1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng (diospyros kaki l) tại điện biên

95 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 6,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Lò Hải Dinh Tên Luận văn: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng Diospyros kaki.L tại Điện Biên Ngành: Khoa học cây trồng Mã số:

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÒ HẢI DINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CÂY HỒNG (Diospyros kaki L) TẠI ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Vũ Mạnh Hải

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lò Hải Dinh

Trang 3

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Sau đại học Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình.

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thống kê tỉnh Điện Biên và UBND, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến nông

- Khuyến ngư, Trạm Bảo vệ Thực vật và cán bộ, nhân dân trên địa bàn huyện Điện Biên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình và người thân đã luôn luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn thành khóa học và luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lò Hải Dinh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu câu 4

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 4

1.2.2 Yêu cầu 4

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 4

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 5

2.1.1 Cơ sở khoa học, lý luận của việc điều tra, khảo sát cây hồng ở Điện Biên 5 2.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu quy luật ra cành ở hồng 5

2.1.3 Cơ sở khoa học của việc phun chất điều hòa sinh trưởng 6

2.1.4 Cơ sở khoa học của việc phun phân bón qua lá 7

2.2 Một số nghiên cứu về nguồn gốc và phân loại hồng 8

2.2.1 Những nghiên cứu về nguồn gốc 8

2.2.2 Những nghiên cứu về phân loại 8

2.3 Những nghiên cứu về phân bố, tình hình trồng hồng 9

2.3.1 Tình hình sản xuất và phân bố hồng trên thế giới 9

2.3.2 Những nghiên cứu về phân bố và sản xuất hồng ở Việt Nam 9

2.4 Đặc điểm sinh vật học của cây hồng 11

2.4.1 Đặc điểm của rễ và hệ rễ 11

2.4.2 Đặc điểm thân, cành 12

2.4.3 Đặc điểm lá 13

Trang 5

2.4.4 Đặc điểm hoa 13

2.4.5 Đặc điểm quả và hạt 14

2.5 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hông 15

2.5.1 Nhiệt độ 15

2.5.2 Mưa và ẩm độ 17

2.5.3 Ánh sáng 17

2.5.4 Đất 18

2.6 Nhu cầu dinh dưỡng của cây hồng và kỹ thuật trồng 19

2.6.1 Nhu cầu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho cây hồng 19

2.6.2 Kỹ thuật đốn tỉa, tạo hình, tạo quả 20

2.7 Chất điều hòa sinh trưởng, phân bón qua lá và ứng dụng 21

2.7.1 Giới thiệu chung về chất điều hòa sinh trưởng 21

2.7.2 Giới thiệu chung về phân bón qua lá cho cây trồng 25

Tóm tắt về phần tổng quan 28

Phần 3 Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu 29

3.1 Vật liệu nghiên cứu 29

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

3.3 Nội dung nghiên cứu 29

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29

3.4.1 Điều tra hiện trạng sản xuất hồng tại Điện Biên 29

3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và thời kỳ vật hậu của giống hồng Điện Biên tại Điện Biên. 30

3.4.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng Điện Biên tại Điện Biên. 31

3.5 Xử lý số liệu 34

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 35

4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên 35

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

4.1.2 Dân số, dân tộc và lao động 38

4.2 Điều tra hiện trạng sản xuất cây hồng tại Điện Biên 39

4.3 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và thời kỳ vận hậu của giống hồng Điện Biên 40

Trang 6

4.3.1 Đặc điểm thân, cành, dạng tán giống hồng Điện Biên 40

4.3.2 Khả năng sinh trưởng các đợt lộc ở cây hồng Điện Biên 40

4.3.3 Đặc điểm các cành lộc cây hồng Điện Biên 41

4.3.4 Đặc điểm lá của giống hồng Điện Biên 42

4.3.5 Đặc điểm quả giống hồng Điện Biên 43

4.4 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng quả hồng Điện Biên tại Điện Biên 44

4.4.1 Nghiên cứu liều lượng phân bón thích hợp qua rễ 44

4.4.2 Nghiên cứu bổ sung dinh dưỡng, chất điều tiết sinh trưởng qua lá 50 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Kiến nghị 58

Tài liệu tham khảo 59

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Sự phân bố của bộ rễ cây hồng 20 năm tuổi ở Gia Lâm, Hà Nội

11

Bảng 2.2 Đặc điểm các giống hồng chính ở Nhật Bản 15

Bảng 3.1 Thời gian và tỷ lệ bón phân thí nghiệm 32

Bảng 4.1 Thời gian xuất hiện của các đợt lộc trong điều kiện tự nhiên 40

Bảng 4.2 Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc Xuân, lộc Hè, lộc Thu 42

Bảng 4.3 Đặc điểm lá của giống hồng Điện Biên 43

Bảng 4.4 Đặc điểm quả và năng suất hồng Điện Biên 43

Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng quả của giống hồng Điện Biên 45

Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống hồng Điện Biên ở các lượng

Bảng 4.10 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất hồng Điện Biên ở các

lượng bón phân khác nhau* 48 Bảng 4.11 Chất lượng quả hồng Điện Biên ở các lượng bón phân khác nhau*

đên thời gian ra lộc và đặc điểm đợt lộc hè - lộc thu của giống hồng Điện

Biên 53

Trang 9

Bảng 4.17 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng và chất điều tiết sinh trưởng qua

lá đên tỷ lệ rụng quả và tỷ lệ quả cho thu hoạch giống hồng Điện Biên

54 Bảng 4.18 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng và chất điều tiết sinh trưởng qua

lá đên năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống hồng Điện Biên 55 Bảng 4.19 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng và chất điều tiết sinh trưởng qua

lá đên chất lượng quả giống hồng Điện Biên 55

Bảng 4.20 Thành phần sâu, bệnh hại chính trên cây hồng Điện Biên ở các công

thức bổ sung dinh dưỡng và chất điều tiết sinh trưởng khác nhau

56

Bảng 4.21 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 57

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Lò Hải Dinh

Tên Luận văn: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng (Diospyros kaki.L) tại Điện Biên

Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60 62 01 10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp

Việt Nam Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở điều tra hiện trạng sản xuất và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật mà xây dựng quy trình canh tác phù hợp, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của cây hồng trên địa bàn tỉnh Điện Biên.

Phương pháp nghiên cứu

Điều tra hiện trạng sản xuất hồng tại Điện Biên

Thu thập những thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên; điều tra bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng; sử dụng phiếu điều tra.

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và thời kỳ vật hậu của giống hồng Điện Biên tại Điện Biên

Sử dụng phương pháp nghiên cứu tập đoàn đối với cây lâu năm trên vườn trồng sẵn Các điểm theo dõi được lựa chọn đại diện cho các loại đất trồng hồng, mỗi điểm chọn 3 - 5 cây theo dõi Nghiên cứu các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng quả hồng Điện Biên.

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng Điện Biên

Nghiên cứu liều lượng phân bón thích hợp qua rễ

- Chọn cây thí nghiệm: chọn vườn có cây sinh trưởng, năng suất, chất lượng quả, tương đối đồng đều, độ tuổi 8 - 10 năm.

- Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí với 4 công thức, mỗi công thức 3 cây, các công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên đày đủ (RCBD) Thí nghiệm được nhắc lại 3 lần Cụ thể các công thức được bố trí như sau:

Trang 11

4) Công thức 4 (Đ/c của dân): 0,3 kg N + 0,1 kg P2O5 + 0,2 kg K2O(4) Nghiên cứu bổ sung dinh dưỡng qua lá và chất điều tiết sinh trưởng

qua rễ Trên nền thí nghiệm đồng đều, theo tập quán người dân địa phương Thực hiện với 5 công thức và sử dụng các chất GA 3 , NAA, siêu canxi 20S, SP vườn sinh thái và phun nước lã công thức đối chứng của người dân.

- Thời gian phun: phun 2 lần, lần thứ nhất phun sau khi hoa nở rộ (trường hợp gặp thời tiết xấu, thì muộn nhất là trước rụng sinh lý lần 1) và lần thứ hai, phun sau lần thứ nhất 7 - 10 ngày.

Nghiên cứu các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng quả hồng Điện Biên.

Biên có những đặc điểm đặc trưng: Cây sinh trưởng khỏe, cành lộc dài, phân cành hơi đứng, chín muộn hơn nhiều so với giống hồng khác Lá dạng ovan, đầu lá nhọn, mép lá phẳng, không xẻ thuỳ, gân lá màu trắng xanh, mặt dưới lá không có lông tơ ; hoa nhỏ, ra hoa ở nách lá, hoa đơn 4 cánh màu vàng nhạt; quả hình trụ dài, hơi vuông có khía nhẹ ở chóp quả, đỉnh quả lõm, tai quả to dày và hơi cụp xuống, không hạt hoặc rất ít hạt; khối lượng quả trung bình: 113,53 g/quả, năng suất trung bình (cây trên 10 tuổi): 23,6 kg/cây Thịt quả màu vàng đỏ, vị ngọt đậm, không chát.

N+ 0,3 kgP2O5 + 0,5kg K2O giúp tăng tỷ lệ quả thu hoạch, năng suất quả cao nhất đạt 28,77kg/cây (tăng 23,45% so với đối chứng), tăng chất lượng quả.

sinh trưởng NAA, GA3 có tác dụng tốt trong việc làm giảm tỷ lệ quả rụng, tăng năng suất cây hồng Điện Biên, trong đó, sử dụng GA3 nồng độ 40ppm cho kết quả tốt nhất, năng suất trung bình đạt 25,97kg/cây (tăng 8,86% so với đối chứng).

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Lo Hai Dinh

Thesis title: Research on some technical measures to increasing productivity of persimmon (Diospyros kaki.L) in Dien Bien

Major: Crop science Code: 60 62 01 10

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

(VNUA) Research Objectives

Building suitable cultivation process of persimmon, improving the productivity and economic efficiency of persimmon in Dien Bien.

Research Methods

A survey of producing persimmon (Diospyros kaki.L) in Dien Bien

Collecting natural conditions, socioeconomic in Dien Bien province, rural appraisal method was carried out by using questionnaires and were performed jointly with community members.

Research on agronomical characteristic and the phenology period of Dien Bien persimmon in Dien Bien

Using consortium research method for perennial plants in the garden The monitoring points were selected to represent the soils that had grown persimmon, each point selected 3-5 plants and then evaluated morphological characteristics, growth and development, productivity and quality of Dien Bien persimmons.

Research on some technical measures to increasing productivity of Dien Bien persimmon

Research on the level of fertilizer through the roots

The experimental plants: the persimmon garden was selected to relatively uniform for yield, fruit quality, and ages of persimmon between 8 and 10 years Experimental design: there were four treatments in experiment, three plants were grown in each treatment Experimental design would be followed RCBD and repeated with three times And the experimental was designed as following:

The first treatment: 50 kg of manure + 0,5 kg N + 0,3 kg P2O5 + 0,5kg K2O(1)

The second treatment: 50 kg of manure+ 0,2 kg N + 0,12 kg P2O5 + 0,16 kg K2O(2);

The third treatment: 30 kg compost (3) + treatment 1, without manure.

The fourth treatment: (control treatment of farmers): 0,3 kg N + 0,1

kg P2O5 + 0,2 kg K2O(4).

Trang 13

Researched on nutritional supplements thrown the leaf and growth regulator

Persimmon tree and experiment design were collected as the same with experiment of Research on the level of fertilizer through the roots This

20S, SP ecological garden And the control treatment was sprayed by pure water. Time spraying: divided into two times, the first times of spraying was after bloom (if the weather was bad, the spray was carried out before the first of shedding physiological) and the second times was carried out after the first spraying about 7-10 days.

Evaluated morphological characteristics, growth and development, productivity and quality of Dien Bien persimmons.

The results showed Dien Bien persimmon trees had typical characteristics Persimmon trees grew healthy, the stems were long, branches were vertically and the fruits ripen later than other persimmon varieties Besides, Dien Bien persimmon had some other morphological characteristics such as: Persimmon had ovate or obovate leaves that were shiny on top and abstention of pubescent beneath The leaf margin were smooth Leaves were without depth of lobbing, and had white veins Persimmon flowers were small and had yellowish white color In shape of fruits were cylinder without seed or a few of seed In color, the ripe fruits of the cultivated had red-orange color and their taste were sweet flavor and not had astringency The average of flesh weight value was 113,53 g/fruit and the average of yield (Persimmons were grown at least 10 years) was 23,6 kg/fruit.

Application of the first treatment made increasing fruits, high productivity, and quality of flesh fruit The highest productivity got 28,77 kg/plant (increased 23,45% compared with control treatment).

Trang 14

Additional nutrition through the leaf including Super calcium, CP and growth regulator NAA, GA 3 had a good effect in reducing the rate of loss fruits, increasing yield of Dien Bien persimmons The GA 3 was used with 40ppm concentration produced the best results, the average productivity value was 25,97kg / plant (increased 8.86% compared to control treatment).

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ lâu, người làm vườn ở nước ta đã hiểu rõ trồng cây ăn quả là một nghề kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có thu nhập ổn định, vừa

có thể bảo vệ môi trường, đặc biệt là ở các vùng núi cao, đất dốc không thuận lợi cho việc trồng cây lương thực và các cây ngắn ngày khác.

Phát triển cây ăn quả mang tính chất hàng hóa nhằm tăng sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và xuất khẩu là định hướng chiến lược được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt biệt quan tâm với mục tiêu đạt 11.000.000 tấn quả vào năm 2005 Nghề trồng cây ăn quả giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong bảy mặt hàng cây trồng có giá trị xuất khẩu cao Việt Nam, bao gồm lúa, cà phê, cao su, hạt điều, mía và rau quả.

Trồng cây ăn quả mang lại thu nhập cao hơn nhiều so với cây trồng khác Kết quả thu được từ nhiều công trình điều tra cho thấy trên cùng một đơn vị diện tích, cây ăn quả đem lại thu nhập cao gấp từ 2-6 lần so với cây lương thực Hiện nay, phong trào trồng cây ăn quả tăng nhanh và có chiều hướng phát triển mạnh Với điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay của nước ta, khi vấn đề về nhu cầu lương thực cho xã hội đã được giải quyết một cách cơ bản, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện thì nhu cầu về chất lượng bữa ăn đảm bảo đủ dinh dưỡng

và độ an toàn cao đang là sự quan tâm của mọi tầng lớp xã hội.

Cây hồng được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc như: Bắc Giang, Hòa Bình, Lạng Sơn, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn,…và một số địa phương ở Tây Nguyên như Đà Lạt, Đăk Nông… Mai Xuân Lương (1994).

Cây hồng (Diospiros kaki.L) là một trong những cây ăn quả á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao Quả hồng chứa 10 - 16% đường tổng số, chủ yếu

là đường glucose và fructose, hàm lượng đường saccarose có rất ít nên

có thể sử dụng cho người ăn kiêng,lượng axit thấp khoảng 0,1%, ít khi đạt 0,2% Ngoài ra, trong quá trình chín, quả hồng còn chứa vitamin C, PP, B1, B2, caroten, hợp chất hữu cơ có chứa sắt và chất tanin.

Quả hồng có hương vị thơm ngon được dùng rộng rãi để ăn tươi hoặc chế biến Chittendon RHS Dictionary of Plants plus Supplement (1956) Chie J.R., (1984),Huxley A., (1992) Simmons A E (1972 Uphof J C Th Wenhenim

Trang 16

(1959), Usher G A (1974) Sau khi phơi khô, bề mặt quả được phủ một lớp đường và lượng đường có thể tăng lên đến 60 - 62% Chế biến như sấy khô, làm mứt, làm bánh nướng, bánh ngọt, bánh mì, vỏ quả có thể được nghiền thành bột và sử dụng làm viên ngọt Facciola S., (1990) Cornucopia – A Sourcs book of Edible Plants Kampong Publications ISBN 0-9628087-0-9.

Ở nhiều nước châu Á người ta đánh giá hồng có giá trị dinh dưỡng

và phẩm vị ngon hơn nhiều loại quả khác Ở Trung Quốc và Nhật Bản, hồng là một trong những thứ quả chính trong khẩu phần ăn hàng ngày Người châu Âu

và vùng Địa Trung Hải quen với cây hồng và đánh giá nó khá cao, họ cho rằng hồng ăn ngọt, hương vị rất đậm đà.

Ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể con người, quả hồng và các bộ phận của cây hồng còn là những vị thuốc quí điều trị một số bệnh thường gặp.

Quả chín dùng để ăn tươi, chữa bệnh táo bón, bệnh trĩ, giảm sốt, chống say rượu, bớt căng thẳng, khi qua chế biến được sử dụng để chữa bệnh tiêu chảy Đặc biệt quả hồng còn chứa hàm lượng Iốt đáng kể có tác dụng phòng ngừa bệnh bướu cổ Vũ Công Hậu (1996), Đỗ Tất Lợi (1986), Trần Thế Tục và cs (1998), Thanh Vân, Ngô Xuân Bình (2003), Duke J A and Ayensu E S (1985) Hồng khô được sử dụng chữa bệnh viêm phế quản, bệnh ho khan, trừ giun sán, chống chảy máu, chữa long đờm và phục hồi sức khỏe Cuống và đài hoa dùng

để chữa ho và nấc rất tốt Dịch quả xanh dùng để chữa bệnh cao huyết áp Bown D (1995), Duke J A and Ayensu E S (1985) Thân gỗ cứng, bền với thớ gỗ đẹp, được sử dụng làm đồ nội thất bền chắc Simmous A E Drowing Unusual Fruit David and Chales (1972) Lá có thể sử dụng để tăng hương vị cho củ cải muối (như dưa chua) Facciola S (1990).

Theo Kotami và et al (2000) cho biết: Chất tanin và các hợp chất của nó có nhiều tác dụng sinh lý như kháng khuẩn, chống dị ứng, làm giảm chứng cao huyết áp.

Quả hồng còn được dùng làm thuốc bổ chống suy nhược, chữa ho, nấc, đầy bụng Khi làm mứt, đường tiết ra dùng chữa đau và khô cổ họng Nước ép từ quả hồng chưa chín phơi hay sấy khô dùng chữa huyết áp cao Thân gỗ cứng, bền với thớ gỗ đẹp, được sử dụng làm đồ nội thất bền chắc Lá có thể để tăng hương vị cho củ cải muối (muối dưa chua).

vùng sinh thái khác nhau đã hình thành nên phức hệ nguồn gen hồng tương đối

Trang 17

phong phú, nhiều giống đã trở thành nổi tiếng như: Hồng Hạc Trì, Hồng Lục Yên, Hồng Quản Bạ, Hồng Đoàn Kết, Hồng Đà Lạt, Hồng Bắc Kạn Theo

đó, tùy theo từng tiểu vùng khí hậu, mỗi loại hồng ở mỗi địa phương đều có những đặc điểm quý riêng biệt khác nhau.

Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới Tây Bắc Có nhiều diện tích nằm trong địa phận biên giới của Tổ quốc, người dân nhìn chung vẫn chưa có ý thức cao

về sản xuất hàng hóa các loại cây ăn quả Mặt khác, do những năm trước đây, tình hình xã hội ở các thôn, bản còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, cũng là nguyên nhân góp phần làm cho việc trồng và mở rộng sản xuất loại cây ăn quả ở đây khó phát triển Vì vậy, cũng giống như nhiều loại cây ăn quả khác, người dân trong vùng chỉ trồng hồng mang tính tự phát với số lượng và diện tích nhỏ hẹp.

Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, do điều kiện giao thông thuận lợi, du lịch phát triển mạnh, hàng hóa lưu thông ngày càng nhiều từ đó, điều kiện kinh tế trong tỉnh phát triển theo, nhu cầu sử dụng các sản phẩm quả trong tỉnh ngày càng cao Song song với đó, là các chính sách kinh tế, xã hội mới của Đảng, Nhà nước, cũng như chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội được đưa ra nhằm thay đổi phương thức sản xuất, thúc đẩy kinh tế xã hội trong tỉnh ngày càng cụ thể và hiệu quả Đồng thời, do hiệu quả kinh tế mang lại từ việc bán sản phẩm quả ngày càng cao, nên nhận thức của người dân trong vùng về giá trị kinh tế của các loại quả cũng ngày càng được nâng lên rõ rệt Vì vậy, diện tích cây ăn quả nói chung hay cây hồng nói riêng trong tỉnh ngày càng được mở rộng.

Điện Biên có diện tích tự nhiên 956.290 ha, chiếm 2,89 % diện tích của cả nước Diện tích đất nông nghiệp 721.858ha trong đó diện tích trồng cây ăn quả 2168,4 ha, diện tích trồng hồng khoảng 50ha Giống hồng được trồng ở Điện Biên, là một giống có nhiều đặc điểm quý, khác với các giống hồng ở các địa phương khác (quả lớn, mã đẹp, vị ngọt, chín muộn, khả năng cho năng suất, có giá trị kính tế cao; giá bán trên thị trường từ 30.000 - 35.000đ/kg), được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng Tuy nhiên, hiện tại người dân vẫn chưa chú trọng đầu tư thâm canh, không bón phân hoặc bón với lượng rất ít Và cũng chưa có những nghiên cứu đầy đủ làm cơ sở cho việc bổ sung hoàn thiện quy trình chăm sóc phù hợp cho giống cây ăn quả này tại địa phương Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng (Diospyros kaki L) tại Điện Biên”.

Trang 18

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CÂU

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở điều tra hiện trạng sản xuất và nghiên cứu một số biện pháp

kỹ thuật mà bổ sung hoàn thiện quy trình canh tác phù hợp, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của cây hồng trên địa bàn tỉnh Điện Biên.

1.2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây hồng Điện Biên tại Điện Biên.

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài bổ sung thêm những dẫn liệu khoa học về các đặc tính nông sinh học của cây hồng trong điều kiện sinh thái tỉnh Điện Biên, làm cơ sở cho việc

bổ sung hoàn thiện quy trình thâm canh tăng năng suất tại địa phương;

Các kết quả nghiên cứu từ đề tài này, ngoài ý nghĩa bảo vệ nguồn gen cây ăn quả đặc sản bản địa của Điện Biên, còn góp phần cải thiện thực trạng trồng hồng quảng canh, dựa vào tự nhiên, năng suất thấp, sản phẩm thu hoạch kém chất lượng, có nguy cơ thoái hóa giống nhanh, hiệu quả sản xuất thấp, gây khó khăn cho chủ vườn;

Đề tài mở ra một giải pháp mới trong công tác thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm quả hồng, mà lâu nay chưa được áp dụng rộng rãi trong sản xuất ở Điện Biên, giúp người làm vườn thấy được hiệu quả của việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong thâm canh hồng.

Ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng quả vào sản xuất.

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Cơ sở khoa học, lý luận của việc điều tra, khảo sát cây hồng ở Điện Biên

Cây hồng là cây ăn quả lâu năm chịu ảnh hưởng rất rõ bởi các điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc, quản lý vườn thể hiện qua sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất và phẩm chất quả Những đặc trưng, đặc tính biểu hiện trong một đời của cây hay trong một năm đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống (tính di truyền) với điều kiện ngoại cảnh (Tôn Thất Trình, 1995; Đào Thế Tuấn, 1978; Trần Thế Tục, 1980) Thông qua việc điều tra, phân tích

về đặc điểm nông sinh học của cây ở các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, chúng ta

sẽ phân biệt được các giống và xác định được khả năng thích ứng của giống ờ từng vùng sinh thái làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp kỹ thuật canh tác, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học là một trong những biện pháp cơ bản để nghiên cứu quy luật sinh trưởng, phát triển cuả cây trồng, là chỗ dựa quan trọng trong việc hoạch định các hướng nghiên cứu kỹ thuật của cây trồng nói chung trong đó có cây hồng.

2.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu quy luật ra cành ở hồng

Hồng được xếp vào cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều bới các yếu tố nội tại

và ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, … biểu hiện qua sinh trưởng, ra hoa kết quả, năng suất và phẩm chất quả.

Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống 1 năm hồng thường ra 2 – 3 đợt lộc là xuân, hè, thu (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Văn Hậu, 1980; Trần Như Ý và cs., 2000).

Các đợt lộc só sự liên quan khá chặt chẽ với nhau, qua trình ra lộc của năm trước là tiền đề cho sự ra hoa kết quả ở năm sau Nắm vững quy luật này, chúng ta sẽ xây dựng được các biện pháp kỹ thuật hợp lý điều khiển quá trình ra lộc, hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả không ổn định, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng hồng (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996) Chính vì vậy, các nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm là tiền đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật là rất cần thiết.

Trang 20

2.1.3 Cơ sở khoa học của việc phun chất điều hòa sinh trưởng

Chất điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt và đươc coi như là một trong những biện pháp hóa học quan trọng điều khiển quá trình sinh trưởng của cây trồng theo hướng có lợi cho người sản xuất như tăng tốc độ sinh trưởng của cây, điều khiển sự ngủ nghỉ của hạt, củ, sự ra hoa của cây, điều chỉnh giới tính của hoa , tăng đậu quả và tạo quả không hạt, điều chỉnh sự chín của quả….(Hoàng Minh Tấn và cs., 1994).

Quả được hình thành sau khi xẩy ra quá trình thụ phấn, thị tinh, sau đó hợp tử phát triển thành phôi Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin Các chất này khuếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của quả Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ bị rụng (Hoàng Minh Tấn và cs., 1996).

Sử dụng auxin và gibberellin ngoại sinh cho hoa trước khi thụ phấn thụ tinh có thể thay thế được nguồn phytohormon nội sinh từ hạt và quả sẽ được hình thành và do bỏ qua quá trình thụ tinh nên quả sẽ không có hạt Việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng để cải thiện sự đậu quả và tạo quả không hạt được sử dụng rất rộng rãi và có hiệu quả cao trong sản xuất với các dối tượng: nho, bầu bí, cà chua, táo…, (Nguyễn Quang Thạch và cs., 1999; Lê Văn Tri, 2002; Đào Thanh Vân, 1998; Vũ Văn Vụ và cs., 1993).

Thực tiễn sản xuất hiện nay cho thấy, năng suất hồng khi thu hoạch còn chưa cao, không ổn định do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, trình độ, kỹ thuật canh tác cũng như mức độ đầu tư… Tình trạng năng suất thấp và không ổn định của cây hồng có nguyên nhân chủ yếu là tỷ lệ rụng quả của cây hồng khá cao Mức độ rụng quả hồng tùy thuộc vào giống, khí hậu và điều kiện chăm sóc Ở cây hồng rụng quả khá nhiều, cao nhất tới 70%, trong đó hồng vuông rụng quả nhiều nhất Lưu Vinh Quang (1995) cho biết: sự rụng quả ở cây hồng có thể do các nguyên nhân: rụng quả sinh lý, rụng do sâu bệnh hại và rụng do nguyên nhân cơ giới.

Sự rụng quả sinh lý có thể do: quả không qua thụ tinh, hoa nở muộn, thiếu nắng, mất cân đối về dinh dưỡng và chất điều hòa sinh trưởng Lúc này có thể dùng một số chất điều hòa sinh trưởng để phun bổ sung nhằm giảm tỷ lệ rụng quả Phun chất điều hòa sinh trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng

Trang 21

phát triển của cây , mà còn làm chậm việc hình thành tầng rời, bảo đảm cho việc vận chuyển các chất dinh dưỡng vào nuôi quả, do đó giảm được tỉ lệ rụng quả Như vậy, việc Lê Văn Tri (2002) nghiên cứu chất điều tiết sinh trưởng cho hồng

để tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất thu hoạch là rất cần thiết hiện nay.

2.1.4 Cơ sở khoa học của việc phun phân bón qua lá

Các nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năng suất cây trồng cho thấy: thường sau khi hoa nở rộ hoặc hoa đã tàn, cây ở trong tình trạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng (Lê Văn Tri, 2000; Trần Văn Uyển, 1995) Lúc này bộ rễ

ở dưới đất phát triển kém vì bị ức chế do hoa nở rộ, nếu bón phân vào đất rễ cũng chưa có điều kiện hấp thu được ngay (Nguyễn Ngọc Nông, 1997) Do vậy, phải kịp thời phun dinh dưỡng lên cây để bổ sung dinh dưỡng và làm giảm bớt rụng quả sinh lý (Trần Văn Uyển, 1995).

Lá là một bộ phận quan trọng của cây trồng, làm nhiệm vụ quang hợp và hấp thụ dinh dưỡng cho cây Tất cả các quá trình này đều diễn ra trên cơ quan ở mặt lá đó là lỗ khí khổng Tuy nhiên sự hấp thụ các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch gặp phải khó khăn hơn vì tầng cutil ở lớp ngoài cùng của lá, tầng cutil này có thể dày, mỏng tùy theo từng loài thực vật và tuổi của cây.

Lỗ khí khổng có kích thước trung bình 100µm 2 (dài 7 - 10µm, rộng từ 3-12µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích lá Lỗ khí khổng phân bố cả mặt trên và mặt dưới của lá Số lượng lỗ khí khổng/1mm 2 lá ở lá lúa là 47; ở lá ngô là 120; ở lá cà chua là 142; ở lá khoai tây là 210; đặc biệt những cây thân gỗ số lượng lỗ khí khổng rất lớn từ 300 – 400 Điều đáng chú

ý ở đây là muốn cho phân bón qua lá mang lại hiểu quả cao nhất thì nó phải được phun lên bề mặt lascos nhiều lỗ khí khổng Phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thụ dinh dưỡng của cây ở đất bị hạn chế Do vậy, việc áp dụng bón qua

là từ 2-3 lần ở những thời điểm thích hợp là hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng (Horst, 1993).

Phương pháp dinh dưỡng qua lá đã được sử dụng rất phổ biến đối với cây ăn quả và cây lấy hạt Vì vậy, việc phun phân bón qua lá cho cây hồng làm tăng tỷ lệ đậu quả là hoàn toàn có cơ sở và rất cần thiết trong thâm canh tăng năng suất cây hồng.

Trang 22

2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI HỒNG 2.2.1 Những nghiên cứu về nguồn gốc

Về nguồn gốc cây hồng có rất nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều nước và

ở các thời kỳ khác nhau nhưng đều có chung nhận xét: cây hồng có nguồn gốc

ở vùng á nhiệt đới năm chau Á, chủ yếu là vùng khởi nguyên Trung Quốc Từ đây hồng được đưa đến nhiều nước trên thế giới Phạm Văn Côn (2002), Vũ Công Hậu (1996), Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972), Aala, F.T (1953), Grubov, V I (1967), Kikichi, A (1948), Dao Thanh Van (2002), Wilson E H (1929).

Hồng là cây á nhiệt đới khởi nguyên từ Trung Quốc và cũng là cây trồng có nguồn gốc ở Hàn Quốc (cây bản địa) Việc trồng hồng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài ăn quả còn được sử dụng để chữa các bệnh như: bệnh liệt, tê cóng, bỏng và làm ngưng chảy máu vì trong lá của hồng có rất nhiều chất như tanin, phenol, axit hữu cơ, chlorophyl … nhưng tanin là nguyên tố chủ yếu (Bae D.K., Choi H.J., Son J.H., Park M.H., Bae J.H., An B.J., Bae M.J., Choi C., 2000).

Theo các tác giả: khi nghiên cứu nguồn gốc của cây hồng phương Đông đều cho rằng một số nhóm hồng thuộc loại hồng dại Diospyros kaki tồn tại trong những khu rừng của Trung Quốc Tài liệu của cây hồng đấu tiên xuất hiện ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5,

6 (Grubov, V I., 1967; Kikichi, A., 1948; Wilson E H., 1929).

Cây hồng được nhập từ Trung Quốc đến châu Âu vào năm

1789 và di chuyển sang châu Mỹ vào năm 1856 (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996).

Nam rồi đến Đà Lạt Nam Việt Nam (Yung Kyung Choi and Jung Hokim, 1972).

Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên đều cho rằng cây hồng

có nguồn gốc xuất xứ ở vùng á châu á nhiệt đới phía nam châu Á, chủ yếu là vùng khởi nguyên miền nam Trung Quốc.

2.2.2 Những nghiên cứu về phân loại

Theo Phạm Văn Côn (2002) cho biết: ở Việt Nam từ năm 1990 bắt đầu điều tra về cây hồng, bước đầu phát hiện 3 loài hồng sau:

+ Hồng lông (D Tokinensis L.) được phân bố khắp nơi ở miền Bắc.

như: Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình.

Trang 23

+ Hồng trơn có lá nhẵn (D.kaki L.) được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.

2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BỐ, TÌNH HÌNH TRỒNG HỒNG 2.3.1 Tình hình sản xuất và phân bố hồng trên thế giới

Hiện nay Trung Quốc là nước trồng nhiều hồng nhất, khắp lãnh thổ bao la của nước này, trừ mấy tỉnh biên giới (Hắc Long Giang, Nội Mông, Tây Cương, Tây Tạng …) hầu hết các tỉnh đều trồng hồng Các tác giả Trung Quốc cho rằng,

tốt, chất lượng cao, sinh trưởng phát dục thuận lợi (Vũ Công Hậu, 1996).

Theo Grubov U.I (1967) cho biết: hiện nay những nước trồng hồng và xuất khẩu nổi tiếng nhất là: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước Nam Á nhiệt đới miền Nam Liên Xô cũ.

Theo tác giả Morton (1987) cho biết: hồng được trồng đầu tiên ở Trung Quốc, sau đó sớm du nhập vào Nhật Bản, Hàn Quốc Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 19, hồng mới được du nhập vào Mỹ, Ooxxtraylia, Palestine, Italia, Pháp, Nga, Braxin và Mêxico Diện tích trồng khoảng 234.870 ha và đạt sản lượng 1.409.160 tấn Hiện tại, ở châu Á, hồng được trồng tại nhiều quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Xét trên phương diện tiêu thụ và chế biến: quả hồng chủ yếu dùng

để ăn tươi với thị trường tiêu thụ là các nước châu Á Ở Trung Quốc và Nhật Bản quả hồng là một trong những món tráng miệng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày Sản phẩm hồng khô được chế biến được sản xuất nhiều ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc … Các sản phẩm chế biến từ hồng tiêu thụ mạnh ở thị trường châu Âu Người Châu Âu ở vùng Địa Trung Hải đã quen với cây hồng và cho rằng quả hồng chín rất ngọt, hương vị đậm đà và có tập quán dùng thìa ăn hồng khi quả đã chín nhũn (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996; Trần Thế Tục, 1994).

2.3.2 Những nghiên cứu về phân bố và sản xuất hồng ở Việt Nam

Ở Việt Nam hồng được trồng chủ yếu ở các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra và ở Đà Lạt – Lâm Đồng Theo số liệu thống kê của các tỉnh (chưa đầy đủ) năm 2006 diện tích trồng hồng khoảng 7.000 ha với sản lượng khoảng 50.000 tấn Các tỉnh có diện tích lớn tập trung là: Lạng Sơn 2.087 ha, Bắc Giang 1.600 ha, Hòa Bình 567 ha và Lâm Đồng 700 ha Năng suất hồng ở Việt Nam thấp khoảng 7- 8 tấn /ha (NS hồng ở Úc 35 tấn/ha).

Trang 24

Những năm gần đây cây hồng đang được chú ý phát triển ở nhiều tỉnh trên cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng trung du, miền núi phía bắc như Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên và Lâm Đồng (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1999;).

Qua điều tra cho thấy ở Việt Nam hiện nay có một số vùng trồng hồng

và mỗi vùng đều có những giống hồng thơm ngon nổi tiếng (Phạm Văn Côn, 1995) Theo Phạm Văn Côn (2003) hiện có các vùng trồng hồng chính sau:

- Vùng Đà Lạt – Lâm Đồng: Hồng trồng ở Đà lạt chủ yếu các giống thuộc loài Diospyros kaki L Đây cũng là loài được trồng phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các tính phía Bắc nước ta.

- Vùng Thừa Thiên Huế: Các giống hồng ở đây đều được di thực từ các tỉnh phía Bắc vào và từ Đà Lạt ra.

- Vùng Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh: Hồng được trồng chủ yếu tại 2 xã Thạch Đài và Thạch Lĩnh, diện tích trồng chiếm 35,3% tổng diện tích cây ăn quả Giống được trồng phổ biến là hồng vuông và hồng tròn.

- Vùng Nam Đàn tỉnh Nghệ An: Đây là vùng nửa đồng bằng nửa đồi núi, có nhiều giống hồng được trồng ở vùng này như hồng chuột, hồng gáo, hồng tròn dài, hồng tiên, hồng nừa, hồng cậy vuông.

hồng Nhân hậu và hồng Văn lý được trồng ở 2 xã Hòa Hậu và Văn Lý.

- Vùng Vĩnh Phú: Vùng này có nhiều giống hồng bản địa như sau: Hồng hạc trì, Hồng tiến, Hồng trạch.

- Vùng Cao Lộc Lạng Sơn: Vùng này có giống hồng ngâm không hạt Bảo Lâm đặc sản nổi tiếng với hương vị thơm ngon.

cành lộc dài, phân cành hơi đứng, chín muộn hơn nhiều giống hồng khác, mẫu mã đẹp, hình vuông cạnh tù, thuôn nhỏ dần về phía cuối quả, không hạt hoặc rất ít hạt Khối lượng quả tương đối lớn nếu chăm sóc tốt (280g/quả), năng suất cao (240 kg quả/cây 8-10 năm tuổi) Khi chín ăn có vị ngọt mát, ít chát.

- Dạng cây: Cây thân gỗ lâu năm, có dạng tán hình tháp.

- Hình thái lá: Lá dạng ovan, đầu lá nhọn, mép lá phẳng, không

xẻ thuỳ, gân lá màu trắng xanh, mặt dưới lá không có lông tơ.

Trang 25

- Hình thái hoa: Nhỏ, ra hoa ở nách lá, hoa đơn 4 cánh màu vàng nhạt

- Hình thái quả: Hình trụ dài, hơi vuông có khía nhẹ ở chóp quả, đỉnh quả lõm, tai quả to dày và hơi cụp xuống.

- Năng suất quả: ≥ 50 kg/cây/năm (Cây 8 – 10 năm tuổi)

Rễ hồng phát triển yếu, thường khó phục hồi nếu bị sát thương cơ giới.

như không hoạt động, hấp thu dinh dưỡng rất chậm, từ vụ xuân rễ mới bắt đầu hoạt động mạnh, mạnh nhất vào 2 thời kỳ cuối tháng 6 – 7 và giữa tháng 9 đầu tháng 10 Rễ hồng chứa nhiều tanin, cường độ hô hấp yếu, nhu cầu về hàm lượng ôxy trong đất thấp, vì vậy, cây hồng có thể chịu úng tốt Phạm Văn Côn (2002),Vũ Công Hậu (1996), Trần Thế Tục và cs (1998), Trần Như Ý và cs.

Trang 26

Sự phân bố của rễ hồng theo chiều sâu thay đổi phụ thuộc vào loại đất và loại giống Khi xác định được tầng rễ tập ttrung nhất sẽ có biện pháp bón phân hợp lý thúc đẩy sinh trưởng phát triển của giống đó.Phạm Văn Côn (2002), Vũ Công Hậu (1996), Trần Thế Tục và cs (1998).

Kết quả trên cho thấy giống hồng Thạch Thất có tầng rễ tập trung nhất

ở tầng 20 - 30 cm Giống hồng Hạc Trì rễ tập trung chủ yếu ở tầng 30 - 40 cm.

Thời gian ra lộc hồng phụ thuộc vào nhiệt độ, nơi nào có nhiệt

độ cao hồng sẽ ra lộc sớm hơn, nơi nào có nhiệt độ thấp hồng sẽ ra lộc muộn hơn (Phạm Văn Côn, 2002).

Trong một năm hồng ra 3 - 4 đợt cành tùy tuổi cây Cây ở giai đoạn kinh doanh chỉ ra 1 đợt cành chủ yếu là cành xuân Với cây ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, một năm có thể ra 3 - 4 đợt cành Nhưng các đợt sau sẽ có số lượng cành ít hơn (Vũ Công Hậu, 1996).

Theo Trần Như Ý và cs (2000) nhận xét: hồng có các đợt cành chính sau:

- Cành xuân: nảy đồng loạt vào trung tuần tháng 2 đến tháng

3, trên cành lúc này có cả mầm hoa và cành dinh dưỡng.

- Cành hè: nảy vào tháng 6, tháng 7

- Cành thu: nảy vào tháng 8, tháng 9

Đối với những cây đã ra hoa kết quả trong đợt cành màu xuân thường có 3 loại cành: cành sinh trưởng, cành mang hoa đực và cành mang hoa cái, Phạm Văn Côn (2002).

làm nhiệm vụ tăng khối lượng cành, cây và tích lũy dinh dưỡng nuôi quả.

Trang 27

+ Cành mang hao đực: loại cành này thường nhỏ, mọc từ gốc cành năm trước, sinh trưởng yếu nên cành ngắn, là nguồn cung cấp phấn cho hao nhờ côn trùng.

phần lớn phát sinh ở phần trên gần ngọn của cành sinh trưởng năm trước chưa

ra quả hoặc từ chồi nách thứ 1-2 của cành mẹ (Phạm Văn Côn, 2002).

Tỷ lệ giữa các loại cành trên và mối liên hệ giữa chúng có liên quan đến năng suất Nếu cắt tỉa cành đúng cách sẽ tạo được nhiều cành có sức sinh trưởng mạnh với độ dài cành 10 – 30cm tạo điều kiện nâng cao năng suất quả năm sau, có thể gấp 2 lần so với năm trước (Phạm Văn Côn, 2002).

2.4.3 Đặc điểm lá

Lá xuất hiện vào mùa xuân, sau khoảng một tháng thì phát triển đầy

đủ, lúc này màu lá chuyển dần từ xanh lục sang màu lục đậm, cây sung sức bước vào thời kỳ hoạt động mạnh, một số giống mặt dưới có nhiều lông tơ màu vàng xanh, lá có hình e líp đến tròn ô van Cuối tháng 10 lá bắt đầu vàng rồi chuyển sang màu đỏ và rụng, tháng 12 đến tháng 1 năm sau trên cây hoàn toàn không có lá Trần Như Ý và cs (2000).

2.4.4 Đặc điểm hoa

Khoảng 30 - 40 ngày sau khi ra lộc thì hoa bắt đầu nhú, thông thương hoa

xuất hiện vào tháng sau tức là cuối tháng 3, thời kỳ ra hoa kéo dài 20 - 25 ngày.

Có 3 loại hoa:

- Hoa cái : nhị đực thoái hóa hoặc không có hạt phấn, nhụy rất phát triển mọc ở nách lá thứ 3 - 8 tính từ chân cành quả lên ngọn (Phạm Văn Côn, 2002), Vũ Công Hậu, 1996).

- Hoa đực: nhị cái thoái hóa, hoa đực có kích thước bằng 1/3 hoa cái, mọc thành chùm ở nách lá.

- Hoa đực và hoa cái: có thể phát sinh trên một cây, nhưng tỷ lệ không

ổn định Nếu cây còn khỏe, dinh dưỡng đầy đủ thì hoa cái phát sinh nhiều hơn, ngược lại khi cây già, dinh dưỡng kém, hoa cái sẽ ra nhiều hơn (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996; Trần Như Ý và cs., 2000).

Những cây hồng trồng bằng hạt phổ biến ở vùng trung du Bắc bộ thường

có hoa lưỡng tính, có thể tự thụ phán và đậu quả dễ dàng nhưng nhiều hạt, kém

Trang 28

chất lượng Những giống hồng tốt có hoa đơn tính, hoặc đực hoặc cái (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996).

Một số tác giả khi nghiên cứu về cây hồng cho thấy: có những giống không cần thụ phấn vẫn có thể đậu quả được (parthenocarpy), quả hoàn toàn không hạt và kích thước khá đồng đều (hồng Lạng Sơn, Hạc Trì, …) Có những giống để đạt được năng suất cao nhất thiết phải được thụ phấn nếu không được thụ phấn hoặc thụ phấn không tốt thì quả nhỏ, không có hạt hoặc có 1 - 2 hạt, rõ nhất là hồng Thạch Thất (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996).

2.4.5 Đặc điểm quả và hạt

Khoảng năm thứ 3 - 5 sau trồng, hồng bắt đầu bói và thời gian

ra quả rất dài Tỷ lệ hồng đậu quả tương đối cao vì: hoa ra đều, ít bị phụ thuộc vào thời gian rét dài hay ngắn , hoa to, dễ được thụ phấn nhờ côn trùng, hoa nở tương đối muộn, lúc thời tiết đã ấm áp ( ở miền Bắc vào tháng 3 - 4) nên dễ đậu quả (Vũ Công Hậu, 1996).

Hồng có 2 đợt rụng quả sinh lý: lần 1 vào đầu tháng 5 khi quả to bằng đầu ngón tay, lần 2 rụng vào tháng 7, lần này tuy nhẹ hơn đợt tháng 5 nhưng vẫn ảnh hưởng đến năng suất vì quả đã lớn Quả hồng còn rụng rải rác cho đến trước thu hoạch do các nguyên nhân sâu bệnh, gió bão, do đậu quả qúa nhiều, quả ra muộn, thiếu dinh dưỡng … Phạm Văn Côn (2002), Vũ Công Hậu (1996).

Những cành có chiều dài trên 40 cm có thể mang 3 - 4 quả trong mùa sau, cành có chiều dài trung bình 15 - 40cm có thể mang

2 quả và cành có chiều dài dưới 15cm có thể mang 1 quả đơn Konishi K., S Iwahori, H Kitagawa, T Yakuma (1994).

Khả năng mang quả không hạt là một nhân tố quan trọng nâng cao chất và ổn định năng suất quả Yonemori K., A Sugiura A., Yamada M (2000).

Rụng quả sớm liên quan đến 2 nhân tố, khả năng mang quả không hạt và khả năng sinh hạt Kajiura M., (1914).

Giống có khả năng mang quả không hạt cao hơn thì rụng quả ít hơn Một số giống khi được thụ phấn đầy đủ, số hạt được hình thành nhiều cũng rụng quả sinh lý ít Yonemori K., A Sugiura A., Yamada M (2000).

Kết điều tra của một số chuyên gia Nhật Bản cho thấy: các giống hồng chính ở Nhật Bản đều có khả năng mang quả không hạt, tuy nhiên khả năng này thấp hay cao tùy thuộc vào giống Kết quả trình bày ở bảng 2.2.

Trang 29

Nguồn: Konishi K et al (1994)

Số liệu bảng 2.2 cho thấy, những giống có khả năng mang quả không hạt cao có tỷ lệ rụng quả sinh lý thấp ở thời kỳ sớm.

2.5 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY HÔNG

Điều kiện ngoại cảnh là yếu tố ảnh hưởng lớn đến thời gian ra lộc, sinh trưởng lộc và ảnh hưởng lớn đến phát triển của cây (ra hoa, thụ phấn, thụ tinh,…).

Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của hồng như: sự tích lũy dinh dưỡng trong quả của các giống hồng phụ thuộc vào thời vụ chín và điều kiện trồng trọt Như giống hồng “ton wase”

là một giống hồng chát, chín sớm của Nhật Bản, khi được trồng trong nhà kính thì sẽ chín sớm hơn so với trồng ngoài đồng là 1,5 tháng và có độ ngọt thấp hơn Harima S., Nakano R., Yamamoto T., Komatsu H., Fujimoto K., Kitano Y., Kubo Y., Inaba A., Tomita E., (2001).

2.5.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những nhân tố khí hậu chính không điều khiển được, nó quyết định diện tích trồng trọt và ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng (Phạm Văn Côn, 2004).

Hồng là cây ưa khí hậu ôn đới và á nhiệt đới Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây Trong thời kỳ sinh

Trang 30

trưởng cây hồng cần nhiệt độ tương đối cao từ 20 - 30 0 c, tốt nhất là 22

-26 0 C Trong thời kỳ phân hóa mầm hoa cây hồng cần nhiệt độ thấp, khoảng 10 0 C Phạm Văn Côn (2004), Vũ Công Hậu (1996), Trần Thế Tục và

cs (1998) Bianchini F., Corbetta F and Pistoia M Fruits of the Earth Lovely pictures, a very readable book, Blooklyn Botanic Gaden (1986).

Theo nghiên cứu của Yosimura, trong thời kỳ chuẩn bị phân bố mầm hoa cây hồng cần tổng thời gian có nhiệt độ 8 - 11 0 C là 886 giờ Vì hồng là cây rụng lá mùa đông, cần có môt thời gian ngủ nghỉ đi đôi với nhiệt độ thấp nhất định Nếu ở nơi nào đó, nhiệt độ thấp tuyệt đối trong mùa đông không đạt mức nhất định thì cây hồng không có nghỉ đông và không ra hoa được Theo kinh nghiệm, năm nào mùa đông lạnh nhiều thì hồng ra nhiều hoa (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996; Trần Thế Tục và cs 1998).

Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và phát triển của cây hồng đặc biệt là vào từng thời kỳ cụ thể.

Cây hồng có thể chịu được nhiệt độ lạnh vào mùa đông, nhưng với chồi non và mầm hoa thì rất nhạy cảm với nhiệt độ, nhiệt

độ lạnh không đúng lúc sẽ ảnh hưởng nhiều đến năng suất quả thu hoạch Leng P., Itamura H., (1993), ,Nakagawa Y., Sumita A., (1969).

Chồi hoa ngừng phát triển khi lá rụng vào mùa đông và trở lại phát triển vào màu xuân, khi nhiệt độ không còn lạnh Ashworth E.N.,Wisnewski M.E., (1991), Harima S., Nakano R., Yamamoto T., Komatsu H., Fujimoto K., Kitano Y., Kubo Y., Inaba A., Tomita E., (2001).

Nhiệt độ lạnh không đúng lúc sẽ làm hại mầm hoa và hoa, điều này dẫn đến làm giảm năng suất trầm trọng Nhiệt độ ảnh hưởng và làm hại đến chồi phụ thuộc vào thời kỳ vật hậu của từng giống Proebsting Jr., EL., (1970), Wagenitz G (1964), Wilson E H (1929), Simmons A E Growing Unusual Fruit David and Charles (1972), Yamada M (1997).

Các phương pháp làm giảm mức độ thiệt hại do nhiệt độ lạnh gây ra cho vườn cây ăn quả đã được nhiều tác giả nghiên cứu và cho thấy có thể dùng phương pháp hun nóng cho vườn hoặc làm muộn thời kỳ nảy chồi của vườn quả để tránh nhiệt độ lạnh đã thu được kết quả tốt Grubov, V I (1967), Wagenitz G (1964).

Trang 31

2.5.2 Mưa và ẩm độ

Nước là thành phần quan trọng trong cây, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy nước vừa tham gia cấu trúc cơ thể, vừa quyết định các biến đổi sinh hóa và các hoạt động sinh lý trong cây cũng như quyết định quá trình sinh trưởng phát triển của cây Chính vì vậy mà nước được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất quyết định đến năng suất cây trồng.

Cây hồng có khả năng chịu hạn hơn nhiều các loại cây khác như vải, nhãn, cam quýt,… Người Trung Quốc và Nhật Bản đánh giá cao cây hồng về mặt chịu hạn và trồng hồng ở vùng núi khô hạn, lượng mưa bình quân năm xấp xỉ 500mm, mạch nước ngầm ở sâu dưới đất 10m Sản lượng có thể thấp, nhưng chất lượng tốt Phạm Văn Côn (2002), Vũ Công Hậu (1996), Trần Thế Tục và cs (1998), Konishi K., S Iwahori, H Kitagawa, T Yakuma (1994).

hồng cũng được trồng ở những vùng đất xấu, khô hạn với lượng mưa bình quân trong năm 300 - 400 mm Ở huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) và Phú Hộ (Phú Thọ) qua quan sát cho thấy: trên đất dồi dốc vào lúc trời nắng hạn, cây hồng vẫn không bị héo

lá, nó chịu hạn tốt hơn cả cây vải (Trần Thế Tục và cs 1998).

Cây hồng cũng có khả năng chịu ẩm, chịu úng, lượng mưa hàng năm thích hợp với hồng là 1200 – 2100mm, mặc dù lượng mưa cao hồng cũng không bị các bệnh nấm phá hoại nặng, nên có thể coi cây hồng như một cây á nhiệt đới ẩm (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996; Yung Kyung Choi and Jung Hokim, 1972).

Như vậy, hồng vừa chịu được hạn vừa chịu được ẩm và đây

là một trong những đặc tính quan trọng lý giải vì sao hồng có thể thích ứng với nhiều loại vùng sinh thái khác nhau.

2.5.3 Ánh sáng

Nhờ quá trình quang hợp của cây trồng mà năng lượng ánh sáng mặt trời được biến đổi thành năng lượng hóa học dưới dạng các hợp chất hữu cơ Tuy nhiên yêu cầu về cường độ và độ dài chiếu sáng trong ngày tùy theo từng loài cây mà có sự khác nhau (Phạm Văn Côn, 2004).

Hồng là cây ưa sáng và nơi hơi có bóng râm, kết cấu bộ lá cũng thể hiện đặc tính này: Lá dày to, mặt trên xanh thẫm (nhiều diệp lục tố), mặt dưới nhạt, bộ

lá phủ kín tán cây Bean W., (1981), Bianchini F., Corbetta F and Pistoia M,

Trang 32

Huxley A., (1992) Vì vậy, cần chú ý các biện pháp canh tác làm tăng khả năng quang hợp, sử dụng tối ưu ánh sáng của cây Hồng Cần trồng nơi tráng nắng, tránh bị chướng ngại vật che khuất, vì đó là thời kỳ phân hóa mầm hoa của hồng Cần trồng với mật độ hợp lý, đốn tỉa cành thường xuyên để tán cây thoáng (Phạm Văn Côn, 2004; Vũ Công Hậu, 1996).

2.5.4 Đất

Đất đai có hai chức năng quan trọng nhất là cung cấp nước và chất dinh dưỡng Có thể bổ sung chất dinh dưỡng bằng bón phân, còn nước thì chủ yếu dựa vào nước giữ trong đất và nước tưới hoặc mưa Vì vậy, đất nào giữ được một lượng nước ổn định là những đất thích hợp cho cây ăn quả (Phạm Văn Côn, 2004).

Hồng có tính thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất có tầng đất dày, thoát nước Phạm Văn Côn (2004), Đào Thế Tuấn (1978, Trần Thế Tục

(1990) , Bean W., (1981), Bianchini F., Corbetta F and Pistoia M, Huxley A.,

(1992).

Bộ rễ hồng có khả năng ăn sâu, nên muốn đạt năng suất cao cần trồng hồng trên đất khô ráo có mực nước ngầm sâu dưới 1m [11], hồng không ưa đất axit, ẩm và thoát nước kém, đòi hỏi vị trí kín gió (tránh gió mạnh), Huxley A., (1992).

Hai tác giả Yung và Jung tiến hành đo độ đường của quả hồng trên các loại đất khác nhau cho thấy: Đất dốc, đất bằng thoát nước, đất bằng có mực nước ngầm cao cho tỷ lệ đường tương ứng: 14,54, 13,77% và 12,50% Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972).

Vùng đất có tầng đất nông hoặc nơi có mực nước ngầm cao, một đến hai năm đầu hồng có thể mọc bình thường, sau đó đến năm thứ 3, thứ 4, bị ảnh hưởng rõ rệt: cây thấp bé, rễ bị thối, bệnh phá hoại mạnh và

số cây chết tăng dần Cây hồng có ưu điểm nổi bật là có khả năng huy động dinh dưỡng trong đất rất cao Bởi vậy trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng, hồng vẫn có thể sinh trưởng mạnh hơn các cây trồng khác (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996; Trần Thế Tục và cs 1998).

Theo Vũ Công Hậu (1996) thì tính chất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây hồng rõ rệt như:

- Đất phù sa có ít cát: Tỷ lệ đường trong quả cao, quả cất giữ được lâu, nhưng thân cành mọc yếu, dễ bị rụng quả.

Trang 33

- Đất phù sa màu mỡ: Cây mọc khỏe cho năng suất cao, dù bón ít phân.

- Đất sét: Ảnh hưởng tồn dư của phân bón lớn và nếu thoát nước kém thì bộ rễ kém phát triển.

Theo tài liệu nghiên cứu một số tác giải thì cây hồng cần tới 14 nguyên

tố dinh dưỡng, trong đó cần thiết nhất là N, P, K, Ca, Mg và sau đó là nguyên

tố vi lượng Sự biểu hiện khi thiếu các chất dinh dưỡng như sau:

- Thiếu đạm: Lá vàng, có nhiều chấm đỏ, cành ngắn, quả bị chín ép (chín sớm).

- Thiếu Kali: Các lá cuốn lại, nhăn nheo, mép khô, dễ bị rụng quả.

quả giảm.

- Thiếu Mg: Lá có các đám màu nâu nhạt, rìa lá bị khô.

- Thiếu kẽm: lá có màu nâu nhạt, gợn sóng và nhăn nheo, đầu các gân nhỏ có hình hoa hồng, lá bé.

- Thiếu B: Có những điểm xốp trên quả.

Theo Trần Thế Tục và cs (1998) cho biết: Cây hồng lá rộng, năng suất cao, hàng năm có rụng quả sinh lý nên lượng phân bón phải đầy đủ

để đảm bảo yêu cầu sinh lý của cây Bón phân cho cây hồng cần cân đối

N, P, K bón đúng lúc, đúng cách, theo như nhu cầu của cây.

Trang 34

Theo Trần Như Ý và cs (2000) cho biết: lượng phân cần bón cho hồng theo các cấp tuổi cho mỗi ha trong một năm như sau;

- Hồng dưới 5 tuổi bón với lượng: 35kgN + 20kgP 2 O 5 + 30kg K 2 O

- Hồng từ 6 - 20 tuổi, sản lượng quả đạt 6-10 tấn quả/ha cần bón với lượng phân là: 200kgN + 120kgP 2 O 5 + 160kg K 2 O .

- Hồng trên 20 năm tuổi (sản lượng thu hoạch 20 tấn

quả/1ha), lượng phân bón là: 265kg N + 160kgP 2 O 5 + 210kgK 2 O.

Thời kỳ bón tập chung vào giai đoạn cây tạm ngừng sinh trưởng (tháng 1), mùa mưa tháng 7 bón 1/3 lượng phân để chống rụng quả và phát triển cành thu, số còn lại bón vào thời kỳ rụng lá mùa đông tức là vào tháng 10 bổ sung nuôi quả lần 2.

Theo kinh nghiệm của tác giả Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội hàng năm nên bón phân lót cho Hồng vào tháng 1 trước khi nảy lộc Đối với những cây đã ra quả ổn định từ năm thứ 8 trở đi cần bón cho mỗi cây là 30- 50kg phân chuồng hoai trộn với 0,3-0,5kgN + 0,3P 2 O 5 + 0,5kgK 2 O.

Cách bón: Chiếu theo mép tán cây, đào 3 hố đều nhau với kích thước sâu

và rộng 50cm, sao đó bón phân lấp đất cao hơn mặt đất Năm sau đào hố bón phân xen kẽ vói hố năm trước Làm như vậy vừa có tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, vừa có tác dụng cải tạo đất trong vườn (Phạm Văn Côn, 2002).

2.6.2 Kỹ thuật đốn tỉa, tạo hình, tạo quả

Tạo hình, đốn tỉa và tỉa quả là các kỹ thuật rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và chất lượng quả của các giống cây ăn quả nói chung và hồng nói riêng Nghiên cứu kỹ thuật đốn tỉa, tạo hình là để tạo cho tán cây có khả năng hấp thu tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng, kích thích

ra hoa, tăng đậu quả để đạt năng suất cao như mong muốn Đối với những cây ăn quả ôn đới có nhu cầu lạnh thấp những kiểu tán và kỹ thuật cắt tỉa thường được áp dụng là: kiểu tán hình phễu hay chữ Y (mận, đào, hồng, lê ), kiểu tán rẻ quạt (táo, lê, đào ), duy trì cắt tỉa 3 lần trong năm: vào mùa đông (sau thu hoạch), mùa xuân và cuối hè Ngoài tỉa cành, tỉa quả cũng là kỹ thuật rất được chú trọng, một mặt làm tăng kích cỡ, trọng lượng quả, một mặt nó giữ sự cân bằng dinh dưỡng trong cây để tránh bị mất mùa năm sau.

Trang 35

Hiện nay nhiều biện pháp đốn tỉa tạo hình cây hồng rất được quan tâm, thông thường cây hồng vừa đem trồng phải đốn tạo hình ngay, chỉ giữ một thân chính cao 80-100cm Các cành cắt cụt hết để cây bật ra các cành khỏe hơn Chọn trên thân chính 3 cành khỏe mọc ra 3 hướng khác nhau để làm cành khung Cuối năm thứ nhất, chủ yếu là cắt ngắn cành khung cấp I chỉ để 2, 3 cành khung cấp II và những vị trí thích hợp sao cho các cành hướng ra phía ngoài Nếu cây khỏe có thể gây thêm một cành khung cấp I thứ 4 ở phía ngọn cây Cuối năm thứ hai chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp II và năm thứ 3 chủ yếu là cắt cành khung cấp III Hết năm thứ 3 coi như tán cây hồng đã ổn định, cây hồng bắt đầu bói quả và bắt đầu bước sang thời kỳ đốn tạo quả (Phạm Văn Côn, 2002; Vũ Công Hậu, 1996).

Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa các đợt lộc sẽ xác định được tuổi cành mẹ thích hợp cho cành quả năm sau Từ đó đề xuất được các biện pháp kỹ thuật thích hợp như bón phân, đốn tỉa, để thúc đẩy sinh trưởng đợt lộc chủ yếu làm cành mẹ cho cành quả năm sau 2.7 CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG, PHÂN BÓN QUA LÁ VÀ ỨNG DỤNG

2.7.1 Giới thiệu chung về chất điều hòa sinh trưởng

2.7.1.1 Vai trò sinh lý của chất điều hòa sinh trưởng

Chất điều hòa sinh trưởng nội bào thực vật còn gọi là phytohormon, nó điều chỉnh quá trình sinh trưởng phát triển của cây.

Các phytohormon thực vật là các chất hữu cơ được tổng hợp với lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác

để điều hòa các hoạt động sinh lý, các quá trình sinh trưởng phát triển và duy trì mối qua hệ hài hòa giữa các cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất.

Do chức năng điều chỉnh hình thành các cơ qua sinh sản và cơ quan dự trữ hormon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc sử lý các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau con người có thể nâng cao năng suất

và phẩm chất sản phẩm nông nghiệp (Phạm Văn Côn, 2004; Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch, 1993; Lê Văn Tri, 2000).

Để sử dụng có hiệu quả các chất điều hòa sinh trưởng trong sản xuất nông nghiệp thì việc đầu tiên ta cần biết phân loại và tìm hiểu tính năng tác dụng của chúng với cây trồng và môi trường.

Trang 36

2.7.1.2 Phân loại chất điều hòa sinh trưởng

Căn cứ vào nguồn gốc người ta chia làm hai nhóm là các phytohormon và các chất điều hòa sinh trưởng.

Căn cứ vào hoạt tính sinh lý: Chia ra làm hai nhóm đối kháng nhau về mặt sinh lý là:

Xytokynin được sản sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi non, quả non…, chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây ở nồng độ thấp và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan dinh dưỡng.

+ Các chất ức chế sinh trưởng: Gồm Axit abxixic, Ethylen, các phenol,…v.v được hình thành và tích lũy chủ yếu trong các cơ quan trưởng thành, cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ, gây già hóa và chết.

2.7.1.3 Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trong sản xuất cây ăn quả.

* Các nguyên tắc sử dụng

- Nồng độ: Hiệu quả của chất điều tiết sinh trưởng đối với cây phụ thuộc vào nồng độ Thông thường, nếu nồng độ quá thấp thì hiệu quả sinh lý kém, nồng độ sử dụng ở mức thấp sẽ có hiệu quả kích thích sinh trưởng, nồng độ sử dụng cao sẽ gây ảnh hưởng ức chế và nếu nồng độ quá cao sẽ gây ảnh hưởng phá hủy và dẫn đến hủy diệt Vì vậy, tùy theo mục đích mà chọn nồng độ sử dụng khác nhau.

- Phối hợp: Chất điều tiết sinh trưởng không phải là chất dinh dưỡng, chúng chỉ có thể hoạt hóa quá trình trao đổi chất Vì vậy, muốn

có hiệu quả kinh tế (năng suất và phẩm chất) thì nhất thiết phải phối hợp giữa việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng với việc thỏa mãn nhu cầu

về nước và dinh dưỡng cho cây trồng.

cây: sự đối kháng sinh lý này sẽ triệt tiêu tác dụng của nhau Chẳng hạn, sự đối kháng sinh lý giữa Auxin ngoại sinh và Ethylen nội sinh trong sự phòng ngừa rụng hoa, quả; sự đối kháng giữa GA ngoại sinh và ABA nội sinh trong sự phá ngủ nghỉ; sự đối kháng giữa Auxin và Xytokynin trong sự phân hóa rễ và chồi.

loài cây nhất định hoặc với một số vùng nhất định Do vậy, muốn sử dụng cần phải nghiên cứu cụ thể, khi có kết quả chắc chắn mới mở rộng ra sản xuất lớn.

Trang 37

* Các kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng và cây ăn quả.

Theo Trần Thế Tục và cs (1998) cho biết: Biện pháp tăng tỷ lệ đậu quả tốt nhất là phun các chất điều hòa sinh trưởng như GA 3 , NAA, có thể dùng kết hợp hoặc riêng rẽ với các nguyên tố vi lượng.

Theo Phạm Minh Cương (1997) cho biết: Phun Ethrel cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả, do vậy làm tăng

tăng năng suất đến 15% Khi phun chất điều tiết sinh trưởng đơn lẻ hay phối hợp đều làm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả dẫn đến nâng cao năng suất vải

Theo Phạm Minh Cương (2005) cho biết: Phun chất điều hòa sinh trưởng đơn lẻ và phối hợp đều có tác dụng làm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả dẫn đến nâng cao năng suất vải Phun kết hợp GA 3 + Ethrel với

GA 3 và Oxyclorua đồng ở diện rộng tăng năng suất vải trên 12%.

Theo Đỗ Văn Chuông (2000) cho biết: Chỉ trong vòng một tuần sau khi tưới KCLO 3 (cứ cách 2 ngày tưới nước một lần cho chất này ngầm vào đất) và sau 25 - 35 ngày nhãn sẽ ra hoa.

Theo Nguyễn Văn Dũng (2005) cho biết: Khi phun GA 3 và B 0,1% + Ure

(46%) 0,50% cho vải vào 3 thời kỳ: trước nở hoa, sau đậu quả 5 - 7 ngày và sau khi đậu quả 45 - 60 ngày (trước khi rụng sinh lý lần 2) có tác dụng tăng cường khả năng giữ quả, tăng khối lượng quả và tăng năng suất vải chín sớm Phun chất điều hòa sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá có tác dụng làm tăng đường tổng số, vitaminC, chất khô, Brix, giảm tỷ lệ axit, có tác dụng nâng cao phẩm chất vải chín sớm.

Theo Bùi Quang Đãng, Vũ Mạnh Hải và Hoàng Minh Tấn (2006) cho

biết: Phun GA 3 lên tán cây Xoài (giống GL6) ở nồng độ 100 - 200ppm có tác dụng làm chậm thời gian nở hoa so với đối chứng từ 20 - 25 ngày (hoa nở rộ: 22/3 - 1/4) Phun GA 3 ở nồng độ 50ppm không ảnh hưởng đến quá trình ra hoa Xử lý GA 3 ở nồng độ 250ppm đã làm cho cây không thể ra hoa Xử lý

GA 3 ở nồng độ 100-200ppm có ảnh hưởng đễn thời gian ra hoa Trong đó nồng độ xử lý 100ppm có tác dụng tốt nhất: thời gian nở hoa muộn hơn, tỷ lệ cành mang hoa và cành mang quả, tương ứng là 95,38 và 85,74% Năng suất quả thu được từ công thức xử lý GA 3 100ppm đạt cao nhất 30,74kg/cây Việc

xử lý GA 3 ở nồng độ nghiên cứu đều không ảnh hưởng đến chất lượng quả.

Trang 38

Theo Nguyễn Thị Kim Thanh (2003) cho biết: Khi phun Ethrel vào thời kỳ rụng lá tự nhiên 80% đã làm cho lá hồng rụng nhanh hơn, lộc ra muộn hơn so với đối chứng không phun, nhưng lộc lại

ra tập chung hơn và muộn hơn, nâng cao tỷ lệ cành mang hoa cái.

Theo Nguyễn Thị Kim Thanh và cs (2005) cho biết: Khi phun kết hợp Atonik + Komix và hai loại thuốc trừ nấm RidomilMZ, Oxyclorua đồng đã có tác dụng nâng cao số quả, làm tăng năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế cây trồng cho cây hồng Thạch Thất trên đất đồi.

Theo Đào Thanh Vân (2005) cho biết: Khi phun các chế phẩm đậu quả: kích phát tố hoa trái Thiên Nông, Atonik, NAA, IAA cho Nhãn Hương Chi vào 3 thời kỳ: Trước hoa nở rộ 10 ngày; khi hoa nở rộ; sau hoa nở rộ 10 ngày đều có tác dụng nâng cao tỷ lệ đậu quả, trong đó tốt nhất là kích phát tố hoa trái Thiên Nông Sử dụng chế phẩm đậu quả có tác dụng tăng năng suất của vườn nhãn, hiệu quả nhất là phun kích tố hoa trái Thiên Nông tiếp đến là sử dụng NAA và Atonik.

Theo Nguyễn Văn Vượng và Trần Thế Tục (2005) cho biết: Bằng biện pháp

bẻ hoa đợt 1 kết hợp với phun chế phẩm HQ-201, phun α-NAA 30 - 40ppm

ở năm có điều kiện thời tiết rét muộn kèm theo mưa phùn làm tăng được tỷ lệ đậu quả của Xoài GL từ 1,5 -2 lần so với biện pháp bẻ hoa và đối chứng Kết hợp với biện pháp bón phân, cắt tỉa, tưới nước với phun α-NAA 40ppm, phun chế phẩm đậu quả HQ-201 và chế phẩm đậu quả của bộ môn Sinh lý - Hóa sinh trường Đại học nông nghiệp I làm tăng tỷ lệ đậu quả của giống Xoài GL từ 2,5 - 3 lần so với biện pháp bẻ hoa và đối chứng.

Theo Trần Thị Kim Ba và Nguyễn Bảo Vệ (2004) cho biết: Đối với Xoài Cát Lộc, phun hai lần chất điều hòa sinh trưởng thực vật ở hai thời điểm 1 tuần và 4 tuần sau khi đậu trái làm tăng khả năng đậu trái và tăng năng suất Trong đó hợp chất 2,4D kết hợp với dung dịch dinh dưỡng cho kết quả tốt nhất, tỷ lệ đậu trái loại 1 tăng cao nhất Phun chất điều hòa sinh trưởng không làm thay đổi PH và độ cứng của trái nhưng làm tăng đường tổng số, tăng tỷ lệ chất khô, giảm hàm lượng tinh bột trong trái lúc thu hoạch.

Theo Yung Kyung Choi and Jung Hokim (1972) cho biết: Để chống rụng quả hồng, ngoài thụ phấn bổ khuyết còn có thể phun hóa chất (NAA 10ppm, 2,4D, 2,4,5T phun 2 - 3 lần) và kết hợp bón phân đạm vào lúc thích hợp.

Trang 39

2.7.2 Giới thiệu chung về phân bón qua lá cho cây trồng

Phân bón lá được phát hiện tại Viện Đại học Michigan từ năm

1954, nhưng mãi đến thập kỷ 1970 - 1980 các nhà khoa học ở nhiều nơi, nhiều nước mới xác nhận là hiệu lực cao hơn, nhanh hơn, kinh

tế hơn và tránh được ô nhiễm môi trường.

2.7.2.1 Vai trò của việc bón phân qua lá cho cây trồng

Sau nhiều năm thí nghiệm, ứng dụng ở nhiều nơi, nhiều nước có khí hậu khác nhau cho thấy, bón phân qua lá được xác nhận có hiệu suất cao nhất, kinh

tế nhất, cây cối tiếp thu được 95% chất phân Bởi vì phân bón qua lá được sản xuất với nguyên liệu tinh khiết trong sạch đến 99,9% Trong quá trình sản xuất , phân bón lá được kết hợp với nhiều nguồn Enzim (enzimes) chiết xuất từ động vật, thực vật, sinh vật, vi khuẩn hoặc vi nấm, các vi lượng cần thiết giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn Do vậy, phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thu dinh dưỡng của cây ở đất bị hạn chế Việc áp dụng bón qua lá từ 2 - 3 lần ở những thời điểm thích hợp là hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng theo Horst (1993).

2.7.2.2 Ưu và nhược điểm của phân bón qua lá

- Đất bị khô hạn không thể dinh dưỡng vào đất.

trung lượng như Magiê, S và các nguyên tố vi lượng được yêu cầu liều lượng nhỏ Phương pháp dinh dưỡng qua lá hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu của cây.

- Điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng của cây khi chuyển giai đoạn từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Lúc này các chất dinh dưỡng được tập chung vào hình thành cơ quan sinh sản làm giảm sinh trưởng bộ rễ, giảm hút khoáng dẫn đến mất cân bằng nên bổ sung dinh dưỡng qua lá sẽ khắc phục được tình trạng này Nguyen Van Phu (2003) Tlustos, P., Palivkova, D, Phu Nguyen Van (2001).

Trang 40

Phương pháp dinh dưỡng qua lá là rất có hiệu quả khi trong đất có hiện

hiện tượng đối kháng ion, cây có biểu hiện thiếu Mg nếu bón Mg cho cây vào đất

sẽ làm cho cây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc Mg Trong khi đó bón Mg qua lá lại giúp cho cây sinh trưởng tốt Nguyen Van Phu (2003).

* Nhược điểm:

Phương pháp bón phân qua lá có hiệu quả cao như đã được thảo luận

ở trên Tuy nhiên phương pháp này còn một số nhược điểm cần khắc phục.

Một lượng nhỏ chất khoáng có thể hút qua lá Đối với các nguyên tố đa chất chỉ khoảng 10% là được đồng hóa qua lá Vì thế phương pháp này là không phổ biến với các nguyên tố đa lượng , với các nguyên tố này thì dinh dưỡng qua lá được xem như là biện pháp

hỗ trợ cho các phương pháp dinh dưỡng vào đất trong điều kiện cần thiết và chỉ phổ biến với các nguyên tố trung lượng và vi lượng.

- Rất dễ bị rửa trôi khỏi lá, vì thế phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện

thời tiết.

mỏng trên bề mặt lá với thời gian tồn tại lâu, vì vậy, khi phun phải chọn lúc trời râm mát, phun vào chiều tối và thường kết hợp với các chất hoạt động bề mặt (Nguyen Van Phu, 2003; Tlustos, P., Palivkova, D and Phu Nguyen Van, 2001).

2.7.2.3 Các kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón qua lá cho cây trồng

Có rất nhiều thí nghiệm về dinh dưỡng qua lá trong những năm qua cho biết năng suất của hạt đậu tương tăng lên từ 27 - 31% khi phun hỗn hợp phân bón N-P-K-S, ở giai đoạn cuối ra hoa Tuy nhiên trong một báo cáo khoa học khác cho thấy việc dinh dưỡng qua lá không ảnh hưởng đến năng suất của hạt đậu tương [81] và hiệu lực của dinh dưỡng đạm qua lá phụ thuộc nhiều vào tình trạng của cây.

Theo Tomar et al (1998) nhận thấy bón đạm qua lá làm tăng năng suất ngô.

Những nghiên cứu của Brohi (1998) cũng chỉ ra rằng: phun phối hợp Mg

N + Mg + Zn làm tăng năng suất hạt lúa mì 30-30,9% Phun ure qua lá ở giai

Ngày đăng: 16/07/2021, 06:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Quang Đãng, Vũ Mạnh Hải, Hoàng Minh Tấn (2006). “Ảnh hưởng của GA 3 đến việc kìm hãm quá trình nở hoa, ổn định năng suất quả của giống xoài GL6trồng ở miền Bắc”. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. Chuyên san kỷ niệm 15 năm thành lập Viện nghiên cứu rau quả. tr. 42-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng củaGA3 đến việc kìm hãm quá trình nở hoa, ổn định năng suất quả của giống xoàiGL6trồng ở miền Bắc
Tác giả: Bùi Quang Đãng, Vũ Mạnh Hải, Hoàng Minh Tấn
Năm: 2006
6. Đào Thanh Vân (1998). “Ứng dụng chất điều hòa sinh trưởng đối với cây ăn quả”. Chuyên san canh tác trên đất dốc. Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. (4). tr.73-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng chất điều hòa sinh trưởng đối với cây ăn quả
Tác giả: Đào Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1998
8. Đào Thanh Vân (2005). “Ảnh hưởng của chế phẩm đậu quả đối với nhãn Hương Chi”. Tạp trí khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên. (3). tr. 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chế phẩm đậu quả đối với nhãn Hương Chi
Tác giả: Đào Thanh Vân
Năm: 2005
12. Mai Xuân Lương (1994). “Điều tra, thu thập và đánh giá một số cây ăn quả đặc sản (hồng, bơ) ở Đà Lạt và các vùng lân cận”. Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thu thập và đánh giá một số cây ăn quả đặc sản (hồng, bơ) ở Đà Lạt và các vùng lân cận
Tác giả: Mai Xuân Lương
Năm: 1994
13. Nguyễn Văn Thơ, Lê Thị Khỏe, Huỳnh Văn Tân và Nguyễn Minh Châu (2004). “Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến năng suất và Phẩm chất trái Măng cụt (Garcinia mangostana L)”. Tạp trí Nông nghiệp và phát triển nông thôn. (8). tr. 1067-1069 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến năng suất và Phẩmchất trái Măng cụt (Garcinia mangostana L)
Tác giả: Nguyễn Văn Thơ, Lê Thị Khỏe, Huỳnh Văn Tân và Nguyễn Minh Châu
Năm: 2004
14. Nguyễn Thiện Chính (1995). “Ảnh hưởng điều kiện tự nhiên đến khả năng phát triển cây ăn quả vùng Đông Bắc Bắc Bộ”. Kết quả nghiên cứu khoa học (quyển 5). Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng điều kiện tự nhiên đến khảnăng phát triển cây ăn quả vùng Đông Bắc Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Thiện Chính
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
15. Nguyễn Văn Dũng (2005). “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất vải chín sớm”. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. Chuyên san kỷ niệm15 năm thành lập Viện nghiên cứu rau quả. tr. 81-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinhtrưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất vải chínsớm
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2005
18. Nguyễn Thị Kim Thanh (2003). “Ảnh hưởng của Etylen đến sự rụng lá, phát lộc, phát dục của giống hồng Thạch Thất”. Tạp trí khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp. 1 (1). tr. 100-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Etylen đến sự rụng lá,phát lộc, phát dục của giống hồng Thạch Thất
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Thanh
Năm: 2003
19. Nguyễn Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Trâm và Lê Thị Ý Yên (2005).“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất hồng và nhãn trên đất đồi”. Tạp trí nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chuyên san Kỷ niệm 15 năm thành lậpViện nghiên cứu rau quả. tr. 99-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất hồng và nhãn trên đấtđồi
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Trâm và Lê Thị Ý Yên
Năm: 2005
20. Nguyễn Văn Vượng và Trần Thế Tục (2005). “Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bẻ hoa kết hợp với phun hoa chất và biện pháp canh tác hợp lý với phun hóa chất tới tỷ lệ đậu quả của cây xoài ở Bắc Quang”. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn (16). tr.23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu ảnhhưởng của biện pháp bẻ hoa kết hợp với phun hoa chất và biện pháp canh táchợp lý với phun hóa chất tới tỷ lệ đậu quả của cây xoài ở Bắc Quang
Tác giả: Nguyễn Văn Vượng và Trần Thế Tục
Năm: 2005
21. Phạm Minh Cương (1997). “Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm điều hòa sinh trưởng và vi lượng đến tỷ lệ đậu quả và chất lượng của quả 2 giống vải thiều Thanh Hà và Phú Hộ”. Kết quả nghiên cứu khoa học (quyển 7). tr. 143-146. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩmđiều hòa sinh trưởng và vi lượng đến tỷ lệ đậu quả và chất lượng của quả 2 giống vải thiềuThanh Hà và Phú Hộ
Tác giả: Phạm Minh Cương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
22. Phạm Minh Cương, Nguyễn Thị Thanh và CTV (2005). “Nghiên cứu 1 số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất vải”. Tạp trí nông nghiệp & phát triển nông thôn. Chuyên san kỷ niệm 15 năm thành lập viện Nghiên cứu rau quả. tr. 73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu 1 số biệnpháp kỹ thuật tăng năng suất vải
Tác giả: Phạm Minh Cương, Nguyễn Thị Thanh và CTV
Năm: 2005
25. Trần thị Kim Ba, Nguyễn Bảo Vệ (2004). “ Ảnh hưởng của NNA, GA 3 và 2,4D đến sự đậu trái, năng suất, phẩm chất xoài cát Hòa Lộc tại Cần Thơ”. Tạp trí Nông nghiệp & Nông thôn. (10). tr. 1349-1351 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của NNA, GA3 và2,4D đến sự đậu trái, năng suất, phẩm chất xoài cát Hòa Lộc tại Cần Thơ
Tác giả: Trần thị Kim Ba, Nguyễn Bảo Vệ
Năm: 2004
37. Bird. R. (1991). (Editor) Focus and Plants. Volume 5. (formerly “Growing from seed”) Thompson and Morgan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growing from seed
Tác giả: Bird. R
Năm: 1991
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998). Viện nghiên cứu cây ăn trái miền Nam. Hội thương mại hóa trái cây nhiệt đới miền Nam Việt Nam SOFRI (Southern Fruit Resources Institute). Trích nghị quyết hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 Khác
3. Đỗ Văn Chương (2000). Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ nông nghiệp 1996-1997. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Đỗ Tất Lợi (1986). Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Khác
5. Đào Thế Tuấn (1978). Đời sống cây trồng. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
7. Đào Thanh Vân và Ngô Xuân Bình (2003). Giáo trình cây ăn quả (dành cho cao học). Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 138-148 Khác
9. Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1996). Sinh lý thực vật. Bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu sinh ngành Trồng trọt - Bảo vệ thực vật - Di truyền giống. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w