mà ít ai nghiên cứu một cách có hệ thống những chính sách của các nước phương Tây trong quá trìnhphát huy ảnh hưởng của mình ở đất nước này.. Việc làm nàysẽ giúp chúng ta giải đáp nhữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ TÂM
CHÝNH S¸CH CñA C¸C N¦íC PH¦¥NG T¢Y
§èI VíI TH¸I LAN THêI CËN §¹I
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
VINH - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN CÔNG KHANH
VINH - 2010
Trang 3Trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và góp ý chân thành từ quý thầy cô trong Khoa đào tạo Sau đại học
và Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh, đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo tận
tình của Thầy giáo hướng dẫn - PGS TS Nguyễn Công Khanh Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo Nguyễn Công Khanh và tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, Khoa đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ về mặt tư liệu cũng như những ý kiến đóng góp, xây dựng luận văn.
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã nhiệt tình giúp đỡ, cổ vũ cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên luận văn không tránh khỏi khiếm khuyết, kính mong thầy cô và các bạn chân thành góp ý để tác giả rút kinh nghiệm cho các công trình nghiên cứu khoa học lần sau.
Vinh, tháng 12 năm 2010.
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 7
B NỘI DUNG 8
Ch¬ng 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA THÁI LAN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY XÂM NHẬP 8
1.1 Tình hình Thái Lan trước khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân phương Tây 8
1.1.1 Tình hình Đông Nam Á 8
1.1.2 Tình hình Thái Lan 10
1.2 Nhu cầu, tham vọng của các nước tư bản phương Tây trên con đường tiến lên chủ nghĩa đế quốc 21
1.2.1 Tình hình chung 21
1.2.2 Nhu cầu của Anh, Pháp và các đế quốc khác 27
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI THÁI LAN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX 33
2.1 Quá trình xâm nhập và chính sách của các nước Anh, Pháp đối với Thái Lan 33
Trang 52.1.2 Quá trình xâm nhập và chính sách của Pháp 47
2.2 Quá trình xâm nhập và chính sách của các nước phương Tây khác .65
2.2.1 Chính sách của Hà Lan 65
2.2.2 Chính sách của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Phổ, Nga 70
2.2.3 Mỹ 73
2.3 Cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng của các nước phương Tây ở Thái Lan 76
2.3.1 Cuộc tranh giành giữa Anh và Pháp 76
2.3.2 Cuộc tranh giành giữa Anh, Pháp và các nước thực dân khác 80
2.4 Đối sách của Thái Lan đối với chính sách của các nước phương Tây .82
2.4.1 Đối sách của Thái Lan 82
2.4.2 Hệ quả 88
TiÓu kÕt ch¬ng 2 91
Chương 3 NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA TỪ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY VÀ ĐỐI SÁCH CỦA THÁI LAN 93
3.1 tác động của những chính sách trên đối với đất nước Thái Lan .93
3.1.1 Những tác động tích cực đối với Thái Lan 93
3.1.2 Những tác động tiêu cực đối với Thái Lan 98
3.2 Bài học đối phó với chính sách của các nước đế quốc 102
3.2.1 Bài học từ chính sách đối ngoại của Thái Lan 102
3.2.2 Bài học từ chính sách đối nội của Thái Lan 105
C KẾT LUẬN 110
Trang 6D TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thái Lan nằm ở phía Nam lục địa châu Á, tại trung tâm của vùng ĐôngNam Á Diện tích vương quốc là 513.115 km2 (lớn thứ hai trong khu vực sauIndonesia), trải dài từ vĩ tuyến 5◦ đến 21◦ vĩ độ Bắc Thái Lan có chung biêngiới với Campuchia và Lào ở phía Đông và Đông Bắc, với Myanmar (trướcđây là Miến Điện) ở phía Tây và Tây Bắc Phía Đông Nam giáp vịnh TháiLan Các tỉnh ở bán đảo phía Tây nhìn ra biển Andama và phía Nam tiếp giápvới Malaysia
Từ lâu, Thái Lan đã nổi danh là một xứ sở thần tiên với những điều kì
lạ và bí ẩn Thế giới biết đến đến Thái Lan kể từ khi những vị sứ thần đầu tiêncủa vương quốc này bước chân tới triều đình của Lui XIV nước Pháp Từ đó,Thái Lan còn được gọi với nhiều tên gọi khác: Vương quốc của loài voi,Vương quốc của nụ cười, Vương quốc của sự mê hoặc Chúng ta còn biếtđến Thái Lan bởi đây còn là một đất nước hết sức độc đáo ở góc độ lịch sử
Từ thế kỉ XVI, Xiêm đã có mối quan hệ với các nước tư bản phươngTây Những người đầu tiên đặt chân đến vùng đất này là Tây Ban Nha, BồĐào Nha, sau đó là Hà Lan, Anh, Pháp, Mỹ Tuy nhiên, quá trình xâm nhậpcủa các cường quốc này vào Xiêm không giống với bất kì nước nào trongkhu vực
Từ thế kỉ XVI, Thái Lan đã mở cửa đón những vị khách từ phương Tâyđến để giao thương buôn bán Sự tiếp xúc của Xiêm với phương Tây diễn raban đầu là quan hệ giao hảo, buôn bán nhưng sau đó người châu Âu tìm cáchxâm nhập và thôn tính đất nước giàu có này Thế kỉ XVII, Xiêm thực hiện
chính sách “bế quan tỏa cảng” Đến giữa thế kỉ XIX, khi bản đồ châu Á bị
nhuốm màu đen bởi ách thống trị của thực dân phương Tây và dày đặc các
Trang 8mũi tên tiến công từ các phía đại dương vào lục địa thì vận mệnh các quốc gia
ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Thái Lan bị đe dọa nghiêm trọng Chođến đầu thế kỉ XX khi việc phân chia Đông Nam Á về cơ bản đã hoàn thànhgiữa các nước Mỹ, Hà Lan, Anh, Pháp thì Xiêm vẫn giữ được độc lập
Xung quanh vấn đề nền độc lập Thái Lan được giữ vững trước làn sóngxâm nhập của phương Tây, vấn đề đã được nghiên cứu nhiều đó là chính sách
ngoại giao của Thái Lan, là chính sách mở cửa, đường lối ngoại giao “ngọn
cây tre” kết hợp với những cải cách trong nước mà ít ai nghiên cứu một
cách có hệ thống những chính sách của các nước phương Tây trong quá trìnhphát huy ảnh hưởng của mình ở đất nước này
Ở Đông Nam Á, Xiêm là một nước láng giềng có quan hệ lâu đời và cónhững nét tương đồng với Việt Nam trong lịch sử cũng như trong hiện tại.Mặt khác, trước xu thế hội nhập khu vực hóa và toàn cầu hóa đang diễn ramau lẹ và chuyển biến từng ngày hiện nay, Thái Lan và Việt Nam ngày càng
quan hệ chặt chẽ hơn về mọi mặt trên tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với
tất cả các nước trong cộng đồng thế giới”, và Thái Lan: “biến Đông Nam Á
từ chiến trường thành thị trường” Hai nước lại là những thành viên quan
trọng của tổ chức ASEAN, nên sự hiểu biết để học hỏi lẫn nhau là cần thiết
Tìm hiểu “Chính sách của các nước phương Tây đối với Thái Lan thời cận đại” sẽ là một bước trong quá trình tìm hiểu lịch sử đất nước này
trong giai đoạn đầy khó khăn thử thách để bảo vệ nền độc lập Việc làm nàysẽ giúp chúng ta giải đáp những câu hỏi một cách có hệ thống như: Bối cảnhquốc tế và khu vực, bối cảnh của Thái Lan (kinh tế, chính trị, xã hội) có tácđộng đến chính sách ngoại giao của Xiêm, quá trình xâm nhập và nhữngchính sách của các nước phương Tây ở đây, hệ quả của những chính sách đóđối với Xiêm
Trang 9Giải quyết được vấn đề này còn tạo cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sửdân tộc trong cùng giai đoạn Bối cảnh lịch sử dân tộc ta cuối thế kỉ XIX cógiống với Xiêm? Liệu rằng những chính sách mà các nước lớn phương Tâythực hiện ở Xiêm có được áp dụng ở Việt Nam? Và việc mất nước ở ViệtNam có phải là một điều tất yếu khi mà Xiêm vẫn giữ được độc lập?
Những nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này ngoài nhằm cung cấp thêm
tư liệu, hiểu biết phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử các quốc gia Đông Nam
Á, mà trong tình hình hiện nay nó còn làm phong phú thêm những kinhnghiệm trong công cuộc xây dựng đất nước
Với những lí do trên, cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo - PGS TS.Nguyễn Công Khanh, khoa Lịch sử trường Đại học Vinh, chúng tôi đã chọn
đề tài: “Chính sách của các nước phương Tây đối với Thái Lan thời cận đại”
làm luận văn Thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thời gian gần đây, Đông Nam Á nói chung và Thái Lan nói riêng trởthành một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Trong quá trình tìmtòi thu thập nguồn thông tin, giai đoạn lịch sử mà chúng tôi chọn để nghiêncứu đã nhiều công trình đề cập đến Đi đầu là các nhà sử học châu Âu nhất làcác nhà sử học Xô Viết như E.O.Becdin, N.V.Rebricôva, D.G.E Hall
Những công trình nghiên cứu như “Lịch sử Thái Lan” của E.O.Becdin, Nhà xuất bản khoa học Mátxcơva, của N.V.Rebricôva với “Lịch sử cận đại Thái
Lan”, Nhà xuất bản Khoa học Matxcova, 1967, mô tả chủ yếu về lịch sử Thái
Lan thời cận đại theo quan điểm phân chia các thời kì lịch sử ở Thái Lan của
mình Tác phẩm “Lịch sử Đông Nam Á” của D.G.E Hall từ lâu đã trở thành một tài liệu nghiên cứu quan trọng mà GS Vũ Dương Ninh đã đánh giá “Đây
thực sự là một công trình khoa học nghiêm túc và có giá trị”, “tác phẩm đem
Trang 10lại cho người đọc những hiểu biết chung nhất về quá trình diễn biến lịch sử các nước Đông Nam Á trong mối bang giao khu vực và tiếp xúc quốc tế”
Trong giới sử học Việt Nam, không ít những học giả nghiên cứu về đấtnước Thái Lan, các công trình tiêu biểu như: Giáo sư Vũ Dương Ninh viết
cuốn: “Vương quốc Thái Lan: lịch sử và hiện tại” (1994), Nhà xuất bản Giáo
dục Hà Nội, là một cuốn sách chuyên đề bàn về lịch sử Thái Lan được trìnhbày mang tính khái quát cao, giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng thể
và định hướng khi nghiên cứu Thái Lan “Thái Lan: một số nét về chính trị,
kinh tế xã hội, văn hóa và lịch sử” của Nguyễn Khắc Viện, TS Huỳnh Văn
Tòng với “Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á”, Lê Văn Quang với “Lịch sử
vương quốc Thái Lan” Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Một số lượng lớn các công trình có liên quan rải rác đến nội dung đề tài
như: Nguyễn Khắc Viện (1998) - “Thái Lan-một số nét về chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa, lịch sử”; Nguyễn Thu Mỹ, Đặng Bích Hà (1995): Thái Lan, cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nước công nghiệp mới ; các tác giả Viện
Đông Nam Á (1999) “Thái Lan - Truyền thống và văn hóa”; Quế Lai (1998) với “Truyền thống và hiện đại Thái Lan” Ngoài ra, Thái Lan cuối thế kỉ
XIX đầu XX cũng được đề cập đến trong các các công trình nghiên cứuchung về Đông Nam Á, lịch sử của các nước ASEAN, lịch sử Lào, lịch sửCampuchia xuất hiện trong những tạp chí xuất bản thường kì như: Nghiêncứu Đông Nam Á, Nghiên cứu lịch sử, thông báo Hội nghị khoa học ĐôngNam Á
Như vậy, đã có một số lượng lớn những công trình nghiên cứu về vấn
đề Thái Lan Tuy nhiên chủ yếu những công trình đó chỉ trình bày khái quátlịch sử Thái Lan, hoặc chú trọng vào chính sách ngoại giao của Thái Lan chứchưa một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về quátrình ngược lại: các nước lớn Anh, Pháp xâm nhập vào Thái Lan và những
Trang 11chính sách của họ đối với vương quốc này thời cận đại Mặt khác, khó khănnữa là những nguồn tài liệu về Thái Lan chủ yếu là viết bằng tiếng nước ngoàichưa được dịch sang tiếng Việt.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Lịch sử Thái Lan có nhiều giai đoạn với nhiều vấn đề khía cạnh đa
dạng Như tên đề tài đã chỉ rõ đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Chính
sách của các nước phương Tây đối với Thái Lan thời cận đại” Tuy nhiên, để
có thể hiểu được chính sách ấy của các nước lớn Anh, Pháp luận văn cũngkhông thể không đề cập đến nền chính trị, kinh tế, xã hội Thái Lan thời kìtrước khi phương Tây xuất hiện, và tình hình khu vực Đông Nam Á với nhiềubiến động thăng trầm thời kì này Trên cơ sở những tìm hiểu đó, luận văn sẽ
đi sâu nghiên cứu những chính sách chủ trương của các nước Đế quốc Anh,Pháp và các nước khác đối với Thái Lan Do trình độ còn hạn chế nhất là trình
độ tiếp cận ngoại ngữ, nguồn tài liệu chưa phong phú, chúng tôi chỉ nghiêncứu vấn đề chủ yếu ở giai đoạn cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ của chúng tôi hướng tới làm rõ vấn
đề sau: Chính sách thủ đoạn của các nước thực dân phương Tây đối với đấtnước Thái Lan trong bối cảnh trên thế giới CNTB chuyển mạnh lên CNĐQ vàcác nước phong kiến ở châu Á bước vào giai đoạn suy tàn, thấy được đối sáchcủa Thái Lan và từ đó so sánh được hiện tượng của đất nước này với các nướckhác ở cùng khu vực
4.2 Nhiệm vụ
Việc nghiên cứu chính sách của các nước phương Tây đối với Thái Lan
từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX là một nhiệm vụ khoa học cần thiết và góp
Trang 12phần làm tăng thêm sự hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử khu vực, về đất nướcThái Lan, vì vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi có các nhiệm vụ sau:
- Trên cơ sở nguồn tư liệu phải tiến hành xử lý, xác minh, phân loại vàtrình bày có hệ thống tình hình kinh tế, chính trị xã hội của Thái Lan trước khiphương Tây xuất hiện
- Quá trình từng bước lấn chiếm và xâm nhập vào đất nước Thái Lancủa các nước thực dân phương Tây, nổi bật là Anh, Pháp, Hà Lan chủ yếubằng thủ đoạn ngoại giao kết hợp với việc gây sức ép về quân sự
- Chính sách đối phó của Thái Lan trước âm mưu bành trướng củaphương Tây và những bài học kinh nghiệm được rút ra từ đó
- Qua công trình nghiên cứu về Thái Lan, thể hiện được bối cảnh lịch
sử quốc tế và khu vực, từ đó có thể liên hệ đến thực trạng các nước ở cùngkhu vực, cùng hoàn cảnh của Thái Lan
5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên các nguồn tài liệu sau:
- Nhóm tài liệu sách báo, tạp chí, ấn phẩm nghiên cứu chuyên sâu hoặcmang tính chất tổng hợp về lịch sử đối ngoại Thái Lan
- Nhóm tài liệu gốc: Các bài diễn văn, thông điệp, tuyên bố ngoại giaocủa các nhà lãnh đạo các nước phương Tây khi xâm nhập vào Thái Lan
- Nhóm tài liệu về quan điểm của Đảng và nhà nước: Các văn kiện Đạihội Đảng, Nghị quyết chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phản ảnh những quan điểm, tư duy mới nhất của Đảng và nhà nước ta tronglĩnh vực đối ngoại, trong việc tiếp thu bài học kinh nghiệm của Thái Lan
Để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi dựa vào chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm củaĐảng và nhà nước về đối ngoại làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên
Trang 13cứu Luận văn trình bày sự kiện trung thực, xem xét sự vận động của chúngtrong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, từ đó rút ra nhận xét đánh giá.
Vì đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháplogic được đặc biệt coi trọng Trên cơ sở những nguồn tài liệu lịch sử, những
sự kiện lịch sử có thật để phân tích, xử lý, hệ thống hóa, khái quát hóa vấn đề.Chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp sosánh đối chiếu, thống kê từ đó sử dụng phương pháp dự báo vấn đề cầnnghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu nêu lên một cách khái quát hoàn cảnh của Thái Lantrước thế kỉ XVI, chính sách chủ trương của các nước phương Tây tiêu biểu lànhững nước lớn Anh, Pháp, Hà Lan đối với Thái Lan từ thế kỉ XVI đến cuốithế kỉ XIX
Thông qua chính sách của các nước phương Tây đối với Thái Lan cùngvới những đối sách của đất nước này, luận văn nhằm lý giải sự thành công củaThái Lan, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho các dân tộc cùng khuvực đặc biệt là Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1 Bối cảnh lịch sử của Thái Lan trước khi thực dân phương
Tây xâm nhập Chương 2 Chính sách của các nước phương Tây đối với Thái Lan từ
thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIXChương 3 Những tác động và bài học được rút ra từ chính sách của
các nước phương Tây và đối sách của Thái Lan
Trang 14B NỘI DUNG
Chương 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA THÁI LAN TRƯỚC KHI
THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY XÂM NHẬP
1.1 Tình hình Thái Lan trước khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân phương Tây
1.1.1 Khái quát về tình hình Đông Nam Á đến cuối thế kỉ XIX
Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, phương Đông nói chung và cácquốc gia Đông Nam Á nói riêng nhìn chung đang ở trong tình trạng khủnghoảng và suy vong của chế độ phong kiến Kinh tế nông nghiệp trồng lúa vẫngiữ vai trò chủ đạo Tuy nhiên thời kì này nông nghiệp đã sa sút nghiêm trọng
do hạn hán, mất mùa, lũ lụt thường xuyên xẩy ra đưa toàn bộ nền kinh tếcủa các nước vào lối bế tắc không có đường ra Bên cạnh đó mô hình tổ chứcchính trị bảo thủ giữ nguyên bộ máy chính quyền phong kiến cũ Thiết chếnhà nước cũng như tư tưởng chủ đạo trong xã hội vẫn theo thể chế phong kiếnphương Đông với việc duy trì tuyệt đối vị trí và quyền lực của vua chuyênchế, bộ máy quan lại từ Trung ương đến địa phương, hệ thống hành chínhpháp luật quân đội phong kiến về cơ bản vẫn tồn tại
Về xã hội, đa phần ở tình trạng bất ổn Trong bối cảnh lực lượng phongkiến cầm quyền vẫn duy trì chính sách toả quốc, đàn áp khốc liệt các phongtrào đấu tranh của nhân dân, tiếp tục thực hiện sự độc tôn về tư tưởng Bộmáy chính quyền ngày càng quan liêu và mất lòng dân, không đủ khả năngđiều hành đất nước trước những thách thức của dân tộc và thời đại Phongtrào khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân bùng lên mạnh mẽ với số lượng vàquy mô chưa từng có Trong vòng 67 năm (1800 - 1867), ở Nhật Bản đã cótới 538 cuộc khởi nghĩa diễn ra từ nông thôn đến thành thị Tại Việt Nam, sôi
Trang 15động với các cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê VănKhôi, Cao Bá Quát Sau các hoà ước 1862, 1867 và 1874, phong trào khởinghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Trương Định tiếp tục dậysóng ở Nam Bộ Từ Hiệp ước Giáp Tuất trở đi cả thực dân Pháp và triều đìnhHuế đều trở thành đối tượng của các cuộc khởi nghĩa Tương tự như vậy, tạiTrung Quốc, khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc diễn ra ròng rã 14năm (1851 - 1864) và lan rộng khắp 18 tỉnh thành xứng đáng là cuộc khởinghĩa nông dân lớn nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử cận đại Tiếp đó là phongtrào Nghĩa Hoà Đoàn (1890 - 1900), vừa chống phong kiến, vừa chống đế
quốc với khẩu hiệu “Phản Thanh, phục Minh” và sau đó chuyển hẳn sang mục tiêu chống đế quốc với khẩu hiệu “Phù Thanh, diệt Dương” Khác với
các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan là nước có nền chính trị
ổn định, mối quan hệ giữa triều đình (vua, quý tộc, hoàng gia) với dân khábình ổn nên không có những mâu thuẫn nội bộ về chính trị xã hội
Đồng thời với thực trạng xã hội đó là tình trạng thấp kém, lạc hậu vềgiáo dục, các hiện tượng văn hóa tiêu cực như mê tín dị đoan, các hủ tục vẫntràn lan trong xã hội Nhìn chung hình ảnh xã hội phong kiến phương Đông ởthế kỉ XIX lạc hậu nhiều so với xu thế của thế giới
Cùng thời điểm này toàn nhân loại đang trong guồng quay của chủnghĩa tư bản phát triển ở giai đoạn độc quyền Thế kỉ XIX đánh dấu sự thắnglợi của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới, cùng với nó là sự pháttriển của lực lượng sản xuất Khối lượng hàng hóa sản xuất ra ngày càngnhiều, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, kĩ thuật sản xuất biến đổi theohướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa Việc tìm kiếm thị trường, nguyên liệu
và nhân công trở thành vấn đề bức thiết Đông Nam Á trở thành điểm đến lítưởng của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Trang 161.1.2 Tình hình Thái Lan trước khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân phương Tây
1.1.2.1 Tình hình kinh tế
- Nông nghiệp
Cũng như nhiều quốc gia khác ở khu vực Đông Nam Á lục địa, TháiLan là một nước nông nghiệp mà nông nghiệp trồng lúa nước là một đặctrưng nổi bật Ở thời kì nhà nước Ayuthaya, nông nghiệp trồng lúa nướcchiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế Nhà nước quan tâm đặc biệt đến vấn
đề thủy lợi Do vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu thích hợp nên ngay từ xa xưanghề trồng lúa trở thành nghề chính của cư dân Thái
Từ triều đại Rama I đến Rama III, nền kinh tế cơ bản vẫn mang tínhchất tự nhiên, tự cấp tự túc và nó vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của nền kinh
tế truyền thống thời Ayuthaya Nền nông nghiệp có bước phát triển cao hơn
do những chính sách tiến bộ của các vị vua dòng Rama Nhà nước chủ trươngthực hiện phân chia ruộng đất một cách rộng rãi tới người dân qua việc bancấp trực tiếp cho các quan lại Giai cấp thống trị có nhiều ruộng đất, song vềmặt pháp lí chỉ có quyền sử dụng không có quyền sở hữu Để ngăn chặn việcquan lại thao túng nhân lực, Rama I ban hành lệnh bắt tất cả nông dân tự dophải xăm trên người tên của chủ và nơi ở để dễ bề quản lý Nhà nước khuyếnkhích nhân dân phiêu tán trong thời kì chiến tranh nhanh chóng trở về quêhương để ôn định cuộc sống Các vua Rama không ngừng khuyến khích quanlại và nhân dân tiến hành khẩn hoang lập ấp, di dân thành nhiều vùng nôngnghiệp mới Do vậy, diện tích canh tác ngày càng được mở rộng, kĩ thuậtcanh tác cũng như năng suất lao động cao hơn
Chế độ thuế khóa cũng được chấn chỉnh để tăng thu nhập cho nhànước Nông dân có thể thay nộp thuế bằng thóc bằng nộp tiền Một số thuếmới được đặt ra như: cờ bạc, hạt tiêu, cây thuốc, muối, gỗ và cũng có thể nộp
Trang 17tiền thay cho hiện vật Nhà nước chỉ trực tiếp thu một số thuế quan trọng cònlại giao cho tư nhân bao thầu thuế, chủ yếu là người Hoa.
Gạo đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chính trong xuất khẩu của Xiêm.Theo tính toán sơ bộ, từ năm 1722, Trung Quốc đã mua của Xiêm 18000 tấngạo Số lượng này ngày càng được tăng thêm trong những năm đầu của thế kỉXIX Năm 1850 Xiêm sản xuất khoảng 900 nghìn tấn gạo trong đó lượng gạoxuất khẩu là 12 nghìn tấn, bằng 4,5 % giá trị xuất khẩu của Xiêm [ 10, 25]
Nông nghiệp thời kì này còn phát triển theo hướng hàng hóa thươngmại Nhìn chung, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủđạo trong cơ cấu nền kinh tế và nó phát triển ở trình độ cao hơn, ổn định và là
bệ đỡ cho toàn bộ nền kinh tế
- Công thương nghiệp
Đến nửa đầu thế kỷ XIX, mặc dù nền kinh tế Xiêm mang nặng tính tựcung tự cấp nhưng những mầm mống của quan hệ tư bản chủ nghĩa cũng bắtđầu nảy nở Một số công trường thủ công của nhà nước và tư nhân xuất hiệntrong các ngành chế tạo vũ khí, khai thác mỏ, đặc biệt là khai thác thiếc, làmđường, đóng tàu Sử dụng lao động của cả người Thái, người Hoa là dân tự
do Hoạt động của thủ công nghiệp đã tạo nên sự cạnh tranh giữa các thươngnhân, các chủ cơ sở chế biến khai thác Hoa kiều và thương nhân, chủ khaithác người nước ngoài
Mỏ thiếc Phuket đã được người Hoa khai thác từ trước Khi người Anhđược quyền tự do buôn bán sau hiệp ước Boring, họ đồng thời được chínhquyền Xiêm cho phép bỏ vốn đầu tư vào các công ty khai thác, chế biến ởđây Đối với Xiêm, thiếc không phải là sản phẩm quan trọng trong tổng thểnền kinh tế, cũng không phải là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn sangthị trường châu Âu, nhưng vì vùng sản xuất thiếc ở miền nam vốn là vùng
Trang 18nhạy cảm về chính trị vì vậy nó gây sự chú ý cho người Anh và người Anhmuốn có mặt ở đây.
Về thương mại, ngay từ năm 1597, những thương nhân đầu tiên đã cómặt ở Xiêm, sau đó ưu thế dần thuộc về Hà Lan Nền kinh tế đóng kín cổtruyền của Xiêm bước đầu tìm thấy hơi thở mới của một nền kinh tế “mở”.Trên nền tảng ban đầu thuận lợi đó, đến cuối XVIII đầu thế kỷ XIX, nền kinh
tế ngoại thương của Xiêm đã phát triển với quy mô ngày càng lớn và mang lạinguồn lợi khổng lồ
Hàng hóa xuất khẩu của Xiêm ngày càng nhiều và phong phú Trong
20 năm đầu của thế kỉ XIX, lượng gạo xuất khẩu của Xiêm đứng thứ hai châu
Á (chỉ sau Bengan- Ân Độ) “Năm 1821 tổng khối lượng hàng hóa trao đổiXiêm- Trung là gần 60.000 tấn Lợi nhuận trung bình lên tới 300% Để thuậnlợi cho việc buôn bán giữa Xiêm và Trung, hàng năm Xiêm đều cử các pháiđoàn ngoại giao sang Quảng Châu và triều cống vua Trung Quốc theo định kì.Bên cạnh Trung quốc, các tiểu vương quốc trên bán đảo Malacca và quần đảoIndonesia cũng là những đối tác quan trọng trong việc buôn bán với Xiêm.Năm 1725 có 30 đến 40 nghìnv tàu Xiêm tới buôn bán ở các cảng Mã lai, 26tàu đến xing ga po, 6 tàu tới cảng Giava và booc-nê-ô [17, 122]
Thời kì này Xiêm cũng có quan hệ buôn bán với Việt Nam, Lào,Campuchia Các cảng Sài gòn, Hôi An, Huế đều có khá đông các tàu Xiêmđến buôn bán Trong nửa đầu thế kỉ XIX, tổng giá trị buôn bán hàng năm củaXiêm lên đến 5,5 triệu bath, trong nhập khẩu là 4,3 triệu bath Năm 1822 thủ
đô Băng Cốc có tới 32000 hàng quán và thuyền buôn lớn nhỏ khác nhau
Trong hoạt động thương mại của Xiêm, người Hoa nắm vị trí chủ yếu.các triều đại Rama đầu tiên đã khuyến khích người Hoa đến Xiêm cư trú và ởđâu họ cũng nhận được sự ưu đãi lớn của nhà nước Nếu người bản địa phảinộp cho nhà nước qua viêc lao dịch 3 tháng thì người Hoa chỉ phải trả tiền
Trang 19thuế thêm 1,5 bath mà thôi Người Hoa chiếm đến 10% cư dân của thành phốBăng Cốc.
cố nội trị, nhà nước Ayuthaya chú ý đến việc phát triển kinh tế nhất là ngoạithương Tuy nhiên ngành kinh tế chủ đạo vẫn là nền nông nghiệp lúa nước
Đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Xiêm trở thành một trong những nướcphong kiến lớn ở bán đảo Trung ấn và chế độ phong kiến đạt đến đỉnh caonhất Nhưng sau đó, sự tranh giành quyền lợi trong giai cấp thống trị đã làmcho Xiêm bị suy yếu và đến năm 1767 bị Miến Điện chinh phục Năm 1768,Pia Tăc-xin lên ngôi hoàng đế và khôi phục được nền độc lập của Xiêm saumột thời kì dài loạn lạc và chiến tranh liên miên, tiêu diệt các tập đoàn phongkiến cát cứ và thống nhất đất nước Tuy nhiên đến thời điểm này, quá trìnhthống nhất Xiêm vẫn chưa thật sự hoàn thành Thời kì cầm quyền của Pia- tăcxin tuy ngắn ngủi nhưng ông đã có công trong việc khôi phục nền độc lập vàthống nhất vương quốc Xiêm Nhìn nhận về thời kì này, người ta cho rằng:Pia-Tac xin, người lãnh đạo nhân dân tiến hành giải phóng đất nước sau đó đã
đi chệch hướng trong việc lựa chọn con đường phát triển cho dân tộc, ôngtrượt dài trên con đường phong kiến hóa, đi ngược lại với xu thế của lịch sử
và nguyện vọng của nhân dân, do đó khởi nghĩa lan tràn khắp nơi Nhiềuphương án cho việc tìm người kế thừa Pia-tăc xin được đặt ra song chưa phùhợp Ngày 14-1872, vua Pia tăc xin tuyên bố thoái vị Trong bối cảnh đó,Chaopia Charki được đa số tầng lớp phong kiến ủng hộ Ngày 20/4/1872, ông
Trang 20cùng quân đội tiến về Buri giải phóng thành phố trong cơn hỗn loạn và lênngôi vua với niên hiệu là Rama I, chính thức khởi đầu cho triều đại Rama tồntại đến ngày nay ở Thái Lan.
Rama I tiến hành xâm lược các nước láng giềng Các tiểu quốc ở Lào,Mã Lai lần lượt phải nhận sự bảo hộ của Xiêm Xiêm còn can thiệp vào ViệtNam, giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn vào năm 1785 (Hai tướng Chiêu Tăng
và Chiêu Sương đem 5 vạn quân và 300 chiến thuyền sang xâm lược ViệtNam đã bị Nguyễn Huệ đánh bại tại Rạch Gầm-Xoài Mút thuộc Mỹ Tho).Năm 1833, quân Xiêm lại tiến hành xâm lược Việt Nam một lần nữa và cũng
bị thất bại
Những ông vua đầu tiên của triều đại RaMa đã thực hiện nhiều biệnpháp nhằm làm cho “quốc thái an dân” để tự tin mở cửa đối với phương tây -một sự lựa chọn hết sức táo bạo mà những ông vua khác ở châu Á bấy giờkhông làm được
Ngay sau khi lên ngôi, Rama I đã có chính sách dựa vào Đạo phật để
ổn định xã hội, xuất phát từ thực tế tâm lý con người: tín ngưỡng tôn giáo làthứ dễ đi sâu bám chắc vào lòng người nhất Sự quan tâm đặc biệt giương caongọn cờ bảo hộ Phật giáo là biện pháp khôn ngoan nhất của một ông vuaXiêm thời điểm này, là đánh trúng tâm lí người dân Xiêm vốn sùng bái đạoPhật nhưng đã bị Phya Tacxin vứt bỏ Rama I cho rằng: Ba bảo vật của Phậtgiáo là phật, pháp, tăng còn cao hơn mọi đạo luật, mọi nguyên tắc Không cómột tôn giáo nào có thể cao hơn và có thể so sánh với Đạo phật
Lựa chọn Phật giáo làm quốc giáo nhưng có phần cải cách cho phùhợp, các vua Xiêm ngay từ đầu đã xác định cho dân tộc mình một tinh thầnđoàn kết, thiện chí của Phật giáo Tất cả đều hướng con người và xã hôi đếnnhững điều tốt đẹp như giáo lý của đạo Phật đã chỉ ra Bởi vậy, việc nhà vuaRama I dựa vào Đạo Phật làm cơ sở ổn định xã hội có ảnh hưởng đến việc đối
Trang 21xử của các vua Rama cũng như những người dân Xiêm trước nguy cơ xâmnhập của Chủ nghĩa thực dân phương Tây: Mở cửa tiếp nhận phương Tây vớimột chính sách ngoại giao mềm dẻo, đồng thời có tinh thần học hỏi tiếp thuvăn minh phương Tây.
Rama I cũng tiến hành dời đô từ Ayuthaya về Băng cốc Băng cốc lúcbấy giờ chỉ là một làng chài ở tả ngạn sông Mênam nhưng theo Rama I nó có
ưu thế hơn Thonburi và Ayuthaya Nơi đây thế đất bằng phẳng, thoáng đãng.Sông Mê nam làm chiến hào ngăn cuộc tiến công của Miên ma, lại gần biển
và trung tâm một đồng bằng đang có tiềm năng phát triển Với con mắt củamột nhà chiến lược và với tham vọng xây dựng một vương triều vĩnh cửu,Rama I cho đây là nơi đáp ứng nhu cầu phòng thủ và thuận lợi cho phát triểnmọi mặt của đất nước
Bộ máy nhà nước được xây dựng lại như thời Ayuthaya nhưng mangtính trung ương tập quyền cao hơn
Đứng đầu nhà nước phong kiến là các vua dòng Rama Giúp việc chonhà vua có ba hội đồng: Hội đồng các hoàng thân (Chaopha); Hôi đồngthượng thư (Krôm) và Hội đồng tư pháp (Bracnam) Quản lí và điều hànhthường nhật các công việc của chính quyền phong kiến trung ương là hệthống các bộ (Krom) do các hoàng tử hoàng thân đứng đầu Bộ có vai tròquan trọng nhất là bộ nội vụ và bộ chiến tranh Khi có chiến tranh, thượng thưhai bộ này đều trở thành tướng chỉ huy quân đội Hệ thống quan hệ họ hàngđược củng cố hình thành nên nhóm các gia đình hùng mạnh nắm trong tay cácđòn bẩy quan trọng của quyền lực nhà nước phong kiến Chính vì thế mọiviệc của đất nước thực chất do một mình vua quyết định Nhà nước tập quyềnphong kiến Xiêm duy trì những đặc quyền đặc lợi của tầng lớp quý tộc phongkiến nó biểu hiện qua các chế độ ruộng đất Sac-đi-na
Trang 22Bên cạnh việc củng cố bộ máy nhà nước trung ương, các vua Rama cònchú ý xây dựng các cơ quan địa phương Nhà nước đã sắp xếp lại toàn bộ đấtnước thành 3 khu vực: các tỉnh nội, tỉnh ngoại và vùng chư hầu tuỳ vị trí địa
lý và tính chất phụ thuộc, đứng đầu là các quan chức do nhà vua bổ nhiệm:
“Chaopha”, “chao”- đứng đầu các tỉnh lớn nhất; “Chaopaia”- đứng đầu cáctỉnh lớn ; “paia”- đứng đầu các tỉnh nhỏ Đơn vị hành chính cơ sở là xã vớicác quan chức thấp như “Naipan”, “Nairot”, “Naixip”
Đồng thời để phù hợp với bộ máy nhà nước mới thì nghi lễ triều đình,luật pháp cũng được chấn chỉnh Năm 1782 Rama I ra lệnh phá hủy nhữngtượng đá linga- biểu tượng thần thánh hóa các ông vua trước đây thay vào đó
là thờ phật tử Các nghi lễ được cắt bỏ Về luật pháp nhà vua lập ra một hộiđồng gồm những người thông thái để rà soát lại những luật cũ, định ra luậtmới Kết quả bộ luật “ba con dấu” được hoàn thành trong các năm 1805-1807
- là bộ luật cơ bản đươc thi hành từ thời Rama I đến thời Rama V mới bị phếbỏ Về hình thức và nội dung bộ luật này vẫn dựa trên danh nghĩa cơ sởnhững luật cổ của Ấn Độ nhưng đằng sau những công thức pháp luật Ấn Độ
là nội dung độc lập hoàn toàn, ngay trong lời nói đầu của bộ luật đã trình bàytruyền thuyết rất thú vị về cơ cấu tổ chức của nhà nước Xiêm: “Quả đất lúcđầu là một quả cầu bị nứt rồi nguội đi, sau đó những tạo vật nào đó của bầutrời bị hương vị của quả đất hấp dẫn đã hạ xuống và biến thành người Nhữngngười nguyên thủy này bầu ra một nhà vua mang danh “người trúng cử vĩđại”, ông có trách nhiệm tuân theo mười đức hạnh của nhà vua, bảo vệ 5nguyên tắc của đạo đức ” Theo tinh thần này các vua Xiêm cầm quyềnkhông phải trên cơ sở một danh hiệu nhập từ thương đế tối cao nào đó mà trên
cơ sở thỏa thuận có tính chất là một khế ước xã hội
Những ông vua đầu tiên của triều đại Rama đã thành lập được mộtchính quyền ổn định có thể áp dụng cho những điều kiện cụ thể và điều đó
Trang 23đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh của Xiêm để bảo vệ độc lậpquốc gia trong vô vàn khó khăn mà chính sách mở cửa mang đến.
1.1.2.3 Tình hình xã hội
Vào thời kì các vua Rama tiếp quản sự lãnh đạo đất nước, nhà nướcphong kiến Xiêm trên thực tế đã bị suy yếu do những chấn động xã hội trongnhũng năm 60-70 của thế kỉ XVIII Rama I hiểu rằng: không phải ngay lậptức mà thủ tiêu những kết quả do chiến tranh nông dân mang lại, tức khôngdễ dàng phá bỏ những nhượng bộ đã ban hành cho nông dân Chính quyềnRama cảm thấy chưa phải lúc thiết lập ngay một nền quân chủ chuyên chếtuyệt đối vô thượng của các vua Xiêm mà chỉ chủ trương trở lại thời kì lãnhđạo gia trưởng trên tinh thần thực sự phật giáo của các vua Xiêm thời cổ đạisùng Đạo Phật
Nhằm mục đích đó, ngay từ năm 1782, Rama I đã ra lệnh phá hủynhững tượng linga bằng đá, biểu tượng thần thánh hóa các vị vua trước đây
Từ năm 1785 trở đi, truyền thống tuyên thệ của các quan lại phong kiến có sựthay đổi Họ tuyên thệ không phải trước biểu tượng thần thánh của nhà vualinga mà trước biểu tượng của Đức Phật Tuy nhiên Rama I đòi hỏi giới tuhành một tinh thần kỉ luật và một đạo đức cao độ để làm gương cho dânchúng Năm 1788 dưới sự kiểm soát của Rama I một công tác rộng lớn đượctriển khai vì một phật giáo hoàn toàn trong sạch Lựa chọn phật giáo làm quốcgiáo, các vua Xiêm ngay từ đầu đã xác định cho đất nước mình một tinh thầnđoàn kết Điều này có ảnh hưởng đến đối sách mềm dẻo, linh hoạt thực sựtinh tế, tránh những xung đột không cần thiết với mục tiêu cao nhất là giànhquyền lợi cho dân tộc bằng biên pháp hòa bình
Nhìn chung giai cấp phong kiến chia làm hai nhóm chính: Quan lạiphục vụ trong bộ máy nhà nước trung ương (nội), và quan lại ở địa phương(ngoại) Cơ sở của sự phân chia đó là sự phân chia đất nước ra vùng trung tâm
Trang 24đất nước và các vùng lân cận, quan lại không có lương, được hưởng ruộng đất
do vua cấp và sống bằng nguồn thu hoạch hoa lợi trên mảnh ruộng đó theochế độ Sacđina Sacđina là một trong 4 tiêu chuẩn để xác định vị trí của quanlại trong bậc thang danh vọng Tùy theo thứ bậc trong hệ thống hành chính
mà họ được lĩnh nhiều hay ít ruộng Chẳng hạn vị thượng thư đầu trong triềuđược xếp loại sacddina 10 ngàn, được cấp 10 ngàn rai, chức quan thấp trongtriều được khoảng 4000 rai, còn quan địa phương được xếp loại sacđina 400đến 25 Ngoài chế độ sacđina còn có cấp bậc, tên gọi do vua ban cho quy định
là người sở hữu tối cao về ruộng đất, nhưng trên thực tế nhà vua tiến hànhphân cấp ruộng đất tuỳ theo chức tước Như Chao pha được 5 vạn khoảnh,Chao pai-a: 1 vạn, Nai pan 25- 400 khoảnh
Nông dân gồm có 2 loại: Pơraiban là dân tự do và Kha bị tước quyền tự
do (nô lệ) Nông dân Pơraiban có ruộng đất nhưng phải thực hiện nghĩa vụ laodịch cho nhà nước mỗi năm 3-4 tháng, phải nộp 1/10 thu nhập của mình chonhà nước Kha (nô lệ) có mấy loại, có loại là con nợ bị nô dịch, phải bán vợcon cho chủ Họ có thể chuộc mình để trở thành người tự do Còn Pơrailuăngvốn là tù binh bị bắt trong chiến tranh và con cháu của họ Đến giữa thế kỷ
Trang 25XIX họ có khoảng 12 vạn người Họ cũng có thể tự chuộc mình để trở thànhngười tự do.
Nô lệ ở Xiêm được gọi là “kha” Cho đến tận nửa sau thế kỉ XIX, nô lệ
vẫn chiếm đến 1/3 dân số [29, 35] Nhưng chế độ nô lệ ở Xiêm không hà khắc
như chế độ nô lệ ở Hi Lạp - La mã cổ đại hay chế độ nô lệ da đen ở châu Mỹ
thời cận đại Nô lệ ở Xiêm chủ yếu làm các công việc phục dịch cho chủ, thânphận của họ bị cột chặt vào chủ, họ có thể được giải phóng nếu có tiền chuộchoặc được người khác chuộc Họ vốn là tù binh, do mua bán, con nợ, phạmnhân Do đó tính chất của chế độ nô lệ ở Xiêm là chế độ nô lệ gia trưởng Dùvậy sự tồn tại của chế độ nô lệ đến tận thế kỉ XIX là cản trở lớn cho sự pháttriển của xã hội Xiêm khi đó Sau này một trong những cải cách quan trọnghàng đầu của Chu-la-long-kon là xóa bỏ chế độ nô lệ Nhìn chung, đến thế kỷXIX phần lớn Kha đã trở thành nông dân lệ thuộc, tuy nhiên thân phận của họvẫn còn hết sức nặng nề
Từ nửa đầu thế kỷ XIX, ở Xiêm xuất hiện mầm mống kinh tế TBCN.Nhiều công trường thủ công ra đời Nó thuộc sở hữu tư nhân và nhà nước.Công nhân phần lớn là người Hoa Tuy nhiên, những mầm mống này khôngphát triển được vì bị xã hội phong kiến kìm hãm Sự phát triển của thủ côngnghiệp ở Xiêm bị cản trở rất nhiều vào chế độ tư hữu, tư nhân không đượcbảo vệ nên những thợ thủ công nghiệp lành nghề luôn bị phong kiến đe dọa,
bị nô lệ hóa Đây là một hiện tượng điển hình trong các nhà nước phong kiếnphương Đông
Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy mâu thuẫn cơ bản trong xã hộiXiêm là mâu thuẫn giữa bình dân và nô lệ với giai cấp bóc lột (quan lại,quý tộc)
Các vua Xiêm nhận thức rõ những mâu thuẫn này, vì vậy đã khôngngừng “cởi trói” cho sự ràng buộc các giai tầng để tạo ra một không khí tương
Trang 26đối bình đẳng trong xã hội Ngay khi lên cầm quyền, Rama I đã có khá nhiềuchính sách nhượng bộ nông dân, chẳng hạn sắc lệnh năm 1784 ban hành đãcho phép thường dân cũng có thể trở thành quan lại (đối lập với sắc lệnh 1740của vương triều trước đó) Năm 1785 nhà vua lại ban hành sắc lệnh giảmnghĩa vụ lao dịch của nông dân từ 6 tháng xuống còn 4 tháng rồi sau đó còn 3tháng Sắc lệnh năm 1783 đã cho phép các nông nô “Praixom” không hài lòngvới chủ của mình có thể trở thành nông dân của nhà nước “Prailuang” Thậmchí sắc lênh ban hành năm 1788 còn quy định các nô lệ vì nợ hoàn toàn đượcgiải phóng khỏi nghĩa vụ lao dịch của nhà nước Năm 1810 Rama II tuyên bố
ân xá cho toàn bộ nông dân, nông nô bỏ chaỵ của nhà nước với điều kiện họphải trở về địa phương của mình hoăc ở lại với người chủ mới do họ lựa chọn.Đặc biệt đáng chú ý là theo tính toán các loại thuế trực tiếp tính ra tiền củanhân dân trong những năm 20 của thế kỉ XIX chẳng những không tăng màcòn giảm so với những năm 80 của thế kỉ XVII Những chính sách của nhànước Xiêm rất mềm mỏng đã có tác dụng nhất định góp phần giải phóng sứcsản xuất và giảm bớt phần nào gánh nặng cho nhân dân
Bên cạnh đó, Rama I và những người kế tục rất chú ý tới việc khuyếnkhích người Hoa đến sinh sống và phát triển kinh tế Người Hoa ở Xiêm giaiđoạn này còn rất ít nhưng họ có vốn và kinh nghiệm buôn bán trong khi đóngười Xiêm chỉ quan tâm tới nông nghiệp Nhà nước ban hành những chínhsách ưu đãi khuyến khích thương nhân Hoa kiều buôn bán như: Trong khingười Thái bản xứ phải lao dịch mỗi năm 3 tháng và đóng thuế thân 50 bạt thìngười Hoa cứ 3 năm mới phải đóng cho nhà nước khoản thuế thân là 4 bạt[31, 55] Người Hoa được giao cho quản lý nội thương và ngoại thương: độcquyền thu thuế nắm khâu mua bán, lưu thông hàng hóa xuất nhập khẩu Vìnhững chính sách ưu đãi như vậy mà số lượng người Hoa tăng lên rõ rệt Nửacuối XVII trên toàn lãnh thổ Xiêm mới chỉ có khoảng 3000 người Hoa
Trang 27thường xuyên sinh sống thì đến gữa XIX, từ 1840- 1850 mỗi năm trung bình
có khoảng 15000 nhập cư vào Xiêm Số lượng vai trò, vị trí của người Hoatrong nền kinh tế của Xiêm rất to lớn và đó cũng là nhân tố cực kì quan trọng
mà các vương triều dòng Rama không thể không tính đến trong các chínhsách đối nội và đối ngoại của mình
1.2 Nhu cầu, tham vọng của các nước tư bản phương Tây trên con đường tiến lên chủ nghĩa Đế quốc
1.2.1 Tình hình chung
Vào thế kỉ XII - XIII, khi mô hình xã hội phong kiến vẫn tiếp tụcchuyển biến chậm chạp và lặng lẽ ở phương Đông, thì ở phương Tây, nó đãbộc lộ sự bế tắc cả về kinh tế, chính trị, xã hội Lãnh địa phong kiến - một nhànước thu nhỏ với nền sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc, đã bị những ngườithợ thủ công tài năng xuyên thủng bằng mũi dùi để không khí tự do từ bênngoài lọt vào lãnh địa Các thành thị trung cổ, hoặc do thợ thủ công lập ra hay
do các lãnh chúa phong kiến có tầm nhìn tạo dựng, lần lượt ra đời Nhữngthành thị này mặc dù vẫn tồn tại với tư cách là một bộ phận của chế độ xã hộiphong kiến, nhưng thực ra đó chính là những mầm mống đầu tiên của một môhình tổ chức kinh tế - văn hoá - xã hội hoàn toàn khác Từ thế kỉ XV đến thếkỉ XVI, thành thị Tây Âu thực sự trở thành cái nôi của một xã hội mới đangthai nghén trong lòng xã hội cũ Làn sóng của phong trào văn hoá phục hưng,cải cách tôn giáo và những phát kiến địa lí, mở đường cho ba cuộc cách mạnglớn từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII là cách mạng công nghiệp, cách mạng vănhoá tư tưởng (trào lưu Triết học Ánh sáng) và cách mạng xã hội, để xác lậpmột mô hình kinh tế - chính trị - xã hội mới tiên tiến, hiện đại và nhân bảnhơn Đi hết chặng đường của thế kỉ XVIII, chủ nghĩa tư bản tư bản đã vượtqua nền văn minh đầu tiên của loài người là văn minh nông nghiệp và đồngthời khai sinh ra một nền văn minh mới - văn minh công nghiệp Quá trình
Trang 28công nghiệp hoá trong các ngành sản xuất, cùng với sự ra đời của mô hìnhnhà nước dân chủ đại nghị và không khí tự do dân chủ, tạo nên những tiền đề
để chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu tiếp tục phát triển và đấu tranh với những tàn
dư của xã hội cũ chưa tự nguyện rút lui trong yên lặng khỏi vũ đài lịch sử thếkỉ XIX
Nửa đầu thế kỉ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa tiếp tục có nhữngbước tiến quan trọng Quá trình cơ khí hoá sản xuất công nghiệp ngày càngphổ biến, tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng Sản lượng của ngànhluyện kim và cơ khí phát triển rất nhanh để đáp ứng yêu cầu trang bị kĩ thuậtcho toàn bộ nền công nghiệp Mạng lưới giao thông vận tải, đăc biệt là giaothông đường sắt được mở rộng Chủ nghĩa tư bản vượt khỏi phạm vi kinh tếcông thương nghiệp và thâm nhập vào nông nghiệp Việc kinh doanh đất đaitheo lối tư bản chủ nghĩa với kĩ thuật mới được áp dụng ở nhiều nước Âu -
Mỹ làm tăng nhanh sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp
Tình hình trên đây, một mặt, vừa tạo ra một lực lượng sản xuất mới, mộtkhối lượng của cải vật chất to lớn hơn tất cả các thời kì trước cộng lại, đồngthời, cũng cho thấy nhiệm vụ của giai cấp tư sản lúc này không chỉ phải chiếnthắng hoàn toàn chế độ phong kiến trên bình diện thế giới bằng năng suất laođộng, mà còn phải giải quyết những yêu cầu cấp thiết của một mô hình kinh tế
- chính trị - xã hội mới đòi hỏi, trong đó đòi hỏi của sản xuất và thương mại làhàng đầu Những nhiệm vụ nặng nề đó của lịch sử không chỉ tác động mạnhđến diễn trình cách mạng châu Âu nửa cuối thế kỉ XIX mà còn có mối liên hệchặt chẽ đến phần còn lại của thế giới cận đại ở Á, Phi, Mỹ Latinh
Từ nửa cuối thế kỉ XIX, nhiều tiến bộ kĩ thuật mới được ứng dụng vàosản xuất công nghiệp như việc sử dụng lò Betxơme và lò Máctanh trong luyệnkim, những tuốc-bin chạy bằng sức nước, những tuốc-bin liên hợp với đinamôthành máy phát điện, động cơ nổ được sử dụng rộng rãi với công nghiệp khai
Trang 29thác dầu Những tiến bộ kĩ thuật trên đã thúc đẩy nền sản xuất tư bản chủnghĩa phát triển nhanh chóng vào những thập kỉ cuối của thế kỉ XIX và đưanền sản xuất tư bản chủ nghĩa bước sang một thời kì phát triển mới.
Sản xuất công nghiệp ngày càng có xu hướng tập trung hoá, chuyênmôn hoá và tiêu chuẩn hoá Từ năm 1871, tốc độ phát triển kinh tế tăng vượtcủa một số nước tư bản như Mỹ, Đức đã làm thay đổi trật tự kinh tế cũ Nềnkinh tế Anh tụt xuống vị trí thứ ba thế giới do bị Mỹ và Đức vượt qua Xuhướng tập trung hoá trong sản xuất dẫn đến sự hình thành các công ty độcquyền như cácten, xanhđica, tơrớt Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, ngânhàng từ vai trò trung gian chuyển sang can thiệp vào nội bộ các xí nghiệp, làmxuất hiện xu hướng dung hợp giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàngtạo thành tầng lớp tư bản tài chính có thế lực vô hạn độ Bọn trùm sỏ tài chính
ở các nước hết sức chú ý đến xuất khẩu, đầu tư sang các nước khác để thuđược những khoản lợi nhuận kếch xù Xu hướng xuất khẩu ra bên ngoài ngàycàng được các cường quốc tư bản Anh, Pháp, Mỹ, Đức và cả những nước tưbản chậm hoặc mới phát triển hơn như Nga, Áo - Hung, Nhật chú trọng.Thuộc địa lúc này không chỉ là nơi vơ vét nguyên vật liệu, bóc lột sức laođộng rẻ mạt, thị trường tiêu thụ hàng hoá mà còn là thị trường xuất khẩu tưbản Cuộc tranh giành thuộc địa giữa các cường quốc thực dân như Anh,Pháp, Nga vẫn tiếp diễn ở mức độ gay gắt hơn với sự tham gia của các nước
tư bản chủ nghĩa mới nổi như Mỹ, Đức, Nhật Chủ nghĩa tư bản đã chuyển từgiai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền - chủnghĩa đế quốc
Những chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trong lĩnh vực sản xuất củachủ nghĩa tư bản tạo ra thế và lực mới cho giai cấp tư sản trong cuộc đấutranh chống chế độ phong kiến ở Âu - Mỹ để giành quyền lãnh đạo về chínhtrị xã hội Thành công của cải cách nông nô ở Nga (1861), việc Mỹ kết thúc
Trang 30cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai (1861 - 1865) và tuyên bố xoá bỏ chế độ nô
lệ, việc hai nước Ý và Đức hoàn thành thống nhất đất nước một cách ngoạnmục song song với nền cộng hoà thứ ba ra đời ở Pháp, cũng như sự phát triểnthần kì của Nhật Bản những thập kỉ sau cuộc “cách mạng Minh Trị”, đánhdấu sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản và đưa chủ nghĩa tư bản trở thành một
hệ thống thế giới Điều quan trọng là thắng lợi đó đã tạo ra một hình thái kinh
tế xã hội tiến bộ hơn hẳn so với xã hội cũ Đó là một nền văn minh mới tronglịch sử loài người Máy móc đã thay thế cho sức lao động cơ bắp của conngười, chế độ dân chủ đại nghị với mô hình nhà nước pháp quyền thay thếcho nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền, quyền con người và các giá trịnhân văn tiến bộ như tự do bình đẳng, bác ái được đề cao Thắng lợi đó củachủ nghĩa tư bản tạo tiền đề để tiếp tục phát triển mạnh mẽ sức sản xuất nhằmthoả mãn tối đa nhu cầu lợi nhuận mà giai cấp tư sản luôn khao khát Sự pháttriển của sản xuất tất yếu dẫn đến nhu cầu thị trường về nguyên vật liệu, sứclao động và xuất khẩu tư bản tăng vọt Điều này dẫn đến cuộc tranh chấp vềthị trường trên thế giới giữa các nước tư bản chủ nghĩa càng trở nên quyết liệthơn Các nước tư bản chủ nghĩa tìm mọi cách chiếm đoạt bằng được thịtrường trên thế giới mà đặc biệt ở Á, Phi, Mỹ Latinh dẫn đến các cuộc chiếntranh xâm lược và tranh giành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân ngày càng giatăng Quá trình ảnh hưởng, lan truyền của nền văn minh phương Tây sangphương Đông cũng được xúc tiến qua chu trình tiếp xúc vừa tự nguyện, vừacưỡng bức Chủ nghĩa tư bản lúc này gắn liền với việc ăn cướp, bóc lột và nôdịch các dân tộc phương Đông nhưng đồng thời lại gợi mở cho các dân tộcphương Đông về cội nguồn và căn nguyên của sức mạnh “Tây di” cần học hỏi
để đánh bại kẻ hai mặt là chủ nghĩa thực dân hiện đại
Sự ra đời của chủ nghĩa thực dân hiện đại gắn liền với sự ra đời và bànhtrướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây Bởi vậy, nó mang trong mình bản
Trang 31chất của người “mẹ đẻ” tư bản chủ nghĩa là làm tất cả những gì có thể đểkhông ngừng tăng giá trị thặng dư và mức lợi nhuận tối đa cho nhà tư sản,trên cơ sở của nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng và phát triển Sự pháttriển của nền kinh tế thị trường làm cho nhu cầu về nguồn nguyên vật liệu,nhân công và thị trường tiêu thụ hàng hoá ngày càng gia tăng Đến một mức
độ nào đó, nhu cầu này biến thành yêu cầu chiếm đoạt, sở hữu và chủ nghĩathực dân hiện đại xuất hiện để hiện thực hoá nhu cầu của nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa Chủ nghĩa thực dân chính là phương thức mà giai cấp tư sản xâmlấn hoàn cầu và cũng là phương cách để các cường quốc tư bản cạnh tranhhòng phân chia quyền lợi và khu vực thống trị trên thế giới trong suốt mộtthời gian dài
Sau bước chân của các nhà phát kiến địa lí là sự khởi đầu quá trình xâmlược của chủ nghĩa tư bản phương Tây ở Á, Phi, Mỹ Latinh Mặc dù còn có ýkiến khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều lấy mốc năm 1511, người BồĐào Nha do Abukéc thống lĩnh 1400 quân đánh chiếm Malắcca là cột mốc
mở đầu cho quá trình thực dân hoá ở Á, Phi và Mỹ Latinh Quá trình ấy gắnliền với giai đoạn tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa Nó được đẩy mạnhtrong giai đoạn chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tưbản độc quyền và kết thúc vào đầu thế kỉ XX
Ở châu Á, Anh chiếm Mã lai, Ấn Độ, Miến Điện; Pháp chiếm ĐôngDương; Bồ Đào Nha chiếm Đông Timo và Macao; Tây Ban Nha chiếmPhilíppin; Hà Lan chiếm Inđônêxia; Thái lan bị cả Anh và Pháp đe doạ.Trung Quốc sau chiến tranh thuốc phiện (1840 - 1842) buộc phải kí điều ướcNam Kinh với thực dân Anh, mở đầu quá trình các nước đế quốc xâu xé “cáibánh ngọt khổng lồ” Trung Quốc và loại bỏ nền độc lập của quốc gia phongkiến này
Trang 32Ở châu Phi, từ những năm 50 đến những năm 70, 80 của thế kỉ XIX,sau khi kênh đào Xuyê được hoàn thành, các nước tư bản phương Tây đuatranh quyết liệt để xâu xé châu lục đen Chỉ đến đầu thế kỉ XX, việc phân chiathuộc địa ở châu Phi giữa Anh, Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nhamới hoàn thành.
Tại khu vực Mỹ Latinh, khi các bãi cát vàng ven biển Trung Mỹ còn indấu chân của đoàn thám hiểm của C Côlông (1492) thì các đoàn chiến hạmvới những nòng đại bác đen ngòm của thực dân phương Tây đã xuất hiện Chỉtrong vòng hai thế kỉ XVI - XVII, đa số các nước Mỹ Latinh đã biến thànhthuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
Như vậy, với thời gian kéo dài gần 500 năm, chủ nghĩa tư bản phươngTây bằng nhiều phương cách đã dần dần biến các vùng đất rộng lớn, tàinguyên phong phú, nhân lực dồi dào ở Á, Phi, Mỹ Latinh thành thuộc địa, nửathuộc địa hay lệ thuộc vào mình
Tóm lại, sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản Âu - Mỹ mở ranhiều cơ hội mới, thách thức và nguy cơ mới cho các nước phương Đông nóichung và khu vực Đông Á nói riêng để hội nhập và phát triển Đó là nguồn trithức khổng lồ về khoa học kĩ thuật, những giá trị văn hoá văn minh bất hủtrong lịch sử nhân loại như tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, là con đườngphát triển và mô hình phát triển cận đại hoá với nhiều ưu việt, là phươngpháp, cách thức và nguồn lực phát triển để hợp lưu và tiến cùng thời đại.Nguy cơ lớn nhất mà chủ nghĩa tư bản mang lại đối với phương Đông là chủnghĩa thực dân Trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của mình, chưa bao giờ cácquốc gia này phải đối đầu với một kẻ thù mới lạ, có sức mạnh hơn hẳn về vậtchất, khoa học kĩ thuật, vũ khí và phương tiện chiến tranh như chủ nghĩa thựcdân phương Tây Những thời cơ, nguy cơ và thách thức đó đối với các nướcĐông Á nửa đầu thế kỉ XIX là tương đồng Tuy nhiên, muốn tận dụng thời cơ,
Trang 33hoá giải được nguy cơ, chuyển nguy thành an, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
và điều kiện khác nhau
1.2.2 Nhu cầu tham vọng của Anh, Pháp, và các đế quốc khác
Nghiên cứu về các nước TBCN, bên cạnh việc thấy được những đặcđiểm chung, Lênin cũng chỉ ra những đặc điểm riêng của từng đế quốc Đặcđiểm riêng có được là do điều kiện lịch sử và kinh tế của mỗi nước Mỹ là đếquốc của các tơ rơt với việc hình thành các tơ rớt khổng lồ của các tập đoàntài chính giàu sụ Anh là đế quốc thực dân do Anh có nhiều hệ thống thuộcđịa nhất Pháp là đế quốc cho vay nặng lãi vì đây là hình thức kinh doanh chủyếu của tư sản Pháp Đức là đế quốc tư sản Joongke với sự cấu kết giữa Quítộc với tư sản Nga và Nhật là đế quốc phong kiến quân sự với những tàn dưcủa chế độ phong kiến và quân phiệt Mỗi đặc điểm như vậy quy định mộtcách thức khác nhau của các đế quốc này trong quá trình phát triển cũng nhưtìm kiếm thuộc địa
1.2.2.1 Đế quốc Anh
Tới đầu thập kỷ 70, về công nghiệp Anh vẫn đứng đầu thế giới Về sau,Anh dần dần nhường địa vị đứng đầu công nghiệp cho Mỹ và Đức Cuối thế kỷXIX, Mỹ vượt Anh ở tất cả các ngành quan trọng (thép, gang, tiêu thụ bông,than) Đức vượt Anh về gang và thép Độc quyền về công nghiệp của Anh bịquá trình công nghiệp hoá khẩn trương của Mỹ, Đức, Nga, Nhật phá vỡ
Hàng hoá của Anh bị cạnh tranh gay gắt bởi hàng của Mỹ, Đức nhất làsắt, thép, gang, sau đó là hàng dệt, than, tàu biển
Tuy nhiên về tài chính, xuất khẩu tư bản, thương mại, hải quân vàthuộc địa, Anh vẫn đứng đầu thế giới Luân đôn vẫn là trung tâm tài chính,cảng, kho hàng lớn nhất thế giới Năm 1880, tàu buôn Anh chiếm 48% trọngtải thế giới Hải quân Anh vẫn làm bá chủ trên mặt biển Năm 1899, số lãi doxuất khẩu tư bản của Anh là 90-100 triệu livrơ stéclinh, trong khi số lãi do
Trang 34ngoại thương mang lại chỉ có 18 triệu Đến 1876, diện tích thuộc địa Anh là22,5 triệu km2 với 252 triệu người.
Cuối thế kỷ XIX, nền nông nghiệp Anh bị khủng hoảng nghiêm trọng
do nông sản Mỹ tràn vào Anh chỉ còn tự túc được 1/3 lương thực Tình trạngnông dân phá sản ngày càng tăng
Đầu thế kỷ XX, nền công nghiệp Anh tiếp tục phát triển, nhưng tốc độcao nhất là những ngành công nghiệp mới như hoá chất, điện lực và cơ khí.Tuy vậy Anh vẫn đứng sau Mỹ, Đức về những ngành quan trọng nhất Trongnhững năm từ 1900-1913, tỷ lệ của nền kinh tế Anh trong nền kinh tế thế giớigiảm rõ rệt: than từ 29,7% - 21,8%, gang 22,1% - 13,2% ; chế biến bông từ28,5% - 23,2% Nguyên nhân của tình trạng này là do Anh quá tham trongxuất khẩu tư bản Năm 1900, Anh đầu tư ra ngoài 8,7 tỷ livrơ stéclinh Năm
1912, lợi nhuận do xuất khẩu tư bản là 176 triệu livrơ stéclinh (trong lúc lợinhuận ngoại thương là 33 triệu, đứng đầu thế giới) Mặt khác, nền côngnghiệp Anh với những máy móc cũ kỹ nên năng suất thấp
Do thực hiện chính sách tự do thương mại nên trong công nghiệp cáccông ty độc quyền của Anh yếu Nhưng trong ngành ngân hàng quá trình hìnhthành các tổ chức độc quyền diễn ra tốc độ nhanh Trước đại chiến I, 12 ngânhàng mà nòng cốt là 5 ngân hàng lớn đã nắm 70% tư bản toàn quốc và chiếmđịa vị chỉ huy về kinh tế và tài chính của nước Anh
Chế độ chính trị của Anh về cơ bản được hình thành từ thế kỷ XVII XVIII và đến thế kỷ XIX không có sự thay đổi lớn Đó là chế độ quân chủ lập
-hiến, đứng đầu là vua Anh, nhưng “vua chỉ ngự trị mà không cai trị”.
Từ cuối XIX, nước Anh đã ráo riết đẩy mạnh những cuộc chiến tranhxâm lược thuộc địa
Trước năm 1870, với hệ thống thuộc địa ở Ấn Độ, Ôtraylia, Canađa,Xingapo, Cáp (Nam Phi) và nhiều nơi khác, Anh đứng đầu thế giới về hệ
Trang 35thống thuộc địa Trong 30 năm cuối thế kỷ XIX, để mở rộng thị trường chogiai cấp tư sản, tiếng súng xâm lược của đế quốc Anh không lúc nào ngừng.
Nước Anh củng cố nền thống trị ở ấn Độ và tiến hành xâm lược racác vùng xung quanh để vừa mở rộng lãnh thổ đế quốc, vừa bảo vệ biên giới
Ấn Độ, vừa ngăn cản sự bành trướng của các nước Pháp, Nga Trong nhữngnăm 70-80, Anh tiến hành xâm lược các tiểu quốc vùng Tây Mã Lai và đếnnăm1890, Mã Lai đã trở thành thuộc địa của Anh Song song với cuộc chiếntranh này, năm 1885, Anh tiến hành xâm lược Miến Điện lần thứ ba và biếnnước này thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh
Từ năm 1840, Anh là nước khởi xướng công cuộc chinh phục TrungQuốc Sau khi giành được nhiều quyền lợi qua hai cuộc chiến tranh thuốcphiện, Anh đã chiếm Uy Hải Vệ vào năm 1898 và tham gia đàn áp phong tràoNghĩa hoà đoàn vào năm 1900
Nhằm tranh chấp với Nga ở Trung Á, năm 1878, Anh tấn công vàoApganixtan, biến nước này thành một nước nửa thuộc địa Anh cũng đặt áchbảo hộ của mình ở Bắc Calimantan và chiếm miền Đông Nam Tân Ghinê
Mùa thu năm 1875, Anh mua cổ phần kênh đào Xuyê để khống chế conđường huyết mạch từ châu Âu sang châu Á và châu Đại dương (Anh đã cướptay trên của Pháp) Đến 1882, Anh xâm lược Ai Cập và biến đất nước nàythành thuộc địa Sau đó, chúng tìm mọi cách chiếm Đông Xuđăng
Anh tìm cách can thiệp vào cuộc chiến tranh Nga - Thổ (1877-78), sau
đó bắt Thổ Nhĩ Kỳ nhường Síp - cửa ngõ Địa Trung Hải cho mình Cuốinhững năm 70, Anh tiến hành chiến tranh xâm lược Nam Phi, nhưng đến năm
1881, bị người Bôơ và Dulu đánh bại Trong những năm 80-90, Anh hoànthành chinh phục Nigiê ria, Kênia, Xômani, Tandania, Uganđa, Dandiba
Sang đầu thế kỉ XX, Anh có chỗ dựa chắc chắn là hệ thống thuộc địa
rộng bao la, được xem là “mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh”.
Trang 36Trong hệ thống thuộc địa Anh không chỉ có những xứ bảo hộ mà còn có xứ tựtrị Từ 1901 đến 1910, các thuộc địa di dân lần lượt được tự trị: LB Ôxtrâylia(1901), Niu Dilân (1907), Liên bang Nam Phi (1910) Thuộc địa Anh trảirộng trên 5 lục địa, ở châu Âu: Bồ Đào Nha là xứ bảo hộ của Anh, Airơlen làthuộc địa của Anh Trong thời gian 1899-1902, chiến tranh Anh - Bôơ lạibùng nổ, Anh giành thắng lợi và hoàn thành xâm chiếm Nam Phi Năm1906,Iran trở thành nước nửa thuộc địa của Anh.
Ở Mỹ latinh, ảnh hưởng của Anh không đáng kể
Đến 1914, diện tích các thuộc địa Anh lên tới 33,5 triệu km2 với số dân
là 393,3 triệu người (trong lúc dân nước Anh là 46,5 triệu, có nghĩa cứ 1người Anh có 8,5 người thuộc địa) Bởi vậy, Lênin cho rằng Đế quốc Anh làchủ nghĩa đế quốc thực dân
1.2.2.2 Đế quốc Pháp
Đến cuối thế kỷ XIX, Pháp từ vị trí thứ 2 tụt xuống thứ 4 sau Mỹ,Đức, Anh Nhịp độ phát triển kinh tế của Pháp chậm hơn nhiều so với cácnước khác
Trong nền công nghiệp Pháp, xí nghiệp nhỏ và vừa vẫn chiếm tỷ lệ cao.Năm 1896, trong tổng số 3,3 triệu công nhân, thì 1 triệu làm việc trong các xínghiệp có 10-100 công nhân, 1,3 triệu làm việc ở xí nghiệp có 1-10 công nhân(như vậy có tới 2/3 số công nhân làm việc trong các xí nghiệp nhỏ)
Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng của nước Pháp Năm
1896, nông dân vẫn chiếm 60,9% dân số nhưng do tình trạng đất đai manhmún làm cho kỹ thuật canh tác của nền nông nghiệp Pháp kém xa nhiềunước khác
Từ 1895 đến 1914, kinh tế Pháp bước vào giai đoạn hưng thịnh Một sốngành đuổi kịp tốc độ của Mỹ, Anh (như quặng sắt, chế tạo ô tô)
Trang 37Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Pháp diễn ra quá trình tập trung sảnxuất hình thành các công ty tư bản độc quyền Ngành luyện kim và khai mỏtập trung trong tay 2 công ty Cômitê đơ Phoocgiơ và Sneđe Crơdô.
Điểm nổi bật của nền kinh tế Pháp là sự tập trung cao của tư bản ngânhàng Năm 1914, trong số 11 tỷ fran tồn khoản thì 5 ngân hàng lớn nắm 8 tỷ(tín dụng Liông, sở kết toán quốc gia, ngân hàng Pháp và Hà Lan, tổng công
ty và ngân hàng Pháp) Phần lớn số tư bản được đưa ra nước ngoài
Trong 30 năm cuối của thế kỷ XIX, Pháp tăng cường chiến tranh xâmlược Năm 1881, Pháp xâm lược Tuynidi; năm 1883, hoàn thành xâm lượcViệt Nam và Cămpuchia; năm 1893, chiếm Lào, hoàn thành chiến tranh xâmlược 3 nước Đông Dương, Pháp còn tiến hành xâm lược Cônggô, Xuđăng,Mađagatxca
Ở châu Âu và châu Phi, vấn đề nổi lên là quan hệ giữa Pháp và Đức.Sau chiến tranh Pháp-Phổ, quan hệ hai nước vẫn căng thẳng Đường lối của
Pháp là tránh va chạm với Đức “Nhớ mối thù Đức nhưng đừng nhắc đến” (lời
Gămbétta - Thủ tướng Pháp), tìm cách liên kết với Nga, Anh để lập đồngminh chống Đức Trong những năm 1891-1893, Pháp - Nga trở thành đồngminh, chấm dứt tình trạng 20 năm Pháp bị cô lập ở châu Âu
Tháng 4/1904, Pháp dàn xếp mâu thuẫn với Anh, hai bên ký " Thoả ước
tâm đắc " Nhờ vậy trong cuộc xung đột Marốc (lần 1: 1905, lần 2: 1911),
Pháp đã gạt Đức ra khỏi Marốc và lập chế độ bảo hộ ở nước này (5/1912)
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trước khi thực dân phương Tây xuất hiện, xâm nhập, các nước ở ĐôngNam Á đều là những nước có chế độ quân chủ phong kiến Nền kinh tế nôngnghiệp mang tính tự cung tự cấp, lạc hậu Xã hội đẳng cấp tồn tại và duy trìkhá lâu đời trong đó trí thức, quan lại (sĩ) và nông dân được xếp ở những vị tríhàng đầu còn thương nhân và thợ thủ công bị coi nhẹ
Thái Lan, Đến nửa đầu thế kỉ XIX, vẫn là nền kinh tế nông nghiệpmang nặng tính tự nhiên tự cung tự cấp nhưng đã xuất hiện những mầm mốngkinh tế tư bản chủ nghĩa Nhiều công trường thủ công của nhà nước và tưnhân được xây dựng Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩamới nẩy sinh còn khá non nớt bị các thiết chế, quan hệ phong kiến trói buộc
và kìm hãm, đặc biệt là chế độ sở hữu đất đai, sự lệ thuộc về thân phận củangười nông dân vào lãnh chúa, chế độ nô lệ Dù vẫn là nước quân chủ trungương tập quyền nhưng bộ máy nhà nước có sự ổn định và hợp lòng dân, vớinhững mối liên hệ thân tộc chặt chẽ, vai trò và vị trí của người đứng đầu luônđược đề cao một cách tuyệt đối
Trong hoàn cảnh lịch sử nửa đầu thế kỉ XIX đó, sự phát triển của chủnghĩa tư bản Âu - Mỹ không chỉ làm cho nhu cầu về thị trường thuộc địa củachủ nghĩa tư bản tăng vọt, mà còn thúc đẩy sự cạnh tranh giành giật thuộc địagiữa các cường quốc tư bản ở các khu vực trên thế giới, trong đó có khu vựcĐông Á Các nước phương Tây đã không ngần ngại gõ cửa và đe doạ sử dụngvũ lực, thực hiện chiến tranh xâm lược hòng giành ưu quyền thương mại vàcướp đoạt nhanh chóng thuộc địa ở Đông Nam Á, thách thức đặt ra cho cảkhu vực nói chung và Thái Lan nói riêng
Trang 39Chương 2
CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY
ĐỐI VỚI THÁI LAN TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX
2.1 Quá trình xâm nhập và chính sách của các nước Anh, Pháp đối với Thái Lan
2.1.1 Quá trình xâm nhập và chính sách của Anh
Anh không phải là nước đầu tiên đặt chân lên vương quốc Xiêm, nhưng
sự có mặt của Anh đã để lại những dấu ấn quan trọng trong tiến trình pháttriển của đất nước này
Trong lúc quan hệ Hà Lan với Thái Lan đang diễn ra hết sức thuận lợicho cả hai bên thì người Anh xuất hiện Năm 1611, tàu Globe của công tyĐông ấn Anh đã cập bến ở vịnh Thái Lan, mở đầu cho quá trình chinh phụcthị trường Đông Nam Á của công ty Đông ấn Anh nói riêng và thương nhânAnh nói chung cũng như mở đầu cho quá trình xâm nhập của thực dân Anhvào Đông Nam Á
Tiếp theo hoạt động của tàu Globe ở vịnh Siam vào 1612, chính phủAnh cử đại sứ Adam Dentern đến thủ đô Ayuthaya của Thái Lan để thiết lậplại quan hệ ngoại giao Khi đến Ayuthaya, đại sứ Anh đã trao thư của vuaAnh Jemes I gửi cho vua Thái Lan lúc đó là Ekathotsarot, trong thư vua Anhgửi lời chúc mừng nhà vua Thái Lan và bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệthương mại và hữu nghị với Thái Lan Cũng như người Hà Lan, người Anhđược đón tiếp nồng hậu ở Thái Lan Đại sứ Anh đầu tiên đến Thái Lan đượcđón tiếp ân cần, niềm nở đã có thể mở ngay những thương điếm của mình tạiPatan Sau đó thương điếm Anh được thành lập ở Ayuthaya và Pattanni bấtchấp sự chống đối của người Hà Lan, người Anh được quyền buôn bán tự do
ở Thái Lan và nhận được 1 tòa nhà ở Ayuthaya làm trụ sở thương điếm Đến
Trang 401613, thương nhân Anh bắt đầu đẩy mạnh quá trình xâm nhập vào thị trườngThái Lan Họ mua vàng, ngọc đỏ, các loại dầu thơm, da hươu để xuất khẩusang thị trường các khu vực khác Cũng trong năm này, công ty Đông Ấn Độcủa Anh cũng đã thiết lập được cơ quan thương mại của mình tại kinh đôXiêm Trong thời gian này người Anh còn thâm nhập vào cả Chiangmai
Dù đã được thành lập từ năm 1600, công ty Đông Ấn Độ của Anh vẫnchưa đủ sức cạnh tranh với các thương nhân Hà Lan, Bồ Đào Nha và Nhật Bảntrong cuộc chạy đua ở thị trường Xiêm Năm 1623 công ty Đông Ấn Độ củaAnh buộc phải đóng cửa các thương điếm của mình ở Xiêm Hà Lan đã loạiAnh ra khỏi cuộc đấu tranh giành thị trường Xiêm trong 40 năm tiếp theo
Sau gần 4 thập kỉ mất chỗ đứng ở Xiêm, Anh tìm cách giành lại thịtrường béo bở này Bằng những cố gắng lớn, năm 1661 các thương điếm củaAnh mới được phục hồi ở Autthia Thời điểm người Anh quay lại Thái Lankhôi phục ảnh hưởng của mình ở đây cũng chính là lúc quan hệ Thái Lan-HàLan đang xấu đi Người Hà Lan đã giành được vai trò độc quyền ngoạithương ở Thái Lan và ngày càng lấn tới uy hiếp, nhất là đã sử dụng chínhsách “ngoại giao pháo hạm” để gây sức ép với chính quyền Xiêm Người Tháiphải nhượng bộ theo yêu cầu có lợi của họ Vì thế, sự quay lại của người Anhđược người Thái ủng hộ, họ cho rằng đây là cơ hội có thể phá vỡ thế độcquyền thương mại của người Hà Lan ở thị trường Thái Lan Người Thái đãlàm những gì có thể để khuyến khích sự buôn bán của người Anh Na rai đãcấp đất cho người Anh mở thương điếm, miễn thuế và xóa nợ cho công tyĐông Ấn Độ của Anh số tiền rất lớn là 120.000 bath, họ giao lại cho ngườiAnh những trụ sở thương điếm cũ
Tuy có nhiều thuận lợi ban đầu, nhưng tình hình không mấy khả quan,Anh không đạt được nhiều kết quả như mong muốn cho đến năm 1674 Hoạtđộng thương mại của Anh vẫn tiếp tục được chính quyền Ayuthaya khuyến