Quátrình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với sự hìnhthành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó diễn rachậm chạp, mức độ phá
Trang 1H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VIẾT PHAN
NGHIÊN C U NH H ỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH NG C A QUÁ TRÌNH ỦA QUÁ TRÌNH
ĐÔ TH HÓA Đ N S N XU T NÔNG NGHI P, Đ I Ị HÓA ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP, ĐỜI ẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP, ĐỜI ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ẤT NÔNG NGHIỆP, ĐỜI ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỜI
S NG VÀ VI C LÀM H NÔNG DÂN T I HUY N ĐAN ỐNG VÀ VIỆC LÀM HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN ĐAN ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM Ộ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN ĐAN ẠI HUYỆN ĐAN ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PH ƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 - NG THÀNH PH HÀ N I GIAI ĐO N 2010 - ỐNG VÀ VIỆC LÀM HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN ĐAN Ộ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN ĐAN ẠI HUYỆN ĐAN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc./
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Phan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quýbáu của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy giáo
TS Trần Trọng Phương - Phó Trưởng Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệpViệt Nam đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Bộ mônTrắc địa Bản đồ, Khoa Quản lý đất đai, Ban Quản lý Đào tạo - Học viện Nông nghiệpViệt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, Phòng Tài nguyên vàMôi trường, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kếtquả văn phòng một cửa, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê của huyện Đan Phương, cấp
ủy, chính quyền và bà con nhân dân xã Tân Lập và thị trấn Phùng, xã Song Phượng đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đãđộng viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và hoànthành luận văn này./
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Phan
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.4.1 Những đóng góp mới 2
1.4.2 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan nghiên cứu đề tài 4
2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị, công nghiệp 4
2.1.1 Khái niệm, phânB loại và chức năng của đô thị 4
2.1.2 Khái niệm và vai trò khu công nghiệp 12
2.2 Cơ sở lý luận về đô thị hoá, công nghiệp hóa 16
2.2.1 Đô thị hóa 16
2.2.2 Công nghiệp hóa 21
2.3 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá và quá trình công nghiệp hoá 22
2.4 Hộ nông dân và đời sống hộ nông dân 23
2.4.1 Hộ nông dân 23
2.4.2 Đời sống hộ nông dân 24
2.5 Thực tiễn quá trình đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam 26
2.5.1 Tình hình đô thị hoá trên thế giới 26
2.5.2 Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới 27
2.5.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 30
2.6 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến vấn đề sử dụng đất 32
2.7 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến thu nhập của người dân 34
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 37
3.1 Địa điểm nghiên cứu 37
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 37
3.3 Đối tượng nghiên cứu 37
3.4 Nội dung nghiên cứu 37
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 37
3.4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Đan Phượng 37
3.4.3 Tình hình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng37 3.4.4 Tác động của đô thị hóa đến đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và việc làm của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đan Phượng 37 3.4.5 Đề xuất các giải pháp trong sử dụng đất và nâng cao đời sống hộ nông dân 38
3.5 Phương pháp nghiên cứu 38
3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
3.5.3 Phương pháp điều tra cơ bản 39
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 39
3.5.5 Phương pháp phân tích mức độ tác động 39
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 41
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đan Phượng có ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa 41 4.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
4.1.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 48
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Đan Phượng53 4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Đan Phượng 54
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 54
4.2.2 Biến động đất đai giai đoạn 2010 – 2015 57
4.3 Tình hình đô thị hoá trên địa bàn huyện Đan Phượng 59
4.3.1 Sự phát triển đô thị và công nghiệp trên địa bàn huyện 59
4.3.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 59
4.3.3 Tình hình biến động dân cư 60
4.4 Tác động của đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và việc làm của hộ nông dân huyện đan phượng 61 4.4.1 Tác động của đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp 61
4.4.2 Tác động của đô thị hóa đến đời sống của hộ nông dân 63
4.4.3 Tác động của đô thị hóa đến việc làm của hộ nông dân 69
4.4.4 Tác động của đô thị hóa đến môi trường 74 4.4.5 Ý kiến của nông hộ về chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công
nghiệp và đất đô thị ở 3 xã, thị trấn điều tra của huyện Đan Phượng 77
Trang 64.5 Đề xuất các giải pháp trong sử dụng đất và nâng cao đời sống hộ nông dân 79
4.5.1 Giải pháp về chính sách đất đai 79
4.5.2 Giải pháp về đào tạo nghề, tạo việc làm 80
4.5.3 Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 80
4.5.4 Giải pháp môi trường 81
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83
Tài liệu tham khảo 84
Phụ lục 86
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
(Gross Domestic Product)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các năm 27
Bảng 4.1 Các loại đất của huyện Đan Phượng 44
Bảng 4.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Đan Phượng 49
Bảng 4.3 GDP các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Đan Phượng 49
Bảng 4.4 Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Đan Phượng 50
Bảng 4.5 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Đan Phượng 50
Bảng 4.6 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng huyện Đan Phượng 51 Bảng 4.7 Giá trị ngành dịch vụ huyện Đan Phượng giai đoạn 2010 – 2015 52
Bảng 4.8 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Đan Phượng 56
Bảng 4.9 Biến động đất đai giai đoạn 2010-2015 huyện Đan Phượng 58
Bảng 4.10 Cơ cấu kinh tế huyện Đan Phượng giai đoạn 2010 - 2015 60
Bảng 4.11 Biến động dân cư huyện Đan Phượng giai đoạn 2010 - 2015 61
Bảng 4.12 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2015 của các hộ điều tra 61 Bảng 4.13 Biến động về một số chỉ tiêu trồng lúa trên địa bàn 3 xã nghiên cứu 62
Bảng 4.14 Nguồn lực đất đai của hộ nông dân huyện Đan Phượng 64
Bảng 4.15 Thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân giai đoạn 2010 - 2015 66 Bảng 4.16 Thu nhập trung bình của các thành phần lao động của hộ nông dân điều tra giai đoạn 2010 - 2015 67 Bảng 4.17 Vật dụng gia đình của hộ nông dân được điều tra giai đoạn 2010 – 2015 69 Bảng 4.18 Bình quân lao động của hộ giai đoạn 2010 - 2015 huyện Đan Phượng 70
Bảng 4.19 Biến đổi nghề nghiệp đối với hộ điều tra huyện Đan Phượng 71
Bảng 4.20 Thực trạng một số ngành nghề phụ của các nông hộ được điều tra trên địa bàn 3 xã, thị trấn 72 Bảng 4.21 Ý kiến về tình hình an ninh, trật tự xã hội của hộ nông dân năm 2015 so với 2010 73 Bảng 4.22 Đánh giá về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ dân năm 2015 so với năm 2010 74 Bảng 4.23 Kết quả phân tích không khí xung quanh tại khu dân cư thị trấn Đan Phượng75 Bảng 4.24 Kết quả phân tích mẫu nước thải sinh hoạt trên huyện Đan Phượng 76
Bảng 4.25 Ý kiến nông hộ về chuyển dịch đất nông nghiệp của các hộ điều tra 77
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tác động của quá trình đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đời sống
và việc làm của hộ nông dân tại huyện Đan Phượng 40
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Đan Phượng 41
Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất năm 2015 huyện Đan Phượng 54
Hình 4.3 So sánh tài sản hộ năm 2015 so với năm 2010 68
Hình 4.4 Biểu đồ biến đổi nghề nghiệp năm 2015 so với 2010 71
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Viết Phan
Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của qúa trình đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và việc làm hộ nông dân tại huyện Đan Phượng thành phố
Hà Nội giai đoạn 2010 - 2015”
Ngành: Quản lý Đất đai Mã số: 62.85.01.03
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đờisống và việc làm hộ nông dân tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2015;
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả sau quá trình đô thị hóa và nâng cao đời sống của hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu (thu thập số liệu sơ cấp; Thu thập số liệu
1 Đan Phượng là huyện nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội Huyện có
tổng diện tích tự nhiên là 7.735,48 ha và dân số 149.900 người Nền kinh tế phát triển nhanh và toàndiện, cơ cấu kinh tế thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ,giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Trong giai đoạn 2010-2015 tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng53,61%, ngành thương mại dịch vụ 32,16% và ngành nông nghiệp 14,23%
2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Đan Phượng
- Theo số liệu thống kê đất đai năm 2015 tổng diện tích theo địa giới hành chínhhuyện Đan Phượng là 7.735,48 ha Trong đó: nhóm đất nông nghiệp 3.569,52 ha, chiếm 46,14% tổngdiện tích tự nhiên; Nhóm đất phi nông nghiệp 3.300,0 ha, chiếm 42,66% tổng diện tích tự nhiên;Nhóm đất chưa sử dụng 865,96 ha, chiếm 11,19 % tổng diện tích tự nhiên
- Biến động đất đai giai đoạn 2010 – 2015: Diện tích đất nông nghiệp năm 2015 là3.569,52 ha giảm 330,94 ha so với năm 2010 Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2015 là 3.300,00 hatăng 401,89 ha so với năm 2010 Đất chưa sử dụng năm 2015 là ha giảm 53,78ha so với năm 2010
ix
Trang 113 Quá trình đô thị hóa diễn ra trên địa bàn huyện đã có ảnh hưởng đối với đời sống và việc làm của hộ nông dân như:
+ Về đời sống của hộ nông dân
- Năm 2015, diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn lại là 6987,08 ha giảm337,33 ha so với năm 2010, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ giảm
từ 337,33 m2 năm 2010 xuống còn 1582,93 m2 năm 2015
- Năm 2015 thu nhập bình quân đầu người của người dân trên địa bàn huyệnđạt 21,00 triệu đồng/người/năm tăng 10,3 triệu đồng/người/năm so với năm 2010, tỷ lệ
hộ nghèo năm 2015 là 9,37% giảm 2,66% so với năm 2010
- Các tài sản của hộ điều tra đều tăng trong giai đoạn 2010 – 2015, số xe máytăng 75 chiếc, số ti vi tăng 64 chiếc, các tài sản khác (điện thoại, máy vi tính) tăng 377chiếc so với năm 2010
- Chuyển hướng nghành nghề phụ: Tại thị trấn Phùng: Các nông hộ khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đã chuyển sang một số nghành nghề phụ như: Làm đồ gỗ, trồng
cây cảnh, buôn bán, kinh doanh nhà trọ cho công nhân ở khu công nghiệp Tại xã Tân
Lập: Có nghề làm mộc tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, ngoài ra các hộ
mất đất sản xuất nông nghiệp còn chuyển sang các ngành như: Buôn bán, chăn nuôi …… các ngành nghề này cũng cho thu nhập cao hơn nhiều so với nghề sản xuất nông nghiệp
trước đây Tại xã Song Phượng: Các nông hộ khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đã
chuyển sang một số ngành nghề phụ như: Trồng cây cảnh, làm bánh mỳ, buôn bán các hộ cũng thu nhập cao hơn so với nghề sản xuất nông nghiệp.
+ Về việc làm và các vấn đề xã hội khác của hộ nông dân
- Số lao động tăng dần qua các năm giai đoạn 2010-2015, lao động năm 2015 là
89400 người tăng 2634 so với năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm, lao độngcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ tăng lên so với năm 2009 Bêncạnh đó lao động phi nông nghiệp tăng tăng thì thu nhập của người lao động cũngđược nâng lên rõ rệt, lao động trong nghề nông nghiệp giảm 18,1% so với năm 2010,lao động trong ngành dịch vụ tăng mạng với 18,2% so với năm 2010 Số lượng laođộng không có việc làm giảm 6,3% so với năm 2010
- Tiếp cận dịch vụ phúc lợi, cơ sở hạ tầng của hộ nông dân ngày thuận tiện vàtốt hơn Tình hình trật tự xã hội trên địa bàn xã Song Phương, xã Tân Lập, thị trấnPhùng luôn được các cấp chính quyền trên đại bàn huyện quan tâm, chỉ đạo coi đó lànhiệm vụ trọng tâm trong những năm gần đây
4 Để nâng cao đời sống và việc làm hộ nông dân tại huyện Đan Phượng cần đồng bộ thực hiện các giải pháp: Giải pháp về chính sách đất đai; Giải pháp về đào tạo nghề, tạo
việc làm
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Viet Phan
Thesis title: “To study the effect of the process of urbanization to agricultural production, livelihood and employment farmers in Dan Phuong district
- Research selection method
- Methods of data collection (primary data collection; Secondary data collection)
- Basic investigation method
- Methods of data processing
- Methods for analyzing the impact
3 Main conclusions of the dissertation
+ Dan Phuong district is located in the northwest of the city of Hanoi The districthas a total area of 7735.48 hectares and nature is the population of 149,900 people Fast growingeconomy and comprehensive economic structural change in the direction of increasing the proportion
of industry, trade, services, reducing the proportion of the agricultural sector In the period
2010-2015 the proportion of the construction industry 53.61 %, trade and services sector 32.16 % and14.23 % in agriculture
+ Status of management and use of land by Dan Phuong district - According to thestatistics of land in 2015 the total area under the administrative border is 7735.48 hectares DanPhuong district Among them: groups of agricultural land 3569.52 hectares, accounting for 46.14 %
of the total natural area; Group non-agricultural land 3300.0 hectares, accounting for 42.66 % of thetotal natural area; Group 865.96 hectares of unused land, accounting for 11.19 % of the total naturalarea
+ Land Movements period 2010 - 2015: The area of agricultural land is 3569.52 hectares in 2015 fell 330.94 ha compared to 2010 Non-agricultural land area is 3300.00
Trang 13ha in 2015 increased by 401.89 ha compared to 2010 unused land is 2015 ha
compared to 2010 decreased 53,78ha
+ The process of urbanization taking place in the district has had its impact on thelife and work of farmers, such as: + About the life of farmers - 2015, the area of agricultural land is6987.08 hectares remaining 337.33 ha decrease compared to 2010, the average area of farmproduction decreased from 337.33 in 2010 to 1582 m2, 93 m2, 2015 - 2015 per capita income of thepeople in the district reached 21.00 million/person/year 10.3 million/person/year compared to 2010,the poverty rate in 2015 was 9, 2.66% 37 % reduction compared to 2010
+ The assets of the households surveyed have increased in the period 2010 - 2015,the number of motorcycles increased by 75 units, up 64 units of televisions, other assets (phones,computers), an increase of 377 units compared with 2010 - Redirect occupations: In the town ofPhung: The farmers when land acquisition for agricultural production has shifted to someoccupations like: Making furniture, decorative plants and trade and business houses for workers inindustrial zones Tan Lap commune: There carpentry create jobs for local people, besides thelandless households agricultural production was switched to sectors such as trade, breeding Italso trades much higher income and environmental resource base tp Hanoi with agriculturalvocational ago Song Phuong Commune: The farmers when land acquisition for agriculturalproduction has shifted to some sub-sectors such as: Growing bonsai, bakery, selling higher-incomehouseholds and resource base and the environment tp Hanoi with agricultural occupations
+ In terms of employment and other social problems of farmers - The number ofemployees has increased over the years in 2010-2015, is 89 400 workers in 2015 who rose in 2634compared with 2010, the proportion of agricultural workers decreased, industrial workers, craft,business services services increased compared to 2009 Besides the non-agricultural employmentincreased by increasing the income of workers is also significantly improved, workers in agriculturefell by 18.1 % compared to 2010, labor in the service sector rose to 18.2 % network compared to
2010 the number of workers without jobs decreased by 6.3 % compared to 2010
Access to welfare services, the infrastructure of rural households convenientand better days Social order situation in the province Song Phuong Commune, TanLap Commune, Phung town has always been on the higher authorities concerneddistrict, directing it as a key task in recent years
+ To improve the living conditions and employment farmers in Dan Phuong district to implement synchronization solutions: Solutions for land policy; Solutions on
vocational training and job creation
xii
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đô thị hoá là quá trình tất yếu diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới, nhất làcác nước đang phát triển Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hoá diễn
ra với vận tốc ngày càng nhanh Công nghiệp hoá và đô thị hoá là hai quá trìnhphát triển tất yếu và diễn ra song song trong quá trình phát triển Đô thị hoá là hệquả của công nghiệp và trở thành mục tiêu của mọi nền văn minh trên thế giới, nógóp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Nhữngnăm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và với những sắcthái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế,phường hội toàn thế giới - quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư, thay đổicác mối quan hệ phường xã; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hoá những chức năngphi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hoá đô thị Quátrình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với sự hìnhthành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó diễn rachậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp…Sau khi Quốc hội Việt Namban hành Luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư(năm 2005); Chính phủ ban hành Nghị định về Quy chế khu công nghiệp, khu chếxuất (năm 2015)… đã mở ra bước phát triển mới của đô thị hóa ở Việt Nam Đếncuối năm 2011, cả nước ta có 755 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 10 đô thịloại I, 12 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 50 đô thị loại IV và 634 đô thị loại V
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được của việc đổi mới kinh tế đất nướctrong đó có hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai hiện vẫn còn những bất cậpchưa được giải quyết kịp thời Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càngdiễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố nhất là các tỉnh có vị trí địa lý và địa hìnhthuận lợi đã làm tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa của người dân,làm biến đổi cả về chiều sâu của xã hội nông thôn truyền thống Vì vậy, việc đánhgiá những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa từ đó đề xuất những giảipháp nhằm giải quyết một cách cơ bản vấn đề đời sống và việc làm của người dân
là việc làm cần thiết Đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu hoạch định chínhsách phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam nói chung vàhuyện Đan Phượng nói riêng
Trang 15Đan Phượng là huyện ngoại thành thuộc thành phố Hà Nội, nằm ở phíaTây Bác thủ đô Hà Nội và giáp ranh với huyện Hoài Đức, huyện Phúc Thọ, huyệnThạch Thất, quận Bắc Từ Liêm Trên địa bàn huyện có các tuyến giao thông quantrọng như: Quốc Lô 32, đường đê hữu sông Hồng, đường tỉnh lộ 417, đường tỉnh
lộ 422 những tuyến giao thông huyết mạch này đã tạo điều kiện thuận lợi chohuyện tiếp cận thông tin kinh tế thị trường, chuyển giao nhanh các tiến bộ khoahọc - kỹ thuật, cải thiện môi trường đầu tư để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội.Trong những năm qua trên địa bàn huyện Đan Phượng đã và đang diễn ra quátrình đô thị hoá rất mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp mới, khu đô thị mới đượcxây dựng điều đó làm thay đổi đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của địa phương
Xuất phát từ tình hình trên, tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của qúa trình đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và việc làm hộ nông dân tại huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2015”.
+ Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Đan
Phượng, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015
+ Phạm vi không gian: Đề tài tiến hành điều tra các hộ dân chịu sự ảnh hưởng của đô thị hóa trên địa bàn huyện Đan Phượng
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.4.1 Những đóng góp mới
Đánh giá thực trạng quá trình đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đời sống
và việc làm hộ nông dân tại huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội
Trên cơ sở phân tích, bổ sung thêm cơ sở thực tiễn cho huyện Đan Phượngtrong quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và việclàm của hộ nông dân trên địa bàn huyện trong giai đoạn tới
Trang 161.4.2 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu góp phần vào cơ sở khoa học nghiên cứu về ảnh hưởngcủa quá trình đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và việc làm hộ nôngdân tại huyện Đan Phượng nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ, CÔNG NGHIỆP
2.1.1 Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị
2.1.1.1 Khái niệm về đô thị
Trong tiếng Việt, có nhiều từ chỉ khái niệm “Đô thị”: đô thị, thành phố, thịtrấn, thị xã Các từ đó đều có 2 thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức nănghành chính; thị, phố có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạtđộng kinh tế Hai thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lạitrong quá trình phát triển Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi nông nghiệp vàlàm chức năng, nhiệm vụ của một trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế củamột khu vực lớn nhỏ, là những tiêu chí cơ bản đầu tiên để định hình đô thị (Trungtâm nghiên cứu Đông Nam Á, Viện KHXH (1997)
Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị, có quy định
các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị, việc phân loại được xem xét, đánh giátrên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại
đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị (Chính phủ (2009), Nghị định
số 42/2009/NĐ-CP), bao gồm:
Đô thị là một điểm dân cư tập trung với các têu chí cụ thể như sau:
- Chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấpquốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh, cóvai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định
- Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị
và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành,nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm có hệ thống công trình hạ tầng xã hội
và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
4
Trang 18+ Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;
+ Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ hạtầng và đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chếquản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, có tuyến phố văn minh đô thị, cócác không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị, có tổ hợp kiến trúc hoặccông trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
2.1.1.2 Phân loại đô thị
Theo cách tiếp cận của các nhà quản lý, phân loại đô thị là hoạt động củacác cơ quan chức năng của nhà nước, nghiên cứu, đánh giá các yếu tố cấu thànhtạo nên đô thị theo một tiêu chuẩn nhất định, nhằm xếp loại các đô thị trong mạnglưới đô thị quốc gia
Việc phân loại đô thị dựa trên các tiêu chí: quy mô dân số; vị trí của các đôthị trong hệ thống đô thị quốc gia; theo chức năng hành chính - chính trị; theo cấphành chính - chính trị; theo tính chất sản xuất, thương mại, du lịch hoặc theo tínhchất tổng hợp (Bộ xây dựng, 1995; Đô thị Việt Nam tập 1)
trung bình (20.000 - 100.000 người), đô thị lớn (100.000 - 500.000 người), đô thị loại rất lớn(trên 1 triệu người), siêu đô thị (trên 10 triệu người)
bang), thủ phủ bang, tỉnh lỵ, huyện lỵ
+ Đô thị loại đặc biệt - là thủ đô hay thành phố có sự phát triển nhanh và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
Trang 19- Phân loại theo tính chất sản xuất, gồm có: đô thị công nghiệp, đô thị thương
mại, đô thị tài chính, đô thị văn hóa, đô thị du lịch
xã hội, gồm có:
+ Đô thị có vai trò ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, làtrung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch dịch vụ, đầu mối giaothông giao lưu trong nước và quốc tế
+ Đô thị có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của vùng, là trung tâm chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giaolưu trong và ngoài nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội của một vùng lãnhthổ, liên tỉnh hoặc cả nước
+ Đô thị có vai trò thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
+ Đô thị có vai trò thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của một vùng, một địa phương,một số lĩnh vực liên địa phương hoặc trung tâm phát triển tổng hợp của một địa phương
như vai trò trung tâm (chủ yếu), tiêu chí dân số, lao động phi nông nghiệp, hạ tầng cơ sở, mật độ
cư trú
Ở Việt Nam, dựa vào các tiêu chí trên, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày
07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị, đô thị nước ta chia làm 6 loại nhưsau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV, loại V (Chính phủ (2009),Nghị định số 42/2009/NĐ-CP)
* Đô thị loại đặc biệt
- Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tàichính, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giaolưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị:
Trang 20+ Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, bảođảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụngcông nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
+ Khu vực ngoại thành: được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ mạng lưới hạ tầng
và các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối phục vụ đô thị; hạn chế tối đa việc phát triển các dự
án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phảiđược đầu tư xây dựng đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triểnnông nghiệp, vùng cây xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chếquản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 60% cáctrục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian côngcộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêubiểu mang ý nghĩa quốc tế và quốc gia
- Chức năng đô thị: Đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh
tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giaothông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của mộtvùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước Có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên
Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học
- kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giaolưu trong nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng lãnhthổ liên tỉnh
- Quy mô dân số đô thị+ Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên;
+ Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người
trở lên
- Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành+ Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên;
7
Trang 21+ Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng
số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
+ Khu vực nội thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoànchỉnh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải ápdụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
+ Khu vực ngoại thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoànchỉnh; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầngtại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; bảo vệ những khu vực đất đaithuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinhthái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chếquản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 50% cáctrục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị Phải có các không gian côngcộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúctiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia
* Đô thị loại II
Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hànhchính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùngtỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnhhoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh
Trường hợp đô thị loại II là thành phố trực thuộc Trung ương thì phải cóchức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục
- đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, cóvai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặcmột số lĩnh vực đối với cả nước
- Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên
Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn
đô thị phải đạt trên 800 nghìn người
Trang 22- Mật độ dân số khu vực nội thành.
Đô thị trực thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương từ 10.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng
số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
+ Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoànchỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc đượctrang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
+ Khu vực ngoại thành: một số mặt được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ; mạnglưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; hạn chế việcphát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việcphát triển nông nghiệp, các vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chếquản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% cáctrục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị Phải có các không gian côngcộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêubiểu mang ý nghĩa quốc gia
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa
- Chức năng đô thị
a, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầumối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đốivới vùng liên tỉnh
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
Trang 23+ Khu vực nội thành: từng mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bảnhoàn chỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặcđược trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
+ Khu vực ngoại thành: từng mặt được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; hạn chếviệc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân
cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc pháttriển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chếquản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% cáctrục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian côngcộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩavùng hoặc quốc gia
- Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáodục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trongtỉnh hoặc một tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùngtrong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
+ Khu vực nội thành: đã hoặc đang được xây dựng từng mặt tiến tới đồng bộ vàhoàn chỉnh; các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang
bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
+ Khu vực ngoại thành từng mặt đang được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ;phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ
đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theoquy chế quản lý kiến trúc đô thị
Trang 24* Đô thị loại V
- Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, vănhóa, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của huyện hoặc một cụm xã
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựngtiến tới đồng bộ, các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc đượctrang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theoquy chế quản lý kiến trúc đô thị
2.1.1.3 Chức năng của đô thị
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khácnhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau (Bộ xây dựng (1995), Đô thị ViệtNam):
thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế
ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo rathị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư,trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị
tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại là những vấn đề gắn liền vớiyêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăngdân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại thay đổi
cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứukhoa học ngày càng có vai trò lớn hơn
Trang 25* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục
tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng cao khả năngđáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đóchính quyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị
2.1.1.4 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, vănhoá của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vậtchất kỹ thuật và văn hoá (Bộ xây dựng, 1995; Đô thị Việt Nam tập 1)
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuấtphát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng Đô thị tối ưu hoá việc sửdụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo rathị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợiphân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven
đô, ngoại thành và nông thôn (Bassand and Michel, 2001) Đô thị có vai trò to lớntrong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước
Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồngnông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh
2.1.2 Khái niệm và vai trò khu công nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm khu công nghiệp
Hiện nay có một số khái niệm về KCN như sau:
1 KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen vớinhiều hoạt động dịch vụ kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khuthương mại, văn phòng, nhà ở Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt nhưKCN Bata (Indonesia) các công viên công cộng ở khu vực lãnh thổ Đài Loan và một số nước Tây Âu(Trần Ngọc Hưng, 2004)
2 KCN là khu vực lãnh thổ hữu hạn ở đó tập trung các doanh nghiệp côngnghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống Mô hình này được xây dựng
ở một số nước như Malaysia, Indonesia, Thái Lan , khu vực lãnh thổ Đài Loan (Trần NgọcHưng, 2004)
3 Theo Nghị định số 192/CP ngày 25/12/1994 của Chính phủ, các KCN
Trang 26được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, đượcthành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợ sảnxuất, đây có thể nói là khái niệm cơ bản và đầu tiên của Việt Nam về KCN, tiếp đótại Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ: KCN là khu tập trung cácdoanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuấtcông nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do các cơquan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Điều này có nghĩa quan niệmKCN ở Việt Nam chỉ là phần diện tích đất đai dành cho xây dựng cơ sở hạ tầngcho thuê Tất cả các công trình phúc lợi xã hội ngoài hàng rào và gần KCN khôngnằm trong khái niệm này Từ những quan niệm như vậy mà công tác quy hoạchKCN, KCX mới chỉ quan tâm đến các điều kiện về cơ sở vật chất hạ tầng cho các
cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ Về thực chất, đây là quá trình tập trung các cơ
sở sản xuất kinh doanh vào thành KCN, chưa tính đến một quy hoạch tổng thể gắnKCN với việc hình thành các cụm công nghiệp, hình thành các đô thị công nghiệpgắn phát triển KCN cùng với phong tục, truyền thống, văn hóa dân tộc của ngườiViệt Nam
Hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định 164/2014/NĐ-CP ngày12/11/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày14/3/2008 Quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế, đây là Văn bản phápquy mới nhất có nêu đến Khái niệm về KCN, theo đó: KCN là khu chuyên sảnxuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranhgiới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tạiNghị định này (Chính phủ, 2014, Nghị định số 164/2014/NĐ-CP) Như vậy, xét vềbản chất các định nghĩa không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên do yêu cầu của từngthời kỳ của phát triển kinh tế cũng như các quan điểm khác nhau trong định hướng
vĩ mô thì cũng các định nghĩa này cũng có những điểm khác nhau
2.1.2.2 Nguyên tắc và vai trò của xây dựng KCN
Các KCN, KCX được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ sởsản xuất trong khu dân cư sinh sống, vừa không thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp, vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh khudân cư, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của công đồng dân cư trong vùng, nhất làảnh hưởng đến sức khỏe người dân Do đó, phát triển và phân bố các KCN đượcthực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
Trang 27- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng, thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấpđiện, cấp nước và thải nước Xử lý môi trường bảo đảm có hiệu quả và phát triển bền vững lâudài, có đủ mặt bằng để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học kỹ thuật của nền vănminh công nghiệp, hậu công nghiệp của thế giới;
- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận tiện, hoặc trực tiếp vớinguồn nguyên liệu Đôi khi do cự ly vận tải và yêu cầu bảo quản nguyên liệu, quy mô xí nghiệpcông nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả;
- Có nguồn lao động cả số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu sản xuất với chi phí tiền lương thích hợp;
- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong nước và nước ngoài;
- Tiết kiệm tối đa đất sản xuất nông nghiệp đặc biệt là đất trồng trọt trong việc
- Thu hút và tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đadạng hoá nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng, góp phần tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn trongquá trình thu hút đầu tư trong và ngoài nước;
- Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo nguồnhàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,đẩy nhanh tốc độ CNH - HĐH, tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh manhmún, phân tán và tự phát góp phần tiết kiệm đất đai, sử dụng có hiệu quả ngồn vốn đầu tư, tiếtkiệm chi phí sản xuất;
- KCN là hình thức hữu hiệu thực hiện chiến lược lâu dài về tạo việc làm vàchuyển đổi cơ cấu lao động cũng như sử dụng lao động một cách hiệu qủa, nhất ở các nước đangphát triển so với thực tế về giá nhân công ở các khu vực dư thừa về lao động khác;
- Du nhập các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, học tập kinh nghiệm quản lý củacác công ty tư bản nước ngoài để tránh bị tụt hậu về kinh tế nhất là trong sản xuất công nghiệp vàtăng sức cạnh tranh trên thị trường hàng xuất khẩu;
Trang 28- Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ đô thịhoá và tác động lan toả tích cực trong việc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn;
- Có điều kiện thuận lợi trong kiểm soát, bảo vệ và xử lý sự cố môi trường.KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các đô thị, thành phố lớnphục vụ mục đích phát triển công nghiệp bền vững;
- KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của quốc gia, KCN
là nơi thử nghiệm các chính sách kinh tế mới đặc biệt là chính sách kinh tế đối ngoại và thườngthể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn bộ nền kinh tế;
- KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển kinh tế quốc dân KCN sẽ làđầu tàu trong phát triển kinh tế kéo theo sự phát triển ở những vùng lân cận và các vùng khác củađất nước;
Qua các vai trò KCN nêu trên cho ta thấy sự khác biệt và nổi trội cả về chất
và lượng của hình thức KCN so với cụm công nghiệp và doanh nghiệp côngnghiệp độc lập phân tán được thể hiện qua các tiêu chí tác động của nó như sau:
- Đối với các nhà đầu tư vào KCN: Với cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội sẵn có,nhà đầu tư vào KCN có thể xây dựng được nhà máy, xí nghiệp của mình một cách nhanh chóng,trong khi đó nếu đầu tư ngoài KCN nhà đầu tư sẽ mất thời gian và tài chính trong quá trình Bồithường - GPMB, đặc biệt là thời gian và các thủ tục trong quá trình kết nối các đầu mối kỹ thuậtcho sản xuất như: điện, nước, viễn thông, giao thông;
- Đối với các nhà đầu tư nước ngoài: Khi các dự án có công nghệ hiện đại đòihỏi chất lượng cơ sở hạ tầng ở mức độ cao nên khi đầu tư ngoài KCN khó có thể đáp ứng đượcyêu cầu Vì vậy, hầu hết các dự án sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tập trung chủyếu ở các KCN;
- Về cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý bằng các Ban quản lý KCN trong các KCNtạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các thủtục trong sản xuất như: xuất nhập khẩu vật tư, thủ tục thuế, hải quan, tuyển dụng và đào tạo laođộng so với các doanh nghiệp đầu tư ngoài KCN;
- Đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô việc xây dựng KCN theo quyhoạch phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, chiến
15
Trang 29lược phát triển công nghiệp, chiến lược thương mại quốc tế, tạo được bước điphù hợp với khả năng của đất nước về tài chính, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầngcủa từng thời kỳ, đảm bảo phân bố lực lượng sản xuất trên lãnh thổ và sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực, bảo vệ môi trường sinh thái, đây cũng là bài học được rút
ra từ thời kỳ phát triển các cụm công nghiệp Việt Trì, Đông Anh của những năm
60, 70 của thế kỷ trước và hiện nay vẫn chưa thể khắc phục được hoàn toàn;
- Đối với phát triển KT-XH vùng: trên cơ sở lợi thế vùng, xây dựng KCN vừakhai thác lợi thế của vùng vừa tránh được đầu tư phân tán, phát huy được hiệu quả của vốn đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng Phát triển KCN là phát triển công nghiệp theo quy hoạch, bảo vệ môitrường, tiết kiệm và phát huy hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực khác, hình thành đô thị mới,thực hiện văn minh, tiến bộ xã hội, giảm khoảng cách giữa các vùng nông thôn và thành thị Pháttriển KCN là giải pháp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng;
- Đối với hội nhập kinh tế quốc tế: Như đã phân tích ở trên, hàng hoá trongKCN một mặt cung cấp thị trường nội địa để đảm bảo đủ sức cạnh tranh và ngăn chặn hàng nhậplậu từ các nước khác, mặt khác KCN là khu sản xuất hàng hoá xuất khẩu (thường chiếm 65% -70% tổng doanh số hàng hoá do KCN sản xuất ra) được coi là một cửa ngõ khai thông nền kinh
tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HÓA
2.2.1 Đô thị hóa
2.2.1.1 Khái niệm đô thị hoá
Các nhà khoa học đã nghiên cứu quá trình ĐTH và đưa ra không ít địnhnghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai củaquá trình này
“Đô thị hoá” được hiểu theo chiều rộng là sự phát triển của thành phố vàviệc nâng cao vai trò của đô thị trong đời sống của mỗi quốc gia với những dấuhiệu đặc trưng như: tổng số thành phố và tổng số cư dân đô thị (Bassand andMichel, 2001)
Theo khái niệm này thì quá trình ĐTH chính là sự di cư từ nông thôn vàothành thị Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân củamột quốc gia
Trang 30Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học như trên thì
sẽ không thể nào giải thích được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của ĐTH cũngnhư ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà khoa học ngàycàng ngả sang cách hiểu ĐTH như một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh quátrình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phương thức sản xuất và tiêu dùng,lối sống và sinh hoạt mới - phương thức đô thị Đây là một quá trình song song với
sự phát triển CNH và cách mạng khoa học kỹ thuật (Trung tâm nghiên cứu ĐôngNam Á, Viện KHXH, 1997)
Tóm lại, Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuấttrong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức vàđiều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâutrên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
* Phân loại quá trình đô thị hóa:
Quá trình ĐTH diễn ra trên thế giới có thể phân chia thành 2 loại (Bassandand Michel, 2001):
nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế những ảnh hưởng xấu của quátrình ĐTH ĐTH diễn ra do nhu cầu công nghiệp phát triển, mang tính tự nhiên
với CNH (trừ một số nước công nghiệp mới - NIC) Sự bùng nổ dân số đô thị quá tải khôngmang tính tự nhiên mà do sức hấp dẫn từ sự cách biệt sâu sắc về chất lượng cuộc sống giữa đôthị và nông thôn
* Quá trình đô thị hóa diễn ra theo 2 xu hướng:
- ĐTH tập trung (ĐTH “hướng tâm”): đó chính là sự tích tụ các nguồn lực tưbản và chất xám hình thành nên các trung tâm đô thị công nghiệp tập trung cao độ, những thànhphố toàn cầu như Tokyo, Seoul, (Bassand and Michel, 2001)
Điều này sẽ dẫn đến xu hướng “CNH co cụm”, khi đó chỉ những khu vực đô thịtrung tâm là nơi thu hút vốn đầu tư, tập trung các hoạt động công nghiệp, trong khicác lĩnh vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo tạo ra
sự đối lập giữa đô thị và nông thôn, đồng thời gây ra mất cân bằng sinh thái
- ĐTH phân tán (ĐTH “ly tâm”): là xu hướng dịch chuyển đầu tư và hoạt độngsản xuất công nghiệp từ các vùng trung tâm ra các vùng ngoại vi, tạo nên
Trang 31hiệu ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình thành các trung tâm vệ tinh côngnghiệp Điều này dẫn đến tiến trình “CNH lan toả”, các hoạt động công nghiệp ở
đô thị trung tâm có xu hướng dịch chuyển ra ngoại vi để chuyển sang các hoạtđộng công nghiệp mức cao hơn, hay chuyên môn hoá các lĩnh vực kinh doanh,thương mại, dịch vụ Xu hướng này sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiệnviệc làm, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho cư dân đô thị và cư dân nông thôn(Bassand and Michel, 2001)
2.2.1.2 Tính tất yếu của đô thị hoá
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyểnbiến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNHthì đều gắn liền với ĐTH
Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình côngnghiệp hoá và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theohướng hiện đại hoá: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷtrọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP
Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự pháttriển Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hìnhchung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và khôngthể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp
và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới
2.2.1.3 Quan điểm của đô thị hoá
Công nghiệp hoá và cùng với nó là ĐTH trở thành xu thế chung của mọiquá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp(Đặng Kim Sơn, 2008) Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào đểphát huy tối đa mặt tích cực của đô thị hoá, đồng thời hạn chế và đi đến thủ tiêumặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình đô thị hoá phải
gắn liền với khái niệm “Phát triển bền vững”.
ĐTH phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường
tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằng tăng trưởngkinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình ĐTH song nó vẫnchỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng Mục tiêu củaĐTH là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần củacon người, tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm (Lê Du Phong,2007)
Trang 322.2.1.4 Tác động của đô thị hoá
ĐTH là một quá trình đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra một cách phổ biến trênthế giới ĐTH từng bước đưa con người tiếp cận cuộc sống văn minh, đồng thờicũng đặt ra không ít vấn đề tiêu cực, khó khăn - những vấn đề ảnh hưởng xấu đốivới quá trình ĐTH một cách bền vững (Lê Du Phong, 2007)
* Mặt tích cực:
Thứ nhất, ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa và dịch vụ
thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tươngđối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do cácdoanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một khônggian đô thị nhất định Đồng thời khi kinh tế của các đô thị lớn đạt tới độ tăngtrưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu ứng lan toả kích thích mạnh tới tăng trưởng kinh tếcủa cả nước
Thứ hai, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷtrọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực côngnghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp phần làmthay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây cógiá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích.Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dầndiện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướngchung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
Thứ ba, cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng ĐTH tạo ra sự tập trung sản xuất
công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa vàthông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu hạ tầng,nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó mà hệ thốnggiao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽđược cải tiến về quy mô và chất lượng
Ở nông thôn, việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang được thực hiện với chủ trương
“điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao đờisống của người nông dân (Lê Du Phong, 2007)
Thứ tư, ĐTH nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Các đô thị
ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất
Trang 33hiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm Trong sảnxuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ thuật cần thiết chongười nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làmtăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, đảmbảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trườngtrong, ngoài nước.
Thứ năm, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng
lân cận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ranhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng caothu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/tháng tăng lên thì nhu cầu chitiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cánhân Điều đó cho thấy ĐTH làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể,góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
Thứ sáu, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi
thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng
tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,
* Mặt tiêu cực:
Bên cạnh những mặt mạnh của ĐTH như trên thì ĐTH cũng kéo theo hàngloạt vấn đề tiêu cực khác, đó là:
Thứ nhất, thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Quá trình ĐTH nhanh đã làm
cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất
đô thị tăng lên rất nhanh Điều này dẫn đến tình trạng nuốt chửng những diện tíchđất nông nghiệp vốn rất cần thiết cho một đô thị như: sản xuất lương thực thựcphẩm, tạo mảng không gian xanh có vai trò “giải độc” cho môi trường sống, tạokhu nghỉ ngơi cho thị dân Đồng thời sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đãảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của nhiều người dân ở khu vựcngoại ô vì họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống
Thứ hai, khoét sâu hố phân cách giàu nghèo Quá trình ĐTH nhanh đã làm
cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị, giữa nông thôn
và thành thị trở nên trầm trọng hơn
Thứ ba, gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về mức sống, điều
kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và đang đượccoi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận lớn
Trang 34người dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị Lực lượng lao động
ở nông thôn chỉ còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứng được nhữngcông việc nhà nông vất vả Cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hướng suykiệt nguồn lực lao động, đồng thời thị trường lao động ở thành thị lại bị ứ đọng
Thứ tư, môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suy thoái
khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triển mạnhlàm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia tăng;bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn
Thứ năm, phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đời sống đô
thị hay của cả quá trình ĐTH Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóatruyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang ngự trịtrong lối sống đô thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đềuđược phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn
Tóm lại, trong công cuộc CNH - HĐH đất nước thì quá trình ĐTH ngàycàng gia tăng Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình ĐTH phát triển lànhmạnh và bền vững Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem lại phải được chútrọng đồng thời việc phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồn nhân lực conngười làm trọng tâm
2.2.2 Công nghiệp hóa
2.2.2.1 Khái niệm công nghiệp hóa
Hội nghị lần thứ VII ban chấp hành TW Đảng khóa VII đã đưa ra quanniệm về CNH, HĐH và đây cũng chính là quan niệm được sử dụng một cách phổbiến ở nước ta hiện nay Theo tư tưởng này, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quátrình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vàquản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng mộtcách phổ biến sức lao cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiếnhiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ,tạo ra năng suất xã hội cao
2.2.2.2 Tác động của công nghiệp hóa
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội;
- Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội;
Trang 35- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học công nghệ phát triển nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại;
- Tăng cường lực lượng vật chất - kỹ thuật cho quốc phòng, an ninh
2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ VÀ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ
ĐTH là một quá trình song song với sự phát triển CNH và cách mạng khoahọc kỹ thuật Quá trình ĐTH phản ánh tiến trình CNH - HĐH trong nền kinh tế thịtrường Không ai phủ nhận rằng một quốc gia được coi là CNH thành công lạikhông có tỷ lệ cư dân đô thị ngày càng chiếm vị trí áp đảo so với cư dân nôngthôn Đó cũng là lý do mà kinh tế học phát triển đã coi sự gia tăng tỷ lệ cư dân đôthị như một trong những chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình trạng “có phát triển” củanền kinh tế chậm phát triển đang tiến hành CNH hiện nay ĐTH trước hết là hệquả trực tiếp của quá trình CNH và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại nềnkinh tế theo hướng hiện đại hóa: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch
vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP(Nguyễn Tấn Dũng, 2002)
Trong điều kiện đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, ĐTH giữ vai trò đặc biệtquan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninhquốc phòng và bảo vệ môi trường ĐTH xúc tiến tối đa CNH - HĐH đất nước Sựnghiệp CNH - HĐH muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn bản cơcấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao,thay đổi cơ cấu lao động Trước hết có sự tập trung cao các điểm dân cư, kết hợpvới xây dựng đồng bộ và khoa học các cơ quan và các xí nghiệp trung tâm Quátrình này là bước chuẩn bị lực lượng ban đầu cho CNH - HĐH đất nước Khi đómáy móc hiện đại được đưa vào sản xuất nhiều hơn kéo theo việc nâng cao trình
độ tay nghề công nhân, đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý ĐTH sẽđánh dấu giai đoạn phát triển mới của tiến trình CNH, trong đó công nghiệp vàdịch vụ trở thành lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế, không chỉ xét về phương diệnđóng góp tỷ trọng trong GDP mà còn cả về phương diện phân bố nguồn lao động
xã hội (Nguyễn Kế Tuấn, 2006)
Trang 362.4 HỘ NÔNG DÂN VÀ ĐỜI SỐNG HỘ NÔNG DÂN
2.4.1 Hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp vàphát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ởnông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộngbao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trongcác hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nôngnghiệp và không có liên quan với nông nghiệp (Đặng Kim Sơn, 2008) Cho đếngần đây có một khái niệm rộng hơn là “Hộ nông thôn”, tuy vậy giới hạn giữa nôngthôn và thành thị cũng là một vấn đề còn tranh luận
Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: “Nông dân là cácnông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao độnggia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng
về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt độngvới một trình độ hoàn chỉnh không cao” (Đặng Kim Sơn, 2008) Hộ nông dân cónhững đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là mộtđơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt độngphi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau Lý thuyết về doanh nghiệp gia đìnhnông dân, coi hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ
sử dụng lao động gia đình Do đó các khái niệm kinh tế thông thường không ápdụng được cho kiểu doanh nghiệp này Do không thuê lao động nên hộ nông dânkhông có khái niệm tiền lương và tiếp theo là không thể tính được lợi nhuận, địa tô
và lợi tức Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả hoạt động kinh tế của giađình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phí Mục tiêu của hộ nông dân là cóthu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi, ngànhnghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động - tiêudùng giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao động
Trang 37Giá trị sản lượng chung của hộ gia đình trừ đi chi phí sẽ là giá trị sản lượng thuần
mà gia đình sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư tái sản xuất và tích lũy Người nông dânkhông tính giá trị tiền công lao động đã sử dụng, mà chỉ lấy mục tiêu là có thunhập thuần cao Bởi vậy, muốn có thu nhập cao hơn thì các hộ nông dân phải tăngthời gian lao động của gia đình Số lượng lao động bỏ ra gọi là trình độ tự bóc lộtcủa lao động gia đình Mỗi một hộ nông dân cố gắng đạt được một thu nhập thoảmãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhucầu của gia đình với mức độ nặng nhọc của lao động Sự cân bằng này thay đổi
theo thời gian, theo quy luật sinh học do tỷ lệ giữa Người tiêu dùng và Người lao
động quyết định Một hộ nông dân sau khi một cặp vợ chồng cưới nhau và ra ở
riêng, đẻ con thì người tiêu dùng tăng lên, gia đình gặp khó khăn, nhưng dần dầncon cái lớn lên số lao động tăng thêm, gia đình trở nên khá hơn Đến lúc con lớnlên thành lập hộ mới thì chu kỳ bắt đầu lại từ đầu Sự cân bằng này phụ thuộc rấtnhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội Chính nhờ quy luật này mà các doanhnghiệp gia đình có sức cạnh tranh mạnh hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa vìtrong điều kiện mà nông trại lớn phá sản thì hộ nông dân làm việc nhiều giờ hơn,chịu bán sản phẩm rẻ hơn, không tính đến lãi, hạn chế tiêu dùng để qua được cácthời kỳ khó khăn
2.4.2 Đời sống hộ nông dân
Nền kinh tế nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờcác đặc điểm (Nguyễn Đức Triều và Vũ Tuyên Hoàng, 2005):
* Khả năng của hộ nông dân thỏa mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ sựkiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Nhờ giá trị xã hội của nông dân hướng vào quan hệqua lại hơn là việc đạt lợi nhuận cao nhất
* Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác, tránh tình trạng tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân
* Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng khả năng lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động)
* Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao
và hiệu quả đầu tư thấp
* Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập
* Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của
Trang 38toàn xã hội thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả Các tiến bộ kỹ thuật làmgiảm giá trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cảcủa sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơngiản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Mục tiêu sản xuất của hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh,quyết định mức độ đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm củathị trường
Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hóa từ tình trạng tự cấp sang sảnxuất hàng hóa ở các mức độ khác nhau Trong quá trình tiến hóa ấy, hộ nông dânthay đổi mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường
“Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp” theo lý thuyết của Tchayanov có mục tiêutối đa hóa lợi ích Lợi ích ở đây là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình.Người nông dân phải lao động để sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủsức để sản xuất nữa, do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coinhư một lợi ích Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ
là cấu trúc dân số của gia đình
Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiệnsau (Đặng Kim Sơn, 2008):
- Có khả năng mở rộng diện tích canh tác (có thể bằng tăng vụ) không?
- Có thị trường lao động không? Vì người nông dân có thể bán sức lao động để tăng thu nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao
- Có thị trường vật tư không? Vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm một ít vật tư (nếu có tiền để mua và có lãi)
- Có thị trường sản phẩm không? Vì người nông dân phải bán đi một ít sản phẩm để mua các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác
Trong các điều kiện này người nông dân có phản ứng một ít với thị trường,nhất là thị trường lao động và thị trường vật tư
Tiến lên một bước nữa, hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy
vậy mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp Đây là kiểu “Hộ nông dân nửa tự cấp” có tiếpxúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư Hộ nông dânthuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụthuộc vào thị trường Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết
Trang 39định cách sản xuất của hộ Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng vớigiá cả, với thị trường chưa nhiều Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị
trường chưa hoàn chỉnh, đó đây vẫn có những giới hạn nhất định.
Cuối cùng đến kiểu “Hộ nông dân sản xuất hàng hoá” là chủ yếu: Ngườinông dân với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của giađình Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thịtrường vật tư, lao động và thị trường sản phẩm Tuy vậy, giả thiết rằng: Ngườinông dân là người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều côngtrình nghiên cứu Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu trình độ kỹ thuật
và quản lý, do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn chỉnh Đây làmột vấn đề đang còn tranh luận Vấn đề ở đây phụ thuộc vào trình độ sản xuấthàng hoá, trình độ kinh doanh của nông dân
2.5 THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Tiến trình đô thị hoá gắn bó chặt chẽ với sự trường tồn phát triển của lịch
sử nhân loại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lựccủa những bước tiến kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên nhiên kỷqua Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với nền đô thị hoáthấp và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường,thời kì CNH - HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình đô thị hoáthế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thựctiễn
2.5.1 Tình hình đô thị hoá trên thế giới
Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày mộttăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về
đô thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỷ 20, các quốc gia kém pháttriển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỷ trọng dân số đô thị trên tổngdân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so vớicác quốc gia phát triển
Trong cùng một khoảng thời gian 60 năm từ 1950 - 2010, tỉ lệ dân số đô thịtoàn thế giới là từ 28,83% lên đến 50,46%, khu vực kém phát triển từ 17,61% lên45,08% trong khi khu vực phát triển là từ 52,58% lên 75,16%
Trang 40Bảng 2.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các năm
Đơn vị tính: %
Khu vực phát triển 52,58 64,69 70,75 72,74 73,89 75,16Khu vực kém phát triển 17,61 25,32 34,83 40,00 42,82 45,08Khu vực kém phát triển nhất 7,32 13,13 20,98 24,68 26,83 29,17
Nguồn: World urbanization prospect, the 2009 Revision, New York (2010)Vào thập niên 90, tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi
là 45%, Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc,
trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà
phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới
sống ở các đô thị (Nguyễn Đình Cự, 1997)
Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH - HĐH
Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc
sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động
theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao
nhiên liệu, năng lượng Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên
đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm
2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra đô thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng
cao mức sống nông thôn
- Khi tập trung quá tải, cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì
đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ,
tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng,
2.5.2 Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới
2.5.2.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh và tốc độ phát triểnnhanh Nếu vào năm 1949, Trung Quốc có 136 thành phố với số dân khoảng 54
triệu người, chiếm khoảng 10,6% dân số cả nước thì đến năm 2005, dân số đô thị
nước này đã đạt tới 800 triệu người sống ở trên 700 thành phố, tỷ lệ bằng 37% Có
những dự đoán cho rằng đến năm 2050, tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75%