrungQuốc là những quốc gia đang “trỗi dậy” thách thức trật tự thế giới của Mỹ.Tuy nhiên, Mỹ sẽ không để cho Trung Quốc hay bất kỳ một nớc nào khác dễdàng có vai trò lớn hơn mình trong quan hệ quốc tế Thái Lan một mặt quan

hệ với Mỹ để có điều kiện phát triển, mặt khác đang cố gắng cân bằng trongquan hệ với các nớc lớn nhằm lợi dụng những mâu thuẫn giữa các nớc này đểbứt phá đi lên Tuy vậy, kết quả mà Thái Lan cố gắng trong quan hệ với Mỹcũng chỉ dừng lại ở những mức độ nhất định không nh thời kỳ chiến tranhlạnh Sự thay đổi của tình hình thế giới đã buộc Mỹ có cách nhìn khách quanhơn về quan hệ đối tác chiến lợc với các quốc gia, khu vực trong đó Mỹ “theo

Trang 33

đuổi các mối quan hệ ở dạng đa phơng hơn là song phơng đối với Thái Lan”[42, tr.14-15] Cuộc tập trận định kỳ hàng năm mang tên “Hổ mang vàng” tr-

ớc đây đợc tổ chức thuần tuý giữa Thái Lan và Mỹ, thì bây giờ có sự góp mặtcủa quân đội Singapo, thậm chí nhiều nớc sẽ tham gia và địa điểm tập trận sẽ

đợc mở rộng ra ngoài phạm vi Thái Lan Khi Thái Lan lâm vào cuộc khủnghoảng tài chính, tiền tệ (2/7/1997), Mỹ tỏ phản ứng giúp đỡ Thái Lan kháchậm và khi giúp đỡ thì lại triển khai một cách dè dặt thông qua Quỹ tiền tệqsuốc tế (IMF) Mỹ đã không tham gia vào khoản giải cứu 17,2 tỷ USD củaIMF cho Thái Lan [35, tr.6]

Nếu trớc đây quan hệ song phơng là nguyên tắc đảm bảo trực tiếp chocam kết của Mỹ đối với Thái Lan thì nay, thay vì điều này Mỹ chuyển sangchú trọng quan hệ với các nớc ASEAN nhiều hơn Những động thái này khiến

d luận ngời dân Thái Lan tỏ ra nghi ngờ Mỹ Thái độ phủ nhận vai trò của Mỹ,

đặc biệt về kinh tế của nhân dân Thái Lan ngày càng gay gắt Họ cho rằng,Chính phủ Thái Lan có phần dung túng cho các công ty của Mỹ thu nguồn lợinhuận lớn thông qua biện pháp giải quyết khó khăn ở khu vực nhà nớc Tháchthức lớn đang đặt ra cho Thái Lan là làm thế nào có đợc sự “nhất trí Oasingtơn

- Băng Cốc” thay vì “đồng thuận kiểu Oasingtơn” hoàn toàn “tuân lệnh từ nớcmẹ”

Những năm đầu thế kỷ XXI, sau khi nền kinh tế Thái Lan dần đợc khắcphục và có chiều hớng đi lên, quan hệ Thái Lan - Mỹ đã đạt đợc sự thống nhấtcao, nhất là về lĩnh vực kinh tế

Thái Lan đã đăng cai tổ chức cuộc họp giữa các Bộ trởng kinh tếASEAN (AEM) và đại diện thơng mại Mỹ (USTR) trong hai ngày 4 và5/4/2002 Nhân dịp này, Thái Lan và Mỹ đã tiến hành thảo luận chi tiết cáchình thức và giải pháp nâng cao hợp tác kinh tế song phơng Trớc đó, các đạidiện của Thái Lan và Mỹ đã tiếp xúc với nhau từ kỳ họp tháng 10/2001 củaDiễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC) Tiếp đến, tháng12/2001, Thủ tớng Thái Lan Thắc-xỉn Xi-na-vắt đã có chuyến thăm chính thứcnớc Mỹ và hai bên đã thống nhất nhiều vấn đề liên quan đến hợp tác kinh tế.Thái Lan tiếp tục đề nghị thúc đẩy việc thiết lập khu vực mậu dịch tự do Thái -

Mỹ nhằm mở rộng đầu t và du lịch Trong các cuộc họp song phơng, Thái Lannêu lên một số vấn đề nh yêu cầu Mỹ mở rộng thị trờng nông sản theo thoả

Trang 34

thuận của tổ chức thơng mại thế giới WTO, chế độ u đãi thuế của Mỹ, thoảthuận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Hiện nay, một vấn đề đang đặt ra cho những ngời đứng đầu Chính phủThái Lan đó là, cách nhìn nhận của Thái Lan về chủ nghĩa khủng bố và chốngkhủng bố Sau sự kiện ngày 11/9/2001 (Các phần tử khủng bố đứng đầu làOsama BinLaden đã dùng máy bay tấn công đánh sập toà tháp đôi Trung tâmthơng mại thế giới ở New York và làm h hại một phần Lầu năm góc của Mỹ),

Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh nhằm thanh toán mạng lới và các tổ chứckhủng bố Với danh nghĩa truy lùng tận gốc thế lực khủng bố, giải trừ vũ khígiết ngời hàng loạt, Mỹ phớt lờ vai trò Liên Hợp quốc, bất chấp d luận thế giớiphát động chiến tranh ở Apganixtan, Irắc Những sự kiện này trở thành “chủ

đề mới” đối với mối quan hệ Thái - Mỹ trong tơng lai Đặc biệt, trong giai

đoạn hiện nay, khi Mỹ nhấn mạnh hơn đến vấn đề khủng bố coi nó nh là mối

đe doạ mới, nghiêm trọng nhất đối với an ninh của thế giới cũng nh của Mỹ,

đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách đối ngoại Thái Lan vấn đề: khủng bố

là mối đe doạ nghiêm trọng tới mức độ nào đối với an ninh của Thái Lan vàcủa khu vực? Các nhà lãnh đạo Thái Lan định hớng thế nào về mối quan hệThái - Mỹ Chiến tranh Đông Dơng bùng nổ do Mỹ ấn định rằng chủ nghĩacộng sản đe doạ nền hoà bình thế giới, tơng tự, ngày nay Mỹ cũng tuyên bố

“khủng bố là đe doạ số 1” đối với an ninh thế giới Do vậy, nếu nh các nhàlãnh đạo Thái Lan chấp nhận rằng khủng bố là mối đe doạ chung thì có nghĩakhủng bố = cộng sản Và nh vậy, Thái Lan sẽ không còn sự lựa chọn nào khácngoài việc cùng với Mỹ để tấn công chủ nghĩa khủng bố Phơng trình mớitrong quan hệ với Mỹ trên lĩnh vực an ninh chính trị là thách thức lớn đang đặt

ra cho các nhà lãnh đạo Thái Lan

- Thái Lan tăng cờng hợp tác với ASEAN.

Kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò của Hiệp hội các quốcgia ĐNA đợc nâng lên rõ rệt ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng Những điềukiện mới trong xu thế ổn định hoà bình của thế giới đã đem lại nhiều cơ hộicho ASEAN đẩy nhanh phát triển kinh tế và hợp tác chính trị nội bộ ASEANkhông những là tổ chức đóng vai trò hạt nhân tập hợp 10 nớc ĐNA thành mộtkhối nhằm phát huy vai trò chủ đạo trong các công việc của khu vực, mà còn

đại diện hợp pháp với t cách là một tổ chức có tính quốc tế của khu vực tiến

Trang 35

hành xử lý các mối quan hệ với các nớc lớn, chủ yếu với các tổ chức quốc tế,bảo đảm an ninh khu vực và lợi ích kinh tế của các thành viên.

Bớc vào thập kỷ 90, ĐNA không còn là một “bãi cát rời rạc”, tính liênkết khu vực ngày càng tăng ASEAN trở thành một thực thể chính trị có tầmquan trọng đối với châu á - Thái Bình Dơng, xuất phát từ những điểm sau:

Thứ nhất, nguyện vọng phát triển kinh tế chung của các nớc trong khu vực Thứ hai, đảm bảo nhu cầu chung về chính trị, ngăn ngừa sự can thiệp và

đe doạ của các nớc lớn từ bên ngoài

Thứ ba, đoàn kết dựa vào sức mạnh tập thể để bảo vệ lợi ích chung của

mình trong cộng đồng quốc tế

Thứ t, xây dựng những nguyên tắc hợp lý chỉ đạo hành động, không can

thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng, hiệp thơng nhất trítrong nội bộ tổ chức

Thái Lan là một trong 5 thành viên đầu tiên sáng lập ra tổ chức ASEANhơn ai hết, họ hiểu đợc rằng tăng cờng quan hệ để xác lập vai trò và tiếng nóicủa mình trong tổ chức ASEAN là một trong những yếu tố quan trọng nhằmphát triển và ổn định đất nớc Tuy nhiên, suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, mặc dù

là thành viên của ASEAN nhng do sự đối đầu căng thẳng giữa hai khối Đông Tây nên Thái Lan cha thể thực hiện đợc mục đích riêng của mình Vốn cótham vọng muốn nắm ngọn cờ lãnh đạo khối ASEAN nên ngay sau khi chiếntranh lạnh kết thúc, nhất là sau khi “Vấn đề Cămpuchia” đã đợc giải quyết,Thái Lan đã nhanh chóng tăng cờng đẩy mạnh các hoạt động và đa ra nhiềusáng kiến đợc các nớc ASEAN đồng tình ủng hộ

-Dựa trên những nét tơng đồng của các quốc gia khu vực ĐNA, Thái Lankhông ngừng tăng cờng quan hệ hợp tác với các nớc ASEAN Thái Lan luôn

cố gắng để tạo lập ảnh hởng đối với các thành viên thông qua uy tín và tínhtiên phong của mình trong các hoạt động Thái Lan luôn tuân thủ nguyên tắckhông can thiệp vào công việc nội bộ của nhau đã đợc các nớc trong hiệp hộinhất trí Thái Lan coi hợp tác toàn diện giữa các nớc ASEAN là điều kiện đảmbảo cho sự phát triển vững chắc của các nớc, vì những vấn đề trong một nớc

có thể ảnh hởng đến nớc khác, dù là vấn đề kinh tế, vấn đề môi trờng nh cháyrừng, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma tuý, hay sức khoẻ cộng đồng.Trong khi tăng cờng hợp tác nội bộ khu vực, Thái Lan rất quan tâm đến mốiquan hệ song phơng giữa tất cả các nớc thành viên ASEAN Tại hội nghị cấp

Trang 36

cao ASEAN lần thứ 6 tổ chức vào tháng 12/1998, thủ tớng Chuôn-lịk-phaytuyên bố: “Chúng ta phải làm cho ASEAN trở nên lớn mạnh hơn tổng cácthành phần của chúng ta” [44] Thái Lan cho rằng, mỗi nớc thành viên phảichịu trách nhiệm trớc hiệp hội về quá trình phát triển của mình trong ngôi nhàchung ASEAN Thái Lan luôn lấy quan hệ song phơng làm nền tảng, coi đó làmôi trờng thuận lợi để các nớc ASEAN thắt chặt hơn nữa quan hệ hợp tác.

Điều này thể hiện trong lời phát biểu của thủ tớng Thái Lan Thặc xỉn nhânchuyến thăm Singapo ngày 22/8/2003: Thái Lan sẽ nỗ lực hết mình để tăng cờngquan hệ giữa hai nớc và củng cố hiệp hội ASEAN Sáu tháng đầu năm 1997 quan

hệ ngoại giao của Thái Lan diễn ra hết sức nhộn nhịp với việc các nhà lãnh đạoThái Lan đã tiến hành đi thăm một loạt các nớc thành viên ASEAN nh:Inđônêxia (1/1997), Malaixia (1/1997), Philippin (2/1997), Singapo (3/1997),Brunây(3/1997), Việt Nam (3/1997)

Thái Lan tích cực triển khai các hoạt động góp phần mang lại kết quảcho ASEAN ở nhiều lĩnh vực: đa ra đề nghị và tổ chức thành công diễn đànARF; thúc đẩy chơng trình liên kết hợp tác kinh tế khu vực và bàn bạc cácbiện pháp thực hiện AFTA; đề xuất nhiều phơng án, phơng hớng hợp tác kinh

tế ASEAN, đợc các nớc khen ngợi vì đã cố gắng để đa Cộng hoà Dân chủNhân dân Triều Tiên vào diễn đàn khu vực ASEAN (Thái Lan cho rằng đây là

sự đóng góp vào sự thúc đẩy lâu dài, hoà bình và ổn định khu vực); tích cựcchuẩn bị các hội nghị cấp cao ASEAN, là nớc chủ trì cuộc họp Bộ trởng ngoạigiao ASEAN + 3 (bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc)

đầu tiên nhằm đa ra những biện pháp cho sự hợp tác ở Đông á; đăng cai tổchức Hội nghị thợng đỉnh á - Âu (ASEM) Đồng thời, Thái Lan cũng là mộttrong những nớc tích cực và có tiếng nói quan trọng và tích cực trong việc thúc

đẩy hợp tác tiểu khu vực “Tứ giác vàng”, “Tam giác kinh tế”, “Khu vực kinh

tế vòng tròn”, thúc đẩy hợp tác tiểu vùng Mêkông

Thái Lan hết sức quan tâm và cùng chung thái độ tích cực với một số

n-ớc ASEAN về vấn đề Biển Đông và Trờng Sa trên quan điểm giải quyết mọivấn đề thông qua đàm phán, tránh để bùng chiến tranh

- Quan hệ Thái Lan - Trung Quốc

Sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc nổi lên là một quốc gia có tiềm lựcphát triển kinh tế và hứa hẹn sẽ trở thành siêu cờng trong tơng lai ảnh hởngcủa các nớc lớn, đặc biệt là Trung Quốc đối với khu vực ĐNA đóng vai trò vô

Trang 37

cùng lớn Mỹ nhìn nhận Trung Quốc là một nớc có vũ khí hạt nhân, một cờngquốc hàng đầu trong khu vực và là một cờng quốc thế giới có ghế thờng trựctại Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc, rằng Trung Quốc là nhân tố quan trọng

đối với hoà bình ổn định và phát triển ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng nóichung, ĐNA nói riêng Vì vậy, chính sách đối ngoại của Thái Lan những năm

90 bên cạnh quan hệ hợp tác với các nớc truyền thống, đã không ngừng mởrộng đặt quan hệ với các nớc lớn, ảnh hởng đến sự phát triển của Thái Lan nhTrung Quốc

Trong quan hệ với Trung Quốc, Thái Lan luôn chủ động, mở rộng cácchuyến viếng thăm hai bên và trao đổi nhiều hợp tác kinh tế song phơng vớiphơng châm hữu nghị và hợp tác kinh tế, tránh sự đối đầu Mặc dù Thái Lankhông có chung đờng biên giới với Trung Quốc (hai nớc cách nhau khoảng100km, gắn với nhau bởi dòng sông Mêkông) nhng Chính phủ Thái Lan coiquan hệ hữu nghị với Trung Quốc là một trong những u tiên nhằm tận dụng thịtrờng tiêu thụ hàng hoá rộng lớn của nớc này để phát triển kinh tế Theo nh đềnghị của Thái Lan, Trung Quốc đã nhất trí dành một khoản tín dụng lớn choviệc lập quỹ hoán đổi ngoại tệ hai nớc để góp phần đảm bảo sự ổn định tàichính của mỗi nớc Để thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác thơng mại buôn bán,

đáp ứng tiềm năng vốn có của mỗi nớc và xu thế quốc tế hoá trong thời kỳmới, Thái Lan tích cực đẩy nhanh quá trình thiết lập khu mậu dịch tự doASEAN - Trung Quốc

Phía Trung Quốc hoan nghênh và hứa sẽ đa ra nhiều biện pháp cần thiếtnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập khu vực mậu dịch tự do TrungQuốc - ASEAN, thúc đẩy kinh tế các nớc ASEAN phát triển trong đó có TháiLan Qua tiếp xúc trao đổi của lãnh đạo cấp cao hai nớc trong những lần viếngthăm, hai bên đã đạt đợc sự thống nhất cao về nhiều mặt trong đó có lĩnh vựcquân sự Thái Lan và Trung Quốc quyết định tổ chức cuộc họp quốc phònghàng năm giữa hai nớc và coi đây là nội dung hợp tác quan trọng, “góp phầnphát triển quan hệ quân sự của Thái Lan - Trung Quốc” [45] Theo đó, mộtloạt chính sách về quân sự giữa Thái Lan và Trung Quốc đợc triển khai cóhiệu quả nh: Thái Lan đợc Trung Quốc đồng ý kéo dài thời gian không phảitrả lãi suất đối với những khoản tiền Trung Quốc cho vay mua vũ khí củaTrung Quốc Thái Lan tiếp tục đặt mua Trung Quốc những chiếc tàu tuần tiểu

Trang 38

mới trên biển - loại tàu mà Thái Lan đánh giá rất cao về chất lợng đã đợc sửdụng trớc đây.

Chuyến thăm Trung Quốc trong hai ngày 18 và 19/2/2003 của Thủ tớngThái Lan Thắc-xỉn đã làm cho hai bên đạt nhiều kết quả nh mong muốn Điều

đó chứng tỏ Thái Lan đang có những nỗ lực mới nhằm vun đắp mối quan hệ

đặc biệt với một nền kinh tế lớn của thế giới và là cờng quốc có ảnh hởngquan trọng đối với khu vực Chuyến thăm này đã để lại d luận trong các nhàquan sát và giới báo chí, rằng: Thái Lan khao khát đứng về phía Trung Quốc,

điều này cũng dễ hiểu vì Trung Quốc là thành viên của WTO, thị trờng TrungQuốc là cơ hội để Thái Lan phát triển Những thoả thuận song phơng Thái -Trung có lợi cho Thái Lan, Thái Lan sẽ đợc hởng những lợi thế trong xuấtkhẩu trớc khi Trung Quốc đáp ứng những cam kết theo khuôn khổ WTO

Mặc dù trong quan hệ với Trung Quốc, Thái Lan thi hành chính sáchhữu nghị và hợp tác kinh tế, tránh đụng độ, nhng vẫn luôn giữ dợc lập trờng

đối ngoại và chính kiến của mình trong một số vấn đề cụ thể Thái Lan đã chỉtrích công khai Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông và Trờng Sa, đồng thờiủng hộ việc kêu gọi các nớc ASEAN cùng thống nhất một lập trờng chung đểngăn chặn ý đồ bành trớng Biển Đông của Trung Quốc Sau vụ Trung Quốcchiếm bãi đá ngầm “Vành khăn” của Philippin, Thái Lan đã cùng với các nớcASEAN lên tiếng phản đối những đòi hỏi của Trung Quốc về chủ quyền ở Tr-ờng Sa Những hoạt động tích cực của Thái Lan nhằm ngăn chặn Trung Quốcbành trớng ra khu vực, đặt ra vấn đề: Thái Lan không có tranh chấp chủ quyềnlãnh thổ với Trung Quốc ở Trờng Sa, hơn nữa đang cố gắng thiết lập mối quan

hệ với Trung Quốc, vậy thì tại sao Thái Lan lại phản đối kịch liệt ý đồ vànhững hành động của Trung Quốc? Điều này xuất phát từ mục đích bảo đảm

an ninh khu vực và những lợi ích kinh tế của Thái Lan ở ĐNA ĐNa là bạnhàng truyền thống lâu đời có quan hệ gắn bó với Thái Lan Cùng với hoạt

động của tổ chức ASEAN, Thái Lan đang ngày càng khẳng định đợc vị trícũng nh chiếm lĩnh thị trờng hàng hoá tại đây Vì vậy, nếu tình hình biển

Đông mất ổn định (dù không đáng kể) sẽ ảnh hởng trực tiếp tới sự phát triểnkinh tế Thái Lan (90% hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan đều phải đi qua VịnhThái Lan) Những điều này cho phép khẳng định trong trờng hợp phải lựachọn thì Thái Lan không bao giờ ủng hộ Trung Quốc, bởi vì nh vậy sẽ ảnh h-

Trang 39

ởng đến lợi ích của quốc gia, điều mà Thái Lan luôn đặt lên hàng đầu trongchính sách đối ngoại của mình.

Trong giai đoạn hiện nay, tăng cờng quan hệ với Trung Quốc cũng đang

đặt ra cho Thái Lan những thách thức, buộc Thái Lan phải có chính sách phùhợp, xử lý khéo léo các mối quan hệ nhằm mục đích cân bằng giữa các nớclớn tạo điều kiện cho đất nớc phát triển

Trong trờng hợp, nếu quan hệ Thái Lan - Trung Quốc quá thân thiết, đạttới đỉnh cao thì có thể sẽ xẩy ra hai thách thức:

Thứ nhất, d luận sẽ cho rằng Thái Lan dồn tất cả quan tâm vào Trung

Quốc để có đợc quan hệ mật thiết, có nghĩa là Thái Lan đang tự tách ra khỏi

đồng minh truyền thống khác, đặc biệt là Mỹ Trong bối cảnh Mỹ đang lo ngạivai trò ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực ĐNA, vừa xây dựng quan hệ

đối tác chiến lợc, vừa tìm cách áp đặt các giá trị của Mỹ cho Trung Quốc cũng

nh tìm cách ngăn chặn ảnh hởng của Trung Quốc ở khu vực mà Mỹ cho là đedoạ đối với lợi ích quốc gia của mình, việc Thái Lan quá thân với Trung Quốc sẽ

đa mình vào hoàn cảnh tự đối đầu với Mỹ - “Ngời bạn thiện chí”

Thứ hai, Trung Quốc là nớc luôn có tham vọng lớn trong việc mở rộng

lãnh thổ bành trớng ra bên ngoài Quan hệ với “ngời khổng lồ” 1,3 tỷ dân,diện tích chiếm 1/5 thế giới này vừa có lợi nhng đồng thời cũng cần phải cảnhgiác Những tác động tiêu cực của việc mở cửa cùng hợp tác với Trung Quốc

sẽ ảnh hởng đến Thái Lan, chẳng hạn nh nguy cơ tiềm tàng về tác động sinhthái đời sống của ngời dân ven sông Mêkông qua việc Trung Quốc phá cácghềnh đá để tạo thuận lợi cho tàu trọng tải lớn lu thông vận chuyển hàng hoá

ra thị trờng thế giới Ngoài ra, nếu nh trong trờng hợp quan hệ Thái Lan Trung Quốc “trục trặc” thì Thái Lan co nguy cơ bị cô lập, vì lúc đó Mỹ sẽkhông ủng hộ và đứng về Thái Lan vì cho rằng Thái Lan đã phản bội, thậmchí có thể Mỹ sẽ cố gắng để đạt đợc sự đồng thuận với Trung Quốc cùng giảiquyết các lợi ích chung ở ĐNa, vì “Quan hệ Trung - Mỹ có tính chất quyết

-định đối với hoà bình và an ninh ở khu vực này” [50]

Những vấn đề trên đây đòi hỏi Thái Lan phải có chính sách đối ngoạihợp lý mở rộng và đa dạng hoá quan hệ hợp tác với các nớc trong và ngoàikhu vực nhng vẫn duy trì tốt đẹp mối quan hệ với các đồng minh truyềnthống; phải hết sức khéo léo, mềm dẻo trong đối sách để có thể cân bằng quan

Trang 40

hệ giữa các nớc lớn có chung mục đích ở khu vực ĐNA, qua đó, tận dụng cơhội phát triển, bảo đảm lợi ích của dân tộc.

- Quan hệ giữa Thái Lan với một số nớc khác:

Ngoài việc chú trọng tới quan hệ hợp tác với các nớc nh đã trình bày,Thái Lan không ngừng tăng cờng xây dựng quan hệ với các nớc trong khốiASEAN: Mianma, Lào, Cămpuchia , với ấn Độ, Nam á

+ Thái Lan - Myanma:

Thái Lan tiếp tục thi hành chính sách thúc đẩy quá trình dân chủ, nhânquyền ở nớc này, thực hiện chính sách “cam kết can dự” nhằm lôi kéoMianma về phía mình Thái Lan luôn coi trọng quan hệ hợp tác kinh tế vớiMianma nên hợp tác kinh tế giữa hai nớc đợc thúc đẩy mạnh mẽ Hai bên đã

ký kết nhiều hợp đồng thơng mại có giá trị nhất là về năng lợng Tháng5/1997 thủ tớng Thái Lan Chao-va-lit đã có chuyến thăm Mianma nhằm bìnhthờng hoá và thúc đẩy quan hệ giữa hai nớc (do hai nớc đã nổ ra xung đột vũtrang trên biên giới dẫn đến đóng cửa biên giới năm 1995) Bất chấp sự phản

đối gây sức ép từ phía Mỹ và phơng Tây, Thái Lan vẫn tích cực ủng hộMianma gia nhập ASEAN vào tháng 7/1997 Thái Lan hiện đang là nớc đầu

t lớn thứ 3 vào Mianma với hơn 1 tỷ USD

+ Thái Lan - Lào:

Thái Lan và Lào đang tiếp tục đẩy mạnh quan hệ cả về chính trị và kinh

tế, cùng nhau giải quyết nhiều vấn đề còn tồn tại nh vấn đề biên giới, lực lợngphản động lu vong của Lào, vấn đề buôn bán trao đổi hàng hoá qua biên giớihai nớc Năm 1997 đã đánh dấu bớc hợp tác quan trọng trong quan hệ củahai nớc khi Thái Lan và Lào ký thoả thuận xây dựng cầu thứ hai qua sôngMêkông nối liền hai tỉnh Mục- đa- hản (Thái) và Sa-va-na-khẹt (Lào) và đếnnăm 2000 đã hoàn thành Thái Lan tích cực ủng hộ Lào gia nhập ASEAN(tháng 7/1997) Hiện nay, quan hệ Thái Lan - Lào có những bớc khởi sắc đángghi nhận Hai nớc đẩy mạnh hợp tác một cách toàn diện về thơng mại, phân

định biên giới, chống ma tuý, y tế, giáo dục, lao động và việc làm.v.v… Nh Đại

sứ quán nớc Cộng hào dân chủ nhân dân Lào tại Thái Lan HiemPhommachanh đã từng phát biểu: “Tôi tin tởng rằng với sự tơng đồng đặc biệt

đợc chia sẽ giữa nhân dân hai nớc và thiện chí của hai chính phủ, mối quan hệgiữa nhân dân hai nớc sẻ đợc tăng cờng” [46, tr.8]

+ Thái lan - Cămpuchia:

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Kim ngạch xuất nhập  khẩu Việt Nam - Thái Lan  từ 1991 đến 1999. - Chính sách đối ngoại của thái lan và quan hệ thái lan   việt nam từ 1991 đến 2003
Bảng 1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Thái Lan từ 1991 đến 1999 (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w