Trong bối cảnh ấy, xuất phát từ sự tò mò, lòng mến yêu đất nớc Nhật Bản,thán phục trớc bản lĩnh của ngời Nhật, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và giảiquyết các vấn đề trên thông qua việc
Trang 1Lời cảm ơn
thầy giáo, Tiến sĩ Phạm Ngọc Tân đã tận tình
hớng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô
khoa Sử trờng Đại học Vinh; cùng cảm ơn tất
cả ngời thân, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn
Trang 2Mở đầu. 4
1 Lý do chọn đề tài 4
II 2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 7
III 4 Phơng pháp nghiên cứu 7
IV 5 Đóng góp của luận văn 7
V 6 Cấu trúc của luận văn 8
Ch ơng 1 : Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa (1603 - 1868) Những cơ hội– Những cơ hội và thách thức đối với chính sách đối ngoại 9
1.1. Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, x hội Nhật Bản thời kỳã hội Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa(1603-1868) 9
1.2. Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa - những cơ hội và thách thức 11
1.2.1 Nhật Bản đối mặt với sự xâm nhập, bành trớng của chủ nghĩa t bản phơng Tây 11
1.2.2 Vấn đề “mở cửa” ký kết các hiệp ớc với phơng Tây 15
Ch ơng 2 : Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời Minh Trị (1868 1912– Những cơ hội ) 19
2.1 Những cải cách trong lĩnh vực đối nội 19
2.2 Biến đổi của Nhật Bản do Duy tân mang lại 24
Ch ơng 3 : Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868-1912). 28
3.1 Đấu tranh xoá bỏ các hiệp ớc bất bình đẳng 28
3.2 Chính sách gây chiến xâm lợc: 34
3.2.1.Lục địa châu á -mục tiêu chiến lợc trong chính sách đối ngoại xâm lợc của Nhật Bản 34
3.2 2.Chiến tranh Nhật – Trung (1894-1895) 39
3.2.3 Chiến tranh Nhật - Nga (1904 – 1905). 46
3 2.4 Hậu quả của chính sách gây chiến xâm lợc. 55
3.3 Một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868-1912): 60
Trang 33.3.1 Kết quả của chính sách đối ngoại Nhật Bản thời kỳ Minh Trị
1.1 ở mỗi giai đoạn giao thời của lịch sử đều xuất hiện những cơ hội cũng
nh những thách thức lớn Những cơ hội và những thách thức lớn đó đòi hỏi cácquốc gia - dân tộc phải có sự “ứng xử” thông minh, trí tuệ, dũng cảm và táo bạo
Từ trong tình thế này, sẽ có những dân tộc mạnh lên, đồng thời sẽ có những dântộc yếu đi, nếu nh họ không nắm bắt đợc xu thế của thời đại, thậm chí nếu bỏ lỡthời cơ trong chốc lát cũng sẽ rơi vào tụt hậu Nh vậy, đây chính là thời điểm màbản lĩnh, bản sắc mỗi dân tộc đợc thử thách Và rõ ràng “mỗi quốc gia chỉ có thểphát triển từ bản sắc của mình trong xu thế chung của thời đại” [3,32]
Nếu đem quan điểm trên đây để xem xét tình hình của châu á nửa sau thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thì ta thấy các nớc này đang đứng ở thời điểm bớc ngoặt
ấy Lịch sử đặt ra cho các dân tộc á châu rất nhiều nhiệm vụ, trong đó nổi lên banhiệm vụ cấp bách Thứ nhất cần phải mở cửa để hội nhập quốc tế, phải bắt nhịpvào dòng chảy văn minh của thời đại Thứ hai là canh tân đất nớc, nhanh chóngthoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Thứ ba là chủ động ứng phó với những hiểm nguy
từ bên ngoài, bảo vệ vững chắc nền độc lập chủ quyền của đất nớc mình
Trang 41.2 Những cơ hội, thách thức mà lịch sử đặt ra cho các quốc gia châu á xétmột cách tơng đối là nh nhau Thế nhng, phần lớn các nớc á châu đã không đủsức đơng đầu với những thách thức lịch sử, không chủ động nắm bắt đợc những cơhội quý hiếm đó nên đã nhanh chóng trở thành miếng mồi béo bở cho các nớc đếquốc hung hãn Vì thế mà lịch sử các nớc Trung Quốc, Việt Nam, Lào,Campuchia, Inđônêxia trong giai đoạn này là lịch sử của những khổ đau Duy chỉ
có Nhật Bản - một quốc gia nhỏ bé đã nổi lên thành điểm sáng giữa bức tranhchâu á mông lung, đen tối Nhật Bản không những thoát khỏi guồng lới dày đặccủa bọn thực dân đã giăng sẵn mà còn vơn lên thành một cờng quốc, hoà vào cuộctranh đua thị trờng thế giới
1.3 Cần phải lý giải “Hiện tợng Nhật Bản” trên nh thế nào? Tại sao NhậtBản làm nên điều kỳ diệu ấy? Đây chính là một câu hỏi lớn thu hút sự quan tâmcủa rất nhiều nhà sử học trong và ngoài nớc Bản thân chúng tôi trong quá trìnhhọc tập ở nhà trờng, đã có điều kiện tìm hiểu về lịch sử Nhật Bản Chính con đờng
đi độc đáo, có tính cách của quốc gia này đã hấp dẫn chúng tôi rất nhiều
Trong bối cảnh ấy, xuất phát từ sự tò mò, lòng mến yêu đất nớc Nhật Bản,thán phục trớc bản lĩnh của ngời Nhật, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và giảiquyết các vấn đề trên thông qua việc tiếp cận chính sách đối ngoại của Nhật Bảngiai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mà cụ thể là thời kỳ Minh Trị(1868-1912) Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật trong thời kỳ này khôngchỉ nhằm tìm hiểu nét riêng, không chỉ cố gắng khái quát chính sách đối ngoại củanớc này, mà còn nhằm rút ra một số bài học lịch sử có tính chất tham khảo.Những bài học trong chính sách đối ngoại của Nhật thời kỳ Minh Trị (1868-1912)
dù là những bài học của quá khứ đã qua, nhng nếu đợc phát hiện và chứng nghiệm
là xác đáng thì nó vẫn có ý nghĩa thời sự cấp bách Đó chính là lý do chúng tôi
chọn vấn đề: “Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868-1912)
” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề.
Lịch sử Nhật Bản thời kỳ Minh Trị nói chung và chính sách đối ngoại củaNhật Bản trong khoảng thời gian này nói riêng là vấn đề đã thu hút đợc sự quantâm của rất nhiều nhà sử học trong và ngoài nớc Song do khả năng có hạn nênnguồn tài liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc phần lớn là các tác phẩm đã đợc dịch ratiếng Việt Tuy nhiên các sách nói về đề tài này còn rất ít nên nguồn tham khảocủa chúng tôi còn cha thật phong phú
Trong các sách của tác giả nớc ngoài đợc viết bằng tiếng Anh hoặc đã đợcdịch ra tiếng Việt thì chủ yếu là các tác giả ngời Nhật và một số học giả phơngTây Chẳng hạn nh tác phẩm của Michio Morishima “Tại sao Nhật Bản “thànhcông”, công nghệ phơng Tây và tính cách Nhật Bản” (Nhà xuất bản khoa học xãhội - 1991); F Herberl Norman: “Sự trỗi dậy của Nhật Bản thành một nhà nớchiện đại: các vấn đề chính trị và kinh tế của thời kỳ Minh Trị” (Viện quan hệ TháiBình Dơng); Noxacaxado : “Chế độ Thiên hoàng là chủ nghĩa phát xít” T liệu;Roy Hidemichi Akagi: “Japans Foreign Relations 1549-1936 - A short History” -Jhe Hokeiseido Tokyo Press 1936; Bob Tadashi KaWa bayashi: “Auti Foreignismand Western Learning in early – Modern Japan”, Hasvard University Press
Trang 51991; W.G.Beasly, “The Meji Restoration”, Stanford University.1991 Tuynhiên, những tác phẩm này không hoàn toàn đi sâu tìm hiểu chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản thời kỳ Minh Trị và mặt khác, do đứng trên lập trờng t sản nên nhiều
sự kiện còn cha đợc đánh giá hoàn toàn khách quan
Giới sử học Việt Nam cũng đã có những chuyên gia hàng đầu có uy tín vềlịch sử Nhật Bản nói chung Riêng chính sách đối ngoại của Nhật Bản trớc thời kỳMinh Trị (tức thời Tôkugawa) cũng có khá nhiều nhà sử học quan tâm Tiêu biểu
là các bài viết của Nguyễn Văn Kim đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử nh
“Nhật Bản mở cửa - phân tích nội dung các bản hiệp ớc bất bình đẳng do Mạc PhủEdo ký với phơng Tây” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3 và số 4 2001; “Vàinét về tầng lớp thơng nhân và hoạt động thơng mại ở Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa”(Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2.1997) ; đặc biệt là cuốn: “Chính sách đóngcửa của Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa Nguyên nhân và hệ quả” NXB Thế Giới
HN 2000 Thế nhng, cha có tác phẩm nào chuyên viết về chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868 -1912), mà hầu hết chỉ mới đề cập một phầnnhỏ nội dung vấn đề chúng tôi quan tâm Chẳng hạn nh: Vĩnh Sính - “Nhật Bảncận đại” Nhà xuất bản TPHCM 1991; Lê Văn Quang: “Lịch sử Nhật Bản” Tủsách ĐHTH TPHCM 1996; Lê Văn Quang: “Quan hệ quốc tế ở Đông Nam átrong lịch sử (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) trong những năm cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó” Trờng ĐHTH.1993; Phan Ngọc Liên (chủbiên): “Lịch sử Nhật Bản” NXB VHTT Hà Nội 1995; Phan Ngọc Liên, Nghiêm
Đình Vỳ “Lịch sử Nhật Bản” NXB VHTT HN.1997; Khoa Sử trờng ĐHTH HàNội: “Lịch sử cận đại Nhật Bản” NXB Trờng ĐHTH Hà Nội; Nguyễn Khắc Ngữ:
“Nhật Bản Duy Tân dới thời Minh Trị Thiên hoàng” NXB Trình Bày - SG.1969;
Lê Văn Sang, Lu Ngọc Trịnh “Nhật Bản - đờng đi tới một siêu cờng kinh tế”.NXB KHXH HN 1991; Vũ Dơng Ninh - Nguyễn Văn Hồng: “Đại cơng lịch sửthế giới” T2 NXB Giáo dục H 1996
Bên cạnh đó, trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Nhật Bản đãxuất hiện một số bài viết của một vài tác giả có nội dung liên quan đến chính sách
đối ngoại của Nhật Bản nh: Nguyễn Văn Tận: “Nhìn lại chính sách đối ngoại củaNhật Bản trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó”.Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản số 4.2000; Etoshinkichi: “Tính hai mặt của NhậtBản thời kỳ Minh Trị và mối quan hệ Nhật - Việt” Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản
số 4.1998
Với những công trình nghiên cứu trên thì đó là một thuận lợi lớn đối vớichúng tôi, song cũng rất khó khăn trong việc lựa chọn, tập hợp, xử lý t liệu theonội dung khoa học mà đề tài đòi hỏi Bởi vì, trong các công trình nghiên cứu vềlịch sử Nhật Bản thời Minh Trị, cha có một công trình nào tập trung chuyên sâu và
có hệ thống về chính sách đối ngoại ở giai đoạn này Vì thế, luận văn của chúngtôi một mặt kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu trớc để hệ thống hoá lạinhững nét chính trong chính sách chính trị đối ngoại của Nhật Bản, đồng thời cốgắng tìm hiểu sâu thêm một số khía cạnh trong phạm vi năng lực cho phép
3 Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu
Trang 63.1 Nh tên đề tài đã chỉ rõ, đối tợng nghiên cứu của luận văn là chính sách
đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868-1912) Tuy nhiên, để đảm bảo tínhliên tục, hệ thống; để hiểu đợc giá trị của lĩnh vực ngoại giao trong thời kỳ này,không thể không khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời Tôkugawa.Song do hạn chế về mặt tài liệu và quy mô của luận văn, chúng tôi không đề cập
đến tất cả các khía cạnh của lĩnh vực này, mà chỉ đề cập đến vấn đề cơ bản và chủyếu nhất là những cơ hội và thách thức đối với nền ngoại giao Nhật Bản xuất phát
từ sự xâm nhập và bành trớng của chủ nghĩa thực dân phơng Tây
3.2 Đối ngoại với t cách là một trong hai chức năng cơ bản của bất kỳ mộtnhà nớc nào Nó bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, rất rộng và rất phức tạp.Trong luận văn, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu lĩnh vực chính trị đối ngoại thểhiện ở hai khuynh hớng cơ bản: một mặt, Nhật kiên trì đấu tranh xoá bỏ các điều -
ớc bất bình đẳng mà trớc đây Mạc Phủ đã ký với các nớc phơng Tây, mặt khác làkhông ngừng bành trớng ra bên ngoài, trớc hết là khu vực Đông á, chứ cha có đủ
điều kiện nghiên cứu các lĩnh vực khác của chính sách đối ngoại Nhật Bản thời kỳMinh Trị (1868-1912)
4 Ph ơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, về mặt phơng pháp luận, chúngtôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử.Bên cạnh đó, chúng tôi cố gắng tiếp cận những quan điểm mới nhất, những t duymới của Đảng và nhà nớc ta trong lĩnh vực đối ngoại nói chung Những quan điểm
ấy chính là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý các nguồn tài liệu và tiếp cận với quan
điểm của các học giả nớc ngoài
Còn về mặt phơng pháp cụ thể, do đặc trng của khoa học lịch sử nên phơngpháp lịch sử đợc đặc biệt coi trọng, phải dựa trên cơ sở những tài liệu lịch sử,những sự kiện lịch sử có thật để phân tích, xử lý, hệ thống hoá và khái quát hoávấn đề Nói một cách khác là sử dụng kết hợp hai phơng pháp: phơng pháp lịch sử
và phơng pháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơng pháp đối chiếu sosánh và các phơng pháp liên ngành để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra
5.2 Không chỉ dừng lại ở việc mô tả khôi phục lại lịch sử, luận văn cònphân tích, lý giải tại sao chính sách đối ngoại của Nhật lại nh thế này mà khôngphải thế khác Kết quả của nó ra sao? và những nhân tố nào đã chi phối chính sách
đối ngoại của Nhật?
Trang 75.3 Từ việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ MinhTrị (1868-1912), luận văn mạnh dạn đa ra một số bài học kinh nghiệm có tínhchất tham khảo đối với lĩnh vực đối ngoại của nớc ta ngày nay Tuy nhiên, nhữngkết luận này chỉ là ý kiến chủ quan của cá nhân nên cha hẳn là những luận điểmkhoa học mà còn phải bàn luận nhiều
5.4 Cuối cùng, nội dung và t liệu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệutham khảo, tìm hiểu về lịch sử Nhật Bản nói riêng cũng nh lịch sử quan hệ quốc tếgiai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
6 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chơng
Thời Tôkugawa đợc xem là “giai đoạn phát triển cuối cùng và cao nhất củachế độ phong kiến ở Nhật Bản Diễn trình của giai đoạn lịch sử này hết sức đadạng và phức tạp Đó vừa là thời kỳ mà chính quyền trung ơng đạt đợc sự quảnchế tơng đối thống nhất bao trùm toàn bộ lãnh thổ, vừa là thời kỳ trỗi dậy của các
Trang 8công quốc (han), tập trung ở vùng Tây Nam” [20,54] Đây là thời kỳ chứng kiếnbớc chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, là bớc đệmvô cùng quan trọng để Nhật Bản khởi sắc trong giai đoạn tiếp theo.
Sau khi Toyotomi Hideyoshi (1536 - 1598) qua đời, Tôkugawa Ieyasu(1542 - 1616) - lãnh chúa lớn nhất bớc lên vũ đài chính trị Năm 1600, sau khi dẹpyên các thế lực chống đối, Tôkugawa Ieyasu đã tóm gọn thực quyền vào tay mình.Một chính quyền tập trung, thống nhất đợc xây dựng Đứng đầu là SogunTôkugawa ở Edo - ngời có nhiều quyền lực và quyền lợi nhất Tôkugawa chính làlãnh chúa lớn nhất, là ngời nắm quyền cai trị trực tiếp các thành phố then chốt nhEdo, Kyoto, osaka, Nagasaki, các mỏ khoáng sản giàu có và thâu tóm nhiều lĩnhvực kinh tế quan trọng ở Nhật Bản Dới Sôgun là gần 300 Daimio (lãnh chúa) caitrị gần 300 lãnh địa
Căn cứ vào thái độ ủng hộ hay không ủng hộ mình trớc trận Sekigahara kếtthúc, Mạc Phủ đã chia Daimio làm ba loại: Simpan (thân phiên) gồm 23 lãnh chúa
là họ hàng của Tôkugawa - “phên dậu” của chính quyền Edo; Fudai Daimio (phổ
đại) gồm 145 lãnh chúa là đồng minh của chính quyền Edo; Tozama Daimyo(ngoại phiên) gồm 97 lãnh chúa - là những ngời chịu thần phục Tôkugawasau khi
bị đánh bại Ba loại Daimyo này đợc đối xử phân biệt trong việc ban ruộng đất,của cải, tớc vị; trong lĩnh vực hành chính, luật pháp, nghĩa vụ đối với chính quyềntrung ơng Tất nhiên, bộ phận đợc u ái, nâng đỡ sẽ là Shimpan và Fudai Daimyo.Còn đối với Tôzama Daimyo thì Tôkugawa vừa mềm dẻo nhng cũng vừa cứngrắn
Để phòng ngừa sự nổi dậy chống đối của các Daimyo, Mạc Phủ đã tìm mọicách để hạn chế tiềm lực của họ Điều này đợc thể hiện rõ nét trong bộ luật BukeShohatto (Bộ luật vũ gia) do Tôkugawa Yeasu ban hành năm 1615 và nó tiếp tục
đợc Tôkugawa Iemitsu chỉnh lý, hoàn thiện hơn vào năm 1635
Đối với Thiên hoàng ở Kyôtô thì chính quyền Edo vẫn tiếp tục thi hànhchính sách của các đời Sôgun trớc là một mặt nâng cao uy tín của Thiên hoàng,mặt khác kiểm soát và tách rời Thiên hoàng với các Daimiô
Nh vậy, thiết chế chính trị của Nhật Bản thời kỳ Mạc Phủ Tôkugawa vừamang tính chất quân sự, vừa mang chức năng dân sự, lãnh chúa lớn nhất đóng vaitrò của chính phủ, thay mặt Thiên hoàng cai trị đất nớc, hoạch định chính sách củaquốc gia
Xã hội Nhật Bản chia làm 4 đẳng cấp: sĩ - nông - công - thơng Đẳng cấp vũ
sĩ chiếm 6% đến 10% dân số, là đẳng cấp cao quý,có nhiều đặc quyền Vì thế dângian có câu: “Hoa thì có hoa Anh Đào, ngời thì có vũ sĩ.” Nông dân (chiếm 80%dân số), là đẳng cấp thứ hai nhng có thân phận rất hẩm hiu, là cái “mỏ” vô tận chocác lãnh chúa khai thác Do đó ngời ta thờng ví nông dân nh “hạt vừng”, càng épcàng ra nớc Đẳng cấp thứ ba và thứ t là công - thơng (chiếm 6 % đến 7% dânsố) Trên thực tế thì hai đẳng cấp này không có sự phân biệt rõ rệt nên thờng đợcgọi chung là Chonin (ngời kẻ chợ) Tận cùng là tầng lớp tiện dân - có nguồn gốc
là những ngời thất trận trớc khi Tôkugawa lên nắm quyền, và cả những ngời làmnghề buôn bán thịt, đồ da - những nghề không đợc kính trọng
Trang 9Dới thời kỳ Tôkugawa, kinh tế nông nghiệp đợc coi là cơ sở kinh tế cơ bảncủa đất nớc Nhng trong lòng xã hội phong kiến ấy, những mầm mống kinh tế tbản cũng dần dần nảy nở Sự xâm nhập của kinh tế tiền tệ và xu hớng thơng mạihoá đã làm lung lay tận gốc cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến ở nông thôn bắt
đầu có hiện tợng làm thuê Trong nớc, một số trung tâm kinh tế - thơng mại xuấthiện Các công trờng thủ công tập trung và phân tán cũng ra đời (nh công trờngthủ công sản xuất lụa, vải ) Điều này đã thúc đẩy nền thơng mại phát triển mạnh
và đẩy nhanh quá trình đô thị hoá ở Nhật Bản
Sự phát triển của kinh tế hàng hoá làm cho tình hình chính trị - xã hội NhậtBản có nhiều biến chuyển, đặc biệt là sau khi hạm đội Mỹ vào vịnh Tokyo và yêucầu chính phủ Nhật mở cửa Các Daimyo có sự phân hoá thành hai thế lực: thế lựccác công quốc ở phía Bắc có t tởng bảo thủ và các công quốc ở phía Tây Nam chủtrơng duy tân Trong suốt 200 năm, nớc Nhật luôn đợc sống yên bình không cóchiến tranh nên các Samurai lâm vào tình trạng bị thất nghiệp, trở thành gánh nặngcho các lãnh chúa phong kiến Trớc tình hình đó, nhiều Samurai đã từ bỏ địa vịcao sang để chuyển sang kinh doanh, làm nghề thủ công, thậm chí là bán cả tớchiệu võ sĩ của mình Sự phát triển của kinh tế công, thơng nghiệp giúp cho tầnglớp thơng nhân trở nên giàu có Nhờ có tiền, bộ phận này đã mua đất đai, mua tớc
vị Samurai và đến nửa sau thế kỷ XVIII thì quyền sở hữu đất đai thực tế đã nằmtrong tay họ Sự xâm nhập mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá tiền tệ vào nông thôncàng làm cho cuộc sống của ngời nông dân trở nên bi đát hơn Cùng với sự phânhoá giai cấp, tầng lớp trong xã hội là quá trình t sản hoá đối với tầng lớp võ sĩ lớpdới thành t sản thơng nghiệp Tiếp sau nó là sự xuất hiện của bộ phận t sản côngnghiệp
Cùng với sự biến đổi sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội thì phong tràochống Mạc Phủ cũng nôỉ lên gay gắt mà trung tâm là các lãnh địa phía Nam Điềunày làm cho tình hình chính trị Nhật Bản càng trở nên rối ren hơn “ Nhìn chung,cơ cấu xã hội phong kiến của Nhật Bản vào cuối thời Tôkugawa đã bắt đầu rạnnứt, mầm mống của một trật tự xã hội mới dần dần xuất hiện Sự phát triển củakinh tế hàng hoá đã làm cho xã hội Nhật Bản thay đổi từ thành thị đến nông thôn.Chính quyền Mạc Phủ lung lay trầm trọng” [10,25]
1.2 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa - những
cơ hội và thách thức
1.2.1 Nhật Bản đối mặt với sự xâm nhập bành trớng của chủ nghĩa t bản
phơng Tây
“Hoạt động đối ngoại không chỉ xuất phát từ tình hình và yêu cầu của đất
n-ớc mà luôn luôn liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của tình hình thế giới cũng
nh sự vận động của thời đại” [3,15] Do đó, bên cạnh tình hình của bản thân nềnquân chủ phong kiến Nhật Bản đã nêu trên, chúng ta không thể bỏ qua “sự pháttriển của tình hình thế giới cũng nh sự vận động của thời đại” Trong muôn vànvấn đề phức tạp đó thì sự xâm nhập, bành trớng của chủ nghĩa thực dân phơng Tây
là quan trọng nhất vì có liên quan đến sự tồn vong của dân tộc, chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ của Nhật Bản
Trang 10Sự xâm nhập, bành trớng của t bản phơng Tây sang phơng Đông thực sựmạnh mẽ sau các cuộc phát kiến điạ lý cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI Và từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XIX, châu á bị cuốn hút vào dòng xoáy của cơn “đại hồngthuỷ” của chủ nghĩa thực dân Một kết cục bi thảm diễn ra vào cuối thế kỷ XIX:hầu hết các nớc á châu đã trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, HàLan, Anh, Pháp hoặc Mỹ Bối cảnh này không thể không tác động sâu sắc đếnNhật Bản
Năm 1543, ba thơng nhân Bồ Đào Nha tình cờ trôi dạt đến Tanegashima một đảo nhỏ ở miền Nam Kyushu (Nhật Bản) và họ trở thành những sứ giả châu
-Âu đầu tiên đặt chân đến miền đất xa lạ này Tiếp sau đó là sự xuất hiện của cácthơng nhân Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh vào những năm cuối thế kỷ XVI đầu thế
kỷ XVII Sự hiện diện của thơng nhân các nớc này đã phá vỡ thế độc tôn trongquan hệ buôn bán của ngời Bồ Đào Nha tại thị trờng khu vực Những thách thứcthực sự đầu tiên đợc đặt ra
Sau khi đặt chân đến Nhật Bản, các hạm thuyền nớc ngoài đã nhanh chóngnhận đợc sự đón tiếp rất bình đẳng và trọng thị của chính quyền Mạc Phủ theotruyền thống hiếu khách phơng Đông Họ không hề “dị ứng” và càng không cómột sự bài xích hoặc kỳ thị nào về mặt chủng tộc, ngôn ngữ, tín ngỡng Nhật Bảnsớm có “một t duy ngoại giao mới mẻ nhằm đa phơng hoá quan hệ quốc tế”[18,148], luôn mong muốn xây dựng mối bang giao thân thiện với nhiều nớc Đitheo những chiếc tàu buôn đợc trang bị vũ khí hiện đại và đầy ắp hàng hoá là cácgiáo sĩ truyền đạo Những giáo sĩ này đã nhanh chóng gây đợc sự ngỡng vọngtrong nhân dân và sự kính phục trong giới trí thức Nhật Bản bởi vốn tri thức uyênbác và t duy sắc sảo, giàu tính thực tiễn Ngời dân Nhật Bản đã bắt đầu “lờ mờ”hiểu đợc sức mạnh to lớn của nền văn minh này Điều làm cho chính quyền MạcPhủ băn khoăn trăn trở là các quan hệ thơng mại luôn gắn liền với hoạt độngtruyền giáo Họ e rằng sự phát triển của Thiên chúa giáo sẽ vợt ra khỏi khả năngkiểm soát của chính quyền, sẽ làm đảo lộn thể chế chính trị và các phong tục tậpquán cố hữu của ngời Nhật Toyotomi Hideyoshi nghi ngờ đạo Thiên chúa hàmchứa mầm mống phản loạn, đe doạ đến sự tồn vong của chính quyền do ông ta
đứng đầu Vì thế, To.Hideyoshi đã mời ngời đứng đầu giáo đoàn dòng Tên vềKyoto để giải thích các vấn đề mà ông đặt ra Đó là:
“1 Lý do của việc truyền giáo ở Nhật Bản
2 Những lý do dẫn đến việc phá bỏ đền Shinto, chùa phật giáo, chống lạiluật pháp quốc gia
3 Những lý do giết động vật và sử dụng thịt động vật làm thực phẩm màkhông dùng các sản vật từ nông nghiệp
4 Những lý do hành hạ các nhà tu hành Phật giáo
5 Những lý do giải thích cho việc mua bán ngời Nhật nh nô lệ” [64,4]
Sau nhiều biến động có liên quan đến Thiên chúa giáo, hoạt động truyềngiáo của các giáo sĩ phơng Tây trở nên khó khăn hơn Vấn đề này càng phức tạpkhi nảy sinh tranh giành ảnh hởng giữa các giáo đoàn của Bồ Đào Nha - đến trớcvới giáo đoàn Tây Ban Nha đến sau Thêm vào đó là sự cạnh tranh không khoan
Trang 11nhợng về quyền lợi thơng mại giữa hai tập đoàn ngoại quốc này Tất cả nhữngmâu thuẫn đó trở thành cuộc xung đột quyền lực khi thơng nhân Hà Lan và Anh(theo đạo Tin lành) xuất hiện Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã tìm mọi cách đểngăn chặn sự xâm nhập của Hà Lan, gây mối ngờ vực của Nhật đối với Hà Lan.Bằng sự khôn khéo, ngời Hà Lan đã thuyết phục đợc Mạc Phủ, làm cho chínhquyền Nhật tin rằng: Tôn giáo của họ (Tin lành) không chịu sự điều khiển của nhàthờ La Mã, mà chính Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai nớc có mu đồ chính trịvới Nhật Bản Năm 1610, Thái tử Hà Lan gửi th đến Mạc Phủ trong đó có đoạn:
“xã hội của các giáo sĩ, trong sự bao phủ thiêng liêng tôn giáo muốn biến ngờiNhật Bản theo tôn giáo của họ, rồi từng bớc chia cắt đất nớc Nhật Bản tuyệt vời vàcuối cùng sẽ đa Nhật Bản đến nội chiến” [68,22-23] Ngời Hà Lan đã nhanhchóng gây đợc thiện cảm và tạo đợc lòng tin đối với Mạc Phủ Vì thế, mọi hoạt
động buôn bản của Hà Lan đợc nới lỏng hơn rất nhiều so với Bồ Đào Nha Hà Lantrở thành nớc có hoạt động buôn bán sôi động nhất với Nhật Bản theo GSBob.Tadashi Kawa Bayashi thì: “Trong thế kỷ XVII, Hà Lan chứ không phải làngời Nhật Bản đã tìm cách tống cổ hầu hết ngời ngoại quốc ở các vùng biển xungquanh Nhật Bản” [70,62]
Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các cờng quốc t bản ngay trên lãnh địa củaNhật Bản làm cho tình hình chính trị ở đây ngày càng phức tạp Điều này buộcNhật phải tìm cách thích ứng với môi trờng mới - nhiều cơ hội nhng cũng lắmthách thức Đó chính là cơ hội và thách thức mà ngoài mối quan hệ truyền thốngvới phơng Đông, ngời Nhật hầu nh còn “cha phải bận tâm biết tới” Sự thích nghi
ấy chính là việc áp dụng chính sách ngoại giao kìm chế: “trong lờng tính chính trịcủa chính quyền Edo, đặc biệt là qua những biện pháp đối ngoại mà họ thực hiệntrong giai đoạn đầu thế kỷ XVII, có thể thấy Nhật Bản muốn mợn lực lợng củaTây Ban Nha để kìm chế thế lực Bồ Đào Nha và ở mức cao hơn là dùng uy lực củacác nớc t bản đang phát triển mạnh là Hà Lan, Anh để khống chế ảnh hởng củahai nớc Nam Âu này” [18,124]
Lo sợ trớc những ảnh hởng mang tính chất bạo loạn của Thiên chúa giáo tớitrật tự phong kiến, lo sợ trớc sự lớn mạnh của các lãnh chúa trong thời kỳ “mởcửa” buộc Mạc Phủ phải tính đến trong các bớc đi chính trị của mình Về phơngdiện kinh tế, chính quyền Edo cũng muốn dành lấy mối lợi thơng mại lớn này vànắm độc quyền kiểm soát ngoại thơng trên cả nớc Cuối cùng trớc sức ép củanhững vấn đề trong nớc và quốc tế, năm 1636, Mạc Phủ ban hành lệnh cấm cáctàu thuyền Nhật Bản ra nớc ngoài Năm 1639, lệnh cấm đạo và bài ngoại nghiêmngặt đợc công bố Sau lệnh này, quan hệ giao thơng của Nhật Bản chỉ bó hẹp vớicác nớc Trung Quốc, Hà Lan và Triều Tiên Tuy vẫn bị kiểm soát chặt chẽ nhngthơng nhân Hà Lan đã giành đợc những điều kiện thơng mại thuận lợi, “đợc đối xửtốt hơn thơng nhân Trung Hoa khôn khéo, những ngời bị hạn chế sớm hơn ởNagasaki từ năm 1635 Ngời Hà Lan đã đợc tham dự vào các buổi chầu ở Edo và
họ có thể liên hệ với các quan chức cao cấp Nhật Bản [68,23] Từ năm 1640 trở đi,ngời Hà Lan dờng nh đóng vai trò độc quyền tại thị trờng Nhật Bản Nh vậy, từchỗ đa phơng hoá, Nhật Bản đã tiến hành lựa chọn rồi đi đến đặt “trọng tâm” quan
hệ đối ngoại với một số quốc gia
Trang 12Nh vậy, trong khi ở châu Âu, các cuộc cách mạng t sản và cách mạng côngnghiệp liên tiếp nổ ra đã giúp châu Âu thủ tiêu đợc chế độ phong kiến lạc hậu,
đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đờng phát triển nhanh của chủ nghĩa t bản,thì Nhật Bản lại đóng cửa với thế giới văn minh bên ngoài Vì thế mà Nhật đã bịtụt hậu rất xa, để rồi hai thế kỷ sau, Nhật Bản đã phải “mở cửa” với một giá rất
đắt Mặc dù có mặt hạn chế, nhng trên thực tế thì đây là “một hệ thống đối sáchmang tính tự vệ và tạo ra sự phát triển năng động bên trong, nói cách khác là sựlựa chọn con đờng đi trong điều kiện của Nhật Bản và bối cảnh lịch sử của thời đạivới những mối quan hệ quốc tế và khu vực phức tạp thời bấy giờ” [18,13] Chínhsách “đóng cửa” của Nhật không hoàn toàn tiêu cực mà trong thời gian dài đóngcửa đó, những tiềm năng của đất nớc, sức mạnh của dân tộc có dịp đợc nung nấu,tôi luyện, để phát huy, bừng nở ở giai đoạn sau Nó trở thành sức mạnh vô hình,thành động lực tinh thần và vật chất to lớn góp phần quyết định thắng lợi của côngcuộc duy tân Hơn nữa, nhờ chính sách đóng cửa mà suốt hơn hai thế kỷ, NhậtBản luôn đợc sống trong không khí hoà bình, không có chiến tranh và dờng nhkhông có sự thay đổi chính trị nào đáng kể Chính vì thế mà “chính sách đóng cửacủa Tôkugawa phản ánh một cách ứng xử kiểu Nhật Bản trớc nhiều mối đe doạ từbên ngoài, vừa bảo vệ chủ quyền, gạt bỏ những uy hiếp của các cờng quốc phơngTây, duy trì cửa ngõ cần thiết với thế giới, vừa nhằm tạo ra một sự ổn định và hoàbình để đẩy mạnh sự phát triển mọi mặt của đất nớc” [18,12]
Nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa t bản phát triển mạnh mẽ càng làm cho vấn
đề thị trờng trở nên bức thiết hơn Bên cạnh các đế quốc “già” thì nổi lên một số
đế quốc “trẻ” nh Anh, Pháp, Nga, Mỹ rất giàu về kinh tế và mạnh về quân sự Sự
“chậm chân” trong cuộc phân chia thị trờng ở các thế kỷ trớc đã buộc họ phải ráoriết tiến hành “khai phá” những vùng đất mới Châu á trở thành mảnh đất hội tụ
đầy đủ những nhu cầu cũng nh khả năng chiến thắng của các nớc đế quốc NhậtBản - đất nớc có nhiều hải cảng tốt và là nơi đóng vai trò huyết mạch giao thông
để vơn sang phơng Đông đã nhanh chóng nằm trong vòng ngắm của chúng Thếnhng chính sách đóng cửa đã đợc thực thi hơn hai thế kỷ của quốc gia này đang làmột trở lực lớn
Với t cách là láng giềng của Nhật, Nga đã tìm mọi cách để khai thông cánhcửa thơng mại nớc này Tháng 10 năm 1804, Nga Hoàng AlexanderI đã gửi th đềnghị đợc thiết lập quan hệ buôn bán với Nhật nhng mọi nỗ lực đều vô vọng “Tuysức ép của Nga cha đủ để cho Mạc phủ Edo thay đổi chính sách đối ngoại truyềnthống nhng sự xuất hiện thờng xuyên của tàu đánh cá và tàu chiến Nga đã khiếncho chính quyền Edo hết sức lo ngại về sự đe doạ của cờng quốc láng giềng phíaBắc” [16,73]
Còn Hà Lan - một nớc đợc quyền buôn bán với Nhật trong suốt thời gianquốc gia này thực hiện chính sách “đóng cửa” cũng muốn Nhật Bản thay đổi lậptrờng Hà Lan khuyên Nhật hãy đừng dẫm lên “vết xe đổ” của Trung Quốc Họcảnh báo: “trong bối cảnh toàn thế giới đang tiến hành mở rộng giao lu quốc tế thìviệc đoạn tuyệt với các mối quan hệ đó chỉ có thể tạo nên sự thù địch mà thôi và
Trang 13nếu nh cứ tiếp tục duy trì các định kiến lỗi thời chắc chắn sẽ đẩy đất nớc đếnthảm hoạ” [64,17].
Anh, Pháp, Mỹ cũng có chung nguyện vọng nh các nớc trên Trong các năm1816; năm 1822; năm 1824; năm 1825; năm 1843; năm 1846, Anh liên tiếp yêucầu Nhật cho phép các tàu của Anh đợc vào hải phận Nhật tránh bão và đợc cung
cấp nguyên liệu Yêu cầu ấy bị chối từ Tức chí, Anh định “dùng sức mạnh hải
quân để “làm một canh bạc lớn ở Nhật Bản” [16,74] Còn đế quốc Mỹ thì cũng
đã nhiều lần thử sức mở cánh cửa vào Nhật Bản nhng nó vẫn “im ỉm khoá”.Những cuộc gặp gỡ thờng xuyên, những đề nghị liên tục của các nớc phơng Tây
đã làm cho Nhật cũng tính đến khả năng có thể phải điều chỉnh chính sách đốingoại của mình Rồi tiếp đó là những hành động cố tình vi phạm pháp luật NhậtBản của các thơng thuyền ngoại quốc khiến Nhật không thể giành quyền chủ độnghoàn toàn trong quan hệ đối ngoại
Thế rồi, giờ phút định mệnh cũng đã đến 17 giờ ngày 15 tháng 7 năm
1854, bốn chiếc tàu chiến của Mỹ xuất hiện ở vịnh uraga, do đô đốc MathewCalraith Perry dẫn đầu đã làm dân chúng Edo hoảng loạn Thái độ cứng rắn củaviên đô đốc Mỹ khiến Mạc Phủ phải tiếp nhận bức th của tổng thống MillardFillmore và hứa năm sau sẽ trả lời Bức th của tổng thống Mỹ đã đặt chính quyềnEdo trớc hai sự lựa chọn: Thứ nhất, nếu nh tiếp tục thực hiện chính sách đóng cửathì rất có thể một cuộc chiến tranh giữa Nhật và Mỹ hoặc giữa Nhật và các nớc tbản phơng Tây sẽ xảy ra Điều này hoàn toàn bất lợi cho nớc Nhật trong hoàncảnh bấy giờ; Thứ hai, nếu nh chấp nhận yêu cầu của Mỹ thì chủ quyền quốc gia
sẽ bị xâm phạm, nhng Nhật sẽ tránh đợc nguy cơ chiến tranh và có thể giữ đợcnền độc lập của mình ở mức độ tơng đối Trớc thách thức mang tính chất bớcngoặt đó, ở Nhật Bản phân thành ba khuynh hớng Phái “bảo thủ” chủ trơng tiếptục thi hành chính sách đóng cửa; phái “ôn hoà’ chủ trơng mở cửa nhng vẫn phảihạn chế ảnh hởng của phơng Tây; phái “cấp tiến” chủ trơng mở cửa phát triển kinh
tế để từng bớc giành đợc quyền chủ động trong lĩnh vực kinh tế và ngoại giao
Trong lúc Nhật Bản cha đa ra đợc quyết định cuối cùng thì nh đã hẹn, ngày
13 tháng 1 năm 1854, hạm thuyền của Mỹ lại xuất hiện Đứng trớc nguy cơ mất
n-ớc, Nhật Bản đã “hoá giải” nguy cơ ấy bằng việc đa dạng hoá, đa phơng hoá quan
hệ, “tạo dựng cho mình một t thế quốc tế năng động, linh hoạt” hơn hẳn các nớcchâu á nh Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia , bằng việc ký kết các hiệp ớc
“mở rộng cửa” Nh vậy “chính sách ngoại giao pháo hạm của Perry đã làm lunglay ý chí bảo thủ cực đoan của Nhật Bản mà trớc đó không một nớc nào kể cảNga, Anh và Hà Lan có thể thực hiện đợc Bằng việc ký kết hiệp ớc Kanagawa(“hiệp ớc hoà bình và hữu nghị”, ngày 31 tháng 1 năm 1854), một chơng mới đợc
mở ra trong quan hệ quốc tế của Nhật Bản” [1,29] Nó đợc xem nh sợi dây xích
đầu tiên tròng vào cổ nhân dân Nhật Bản, là màn dạo đầu dần dần biến Nhật thànhmột nớc phụ thuộc Sau hiệp ớc Kanagawa, Nhật Bản tiếp tục ký hiệp ớc với mộtloạt các nớc nh Anh (14.10 1854), Nga (7.2.1855), Hà Lan (30.1.1856), Pháp(7.10.1858), Bồ Đào Nha (3.8.1860), Đức (25.1.1861) và sau đó là ý, Tây BanNha , Đan Mạch, Bỉ, Thuỷ Sỹ, áo - Hung, Thuỷ Điển, Na Uy, Pêru, Hawai, TrungQuốc, Triều Tiên, Thái Lan, Mêxico Trong vòng bốn năm (1854 - 1858), Nhật
Trang 14Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao và thơng mại với tất cả hai mơi nớc ở ba châulục, trong đó châu Âu: 13 nớc, châu á: 3 nớc, châu Mỹ: 4 nớc.
Căn cứ vào thực lực, yêu cầu và tham vọng của từng nớc mà Nhật Bản cónhững đối sách riêng cho phù hợp Chẳng hạn nh về lĩnh vực kinh tế thì Nhật chútrọng quan hệ với Hà Lan, Anh; với Nga là vấn đề chủ quyền biên giới; còn quân
sự và pháp lý thì với Mỹ “Trong số các văn bản đã ký, tuy số điều khoản trongbản hiệp ớc ký với Mỹ không nhiều nhng nó lại có sức bao quát nhất, đề cập đếnnhiều lĩnh vực nhất của quan hệ quốc tế nói chung cũng nh quan hệ Nhật - Mỹ nóiriêng đây là mối quan hệ trọng yếu, có ý nghĩa chi phối các mối quan hệ khác”[17,83]
Song những điều ớc mà Nhật Bản ký với các nớc ngoài không hoàn toàn
đơn thuần là đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao, thơng mại Theo Vũ Khoan thìviệc: “nắm bắt và lựa cách tận dụng xu thế mới thì có cơ hội phát triển song cũngphải gánh chịu những tác động không đơn giản” [3,368] Nội dung các hiệp ớc kývới Mỹ (29.7.1858), Nga (19.8.1858), Anh (26.8.1858), Pháp (9.10.1858) và HàLan đều hàm chứa những điều khoản bất bình đẳng hoàn toàn tơng tự nhau về cácvấn đề:
- Mở cửa u đãi cho ngời nớc ngoài buôn bán, truyền đạo
- Quyền lãnh sự tài phán
- Chủ quyền quan thuế
- Quyền tối huệ quốc
Những hiệp ớc bất bình đẳng này đã làm cho Nhật rơi vào thế bị “phụ thuộc”, còn
Mỹ trở thành kẻ “nắm quyền lũng đoạn” ở nớc này
Việc Mạc Phủ ký kết các hiệp ớc bất bình đẳng với các nớc t bản phơng Tây
là một hành động nhân nhợng lớn, nhân nhợng đến đau đớn Song lịch sử đãchứng minh sự lựa chọn của Nhật Bản là hoàn toàn đúng đắn bởi: “đóng cửa là tựsát , và chỉ có một con đờng là mở cửa hội nhập vào dòng chảy chung của nhânloại ” [39,14] Đây không phải là một trờng hợp duy nhất trong lịch sử thế kỷXIX mà ngay với ngoại giao thời hiện đại cũng vẫn lặp lại Về khía cạnh này, Thứtrởng ngoại giao Lê Mai đã viết: “không thể không có một sự hi sinh nào đó mà tabuộc phải chấp nhận Từ xa, ông cha ta đã đúc kết điều này thành hình ảnh “thảcon săn sắt, bắt con cá rô” Phải thông qua giao lu quốc tế mà phát triển Phải vợtqua cái nhỏ để đợc cái lớn, hy sinh bộ phận vì toàn cục, nhân nhợng cái trớc mắt
để đợc cái lâu dài Đây tuyệt nhiên không phải là coi nhẹ chủ quyền quốc gia vàtoàn vẹn lãnh thổ ” [3,141]
Những hiệp ớc bất bình đẳng mà Mạc Phủ Tôkugawa ký với các nớc phơngTây trở thành bài toán khó, đòi hỏi hậu thế phải đi tìm lời giải đáp Vậy họ đã
“hoá giải” nó nh thế nào, chúng ta sẽ xem xét ở mục 3.1 của luận văn này
Trang 15Chơng 2
Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật Bản
thời kỳ Minh Trị (1868 – 1868) 1912)
2.1 Những cải cách trong lĩnh vực đối nội
Trải qua 265 năm thống trị, ngày 9 tháng11 năm 1867, chính quyềnTôkugawa buộc phải “trả lại quyền bính” cho Thiên hoàng Mutshuhitô (MinhTrị) Ngày 3 tháng 1năm 1868, chính phủ mới của Thiên hoàng đợc thành lập.Lịch sử Nhật Bản bớc sang một trang mới với gam màu tơi sáng hơn
Bốn mơi bốn năm Thiên hoàng Mútshuhitô cầm quyền (1868 1912) khoảng thời gian nằm “vắt qua” hai thế kỷ XIX và XX, là thời kỳ chủ nghĩa t bảnthế giới chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền -giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Với sự hình thành các tổ chức độc quyền và t bản tàichính, quá trình xuất khẩu t bản ngày càng trở nên mạnh mẽ ; cuộc đấu tranh giữacác cờng quốc đế quốc thực dân để giành giật phân chia thuộc địa và thị trờng thếgiới trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết Theo V.I Lênin, đến đầu thế kỷ XX, các c-ờng quốc đế quốc về cơ bản đã phân chia xong thị trờng và thuộc địa thế giới; trênthế giới đã không còn những vùng “đất trống” “vô chủ” nữa Do đó, giữa các nớc
-đế quốc tất yếu sẽ dẫn -đến cuộc đấu tranh để phân chia lại hệ thống thị trờng vàthuộc địa đó, bởi quy luật phát triển không đều là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa
đế quốc [27]
Ngoài ra, dới tác động của hai nhân tố là chủ nghĩa t bản thế giới và cuộcCách mạng t sản Nga 1905 - 1907, châu á đã thực sự “thức tỉnh” Hàng triệu ngời
Trang 16ở châu á, ở phơng Đông trớc đây còn đứng “ngoài lề” của lịch sử thì nay đã bừngtỉnh, chủ động tham gia vào tiến trình quyết định vận mệnh của lịch sử loài ngờithông qua cuộc đấu tranh cho độc lập, chủ quyền và tự quyết dân tộc của họ Đó
là thời kỳ châu á đi theo những t tởng dân chủ tiến bộ của châu Âu - của Đạicách mạng Pháp 1789, và đang trở thành “tiên tiến”, còn châu Âu đế quốc chủnghĩa thì trở nên “lạc hậu” [27,283-541] Thời kỳ này, lịch sử đã chứng kiến côngcuộc duy tân ở Thái Lan (1868 – 1912), phong trào cải cách ở Trung Quốc vàsau đó là phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục ở Việt Nam
Tất cả những hoàn cảnh lịch sử đó có ảnh hởng sâu sắc tới chính sách đối nội
và đối ngoại của Minh Trị Thiên hoàng (1868 - 1912) Tuy nhiên, ở đây chúng tôikhông bàn về những cải cách đối nội của Minh Trị nh là một đối tợng nghiên cứu.Trái lại, chúng tôi chỉ xem xét những cải cách ấy với t cách là chúng thuộc vềnhững chính sách đối nội, có tác động đến, thậm chí “làm nền” cho chính sách đốingoại của thời kỳ Minh Trị
Sau khi lên cầm quyền, lịch sử đã để lại cho chính phủ Minh Trị một “giasản” không có gì sáng sủa Chính quyền còn non trẻ, trình độ lạc hậu về mọi mặt,lại phải gánh nặng trên mình rất nhiều điều ớc bất bình đẳng Trớc tình hình đó,Nhật đã quyết định đổi mới t tởng, giã từ các quan niệm cũ và tìm đến văn minhphơng Tây để khai thác những tinh hoa của nó Họ thấy rằng, cần phải loại bỏ sựcan thiệp tối đa của ngoại bang thì khi đó mới giữ đợc bản sắc của dân tộc, mớigiữ đợc tâm hồn tổ quốc Để làm đợc điều ấy, trớc hết Nhật phải xoá bỏ đợckhoảng cách về trình độ kinh tế, khoa học, quân sự so với nớc ngoài Khi nào đạt
đợc sự cân bằng trên các mặt đó, Nhật sẽ bứt phá, vợt lên trên đối phơng và khốngchế họ trong vòng kiểm soát của mình Thế là “Nhật Bản háo hức hớng về phơngTây để tìm kiếm kỹ thuật tiên tiến cũng nh những khuôn khổ cho công cuộc cảicách chính trị và xã hội” [62,47] Một cuộc duy tân có tính chất sâu rộng trên tấtcả các lĩnh vực bắt đầu
Theo các nhà lãnh đạo Nhật thì “yếu tố quan trọng nhất trong sự khác biệt
về quyền lực giữa Nhật Bản và các nớc phơng Tây là yếu tố kinh tế” [52,25] NhậtBản bắt đầu tập trung phát triển nền công nghiệp hiện đại Để đạt đợc điều đó,chính phủ Nhật Bản một mặt thuê các chuyên gia kỹ thuật của các nớc tiên tiếnsang Nhật giảng dạy, mặt khác cử ngời ra nớc ngoài tham khảo kinh nghiệm củaphơng Tây và nhất là nhập khẩu máy móc kỹ thuật phơng Tây Trong thời gian
đầu, do yêu cầu phải khẩn trơng phát triển những ngành công nghiệp chiến lợc và
do sự yếu kém của t bản t nhân, nhà nớc đứng ra tổ chức và điều hành hoạt độngcủa các nhà máy, xí nghiệp Từ năm 1881, Nhật Bản thực hiện chính sách t hữuhoá công nghiệp, bằng cách bán lại các xí nghiệp cho t nhân với giá từ 10% đến90% số tiền đầu t hoặc chuyển sang hình thức can thiệp gián tiếp Bên cạnh đó,chính phủ còn thực hiện sự hợp tác giữa nhà nớc và t nhân Mặc dù số lợng cácnhà máy, xí nghiệp của nhà nớc không nhiều, nhng nó đóng vai trò chủ chốt trongnền kinh tế Nhật Bản Sự phát triển của nền công nghiệp vẫn diễn ra theo con đ-ờng truyền thống: công nghiệp nhẹ đi trớc, công nghiệp nặng theo sau Vừa nhanhchóng phát triển các cơ sở công nghiệp hiện đại nh khai thác mỏ, xây dựng cácnhà máy luyện kim, đóng tàu , Nhật Bản vừa đặc biệt chú trọng phát triển côngnghiệp quốc phòng Rõ ràng “sự va chạm với phơng Tây tuy ngắn ngủi nhng gây
Trang 17những ấn tợng sâu sắc, đã đủ để làm cho giới lãnh đạo mới tin rằng việc xây dựngmột lực lợng quân sự hiện đại đòi hỏi phải phát triển những ngành công nghiệpchiến lợc hiện đại” [43,118] Điều đó giải thích vì sao ngay từ buổi đầu, côngnghiệp hoá đã đợc coi là có liên quan chặt chẽ đến việc đạt đợc mục tiêu quốc giahàng đầu.
Trong khi vừa tập trung phát triển nền công nghiệp hiện đại, chính phủ NhậtBản vừa thực hiện u tiên phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, tiến hành nhữngcải cách trong lĩnh vực nông nghiệp nh cải cách ruộng đất, cải cách thuế nôngnghiệp hay cải cách địa tô Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việctháo gỡ những khó khăn trong vấn đề tài chính, mà còn là chỗ dựa cơ bản trongthời kỳ đầu công nghiệp hoá Nhờ những “chính sách cải cách kinh tế nông nghiệplinh động, hợp lý, chính phủ Minh Trị đã đa nền nông nghiệp Nhật Bản thoát khỏitình trạng suy thoái ở cuối thời Tôkugawa Tốc độ tăng trởng của nền nông nghiệptrong thời kỳ này chừng 2% một năm” [30,97] Với tinh thần “Thợng thơng lậpquốc”, thời kỳ Minh Trị đã trả lại vị trí xứng đáng cho thơng nghiệp - một ngànhkinh tế đã bị khinh rẻ trong các thời kỳ trớc “Ngoại thơng đã đợc khuyến khích
nh một khía cạnh của các quan hệ quốc tế, đồng thời là một cách để tăng sự giàu
có của đất nớc” [50,39] Chính phủ Minh Trị đã nỗ lực bãi bỏ những luật lệ phongkiến gây trở ngại cho sự tăng trởng của mậu dịch, tạo ra một hệ thống tiền tệthống nhất, đo lờng thống nhất, quan thuế thống nhất và thị trờng thống nhất.Không chỉ dừng lại đó, Nhật Bản còn tính đến việc thiết lập một thị trờng quốc tế,hoà nhập vào cuộc sống thơng mại sôi động của thế giới “Đoạn tuyệt với triết lýcoi nông nghiệp là trớc hết, là nền tảng kinh tế xã hội của chế độ phong kiến vàchấp nhận triết lý kinh tế có xu hớng thiên về việc coi tất cả các ngành đều có lợicho xã hội và để cho cơ chế thị trờng quyết định tầm quan trọng tơng đối củachúng” [50,40] Tất cả những điều đó về mặt khách quan đã tạo điều kiện chonhững quan hệ kinh tế hàng hoá - tiền tệ và những mầm mống t bản chủ nghĩa ởtrong nớc phát triển, bắt đầu quá trình hội nhập vào quỹ đạo của chủ nghĩa t bảnquốc tế Nhật Bản đã tạo ra một sức mạnh tổng hợp to lớn, tạo ra nền kinh tế năng
động góp phần làm thay đổi số phận của đất nớc Nh vậy, “các thành tựu do cảicách kinh tế đa lại giúp Nhật Bản chuẩn bị xong “mặt bằng” cho một cuộc đuamới trong thế giới của các nớc t bản phát triển”[10,39]
Song song với những cải cách kinh tế là cải cách chính trị Sau cuộc cáchmạng t sản 1868, thể chế chính trị của Nhật Bản đợc xây dựng theo chế độ quânchủ lập hiến Trong đó, quyền lực tập trung vào tay Thiên hoàng, do Chính viện(nội các chính phủ), Hữu viện (cơ quan t pháp) và T viện (cơ quan lập pháp) điềuhành Đến năm 1889, cùng với sự ra đời của bản hiến pháp thì chế độ quân chủlập hiến của Nhật Bản đợc củng cố thêm một bớc Thiên hoàng là ngời có quyềnlực tối cao, có quyền giải tán và triệu tập quốc hội Còn quốc hội (gồm 2 viện:Viện dân biểu (hạ nghị viện) và Viện quý tộc (Thợng nghị viện) chỉ có quyềntham gia thảo luận, bàn bạc công việc mà không có quyền quyết định Nh vậy,thực chất chế độ chính trị của Nhật Bản lúc này là chế độ quân chủ nửa chuyênchế, dựa trên cơ sở liên minh phong kiến, quân phiệt và t sản Hiến pháp 1889cũng đã đặt ra vấn đề tự do ngôn luận, hội họp, tín ngỡng , song các quyền này
đã bị hạn chế cẩn thận bởi các cụm từ nh “trong khuôn khổ luật pháp” Theo Vĩnh
Trang 18Sính thì “Hiến pháp 1889 là tổng hợp của hai yếu tố “cận đại” và ”truyền thống”vừa công nhận quyền tự do của dân chúng, vừa tập trung cao nhất quyền lực vàotay Thiên hoàng” [51,145]
Điều đáng chú ý là Hiến pháp Minh Trị đã đặt bộ tham mu quân sự ngoàiquyền kiểm soát của chính phủ dân sự, đánh dấu sự thắng thế của thế lực hiếuchiến trong chính phủ, mở đầu cho chủ nghĩa quân phiệt phát triển vào những nămtiếp theo
Những cải cách về mặt chính trị - xã hội của Minh Trị đã tạo ra một môi ờng chính trị ổn định, tạo ra sự thống nhất về mọi mặt từ trung ơng đến địa phơng
tr-Đó chính là điều kiện thuân lợi cho việc phát triển kinh tế, xây dựng đất nớc
Nh vậy, trong khi các nớc châu á đang đắm chìm trong màn đêm nô lệ thìhiến pháp Minh Trị dù đang còn nhiều hạn chế vẫn là mẫu hình lý tởng cho các n-
ớc phong kiến phơng Đông học tập
Nhằm xoá bỏ cát cứ phong kiến, tập trung quyền lực cho chính quyền trung
ơng, tháng 8 năm 1871, chính phủ ra lệnh phế bỏ hoàn toàn các công quốc, chia
đất nớc thành ba phủ với 72 huyện Để ngăn chặn sự bất bình của các lãnh chúa những ngời nắm trong tay một số lợng nhân lực, vật lực rất lớn, và để tạo nên môitrờng hoà bình cho công cuộc duy tân, theo quyết định của chính phủ, các Daimyotrở thành quan tổng trấn Chức vụ quan tổng trấn đợc phép cha truyền con nối và
-có quyền hởng 1/10 tổng số thu nhập của địa phơng mình Nh vậy, căn nguyênsâu xa làm cho Nhật Bản luôn bị phân tán tiềm lực đã bị triệt tiêu Từ đây, ngờiNhật hoàn toàn có điều kiện để cùng chung sức “ghé vai vào gánh vác” một giangsơn thống nhất Đấy chính là cội rễ của mọi sức mạnh
Những thay đổi trong đời sống chính trị cùng những biến chuyển trong nềnkinh tế dẫn đến yêu cầu phải sắp xếp lại trật tự xã hội cho phù hợp với tình hìnhmới Nhìn chung, xã hội Minh Trị đợc chia thành 3 giai cấp: giai cấp Kazoku (th-ợng đẳng) bao gồm quý tộc hoàng gia và quý tộc lãnh địa; giai cấp Shizoku - gồmcác võ sĩ; và những ngời thuộc tầng lớp: nông dân - thợ thủ công - thơng nhân đợcgọi chung là Hemin (bình dân) So với trớc kia thì khoảng cách giữa các giai cấp
đã đợc rút ngắn, mối quan hệ giữa các giai cấp - xét một cách toàn diện là tơng
đối bình đẳng “Một trật tự xã hội mới dựa vào những thành tựu và năng lực cánhân thay vì đẳng cấp đã đợc thiết lập khiến mọi ngời có tài và có năng lực đều cóthể tiến thân trong xã hội, bất chấp nền tảng xã hội của họ Phù hợp với cải cáchnày, chính phủ đã mở cửa bộ máy quan liêu và quân đội cho mọi ngời thuộc mọigiai cấp bằng cách áp dụng một hệ thống giá trị” [50,36]
Đi đôi với cải cách chính trị là cải cách quân sự Ngày 2 tháng 4 năm 1871,quân đội Thiên hoàng đợc thành lập với quân số 10.000 ngời Ngày 10 tháng 1năm 1873, luật nghĩa vụ quân sự đợc ban bố Theo luật này thì nông dân, thợ thủcông, thơng nhân cũng phải tham gia quân đội Điều này hoàn toàn khác với thời
kỳ Tôkugawa là chỉ võ sĩ mới có quyền đó Ngân sách quân sự đợc tăng lên gấpbội Từ ngày 13 tháng 11 năm 1871 đến ngày 31 tháng 12 năm 1872 chi 9,5 triệuyên so với 3,3 triệu năm trớc Các năm sau từ 9 triệu đến 12 triệu yên Chế độnghĩa vụ quân sự, trang bị kỹ thuật phơng Tây, đội ngũ sĩ quan có kinh nghiệm đã
Trang 19mau chóng làm cho Nhật Bản có đợc một lực lợng quân sự mạnh, đủ sức đối phóvới những cuộc nổi dậy bên trong cũng nh mở rộng thế lực ra bên ngoài
Trong số những cải cách thời Minh Trị thì có lẽ cải cách giáo dục đợc nhiềungời chú ý và đánh giá cao nhất, nhận thức đợc giáo dục chính là mấu chốt của sựphát triển, đầu t cho giáo dục là đầu t cho phát triển nên các nhà lãnh đạo NhậtBản đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực này Theo Fukuzawa thì kẻ thù nguy hiểm nhấtcủa Nhật không phải là “kẻ thù quân sự” mà chính là “kẻ thù thơng mại”, khôngphải “kẻ thù vũ lực” mà chính là “kẻ thù trí lực” Ông còn cho rằng, kết quả củacuộc đọ sức này là hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự mở mang dân trí của ngời Nhật.Yêu cầu của sự hiện đại hoá càng cao thì yêu cầu phát triển nền giáo dục ngàycàng lớn Giáo dục phải đi trớc một bớc để mở đờng cho sự phát triển và đón lấy
sự phát triển, nói rõ ra là nó có liên hệ mật thiết với công cuộc duy tân Phơngchâm của cải cách giáo dục là “đặt cải cách giáo dục lên hàng đầu trong chínhsách phát triển quốc gia, cải cách giáo dục nhằm đạt đến thành quả kỹ thuật của
các nớc tiên tiến Tây âu; cải cách giáo dục nhằm vào hạ tầng cơ sở nhân dân,
không một giới nào, ngời nào không có cơ hội đợc hởng giáo dục, nhất là về thựcnghiệm kỹ thuật” [9,40] Nhận thức đợc u thế của văn minh phơng Tây so với vănminh phơng Đông, Nhật Bản đã biết hấp thụ những cái tinh tuý của giáo dục ph-
ơng Tây để làm cho nền giáo dục của mình thêm hoàn thiện Theo họ “phải biếtchắt lọc lấy từ mỗi ngành tri thức (của châu Âu), mỗi bộ môn khoa học ấy (địa d,
tự nhiên học, kinh tế học ), những gì hữu ích cho thực tiễn” [21,264] Trong thời
kỳ này, Nhật Bản tích cực mời các chuyên gia ngoại quốc vào dạy ở các trờngtrong nớc và cử sinh viên đi du học ở nớc ngoài nhằm đào tạo một lớp ngời có đủtài năng để đa đất nớc tiến lên trong thời đại mới Nhật Bản đã tiến hành một cuộccách mạng trong giáo dục, thay đổi cả nội dung, phơng pháp và ngành học Bêncạnh các trờng công còn có các trờng t, bên cạnh các trờng phổ thông còn có cáctrờng chuyên môn kỹ thuật Toàn bộ hệ thống giáo dục của Nhật Bản đợc chiathành 8 khu đại học, mỗi khu đại học đợc chia thành 32 khu trung học và mỗi khutrung học đợc chia thành 10 khu tiểu học Còn về phép dạy dỗ thì “rất tinh tờng,chu đáo, hay ho vô cùng, bút mực không thể nào tả xiết đợc ” [5,59]
Chính phủ Minh Trị đã mở rộng chế độ giáo dục đến mọi tầng lớp nhândân, đến mọi miền đất nớc, thực hiện cỡng bức đối với bậc giáo dục tiểu học Đó
là một chủ trơng đúng đắn thể hiện tầm nhận thức có tính chiến lựơc của các nhàlãnh đạo Nhật Bản Chủ trơng đó đợc bắt nguồn từ nhận thức rất khoa học, thấu
đáo và biện chứng: “Muốn thực hiện văn minh hoá đất nớc thì trớc tiên mỗi ngờihãy tự văn minh bộ óc của chính mình và nếu nh chính phủ không có một đờng lốichính trị khả dĩ để có thể đa ánh sáng văn minh đến với những tầng lớp thấp nhấtcủa xã hội thì không thể đa quốc gia tiến tới văn minh” [40,42]
Quả thực, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia văn minh, trở thành một cờngquốc trong thế giới Đông á Trí tuệ Nhật Bản đã đợc đánh thức, đợc bồi dỡng vàtrở thành một lực lợng vô cùng to lớn, đủ sức đối chọi với những đổi thay của lịch
sử “Giáo dục thời Minh Trị trở thành chiếc chìa khoá vàng để ngời Nhật Bản mởtoang cánh cửa trí thức của thế giới hiện đại, tạo đà cho Nhật Bản “cất cánh” tronggiai đoạn tiếp theo” [10,49]
Trang 202.2 Những biến đổi của Nhật Bản do công cuộc Duy tân mang lại
Những cải cách toàn diện của chính phủ Minh Trị đã đa lại sự biến đổi tolớn về mọi mặt trong đời sống kinh tế chính trị xã hội Nhật Bản Tuy nhiên trongmục này chúng tôi chỉ điểm qua những biến đổi căn bản và có ý nghĩa nh là tiền
đề của chính sách đối ngoại
Minh Trị Duy Tân là thời kỳ rực rỡ nhất, huy hoàng nhất trong lịch sử NhậtBản từ trớc đó Sau hơn 200 năm đóng cửa dấu mình trong những ốc đảo, NhậtBản đã bị phơng Tây bỏ xa những 2 thế kỷ về trình độ văn minh Cũng nh các dântộc á châu khác, Nhật Bản cũng nếm đủ mùi vị đắng cay của một dân tộc yếu hèntrớc ách áp bức của âu châu cờng thịnh Thế mà chỉ trong vài thập kỷ, Nhật Bản
đã trỗi dậy với một sức mạnh phi thờng khiến cả thế giới ngạc nhiên, khâm phục.Sức mạnh đó chính là trái thơm của bông hoa “duy tân” thời kỳ Minh Trị Thiênhoàng (1868-1912)
Sau cải cách kinh tế Nhật Bản không còn bị đóng khung, giam hãm trongkhuôn khổ của nền kinh tế tự cung, tự cấp nữa, nó đã chuyển biến lên nền kinh tế
t bản chủ nghĩa Với chủ trơng coi trọng tất cả các ngành kinh tế, chú ý đầu t pháttriển tất cả các ngành kinh tế, Nhật Bản đã có một nền kinh tế phát triển đồng bộ.Các ngành đó tác động tơng hỗ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp Song có lẽkhởi sắc nhất đó là ngành công nghiệp “Những năm cuối thế kỷ XIX đợc coi làthời kỳ cách mạng công nghiệp của Nhật Bản” [56,248] Nhiều nhà máy, xínghiệp lớn đợc xây dựng, nhiều ngành công nghiệp mới xuất hiện nh là thuỷ tinh,len “Trong khoảng thời gian ngắn (từ 1896- 1912) sản lợng gang tăng lên gấpmời lần, sản lợng thép tăng hơn hai trăm lần Nhật Bản có thể tự đóng đợc tàuchiến hiện đại với trọng tải 10.000 tấn và gần nh tự trang bị cho quân đội hiện đạicủa mình Về ngoại thơng, kim ngạch xuất khẩu năm 1893 là 89 triệu yên, năm
1913 tăng lên 632 triệu yên Thu nhập quốc dân tăng gấp 3 lần từ năm 1890 đếnnăm 1912” [10,51] Từ thập kỷ 70 trở đi, đặc biệt là “sau năm 1874, Đức phát triểnnhanh chóng hơn Anh và Pháp 3 đến 4 lần Nhật Bản phát triển hơn Nga chín đếnmời lần” [31,145] Những thành tựu này một mặt phục vụ cho nhu cầu phát triểnkinh tế, ổn định xã hội, nhng “mặt khác nó còn đáp ứng cho mu đồ quân sự củaNhật Bản ở giai đoạn sau” [11,57] Một nền kinh tế phát triển nhảy vọt, năng động
đã ra đời, giúp Nhật Bản đạt đợc mục tiêu “phú quốc, cờng binh”, chuyển nhanhsang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, hoà mình vào cuộc tranh đua, giành giật thị tr-ờng
Những cải cách về mặt chính trị - xã hội cũng thu đợc nhiều kết quả đáng
kể Từ chế độ phong kiến cát cứ, Nhật Bản đã chuyển sang nền quân chủ t sản vớiquyền lực tập trung vào tay Thiên hoàng Nhờ quản lý đất nớc bằng hiến pháp vàpháp luật, Nhật Bản đã có một nền chính trị ổn định, một xã hội nề nếp, một quốcgia thống nhất Có mặt ở Nhật Bản trong thời gian này, một nhà nghiên cứu ngòi
Mỹ nhận xét: “Tôi sống ở những huyện mà hàng trăm năm nay cha hề có một vụtrộm cắp nào, các nhà tù đợc xây dựng ở thời Minh Trị vẫn để trống và không đợc
sử dụng đến, nhân dân để ngỏ cửa nhà mình cả đêm lẫn ngày” [66,13]
Xã hội Nhật Bản ngày càng đợc đổi mới, điều chỉnh cho phù hợp với nhữngthay đổi của nền kinh tế - chính trị Những yếu tố lạc hậu của chế độ xã hội cũ vềcơ bản đợc xoá bỏ, chế độ đảng cấp không còn, quan hệ giữa ngời với ngời tiến
Trang 21triển theo xu hớng bình đẳng Xã hội Minh Trị đã tạo điều kiện và cơ hội cho cánhân phát triển Chính trong môi trờng mới tiến bộ này, nhiều tài năng đợc đơmhoa kết trái, kích thích động viên cá nhân đem hết sức mình phục vụ cho đất nớc.
Đoàn kết về nhân tâm, hợp lực về trí tuệ - đó chính là nhân tố tạo nên sức mạnh tolớn nhằm xây dựng đất nớc, chống lại sự phá hoại, can thiệp của nớc ngoài.Những cải cách về chính trị đã có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đi lêncủa lịch sử Nhật Bản Một mặt nó tạo môi trờng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế,mặt khác củng cố tiềm lực, nâng cao địa vị của Nhật Bản trên trờng quốc tế, giúpNhật Bản chuyển từ xã hội trì trệ sang một xã hội năng động có thể tự hiện đạihoá một cách liên tục Dù rằng kiến trúc thợng tầng bị quy định bởi cơ sở hạ tầng,nhng chính sự vững chắc của kiến trúc thợng tầng sẽ là một điều kiện tối u đảmbảo “an ninh” của cơ sở hạ tầng Theo lôgíc của vấn đề ấy, chúng ta sẽ có mộtluận điểm khoa học: nội (có) an thì ngoại (mới) bình Tóm lại, hệ quả lớn nhất củanền chính trị - xã hội Nhật Bản chính là: “ củng cố vững chắc chính quyền trung -
ơng, làm suy giảm thế lực của địa phơng, đã xuất hiện t thế của một cờng quốc ở
Đông hải” [67,163]
Ngoài những biến đổi tích cực về mặt kinh tế, chính trị thì giáo dục cũng làmột lĩnh vực đạt đợc nhiều thành tựu rực rỡ, góp phần thiết thực trong công cuộcxây dựng và bảo vệ đất nớc Ngay từ buổi đầu, ngời Nhật Bản đã háo hức hớng vềphơng Tây để học hỏi Tuy nhiên, họ vẫn quyết tâm giữ đợc “cái thần” của dântộc, điều đó thể hiện trong khẩu hiệu “kỹ thuật phơng Tây, tâm hồn Nhật Bản”.Ngời Nhật Bản đã “ đa ánh sáng văn minh phơng Tây vào Nhật Bản để xua tanbóng đen của chế độ phong kiến quân sự kìm hãm Nhật Bản trong suốt nhữngnăm dài đóng cửa” [40,43] Với chủ trơng ngời ngời đi học, nhà nhà đi học, lànglàng đi học, Nhật Bản đã thực hiện đợc phổ cập giáo dục trên toàn quốc TheoNguyễn Văn Hồng thì: “Đó là một nớc có nền văn hoá phổ cập nhất châu á đầuthế kỷ XX” [9,64] Nhật Bản đã tôi luyện nên một dân tộc có trí tuệ, có học vấn và
am hiểu thế giới Đây chính là điểm đột phá có tính chiến lợc, là tiền đề vững chắccho Nhật Bản bớc vào thời đại mới Sau vài thập kỷ tiến hành duy tân, Nhật Bản
đã có một đội ngũ kỹ s, bác sỹ và thợ lành nghề đông đảo , có trình độ cao, đápứng mọi yêu cầu của cuộc sống cũng nh sản xuất Tóm lại là Nhật Bản đã đào tạo
ra đợc những lớp ngời có đủ tài năng, tạo ra một nguồn nhân lực dồi dào để tự ờng Một đất nớc với thế hệ những con ngời năng động, nhạy bén, có trí tuệ đợcnuôi dỡng trong truyền thống, đợc bồi bổ những kiến thức khoa học hiện đại đã đủsức xử lý đợc những mối liên hệ phức tạp, vơn lên làm chủ đất nớc
c-Nh vậy, với hàng loạt cải cách trên tất cả các lĩnh vực, từ một nớc quân chủchuyên chế, Nhật Bản đã nhanh chóng phát triển lên chủ nghĩa t bản với một tốc
độ “chóng mặt”, rút ngắn khoảng cách hiện đại hoá so với các nớc Tây Âu Mộtnớc Nhật đang lớn lên, căng tràn sức sống, hiện diện trớc con mắt thán phục củaphơng Tây và lòng ngỡng mộ của phơng Đông Sức mạnh tổng hợp có đợc từ saucông cuộc duy tân cho phép Nhật Bản giữ vững đợc an ninh quốc gia, vỗ yên lòngdân, tạo nên sự cờng thịnh từ bên trong, đặt nền móng vững chắc cho Nhật Bản trởthành cờng quốc trong các giai đoạn tiếp theo Nhờ đó, Nhật Bản đã xoay chuyển
đợc tình thế Bớc đầu tiên đó là thoát khỏi “sợi dây xích” mà các cờng quốc t bản
Trang 22tròng vào cổ từ thời Mạc phủ Tôkugawa, kế đến là nối gót phơng Tây đi tìm chomình một chỗ đứng “dới ánh mặt trời”.
Những cải cách trong lĩnh vực đối nội nhằm phát triển đất nớc của Minh TrịThiên hoàng là một bớc đi táo bạo, là một tiến trình hết sức độc đáo Sự thànhcông của nó đã gây đợc tiếng vang rất lớn không chỉ ở á châu mà còn làm cho cácnớc t bản phơng Tây lo ngại về một định thủ cạnh tranh trong tơng lai Tuy nhiên,
nh đã nói ở đầu chơng này, mục đích của chúng tôi không phải đi sâu nghiên cứuchính sách đối nội của Nhật Bản thời Minh Trị, mà việc điểm qua công cuộc cảicách là nhằm đi đến một hệ luận: “Lôgíc tất yếu” của sự đổi mới trong chính sách
đối nội sẽ dẫn đến những sự “ đổi mới” tơng ứng trong chính sách đối ngoại củaNhật Bản thời Minh Trị (1868-1912)
Chơng 3
Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị
(1868 - 1912)
3.1 Đấu tranh xoá bỏ các hiệp ớc bất bình đẳng
Chính sách đối ngoại của bất kỳ một quốc gia nào cũng đều đợc quyết địnhbởi nội lực của nớc ấy, tức là nó đợc xây dựng trên cơ sở kinh tế - xã hội nhất
định Nhật Bản cũng đã từng bị chao đảo , “kinh hồn bạt vía” trớc sức mạnh vợttrội của châu Âu, Nhật Bản cũng đã từng phải cúi mình nhân nhợng trớc phơngTây Song điều kỳ diệu là cải cách Minh Trị 1868 cùng với những chính sách toàndiện đã lật ngợc tình thế Nhật Bản đã thay da đổi thịt, đã khởi sắc và chuyểnmình sang một thế mới Điều đó cho phép Nhật hoạch định lại chính sách đốingoại của mình trên thế mạnh Thế mạnh đó sẽ giúp Nhật Bản thoát khỏi nỗi nhụccủa một quốc gia bị phụ thuộc và đồng thời thôi thúc Nhật Bản “trỗi dậy”, hoà vàocuộc đua tranh trên trờng quốc tế Có thể nói, chính sách đối ngoại của Nhật tronggần 50 năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (1868 - 1912) thể hiện rõ hai khuynhhớng cơ bản; một mặt, Nhật kiên trì đấu tranh xoá bỏ các điều ớc bất bình đẳng
mà trớc đây Mạc Phủ Tôkugawa đã ký với phơng Tây, tranh thủ điều kiện duy tân
đất nớc; mặt khác là, đồng thời với quá trình đó, Nhật đã không ngừng tiến hànhbành trớng ra bên ngoài, trớc hết là khu vực Đông á [45,172] Vấn đề đặt ra đốivới Nhật Bản trớc hết là phải xoá bỏ các hiệp ớc bất bình đẳng, sau đó mới tính
đến việc mở rộng phạm vi ảnh hởng của mình ở châu á Nhng trên thực tế thì hai
Trang 23vấn đề này đợc giải quyết song song và có tác dụng bổ sung cho nhau rất hoànhảo.
Xoá bỏ các điều ớc bất bình đẳng mà Mạc phủ Tôkugawa đã ký với các
n-ớc phơng Tây là một yêu cầu khách quan của sự phát triển Nhật Bản không thể tự
do phát triển chừng nào cha tháo đợc những cái tròng khắc nghiệt ấy Việc xoá bỏcác điều ớc bất bình đẳng không chỉ bảo vệ uy tín của một quốc gia độc lập mà nócòn liên quan đến vấn đề tài chính, vì nếu nh quan thuế giảm thì thuế do nhân dân
đóng góp phải tăng lên Đó lại là đầu mối của những mấu chốt rất quan trọng cóthể làm lung lay chính quyền của giai cấp thống trị Hơn nữa, nớc Nhật vốn sẵntham vọng, tham vọng đó sẽ chẳng thực hiện đợc nếu nh bản thân nớc Nhật cũngcha thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nớc phơng Tây Theo lời khuyên của cố vấntối cao trong chính phủ Minh Trị - Guidovesbeck, tháng 11 năm 1871, chính phủNhật Bản đã cử một phái bộ do đại thần Iwakura Tomori (1825 - 1883) dẫn đầusang Hoa Kỳ và châu Âu đề nghị xét lại các điều ớc Nhiệm vụ của họ là:
“1 Đến các nớc ký hiệp ớc với Nhật Bản, trình quốc th, khẳng định việctiếp tục duy trì các quan hệ ngoại giao
2 Học tập những thành tựu khoa học - kỹ nghệ tiên tiến, cách thức tổ chứcxã hội để rút kinh nghiệm và áp dụng cho Nhật Bản
3 Tiến hành thơng thuyết, yêu cầu các nớc phơng Tây sửa đổi nội dungcác bản hiệp ớc đã ký” [16,71]
Sau 22 tháng chu du khắp châu Âu, phái bộ Nhật Bản chỉ đạt đợc một kếtquả nhỏ là thuyết phục đợc các lực lợng của Anh, Pháp từng đóng ở Yokohama từnăm 1863 phải rút lui vào tháng 3 năm 1875 Dù cha thực hiện đợc mục tiêu đề ranhng chuyến đi này đã có vai trò cực kỳ quan trọng đối với tơng lai của nớc Nhật
Nó đã làm thay đổi t duy của những quan chức cấp cao trong chính phủ Nhật Bản
Đợc tận mắt chứng kiến sự phồn hoa, hiện đại của Âu châu, phái bộ đã nhận thức
đợc những yếu kém của nớc mình, mới hiểu đợc nguyên nhân vì sao Nhật khônggiành đợc quyền bình đẳng trớc các nớc châu Âu Có lẽ tâm trạng của Iwakura vànhững ngời đồng hành lúc này cũng giống nh tâm trạng của Phan Bội Châu khi lần
đầu tiên sang nớc Nhật: “Ngời đã qua đò rồi mà ta còn cha cắm bến” Bài học lớnnhất mà phái bộ Nhật Bản thu nhận đợc sau chuyến công cán khắp châu Âu chính
là câu nói của Bixmac trong cuộc tiếp xúc với đoàn ngoại giao Đức: “Một nớcNhật phải tự cờng để có thể tin vào chính sức mình, còn các quốc gia khác chỉtrung thành với các hiệp ớc quốc tế khi họ thấy có lợi mà thôi” [41,44] Nhật thấyrằng nếu cứ tự cô lập trong thế giới Đông á , không bắt nhịp với sự đổi thay củathế giới, không theo kịp những thành tựu khoa học tiên tiến thì nguy cơ sẽ trởthành kẻ “đồng bệnh” với các quốc gia phong kiến trong khu vực “Trong bốicảnh quốc tế có nhiều biến đổi, Nhật Bản không thể thiết lập mối quan hệ bình
đẳng với các nớc lớn và càng không thể bằng con đờng vận động ngoại giao đểyêu cầu các cờng quốc sửa đổi những hiệp ớc đã ký trớc đây Vì vậy, sự lựa chọnduy nhất đúng là phải nhanh chóng canh tân đất nớc, quyết tâm thực hiện bằng đ-
ợc mục tiêu cải cách, khi nớc đã cờng, dân đã thịnh, binh đã mạnh thì việc thiếtlập quan hệ bình đẳng với các cờng quốc là điều có thể thực hiện đợc” [16,72]
Điều đó cho thấy sự mẫn cảm chính trị tuyệt vời, khả năng phân tích thực tiễn sâu
Trang 24sắc, tầm nhận thức thấu đáo của những nhà lãnh đạo Nhật Lịch sử đã chứng minh
sự lựa chọn của họ là hoàn toàn đúng đắn, nó không những giúp Nhật thoát khỏi
sự “ràng buộc” của phơng Tây mà còn trở thành một cờng quốc trong thế giới tbản
Biến nhận thức thành hành động, Nhật Bản một mặt đẩy mạnh công cuộcduy tân đất nớc, một mặt mở các chiến dịch ngoại giao sôi động đấu tranh với cáccờng quốc phơng Tây để thủ tiêu những điều ớc bất bình đẳng đã ký trong quákhứ Năm 1878, diễn ra cuộc gặp gỡ giữa chính phủ Nhật và chính phủ Mỹ để kýhoà ớc Oa-shinh-tơn Hiệp ớc này thừa nhận Nhật Bản đợc tự do định thuế quan,nhng trên thực tế đã không đợc thi hành vì điều kiện của nó là các cờng quốckhác cũng phải đồng ý với hiệp ớc này Hành động nhợng bộ của Mỹ thể hiện rõmột âm mu thâm độc, lừa bịp, ngay từ thời kỳ này đã muốn dùng Nhật Bản làmcông cụ bành trớng của mình ở châu á
Sau gần mời năm kể từ khi diễn ra chuyến đi thất bại của phái bộ Iwakura,Nhật mới có thể cùng phơng Tây tiến hành hội nghị trù bị tại Tokyô để giải quyếtnhững điều khoản bất bình đẳng, nhng rốt cuộc chẳng đạt đợc kết quả gì Hai nămsau - năm 1884, chính phủ Nhật đã dự thảo một hoà ớc xét lại và trao cho các c-ờng quốc, nhng do cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ nên cha thảo luận đợc
Đến năm 1886, một hội nghị chính thức về sửa đổi điều ớc mới đợc triệu tập, dongoại trởng Inoue chủ trì với sự tham gia của đại diện 12 nớc Sau một thời giandài thảo luận, các bên đã đi đến nhất trí nh sau:
- Nhật mở rộng cửa cho ngời ngoại quốc vào buôn bán
- Nhật có quyền tăng thuế quan
- Bãi bỏ mọi nhợng địa trong thời gian 3 năm; còn vấn đề quyền lãnh sựtài phán rất phức tạp Các nớc đế quốc đòi Nhật phải xây dựng một chế độ luậtpháp tơng tự nh các nớc Âu - Mỹ Trong 12 năm tới, những ngời ngoại quốc phạmpháp sẽ do toà án hỗn hợp phân xử, trong đó thẩm phán ngời ngoại quốc chiếm sốlợng nhiều hơn Sau 12 năm, quyền phân xử hoàn toàn thuộc về tay ngời Nhật
Cuộc hội đàm sửa đổi điều ớc lần này cuối cùng cũng bị thất bại trớc phảnứng của phái tự do dân quyền và những ngời bất mãn với chủ nghĩa Âu hoá cực
đoan trong chính phủ Khi hiệp ớc này đợc công bố, quần chúng nhân dân phản
đối kịch liệt, bởi họ đánh giá hoà ớc này còn tệ hại hơn các hiệp ớc cũ Vì thế,sau hội nghị, ngoại trởng Inoue đã phải từ chức
Sau khi đợc bổ nhiệm vào chức ngoại trởng thay cho Inoue, Okuma đã chủtrơng thi hành chính sách thơng lợng riêng rẽ với từng nớc Năm 1888, ông đạidiện cho chính phủ Nhật Bản ký hoà ớc riêng rẽ với một số nớc nh Mỹ, Nga, Đức
và hứa sẽ bổ nhiệm thẩm phán ngời ngoại quốc vào Đại thẩm viện Chính phủMinh Trị tất nhiên không chấp nhận những yêu sách ấy vì nó tiếp tục vi phạmnghiêm trọng chủ quyền quốc gia Nhật Khi nội dung hiệp ớc vừa mới đợc tiết lộ,
do không giải quyết đợc những vấn đề cơ bản của quyền lợi quốc gia nên đã bịViện quý tộc và d luận trong nớc chống đối mạnh mẽ, vì thế nó đã không đợc thihành Còn ngoại trởng Ôkuma thì bị ngời của Genyosho - một tổ chức bí mật cựchữu bắn gãy một chân
Trang 25Những thất bại liên tiếp của Nhật Bản trong chiến dịch ngoại giao nhằmxoá bỏ những hiệp ớc bất bình đẳng cho thấy: Nhật cha đủ mạnh để buộc các c-ờng quốc Âu - Mỹ phải chấp nhận những điều khoản hoàn toàn có lợi cho mình.
Từ năm 1890, trong bối cảnh công cuộc duy tân của Nhật Bản gặt hái đợcnhiều kết quả và Nhật bớc vào trận “th hùng“ với đối thủ cạnh tranh truyền kiếp làTrung Quốc thì những cuộc đàm phán nhằm thủ tiêu những điều khoản bất bình
đẳng mới có kết quả Năm 1893, cuộc đấu tranh đòi xét lại các hiệp ớc bất bình
đẳng phát triển đến đỉnh cao, các đảng phái đối lập lợi dụng phong trào đấu tranhcủa quần chúng trong việc chống chính phủ để đòi thi hành chính sách ngoại giaocứng rắn Nhân vụ quân hạm Chisima của Nhật Bản va vào chiếc tàu Lawenmacủa Anh (1892), quân hạm Nhật bị chìm, chính phủ Nhật đòi Anh bồi thờng nhngthất bại trớc tình hình đó, Đảng cấp tiến (Đảng đối lập) và một số đoàn thể kháclập ra phái Kôrôpha (phái cứng rắn) công kích “đờng lối ngoại giao mềm yếu” và
đề ra “nền ngoại giao cứng rắn” Quan điểm của họ là phải bảo vệ những điều ớchiện hành đó đến khi có đợc điều ớc bình đẳng với phơng Tây
Trong kỳ họp quốc hội khoá V, tháng 11 năm 1893, giữa chính phủ và quốchội có ý kiến đối lập nhau xung quanh vấn đề ngoại giao mà trọng tâm là sửa đổicác điều ớc bất bình đẳng “Phái cứng rắn” yêu cầu vẫn giữ nguyên lập trờng tiếptục thi hành những điều ớc hiện hành nhng chính phủ cơng quyết không thôngqua Cuối cùng, quốc hội đã phải đình chỉ họp trong vòng 10 ngày Nhân cơ hộinày, nớc Anh - đối tợng đang đàm phán đã cho đình chỉ hội nghị với lý do chủnghĩa bài ngoại đang nổi lên ở Nhật Không còn cách nào khác, Thiên hoàng đãgiải tán quốc hội và các tổ chức của “phái cứng rắn” Những việc làm này khiếncho nhân dân hết sức bất bình Rốt cuộc, đờng lối của phái cứng rắn đã đợc sự ủng
hộ của quần chúng nhân dân Thế là việc đòi thi hành một đờng lối ngoại giaocứng rắn đã trở thành phong trào đấu tranh của quần chúng nhằm chống lại chínhphủ Tình hình trong nớc trở nên phức tạp buộc chính phủ Nhật phải suy tính
Điều này thể hiện trong bức th của ngoại trởng Muchumune Michu viết cho công
sứ Luân Đôn là Aoky rằng: “Tình hình trong nớc ngày càng cấp bách Nếu khônglàm đợc một cái gì đó đến mức khiến mọi ngời kinh hoàng thì không thể nào vãnhồi đợc tâm trạng nổi loạn” [12,83]
Cái “khiến mọi ngời kinh hoàng” đó chính là một cuộc chiến tranh Vậy làchính phủ Nhật đã chọn con đờng dùng chiến tranh để đẩy mâu thuẫn ra bênngoài Nhân sự kiện chiến tranh nông dân Giáp Ngọ ở Triều Tiên năm 1894, theocam kết trong hiệp ớc Thiên Tân, Nhật đã đổ bộ lên bán đảo này Để có sự hậuthuẫn vững chắc trong cuộc chiến tranh Nhật - Trung, Nhật đã tìm kiếm cho mìnhmột đồng minh trớc khi khai chiến Ngày 16 tháng 7 năm 1894, tức là hai tuần tr-
ớc khi cuộc chiến tranh Nhật - Trung bùng nổ, hiệp ớc Nhật - Anh đợc ký kết Mộtvấn đề đặt ra là: Anh chính là ngời gây nhiều trở ngại nhất cho Nhật trong việc sửa
đổi điều ớc, vậy tại sao lúc này Anh lại tỏ thiện cảm với Nhật và đồng ý sửa đổi
điều ớc trên nguyên tắc bình đẳng? Mấu chốt của vấn đề này là do Anh cũngtham vọng ở Viễn Đông nên khi thấy Nga xây dựng đờng xe lửa xuyên Xibêri đểbành trớng sang khu vực này, thì Anh thấy cần có một đồng minh để khống chế
ảnh hởng của Nga Đồng minh đó chính là Nhật Bản Theo nội dung hiệp ớc, hainớc đã đồng ý: thủ tiêu đặc quyền ngoại giao của Anh ở Nhật; Nhật phải mở cửa
Trang 26cho ngời Anh vào buôn bán, công nhận quyền tự do c trú, du lịch và kinh doanhcủa họ; quyền tự chủ về quan thuế của Nhật sẽ đợc giải quyết bằng cách tăng mứcthuế xuất nhập khẩu Với hiệp ớc này, Nhật Bản gần nh loại bỏ đợc điều ớc bấtbình đẳng mà Mạc Phủ Tôkugawa đã ký với Anh (trừ quyền tự chủ về quan thuế).Việc ký hiệp ớc với Anh đã có hệ quả quan trọng vì Anh là kẻ cản trở lớn nhấttrong việc xoá bỏ quyền lãnh sự tài phán của nớc ngoài ở Nhật Do đó, sau hiệp ớcAnh - Nhật (1894) và sau thắng lợi của Nhật trong cuộc chiến tranh Nhật - Trung(1894 - 1895), từ năm 1894 đến năm 1897 Nhật đã lần lợt ký với Mỹ, Đức, Pháp,Nga những hiệp ớc tơng tự thủ tiêu quyền lãnh sự tài phán ở Nhật Dù vậy, Nhậtvẫn cha hoàn toàn khôi phục đợc chủ quyền quan thuế Phải với một sức mạnhmới, “đó là thắng lợi của Nhật sau chiến tranh Nga - Nhật, thì các nớc phơng Tâybuộc phải phục hồi quyền quan thuế (1911) cho Nhật” [30,211] Nh vậy, chiếntranh đã trở thành nhân tố làm thống nhất các đảng phái với chính phủ để đi đến
ký các hiệp ớc bình đẳng Và đến lợt mình, những hiệp ớc bình đẳng đó lại trởthành công cụ hiệu nghiệm cho chính sách ngoại giao xâm lợc và đóng vai trò hậuthuẫn cho sự thắng lợi trong các cuộc chiến tranh Nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽthấy giữa chính phủ và các đảng phái trong quốc hội không hề đối lập nhau trongviệc xét lại các điều ớc bất bình đẳng Trái lại, họ đã đạt đợc sự nhất trí rất caonhằm tạo ra cơ sở vững chắc cho chính sách ngoại giao xâm lợc, nếu có khác thìchỉ là ở mức độ cho một dự thảo về hiệp ớc bình đẳng mà thôi Chính phủ NhậtBản đã chủ trơng thoả hiệp để nhận đợc sự ủng hộ của các đế quốc phơng Tây chocuộc chiến tranh sắp diễn ra, khi thực lực của mình cha mạnh Còn “đờng lốingoại giao cứng rắn” của các đảng phái đối lập cũng đã bao hàm các chủ trơngthực hiện những hiệp ớc bình đẳng, khôi phục độc lập dân tộc và “đồng điệu“ vớichủ trơng có tính chất xâm lợc của giai cấp thống trị Chỉ có cuộc đấu tranh củanhân dân Nhật Bản mới thực sự chính nghĩa, vì họ mong muốn thoát khỏi sự ràngbuộc của các cờng quốc phơng Tây, giành lại quyền độc lập dân tộc thiêng liêngcủa mình Nhng cuộc đấu tranh đó đã bị chính phủ lợi dụng để gây sức ép với cáccờng quốc phơng Tây, phục vụ cho tham vọng “bá chủ châu á” Thế là các cuộc
đấu tranh của các đảng phái đối lập, cuộc đấu tranh của nhân dân thực tế đã giúpchính phủ mau chóng ký kết các hiệp ớc bình đẳng và xem các hiệp ớc đó nh lànhân tố đảm bảo thắng lợi cho những cuộc chiến tranh xâm lợc
So sánh lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị với lịch sử Thái Lan trongthời gian này, chúng ta thấy có một điều trùng hợp thật lý thú Kể từ khi phải kýcác hiệp ớc bất bình đẳng năm 1858 với phơng Tây (tơng tự Xiêm), phải đến năm
1899, Nhật mới thủ tiêu đợc quyền lãnh sự tài phán của nớc ngoài và đến năm
1911 mới khôi phục đợc chủ quyền quan thuế Xiêm so với Nhật Bản trong vấn đềnày về đại thể là tơng tự Quyền lãnh sự tài phán của nớc ngoài ở Xiêm đã đợc xoá
bỏ vào các năm 1907 - 1909, còn việc khôi phục hoàn toàn chủ quyền quan thuếthì có muộn hơn Rõ ràng là “Xét trên bình diện quan hệ quốc tế, nền độc lập củaNhật Bản cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trên những mức độ nhất định của nó,
có những nét tơng tự nh Thái Lan ở đây, có thể thấy một sự trùng lập khá lý thú
về phơng diện niên đại Nếu nh ở Thái Lan, những hiệp ớc bất bình đẳng mà TháiLan phải ký với các nớc t bản phơng Tây diễn ra chủ yếu dới thời Mông kút(Rama IV, 1851 - 1868) thì ở Nhật Bản, những hiệp ớc tơng tự (tuy mức độ phụ
Trang 27thuộc và tính chất bất bình đẳng có khác nhau) cũng diễn ra vào cuối thời kỳ Mạcphủ Tôkugawa, kể từ khi pháo thuyền của đô đốc Perry đến Nhật năm 1853 cho
đến khi cách mạng t sản nổ ra năm 1868 Và nếu nh ở Thái Lan dới thờiChulalongcon (1868 - 1910), bằng những biện pháp duy tân và đấu tranh ngoạigiao khéo léo, Thái Lan đã dần dần thủ tiêu đợc nhiều hiệp ớc bất bình đẳng màMôngkút đã ký với phơng Tây (tuy thực ra cái giá mà Thái Lan phải trả trong cuộc
đấu tranh này “đắt” hơn rất nhiều so với Nhật Bản), thì ở Nhật Bản, dới thời củaHoàng đế Minh Trị (1868 - 1912) cũng bằng con đờng duy tân tạo nên sức mạnhcủa mình, Nhật Bản cuối cùng cũng đã thủ tiêu đợc các hiệp ớc bất bình đẳng màMạc phủ Tôkugawa phải ký kết trớc đó với các nớc t bản phơng Tây” [46,118]
Nh vậy, trong một tình thế khó gỡ, để có đợc hoà bình, và toàn vẹn lãnhthổ, chính quyền Tôkugawa đã phải ký với các nớc phơng Tây những điều ớc bấtbình đẳng Nửa thế kỷ sau, các thế hệ con cháu đã chữa lành đợc vết thơng lòngcủa các bậc tiền bối Họ chính là những con ngời năng động, nhạy bén, biết khơinguồn cho sức mạnh truyền thống trỗi dậy để tiếp sức, nâng đỡ cho công cuộchiện đại hoá đất nớc Một nớc Nhật trẻ trung, cờng thịnh đã đủ sức để tự “cởi trói”cho mình “Nhật Bản đã hoàn toàn thoát khỏi một nớc lệ thuộc, xoá bỏ nguy cơtrở thành một thuộc địa và trở thành một cờng quốc đi xâm chiếm thuộc địa”[30,117]
mà còn muốn đua chen trong việc cạnh tranh thị trờng thế giới Vậy là, để nângcao vị thế của mình trên trờng quốc tế cũng nh để có đợc một chỗ đứng dới “ánhnắng mặt trời” Nhật Bản đã hoạch định chính sách đối ngoại thích ứng bằng cách
sử dụng lợi thế khu vực ngõ hầu giúp cho Nhật Bản đạt đợc ý nguyện” - [57,49].Chính sách đối ngoại xâm lợc bắt đầu từ đó mà nguyên tắc của nó là: lấy chiếntranh làm công cụ chính trong việc bành trớng lãnh thổ, làm động lực quan trọngcho sự phát triển của chủ nghĩa t bản, là phơng tiện để củng cố địa vị, quyền lợi,ngai vàng của Thiên hoàng và liên minh t sản- quý tộc Nh vậy, bi kịch nhngkhông hề nghịch lý của vấn đề là ở chỗ: trong khi Nhật Bản đang phải căng sức ra
đối phó với sự xâm nhập, bành trớng của chủ nghĩa thực dân t bản phơng Tây và
có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự bành trớng này, thì Nhật Bản lại đồng thờithi hành chính sách đối ngoại bành trớng đối với nhiều nớc láng giềng trong khuvực Không nghịch lý bởi xét trên bình diện lý luận và nhìn sâu hơn vào thực tiễnlịch sử thì: “trong quan hệ giữa các vơng quốc ngày xa, việc đánh nhau, diệt nhau
là chuyện bình thờng” [32,40] Vì thế quan hệ giữa quốc gia Nhật Bản và các nớcphong kiến láng giềng cũng không nằm ngoài quy luật đó
Trang 28Vị thế mới của Nhật Bản sau cải cách Minh Trị đã giúp cho Nhật Bản cóthể thực thi chính sách đối ngoại khác trớc Bản thân chính sách mới này có chứanhiều nét khác biệt, khác biệt nhng lại rất thống nhất ảnh hởng của cuộc cáchmạng t sản không triệt để, cũng nh hoàn cảnh lịch sử của thế giới đã làm cho NhậtBản phát triển theo một hớng riêng biệt Chủ nghĩa quân phiệt nhanh chóng hìnhthành, một mặt nó vừa khuất phục các đế quốc khác, một mặt nó vừa tiến hànhchiến tranh để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế t bản.
Nh chúng ta đã biết, sau cuộc cách mạng t sản 1868, Nhật Bản đã có mộtthị trờng thống nhất trong cả nớc Đó là một điều kiện vô cùng quan trọng cho sự
phát triển của nền kinh tế hàng hoá Song, “dới chế độ t bản, thị trờng trong nớc
tất nhiên gắn liền với thị trờng bên ngoài” [33,49] Điều đó cần với tất cả các quốcgia t bản, nhng đối với nớc Nhật thì càng khẩn thiết hơn bởi thị trờng trong nớcvốn đã nhỏ hẹp, lại phải chịu bao hậu quả nặng nề của các hiệp ớc bất bình đẳng.Vì thế, thị trờng đã trở thành động lực cho chính sách đối ngoại xâm lợc của NhậtBản Ngay từ đầu, chính phủ Minh Trị đã quân sự hoá nền kinh tế, biến n ớc Nhậtthành một đế quốc phong kiến quân sự Một điều rất phổ biến là hầu hết các nhàmáy công nghiệp quân sự đều nằm trong tay chính phủ Do đó, chính phủ hoàntoàn có thể chủ động trong việc tăng cờng quân bị, chạy đua vũ trang Đành rằngnớc Nhật rất quan tâm đến lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhng khoa học kỹ thuật gắnliền mục tiêu quân sự, gắn liền với mục đích xây dựng lực lợng hải - lục quân hiện
đại đợc quan tâm trớc tiên Để phục vụ cho toan tính của các nhà lãnh đạo, chínhphủ đã đề ra chủ trơng “phú quốc cờng binh” Mà thực chất của “phú quốc” ở đâychính là tăng cờng bóc lột nhân dân để làm giàu cho kho của nhà nớc, tận dụngsức dân để xây dựng quân đội mạnh Điều đó giải thích vì sao bên trong thì chínhphủ Nhật tiến hành đàn áp nhân dân mình, còn bên ngoài thì xâm lợc các dân tộckhác Trong thời kỳ Minh Trị, Nhật Bản rất chú trọng phát triển công nghiệp nhngtrọng tâm là công nghiệp quân sự Nhiều nhà máy quân sự đợc thành lập dới sựquản lý, điều hành của chính phủ, chẳng hạn nh xởng pháo binh Tôkyô, xởngpháo binh osaka, cơ sở chế tạo thuốc súng Itabasioa Tất cả đều phục vụ chomục tiêu bành trớng lãnh thổ
Theo bớc chân của các cờng quốc Âu - Mỹ, chính phủ Nhật đã xây dựng
đ-ợc một nhà nớc hiện đại và lấy đó làm cơ sở để thu hồi lại những quyền lợi dân tộc
đã mất, đồng thời chuẩn bị điều kiện mọi mặt để tiến hành chiến tranh Không chỉdừng lại ở việc tạo ra cho mình một thực lực mạnh mà chính phủ Nhật còn tínhtoán cẩn trọng cho mọi đờng đi nớc bớc của mình Đó chính là việc đề ra các họcthuyết xâm lợc - công cụ tuyên truyền, kích động tâm lý dân tộc sô vanh để biếntham vọng của chính phủ trở thành hiện thực Tiêu biểu cho học thuyết mang t t-ởng sô vanh đó chính là thuyết “chinh phục Triều Tiên” và “Ranh giới lợi ích” Tờ
“Tôkyô hàng ngày” - cơ quan ngôn luận của chính phủ đã tuyên truyền một cáchrầm rộ về việc “Nhật Bản phải tranh giành lấy thuộc địa” [51,78] Điều đáng nói
là trong khi các nớc á châu đang “loay hoay” tìm cách đối phó với Tây phơng thìngay trong lòng châu á đã có một “chú tiểu da vàng” mơ tởng “biến nớc đại Nhậtthành một nớc Anh ở châu á”
Thực tế thì không phải chờ đến khi chủ nghĩa t bản Nhật phát triển, họ mới
có tham vọng thống trị châu á Ngay từ khi Toyotomi Hideyoshi lên nắm quyền,
Trang 29ông đã có những tham vọng về lãnh thổ đối với một số nớc châu á láng giềng và
đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lợc Trong khoảng từ năm 1592 đến năm
1598, Nhật Bản đã ào ạt mở hai cuộc tấn công sang bán đảo Triều Tiên* với mộtlực lợng lên tới 340.000, với sự tham gia của rất nhiều lãnh chúa giàu và có thế lựcnhất Các nhà sử học từng đa ra nhiều lý do để giải thích về hành động xâm lợccủa quân đội Nhật Bản “Ngoài những nguyên nhân thuộc ý thức hệ, về lòng tựtôn của nớc Nhật Bản trung tâm, về sự trội vợt của Nhật Bản trong quan hệ chínhtrị ở Đông Bắc á và khả năng quân sự hùng mạnh, từ phơng diện kinh tế,Toyotomi còn muốn thông qua cuộc chiến tranh này để mở rộng phạm vi hoạt
động và ảnh hởng của Nhật Bản sang các nớc trong khu vực, muốn gắn liền quyềnlợi của đảo quốc này với đại lục châu á” [18,118] Những tham vọng này cứ lớndần theo năm tháng Năm 1873, ngời Nhật đã xây dựng thuyết “chinh phục TriềuTiên”, đối tợng chủ yếu của nó là Triều Tiên Sau đó học thuyết này lại đợc pháttriển dới một tên gọi khác, đó là “Ranh giới lợi ích” (1890) Đối tợng hớng tới bâygiờ đã đợc mở rộng ra cả châu á Quá trình ấy tơng ứng với thời kỳ phát triển chủnghĩa t bản Nhật và sự lớn mạnh của chủ nghĩa quân phiệt Thuyết “chinh phụcTriều Tiên” không chỉ đơn thuần nhằm vào việc thôn tính Triều Tiên mà việc xâmchiếm nớc này chính là màn khởi đầu quan trọng, là bớc đệm để tiến hành xâm l-
ợc Trung Quốc Không phải ngẫu nhiên chính phủ Nhật chọn Triều Tiên làm mắtxích đầu tiên cho sự đột phá của mình, mà bởi lẽ nó có một vị trí chiến lợc quantrọng trong chính sách đối ngoại xâm lợc của họ
* Lịch sử Triều Tiên đã có nhiều lần thay đổi tên nớc (Triều Tiên hay Hàn Quốc) Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất cách gọi là Triều Tiên để tiện theo dõi.
Triều Tiên đợc xem nh là một thị trờng không thể thiếu, một căn cứ quân sự đặcbiệt Do nằm lọt giữa ba quốc gia mạnh (phía bắc là Nga, phía tây là Trung Quốc,
và phía nam là Nhật Bản) nên Triều Tiên đã sớm trở thành đối tợng tranh chấp củaNga, Trung, Nhật và các cờng quốc khác Trong số các quốc gia muốn khẳng
định chủ quyền của mình ở Triều Tiên thì Trung Quốc là nớc có nhiều thuận lợivì nớc này đã có mối liên hệ chặt chẽ với Triều Tiên từ trong truyền thống, nhất
là về mặt kinh tế - chính trị - văn hoá; vua Triều Tiên là ch hầu của hoàng đếTrung Quốc và theo thoả thuận, trong trờng hợp cần thiết, Trung Quốc có thể đaquân sang đất Triều Tiên Thế nhng, những biểu hiện trên đây chỉ là dấu hiệu của
sự lệ thuộc về mặt hình thức, còn trên thực tế Triều Tiên vẫn là một quốc gia độclập, không thuộc quyền cai trị của quốc gia nào cả
Tham vọng của Nhật Bản ngày càng lộ rõ Cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90của thế kỷ XIX, ngoại trởng Inoue Kosusi đã tuyên truyền trắng trợn: “Hãy làmcho đế quốc Nhật của chúng ta trở thành một đế quốc kiểu Âu châu, làm chonhân dân Nhật Bản ta trở thành nhân dân Âu châu và hãy tạo ra một đế quốc Âuchâu mới trên bộ mặt của phơng Đông” [12,83] Cũng ngay trong hội nghị đếquốc lần một đợc khai mạc vào ngày 29 tháng 11 năm 1890, thủ tớng YaomagataAutoma đã đọc diễn văn nêu rõ: Nhật Bản sẽ không dừng lại ở “ranh giới có chủquyền” mà còn phải giữ cho đợc các khu vực liên quan đến an toàn biên giới củaNhật làm “ranh giới lợi ích” “Ranh giới lợi ích” trớc mắt của Nhật là Triều Tiên
và Trung Quốc, còn “ranh giới lợi ích” lâu dài chính là toàn bộ lục địa châu á.Theo các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật thì lục địa châu á chính
là nơi đáp ứng đầy đủ điều kiện của nền kinh tế Nhật Bản, là địa bàn còn sót lại