1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thóc đỏ tribolium castaneum (herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu chi ma, lạng sơn năm 2019

117 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 6,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Herbst trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu...22 3.4.3.. TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Lê Hồng Mạnh Tê

Trang 1

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ

LÊ HỒNG MẠNH

NGHIÊN C U Đ C ĐI M SINH V T H C, SINH THÁI Ứ Ặ Ể Ậ Ọ

H C C A LOÀI M T THÓC Đ Ọ Ủ Ọ Ỏ Tribolium castaneum

T I C A KH U CHI MA, L NG S N NĂM 2019 Ạ Ử Ẩ Ạ Ơ

Ng ườ ướ i h ng d n khoa h c: ẫ ọ PGS TS H Th Thu Giang ồ ị

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tintrích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Hồng Mạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè và người thân.

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS

Hồ Thị Thu Giang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài vàhoàn thành bản luận văn này

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng Khoa Nông học, Ban quản lý đào tạo Học viện nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạođiều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình học tập

-Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo và tập thểcán bộ Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7 Lạng Sơn đã động viên và tạo mọi điều kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân vàgia đình đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Hồng Mạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.4.1 Những đóng góp mới 2

1.4.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước về loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 4

2.2.1 Vị trí phân loại 4

2.2.2 Phạm vi ký chủ và phân bố 5

2.2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 6

2.2.4 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản 11 2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

2.3.1 Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật 13

Trang 6

2.3.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) 14

2.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản 17 Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 20

3.2 Vật liệu nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 21

3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 22

3.4.3 Thử nghiệm hiệu lực của phosphine đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại nguyên liệu hoa cúc khô 25

3.5 PHương pháp bảo quản sâu mọt 27

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29

4.1 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu hoa cúc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn 29

4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) 30

4.2.1 Đặc điểm hình thái của mọt Tribolium castaneum (Herbst) 31

4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 37

4.2.3 Tỉ lệ chết các pha trước trưởng thành của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 47

4.2.4 Điều tra mật độ của loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) 52

4.3 Khảo nghiệm thuốc hoá học phòng trừ loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 54

Trang 7

Phần 5 Kết luận và đề nghị 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 57

Tài liệu tham khảo 58

Phụ lục 63

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thành phần côn trùng gây hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại

cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2018 - 2019 29

Bảng 4.2 Kích thước các pha phát dục của mọt Tribolium castaneum (Herbst) ở

hai mức nhiệt độ 31

Bảng 4.3 Thời gian phát dục của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

ở 2 mức nhiệt độ khác nhau với thức ăn trên hoa cúc 38

Bảng 4.4 Thời gian phát dục của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum

(Herbst) ở 2 mức nhiệt độ khác nhau với thức ăn trên bột mỳ 40Bảng 4.5 Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau đến sức sinh sản của mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) ở hai mức nhiệt độ 42

Bảng 4.6 Thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum

(Herbst) trong điều kiện có thức ăn và không có thức ăn ở nhiệt độ 25oC 43

Bảng 4.7 Thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum

(Herbst) trong điều kiện có thức ăn và không có thức ăn ở nhiệt độ 30oC 44Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 25oC 45Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 30oC 45Bảng 4.10 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn đến tỷ lệ đực cái của loài mọt thóc

đỏ Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 25oC 46Bảng 4.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn đến tỷ lệ đực cái của loài mọt thóc

đỏ Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 30oC 47Bảng 4.12 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành của

mọt thóc đỏ Triborium castaneum H với thức ăn là bột mỳ 48Bảng 4.13 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành của

mọt thóc đỏ Triborium castaneum H với thức ăn là hoa cúc khô 48

Bảng 4.14 Mức độ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên

các loại thức ăn khác nhau ở nhiệt độ 25oC 50

Trang 9

Bảng 4.15 Mức độ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên

các loại thức ăn khác nhau ở nhiệt độ 30oC 51

Bảng 4.16 Điều tra mật độ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên

nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn53

Bảng 4.17 Hiệu lực phòng trừ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) của

thuốc Phosphine ở các liều lượng khác nhau 55

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây

hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 22

Hình 3.2 Hình ảnh nuôi sinh học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 23

Hình 3.3 Thí nghiệm hiệu lực của phosphine đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại nguyên liệu hoa cúc khô 25

Hình 4.1 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 29

Hình 4.2 Mọt râu dài Cryptolestes ferrugineus (Stephens) 29

Hình 4.3 Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis (Linnaeus) 30

Hình 4.4 Mọt râu dài Cryptolestes pusillus (Schönherr) 30

Hình 4.5 Trứng của Tribolium castaneum (Herbst) 32

Hình 4.6 Sâu non tuổi 1 Tribolium castaneum (Herbst) 32

Hình 4.7 Sâu non tuổi 2 Tribolium castaneum (Herbst) 32

Hình 4.8 Sâu non tuổi 3 Tribolium castaneum (Herbst) 32

Hình 4.9 Sâu non tuổi 4 Tribolium castaneum (Herbst) 33

Hình 4.10 Sâu non tuổi 5 Tribolium castaneum (Herbst) 33

Hình 4.11 Sâu non tuổi 6 Tribolium castaneum (Herbst) 34

Hình 4.12 Sâu non tuổi 7 Tribolium castaneum (Herbst) 34

Hình 4.13 Sâu non tuổi 8 Tribolium castaneum (Herbst) 34

Hình 4.14 Nhộng Tribolium castaneum (Herbst) 35

Hình 4.15 Trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 36

Hình 4.16 Vòng đời của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên 2 loại thức ăn hoa cúc và bột mỳ ở nhiệt độ 25oC và 30oC, ẩm độ 70-80% 40 Hình 4.17 Ảnh hưởng của các loại thức ăn và nhiệt độ đến tỷ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 46

Hình 4.18 Tỷ lệ chết trước trưởng thành của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 49

Hình 4.19 Tỷ lệ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên các

loại thức ăn khác nhau trong điều kiện 25oC, độ ẩm 70-80% 50

Hình 4.20 Tỷ lệ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên các

loại thức ăn khác nhau trong điều kiện 30oC, độ ẩm 70-80% 51

Trang 11

Hình 4.21 Điều tra mật độ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên

nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

đợt 1 (từ 19/10/2018 - 28/12/2018) 53

Hình 4.22 Điều tra mật độ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên

nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

đợt 2 (từ 22/2/2019 đến 3/4/2019) 54

Hình 4.23 Hiệu lực phòng trừ mọt Tribolium castaneum (Herbst) của thuốc

Phosphine ở các liều lượng khác nhau 55

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Lê Hồng Mạnh

Tên Luận văn: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc

đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi

Ma, Lạng Sơn năm 2019

thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) từ đó đề xuất biện pháp quản lý dịch hại có nguy cơ

theo hàng hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu trên đối tượng loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) Điều

tra xác định thành phần côn trùng gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi

Ma, Lạng Sơn được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 01- 141:2013/BNNPTNN về phương pháp lấy mẫu Kiểm dịch thực vật

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) theo William Azalekor (1999).

Phương pháp xử lý và bảo quản sâu mọt theo Bùi Công Hiển (1995)

Thử nghiệm biện pháp phòng trừ trong phòng thí nghiệm được thực hiên theoquy chuẩn Việt Nam 01-19/2010/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010) Quychuẩn kỹ thuật quốc gia về quy trình kỹ thuật xông hơi khử trùng

Ở nhiệt độ 25oC, độ ẩm 70-80% vòng đời của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên hoa cúc khô và bột mỳ trung bình là 92,92 ± 4,02 ngày và 83,5

± 3,14 ngày Tổng số trứng đẻ trung bình của mọt trưởng thành cái cao nhất là

Trang 13

149,15±31,02 quả/cái khi được nuôi với thức ăn là bột mỳ Tỷ lệ đực/cái trên hoa cúckhô là 1/0,86 và bột mỳ là 1/1,10 Tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành ở hoa cúc là36,36% cao hơn bột mỳ là 32,73%.

Ở nhiệt độ 30oC, độ ẩm 70-80% vòng đời của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên hoa cúc khô và bột mỳ trung bình là 78,23 ± 2,18 ngày và 69,3

± 1,75 ngày Tổng số trứng đẻ trung bình của mọt trưởng thành cái cao nhất là251,17±45,19 quả/cái khi được nuôi với thức ăn là bột mỳ Tỷ lệ đực/cái trên hoa cúckhô là 1/1,20 và bột mỳ là 1/1,42 Tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành ở hoa cúc là29,09% cao hơn bột mỳ là 20%

Sau thời gian 120 ngày bảo quản tỷ lệ hao hụt trọng lượng với thức ăn bột mỳ vàhoa cúc khô ở nhiệt độ 25oC là 42,7% và 27,8%; tỷ lệ này ở nhiệt độ 30oC là 51,3% và37,4%

Mật độ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô

nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn giữa đợt 1 (trung bình 5,2 con/kg) và đợt 2(6,1 con/kg) sự khác nhau không đáng kể

Thuốc Phosphine có hiệu lực phòng trừ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum

(Herbst) đạt 100% khi sử dụng liều lượng 3 gam PH3/m3 sau 7 ngày xử lý, thấp nhấtthuốc ở liều lượng 1g/m3 sau 3 ngày xử lý thuốc (đạt 31%)

Trang 14

THESIS ABSTRACT

Author's name: Le Hong Manh

Name of the thesis: Biological and Ecological characteristics of Tribolium castaneum

(Herbst) on imported dried chrysanthemum flower at Chi Ma border gate, Lang Sonprovince in 2019;

Name of training institution: Vietnam National University of Agriculture

Research purposes:

The survey composition of insect pests were carried out on imported driedchrysanthemum flowers from China Study on some biological and ecological

characteristics of Tribolium castaneum (Herbst) causing major damage; These would

provide a basis to detect and management pests infecting dried chrysanthemum flowersfrom China through Chi Ma border gate, Lang Son

Research Methods

The composition of insect pests on improted dried chrysanthemum flower at Chi

Ma border gate, Lang Son was Sampling by method carried out in accordance withNational Technical Regulation 01-141: 2013/MARD on sampling methods of plant

quarantine Study on the biological and ecological characteristics of Tribolium castaneum (Herbst) according to William Azalekor (1999).

Pest handling and preservation method according to Bui Cong Hien (1995).Assessment the effectiveness of Phosphine Laboratory tests are performed inaccordance with Vietnamese standards 01-19/2010/ MARD National technicalregulation on disinfection vaporization technical process

Main results and conclusions

The insect pest on imported dried chrysanthemum materials at Chi Ma border gate, Lang Son province from 2018 to 2019 were determine 4 species belong 3 families Four

species were very common: Tribolium castaneum Herbst, Oryzaephilus surinamensis L.,

Cryptolestes pusillus (Schönherr) và Cryptolestes ferrugineus (Stephens).

At 25oC, the life cycle of Tribolium castaneum Herbst on dried chrysanthemum

and wheat averages were 92.92 ± 4.02 days and 83.5 ± 3.14 days, respectively Thehighest average number of laying eggs of the adult the red flour beetle was 149.15 ±31.02 eggs/female when fed with wheat flour The male/female ratio for driedchrysanthemum were 1/0.86 and wheat flour is 1/1.10 The mortality rate of pre-mature

Trang 15

stage in chrysanthemum was 36.36% higher than that of wheat flour of 32.73%.

At 30oC, the life cycle of Tribolium castaneum Herbst on dried chrysanthemum

and wheat averages were 78.23 ± 2.18 days and 69.3 ± 1.75 days, respectively Thehighest average number of laying eggs of the adult the red flour beetle was 251.17 ±45.19 eggs/female when fed with wheat flour The male/female ratio for driedchrysanthemum is 1/1.20 and wheat flour is 1/1.42 The mortality rate of pre-maturestage in chrysanthemum was 29.09% higher than that of wheat flour of 20%

After 120 days of infestation, percent weight loss of wheat flour and driedchrysanthemum was 42.7% and 27.8% at 25oC; and 51.3% and 37.4% at 30oC

Changes in the density of Tribolium castaneum (Herbst) on imported dried

chrysanthemum flowers through the Chi Ma, Lang Son from 10-12/2018 and from 5/2019 were not difference significant

2-Phosphine effective with Tribolium castaneum (Herbst) was 100% at 3 grams of

PH3 /m3 dose after 7 days treaments, the lowest dose is 1g of PH3 / m3 at 3 days aftertreaments effective was 31%

Trang 17

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum indicum, họ Asteraceae, có vị

đắng, cay, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, hạ hỏa, giải độc, bổ não và chữa suynhược thần kinh Từ nhiều năm nay, cả hoa cúc khô và tươi đều được dùng đểchế biến thành các loại trà (gọi là trà hoa cúc) và làm vị thuốc Đông y có tác dụngphòng, chữa nhiều bệnh rất tốt Hoa cúc việc được gieo trồng trong nước thì đa sốđược nhập khẩu vào Việt Nam từ Trung Quốc, theo số liệu báo cáo hàng năm củaChi cục kiểm dịch thực vật vùng 7 - Cục Bảo vệ thực vật như sau; năm 2016:203,104 tấn; năm 2017: 196,193 tấn; sáu tháng đầu năm 2018 là 75,52 tấn (Chicục KDTV VII, 2018)

Qua công tác điều tra thành phần dịch hại hại trên các lô hàng hoa cúc nhậpkhẩu qua các năm gần đây thì một trong những nhóm gây hại có nguy cơ làm ảnhhưởng rõ rệt nhất tới sự tổn thất là do nhóm côn trùng hại gây ra trong số đó có

loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) xuất hiện ở mức độ phổ biến qua

các lô hàng nhập khẩu hoa cúc khô tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn mà Trạmkiểm dịch thực vật Chi Ma đã phát hiện

Mục tiêu của công tác Kiểm dịch thực vật là hoạt động ngăn chặn, pháthiện, kiểm soát đối tượng kiểm dịch thực vật, đối tượng phải kiểm soát và sinhvật gay hại lạ theo hàng hoá trong quá trình xuất nhập khẩu để bảo vệ tốt nền sảnxuất trong nước, đảm bảo uy tín chất lượng sản phẩm hàng hoá Việt Nam trêntrường quốc tế, tránh thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng,bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ của con người Trong công tác Kiểmdịch thực vật, việc điều tra thành phần, nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tínhsinh học của các loài dịch hại chủ yếu là công việc rất cần thiết, giúp cho việcphát hiện và xử lý kịp thời, nhanh chóng, chính xác sinh vật gây hại nói chung,côn trùng nói riêng, là cơ sở khoa học để phân tích đánh giá và quản lý dịch hạitrên hàng nông sản nhập khẩu vào Việt Nam Để góp phần đáp ứng yêu cầu của

khoa học và thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc

điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2019”.

Trang 18

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Xác định thành phần sâu mọt gây hại trên mặt hàng hoa cúc khô nhập khẩuqua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn Đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học,

sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) từ đó đề xuất biện

pháp quản mọt thóc đỏ gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc quacửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

- Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô và bột mỳ.

- Thử nghiệm phòng trừ sâu mọt bằng thuốc Phosphine tại phòng kỹ thuật Chi cục KDTV vùng 7 Lạng Sơn

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

-Nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

- Thành phần sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu Đặc

biệt là loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên nguyên liệu

hoa cúc khô

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Xác định thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

- Đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt

thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst).

- Thử nghiệm phòng trừ sâu mọt bằng thuốc Phosphine tại phòng kỹ thuật Chi cục KDTV vùng 7 Lạng Sơn

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.4.1 Những đóng góp mới

- Bổ sung thêm một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt

Trang 19

thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên mặt hàng hoa cúc khô nhập khẩu.

- Cung cấp về mức độ phổ biến của sâu mọt hại hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

1.4.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Góp phần bổ sung vào danh mục thành phần côn trùng gây hại nguyênliệu hoa cúc khô nhập khẩu Nhằm phát hiện kịp thời loài côn trùng thuộc danhmục đối tượng Kiểm dịch thực vật của Việt Nam

- Cung cấp thêm một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái

của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô

nhập khẩu Đề xuất biện pháp quản lý sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúckhô nhập khẩu

Trang 20

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Các loại thảo dược được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong việc chữa trị

từ lâu đời Các loài hoa là các vị thuốc được khai thác và bào chế theo sách củaTrung Quốc truyền sang và được phát triển bởi các lương y người Việt ThuốcNam là các vị thuốc do các thầy thuốc khám phá trên lãnh thổ Việt Nam Các vịthầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Lê Hữu Trác(còn lưu truyền bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông yViệt Nam) và Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng "Nam dược trị Nam nhân" -thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam)

Thuốc đông y khi sử dụng không chỉ an toàn hơn các loại thuốc hoá học đắttiền, mà còn có tác dụng điều trị nhằm tăng cường sức khoẻ, sức đề kháng của cơthể đặc biệt đẩy lùi được một số căn bệnh hiểm nghèo Một trong những mặthàng truyền thống được người Việt Nam sử dụng từ rất lâu đó là nguyên liệu cácloại thảo dược Lượng nguyên liệu thảo dược nhập khẩu hàng năm ngày càngtăng cả về số lượng, khối lượng và chủng loại

Hiện nay, việc bảo quản nguyên liệu thảo dược nhập khẩu còn gặp nhiềukhó khăn do các điều kiện về kho tàng, cách bảo quản, nhất là do sự gây hại củanhiều loại côn trùng làm hao hụt nguyên liệu, giảm giá trị hàng hóa trong kho bảoquản Một trong những đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại nghiêmtrọng trong các kho bảo quản nguyên liệu thảo dược là loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) được phát hiện trên nhiều loại nông sản bảo quản

khác nhau và các nhà khoa học cũng đã có công trình nghiên cứu quan tâm đếnloài côn trùng này Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về loài mọt

thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) chưa nhiều, nhất là trên mặt hàng bảo quản

là nguyên liệu thảo dược

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VỀ LOÀI MỌT THÓC

ĐỎ Tribolium castaneum (Herbst)

2.2.1 Vị trí phân loại

Vị trí phân loại và danh pháp như sau:

- Ngành chân đốt (Phylum): Arthropoda

- Lớp côn trùng (Class): Insecta

Trang 21

Tên khác: Colydium castaneum (Herbst), Tribolium navala auct.

Theo CABI (2018) mọt thóc đỏ có tên khoa học là Tribolium castaneum

(Herbst) và có tên tiếng anh là mọt bột đỏ (Red flour beetls), Bọ cám (Bran bug),Mọt bột đỏ gỉ sắt (Rust red flou beetle), Mọt bột (Flour beetle), Mọt thóc đỏ gỉsắt (Rust red grain beetle), Mọt bột xay đỏ (Red meal beetle)

2.2.2 Phạm vi ký chủ và phân bố

Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) là côn trùng hại thứ phát đối

với các sản phẩm kho và có phổ ký chủ rộng (Adil, 1982) Thức ăn gồm ngũ cốc

và các sản phẩm từ ngũ cốc; bột mì, ngô, lúa mì, lúa mạch, bột ngô, hạt kê, yếnmạch, gạo, lúa mạch đen, cám lúa mì, quả đậu, sữa bột, hạt cỏ khô, mẫu cây bảotảng, bả độc tẩm Asen, thức ăn gia súc khô, gia vị, nhiều loại thực phẩm cất trữ,hầu hết các sản phẩm của thực vật và động vật khô, thậm chí còn có thể ăn lẫnnhau như pha trứng và pha nhộng côn trùng sống trong điều kiện quần thể quá

đông (Subramanyam et al.,1996; Haines, 2001).

Ký chủ chính: ngô, lúa gạo, lúa mì, sản phẩm khô cất giữ, yến mạch, lúamiến, lúa mạch đen, lúa mạch, đậu, đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu lima, lạc, quả ócchó, quả hạch, lúa mì spenta (CABI, 2003)

Ký chủ phụ: sắn, hạt nhục đậu khấu, hạt kê, hạt kê trai, thuốc lá, cám mì,

cỏ đinh lăng, cây lanh, cao su, bông, cánh hoa rum khô, hạt hướng dương, đậutương, củ gừng, ớt chuông, bột quế, bột ca cao, củ từ, củ khoai sọ, khoai lang, kêxay, đậu quả, đậu đen, đậu bầu dục, chà là, lúa miến, lúa mì

Tribolium castaneum (Herbst) (Coleoptera: Tenebrionidae) là một loại côn

trùng được lưu trữ rộng rãi và phá hoại ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,trưởng thành của mọt thóc đỏ và sâu non tấn công nhiều nhà máy bột mì, nhà kho

và cửa hàng tạp hóa và ăn nhiều loại rau khô, chẳng hạn như các sản phẩm ngũcốc xay Côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng về trọng lượng và chất lượng của

các sản phẩm được lưu trữ (Abdelgaleil et al., 2015)

Trang 22

2.2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt

thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

2.2.3.1 Đặc điểm hình thái loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Theo Haines (1991), họ Tenebronidae là một nhóm côn trùng lớn và đadạng chứa hơn 10.000 loài trong đó có khoảng 100 loài được ghi nhận ở sảnphẩm lưu trữ Hầu hết các loài trong giống Tenebrionidae có màu đen hoặc tối, cóthể được tìm thấy trong các cửa hàng có chứa ngũ cốc bị nhiễm khuẩn, đặc biệttrong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới

Rizana (2005), cho biết mọt thóc đỏ Triborium castaneum đẻ trứng nhỏ,

hình trụ, màu trắng nằm rải rác trong sản phẩm Sâu non có màu vàng với đầumàu nâu nhạt, chúng sống bên trong các hạt cho đến khi hóa nhộng Trưởngthành dài khoảng 3 - 4 mm và có thể sống từ một năm trở lên

Adil (1982), ghi nhận trưởng thành của mọt thóc đỏ Triborium castaneum

có chiều dài từ 3 đến 4 mm, cơ thể có màu nâu Râu đầu 11 đốt và 3 đốt cuốiphình to Mắt kép, khoảng cách giữa 2 mắt kép bằng đường kính của mắt kép

Chiều dài trung bình của mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 3,32 và chiều rộng

là 1,03 mm Nhộng có màu nhạt và không hoạt động, ngoại trừ cũng có khả nănguốn cong cơ thể giữa ngực và bụng William (2000) đã nghiên cứu về loài

Triborium castaneum và cho rằng chiều dài của nhộng đực là 3,81 ± 0,03 mm và

chiều rộng là 1,07 ± 0,03 mm Chiều dài và chiều rộng của nhộng cái là 4,12 ±0,01 mm và 1,15 ± 0,01 mm

Chitrangad (2012), đã mô tả: trứng của mọt thóc đỏ Triborium castaneum

có hình bầu dục, màu trắng hoặc không màu và gần như trong suốt khi mới đẻ vàsau đó chuyển màu vàng nhạt, vỏ bên ngoài được phủ một chất dính, trứng cóchiều dài trung bình 0,56 mm rộng 0,27 mm Sâu non có 7 tuổi, cơ thể màu vàngtrắng Nhộng có màu trắng với chiều dài 3,5- 4,0 mm và rộng 1,1 mm Trưởngthành mọt thóc đỏ mới vũ hóa có màu vàng nhạt, sau đó dần biến thành màu nâu

đỏ và nâu đen, trưởng thành có chiều dài từ 3 đến 4 mm, chiều rộng là khoảng 1

mm, hẹp, dài, cơ thể hình chữ nhật

Singh et al (2006), cho biết sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum có

từ 5-12 tuổi, cơ thể sâu non màu vàng trắng và có hình trụ, sâu non tuổi 1 thường

từ dưới 1 mm, sâu non trưởng thành thay đổi từ 5 đến 7 mm

Bhubaneshwari and Devi (2014), mô tả trứng mới đẻ rất nhỏ, màu trắng,

Trang 23

hình trụ thường có bột bọc xung quanh trứng và khiến trứng trở nên khó nhìn,chiều dài của trứng dao động từ 0,54 đến 68 mm với giá trị trung bình 0,59 ± 0,02

mm, trong khi chiều rộng dao động từ 18 đến 29 mm với giá trị trung bình 0,23 ±0,02 mm Chiều dài trung bình trứng được tìm thấy là 0,42 mm, và chiều rộng là0,13 mm Sâu non mới nở cơ thể có màu kem trắng, trong suốt, đầu màu nâu nhạtvới mắt nâu, sâu non đẫy sức cơ thể có màu vàng nâu

Nhộng có đôi mắt phát triển đầy đủ, nhộng không có kén và ban đầu có màutrắng ngày đầu tiên, sau đó chuyển dần sang màu vàng ở giai đoạn thứ hai và cuốicùng chuyển thành màu nâu Phía lưng được bao phủ bởi lớp lông mịn Ở giai đoạnnày nhộng không hoạt động và không ăn (Bhubaneshwari and Devi, 2014)

Trưởng thành mọt thóc đỏ có màu đỏ nâu, đầu dẹt và rộng Mắt kép màuđen, nhìn ở mặt dưới đầu thì thấy khoảng cách của 2 mắt kép bằng đường kínhcủa mắt kép Râu hình chùy có 11 đốt, 3 đốt đầu phồng to lên Trưởng thành đực

có một gai lồi ở phía sau của xương đùi trước trong khi trưởng thành cái không

có Chiều dài của trưởng thành đực là 3,06 ± 0,03 mm và chiều rộng là 1,28 ±0,30 mm, chiều dài và chiều rộng của trưởng thành cái là 3,70 ± 0,01 mm và 1,28

± 0,03 tương ứng (Bhubaneshwari and Devi, 2014)

2.2.3.2 Vòng đời và thời gian phát dục các pha loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Theo Stuart (2003), mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) đẻ

300-400 trứng trong bột mì hoặc các loại thực phẩm khác trong khoảng thời gian từ 5đến 8 tháng (2-3 trứng /ngày) Thời gian phát dục của trứng dao động từ 5 -12ngày, sâu non có hình trụ, màu trắng sau đó chuyển dần sang màu vàng Thờigian phát dục của sâu non từ 22 - 100 ngày Sâu non phát triển đẫy sức chuyểnsang pha nhộng ở dạng nhộng trần và trong một tuần trưởng thành xuất hiện.Vòng đời từ 7 đến 12 tuần, thời gian sống của trưởng thành từ 3 năm trở lên

Chitrangad (2012), đã nghiên cứu sinh học của loài mọt thóc đỏ Triborium

castaneum trên bột mì và cho rằng vòng đời của mọt thóc đỏ Triborium castaneum khoảng 22 ngày.

Bhubaneshwari and Devi (2015) đã ghi nhận ở nhiệt độ 29oC và ẩm độ59% thời gian phát dục của trứng mọt thóc đỏ là 4 - 5 ngày, sâu non có 7 lần lộtxác và tổng thời gian phát triển của giai đoạn trước trưởng thành dao động từ 70 -

83 ngày, trung bình là 76,5 ngày Thời gian phát dục của nhộng kéo dài từ 6 đến

Trang 24

9 ngày, trung bình là 7,5 ngày Thời gian sống của trưởng thành đực và cái khônggiao phối lần lượt là từ 45 đến 67 ngày và 75 đến 89 ngày Tổng thời gian pháttriển kéo dài từ 164- 194 ngày.

Đối với thức ăn là bột mì, thời gian phát dục dao động từ 6 đến 9 ngày vớitrung bình 7,5 ngày và trưởng thành đực và cái thời gian phát dục dao động từ 45

- 67 ngày và từ 75 - 89 ngày Tổng vòng đời của mọt thóc đỏ là 164 - 194 ngày.Thời gian phát dục của sâu non tuổi 1 dao động từ 16 - 18 ngày Tuổi 2 dao động

từ 10 14 ngày Tuổi 3, 4, 5, 6 từ 8 10 ngày Tuổi 7 từ 9 11 ngày Nhộng từ 6

-7 ngày đối với nhộng đực và -7 - 9 ngày đối với nhộng cái Trưởng thành đực cóthể sống từ 45 - 50 ngày và từ 75 - 80 ngày đối với trưởng thành cái

2.2.3.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Thời gian phát triển của mọt thóc đỏ ảnh hưởng bởi nhiệt độ và thức ănTheo Adil (1982), loài mọt thóc đỏ gây hại trên nhiều loại thực phẩm khácnhau và được cho là ăn tạp Mọt thóc đỏ ăn trên hơn 100 loại thức ăn khác nhaugồm ngũ cốc và hạt giống các loại bột mì và các sản phẩm ngũ cốc khác bao gồmcác chất động vật, gỗ, rau khô, trái cây và gia vị Bột ngũ cốc là nguyên liệu

chính bị mọt thóc đỏ Triborium castaneum phá hoại thực tế bất kỳ loại bột nào

cũng có thể bị nhiễm khuẩn, và bột mì nguyên cám dường như mọt thóc đỏ

Triborium castaneum không thể ăn hạt nguyên vẹn, không bị hư hại vì các hạt

của nó không đủ mạnh để nhai qua lớp phủ ngoài cứng rắn Thực tế, tất cả các hạtchứa một tỷ lệ phần trăm nhất định của hạt bị hỏng, vì vậy mọt thóc đỏ có thểđược tìm thấy hầu hết trên các loại hạt được biết đến.Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng

kể đến thời gian phát dục pha nhộng của mọt thóc đỏ và thời gian ngắn nhất của

mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 4,5 ngày ở nhiệt độ 35oC, trong đó tỷ lệ chếtcủa sâu non thấp Thời gian phát dục pha nhộng của mọt thóc đỏ là 5,8 ngàytrong tháng 7 (nhiệt độ trung bình 30oC) và dài nhất là 18,5 ngày trong tháng 10(nhiệt độ trung bình 20oC) (Adil, 1982)

Theo White (1987), cho rằng tỷ lệ sống và phát triển của các giai đoạn trước

trưởng thành của mọt thóc đỏ Triborium castaneum được xác định trong hạt lúa mì ở

nhiệt độ không đổi từ 20 - 37,5oC và độ ẩm tương đối không đổi từ 25

- 65% Tỷ lệ trứng và nhộng tương tự như đối với Triborium castaneum trong bột

mỳ nhưng sự phát triển của sâu non chậm hơn và tỷ lệ chết lớn hơn, ngoại trừ nhiệt

độ thấp và ẩm độ cao Khả năng sinh sản giảm đáng kể khi mật độ của trưởng thành

Trang 25

lớn hơn một cặp trên 250g.

Alan (1998), đã nghiên cứu về tỷ lệ chết của mọt thóc đỏ Triborium

castaneum (Herbst) tiếp xúc với nhiệt độ cao, bụi và cho biếtở nhiệt độ 34oCtrong 15 hoặc 30 phút không làm tăng tỷ lệ chết Tuy nhiên, ở 50oC, tăng tỷ lệchết lên 8,0 ± 100% Khi không có thức ăn tỷ lệ chết cao gấp 2,0 ± 4 lần so với

có thức ăn

Sattigi et al (1995), đã nghiên cứu sinh học của mọt thóc đỏ Triborium

castaneum trên lúa, lúa mì, ngô và bột miến trong phòng thí nghiệm ở 24- 29°C

và 70% RH và đã cho rằng lúa mì là thức ăn phù hợp nhất đối với phát triển của

loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst).

Thời gian phát dục của pha sâu non mọt thóc đỏ dao động từ 22 đến hơn

100 ngày (William, 2000) Theo Rizana Mahroof (2005), nhiệt độ vượt quá giớihạn sinh lý cho việc trứng nở thành sâu non hoặc trưởng thành và nhộng làm tăngnhanh tỷ lệ chết Nhiệt độ 50oC đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum làm

giảm sự sống sót của trứng đến trưởng thành

Dhaliwal (2006) cho biết thời gian phát triển của pha sâu non kéo dài từ

70 đến 83 ngày Theo nghiên cứu của Brijwani et al (2010), tỷ lệ chết của mọt

thóc đỏ được nuôi trong bột mì tại 28oC và ẩm độ 65% Các pha trứng, sâu non,nhộng và trưởng thành được đưa vào ngăn nhựa bên trong một hộp nhựa hìnhchữ nhật dài 27 cm, rộng 17,5 cm và cao 4,2 cm, có 12 ngăn nhỏ bên trong hộpnhựa này Hàng trên cùng của các ngăn có lớp bột sâu 2 cm và hàng dưới cùng cóbụi bột (0,5g/ngăn) Tỷ lệ chết được đo sau 24 giờ và nhận thấy rằng sâu non có

tỉ lệ chết cao hơn so với nhộng và trưởng thành là 37%

Xue and Hartzer (2010), đã nghiên cứu sự phát triển, sức sinh sản của mọt

thóc đỏ Triborium castaneum trên sáu loại tinh bột, bột mì và bột cộng với men khác nhau Chiều dài của sâu non, độ rộng đầu của Triborium castaneum được đo

bằng cách nuôi sâu non trên tinh bột, bột và bột cộng với 5% chế độ ăn cho 30ngày ở 28oC và 65% RH và kết luận rằng sâu non nuôi trên bột với men khả năng

phát triển tốt hơn so với sâu non được nuôi trên bột, Triborium castaneum đẻ ít

hơn 3 quả trứng / cái trong thời gian 15 ngày trên tất cả tinh bột

Al-Iraqi and Abdulla (2012), nghiên cứu về loài Triborium castaneum trên

14 loại thức ăn khác nhau trong điều kiện là 33±1oC và 60±5 % RH và thấy rằng

tỷ lệ nở trứng dao động từ 92,85% đến 97,29% và phân tích thống kê cho thấy sựkhác biệt không đáng kể giữa các loại gia vị trong tỷ lệ nở trứng Tỷ lệ nở trứng

của mọt thóc đỏ Triborium castaneum khi nuôi trên bột mì dao động từ 62% đến

Trang 26

96% dưới 20oC và 30oC, tương ứng trên lúa mì.

Chitrangad (2012), đã ghi nhận mọt thóc đỏ Triborium castaneum trong

điều kiện có thức ăn và không có thức ăn đã ảnh hưởng đến thời gian sống củatrưởng thành mọt thóc đỏ trong điều kiện có thức ăn trưởng thành mọt thóc đỏ cóthể sống sót từ 47 - 64 ngày với trung bình 55,5 ngày Nhưng trong điều kiệnkhông có thức ăn, trưởng thành mọt thóc đỏ chỉ sống được từ 9 - 12 ngày, trungbình là 10,5 ngày

Giai đoạn sâu non phụ thuộc vào nguồn thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm, trong

điều kiện phòng thí nghiệm mọt thóc đỏ Triborium castaneum có thời gian phát

dục trong vòng 6 tháng tùy thuộc vào nguồn cung cấp thực phẩm, nhiệt độ và độ

ẩm Bhubaneshwari and Devi (2015)

Shweta and Prakash (2015), cho rằng vòng đời của mọt thóc đỏ Triborium

castaneum không bị ảnh hưởng bởi độ ẩm mà bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Thời

gian phát dục ngắn nhất ở pha nhộng là 4 ngày ở 40°C Nhiệt độ giảm thì thời kỳnhộng càng kéo dài: 4 ngày ở 40°C, 5 ngày ở 35°C, 8 ngày ở 30°C, 12 ngày ở

25°C và 24 ngày ở 20°C Sâu non Triborium castaneum ở 35°C và 70% độ ẩm tương đối sâu non được phát triển trong khoảng 27 ngày Mọt thóc đỏ Triborium

castaneum có thể hoàn thành vòng đời trong 32-40 ngày, ở điều kiện tối ưu.

Beeman et al (2012), cho rằng thời gian trứng mọt thóc đỏ Triborium

castaneum dao động từ 3 ngày ở 30oC và 2 ngày ở 34oC Ở nhiệt độ tối ưu là32,5oC, trưởng thành cái cái đẻ tối đa 11 trứng mỗi ngày Con cái có thể đẻ tối đa

1000 trứng trong suốt cuộc đời, trong khoảng nhiệt độ từ 22oC- 40oC và làkhoảng nhiệt độ mọt thóc đỏ phát triển Loài này cũng có khả năng chịu được độ

ẩm thấp đến 11% Trưởng thành rất thích nghi với thức ăn trên một phạm vi rấtrộng của hàng hóa và môi trường sống mới (Chitrangad Kumar, 2012)

Theo Rizana and Hagstrum (2012), cho biết sự phát triển từ trứng đến

trưởng thành của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum từ 41,8 ngày ở 25oC đến21,7 ngày ở 35,5oC

Theo dõi ở nhiệt độ 35oC và 37,5oC ở độ ẩm tương đối (RH) hơn 70%, thời gianphát dục được hoàn thành trong 19 - 20 ngày (trứng trung bình 3 ngày; sâu non daođộng từ 12 - 13 ngày; nhộng 4 ngày Trưởng thành của mọt thóc đỏ sống vài tháng đếnvài năm Ở 18oC - 29oC, mọt thóc đỏ có thể sống dao động từ 130 - 198 ngày Trưởngthành có khả năng sinh sản suốt đời Ở 25oC và 70% RH, một trưởng thành cái giaophối đẻ từ 3-5 quả trứng mỗi ngày cho một vài ngày Một trưởng thành

Trang 27

cái một đời có thể đẻ tổng cộng 360 quả trứng (Rizana and Hagstrum 2012).

Shrikant and Ganesh (2013), cho rằng loài mọt thóc đỏ Triborium

castaneum nuôi trên hạt cacao có khả năng sinh sản cao (60%) và tỷ lệ nở (93%).

Shweta and Prakash (2015), cho biết, sâu non của loài mọt thóc đỏ Triborium

castaneum mẫn cảm hơn các điều kiện khắc nghiệt Không có sâu non nào phát

triển mạnh ở 40°C và độ ẩm 90%, 30% và 10% Ở 20°C không có sâu non pháttriển đến trưởng thành

Thức ăn ưa thích cho mọt thóc đỏ Triborium castaneum là bột mì hoặc hạt

xay nhỏ cũng như gạo, lúa mạch, kê và đậu đũa nhưng không phải đậu lăng.Nhiệt độ tối ưu cho hầu hết các loại sâu bệnh được lưu trữ trong khoảng từ 25-

30°C Dưới 20°C, hoạt động của mọt thóc đỏ Triborium castaneum trở nên yếu,

dẫn đến sự suy giảm tỷ lệ đẻ trứng và kéo dài sinh sản Tiếp xúc ở nhiệt độ 5C°trong một thời gian dài, hầu hết các loài sâu hại trong đó có mọt thóc đỏ

Triborium castaneum của các cửa hàng đều chết Ở 35°C trưởng thành khôngđẻ

trứng dẫn đến mậtđộ quần thể côn trùng bị ảnh hưởng (Dhary, 2016)

2.2.4 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản

Carter et al (1975), cho biết khả năng phòng trừ côn trùng gây hại của 3

hợp chất được đánh giá dựa trên số côn trùng thuộc bộ cánh cứng hại sản phẩmtrong kho dễ bị tổn thương và có sức kháng cự Những hợp chất đó là DU1911(1-2,6-dichlorobenzoyl)-3-(4-chlorophenyl)-urea, PH60-38 (1-2,6-difliorobenzoyl) -3-(4chlorophenyl)-urea và PH60-40 (1-chlorophenyl)-3-(2,6difliorobenzoyl) -urea Hợp chất PH 60- 40 được xem là hợp chất có tác dụng

nhất, dựa trên mức độ bị tiêu diệt của các loài Sitophilus granarius, Sitophilus

oryzae, Tribolium castaneum và Lasioderma serricorne (F.) nhưng cả 3 hợp chất

trên đều không có hiệu lực tiêu diệt đối với Stegobium panoceum.

Việc xử lý trên lớp hạt bề mặt (khoảng 10 cm) với một lượng nhỏ chế

phẩm Bacillus thuringiensis đã hạn chế khoảng 81% quần thể ngài Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài Địa trung hải (Esphestia cautella) và kết quả đã

hạn chế sự ăn hại của chúng tới hơn 92% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995)

Levinson and Levinson (1986), giải thích rằng hoạt động ức chếpheromone là sự kết hợp của hai đồng phân quang học serricornin và anhyd -

roserricornin đối với mọt đực Lasioderma serricorne( F) được giải thích dựa trên

cơ sở hoạt động đối kháng của 4S, 6S,7R - serricornin

Trang 28

Arthur (1992), đã cho biết ảnh hưởng của ba nồng độ 0,75%, 1,0%, 1,5%prallethrin đến các loài côn trùng gây hại trong kho đều đem lại hiệu quả caotrong việc phòng trừ côn trùng gây hại.

Khi được sử lý phosphine ở nồng độ 1- 1,25g/m3 trong 7 hoặc 8 ngày vớinồng độ > 0,1g/m3 và kiểm tra kho sau 24h phơi sáng với nồng độ 0,07g/m3 xuất

hiện các chủng Lasioderma serricorne (F.) kháng phosphine Khi xông hơi khử

trùng bằng phosphine nếu phosphine bị rò rỉ thông qua các lỗ hở của tấm bạt baophủ hoặc các tấm bạt có độ lưu giữ khí kém thì tỉ lệ kháng phosphine rất cao Môt

số thử nghiệm đã chứng minh rằng một liều 2g/m3 tiếp xúc trong 10 ngày vànồng độ thiết bị đầu cuối 0,5g/m3 có hiệu quả chống lại tất các giai đoạn của cácchủng kháng phosphine (Arthur, 1992)

Theo Hashem (2000), việc xử lý côn trùng gây hại bằng các khí qua các giai

đoạn phát dục khác nhau: ở giai đoạn nhộng, trưởng thành của loài mọt Lasioderma serricorne ( F.) dễ bị tác động bởi hỗn hợp khí CO2, kết quả thí nghiệm với các nồng

độ 20%, 30%, 40% và 60% Khi hàm lượng khí CO2 càng tăng dẫn đến hàm lượngkhí O2 giảm, do đó sẽ dẫn đến tử vong của sâu mọt cao hơn

Theo Gunasekaran et al (2005), nồng độ khí CO2 có ảnh hưởng trực tiếp

đến tỷ lệ chết đối với mọt thuốc bắc S.panoceum và mọt thuốc lá L.serricorne

Nồng độ khí CO2 ảnh hưởng rõ rệt đối với pha trưởng thành của cả S panoceum

và L Serricorne ( F.) Việc xử lý các cá thể ở pha trưởng thành gây ra sự giảm đáng kể cũng như tiềm năng sinh sản của chúng ở các thế hệ tiếp theo.

Chiếu xạ cũng là một phương pháp phòng chống hiệu quả cho quá trình

bảo quản trong kho Wang et al (2011), đã cho biết những ảnh hưởng của việc

chiếu xạ từ 150-450 Gy làm ức chế các quá trình sinh trưởng phát triển của trứng,

ấu trùng, nhộng cũng như là trưởng thành Kết quả cho thấy trứng không thể nởđược hoàn toàn ở trên 150 Gy Việc chiếu xạ không ảnh hưởng nhiều đến quátrình hóa nhộng nhưng lại làm cho trưởng thành bị bất dục

Phòng chống côn trùng hại kho từ tinh dầu thảo mộc đã được nghiên cứuthành phần hóa học của tinh dầu thu được bằng hydrodistillation từ các bộ phần

trên Mentha haplocalyx Tổng hợp 23 thành phần, 92,88% là tinh dầu và các hợp

chất chính được xác định là tinh dầu bạc hà (59,71%), mentyl acetate (7,83%),

limonene (6,98%), và menthone (4,44% ) (Zhang et al 2015).

Năm 2014 ở Trung Quốc đã tìm ra được một số hoạt chất có trong các cây

thảo dược có tác dụng phòng chống loài mọt Lasioderma serricorne (F.) trưởng

Trang 29

thành và loài Liposcelis bostrychophila Các loại hoạt tính này có tính chất tiếp

xúc và xông hơi mạnh so với hai loài côn trùng gây hại sản phẩm trong kho lưutrữ Ba hoạt chất citral, d -limonene và linalool đã tiếp xúc mạnh mẽ ngăng lại bộ

cánh cứng Lasioderma serricorne (F.), còn tinh dầu trong β-pinen và α-pinen có tác dụng phòng chống kém hơn các hoạt chất trên (Kai et al., 2014).

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2.3.1 Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật

Với chính sách mở cửa, việc buôn bán giữa Việt Nam với các nước ngàycàng phát triển nên lượng hàng hoá thuộc diện KDTV nhập khẩu vào nước ta với

số lượng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại, xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổkhác nhau trên thế giới

Theo thống kê của cơ quan kiểm dịch thực vật mỗi năm hàng triệu tấnhàng thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục vụ sảnxuất và tiêu dùng trong nước, mặt khác với chủ trương đi tắt đón đầu về côngnghệ, đa dạng hoá cây trồng, chúng ta đã và đang tích cực đưa các loại giống câytrồng chủ đạo có năng xuất cao vào thay thế dần các giống cũ trong nước (Báocáo Công tác Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 7, 2018) Các mặt hàng thuộc diệnkiểm dịch thực vật được nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta khá lớn, nó cũngtạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật gây hạı nói chung, sâu mọt gây hại nói riêngxâm nhập, lây lan vào trong nội địa

Những năm qua tình hình sinh vật gây hại xuất hiện trên hàng nhập khẩu diễnbiến tương đối phức tạp, thành phần rất đa dạng như nấm bệnh, côn trùng, cỏ dại,tuyến trùng, vi khuẩn, virus… Hầu hết các lô hàng nông sản đều bị nhiễm sinh vậtgây hại nhưng với mức độ và tính chất khác nhau, nguồn gốc đa dạng phong phú

Việt Nam công bố: 114 loài sinh vật thuộc diện đối tượng KDTV trong đó có

60 loài côn trùng Việc nghiên cứu thành phần sinh vật gây hại nói chung và sâu mọtgây hại nói riêng trên các sản phẩm thuộc nông sản xuất nhập khẩu của ngànhBVTV cho thấy: từ năm 1998 đến năm 2002, đã phát hiện hơn 40 loài côn trùng, gần

30 loài nấm bệnh, 58 loài cỏ dại, hàng chục loài tuyến trùng, vi khuẩn, vi rus là dịch

hại thuộc đối tượng KDTV như: Radopholus similis; Ephilis oryzae; Trogoderma granarium; Trogoderma inclusum; Spongospora subterranea; Lolium temulentum; Zabrotes subfasciatus; Acanthoscelides obtectus…(Cục BVTV, 2002).

Năm 2002 tại các chi cục kiểm dịch thực vật đã phát hiện 531 lần dịch hạithuộc đối tượng KDTV, một trong những dịch hại quan trọng đó là bệnh ghẻ bột

Trang 30

khoai tây phát hiện tới 350 lần và 124 lần phát hiện Trogoderma inclusum, 53 lần phát hiện Trogoderma granarium Trong những năm qua sinh vật gây hại xuất

hiện trên hàng thực vật nhập khẩu ngày càng tăng, đa dạng về loài; đặc biệt là cácdịch hại thuộc đối tượng KDTV bị phát hiện gần 900 lần Chúng có nguồn gốcxuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Những dịch hại trên đãđược xử lý triệt để tại các cửa khẩu (Viện BVTV, 2008)

Việc phát hiện thành phần sinh vật gây hại cũng như nguồn gốc xuất xứcủa các lô vật thể thuộc diện KDTV làm cơ sở để phân tích, đánh giá nguy cơdịch hại từ đó đề xuất những biện pháp xử lý và quản lý sinh vật gây hại trênhàng nhập khẩu vào Việt Nam

2.3.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst)

2.3.2.1 Đặc điểm hình thái loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Bùi Công Hiển (1995), mô tả mọt thóc đỏ có màu nâu đỏ sáng đến nâu tối,dài 3 - 4,2 mm Râu đầu hình chùy và có 3 đốt phình to rõ ràng Trứng có dạngdài, chiều dài 0,6 mm và chiều rộng 0,4 mm, màu trắng bóng và được phủ bênngoài bằng một lớp quánh dính do con cái tiết ra Sâu non có 6 chân với đầu màunâu thẫm, lúc đầu cơ thể màu trắng sau chuyển nâu vàng, chiều dài sâu non mới

nở là 1,2 mm, đốt bụng thứ chín mang đôi phần phụ dung để bò Sâu non đẫy sức

có chiều dài 6 - 7 mm Nhộng dài 3,5 - 4 mm

Nguyễn Thị Bích Yên (1998), cho rằng trứng dài 0,47 - 0.55mm, rộng0,29 - 0,33mm (ở 25oC) và dài 0,52 - 0,56mm, rộng 0,31 - 0,37mm (ở 30oC);Nhộng dài 3,61mm - 4,0mm và rộng 1,05 - 1,2mm

Theo Vũ Quốc Trung (2008), Tenebrionidae là một họ bọ cánh cứng đượctìm thấy trên toàn thế giới, ước tính khoảng hơn 20.000 loài Nhiều con bọ cánhcứng có cánh màu đen, dẫn đến tên gọi chung của họ là Bọ cánh cứng bóng tối.Ngoài 9 phân họ liệt kê ở đây Tenebrionidae là họ lớn nhất và quan trọng nhấttrong bộ Coleoptera, đa dạng về kích thước và hình dạng

Đặc điểm chủ yếu:

+ Thân dẹt hình bầu dục hay hình ống

+ Bàn chân trước và giữa có 5 đốt, bàn chân sau có 4 đốt

+ Đốt hang chân trước hình cầu, ở đốt hang kiểu đóng

Hà Thanh Hương (2008), bố trí thí nghiệm nuôi mọt ở 2 ngưỡng nhiệt độ

Trang 31

25oC và 30oC thu được kết quả trứng của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum

hình bầu dục, màu trắng sữa, kết cấu màng vỏ mỏng và xù xì, phủ bên ngoài mộtchất keo dính nên dễ dàng bám vào giá thể, trứng được đẻ thành từng quả hoặcthành từng cụm nhỏ, ở 25oC trứng có chiều dài trung bình từ 0,65 - 0,67 mm,chiều rộng trung bình 0,33 - 0,35 mm, ở 30oC chiều dài trung bình của trứng từ0,64 - 0,66 mm và chiều rộng trung bình 0,31 - 0,33 mm Sâu non mới lột xác cómàu trắng sau mới chuyển màu vàng, ở 25oC sâu non đẫy sức có chiều dài trungbình 5,63 - 5,77 mm, chiều rộng (độ rộng đầu) trung bình 0,77 - 0,79 mm Ở

30oC chiều dài trung bình 5,52 - 5,66 mm, chiều rộng trung bình 0,78 - 0,80 mm.Nhộng thuộc loại nhộng trần, mới lột xác màu trắng hơi vàng, sau chuyển sangmàu vàng đậm, mặt lưng có lông Dạng trưởng thành của mọt thóc đỏ có cơ thểdẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, rầu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình to hìnhchùy rõ ràng, đầu và phần trên của mảnh lưng ngực có nhiều điểm lõm nhỏ xếpthành hang, trưởng thành mới vũ hóa có mảnh lưng ngực màu trắng hơi vàng, haicánh màu trắng, công thức bàn chân 5 - 5 - 4

Theo Vũ Văn Hậu (2013), sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum có 4

tuổi Chiều dài của sâu non tăng dần theo từng tuổi, tuổi 1 và tuổi 2 kích thước ítthay đổi nhưng tuổi 3, tuổi 4 kích thước tăng nhanh, sâu non đẫy sức có chiều dàitrung bình 6,31±0.010; rộng 0,39±0,009 Về kích thước nhộng, chiều dài trungbình 4,3 ± 0,007mm, chiều rộng trung bình 1,26 ± 0,010mm Pha trưởng thành cơthể dẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, râu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình tohình chùy rõ ràng Kích thước của trưởng thành trung bình 4,03 ±0,009 mm;chiều rộng trung bình 4,18±0,015mm

2.3.2.2 Vòng đời và thời gian phát dục các pha loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Vòng đời của sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum ở 30oC là 5 tuần

và tuổi thọ của mọt trưởng thành 1 năm hoặc dài hơn (Vũ Quốc Trung và cs.,1991) Theo Bùi Công Hiển (1995), sau 8 - 13 ngày (tùy theo nhiệt độ) trứng nởthành sâu non và sâu non lột xác từ 6 - 12 lần, mỗi ngày con cái đẻ 2 - 18 trứng

và thời kỳ đẻ trứng kéo dài hơn 150 - 400 ngày, nên số lượng đẻ ra tối đa hơn

1000 trứng, trung bình 350 - 400 trứng Thời kỳ nhộng dài từ 7 - 12 ngày, tùytheo nhiệt độ, thời gian của một vòng đời dao động từ 7 tuần - 3 tháng

Trong điều kiện tự nhiên của phòng thí nghiệm (t=28oC, RH=73,5%), kếtquả khảo sát chu kỳ sinh sinh trưởng của mọt thóc đỏ có vòng đời trung bình là

Trang 32

53,7 ngày, tỷ lệ vũ hoá 100% Khả năng đẻ trứng cao, trung bình 1 ngày đẻkhoảng 5 trứng/1 trưởng thành cái, trứng được đẻ liên tục ở các ngày trong thờigian khảo sát (Trần Văn Mì, 2004).

Vũ Văn Hậu (2013), chỉ ra rằng thời gian phát dục của pha trứng trungbình là 4,1 ± 0,16 ngày Thời gian phát dục của pha sâu non trung bình là 73,5

±2,58 ngày Thời gian phát dục của pha nhộng trung bình là 6,55 ±0,24 ngày.Thời gian phát dục của pha giai đoạn tiền đẻ trứng trung bình là 11,3 ±0,62 ngày

Vòng đời của loài mọt thứ cấp Tribolium castaneum (Herbst) trên môi trường

thức ăn là sắn lát ở điều kiện 25oC trung bình là 95,33 ± 3,58 ngày

2.3.2.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Bùi Công Hiển (1995), cho rằng ở 7oC tất cả các giai đoạn phát triển đềuchết trong vòng 25 ngày Đa số các loài côn trùng có khả năng tồn tại trong khođều có thể xâm nhiễm vào một lớp sâu của hàng hóa nhưng loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) có xu hướng thích ở gần bề mặt.

Mọt thóc đỏ Triborium castaneum có xu hướng thích phá hại ở những hạt

đã bị vỡ hay sản phẩm dạng bột, ngoài ra chúng còn có tập tính ăn thịt, ăn cảhàng hóa dự trữ của các côn trùng còn sống khác

Hà Thanh Hương (2008), đưa ra kết luận rằng một số yếu tố sinh thái(nhiệt độ và sự khác biệt về địa điểm thu thập) không ảnh hưởng đến kích thướctrung bình của các pha (trứng, sâu non đẫy sức và trưởng thành) và tỷ lệ trứng nở

của mọt thóc đỏ Triborium castaneum Nhưng lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến thời gian phát dục của mọt thóc đỏ Triborium castaneum, đặc biệt vòng đời cũng như

sức đẻ trứng trung bình của một con cái

Hà Thanh Hương (2008), cho biết ở nhiệt độ 25oC, ẩm độ trung bình 70%

thì vòng đời của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 99,62±3,68 ngày Ở

nhiệt độ 30oC và ẩm độ trung bình là 70% vòng đời của loài mọt thóc đỏ

Triborium castaneum trung bình 70,09±1,99 ngày Tùy thuộc vào nhiệt độ, Triborium castaneum có thời gian phát triển của trứng từ 3 - 7 ngày, sâu non từ

29 - 118 ngày, nhộng từ 3 - 11 ngày và vòng đời từ 48 ngày đến 132 ngày VũVăn Hậu (2013) Ở giai đoạn đầu của các kỳ điều tra mọt thứ cấp mọt thóc đỏ

Triborium castaneum cũng giống như các loài sâu mọt khác chưa xuất hiện hoặc

xuất hiện với mật độ ít Ở kho sắn đổ rời mật độ mọt thứ cấp Triborium

Trang 33

castaneum cao nhất 9 con/kg Ở kho sắn xếp bao là 6 con/kg và đưa ra kết luận

rằng mọt gây hại nhiều hơn trên sắn và ít gây hại hơn trên ngô

2.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản

Hiện nay, trong bảo quản nông sản trong kho phòng trừ côn trùng là biệnpháp cần thiết Trong đó, trước hết là đề phòng côn trùng gây hại trong kho bằngcách tiến hành biện pháp kiểm dịch chặt chẽ, thường xuyên điều tra phát hiện kịpthời sự xuất hiện gây hại của các loài côn trùng kho, thực hiện cách ly giữa cácsản phẩm cũ và mới Sau đó áp dụng các biện pháp diệt trừ như biện pháp vật lý,biện pháp xử lý nhiệt hay xông hơi khử trùng

Theo Bùi Công Hiển (1995), thủy phần sản phẩm nông sản có liên quanđến thành phần và mật độ của mọt hại Ở những kho nông sản mới nhập, nôngsản được phơi thật khô, thủy phần nông sản dưới 10% hầu như không tìm thấymọt hại; tại các kho mà nông sản có thủy phần 10 -12% có tìm thấy vài cá thểtrưởng thành của một số loài nhưng khi thủy phần sắn vượt quá 13% thì thànhphần và mật độ các loài mọt rất cao Như vậy, việc phơi nông sản thật khô, cất trữ

ở các kho kín, cao ráo, không bị dột ướt để giữ được thủy phần nông sản dưới13% có ý nghĩa trong việc hạn chế sự phát sinh gây hại của tập đoàn mọt

2.3.3.1 Phòng trừ bằng biện pháp vật lý cơ giới

* Biện pháp xử lý nhiệt: Theo Vũ Quốc Trung (1981), khi xử lý ở 60oC

đối với trưởng thành 5 loài mọt kho là mọt gạo Sitophilus ozyzae (L.), mọt đục hạt Rhizopertha dominica (F.), mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus (Panz), mọt bột đỏ Tribolium castaneum (Herbst) và mọt râu dài Cryptolestes sp.chỉ sống

được trung bình từ 17 - 46 phút

* Bụi tro: Bụi tro được làm từ các vật liệu khác nhau, từ thực vật như tro

trấu, tro gỗ hay từ khoáng vật như bột đất, cao lanh… Tùy theo tính chất của bụitro có thể dùng với tỷ lệ 1 - 30% so với trọng lượng hạt bảo quản Tro bếp cũngđược ứng dụng nhiều trong bảo quản hạt đậu ở qui mô hộ kinh doanh

* Chiếu xạ: Ở nước ta, đã có một số kết quả nghiên cứu về việc sử dụng

tia bức xạ Gamma trong phòng trừ côn trùng hại kho Bùi Công Hiển (2005) đãnghiên cứu phối hợp biện pháp xử lý chiếu xạ bằng tia Gamma và túi bảo quản

để phòng trừ mọt đậu xanh (Callosobruchus chinensis) trong bảo quản đậu xanh,

khi xử lý chiếu xạ bằng tia Gamma với liều chiếu xạ nhỏ hơn 1kGy sau

Trang 34

đó bảo quản đậu xanh trong túi nhựa tổng hợp (PVC) đã có hiệu quả cao đểphòng trừ mọt đậu xanh sau 3 tháng bảo quản.

2.3.3.2 Phòng trừ bằng biện pháp sinh học

Bọ xít bắt mồi (Xylocoris flavipes) là loài thiên địch khá phổ biến trong các

kho nông sản Ở nước ta, đã có một số kết quả nghiên cứu bước đầu về sử dụng loài

bọ xít bắt mồi này để phòng trừ mọt hại kho và cho kết quả tương đối khả quan

Từ lâu con người đã biết sử dụng các loại thực vật để phòng trừ các loàicôn trùng gây hại như sử dụng lá cây xoan, cỏ mật, cây ruốc cá, thuốc lá, thuốclào,… Thuốc thảo mộc được sử dụng để phòng trừ côn trùng gây hại dưới nhiềuhình thức như dùng tươi, khô, chiết lấy dịch hoặc hoạt chất sau đó dùng ngâm,tẩm, trộn, phun Đối với nhóm côn trùng hại kho, ở nước ta cũng đã có một số kếtquả nghiên cứu về sử dụng thuốc thảo mộc như dùng bột cây ruốc cá để phòngtrừ mọt hại ngô (Nguyễn Thượng Dong, 2006) Hiện nay, thuốc thảo mộc đangđược khuyến khích nghiên cứu phát triển với những ưu điểm vượt trội và lànguồn thuốc có xu hướng dần thay thế cho thuốc hóa học trong nhiều lĩnh vựcnói chung và trong bảo quản nói riêng Việc xác định, chiết xuất và giữ ổn địnhđược các hoạt chất có khả năng tiêu diệt, gây ngán, dẫn dụ hoặc xua đuổi các loàicôn trùng gây hại đang được nhiều đơn vị nghiên cứu và thử nghiệm, có nhiềuthành công bước đầu

2.3.3.3 Phòng trừ bằng biện pháp hóa học

Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu dùng thuốc xông hơi để xử lý phòng trừ đốivới côn trùng gây hại trong kho Theo Cục Bảo vệ thực vật (2002), một số loại thuốchóa học như Actellic, DDVP, Sumithion, Deltamethrin và Permethrin đã được sửdụng ở nước ta để phòng trừ côn trùng gây hại trong kho Tuy nhiên, chỉ có thuốcSumithion là được sử dụng rộng rãi do có hiệu quả đối với nhiều loài côn trùng hạikho Sử dụng Cypermethrin phun xử lý diệt côn trùng kho đạt hiệu quả 90% và cókhả năng duy trì mật độ côn trùng ở mức cho phép trong vòng 2 - 3 tháng Hiện nay,Việt Nam chủ yếu dùng thuốc xông hơi để xử lý phòng trừ đối với côn trùng gây hạitrong kho Cũng như các nước trên thế giới, thuốc hóa học sử dụng trong bảo quảnkho tại Việt Nam cũng gồm 2 loại chính là Methyl bromide và Phosphine Thuốcphosphine hiện được xác định là loại thuốc chủ lực để phòng trừ côn trùng gây hạitrong kho nông sản nói chung Thuốc xông hơi phosphine có thể sử dụng đơn lẻhoặc phối hợp với khí CO2 ở liều lượng 2 gam PH3 + 50 gam

Trang 35

CO2/m3 trong 3 ngày để xông hơi trừ côn trùng trên hàng hoá bảo quản và xuất khẩu đã giảm được 50% chi phí tiền thuốc và giảm ô nhiễm môi trường.

Hà Quang Hùng (2006), cho rằng quá trình quản lý côn trùng gây hại phảikết hợp các biện pháp kỹ thuật một cách hiệu quả vừa đảm bảo vấn đề kinh tế,vừa đảm bảo ngăn chặn các sản phẩm khỏi sự xâm nhập của các loài gây hạinhằm đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Việc kết hợp áp dụng các biện phápbao gồm: Nâng cao chất lượng sản phẩm; Chọn lựa các sản phẩm từ vùng không

có các loài sinh vật gây hại; Ngăn chặn sự tràn vào phá hoại trong quá trình vậnchuyển, cất giữ và bảo quản; Sử dụng biện pháp xông khói; Sự chế biến của cácsản phẩm sau thu hoạch và bảo quản

Trang 36

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst).

3.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2018 - tháng 9/2019

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Điều tra thành phần sâu mọt gây hại trên hoa cúc khô tại cửa khẩu Chi

Ma, Lạng Sơn

- Phòng kỹ thuật Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7- Lạng Sơn

3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

- Dụng cụ thí nghiệm:

+ Ống nghiệm, vợt bắt côn trùng, bộ rây côn trùng, đĩa petri đường kính 10

cm, các loại hộp nhựa có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới, túi đựng mẫu,pince, kéo, bút lông, bút chì, khay đựng dụng cụ, xiên các loại, đồ dùng mở bao,hộp, cốc đong, găng tay, đồ dùng trộn chia mẫu

+ Kính hiển vi, kính lúp, hộp nuôi sâu, sổ sách ghi chép nghiên cứu

+ Cân kỹ thuật có độ nhạy ± 1 gam

+ Cồn 700, formol 5%, lọ thuỷ tinh để lưu mẫu, nhãn ghi rõ thời gian

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn

- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu.

- Đánh giá hiệu lực phòng trừ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum

(Herbst) hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu bằng thuốc hoá học Phosphine

Trang 37

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu

Mẫu được lấy theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 141:2013/BNNPTNT(Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2013) về phương pháp lấy mẫu kiểm dịch thực vật.Điều tra các lô hàng được nhập về lấy mẫu lưu kho qua cửa khẩu ở LạngSơn theo từng tháng (2 - 4 lần/tháng) ghi chép nguồn gốc xuất xứ của lô hàng ởcác vùng khác nhau của Trung Quốc

Các điểm lấy mẫu được quy định theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc

* Số lượng bao được chỉ định lấy mẫu ban đầu phân bố đều trong lô

Số bao của cả lô Số bao được chỉ định lấy

- Từ 10 - 100 bao 4 bao và cứ thêm 20 bao thì lấy thêm 1

bao được chỉ định

- Từ 101 - 500 bao 8 bao và cứ thêm 50 bao thì lấy thêm 1

bao được chỉ định

- Từ 501 - 1.000 bao 16 bao và cứ thêm 100 bao thì lấy

thêm 1 bao được chỉ định

Chú thích: - Trên 1.000 bao thì chia làm nhiều lô nhỏ.

- Khối lượng mẫu ban đầu 2 kg/bao

Trang 38

- Trộn đều tất cả các mẫu ban đầu của mỗi lô, phân tách mẫu theo nguyên tắc chéo để lấy mẫu trung bình với khối lượng như sau:

Trường hợp khối lượng tất cả các mẫu ban đầu của một lô hạt nhỏ hơn 2 lầnkhối lượng mẫu trung bình thì lấy tất cả mẫu ban đầu làm mẫu trung bình

- Kiểm tra bên ngoài phương tiện, thùng xe, container và nơi chứa nguyênliệu hoa cúc khô Nếu có điều kiện thì kiểm tra bên trong phương tiện chuyênchở, chứa đựng, bên ngoài bao bì

- Nếu không có điều kiện quan sát chi tiết như trên thì việc quan sát, lấymẫu nguyên liệu hoa cúc khô được tiến hành trong quá trình bốc dỡ vào kho bãitại cửa khẩu nhập hoặc bốc dỡ sang xe

Lưu mẫu qua từng đợt điều tra và mẫu được kiểm tra sau các thời gian 1, 3,

6 tháng theo dõi sự xuất hiện các loài mọt trên các nguyên liệu hoa cúc khô

Chỉ tiêu theo dõi: độ thường gặp (%); mật độ mọt (con/kg)

Hình 3.1 Điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt

gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài mọt thóc đỏ

Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu

3.4.2.1 Nhân nuôi nguồn mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Nguồn mọt: Thu thập mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) từ các lô

hàng hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn

Thức ăn nhân nuôi mọt: là hoa cúc sấy khô và bột mì Thức ăn được sấy ở

Trang 39

nhiệt độ 50oC trong 2 giờ để loại bỏ nguồn sâu mọt có trong thức ăn, sau đó thức

ăn để ẩm đạt độ thủy phần 17% thì sử dụng làm nguồn thức ăn

Ghép đôi 20 cặp trưởng thành thả vào lọ có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắplưới Bên trong lọ có chứa 0,1 kg nguyên liệu là hoa cúc khô (và bột mỳ) sau 24h tiếnhành đưa trưởng thành mọt ra khỏi hộp và tiến hành thu trứng tiến hành thí nghiệm

3.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, thời gian phát triển các pha của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Thí nghiệm nghiên cứu theo phương pháp nuôi cá thể của William (1999).Sau khi trứng nở tách riêng từng cá thể sâu non nuôi cá thể trong hộp chiều cao xđường kính (4 cm x 7 cm) bên trong có sẵn thức ăn là hoa cúc khô, hàng ngàytheo dõi ngày hai lần vào 8 giờ sáng và 16 giờ chiều về sự phát triển thời gianphát dục, tỷ lệ chết của pha sâu non, nhộng và trưởng thành trước đẻ của mọt Sốlượng cá thể theo dõi n=30

Theo dõi thời gian phát triển các pha của mọt thóc đỏ theo từng giai đoạn(trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành)

Hình 3.2 Hình ảnh nuôi sinh học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum

(Herbst)

Pha trứng: kiểm tra hàng ngày cho đến khi trứng nở thành sâu non

Pha sâu non: hàng ngày theo dõi thời gian sâu non lột xác

Pha nhộng: tiếp tục theo dõi và đếm số lượng mỗi ngày một lần Ghi chép thờiđiểm khi sâu non tuổi cuối bắt đầu hóa nhộng và khi nhộng vũ hóa trưởng thành

Pha trưởng thành: khi phát hiện nhộng vũ hóa trưởng thành Ghép đôitrưởng thành đực - cái trong hộp petri có thức ăn Theo dõi mỗi ngày một lần đếnkhi tìm thấy quả trứng đầu tiên và ghi chép ngày đẻ trứng

Chỉ tiêu: Theo dõi mô tả quan sát đặc điểm hình thái, thời gian phát dục cá

Trang 40

thể côn trùng theo từng giai đoạn (trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành) Ghichép số cá thể chết trong quá trình theo dõi.

3.4.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ và thức ăn đến thời gian phát triển, sức sinh sản và tỉ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Tiến hành nuôi theo phương pháp nuôi cá thể giống như mục 3.4.2.2 Nhiệt

độ theo dõi ở 2 công thức ứng với mức nhiệt độ là 25 và 30oC, ẩm độ trung bìnhdao động từ 70 - 80% với hại loại thức ăn là bột mì và hoa cúc khô

Số cá thể thí nghiệm ban đầu (n=55) cho mỗi mức nhiệt độ Thức ăn là hoacúc khô, bột mì

Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian phát triển các pha, tỷ lệ sống sót, sức sinh sản,thời gian sống…

3.4.2.4 Nghiên cứu thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trong điều kiện có và không có thức ăn

Mọt Tribolium castaneum (Herbst) sử dụng trong thí nghiệm là các cá thể

mới vũ hóa Bố trí 5 cặp mọt trưởng thành đực cái đựng trong hộp với chiều cao15cm, đường kính 10 cm, nắp lưới có chứa 50g nguyên liệu hoa cúc khô, bột mỳ(có thức ăn) Lọ chỉ thả mọt không có thức ăn Đặt các hộp trong điều kiện nhiệt

độ 25oC và 30oC Theo dõi hằng ngày 2 lần sáng và chiều, ghi chép số cá thể mọtchết cho đến khi không còn một cá thể nào sống sót Số lần nhắc lại n = 3

Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sống (ngày)

3.4.2.5 Nghiên cứu mức độ hại của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)

Thả trưởng thành mới vũ hóa (05 cặp đực - cái) vào các hộp nhựa kíchthước: chiều cao 12cm x chiều rộng 9cm đựng 100g các loại (mỗi công thức nhắclại 3 lần):

Công thức 1: Bột mỳ

Công thức 2: Hoa cúc khô

Tại mỗi thời điểm khi kiểm tra dùng sàng rây mọt ra khỏi hộp để kiểm tramật độ mọt Sau khi kiểm tra toàn bộ số mọt được đưa trả về hộp ban đầu đểkiểm tra ở số lần tiếp theo Theo dõi mức độ hao hụt sau khoảng thời gian 20, 40,

60, 80, 100, 120 ngày và so sánh với số lọ đối chứng (không có mọt) Chỉ tiêutheo dõi: tỷ lệ hao hụt phần trăm theo Kenton and Carl (1978)

Ngày đăng: 16/07/2021, 06:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2013). Quy chuẩn Việt Nam 01 - 141:2013/BNNPTNT ngày 14 tháng 6 năm 2013. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp lây mẫu kiểm dịch thực vật Khác
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010). Quy chuẩn Việt Nam 01-19/2010/BNNPTNT ngày 27 tháng 4 năm 2010. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy trình kỹ thuật xông hơi khử trùng Khác
5. Cục Bảo vệ thực vật (2002). Điều tra sâu mọt hại kho ở các tỉnh giáp biên thuộc vùng VIII. Báo cáo khoa học của Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VIII. tr. 2-10 Khác
6. Hà Quang Hùng (2006). Giáo trình kiểm dịch thực vật và dịch hại nông sản sau thu hoạch (dùng cho đại học chuyên ngành BVTV và cây trồng) Khác
7. Hà Thanh Hương (2008). Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của quần thể mọt bột đỏ Tribolium castaneum (Herbst) ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và khả năng phòng chống chúng bằng biện pháp sinh học.Luận văn Tiến sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
8. Nguyễn Thị Bích Yên (1998). Thành phần sâu mọt hại thóc bảo quản trong một số kho tại Hà Nội năm 1998. Đặc điểm hình thái, sinh học của Rhyzopertha dominica, Tribolium castaneum (Herbst) và biện pháp phòng trừ chúng. Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Thị Lan và Phạm Tiến Dũng (2006). Giáo trình phương pháp thí nghiệm. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Thượng Dong (2006). Nghiên cứu từ thảo dược. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
11. Phạm Tiến Dũng (2003). Xử lý kết quả thí nghiệm trên máy vi tính bằng IRRISTAT 4.0 trong Windowws. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
12. Viện Bảo vệ thực vật (2008). Tuyển tập công trình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Chào mừng kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Bảo vệ thực vật. tr.33-43 Khác
13. Vũ Quốc Trung (1981). Sâu hại nông sản trong kho và phòng trừ. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
14. Vũ Quốc Trung (2008). Sâu hại nông sản trong kho và biện pháp phòng trừ. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Khác
15. Vũ Văn Hậu (2013). Điều tra thành phần sâu mọt hại trên ngô, sắn bảo quản tại Hà Nội và các vùng phụ cận năm 2012. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của mọt thứ cấp Tribolium castaneum (Herbst) và biện pháp phòng trừ. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp. Học viện Nông nghiệp Việt Nam.II. Tài liệu tiếng Anh Khác
16. Abdelgaleil S. A. M., M. E. I. Badawy, M. S. Shawir and M. I. E. Mohamed (2015). Chemical Composition, Fumigant and Contact Toxicities of Essential Oils Isolated from Egyptian Plants Against the Stored Grain Insects; Sitophilus oryzae L. and Tribolium castaneum (Herbst). ARBER Professional Congress Services, Turkey. pp. 50-57 Khác
17. Adil S. M. K. (1982). Studies on the Biology of the Red-flour beetle Tribolium castaneum (Herbst). (Coleoptera: Tenebrionidae) in different cereal flours, Faculty of Agriculture University of Khartoum Khác
18. Al I. and Abdulla (2012). The biology of flour rust red beetle on some spices, The Iraqi Journal of Agricultural Sciences. pp. 43 Khác
19. Alan K. D. (1998). Mortality of red our beetle, Tribolium castaneum (Coleoptera:Tenebrionidae) exposed to high temperature and diatomaceous earth combinationsp Journal of Stored Products Research. 35(2). pp. 175-182 Khác
20. Arthur F.H. (1992). Evaluation of prallethrin aerosol to control stored product insect pest, Journal of Stored Products Research. 29. pp. 253 - 257 Khác
21. Beeman R. W., S. Haas and K. Friesen (2012). Beetle wrangling tips (An Introduction to the care and Handling of (Tribolium castaneum) Khác
22. Bhubaneshwari M. D. and N. V. Devi (2014) Biology of Rust-Red Flour Beetle, Tribolium castaneum (Herbst) (Coleoptera: Tenebrionidae. Biological Forum – An International Journal. 7(1).pp. 12-15.(2015) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w