Những thuận lợi và khó khăn của chính sách Liên bang Nga đối với ASEAN84 Trong nhiều thập kỷ qua, ASEAN là khu vực có tầm quan trọng đặcbiệt về địa - chiến lợc và địa - kinh tế: có tài n
Trang 1Công trình đợc hoàn thành tại Trờng Đại học Vinh
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn công
khanh
Phản biện 1:………
………
Phản biện 2:………
………
Luận văn sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm Luận văn tại Trờng Đại học Vinh Vào hồi …… giờ …… , ngày …… tháng …… năm 200 … Có thể tìm hiểu Luận văn tại Th viện Trờng Đại học Vinh Bộ giáo dục và đào tạo Trườngưđạiưhọcưvinh
- -Lê doãn huy
chính sách của liên bang nga đối với hiệp hội các quốc gia đông nam á - asean
d ới thời tổng thống v.putin (2000 - 2008)
Chuyên ngành: lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.50
Tóm tắt Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh - 2008
Trang 21 Lý do chọn đề tài 1
4.Giới hạn của đề tài 7
nội dung Chơng 1: Những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách của Liên bang Nga
đối với Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN) thời kỳ cầm quyền của Tổng thống V Putin (2000 - 2008)
10
1.1 Nhân tố Lịch sử 10 1.1.1 Khái quát chính sách của Liên bang Nga đối với ASEAN 10
1.1.2 Vị thế của Liên bang Nga đối với ASEAN 15 1.1.3 Những hạn chế trong chính sách của Liên bang Nga đối với
ASEAN dới thời B.Yeltsin 20
Chơng 2: Chính sách của Liên bang Nga đối với Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam á qua hai nhiệm kỳ Tổng thống V Putin ( 2000 - 2008). 40
2.1 Khái quát chung về chính sách của Liên bang Nga đối với ASEAN
40
46 2.1.2 Nhiệm kỳ II của Tổng thống V.Putin
2.2 Chính sách của Liên bang Nga đối với một số nớc trong tổ chức ASEAN
2.2.1.5 Hợp tác trên lĩnh vực khoa học- kỹ thuật, giáo dục và đào tạo 66
2.2.4.1 Đối với Indonesia 75
Chơng 3: Một số nhận xét về chính sách của Liên bang Nga đối
với tổ chức ASEAN qua hai nhiệm kỳ tổng thống V Putin
(2000 - 2008). 84
3.1 Những thành quả chủ yếu của chính sách Liên bang Nga đối với ASEAN
84
Trang 33.2 Những thuận lợi và khó khăn của chính sách Liên bang Nga đối với ASEAN
84
Trong nhiều thập kỷ qua, ASEAN là khu vực có tầm quan trọng đặcbiệt về địa - chiến lợc và địa - kinh tế: có tài nguyên thiên nhiên dồi dào, là
“ống thông gió, ngã ba đờng” giữa Đông và Tây, là trung điểm của tuyến
đờng vận tải chiến lợc giữa các châu lục Do đó, ASEAN đã từng là mặttrận quan trọng của cuộc chạy đua hai cực Xô - Mỹ thời Chiến tranh lạnh.Ngày nay ASEAN có vị thế quan trọng trong quan hệ quốc tế, gắn liền vớilợi ích chiến lợc của nhiều cờng quốc trên thế giới Chính vị thế chiến lợccủa khu vực Đông Nam á khiến cho không một cờng quốc nào có thể bỏ
qua nhân tố ASEAN trong chiến lợc đối ngoại của mình tại khu vực CA
-TBD nói chung và Đông Nam á nói riêng
Sau khi Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991, Liên bang Nga xuất hiệntrên vũ đài quốc tế với t cách là nớc đợc thừa kế hợp pháp quyền lợi ngoạigiao trên trờng quốc tế của Liên Xô trớc đây Liên bang Nga không chỉ đợc
kế thừa phần lớn di sản kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật của Liên Xô màcòn tiếp nhận ghế uỷ viên thờng trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Tuynhiên, do những khó khăn trong nớc và chính sách đối ngoại thân phơngTây, vai trò, vị trí cờng quốc của Nga trên trờng quốc tế bị giảm sút đáng
kể Để khắc phục tình trạng đó, từ những năm cuối thế kỷ XIX, Liên bangNga đã áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có sự điều chỉnh chiến lợc đốingoại, lấy ASEAN làm một trong năm hớng u tiên của mình
Sự điều chỉnh chiến lợc đối ngoại từ h “ ớng Tây” sang chiến lợc đối ngoại cân bằng Đông - Tây, hớng về khu vực CA- TBD trong đó có ĐNA
Trang 4của Nga, với t cách là cờng quốc thế giới đã tác động không nhỏ đến tơngquan lực lợng ở khu vực này thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, làm thay đổiquan hệ song phơng giữa Nga với từng nớc cũng nh giữa các nớc với nhau.Tuy nhiên, sự điều chỉnh đó cũng cha đủ mạnh để có thể vực dậy một nớcNga đã lâm vào khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội diễn ra trầm trọng.Nớc Nga dần đã mất đi vai trò, vị thế của mình trên trờng quốc tế Di sản
mà ngời tiền nhiệm để lại cho đơng kim Tổng thống V.Putin không gì hơn
ngoài một nớc Nga sau cơn địa chấn chính trị“ ”, với một gia sản khiêm tốn
Do đó, dù đã có những nổ lực để cứu vớt nhng cũng không thể khôi phụcngay đợc vị thế cờng quốc của mình Nga có nguy cơ trở thành quốc gia “
hạng hai” trên vũ đài chính trị Trong bối cảnh đó, nớc Nga rất cần một
g-ơng mặt mới để có thể đa nớc Nga thoát khỏi sự khủng hoảng, đồng thờikhôi phục lại vị thế cờng quốc của nớc Nga trên thế giới Gơng mặt mới đóchính là đơng kim Tổng thống Nga V Putin
Ngày 26/3/2000, V Putin - một nhân vật mà trớc đó không lâu còn ítngời biết đến đã giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử Tổng thống với53% phiếu bầu và chính thức trở thành Tổng thống thứ hai của nớc Ngamới Ngay sau khi lên cầm quyền, V.Putin đã tiến hành một loạt những cảicách mang hiệu quả thực tế, điều chỉnh trong lĩnh vực nội trị và ngoại giaonhằm đáp ứng mong mỏi của ngời dân Nga muốn lấy lại một nớc Nga hùngmạnh, có vai trò, vị trí xứng đáng trên trờng quốc tế Trong lĩnh vực đối
ngoại, chính quyền Putin đã có những đổi mới nhất định mang tính mềm
dẻo, cân bằng, độc lập, tự chủ và đa phơng hoá các quan hệ, trong đó đáng
chú ý có những thay đổi trong chính sách đối với khu vực CA - TBD nóichung và ASEAN nói riêng
Từ trớc đến nay, ASEAN thờng đợc coi là điểm yếu trong chiến lợc
đối ngoại của Liên Xô cũng nh Liên bang Nga Thời kỳ huy hoàng nhấtcủa Liên Xô ở ĐNA chính là giai đoạn L Brêgiơnhép cầm quyền, với việcLiên Xô ký đợc Hiệp ớc Hữu nghị, hợp tác Xô - Việt, xác lập sự hiện diệnquân sự của mình ở ĐNA Sau khi Liên Xô tan rã do những khó khăn trongnớc, khi Nga rút khỏi căn cứ quân sự tại Cam Ranh (Việt Nam) hầu nh Liênbang Nga mất hết ảnh hởng ở khu vực này Tuy nhiên, từ sau chiến tranhlạnh đến nay, ĐNA ngày càng nổi lên nh một điểm sáng trên bản đồ thế giới
về tốc độ phát triển kinh tế, về sự ổn định, hoà bình và thống nhất trong tổchức ASEAN Chính vì vậy, vị trí chiến lợc của ĐNA đợc nâng cao trongtầm nhìn chiến lợc của các nớc lớn, trong đó có Liên bang Nga Chính sách
Trang 5đối với ASEAN đã đợc định hình cơ bản dới thời B.Yeltsin, nhng vấn đề đặt
ra là với sự thay đổi lãnh đạo Nga thì chính sách của Nga đối với ASEAN cógì mới và đem lại kết quả ra sao ?
Là một thành viên của tổ chức ASEAN, lại có quan hệ truyền thốngtốt đẹp với Liên bang Nga, do đó Việt Nam có vai trò hết sức quan trọngtrong việc thúc đẩy hợp tác toàn diện Nga - ASEAN Đồng thời, Việt Namrất quan tâm theo dõi những thay đổi trong chính sách của Nga đối vớiASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng để từ đó xây dựng đối sách phùhợp, khai thác có hiệu quả mối quan hệ Nga - Việt phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
Trớc tình hình trên, tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu chính sách củaLiên bang Nga đối với ASEAN dới thời V Putin là việc làm cần thiết, có ýnghĩa cả về lý luận và thực tiễn Trớc hết, sẽ góp phần nhận thức đúng đắntính tất yếu, quá trình và nội dung cơ bản chính sách của Nga đối vớiASEAN; mặt khác, nêu lên xu hớng vận động, phát triển của chính sách vàkhẳng định vị trí Việt Nam là “cầu nối” của mối quan hệ Nga - ASEAN.Trên cơ sở đó, luận văn sẽ nêu lên những kết quả bớc đầu của chính sách,triển vọng phát triển của chính sách đối với ASEAN của Nga trong thờigian tới Đồng thời đa ra một số kiến nghị góp phần đẩy mạnh quan hệ Nga
- Việt đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nớc, vì sự nghiệphoà bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên toàn thế giới Với những
lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: Chính sách của“
Liên bang Nga đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) dới thời Tổng thống V Putin (2000 - 2008)” làm luận văn tốt nghiệp của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách của Liên bang Nga đối với ASEAN dới thời Tổng thốngV.Putin (2000 - 2008) là một giai đoạn mới khi Tổng thống V.Putin vừa kếtthúc hai nhiệm kỳ của mình Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiềucông trình nghiên cứu viết về chính sách CA- TBD nói chung, ASEAN nóiriêng của Liên bang Nga tơng đối nhiều Song, hầu hết các nguồn t liệumới chỉ phân tích những chính sách cụ thể trên một số mặt, một số vấn đềchứ cha có tài liệu nào phân tích một cách có hệ thống toàn bộ chính sáchcủa Liên bang Nga đối với ASEAN của chính quyền V Putin Đây là mộtkhó khăn cho ngời viết trong quá trình hoàn thành luận văn này Có thể
Trang 6chia các công trình nghiên cứu và các bài viết của các tác giả ra làm hainhóm chính:
Nhóm thứ nhất : Nghiên cứu các vấn đề chung của khu vực CA
-TBD trong đó có ASEAN :
- “Sự điều chỉnh chiến lợc của các nớc khu vực CA - TBD trong thời
gian gần đây”, sách kỷ yếu hội thảo khoa học do Viện CA- TBD tổ chức
đầu năm 1993
- “Nga đẩy mạnh bớc sang CA - TBD” của tác giả Hồ Châu đăng tải
trên tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 5, năm 1996
- “Sự điều chỉnh chính sách của các nớc lớn đối với CA - TBD từ sau
chiến tranh lạnh và vấn đề đặt ra với Việt Nam” của tác giả Hồ Châu, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1997
- “Sự điều chỉnh chính sách CA- TBD của Liên bang Nga dới thời
Tổng thống V Putin (2000 - 2006) , ” của Nguyễn Thị Minh Duyên, Luận
văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Vinh
- Một ASEAN ở trái tim châu “ á năng động”, của tác giả Phơng Hà
đăng tải trên Báo Nhân dân số 57 ngày 18/11/2007
Tuy có khác nhau về qui mô công trình, phạm vi nghiên cứu nhngcác nhà khoa học đều thống nhất ở những điểm quan trọng sau:
+ Châu á- Thái Bình Dơng ngày càng đóng vai trò quan trọng trongmọi lĩnh vực của thế giới
+ Khu vực Đông Nam á với tổ chức ASEAN trở thành một tổ chức
có trọng lợng ở CA - TBD và đóng vai trò không thể thiếu đợc trong đờisống chính trị, kinh tế của toàn khu vực châu á - Thái Bình Dơng
+ Do đó, các nớc đặc biệt là các cờng quốc đã và đang điều chỉnhchính sách khu vực của mình nhằm mở rộng ảnh hởng, giành lấy vai trò chiphối khu vực trong thế kỷ XXI Do sự đan xen các mâu thuẫn giữa các lợiích cho nên CA - TBD trong thế kỷ XXI, bên cạnh xu thế chủ đạo là hoàbình và hợp tác, vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định
Nhóm thứ hai : Tập trung nghiên cứu những chính sách của Nga đối
với ASEAN trong những năm gần đây Trong đó đáng chú ý:
- “Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga đối với ASEAN từ 1993
đến nay” của tác giả Đặng Thanh Toán đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu
Âu số 5, năm 2002
Trang 7- Quan hệ Nga - ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI“ ” của tác giảNguyễn Quang Thuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 6, năm2005.
- Quan hệ Việt - Nga trong bối cảnh quốc tế mới“ ” của Võ Đại Lợc,
Lê Bộ Lĩnh, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2005
- “Vị trí của ASEAN trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga
hiện nay” của tác giả Nguyễn Quang Thuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
châu Âu số 3, năm 2006
- Chiến l“ ợc đối ngoại của Liên bang Nga đến năm 2020 và vị trí của ASEAN trong chiến lợc đó” của tác giả Hoàng Minh Hà đăng trên Tạp
chí Nghiên cứu châu Âu, số 6 (81)
ở đây các tác giả đều khẳng định vị trí của ASEAN trong chiến lợcphát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh mới, những u tiên trongchính sách đối ngoại của cả hai phía; vị trí và vai trò của Việt Nam trongquan hệ Nga - ASEAN Chính sách của Nga đối với ASEAN vừa mang tính
kế thừa, đồng thời Tổng thống Putin đã có những điều chỉnh mới cho phùhợp với môi trờng trong nớc và quốc tế đầu thế kỷ XXI Chính sách đốingoại thời V Putin so với B.Yeltsin thực dụng hơn rất nhiều Bên cạnh đó,các công trình này còn tập trung nghiên cứu quan hệ song phơng giữa Nga vàmột số nớc trong tổ chức ASEAN… Tuy nhiên, cho đến nay ch Tuy nhiên, cho đến nay cha có tác giảnào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về chính sách đốivới ASEAN của chính quyền V Putin nói chung và tác động của nó đối vớimối quan hệ Nga - Việt
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các tácgiả trong và ngoài nớc và sự cố gắng của bản thân, luận văn sẽ đi sâu vàonhững chính sách lớn và cụ thể với một số nớc trong tổ chức ASEAN Từ
đó rút ra một số nhận xét về triển vọng phát triển của chính sách đối vớiASEAN của Nga trong thời gian tới và khẳng định vị trí của Việt Namtrong quan hệ Việt Nam - Nga - ASEAN
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Luận văn đi sâu phân tích những nhân tố tác động đến chính sáchcủa Liên bang Nga đối với Hiệp hội các quốc gia ĐNA của chính quyềnV.Putin Đồng thời làm rõ những chính sách cụ thể đối với một số nớctrong khu vực đặc biệt là Việt Nam Qua đó, luận văn sẽ bớc đầu đa ra một
Trang 8số nhận xét, triển vọng phát triển mối quan hệ Nga - ASEAN trong thờigian tới.
3.1 Nhiệm vụ
Để đạt đợc các mục đích trên, luận văn sẽ nêu và giải quyết cácnhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân tích những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách của Liênbang Nga đối với ASEAN
- Phân tích chính sách chung, cụ thể của Nga đối với ASEAN dớithời cầm quyền của Tổng thống V.Putin
- Từ sự phân tích thực trạng của chính sách của chính quyền V Putin
đối với ASEAN, chúng tôi mạnh dạn rút ra một số nhận xét về những thuậnlợi và khó khăn Đồng thời đa ra một số kiến nghị để Việt Nam có thể khai
thác đợc “nhân tố Nga” phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4 Giới hạn của đề tài
- Về thời gian : Luận văn đề cập đến chính sách của Liên bang Nga
đối với ASEAN từ khi V.Putin làm Tổng thống cho đến tháng 5/2008
- Về nội dung : Luận văn chỉ tập trung đề cập đến chính sách đốingoại của Nga đối với tổ chức ASEAN nói chung, quan hệ giữa Nga vớimột số nớc trong tổ chức, đặc biệt là mối quan hệ Nga - Việt Từ đó rút ramột số nhận xét về thuận lợi, thách thức của chính sách đó
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn t liệu
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Các Thông điệp Liên bang của Tổng thống Nga từ năm 2000 đến nay
- Các t liệu có tính chất chung về lịch sử, văn hoá, kinh tế Nga và khu vực
- Hệ thống tin bài về chủ đề nghiên cứu đăng trên báo chí trong 8 năm
- Các sách, chuyên đề nói về chính sách đối ngoại của Liên bang Nga
- Nguồn t liệu Internet
5.2 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 9Đề tài luận văn thuộc về vấn đề quan hệ quốc tế, vì vậy phơng phápnghiên cứu chủ yếu của luận văn là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc Cảhai phơng pháp này kết hợp nhuần nhuyễn với nhau trong quá trình nghiên cứu.Ngoài ra để hỗ trợ cho hai phơng pháp này, luận văn còn sử dụng phơng pháp
so sánh đối chiếu, hệ thống, tổng hợp, dự báo với cách nhìn đánh giá vấn đề từgóc độ lịch sử một cách toàn diện và khoa học
Từ nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu trên, chúng tôi cố gắngkhai thác và xử lý thông tin một cách khách quan và trung thực nhất
6 Đóng góp của luận văn
- Dựa vào các nguồn t liệu, luận văn sẽ phân tích một cách có hệthống những nhân tố tác động đến Liên bang Nga đòi hỏi chính quyềnV.Putin phải điều chỉnh chính sách đối ngoại nói chung và đối với tổ chứcASEAN nói riêng, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiệnchính sách
- Luận văn sẽ làm nổi bật những điểm mới trong chính sách củaV.Putin đối với một số nớc thành viên của ASEAN đặc biệt là đối với ViệtNam Đồng thời đa ra một số nhận xét, triển vọng phát triển của quan hệNga - ASEAN Từ đó luận giải và làm sáng tỏ hơn chủ trơng của ta tiếp tụccủng cố, phát triển quan hệ trên nhiều mặt với các bạn bè truyền thống,trong đó có Liên bang Nga; khẳng định Việt Nam là chiếc cầu nối trongquan hệ Nga - ASEAN
- Đợc tiếp cận từ góc độ lịch sử, do đó luận văn có thể sử dụng làm tliệu tham khảo khi nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nga và quan hệNga - Việt trong bối cảnh quốc tế mới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận vănbao gồm 3 chơng :
Chơng 1: Những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách của Liên
bang Nga đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) thời kỳcầm quyền của Tổng thống V Putin (2000 - 2008)
Chơng 2: Chính sách của Liên bang Nga đối với Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam á qua hai nhiệm kỳ Tổng thống V Putin (2000 - 2008)
Chơng 3 : Một số nhận xét về chính sách của Liên bang Nga đối với
tổ chức ASEAN qua hai nhiệm kỳ Tổng thống V Putin (2000 - 2008)
Trang 10nội dung
Chơng 1 Những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách của Liên bang Nga đối với Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN) thời kỳ cầm quyền của
Tổng thống V Putin (2000 - 2008) 1.1 Nhân tố Lịch sử.
1.1.1 Khái quát chính sách của Liên bang Nga đối với ASEAN
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên Xô đã có sự chú ý đếnkhu vực CA- TBD nói chung và các nớc ĐNA nói riêng Mục đích của LiênXô trong thời gian này là mở rộng biên giới của Chủ nghĩa xã hội thế giới,làm tan rã hệ thống thuộc địa của Chủ nghĩa đế quốc Chính vì vậy, khu vực
ĐNA đã đợc Liên Xô quan tâm, đặc biệt là các nớc Đông Dơng Riêng ViệtNam, từ năm 1978 đã ký hiệp ớc hữu nghị và hợp tác với Liên Xô và ViệtNam đã trở thành trọng điểm trong chiến lợc CA- TBD của Liên Xô Tronggiai đoạn này, Liên Xô chú trọng triển khai kế hoạch khai thác tài nguyên vàphát triển kinh tế sang phía đông và CA - TBD trong đó có khu vực ĐNA.Trong quan hệ buôn bán hai chiều giữa Liên Xô và các nớc ĐNA vào năm
1989 đã có bớc phát triển, cụ thể là giữa Liên Xô- Việt Nam lên tới 1910,0triệu rúp, Liên Xô - Thái Lan là 256,6 triệu rúp, Liên Xô - Malaysia là 165,6triệu rúp [50, tr.99]
Trang 11Trong giai đoạn từ 1985 - 1991, Liên Xô có chủ trơng giải toả tìnhtrạng đối đầu căng thẳng để chuyển sang quan hệ hoà bình, bình đẳng vàhợp tác ở CA - TBD; tỏ rõ sự quan tâm đến việc mở rộng các quan hệ kinh
tế với các nớc trong khu vực và tích cực ủng hộ sáng kiến của các nớc
ĐNA nhằm xây dựng ĐNA thành một khu vực phi hạt nhân Đồng thời,Liên Xô tăng cờng quan hệ kinh tế với Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản ,
và các nhà lãnh đạo Liên Xô tích cực tổ chức các chuyến thăm các nớcASEAN nhằm thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nớc trong khu vực
Đông Nam á
Sau khi Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991, Liên bang Nga chính là
“quốc gia - ngời kế tục Liên Xô” Liên bang Nga nhanh chóng kế thừaquyền lợi và nghĩa vụ của Liên Xô trên tất cả các mặt Phơng Tây và các n-
ớc lớn cũng tiếp nhận quy chế Nga với t cách là “quốc gia - ngời kế tụcLiên Xô” mà biểu hiện trớc hết là đồng ý chuyển giao cho Liên bang Ngaghế Uỷ viên thờng trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Tuy nhiên, vào thời điểm đảo lộn và rối loạn lúc đó, thực lực củaNga đã suy giảm trông thấy Một cuộc khủng hoảng toàn diện bao trùm lênnớc Nga: suy thoái kinh tế, rối loạn chính trị, cơ sở vật chất - kỹ thuật quân
sự xuống cấp nghiêm trọng, xã hội bế tắc Nớc Nga phải đối mặt với nhữngthách thức vô cùng to lớn: nguy cơ tụt hậu về kinh tế, nguy cơ bùng nổcuộc đấu tranh đòi cải cách xã hội do đời sống nhân dân không đợc cảithiện, nguy cơ an ninh quốc gia bị đe doạ do khối Vácsava tự giải thể,những vùng đệm thời Liên Xô trớc đây mất đi, quan hệ của các nớc Cộnghoà với Nga và với nhau tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, nguy cơ bị cô lập trêntrờng quốc tế Trong bối cảnh thế giới hậu Chiến tranh lạnh, Liên bangNga không có kẻ thù công khai và trực tiếp, nhng cũng không có đồngminh Dờng nh nớc Nga đứng tách biệt khỏi xu thế khu vực hoá, quốc tếhoá, toàn cầu hoá Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) chỉ là một cộng
đồng lỏng lẻo, kiểu nh hữu danh vô thực“ ”, bởi nó chỉ tồn tại trên giấy chứkhông có bất cứ cơ chế hoạt động cụ thể nào
Liên bang Nga ra đời trong bối cảnh trong nớc và quốc tế nh vậy chonên chính quyền của Tổng thống B.Yeltsin đứng trớc những vấn đề nangiải trong việc hoạch định và thực thi chính sách đối nội, đối ngoại Để đanớc Nga sớm ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục duy trì vai trò cờng quốc trêntrờng quốc tế, chính quyền B.Yeltsin đã phác hoạ đờng lối phát triển của n-
ớc Nga với các mục tiêu chiến lợc tổng quát nh sau:
Trang 12- ổn định và phát triển nền kinh tế thị trờng trên cơ sở t nhân hoá.
- ổn định tình hình chính trị, xã hội trong nớc, xây dựng một thể chếchính trị theo hớng đa nguyên, đa Đảng và dân chủ hoá theo mô hình ph-
ớc trên thế giới trên cơ sở hợp tác, đối tác, theo nguyên tắc hai bên cùng có
lợi, hay nói cách khác đó là tối thiểu t“ tởng, tối đa lợi ích, u tiên trớc hết cho lợi ích quốc gia, dân tộc” [22, tr.104].
Song, trên thực tế, quá trình hoạch định chính sách đối ngoại củaNga nói chung và chính sách đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á(ASEAN) nói riêng dới thời Tổng thống B.Yeltsin nhìn chung gặp khánhiều khó khăn Giai đoạn đầu khi vừa lên cầm quyền (1991 - 1993), dophải đối mặt với quá nhiều khó khăn nên chính quyền B.Yeltsin dù cómuốn cũng không thể quan tâm tới khu vực này Có thể nói Nga cha xác
định đợc cho mình một chiến lợc cụ thể đối với CA - TBD nói chung vàASEAN nói riêng Do đó, quan hệ của Nga với khu vực còn rất mờ nhạt vàNga hầu nh bị gạt ra ngoài sân khấu chính trị khu vực Điều này không cógì khó hiểu bởi hai lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, cho dù Nga có nhận thức đợc tầm quan trọng của khu vực
này thì với thực lực quá yếu kém của mình Nga cũng đành lực bất tòng“
tâm” Một nớc Nga mới vừa mới ra đời sau “cơn địa chấn về chính trị” do
sự tan rã của Liên Xô, lại phải lo đối phó với nguy cơ tan vỡ từ bên trongthì không thể có đủ điều kiện và khả năng hớng ra bên ngoài
Thứ hai, lúc này mục tiêu mà chính quyền B.Yeltsin đặt ra cho nớc
Nga là xoá bỏ di sản của Liên Xô, chuyển sang mô hình mới kinh tế thị tr ờng t bản chủ nghĩa Để thực hiện mục tiêu này, Nga xác định đối tợngtranh thủ hàng đầu là Mỹ và các nớc phơng Tây Nga coi các nớc nàykhông chỉ là mô hình phát triển để noi theo, là nguồn trợ giúp về vốn, kỹthuật và kinh nghiệm chuyển đổi cơ cấu và cơ chế mà đây còn là lực lợngquan trọng chi phối tình hình thế giới mà Nga đang mong muốn hoà nhập
-và tranh thủ cơ hội Suốt giai đoạn này, nớc Nga đã thực hiện mọi biện
Trang 13pháp, kể cả những thoả hiệp không điều kiện để chứng minh Nga không cólợi ích đối lập với Mỹ và phơng Tây.
Chính vì vậy, chính sách đối ngoại mà Nga thực thi trong giai đoạn
này là chính sách định h“ ớng Đại Tây Dơng”, đặt trọng tâm vào quan hệ với
phơng Tây với mục tiêu bằng mọi cách hoà nhập càng nhanh càng tốt vàocộng đồng các nền dân chủ phơng Tây, thậm chí sẵn sàng nhợng bộ Mỹ vàphơng Tây trên một số vấn đề nhạy cảm Điều đó lý giải vì sao quan hệ với
CA - TBD nói chung, ĐNA nói riêng không đợc quan tâm đúng mức
Tuy nhiên, kết quả thực hiện lại không nh mong muốn Trên thực tế,
từ tháng 12/1991 đến cuối năm 1993, Nga theo đuổi đờng lối thân phơngTây đã cho các nhà lãnh đạo Nga thấy rằng: Nga cha trở thành thành viênthực sự của phơng Tây cho dù ngời Nga đã tỏ thái độ thiện chí, nhợng bộ,
mu cầu đợc hợp tác, đợc hoà nhập với thế giới phơng Tây để có đợc sự việntrợ về kinh tế, ủng hộ về chính trị Nhng kết quả đã phải trả giá quá đắt Ph-
ơng Tây vẫn nhìn Nga bằng con mắt dè chừng và e ngại Họ lo sợ “Chú
Gấu bắc cực” hồi phục và tiếp tục đe doạ an ninh của họ nh trớc kia [7,
tr.12] Vì thế, phơng Tây tìm cách kìm chế Nga, viện trợ cho Nga một cáchnhỏ giọt lại kèm theo nhiều điều kiện hà khắc nh Mỹ hứa cho Nga vay 14
tỷ USD nhng trên thực tế chỉ giải ngân đợc 4 tỷ USD, hay G7 hứa viện trợcho Nga 43 tỷ USD nhng cuối cùng Nga chỉ nhận đợc 15 tỷ với mục đích
chỉ là để trả nợ nhằm giữ Nga mãi mãi là công dân loại hai“ ” trên vũ đàichính trị
Những phân tích trên cho thấy chính sách đối ngoại tuyệt đối hoáphơng Tây của Nga giai đoạn 1991- 1993 đã làm cho Nga đánh mất vai tròchủ động trong quá trình sắp xếp lại lực lợng ở châu Âu cũng nh châu áthời kỳ sau Chiến tranh lạnh Chính sách ngả theo phơng Tây của Nga thờigian này đã giúp các nớc phơng Tây giành đợc lợi thế trong việc xác định
xu hớng, tính chất và nhịp độ phát triển của quá trình đó Nớc Nga từng
b-ớc buộc phải đứng ngoài quá trình này và Nga đứng trb-ớc nguy cơ bị cô lậpkhông chỉ với châu Âu mà cả CA- TBD
Những thất bại trong chính sách thân ph“ ơng Tây” khiến ảo tởng
trông chờ vào sự giúp đỡ của phơng Tây trong chính giới Nga sụp đổ Mặtkhác, nội bộ Nga có nhiều thay đổi, trong Quốc hội mới thế lực dân tộc chủnghĩa mạnh lên, trong chính phủ phái thực dụng chiếm u thế, lực lợng pháidân chủ thân phơng Tây suy yếu, ảnh hởng của quân đội tăng lên, tâm lý
đòi hỏi bảo vệ lợi ích dân tộc, khôi phục địa vị nớc lớn ngày càng mạnh
Trang 14Do đó, giới lãnh đạo Nga nhận thức đợc nhu cầu phải khắc phục sự phiếndiện trong quan hệ với phơng Tây Từ đó, các hoạt động ngoại giao củaNga bắt đầu đợc mở sang phơng Đông nh một nổ lực nhằm đa dạng hoá vàcân bằng hơn để khai thác tối đa các yếu tố có lợi cho mình.
Kết quả từ năm 1994, chính sách đối ngoại của nớc Nga đối với TBD nói chung, các nớc ASEAN nói riêng bắt đầu có bớc chuyển căn bản
CA-từ chính sách “định hớng Đại Tây Dơng” quá thiên về phơng Tây sang
chính sách “cân bằng Đông - Tây”, theo đó quan hệ với các nớc khu vực
ĐNA dần đợc chú trọng hơn Trên thực tế là kinh tế CA- TBD đặc biệt làkhu vực ĐNA đang phát triển nhanh chóng, năng động và giàu tiềm năng,nếu đợc hợp tác với Nga sẽ giúp biến vùng Viễn Đông và Xiberi thành khuvực phát triển mà bản thân Nga không thể làm nổi Mặt khác, hai hớng Tây
và Nam đang gặp nhiều khó khăn Vì vậy mở rộng quan hệ với CA- TBD,trong đó có tổ chức ASEAN đã trở thành sự lựa chọn của Nga Điều đó đợc
thể hiện trong “ Những nguyên tắc cơ bản chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga” mà Tổng thống B.Yeltsin đã phê chuẩn vào tháng 1/1994, nêu
rõ: “Tăng cờng chính sách đối ngoại CA- TBD có thể thực hiện khả năng
cân bằng các mặt đối với phơng Tây Nh thế càng thể hiện địa vị nớc Âu - á của Nga” Ngoại trởng Kozyrev nói rõ hơn: “Lợi dụng địa vị “độc nhất vô
nhị” nớc lớn á - Âu là nhiệm vụ trọng yếu trong chính sách đối ngoại củaNga” [87] Đặc biệt, trong một cuộc họp báo của Bộ ngoại giao Nga ngày
27/10/1993, Tổng thống B.Yeltsin đã phê phán Bộ Ngoại giao: “Cha chú
trọng đúng mức đến phơng Đông và Chính sách ngoại giao của Nga” “
phong phú, đa dạng và toàn diện Trong khi phát triển quan hệ với các nớc phơng Tây, Nga phải hết sức phát triển quan hệ với các nớc phơng Đông Chúng ta phải vững vàng hớng về phơng Đông” [50, tr.38] Trong thông điệp
Liên bang năm 1996, Tổng thống B.Yeltsin đã nhấn mạnh tính chất đa
ph-ơng hoá trong chính sách đối ngoại của Nga và khẳng định các nớc châu á
đã trở thành chỗ dựa quan trọng để củng cố vị trí đối ngoại của Nga Năm
1996 cũng là năm đánh dấu việc hiện thực hoá chiến lợc Cân bằng Đông -“
Tây” với việc Primakov đợc bổ nhiệm làm Bộ trởng Ngoại giao thay cho
Kozyrev- đại diện tiêu biểu của trờng phái thân phơng Tây Từ đó cũng đồngnghĩa với việc Nga tích cực triển khai chính sách CA- TBD nói chung vàASEAN nói riêng
Thời kỳ Chiến tranh lạnh, chính sách và quan hệ với châu á, trong
đó có Đông Nam á, là một bộ phận của chiến lợc Toàn cầu của Liên Xô
Trang 15Đến thời kỳ đầu của nớc Nga mới, quốc gia này đứng ngoài hầu hết cáchoạt động quốc tế ở khu vực ĐNA: quan hệ với Việt Nam cùng các nớc
Đông Dơng giảm sút, với các nớc ASEAN không đợc cải thiện Sau khi
điều chỉnh chính sách đối ngoại, nớc Nga đã có những bớc đi tích cực cho
sự hiện diện của mình ở khu vực này
Tuy không có hẳn một chiến lợc đối với ASEAN nh Liên minh châu
Âu, nhng sau khi khẳng định tính tất yếu của việc có mặt ở khu vực này,Liên bang Nga đã từng bớc tiếp cận khu vực đợc xem là cửa ngõ cho Nga
đi vào Đông á “câu lạc bộ mới về kinh tế và an ninh” nh chữ thờng dùngcủa báo chí Nga Mở đầu là việc Liên bang Nga thoạt tiên trở thành đối tác
t vấn của ASEAN năm 1994 rồi hai năm sau đợc công nhận là đối tác đốithoại đầy đủ Tiếp đó, cơ cấu đối thoại ASEAN - Nga đợc định hình nhanhchóng gồm 4 thiết chế
Nh vậy, sau những năm sốt sắng vồ vập áp dụng mô hình của Mỹ vàphơng Tây, tập trung mọi u tiên đối ngoại vào các đối tợng trên, Liên bangNga dới sự cầm quyền của Tổng thống B Yeltsin đã không thu đợc kết quả
nh mong muốn Nga chẳng những không thoát khỏi khủng hoảng mà còn
bị phụ thuộc vào Mỹ và phơng Tây, bị lâm vào bế tắc hơn nữa Vị thế củaNga trên trờng quốc tế đã bị suy yếu lại càng suy giảm thêm Từ năm 1994,Nga đã có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại đối với khu vựcCA- TBD trong đó có ĐNA theo hớng ngày càng dính líu tích cực hơn vàokhu vực Những điều chỉnh trong chiến lợc CA - TBD của chính quyền B.Yeltsin đã mang lại những kết quả nhất định, đồng thời vẫn còn tồn tại nhiềuhạn chế Đây là những di sản để lại cho chính quyền V Putin, đòi hỏi chínhquyền mới phải có những đánh giá và đổi mới thích hợp
1.1.2 Vị thế của ASEAN đối với Liên bang Nga
Trong nhiều thế kỷ qua, do vị trí đặc biệt ở khu vực CA- TBD, cácquốc gia ĐNA luôn có vị thế quan trọng trong quan hệ quốc tế, gắn liến vớilợi ích chiến lợc của nhiều cờng quốc trên thế giới Bối cảnh quốc tế mớicủa kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh, của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ thông tin - truyền thông, của làn sóng toàn cầu và hội nhập kinh
tế, của sự thay đổi nhanh chóng và khó lờng trong môi trờng an ninh toàncầu đã buộc hàng loạt quốc gia lớn nhỏ phải điều chỉnh chiến lợc phát triểncủa mình
Bớc sang thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển sôi động về kinh tế, CA
- TBD đợc coi là khu vực có tính ổn định cao về chính trị của thế giới
Trang 16Trong bình diện ngôi nhà chung đó, từ sau Chiến tranh lạnh đến nay ĐNAvới tổ chức ASEAN cũng có sự chuyển mình về mọi mặt Sự ổn định củachính trờng đã loại trừ những đối kháng, tạo điều kiện cho ĐNA đẩy mạnhhợp tác và phát triển, đa vị trí của ASEAN ngày càng nâng cao trên trờngquốc tế Bên cạnh đó, ASEAN là một điển hình về một tổ chức kinh tế chathực sự phát triển, nhng rất đợc thế giới, nhất là các nớc lớn quan tâm vàthực hiện các quan hệ chặt chẽ trên thực tế.
Nớc Nga thời “hậu Xô viết” đang tập trung vào chuyển đổi và cảicách kinh tế, do vậy đã thực hiện những điều chỉnh cần thiết trong chiến l-
ợc đối ngoại nhằm xây dựng một thế giới “đa cực” Sự hiện diện chiến lợccủa Nga trong quan hệ quốc tế mang tính u tiên và chọn lọc hơn, theo đó,Nga u tiên quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ, chú trọng quan
hệ với EU và NATO nhằm duy trì vùng đệm Trung - Đông Âu đồng thờigiảm dần sự hiện diện quân sự tại khu vực ĐNA Do đó, trong khu vực
Đông á, ASEAN luôn đứng sau Trung Quốc và Nhật Bản trong thứ tự utiên đối ngoại của Nga
Phải chăng hiện nay Nga đang thiếu những nền tảng quan hệ kinh tế
đủ mạnh để thúc đẩy vai trò chiến lợc của mình tại ASEAN và khu vực
ĐNA ? Trong khi đó Trung Quốc và ấn Độ ngày càng tìm cách tăng cờng
vị thế của mình trong khu vực ĐNA thông qua thúc đẩy quan hệ kinh tế đốingoại với ASEAN Do đó, Nga cần tranh thủ một không gian kinh tế AFTAngày càng mở rộng, và không gian kinh tế Đông á đang hình thành dầntừng bớc để thúc đẩy tăng trởng kinh tế, mở rộng hợp tác nhiều mặt với cácnớc ASEAN và cân bằng lợi ích chiến lợc với các cờng quốc khác trongkhu vực
ASEAN đóng vai trò hạt nhân trong việc điều phối quan hệ giữaASEAN với các nớc lớn Bằng cách nâng tầm quan hệ đối tác Nga -ASEAN lên một u tiên cao hơn trong chiến lợc quốc gia của Nga, nớc Nga
sẽ tăng cờng sự hiện diện của mình trong việc định hình môi trờng địa chiến lợc khu vực châu á nói chung và Đông á nói riêng đang thay đổi hếtsức nhanh chóng, và nhờ đó bảo đảm đợc những lợi ích quốc gia mang tínhchiến lợc của Nga trong khu vực cũng nh trên thế giới
-Lợi ích của Nga tại ĐNA từ lâu đã đợc ngời Nga tính đến ĐôngNam á với vị trí nằm giữa Thái Bình Dơng và ấn Độ Dơng, nối liền đại lụcchâu á với châu Đại Dơng, hình thành “ngã t” giữa hai châu lục, khôngnhững là con đờng tất yếu cho sự lu thông giữa châu á, châu Phi, châu Âu
Trang 17và châu Đại Dơng, mà còn là khu vực vận tải nhộn nhịp giữa bắc Mỹ, Nam
Mỹ với Nam á Chính vì vậy, Nga ngày càng tìm cách củng cố quan hệcủa mình với khu vực Đông Nam á
Có thể khẳng định, ASEAN ngày càng có vị trí quan trọng trongchính sách đối ngoại của Nga, bởi vì:
Thứ nhất, xét về vị trí địa lý, ASEAN không tiếp giáp trực tiếp với
lãnh thổ của Nga nh khu vực Đông Bắc á, nhng xét về địa - chiến lợc đây
là khu vực mà Nga có sự ràng buộc về lợi ích quân sự, an ninh chính trị,kinh tế hàng hải, do vậy ASEAN có vị trí riêng trong chính sách đối ngoạicủa Nga
Thứ hai, với sự phát triển năng động của ASEAN trong những năm
vừa qua ASEAN trở thành tâm điểm của các cuộc cạnh tranh địa - chiến
l-ợc giữa các cờng quốc khu vực nh Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ Đặc biệt,trong quá trình liên kết Đông á ngày nay ASEAN có vai trò ngày càngquan trọng, khi mà giữa Trung Quốc và Nhật Bản còn có nhiều bất đồng.Ngoài ra, ASEAN còn là tâm điểm của các hiệp định tự do thơng mại songphơng của nhiều nớc phát triển Hiện nay, Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản,Hàn Quốc, Australia đều đã hình thành sáng kiến Hiệp định thơng mại tự
do song phơng ASEAN
Thứ ba, bớc vào thế kỷ XXI, Liên bang Nga đã đạt đợc nhiều thành
tựu quan trọng trên tất cả các mặt, đang từng bớc tìm kiếm vị thế cờngquốc của mình Để thực hiện mục tiêu tìm kiếm vị thế cờng quốc với t cách
là cờng quốc khu vực châu á nói chung, ĐNA nói riêng ngày càng có vị tríquan trọng hơn
Gần đây việc thực hiện chính sách đối ngoại hớng Đông, ASEANngày càng có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Liên bangNga Phát triển quan hệ với ASEAN còn tạo cơ hội để Nga tham gia vàotiến trình liên kết Đông á
Thứ t, khu vực ĐNA với tổ chức ASEAN là nơi hội tụ nhiều lợi ích
mà không một nớc lớn nào có thể bỏ qua Sau bốn mơi năm phát triển, tổchức này đang hớng tới một cộng đồng liên kết thống nhất hơn, hoạt độngvới những quy định luật phát rõ ràng theo mô hình Liên minh châu Âu, vớimong muốn liết lập Hiến chơng ASEAN ĐNA là khu vực trải dài từ giápNam á đến khu vực giáp Đông Bắc á, có đờng biển và vùng biển rộng lớn.Nơi đây có rất nhiều nguồn lợi về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên biển,
Trang 18các nguồn khoáng sản từ thềm lục địa Liên bang Nga có rất nhiều lợi thếphát huy trong quan hệ với các nớc ASEAN.
Thứ năm, Việt Nam hiện là thành viên chính thức của ASEAN, có
quan hệ truyền thống lâu đời với Liên bang Nga và là điều phối viên củaNga trong việc thúc đẩy quan hệ Nga - ASEAN, Việt Nam đã và đang cóvai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ này trong thời gian tới.Vai trò và vị thế của Việt Nam trong ASEAN ngày càng đợc nâng cao, tạonhững tiền đề thuận lợi cho Nga tăng cờng quan hệ toàn diện với khu vựcphát triển năng động này
Ngợc lại, Liên bang Nga có vị thế rất quan trọng tại các nớc ASEAN
đó là:
Một là, các nớc ASEAN nhấn mạnh vai trò của khoa học và công
nghệ của Nga, qua đó các nớc ASEAN có thể tăng cờng hợp tác và đốithoại với Nga nhằm thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ và hiện đạihoá nền khoa học của nớc mình Đặc biệt, các nớc ASEAN tiếp tục tăng c-ờng hợp tác với Nga trong lĩnh vực quốc phòng nhằm hiện đại hoá trangthiết bị quốc phòng cũng nh đảm bảo phòng thủ của đất nớc
Hai là, Nga có lịch sử quan hệ truyền thống với một số nớc trong tổ
chức ASEAN, đặc biệt trong quan hệ giữa Nga và ASEAN không có nhữngvấn đề rắc rối về lịch sử, lợi ích Mở rộng hợp tác với Nga là các nớcASEAN mở rộng thêm khả năng thu đợc những nguồn lợi quốc gia dân tộclớn hơn
Ba là, đối với nhiều nớc ASEAN, vấn đề an ninh năng lợng đợc coi
là cấp thiết, đặc biệt khi giá dầu lửa trên thế giới đang tăng mạnh Nga lại
có kinh nghiệm hợp tác thành công trong ngành công nghiệp dầu khí, nănglợng điện với Việt Nam
Bốn là, nhiệm vụ chủ yếu của Nga hiện nay là đa dạng hoá các mối
quan hệ, trớc hết là nhờ các sản phẩm khoa học, các sản phẩm chế tạo máy,dịch vụ viễn thông, hoạt động vũ trụ Định hớng hợp tác này đã nhận đợc
sự ủng hộ của các nớc ASEAN nh Ngài Tổng th ký ASEAN, ông Ong
Keng Iong đã tuyên bố trong Diễn đàn kinh tế thế giới đó là: Nga và khu“
vực châu á - Thái Bình Dơng: hớng tới hợp tác kinh tế chiến lợc và đối thoại văn minh” đợc tổ chức vào tháng 10 năm 2006 tại Matxcơva và “vì lợi ích của cả hai bên cần thay đổi các tiêu chuẩn trao đổi hàng hoá và nhấn mạnh vào năng lợng, chế tạo máy, hợp tác khoa học và du lịch” [66,
tr.90]
Trang 19Tóm lại, cả Liên bang Nga và các nớc ASEAN đều vì lợi ích pháttriển của mình nên rất mong muốn mở rộng quan hệ toàn diện với nhau.
1.1.3 Những hạn chế trong chính sách của Liên bang Nga đối với ASEAN dới thời B.Yeltsin.
Cuộc Chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đãtạo cho thế giới một diện mạo mới Đó là một thế giới đa trung tâm với sứcmạnh vợt trội về mọi mặt của Mỹ Các xung đột về lợi ích kinh tế đã trởthành mâu thuẫn chủ yếu chi phối quan hệ của các nớc, các nhóm nớc vàkhu vực với nhau Bên cạnh đó, những thành tựu của cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ đã làm bộc lộ mạnh mẽ xu thế toàn cầu hoá, mà trớc hết làtoàn cầu hoá về kinh tế Đây là hệ quả của tiến trình hội nhập liên tục củacác chủ thể kinh tế lớn nhỏ với vật dẫn là quá trình chuyên môn hoá vàphân công lao động sâu rộng đến từng khâu nhỏ nhất của hoạt động tái sảnsuất Quá trình này, dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc trongquan hệ kinh tế quốc tế dới tác động đồng thời của các chủ thể: quốc gia,khu vực, các tổ chức kinh tế quốc tế và các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs)
Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang trở thành một xu thế có tính phổbiến chi phối tiến trình phát triển đa quốc gia trên thế giới đó, sự tuỳ thuộclẫn nhau của các trung tâm chính trị - kinh tế truyền thống nh Mỹ, EU,Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, với các nớc và các nhóm nớc ngoại vi trongviệc giải quyết toàn cầu nh: môi trờng sống, nạn đói nghèo và tình trạngthiếu việc làm, các hoạt động khủng bố là một hệ quả mang tính tất yếuhơn là một khả năng có thể xảy ra Bên cạnh đó, trào lu tự do hoá tài chính,thơng mại và đầu t cũng đã nâng tầm ảnh hởng của TNCs đối với mọi sựphát triển của thế giới nói chung cũng nh đối với từng khu vực và quốc gianói riêng
Bối cảnh quốc tế mới đó cũng buộc các quốc gia, các liên minhchính trị, các khu vực liên kết kinh tế phải có những điều chỉnh về đốisách trong quan hệ với các quốc gia, các nhóm nớc và khu vực khác đểcạnh tranh và phát triển Trong bối cảnh đó, ASEAN nổi nên nh một tổchức tơng đối ổn định và có tốc độ tăng trởng kinh tế năng động nhất thếgiới Tại khu vực ĐNA, nổi bật lên hai xu thế chủ đạo, đó là xu thế hoàbình, chuyển từ đối đầu sang đối thoại và xu thế tăng cờng hợp tác, liên kết
về kinh tế Đây là những xu thế thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế
Trang 20mà bất kỳ quốc gia nào trong khu vực cũng mong muốn tranh thủ và trênthực tế nhiều nớc nh Singapore, Thái Lan, Việt Nam đã khai thác rất hiệuquả xu thế này Tuy nhiên, quá trình thực thi chính sách đối với ASEANcủa chính quyền B.Yeltsin vẫn còn nhiều hạn chế mà Nga cha khai thác vàtận dụng đợc Biểu hiện rõ nét nhất là những hạn chế còn tồn tại trong quan
hệ kinh tế, an ninh - chính trị của Nga với khu vực
Trong lĩnh vực kinh tế, rõ ràng là Nga tuy đã có ý thức khai thác quátrình hôi nhập kinh tế đang diễn ra sôi nổi tại khu vực phát triển năng động
và hiệu quả bậc nhất thế giới này, song hiệu quả cha đợc bao nhiêu Nganhận thức đợc tầm quan trọng của ASEAN với t cách là một thị trờng tiêuthụ rộng lớn, giàu tiềm năng, song trên thực tế hàng hoá Nga cha thể lenchân vào thị trờng này mà thờng chịu thất bại trớc sự cạnh tranh quyết liệtcủa các đối thủ đến từ Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, ấn Độ đó là do khảnăng cạnh tranh của hàng hoá Nga rất kém, chẳng hạn nh trong lĩnh vựchàng hoá công nghệ cao, hàng hoá Nga chỉ chiếm 1% trong khi chỉ số tơngứng của Mỹ và Nhật bản là 36% và 30%
Trong lĩnh vực an ninh chính trị, mặc dù xu thế hoà bình, ổn định,
-u tiên đối thoại đang nổi trội ở kh-u vực ĐNA mà minh chứng rõ nét nhất là
sự hoà dịu trong quan hệ giữa các nớc lớn và xu hớng giải quyết các vấn đềtrong khu vực nh vấn đề Cămpuchia, vấn đề biển Đông, thông qua thơnglợng, nhng Liên bang Nga vẫn cha tận dụng hiệu quả những xu thế này đểgiải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ với một số nớc trong khu vực
nh vấn đề tranh chấp biên giới với Trung Quốc, bất đồng xung quanh chủquyền đối với quần đảo Curin với Nhật Bản cũng nh giải quyết bất đồnggiữa một số nớc nh vấn đề Cămpuchia, tranh chấp quần đảo Hoàng Sa Tuyquan hệ của Nga với các nớc này đang tiến triển tơng đối tốt, nhng theoquan điểm của một số học giả Nga thì sự kiểm soát của Nga ở Xiberi vàViễn Đông có thể bị đe doạ bởi xung đột với Trung Quốc hay Nhật Bản, hainớc có tranh chấp lãnh thổ với Liên bang Nga
Mặt khác, tại khu vực này đang tồn tại nhiều thách thức đối với anninh của Nga đòi hỏi Nga phải quan tâm giải quyết nếu muốn tạo lập mộtmôi trờng hoà bình, ổn định để tập trung cho công cuộc cải cách kinh tế xãhội và củng cố địa vị của mình trên trờng quốc tế
Có thể nói, những yếu kém nảy sinh trong quá trình thực thi chínhsách đối với ASEAN của chính quyền B.Yeltsin là một bài toán khá hócbúa đối với chính quyền kế tiếp Tìm ra biện pháp hiệu quả để tận dụng
Trang 21những lợi thế của ĐNA phục vụ cho công cuộc phát triển của Liên bangNga là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền V Putin khi tiến hành điềuchỉnh chính sách đối với Hiệp hội các quốc gia ĐNA.
1.2 Nhân tố Quốc tế, khu vực.
Một trong những nhân tố quan trọng mà bất cứ quốc gia nào khihoạch định chính sách đối ngoại của mình cũng đều phải tính đến là bốicảnh quốc tế và khu vực - môi trờng hoạt động của chính sách đó Môi tr-ờng thay đổi cũng đồng nghĩa với việc chính sách đó cần phải có những
điều chỉnh phù hợp để thích nghi với tình hình mới Chính sách đối vớiASEAN của đơng kim Tổng thông Nga V.Putin cũng không phải là ngoại
lệ Khi V.Putin lên cầm quyền cũng là lúc trên trờng quốc tế và khu vựcCA- TBD trong đó có ĐNA đang diễn ra những biến đổi to lớn
1.2.1 Bối cảnh quốc tế
Bối cảnh quốc tế là nhân tố mang tính “khách quan” phức tạp và nóthờng xuyên biến đổi khó lờng Để hoạch định chính sách đối ngoại với bất
cứ một nớc hoặc khu vực nào đó thì phải xem xét cẩn trọng bối cảnh quốc
tế Đây là một trong những nhân tố quan trọng mà những ngời vạch chiếnlợc của nớc lớn đặc biệt quan tâm, nó liên quan đến mục tiêu chiến lợc đốingoại của họ và là những nhân tố tác động trực tiếp đến địa vị nớc lớn của
họ trên vũ đài thế giới Nớc Nga dới thời Tổng thống V Putin cũng khôngnằm ngoài quỹ đạo chung đó
1.2.1.1 Tình hình kinh tế
Bớc vào những năm cuối thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến biếtbao những biến động: Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổkhiến cho trật tự thế giới hai cực không còn nữa Thế giới chấm dứt thời kỳChiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai hệ thống, hai phe đối lập,
đứng đầu là Liên Xô và Mỹ, chuyển từ thế giới hai cực sang thế giới đa cựcvới một siêu cờng là Mỹ Về cơ bản, thế giới chuyển từ thời kỳ đối đầusang hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình Cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật đang tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chínhtrị thế giới, thúc đẩy xu hớng liên kết, hợp tác kinh tế Các quốc gia dù lớnhay nhỏ đều phải tham gia vào cuộc chạy đua kinh tế, bởi vì yếu tố kinh tế
đang trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp và là thách thức lớnnhất đối với an ninh của mỗi quốc gia.Tuy nhiên, tơng quan lực lợng thời
kỳ hậu Xô Viết cũng đang có nhiều thay đổi, đó là sức mạnh của nền kinh
tế Mỹ trong tơng quan so sánh với EU và Nhật Bản ngày càng giảm sút, sự
Trang 22phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao và ổn định của nền kinh tế Trung Quốc.Trung Quốc là một thị trờng lớn với khoảng 1,3 tỷ dân, là nớc trong hơn 20năm qua có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới, trong vài ba thập kỷtới sẽ trở thành một trong những cờng quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới.Thậm chí nhiều nhà nghiên cứu kinh tế còn dự đoán rằng thế kỷ XXI sẽ làthế kỷ của Trung Quốc.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự phát triển mạnh mẽ của EU về chiềurộng lẫn chiều sâu đã khiến cho Mỹ lúng túng và lo ngại Mỹ sẽ không thểcho phép mình tự quyết định mọi vấn đề quốc tế đợc nữa Cùng với việcchấm dứt Chiến tranh lạnh, thế giới đang chuyển mạnh từ chạy đua quyếtliệt về quân sự, tranh giành những khoảng trống quyền lực sang cạnh tranh
về kinh tế, chiếm lĩnh các thị trờng Sức mạnh kinh tế ngày càng có vai tròquyết định vị thế của mỗi nớc trên trờng quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá
và khu vực hoá đang phát triển mạnh mẽ hiện nay
Trong những thập kỷ tới, cuộc cạnh tranh để giành dật tài nguyênthiên nhiên, đặc biệt là năng lợng dầu mỏ và tài nguyên chất xám sẽ diễn ragay gắt Các nớc lớn, giàu có ngày càng nắm giữ và chi phối nhiều tổ chứckinh tế, tài chính thế giới và khu vực nh WB, IMF, WTO và từ đó chiphối cục diện chính trị thế giới và khu vực
1.2.1.2 Tình hình an ninh, chính trị
Bớc sang thế kỷ XXI, mặc dù cuộc Chiến tranh lạnh đã chấm dứt,cuộc chạy đua vũ trang đã dịu lại, vũ khí hạt nhân đang đợc cắt giảm, nhngnhân loại đang phải đối đầu với hàng loạt nguy cơ và thách thức mới Chiếntranh giữa các nớc lớn cha xảy ra nhng thế giới vẫn cha có hoà bình thật sự,vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định nh các cuộc xung đột sắc tộc,tôn giáo, nạn khủng bố ở ấn Độ, Pakixtan, Đông Nam á Mâu thuẫnbiên giới, chiến tranh khu vực nh: quan hệ Trung - Mỹ nhiều lúc căngthẳng, có lúc hoà dịu xung quanh vấn đề Đài Loan; quan hệ Nga - Nhật vềquần đảo Curin; thái độ khác nhau của các nớc lớn về vấn đề tranh chấp ởbán đảo Triều Tiên và gần đây là vấn đề hạt nhân ở CHDCND Triều Tiên,vấn đề tranh chấp Biển Đông, vấn đề Cămpuchia Các nớc lớn ngày càng
có nhu cầu phải hợp tác với nhau, song cuộc cạnh tranh để tranh giành lợiích và ảnh hởng cũng hết sức quyết liệt Các quan hệ tay đôi nh Mỹ -Trung, Mỹ - Nga, Nga -Trung , tay ba nh Mỹ - Nhật - Trung, Mỹ - Nhật -Nga [45, tr.36] đan xen nhau, trong đó vừa là quan hệ đồng minh, đối tác,vừa là đối thủ; truyền thống, lâu dài và tạm thời Những mâu thuẫn đó có
Trang 23xu hớng lan rộng về địa lý, đa dạng về nội dung, phức tạp hơn về tính chất
và rất khó dự đoán trên phạm vi toàn cầu
Thêm vào đó, hàng loạt các nguy cơ gây bất ổn nh chủ nghĩa khủng
bố, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa phát xít mới,nạn buôn lậu vũ khí, kể cả những loại vũ khí hiện đại giết ngời hàng loạt,các tổ chức maphia và tội phạm quốc tế đang ngày càng gia tăng trong khuvực và trên thế giới Một trong những nhân tố quan trọng chi phối tới việc
điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga nói riêng và các nớc trên thế giớinói chung là việc xem xét tơng quan lực lợng giữa các nớc lớn, đặc biệt sau
sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, tơng quan lực lợng trên thế giới đợcphân tuyến rõ ràng, một bên là chủ nghĩa xã hội và một bên t bản chủnghĩa Mọi mối quan hệ quốc tế đều bị chi phối bởi trật tự hai cực Xô - Mỹ.Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, trật tự haicực tan rã, cục diện thế giới và cấu trúc quyền lực quốc tế đã có những thay
đổi sâu sắc và đợc sắp xếp lại Thế cân bằng chiến lợc trên phạm vi toàncầu đã thay đổi Chủ nghĩa t bản đứng đầu là Mỹ đã chi phối mạnh mẽ đờisống quan hệ quốc tế So sánh lực lợng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cânbằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nay chuyển sang hớng cólợi cho Mỹ và phơng Tây, bất lợi cho Nga và các lực lợng cách mạng theohớng xã hội chủ nghĩa Trật tự thế giới đang trong quá trình hình thành,không phải chỉ là một cực duy nhất do Mỹ đứng đầu, nhng cũng không hẳn
là đa cực nh là một sự phân bố cân bằng về sức mạnh Vì vậy, nói đến tơngquan lực lợng quốc tế hiện nay là nói đến thực lực của các trung tâm quyềnlực và tơng quan lực lợng giữa các nớc lớn nh Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu,Trung Quốc, Nga, và mối quan hệ giữa các trung tâm này
Gần hai thập niên sau Chiến tranh lạnh, thế giới vẫn bị chi phối bởicác nớc lớn mà nổi lên hàng đầu là vai trò của Mỹ Mỹ vẫn là cờng quốc cótiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật hùng mạnh cha có lực lợngnào có thể đơng đầu với Mỹ Đặc biệt, sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ đã điềuchỉnh chiến lợc toàn cầu của mình, lợi dụng chống khủng bố, tự cho mìnhquyền can thiệp, tấn công bất cứ quốc gia nào bị Mỹ coi là không thânthiện hoặc liên quan đến khủng bố Có thể nói, Mỹ đang mu toan vẽ lại bản
đồ chính trị - kinh tế thế giới, sắp đặt một trật tự thế giới đơn cực do Mỹlãnh đạo Đứng trớc nguy cơ đó, các nớc lớn khác cũng đang tự điều chỉnhchiến lợc vừa đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc vừa góp phần đấu tranh
Trang 24kiềm chế bớt quyền lộng hành của Mỹ Phản ứng trên vừa xuất phát từ việc
vị thế quốc gia mình bị xem nhẹ, đồng thời muốn khai thác triệt để tìnhhình đó phục vụ các yêu cầu đối nội và tạo cơ sở để mặc cả Mỹ sau này
Đấu tranh nhng không là tổn hại đến hợp tác Các nớc Nga, Trung Quốc,Nhật Bản đều có chính sách khôn ngoan và sự lựa chọn khôn khéo để bảo
vệ mình Đồng thời, tìm kiếm cơ hội hợp tác với các cờng quốc khác đểngăn cản thế độc tôn, bá chủ thế giới của Mỹ
Là một chủ thể trong quan hệ quốc tế, Nga cũng không thể tránhkhỏi những tác động của tình hình thế giới đang có nhiều biến động Saukhi Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga ra đời với t cách là một quốc gia độclập, là nớc thừa kế địa vị pháp lý của Liên Xô, đợc thừa hởng chủ yếu giatài vĩ đại do Liên Xô để lại Liên bang Nga thừa hởng khoảng 75% tiềm lựckinh tế trong công nghiệp nói riêng và khoảng 70% tiềm lực kinh tế nóichung của Liên Xô [25, tr.37] Ngoài ra còn đợc thừa kế phần lớn tiềmnăng quân sự khổng lồ và hiện đại của Liên Xô Về mặt quốc tế, Liên bangNga đợc thừa kế chiếc ghế Uỷ viên Thờng trực Hội đồng bảo an Liên Hợpquốc và là một cờng quốc hạt nhân trên thế giới
Mặc dù vậy, sự tan rã của Liên Xô với sự ra đời của 15 nớc cộng hoà
độc lập cùng với những khó khăn chồng chất trong những năm cải cách vừaqua đã làm cho sức mạnh của Liên bang Nga giảm sút rõ rệt Do sai lầm,nóng vội trong cải tổ đã dẫn tới tình trạng khủng hoảng trầm trọng, nền sảnxuất bị suy thoái, GDP giảm liên tục, lạm phát cao, mâu thuẫn xã hội sâusắc, cạnh tranh chính trị gay gắt giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hànhpháp mà đỉnh cao là cuộc xung đột giữa Chính phủ và quốc hội cuối năm
1993 Trong lúc cải cách đang làm xáo động nớc Nga thì chính trờng nớcNga lại sôi động do bùng nổ cuộc chiến ở Chesnhia sau hành động thựchiện ý tởng “lập lại trật tự” tại một chủ thể của Liên bang Nga càng làmtăng thêm những khó khăn và gây thiệt hại to lớn cho đất nớc
Bức tranh tổng quát của công cuộc cải tổ kinh tế thị trờng ở Liênbang Nga trong gần một thập kỷ qua là tình trạng suy giảm sản xuất, khủnghoảng trầm trọng kéo dài, lạm phát luôn ở mức độ cao và rất cao, thâm hụtngân sách triền miên, nợ nần trong nớc và nớc ngoài ngày càng gia tăng.Năm 1997, kinh tế của Liên bang Nga mới bắt đầu có mức tăng trởngchừng 0,5% thì đến tháng 8 năm 1998 lại lâm vào cuộc khủng hoảng tàichính cực kỳ nặng nề Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX, Nga nợcác nớc phơng Tây hơn 150 tỷ USD, đồng thời cũng là nớc vay tiền của
Trang 25IMF nhiều nhất (tổng số gần 20 tỷ USD, chiếm 1/5 tổng số nợ cha trả của
tổ chức này) Trong vòng hai năm 1998- 1999, công cuộc cải cách ở Nga
đã vấp phải khó khăn rất lớn bởi tác động của cuộc khủng hoảng tài chínhtới hệ thống ngân hàng Ngày 17/8/1998, khủng hoảng đã đến đỉnh điểmkhi Chính phủ Nga tuyên bố không trả các khoản nợ nớc ngoài trong vòng
90 ngày và nâng hành lang ngoại tệ từ 6,5 lên 9,5 rúp, rồi sau một thời gianngắn đã vọt lên 20 rup 1 USD Nếu nh trớc ngày 17/8/1998, vốn của ngânhàng Nga đợc đánh giá vào khoảng 120 đến 125 tỷ rup, thì đến cuối năm
1998 chỉ còn 30 đến 40 tỷ rup [48, tr.310] Khu vực sản suất chao đảo với
sự suy thoái kéo dài của các ngành công nghiệp, nạn hạn hán cha từng cónăm 1998 làm nông nghiệp mất mùa trầm trọng nhất trong vòng mấy chụcnăm qua và thu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh Theo đánh giá của nhiềuchuyên gia, cuộc khủng hoảng năm 1998 cũng sâu sắc và khó khăn nhnhững thời kỳ khó khăn nhất mà Nga gặp phải vào năm 1992 Năm 1996,tiềm lực kinh tế của Liên bang Nga chỉ còn 40% so với tháng 12/1991, hayGDP của Nga chỉ bằng 8% của Mỹ và mức GDP của Nga theo đầu ngời chỉbằng 10% của Mỹ Nếu tính chung trong giai đoạn 1986 - 1996 thì tỷ trọngkinh tế của Liên bang Nga giảm gần một nửa, từ mức chiếm 2,7% GDP củatoàn thế giới xuống còn 1,8% Bớc sang năm 1999, mặc dù vừa trải quamột cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng, tình hình chính trị không ổn
định, an ninh xấu đi, mâu thuẫn sắc tộc ngày càng gay gắt, nội chiến ởChesnhia, nhng nền kinh tế của Liên bang Nga đã có những dấu hiệu hồiphục Năm 1999 GDP tăng 3,2%, sản xuất công nghiệp tăng 9,9%; năm
2000 GDP tăng 7,6%, sản xuất công nghiệp tăng 10%; còn năm 2001, mặc
dù chịu sự tác động của những khó khăn chung của nền kinh tế thế giới,
đặc biệt là sau sự kiện 11/9 ở nớc Mỹ ảnh hởng nặng nề đến thơng mại và
đầu t quốc tế mức tăng trởng kinh tế vẫn đạt 5,6%, vợt mức dự kiến 4%,cán cân thơng mại và chi tiêu ngân sách đều dơng, dự trữ ngoại tệ đếntháng 1/2002 đạt 36,7 tỷ USD
Tuy đã có sự khởi sắc vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ nhng thựctrạng của nớc Nga còn nhiều vấn đề cần giải quyết Cho đến ngày01/11/2001, dân số của Liên bang Nga giảm xuống 144,1 triệu ngời, vớikhoảng 35 triệu ngời sống dới mức nghèo khổ, có 6,2 triệu ngời thất nghiệp,gần 2 triệu trẻ em không đợc đến trờng học Trên lãnh thổ Nga có 10 triệungời nhập c trái phép Theo số liệu của các chuyên gia phơng Tây, có tới
Trang 2675% quan chức Nhà nớc Nga nhận hối lộ, có tới 60% nguồn tài chính củacác doanh nghiệp do các băng nhóm tham nhũng kiểm soát
Đứng trớc những thay đổi sâu sắc của thế giới cũng nh những khókhăn mà Nga phải đối mặt buộc chính quyền mới phải có những điều chỉnhphù hợp để khắc phục khó khăn trong nớc, đồng thời dần lấy lại vị thế củamình trên trờng quốc tế và ở khu vực CA- TBD trong đó có Đông Nam á
1.2.2 Bối cảnh khu vực châu á - Thái Bình Dơng
CA- TBD là khu vực rộng lớn so với các khu vực khác trên thế giới,hơn 1/2 dân số thế giới bao gồm nhiều quốc gia lớn nhỏ với nền văn hoá đadạng lâu đời khác nhau Đây là một trong hai khu vực đóng vai trò quantrọng trong đời sống quốc tế với t cách vừa tham gia vừa chịu tác động sâusắc trớc những biến đổi của thế giới Bớc vào những năm đầu thế kỷ XXI,
đứng trớc sự thay đổi to lớn của môi trờng quốc tế, khu vực CA - TBD cũngchịu tác động mạnh và đang từng bớc vơn lên để khẳng định mình Chính
sự thay đổi của môi trờng khu vực đã khiến cho Tổng thống V.Putin cũng
nh các nhà hoạch định chính sách đối ngoại phải xem xét lại để có nhữngchính sách phù hợp hơn với khu vực CA - TBD nói chung và các nớcASEAN nói riêng
1.2.2.1.Tình hình kinh tế
Từ cuối những năm 90 của thế kỷ trớc, CA - TBD nổi lên là khu vựcphát triển năng động, nơi tập trung các nền kinh tế phát triển nhanh nhấtthế giới Tốc độ phát triển kinh tế của một số nớc luôn đợc duy trì ở mức
độ cao và liên tục trong nhiều thập kỷ Trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầuthập kỷ 90, các nớc NICs và ASEAN đã luôn giữ đợc tỷ lệ tăng trởng từ 6 -8% Đặc biệt, nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế phát triển nhanh nhấtthế giới, với tỷ lệ tăng trởng lên tới 9,5% trong suốt thời kỷ 1978 - 1996.Ngay cả khi các nền kinh tế trong khu vực bị ảnh hởng nặng nề bởi cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á năm 1997 - 1998, kinh tế TrungQuốc tuy có giảm tốc độ tăng trởng chút ít nhng vẫn giữ đợc mức tăng tr-ởng ngoạn mục là 7,1% năm 1999 và 8% năm 2000
Cơn bão táp tài chính tiền tệ năm 1997 đã khiến tốc tộ tăng trởngkinh tế của các quốc gia Đông á bị chậm lại, tuy nhiên tiềm năng pháttriển kinh tế của khu vực còn rất lớn và khu vực CA - TBD vẫn là một trongnhững trung tâm kinh tế thế giới bởi những nhân tố cơ bản quyết định sựnăng động của kinh tế vẫn tồn tại Theo nhiều nhà kinh tế hàng đầu trên thếgiới dự đoán thì các nền kinh tế bị khủng hoảng ở khu vực sẽ tiếp tục phát
Trang 27triển với tốc độ tơng đối thấp hơn trớc, song vẫn cao hơn so với các khu vựckhác, sau khi thực hiện những cải cách và điều chỉnh kinh tế, tài chính cầnthiết Tiền đề lâu dài và vững chắc cho sự phát triển kinh tế năng động củacác nền kinh tế ở khu vực bao gồm :
Thứ nhất, các Chính phủ đặt u tiên cao nhất cho mục tiêu phát triển
kinh tế và thi hành các chính sách kinh tế đối nội, đối ngoại tích cực nhằmthúc đẩy kinh tế phát triển
Thứ hai, CA - TBD là khu vực có lực lợng lao động có trình độ học
vấn, giá nhân công lại tơng đối rẻ so với các khu vực khác Đây cũng là nơi
có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, là cơ sở quan trọngcho sự phát triển kinh tế năng động Vì vậy, đây vẫn là địa chỉ đầu t hấpdẫn và đáng tin cậy
Thứ ba, các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kinh tế, tài chính
ngày càng có vai trò tích cực hơn, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nớc vàgóp phần vào sự phát triển kinh tế năng động trong khu vực APEC tuy chỉdừng lại ở tính chất diễn đàn nhng cơ chế hợp tác của nó vẫn đảm bảo tínhchặt chẽ và khả năng thực hiện cao đối với các cam kết đã đề ra nhằm thúc
đẩy tiến trình tự do hoá thơng mại Cơ chế ASEAN + 3 (ASEAN + NhậtBản + Trung Quốc + Hàn Quốc) gần đây đã có những tiến triển quan trọng
và đi vào giai đoạn hợp tác mang tính thực chất trên các lĩnh vực tiền tệ vàmậu dịch nhằm phát huy tích cực về mặt này Ngoài ra các khối mậu dịch
tự do nh AFTA, ACFTA có thể tạo ra động lực mới cho sự tăng trởng kinh
tế của CA -TBD trong thời gian tới Trong thời gian gần đây, các nớc trongkhu vực đã đa ra sáng kiến về quỹ tiền tệ châu á, nó thể hiện nổ lực củacác quốc gia châu á trong việc xây dựng những cơ chế hợp tác mới nhằmduy trì ổn định tài chính và tiền tệ, một trong những điều kiện thiết yếu chophát triển kinh tế
Sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997, nền kinh tế củacác nớc châu á đã đợc phục hồi tơng đối nhanh chóng và vững chắc, tuymức độ phục hồi có khác nhau giữa khu vực Đông Bắc á và ĐNA Điềunày chứng tỏ rõ cơ sở vững chắc và tiềm năng phát triển của khu vực là rấtlớn Cho dù tốc độ tăng trởng trung bình đã bị chậm lại so với trớc, khu vực
CA - TBD vẫn là khu vực phát triển năng động nhất thế giới Tiềm năngkinh tế của khu vực CA - TBD chính là một trong những nhân tố quantrọng trong con mắt chiến lợc của các nớc lớn hiện nay
Trang 28Tuy nhiên, hiện CA - TBD đang phải đối mặt với những thách thức
to lớn: đó là tình trạng trì trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản; sự suy giảmkinh tế Mỹ, nhất là từ sau sự kiện 11/9; những yếu kém nội tại của các nềnkinh tế Đông á, ĐNA sẽ tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tếcủa các nớc trong khu vực Bên cạnh đó, bản thân những nền kinh tế khuvực cũng có những yếu kém nội tại mà nếu không đợc kiềm chế và kiểmsoát sẽ ảnh hởng đến triển vọng phát triển kinh tế Cùng với nó là sự bất ổn
định về chính trị và xã hội của một số nớc, đặc biệt ở khu vực ĐNA nhPhilippin, Inđônêxia, Thái Lan, cũng có khả năng đe doạ tiềm năng pháttriển kinh tế khu vực Bên cạnh đó, một thách thức to lớn khác cũng có khảnăng đe doạ tiềm năng phát triển khu vực về lâu dài đợc bắt nguồn từ chínhtình trạng phát triển không đồng đều của châu lục Sự phân hoá giàu nghèo
ở đây diễn ra với khoảng cách khá lớn Nếu châu Âu là lục địa giàu chia
đều, châu Phi là nghèo chia đều thì châu á và châu Mỹ Latinh là hai lục
địa có sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất
Những thuận lợi và khó khăn trên đã đem đến những cơ hội cũng nhnhững thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế của Liên bang Nga Mộtmặt, Nga có thể tận dụng sự phát triển năng động của các nền kinh tế Đông
á để khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu vùng của mình thông qua tăngcờng trao đổi thơng mại và thu hút vốn đầu t vào Viễn Đông và Xibêri, mặtkhác nền kinh tế Nga cũng có thể bị tổn thơng trớc những biến động xấu vềkinh tế ở khu vực này Vì vậy, lợi ích cơ bản của Nga phải là tiếp tục quátrình hội nhập sâu hơn vào không gian kinh tế CA - TBD nhằm vừa khaithác các yếu tố thuận lợi vừa giảm thiểu các rủi ro và khó khăn
1.2.2.2 Tình hình an ninh, chính trị
Sự sụp đổ của Liên Xô và cùng với nó là sự kết thúc cuộc Chiếntranh lạnh đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong cục diện an ninh khuvực CA - TBD Thế đối đầu hai cực giữa hai siêu cờng Xô - Mỹ từ nhữngnăm 70 của thế kỷ XX ở CA - TBD không còn nữa Thay vào đó là mộtmôi trờng chiến lợc mới theo hớng hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tạihoà bình Tuy nhiên, môi trờng an ninh khu vực vẫn tiềm ẩn những tháchthức to lớn Quan hệ giữa các nớc lớn cha ổn định Bên cạnh những vấn đề
an ninh truyền thống nh tranh chấp lãnh thổ, những di sản của Chiến tranhlạnh vẫn còn tồn tại ở bán đảo Triều Tiên và vấn đề Đài Loan, các nớctrong khu vực lại đứng trớc một loạt những vấn đề an ninh phi truyền thống
nh vấn đề môi trờng, nạn khủng bố, cớp biển, buôn bán vũ khí và tội phạm
Trang 29xuyên quốc gia trong khi đó, ở khu vực vẫn cha có một cơ chế hợp tác anninh toàn khu vực, có khả năng giải quyết các mâu thuẫn và các vấn đề anninh đa dạng của khu vực.
Bớc vào những năm đầu thế kỷ XXI, ngời ta chứng kiến những thay
đổi lớn trong môi trờng an ninh - chính trị khu vực
Điều đầu tiên dễ nhận thấy là cục diện nhiều siêu cờng ngày càngthể hiện rõ nét hơn ở CA - TBD Các trung tâm quyền lực có thể nhận diện
đợc là Mỹ, Trung Quốc, Nhật và một chừng mực nào đó là Nga vàASEAN
Mỹ tiếp tục duy trì vai trò là siêu cờng duy nhất có sức mạnh áp đảotrong cán cân quyền lực khu vực với u thế nổi trội về kinh tế, chính trị,quân sự và đặc biệt là sự hiện diện của hơn 100.000 lính Mỹ đồn trú tại
đây Kể từ khi G.W.Bush lên nhận chức Tổng thống Mỹ (01/2001), Mỹ đã
có những điều chỉnh lớn về chính sách đối với CA - TBD, tỏ ra thận trọng,
cứng rắn và quyết đoán hơn trong việc thực hiện mục tiêu “lãnh đạo
CA-TBD”, thể hiện trong việc đặt u tiên vào vấn đề an ninh quốc phòng, xúc
tiến mạnh quá trình triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trờng(TMD) ở CA- TBD, thắt chặt các quan hệ liên minh sẵn có với Nhật Bản,Hàn Quốc, Ôxtrâylia và các thoả thuận hợp tác quân sự với một số nớcthành viên ASEAN Đồng thời có thái độ cứng rắn hơn đối với các đối thủ
Trung Quốc ngày càng chứng tỏ sức mạnh của mình với t cách làmột cờng quốc đang trỗi dậy ở khu vực Đợc dự đoán là có thể trở thànhnền kinh tế thứ hai trên thế giới vào đầu thế kỷ này, sự lớn mạnh về quân
sự (trình độ hiện đại hoá quân sự, tiềm lực hạt nhân ), sức thu hút của mộtthị trờng khổng lồ và một chính sách ngoại giao linh hoạt đã và đang lànhững nhân tố thuận lợi củng cố vị trí Trung Quốc trong so sánh lực lợngvới các nớc lớn ở khu vực Với ảnh hởng ngày càng tăng của Trung Quốc khuvực làm cho các nớc lớn khác nh Mỹ, Nhật Bản, Nga và ấn Độ lo ngại Theo
đánh giá của Mỹ, có khả năng đe doạ vai trò lãnh đạo của Mỹ trong 15 - 20năm tới Hơn nữa do Trung Quốc liên quan mật thiết đến hầu hết các tháchthức an ninh ở khu vực nh Đài Loan, các tranh chấp ở biển Đông, vấn đềTriều Tiên nên cách thức mà Trung Quốc giải quyết các vấn đề này nh thếnào có tác động vô cùng to lớn đến cục diện an ninh ở khu vực
Nhật Bản tuy đang lâm vào khủng hoảng cơ cấu trầm trọng và sựphục hồi kinh tế đòi hỏi nhiều thời gian song vẫn đợc tính đến nh một cờngquốc khu vực Những năm gần đây, Nhật đã có những điều chỉnh chiến lợc
Trang 30tích cực, tỏ ra độc lập hơn với Mỹ và tìm cách nâng cao địa vị của mình tạikhu vực, thể hiện qua sáng kiến thành lập Quỹ tiền tệ châu á, thành lập BộQuốc phòng, đa quân tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của LiênHợp Quốc, tham gia cuộc chiến của Mỹ ở Apghanixtan Trong tơng laikhông xa, Nhật Bản tiếp tục là một cờng quốc có vị trí quan trọng trongkhu vực.
Khu vực Đông Nam á, với tổ chức ASEAN đợc đánh giá là một tổchức hợp tác khu vực thành công nhất ở CA - TBD và trở thành một diễnviên ngày càng đợc biết đến trên sân khấu khu vực và quốc tế ASEAN đãtạo dựng đợc các cơ chế đối thoại chính thức và không chính thức, song ph-
ơng và đa dạng, từ mức độ thấp đến mức độ cao với sự tham gia đông đảocủa các nớc trong khu vực CA - TBD và trên thế giới - những cơ chế đã và
đang góp phần duy trì, củng cố an ninh quốc gia và hoà bình khu vực.ASEAN đã trở thành đối tác của tất cả các nớc lớn về mặt kinh tế, đóng vaitrò chủ đạo trong ARF và có vai trò trong APEC, ASEM Mặc dù cuộckhủng hoảng tiền tệ năm 1997 - 1998 làm cho địa vị của ASEAN giảm sútnghiêm trọng nhng về cơ bản, ASEAN vẫn duy trì đợc nguyên tắc hoạt
động, định hớng phát triển cũng nh sự gắn kết và vai trò hạt nhân trong cácthể chế và diễn đàn do ASEAN lập ra Vì thế ASEAN tiếp tục giữ vữngchiến lợc một cực của CA - TBD, phát huy đợc vai trò đại diện cho nớc tầmnhỏ và trung - một lực lợng khó bỏ qua ở khu vực
Trong quan hệ giữa các nớc lớn cũng có sự thay đổi, do những thay
đổi của môi trờng quốc tế và khu vực cùng với những điều chỉnh chiến lợctơng ứng của các nớc lớn trớc tình hình mới Bớc vào những năm đầu củathế kỷ XXI, quan hệ giữa các nớc lớn ở CA - TBD đã chuyển từ đối khángsang quan hệ đối tác Điều này thể hiện khá rõ trong việc cải thiện đáng kểquan hệ giữa các nớc lớn Các nớc lớn đều tăng cờng, củng cố các quan hệchiến lợc cũ, đồng thời thiết lập các quan hệ đối tác chiến lợc mới Tuynhiên, bên cạnh mặt hợp tác thì quan hệ giữa các nớc lớn vẫn ẩn chứa cảmặt cạnh tranh và kiềm chế
Ngoài ra, trong quan hệ giữa các nớc lớn trong khu vực hiện nay ẩnchứa cả yếu tố cân bằng quyền lực lẫn hoà hợp quyền lực Cân bằng quyềnlực giữa các nớc lớn biểu hiện thông qua việc sử dụng mối quan hệ với cácnớc khác nhằm tăng thế mặc cả trong quan hệ và đặc biệt là nhằm cân bằngvới u thế sức mạnh vợt trội của Mỹ Còn yếu tố hoà hợp quyền lực hay sựnhất trí và hợp tác giữa các nớc lớn trong các vấn đề khu vực đợc minh
Trang 31chứng rõ nét qua việc hợp tác giữa Mỹ - Trung - Nhật - Nga trong việc giảiquyết vấn đề bán đảo Triều Tiên.
Tuy nhiên, tại khu vực này hiện đang nổi lên không ít thách thức đedoạ đến sự ổn định của CA - TBD
Mối nguy cơ lớn nhất dẫn đến sự bất ổn định tiềm tàng của khu vựcchính là tính không chắc chắn trong quan hệ giữa các nớc lớn do: sự thay
đổi trong tơng quan sức mạnh giữa các nớc, thể hiện trong u thế vợt trội và
xu hớng bá quyền của Mỹ với t cách là siêu cờng duy nhất còn lại, sự trỗidậy mạnh mẽ của Trung Quốc ; sự nghi kỵ lịch sử sâu sắc giữa TrungQuốc - Nhật Bản, Nga - Trung Quốc; sự tồn tại của nhiều tranh chấp lãnhthổ cha đợc giải quyết (tranh chấp Nga - Nhật xung quanh quần đảo Curin,tranh chấp quần đảo Điếu Ng giữa Trung Quốc và Nhật Bản ); sự thiếuvắng một cơ chế hợp tác đa phơng toàn khu vực tơng tự nh Tổ chức Anninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), do lợi ích của các nớc lớn đan xen, songtrùng và mâu thuẫn trên một số lĩnh vực khác nên các nớc có xu hớng tậphợp lực lợng trên từng vấn đề Điều này càng làm cho tính chất quan hệgiữa các nớc lớn trở nên phức tạp và không ổn định, mâu thuẫn chiến lợctrong quan hệ Mỹ - Trung, Mỹ - Nga Hầu hết các học giả đều đồng ýrằng ổn định ở CA - TBD phụ thuộc chủ yếu vào triển vọng xuất hiện mộtmột sự hoà hợp có tính tổ chức hơn giữa các nớc lớn trong khu vực, song rõràng điều đó còn rất xa vời
Mặt khác, các “điểm nóng” tiềm tàng nh bán đảo Triều Tiên, eo biển
Đài Loan, biển Đông bất cứ lúc nào cũng có thể bùng nổ thành xung đột,
đe doạ đến hoà bình, ổn định ở CA - TBD Đặc biệt, trong những năm đầuthiên niên kỷ, bán đảo Triều Tiên lại nóng lên với việc nhiều lần CHDCNDTriều Tiên tuyên bố rút khỏi hiệp ớc không phổ biến hạt nhân và khởi độnglại các lò phản ứng hạt nhân Cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảoTriều Tiên cùng lời đe doạ sử dụng giải pháp quân sự của Mỹ đã đặt cả khuvực trớc hiểm hoạ chiến tranh thực sự
Bên cạnh đó, CA- TBD còn phải đối mặt với một loạt những bất ổntiềm tàng khác nh tranh chấp giữa các nớc về lãnh thổ trên biển và đất liền,vấn đề phổ biến vũ khí giết ngời hàng loạt, vấn đề xung đột sắc tộc, tôngiáo trong nội bộ một số quốc gia những nguy cơ an ninh phi truyềnthống đang ngày càng trở nên gay gắt do hậu quả của quá trình phát triểnkinh tế Đó là các vấn đề ly khai, vấn đề tăng cờng vũ trang trong khu vực
và các vấn đề an ninh phi quân sự khác nh môi trờng, cạnh tranh kinh tế,
Trang 32nạn di c vợt biên trái phép… Tuy nhiên, cho đến nay ch đặc biệt là chủ nghĩa khủng bố Những tháchthức ngày càng trở nên cấp bách hơn sau vụ tấn công khủng bố vào Trungtâm thơng mại thế giới và Lầu Năm Góc ở Mỹ và ngày 11/9/2001.
Trong khi đó, tại CA - TBD vẫn thiếu vắng một cơ chế hợp tác anninh hữu hiệu Kiến trúc an ninh hiện có ở khu vực tồn tại ở hai hình thứcsong phơng và đa phơng Trong những năm gần đây, ngời ta chứng kiến sự
nở rộ của chủ nghĩa đa phơng ở CA - TBD với sự ra đời của các cơ chế hợptác đa phơng ở cả cấp độ chính thức và không chính thức nh ARF, hội đàmbốn bên ở bán đảo Triều Tiên, đối thoại hợp tác Đông Bắc á và đối thoại
an ninh Mỹ - Trung - Nhật đã chứng tỏ bớc chuyển biến tích cực trongnhận thức của giới lãnh đạo các nớc trong khu vực, đã bớc đầu coi trọng vaitrò của hợp tác đa phơng trong việc đảm bảo an ninh khu vực Tuy nhiên,khó có thể nói rằng kiến trúc an ninh CA - TBD là ổn định và có khả năng
đối phó đợc với những vấn đề an ninh khu vực bởi những thách thức nh:các nghi kỵ lịch sử để lại, vai trò hạn chế của ARF; xu hớng tăng cờng hợptác an ninh song phơngcó thể có những tác động bất lợi đối với an ninh,
đặc biệt môi trờng an ninh còn cha rõ ràng nh hiện nay [23, tr.53]
Có thể nói, tình hình CA - TBD trong những năm đầu thiên niên kỷmới đã có những biến đổi khá phức tạp, song vẫn tiếp tục theo hai chiều h-ớng chủ đạo hoà bình, hợp tác bên cạnh xung đột, nguy cơ tiềm tàng.Những thay đổi này đem lại cho Nga nhiều cơ hội và thách thức lớn Mộtmặt, Nga có thể khai thác những yếu tố thuận lợi để thúc đẩy quá trình pháttriển của mình, tìm kiếm một vị thế lớn hơn ở khu vực, mặt khác, Nga cũngphải đối mặt với nhiều vấn đề có thể tác động xấu đến an ninh và sự pháttriển của Nga trong hiện tại và tơng lai Chính vì vậy, đòi hỏi đơng kimTổng thống V.Putin và những nhà hoạch định chính sách đối ngoại củaNga phải nắm bắt nhanh nhạy, kịp thời để đa ra những chính sách phù hợp,
có lợi cho sự phát triển của nớc Nga trong thế kỷ XXI
Tiểu kết chơng 1
Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX là thập niên chứa đầy nhữngbiến động nhanh chóng, dữ dội và phức tạp của lịch sử nớc Nga Sau khiLiên Xô sụp đổ vào cuối năm 1991, Liên bang Nga đợc cộng đồng quốc tếcông nhận là nớc thừa kế hợp pháp những quyền lợi và nghĩa vụ của LiênXô trớc đây trên trờng quốc tế Tuy nhiên, ngay sau khi Liên Xô sụp đổ, d-
ới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan, nhân tố trong nớc vàquốc tế, Liên bang Nga đã lựa chọn chính sách đối ngoại hớng về phơng
Trang 33Tây Theo đó, hớng trọng tâm u tiên của các hoạt động ngoại giao của Nga
đặt vào việc xây dựng và tăng cờng mối quan hệ với Mỹ và các nớc Tây
Âu Do đó, Liên bang Nga cha dành một sự đầu t thoả đáng cho việc xác
định một chính sách cụ thể, nhất quán đối với các quan hệ ở CA - TBD nóichung và các nớc ASEAN nói riêng Với mong muốn đa nớc Nga sớmthoát khỏi cuộc khủng hoảng chính trị - kinh tế - xã hội sâu sắc và toàndiện, ban lãnh đạo chính trị Nga đã chủ trơng đẩy mạnh cải cách kinh tế,chính trị theo mô thức của phơng Tây với hi vọng tìm kiếm đợc sự giúp đỡ
về tài chính, kỹ thuật - công nghệ hiện đại, phơng pháp quản lý tiên tiến vàtừng bớc hội nhập vào câu lạc bộ các nớc công nghiệp phát triển Thế nhngbất chấp mọi nổ lực trong cải cách, nền kinh tế Nga vẫn hết sức u ám, ảm
đạm Chính sách đối ngoại “ngả về phơng Tây” tỏ ra không thích hợp với
Liên bang Nga, một quốc gia Âu - á với nhiều nét khác biệt về kinh tế,chính trị, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá Chính điều đó đòi hỏi nớcNga dới thời Tổng thống B Yetlsin phải xem xét lại một cách nghiêm túc
định hớng đối ngoại của mình Trên con đờng xây dựng một chính sách đốingoại khả thi bảo vệ đợc những lợi ích chiến lợc và nâng cao vị trí quốc tế,nớc Nga buộc phải quay về với bản sắc “lỡng thể” Âu - á của mình và coi
đây là một trong những tiêu chí xuất phát điểm căn bản để hoạch địnhchính sách đối ngoại hớng về CA - TBD trong đó có ASEAN của Nga Mặc
dù B.Yetlsin và các cộng sự của ông đã nổ lực hết mình để vực dậy hình
ảnh một nớc Nga hùng mạnh trên trờng quốc tế bằng mọi biện pháp, nhngkết quả mang lại cũng không mấy khả quan, nớc Nga dần mất đi vai trò, vịthế của mình trên thế giới Chỉ từ khi quyền điều hành nớc Nga đợc traovào tay Tổng thống V Putin thì sự khởi sắc mới bắt đầu xuất hiện V Putinlên nắm quyền đúng vào thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ mới, cũng làthời điểm bắt đầu mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử nớc Nga Nớc Ngatrong đầu thế kỷ XXI, dới sự lãnh đạo của vị Tổng thống trẻ - V Putin, đãkhởi sắc, suy thoái kinh tế chấm dứt, nền kinh tế bắt đầu có sự tăng trởng,các xu hớng ly khai, xung đột ở Chesnhia đã đợc dẹp yên, chính trị trở lại
ổn định, quan hệ đối ngoại cũng nh vị thế của Liên bang Nga trên trờngquốc tế đã phần nào đợc cải thiện so với thời kỳ của Tổng thống B Yetlsin.Trong giai đoạn tới nớc Nga vẫn tiếp tục chiến lợc đối ngoại của V Putin
là duy trì lợi ích quốc gia nhằm chấn hng kinh tế, cải thiện đời sống nhândân, khôi phục sức mạnh của đất nớc trên trờng quốc tế, thúc đẩy xây dựngmột trật tự quốc tế đa cực - dân chủ Với một nớc Nga hùng cờng, Nga sẽ
Trang 34có vai trò ngày càng tăng trong việc xây dựng một CA - TBD trong đó cóASEAN hoà bình, ổn định và phát triển Tuy nhiên, con đờng phía trớc củanớc Nga vẫn còn rất nhiều trở ngại, với dáng vẻ lạnh lùng đầy bí hiểm vàviệc thực hiện những nớc cờ rất bất ngờ trong quá trình lãnh đạo nớc Ngaliệu Tổng thống V Putin có làm xoay chuyển đợc tình thế của nớc Ngatrong bối cảnh quốc tế và khu vực CA - TBD có nhiều thay đổi Đó là một
trọng trách khá nặng nề mà vị Tổng thống đợc mệnh danh là “chính khách
số một” của Liên bang Nga, đợc nhân dân Nga mong đợi - V Putin phải
gánh vác trong những năm đầu thế kỷ XXI
Chơng 2 Chính sách của Liên bang Nga đối với Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam á qua hai nhiệm kỳ
Tổng thống V Putin ( 2000 - 2008) 2.1 Khái quát chung về chính sách của Liên bang Nga đối với ASEAN
Về đối thoại giữa các nền văn minh, Nga quan niệm hiểm hoạ chia
rẽ thế giới theo các nền văn minh đang trở thành mối đe doạ chính trongthời đại ngày nay Giới nghiên cứu Nga đã đa ra hai kịch bản phát triển đối
ngoại giữa các nền văn minh trên thế giới Kịch bản thứ nhất liên quan tới
quá trình liên kết các bên hơn nữa sẽ vẫn diễn ra cùng với việc duy trì đặcthù văn hoá và quá trình này diễn ra phức tạp ở một số nớc và khu vực
riêng biệt Kịch bản thứ hai xem xét về việc có sự thoả hiệp và các giá trị
văn hoá của các nền văn minh khác nhau sẽ cấu thành nên ý chí của nềnvăn minh toàn cầu hoá Nga khẳng định trong bất kỳ trờng hợp nào “vănminh phơng Đông vẫn là một bộ phận quan trọng của nhân loại và đóng vị
Trang 35trí tích cực trong việc hình thành nên khuynh hớng phát triển chung củanhân loại”.
Kể từ khi Tổng thống V Putin lên nắm quyền, chính sách ngoại giao
đối với CA - TBD nói chung và ASEAN nói riêng trở nên dồn dập hơn.Quan hệ với các nớc CA - TBD có xu thế ngày càng đa dạng hoá, nhngtrọng điểm là tập trung vào an ninh chính trị địa duyên Về cơ bản, chính
quyền V Putin vẫn tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại Cân bằng“
Đông - Tây” nh thời B Yeltsin Nhng sau hàng loạt thất bại do chính sách
đối ngoại phiến diện, chứa đầy ảo tởng về thế giới phơng Tây, ban lãnh đạoNga đã xác định phải xây dựng một chính sách đối ngoại độc lập, năng
động hơn, đảm bảo tốt hơn lợi ích quốc gia Nga trên cơ sở cân bằng cácmối quan hệ với cả phơng Tây, phơng Đông và phơng Nam, không quánghiêng hoặc xem nhẹ hớng nào Tất cả những động thái của Mỹ và sự mởrộng về phía đông của Hiệp ớc Bắc Đại Tây Dơng (NATO) đã khiến cho n-
ớc Nga buộc phải xem xét lại đờng lối đối ngoại của mình Nga định vị lạicác đồng minh chiến lợc, khẳng định lại vị trí và vai trò của Nga, đặc biệtkhông chỉ ở châu Âu mà cả châu á, để từ đó có một chiến lợc ứng xử quốc
tế thực tế hơn, phù hợp hơn với vị thế của một cờng quốc trong bối cảnhquốc tế mới Thực sự đờng lối đối ngoại có sự điều chỉnh đó là, Nga
chuyển từ chiến lợc đối ngoại mà trớc đây thế giới thờng gọi là h “ ớng Tây”
sang chiến lợc đối ngoại cân bằng, độc lập, tự chủ và đa phơng hoá cácquan hệ Tính chất đa phơng trong đờng lối đối ngoại của Nga đã đợc Tổngthống V Putin nhấn mạnh trong Thông điệp Liên bang năm 2002 rằng:
“Chúng ta thiết lập quan hệ bình thờng với tất cả các nớc trên thế giới, tôi
muốn nhấn mạnh rằng - với tất cả các nớc”[66, tr.56] Do đó, CA - TBD
trong đó có ASEAN là một bộ phận trong chiến lợc đối ngoại chung củaLiên bang Nga Có thể nói, Nga quan niệm CA - TBD là động lực pháttriển của nền kinh tế thế giới, một trong những nhân tố thúc đẩy quá trìnhtoàn cầu hoá và vai trò này đang ngày càng gia tăng Những đối tác đangngày càng đóng vai trò quan trọng là Trung Quốc, ấn Độ, các nớc ĐNA vàcác nớc Mỹ Latinh
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, sự hợp tác toàn diện giữa Nga vàASEAN có những bớc phát triển đáng kể Bộ ngoại giao Nga hàng nămtham gia hội nghị cấp bộ trởng đối ngoại hợp tác trong hình thức “10 +10”
và “10 + 1” Thực hiện chế độ đàm thoại cấp cao về các vấn đề chính trị, đa
Trang 36số các cơ quan đối thoại chính của Nga tham gia vào hội đồng hợp tác Nga
- ASEAN
2.1.1 Nhiệm kỳ I của Tổng thống V Putin
Với chiến thắng vang dội của V Putin trong cuộc bầu cử Tổng thống đã
đem lại niềm tin rằng dới sự lãnh đạo của tân Tổng thống Nga, “xứ sở bạch
d-ơng” sẽ tăng cờng sức mạnh đoàn kết, vị thế cờng quốc của nớc Nga sẽ tiếp tục
đợc khẳng định và không ngừng đợc củng cố trong tơng lai
Chính trờng nớc Nga, kể từ sau khi vị tổng thống mới - V Putin lênnắm quyền vào năm 2000, có nhiều biến động theo chiều hớng tích cực N-
ớc Nga từng bớc giành lại sự chủ động, độc lập trên chính trờng thế giới và
đạt đợc những kết quả rõ rệt trên con đờng cải cách kinh tế và ổn địnhchính trị- xã hội ở trong nớc ở trong nớc, Nga đẩy mạnh cải cách kinh tế,củng cố các chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế, bảo vệ lợi ích cácdoanh nghiệp, củng cố cơ cấu nhà nớc theo ngành dọc và từng bớc lập lại
kỷ cơng Liên bang, chấn chỉnh lại trật tự xã hội, đấu tranh chống tham
nhũng và tội phạm Kết quả là Sự hỗn loạn tr“ ớc đây - cả về pháp lý và chính trị đã lùi vào dĩ vãng , tốc độ tăng tr” ởng kinh tế bình quân đạt 6,1%
kể từ năm 2001 tới nay và nếu tính từ giai đoạn 1996 -2006 thì chỉ số này
là 6,7% [65, tr.5].
Về đối ngoại, ngay sau khi lên cầm quyền,Tổng thống V Putin đã
có những điều chỉnh đáng kể chính sách đối ngoại, và sự điều chỉnh nàythể hiện cả trong các văn kiện đối ngoại quan trọng lẫn trong các hành
động, hoạt động đối ngoại của chính quyền Nga Trong các văn kiện, sự
điều chỉnh thể hiện ở chỗ Nga xác định rõ ràng và cụ thể hơn các mục tiêu,nhiệm vụ u tiên đối ngoại cũng nh các nhóm lợi ích quốc gia; khẳng địnhrằng đối với nớc Nga “hậu Xô viết”, các nguy cơ đe dọa an ninh quốc giaNga đến từ bên trong nhiều hơn, nghiêm trọng hơn từ bên ngoài Tronghoạt động thực tiễn, Tổng thống V.Putin tỏ ra năng động, tích cực, thực tế,thực dụng hơn cựu tổng thống B Yelstin Tức là ngoại giao phải phục vụcho lợi ích của đất nớc, của nhân dân Nga, phải cân nhắc kỹ điều gì có lợicho dân, cho nớc mới làm, chứ không phải để lấy đợc cái danh, cái tiếng
Ông viết: Chính sách ngoại giao của chúng ta phải dựa trên tính thực“
dụng, đảm bảo hiệu quả kinh tế và nên dành u tiên cho các mục tiêu quốc gia” Đồng thời V Putin nói rõ: “ Đối với các dự án quốc tế nào đó, cho dù rất kêu, rất hay, nhng nếu không có lợi cho công dân Nga thì chúng ta cũng sẽ không tham gia” [86, tr.34].
Trang 37Sau Chiến tranh lạnh kết thúc, khu vực ĐNA ngày càng nổi lên nhmột điểm sáng trên bản đồ thế giới về tốc độ phát triển kinh tế, về sự ổn
định, hoà bình và thống nhất trong tổ chức ASEAN Chính vì vậy, vị tríchiến lợc của ĐNA đợc nâng cao trong tầm nhìn chiến lợc của các nớc lớn,trong đó có Liên bang Nga
Tuy nhiên, so với nhiều nớc khác, quan hệ giữa Liên bang Nga vớiASEAN đợc bắt đầu khá muộn và trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăngtrầm Đến thời B Yeltsin nắm quyền, chính sách đối với khu vực ĐNA mới
đợc cải thiện phần nào Sở dĩ nh vậy là vì, sau khi Liên Xô sụp đổ, các nớccộng hoà tách ra độc lập khiến cho vị trí địa lý của Nga chuyển dịch sangphía Đông với toàn bộ vùng duyên hải phía Đông của Nga nằm ở CA -TBD, đồng thời Nga mất quyền kiểm soát nhiều hải cảng quan trọng ở biểnBan Tích, biển Đen và cả tuyến đờng bộ ở vùng Trung á Vì vậy, Nga phảităng cờng sử dụng các hải cảng Viễn Đông và các đờng hàng hải phục vụcho mục tiêu kinh tế, thơng mại, quân sự ở TBD Từ đây tuyến đờng biển điqua ĐNA sang ấn Độ Dơng để về các hải cảng Tây Nam và Tây Bắc củaNga trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nh vậy, Nga ngày càng có sự ràngbuộc về lợi ích quân sự, hàng hải, kinh tế, an ninh, chính trị tại ĐNA.Trong hoàn cảnh đó, Nga tất yếu phải chuyển tầm nhìn của mình sang phía
Đông, CA - TBD và khu vực ĐNA với tổ chức ASEAN đã trở thành khuvực có lợi ích chiến lợc đặc biệt quan trọng với Liên bang Nga Song, domột thời gian dài phải đối mặt với những khó khăn khủng hoảng kinh tế, xãhội, cùng với xu hớng ngả về phơng Tây của mình, nên quan hệ Nga -ASEAN mặc dù đã đợc kết nối nhng còn nhiều hạn chế, mối quan hệ vớiASEAN cha đợc Nga chú trọng Cho đến khi V Putin lên làm Tổng thống,với dáng vẻ lạnh lùng đầy bí hiểm và việc thực hiện những nớc cờ rất bấtngờ trong quá trình lãnh đạo nớc Nga ông mới đáp ứng đợc nhu cầu của
Nga, dùng sức mạnh “bàn tay thép” để vực nớc Nga trở dậy bằng các
ch-ơng trình cải cách khoa học và phù hợp, giúp cho địa vị của Nga trên trờngquốc tế đợc khôi phục đáng kể
Có thể nói, Đông Nam á chiếm vị trí khá quan trọng trong chínhsách đối ngoại của Liên bang Nga dới thời Tổng thống V Putin Ngay saukhi vừa tiếp nhận chiếc ghế Tổng thống, Ông đã cùng những cộng sự củamình hoạch định chính sách đối ngoại đợc công bố ngày 28/6/2000, ghi rõ:
“Một đờng lối đối ngoại thành công của nớc Nga phải đợc xây dựng trên
cơ sở tuân thủ sự cân bằng giữa các mục tiêu và khả năng đạt đợc các mục
Trang 38tiêu đó; Liên bang Nga sẽ theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập và xây dựng chính sách đó dựa trên sự nhất quán, có thể thấy trớc và chủ nghĩa thực dụng cùng có lợi Chính sách đó phải hoàn toàn rõ ràng, có lợi ích hợp pháp của các nớc và nhằm tìm kiếm những giải pháp chung”[30,
tr.91] Trong chính sách đối ngoại đó, có chính sách đối với khu vực với tổ chức ASEAN
ĐNA-Ông Karasin nguyên thứ trởng Bộ Ngoại giao Liên bang Nga đã nhấn
mạnh : Đối với Nga, việc phát triển các mối quan hệ đa dạng với ASEAN có“
ý nghĩa to lớn không kém phần quan trọng so với các nớc nh: Trung Quốc, Nhật Bản và ấn Độ” [1, tr.35] Thậm chí, Bộ trởng Bộ Ngoại giao Nga còn
coi ASEAN nh là “một cực” trong số các cực chính ở châu á khi phát biểu
khẳng định: “Cũng giống nh trớc đây, trong một tơng lai gần, các viễn cảnh
của an ninh CA - TBD sẽ phụ thuộc vào cán cân lực lợng giữa những cực chính bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, ASEAN và ấn Độ”
[6, tr.42]
Cũng trong ngày 28/6/2000, Tổng thống V Putin đã công bố chiến
l-ợc đối ngoại của Liên bang Nga, theo đó thứ tự u tiên trong chiến ll-ợc đốingoại của Liên bang Nga nh sau:
- Ưu tiên số một là không gian hậu Xôviết, các nớc SNG;
- Thứ hai là Liên minh châu Âu (EU);
- Thứ ba là các nớc trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng (Mỹ,Trung Quốc, Nhật Bản )
- Thứ t là các nớc ASEAN [ 66, tr.386]
Nh vậy, mặc dù tổ chức ASEAN không đợc Nga đặt lên hàng đầunhng đã chiếm vị trí khá quan trọng trong chính sách đối ngoại của Liênbang Nga thời Tổng thống V Putin Điều đó đợc tiếp tục khẳng định trongchuyến thăm chính thức nớc CHXHCN Việt Nam của Tổng thống Nga
V.Putin, ngày 02/3/2001 ông tuyên bố: Nga coi trọng quan hệ với ASEAN“
và quyết tâm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với ASEAN trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, góp phần củng cố hoà bình, ổn định ở khu vực
ĐNA Nga ủng hộ việc giải quyết các bất đồng và tranh chấp ở khu vực này bằng biện pháp hoà bình”[6, tr.42].
Cũng từ năm 2000, lần đầu tiên trong lịch sử, Nga thiết lập quan hệngoại giao với tất cả các nớc trong khu vực ĐNA, đồng thời Nga trở thành
đối tác có quy chế quan hệ bình đẳng giống nh đối tác chủ chốt khác củahiệp hội: Mỹ, Nhật, Tây Âu đối với ASEAN [33, tr.62]
Trang 39Tuy nhiên, sau sự kiện ngày 11/9/2001, chính sách của Liên bangNga lại có những điều chỉnh rất cơ bản trớc những biến động của tình hìnhthế giới, trớc hết là chính sách đối với Mỹ và phơng Tây (NATO, EU).Liên bang Nga đã hợp tác sâu rộng về an ninh, tình báo, quân sự với Mỹ
nh tham gia vào liên minh quốc tế chống khủng bố do Mỹ đứng đầu, cungcấp hành lang bay, thông tin tình báo cho Mỹ, chấp nhận việc quân đội Mỹhiện diện tại vùng Trung á, Kavkaz Nga trở thành đồng minh tin cậy của
Mỹ trong chiến tranh ápganixtan chống lại lực lợng Taliban và mạng lớikhủng bố Al Qaeda Nga cũng nhanh chóng rút khỏi hai căn cứ quân sựcuối cùng ở các nớc xã hội chủ nghĩa còn lại (quân cảng Cam Ranh ở ViệtNam và trung tâm tình báo điện tử ở Cuba) Chính vì những động thái đốingoại nh trên của chính quyền Putin sau “sự kiện 11/9” mà ngời ta nóinhiều đến “sự điều chỉnh chính sách đối ngoại mang tính bớc ngoặt”, đến
“cuộc cách mạng ngoại giao” hay “chính sách đối ngoại thực dụng” củaTổng thống V Putin
Có thể nói, tính thực dụng là nội dung xuyên suốt chính sách đốingoại của chính quyền V Putin từ năm 2000 tới nay chứ không chỉ sau “sựkiện 11/9” Chỉ có điều sau “sự kiện 11/9” có vẻ tính thực dụng rõ ràng hơn
mà thôi Bản thân Tổng thống V Putin cũng chẳng những không hề giấudiếm tính thực dụng trong chính sách đối ngoại của mình, mà còn nhiềulần nhấn mạnh rằng hoạt động đối ngoại Nga phải dựa trên chủ nghĩa thựcdụng Ông định nghĩa khái niệm ngoại giao thực dụng nh sau: Một mặt,chúng ta phải từ bỏ những tham vọng đế chế; mặt khác phải hiểu rằngchúng ta là ai và đang ở đâu, lợi ích quốc gia của chúng ta ở đâu, giải thích
rõ về chúng và đấu tranh giành lấy chúng [37, tr.92] Đúng nh ông M.Margelov, Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Hội đồng Liên bang Nga nhận xét:
Đặc điểm chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Putin là
“
thực dụng tối đa và từ bỏ ảo tởng, dù ảo tởng đó rất dễ chịu ”
2.1.2 Nhiệm kỳ II của Tổng thống V Putin
Khi Tổng thống V.Putin tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai (14/3/2004),ngoài những cải cách về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội quan trọng, nớcNga vẫn giữ đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ Tính chất độc lập, tự chủtrong đờng lối đối ngoại của Nga gần đây đợc thể hiện rõ trong thái độ vàquan điểm của Nga trớc các vấn đề quốc tế nh: vấn đề hạt nhân ở Iran, vấn
đề quan hệ với thế lực Hamas khi lên cầm quyền ở Palextin, phản ứngmạnh mẽ trớc những động thái đe doạ của “phơng Tây” tới lợi ích nớc Nga
Trang 40ở bất cứ khu vực nào Quan điểm chiến lợc của Tổng thống V Putin là
“Lấy lợi ích quốc gia làm hạt nhân; lấy phát triển kinh tế làm tiền đề; lấy
tinh thần dân tộc làm động lực; chính quyền hiệu quả làm chỗ dựa; lấy
đoàn kết xã hội làm biện pháp; lấy lịch sử làm bài học kinh nghiệm ; lấy việc chọn con đờng phát triển phù hợp làm phơng hớng, không đi theo con
đờng của châu Âu và Mỹ; lấy hợp lý hoá môi trờng bên ngoài làm điều kiện
và cuối cùng lấy chấn hng địa vị là nớc lớn mục tiêu”[ 82] Thứ trởng Ngoại
giao Nga Aleksander Alekseev một lần nữa khẳng định lại đờng lối đốingoại của Liên bang Nga trong buổi trả lời phỏng vấn báo “Độc lập” củaNga ngày 28 - 12 - 2004, nhằm phủ nhận luận điểm của phơng Tây là Nga
đang thực hiện đờng lối đối ngoại “hớng Đông”, hoặc luận điểm “cuộc chiếntrực tiếp của Nga vốn ở châu Âu nay đang mở rộng sang khu vực châu á
Không thể có sự phát triển chính sách đối ngoại của Nga sang phía Đông.
“
Đó là điều không lôgic Một đất nớc nh nớc Nga không thể định hớng sang phơng Đông, phơng Tây, phơng Nam hay phơng Bắc Điều đó đi ngợc lại lợi ích dân tộc của chúng ta Nớc Nga có chính sách đa phơng và chính sách này sẽ đợc duy trì” [65, tr.56] Nh vậy có thể thấy, Nga sẽ thực hiện một
chiến lợc đối ngoại cân bằng, đa phơng và độc lập trong dài hạn, chắc chắn
là bao gồm những thập niên đầu thế kỷ XXI và không hề đi ngợc lại chínhsách đối ngoại với nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống V Putin
Trong chiến lợc này, các nớc trớc đây thuộc Liên Xô vẫn giữ một vịtrí đặc biệt quan trọng, nhng Nga có những điều chỉnh cho phù hợp với tìnhhình địa - chính trị mới có ảnh hởng trực tiếp đến lợi ích địa - chính trị củaNga, đó là: hầu hết các nớc Đông Âu và ba nớc Bantích đã gia nhập EU vàdần trở thành thành viên của NATO Ukraina và Grudia cũng đang tích cực
để đợc gia nhập EU và NATO Mỹ công khai thể hiện vai trò trọng tài củamình ở những nơi mà Nga coi là khu vực lợi ích quốc gia của Nga, ủng hộcác cuộc cách mạng “Hoa hồng” tại Grudia năm 2003, “Cam” tại Ukrainanăm 2004, “Cây thông” tại Moldova và cùng với phơng Tây can thiệp vàotiến trình bầu cử tại Belarus tháng 3 năm 2006 Tính cân bằng và đa phơngtrong chiến lợc đối ngoại của Nga thể hiện đặc biệt rõ rệt trong chủ trơngphát triển cùng lúc hội nhập với cả châu Âu và châu á Với châu Âu không
có gì lạ và khó hiểu, cái mới ở đây là với châu á ở châu á, Nga coi TrungQuốc, ấn Độ, Việt Nam là những đồng minh chiến lợc Đặc biệt, Nga vàTrung Quốc coi nhau là các “đối tác chiến lợc trởng thành và đáng tincậy”