1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách cai trị của vương triều hồi giáo đêli trong lịch sử phong kiến ấn độ

62 9,6K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách cai trị của vương triều hồi giáo Đêli trong lịch sử phong kiến ấn Độ
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 231 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự phát triển của lịch sử ấn Độ với dòng sông Hằng và rặngHymalaya đã tạo nên nét đẹp không chỉ về văn hoá mà nó, còn tạo nên một đấtnớc ấn Độ hùng vĩ, huyền bí và đầy quến rũ, lịc

Trang 1

Mục lục

Trang

Chơng I ấn Độ đất nớc con ngời và nền văn hoá truyền thống 9

1.1 Đất nớc và con ngời 1.2 Nền văn hoá truyền thống 20

Chơng II Chính sách cai trị của vơng triều Hồi giáo Đê Li trong lịch

sử phong kiến ấn Độ 29

2.1.Quá trình hình thành đạo Hồi 29

2.2.Các đời xun tan của vơng triều Hồi giáo Đê Li ở ấn Độ 35

2.3.Chính sách cai trị của vơng triều Hồi giáo Đê Li trong lịch sử phong kiến ấn Độ 39

CHƯƠNG III Thay phần kết luận Một số nhận xét về vai trò vị trí của vơng triều Hồi giáo Đê Li trong lịch sử phong kiến ấn Độ 55

3.1 Vai trò 55

3.2 Vị trí 68

3.3 Kết luận chung 73

Phụ lục 76

Tài liệu tham khảo 77

Trang 2

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài :

Đất nớc ấn Độ bao la, hùng vĩ, có một nền văn hoá lâu đời với nền vănminh sông ấn nổi tiếng thế giới ấn Độ không phải chỉ đợc thế giới biết đến nhmột trong những quốc gia rộng lớn và đông dân nhất trên hành tinh mà còn đợcbiết đến nh một quốc gia có nền văn minh đồ sộ và cổ kính nhất trong lịch sửnhân loại ấn Độ cũng là một trong những quốc gia có vai trò quan trọng và cónhững đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giữ gìn vàbảo vệ hoà bình trên thế giới cũng nh sự ổn định và phát triển của khu vực và cónhững đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giữ gìn vàbảo vệ hoà bình trên thế giới cũng nh sự ổn định và phát triển của khu vực Châu

á Thái Bình Dơng

Trong sự phát triển của lịch sử ấn Độ với dòng sông Hằng và rặngHymalaya đã tạo nên nét đẹp không chỉ về văn hoá mà nó, còn tạo nên một đấtnớc ấn Độ hùng vĩ, huyền bí và đầy quến rũ, lịch sử ấn Độ cũng đi vào lòng ng-

ời, vào đờng gân thớ thịt của lịch sử các nớc đặc biệt là các nớc Đông Nam á.Văn hoá tạo nên vẽ đẹp riêng mang đậm tính dân tộc, một vẻ đẹp kỳ diệu củavăn hoá truyền thống

Bớc sang thời kỳ cận đại cũng nh Việt Nam, nhân dân ấn Độ lại vơn lêntiến hành các cuộc đấu tranh bền bỉ qua mấy thế kỷ, lúc âm thầm khi sôi nổi.Nhằm thoát khỏi nanh vuốt sắc nhọn của bầy thú dữ thực dân, bảo vệ nền văn hoátruyền thống và độc lập dân tộc Sức sống đó đã có sự tác động mạnh mẽ đến cácdân tộc khác trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Ngày nay vợt qua mọi khó khăn thử thách, ấn độ đã vơn lên giành thắnglợi trên mọi lĩnh vực nh chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế, khoa học kỹ thuật ấn

độ là nớc trung lập và là thành viên của “ Phong trào không liên kết ’’ đặc biệttrong đấu tranh vì hoà bình và an ninh thế giới, ấn độ luôn là nớc tiên phong đi

đầu Từ quá khứ đến hiện tại ấn độ luôn giữ một vị trí quan trọng trong tiến trìnhphát triển của lịch sử nhân loại, chính vì thế ấn độ là một kho tàng bí ẩn, một đềtài vô cùng lý thú, hấp dẫn đã và đang đợc nhiều nhà khoa học đi sâu tìm hiểukhám phá và nghiên cứu

Riêng lịch sử phong kiến ấn độ là một thời kì khá đặc biệt, trong đó cónhiều vấn đề đòi hỏi phải tìm tòi nghiên cứu Thời kỳ lịch sử đó đợc bắt đầu thế

Trang 3

kỷ IV đến thế kỷ VII là giai đoạn hình thành và bắt đầu cùng với chế độ phongkiến của hai triều đại Gúpta và Hácsa Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII là thời kỳphong kiến phân tán Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI là thời kỳ ấn độ thuộc vơngtriều Hồi giáo Đêli Thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIIlà thời kỳ vơng triều Mô Gôn Vơng triều Hồi giáo ĐêLi là một vơng triều ngoại tộc nhng đã để lại dấu

ấn sâu đậm có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử phongkiến ấn độ Thông qua việc tìm hiểu “Chính sách cai trị của vơng triều Hồi giáo

Đêli ở ấn độ” chúng ta thấy đợc những thành tựu trên nhiều phơng diện kinh tế,xã hội, văn hoá, nghệ thuật Mặt khác là một sinh viên nghành sử, tìm hiểu vànghiên cứu đề tài này có tác dụng thiết thực trong công tác giảng dạy sau này

Có thể nói rằng với một truyền thống hoà bình hữu nghị, hợp tác bền lâu,nhân dân ấn độ có những ngời bạn chân thành khắp năm châu bốn biển Giữanhân dân ấn độ và nhân dân việt nam, mối quan hệ ấy lại càng bền chặt Nhìnnhận về đất nớc ấn độ qua một giai đoạn lịch sử chúng tôi không có tham vọngtìm ra những điều mới mang tính phát hiện, mà chỉ nhằm nâng cao nhận thức củabản thân với hi vọng “góp phần vào việc nuôi dỡng và làm tơi tốt những bông hoacủa cây hữu nghị đó mãi mãi xanh ”

Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài “ Chính sách cai trị của vơng triều Hồigiáo ĐêLi ở ấn Độ” để làm khóa luận tốt nghiệp cho mình Do hiểu biết còn hạnchế nên đề tài của tôi chắc hẳn còn nhiều thiếu sót, hạn chế, rất mong đợc sự giúp

đỡ của quý Thầy, Cô Giáo và các bạn trong ngoài khoa lịch sử

Trong quá trình tiến hành đề tài, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của Thầygiáo Hoàng Đăng Long, đợc thầy chỉ bảo, hớng dẫn tôi hoàn thành đợc công trìnhkhoa học đầu tiên của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Lịch sử ấn Độ là cả một kho lớn đề tài đã đợc nhiều nhà khoa học nghiêncứu, khám phá Riêng lịch sử vơng triều Hồi giáoĐê Li cũng chứa đựng trong đónhiều vấn đề khoa học cần đợc tìm hiểu, khám phá Đề tài “ Chính sách cai trịcủa vơng triều Hồi giáo ĐêLi trong lịch sử phong kiến ấn Độ ” chúng tôi chọn đãnhiều nhà nghiên cứu nớc ngoài, trong nớc đề cập dới nhiều góc độ, khía cạnhkhác nhau ở Việt Nam, những công trình của các nhà nghiên cứu mà chúng tôi

đợc biết cũng đã thể hiện tinh thần đó

Trang 4

Trong cuốn “ Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại ” do Lơng Ninh (chủbiên) đã trình bày một cách khái quát về nội dung vơng triều ĐêLi và sự pháttriển của vơng triều này trong lịch sử ấn Độ

Trong cuốn “ấn Độ” của Nguyễn Thừa Hỷ, đề cập chi tiết về sự ra đời, tồn tạiphát triển và suy vong của vơng triều Ngoài ra, trong cuốn sách này NguyễnThừa Hỷ đã trình bày khá chi tiết tất cả những thành tựu của lịch sử ấn Độ từ xa

xa cho đến nay

Trong cuốn “ấn Độ xa và nay” Cao Xuân Phổ, Trần Thị Lý (chủ biên) cũng

đã dành một phần lớn viết về vơng triều ĐêLi, về quá trình xâm nhập của ngờiHồi giáo và sự ra đời của vơng triều ĐêLi

Trong cuốn “ lịch sử ấn Độ ” do Vũ Dơng Ninh ( chủ biên ) cũng đề cập chitiết về, quá trình ra đời, phát triển và suy vong, cùng nhiều thành tựu văn hoá tiêubiểu mà vơng triều Hồi giáo ĐêLi đạt đợc

Trong cuốn “ ấn Độ hôm qua và hôm nay ” Đinh Trung Kiên đề cập quátrình ra đời, tồn tại và diệt vong, chính sách thống trị tàn bạo của các Xuntan đã

đẩy ấn Độ vào tình trạng suy tàn, đất nớc bị chia rẽ về chính trị và tôn giáo đểcuối cùng vơng triều Hồi giáo ĐêLi bị diệt vong

Chọn “ Chính sách cai trị của vơng triều Hồi giáo ĐêLi ở ấn Độ ” làm đềtài khoá luận tốt nghiệp Tôi quan niệm nh là bớc đầu tập làm quen tìm hiểu mộtvấn đề khoa học đợc hớng dẫn, tích luỹ thêm vào hành trang phục vụ sự nghiệpgiáo dục nay mai Hy vọng tiếp thêm sức mình vào biển lớn mênh mông tri thứckhoa học nghiên cứu về lịch sử ấn độ

3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu:

Đối tợng nghiên cứu của đề tài thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, một vấn đềlịch sử nằm trong chặng lịch sử phong kiến ấn độ Đề tài đề cập đến quá trìnhhình thành vơng triều, chính sách cai trị của nó qua các triều đại, qua đó rút ramột số nhận xét nhằm đánh giá vị trí, vai trò của vơng triều trong quá trình lịch

sử phong kiến ở ấn độ Vơng triều Hồi giáo Đêli từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu:

Nguồn tài liệu sử dụng chủ yếu trong khoá luận tốt nghiệp này là các giáotrình đại học về lịch sử, các cuốn sách chuyên khảo, tạp chí, tranh ảnh minh hoạ

Trang 5

Phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong đề tài này là phơng pháp lôgiclịch sử kết hợp chặt chẽ với phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phơng phápthống kê các nguồn t liệu gốc và tài liệu có liên quan nhằm phục vụ cho côngtrình nghiên cứu.

5 Bố cục của khoá luận:

Đề tài đợc gói gọn trong 89 trang, chia làm ba phần đợc bố cục nh sau:

phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

5 Bố cục của khoá luận

phần Nội dung

chơng 1: ấn độ đất nớc, con ngời và nền văn hoá

truyền thống1.1 Đất nớc và con ngời

2.1 Quá trình hình thành Đạo Hồi

2.1.1 Sự phát triển của Đạo Hồi ( XI- XIII )

2.1.2 Cuộc xâm chiếm của ngời Hồi vào ấn Độ

Trang 6

2.2 Các đời Xuntan của vơng triều Hồi giáo ĐêLi ở ấn Độ.

2.3 Chính sách cai trị

2.3.1 Chính sách đối nôị

2.3.2 Chính sách đối ngoại

Chơng 3:(THAY PHầN KếT LUậN ) Một vài nhận xét về vai

tròVà Vị trí của vơng triều Hồi GiáoĐÊ

Li ở ấn Độ3.1 Vai trò của vơng triều Hồi giáo ĐêLi trong lịch sử phong kiến ấn Độ.3.1.1 Vai trò về kinh tế

Trang 7

ấn Độ là một quốc gia rộng lớn, một “ Tiểu lục địa” trải rộng mênh môngchiếm hầu hết vùng Nam á bên sóng nớc ấn Độ Dơng Tên gọi truyền thống củabán đảo này là Bharát gắn liền với huyền thoại xa xa về tổ tiên của ngời ấn làBharátta Trên bản đồ, ấn Độ có hình dáng của một tam giác khổng lồ lật ngợcvới diện tích là 3,3 triệu km2 và dân số 730 triệu ngời (năm 1983), đứng thứ haiThế Giới Nhìn một cách tổng quát, đất nớc ấn Độ đợc cấu thành bởi ba phức hợp

địa hình Phía Bắc là rặng Hymalaya, tiếp đến là đồng bằng ấn - Hằng và phíaNam là bán đảo Đêcan

Rặng Hymalaya là một bức tờng thành thiên nhiên khổng lồ án ngự ở phíaBắc, tên gọi của nó theo tiếng Phạn là Sanskrit có nghĩa là nơi c trú của tuyết Làmột vòng cung dài 2600km, rặng Hymalaya nhấp nhô những đỉnh núi trùng điệpchạy song song tạo thành một chiều ngang rất rộng trong đó có hơn 40 ngọn núicao trên 7.000m, quanh năm tuyết phủ đó là những nóc nhà của Thế Giới, bêntrên có những biển băng lớn, kéo dài từ vùng Casơmia ở phía Tây đến vùng át-Xam ở phía Đông Một số thung lũng đã nằm gọn ở vùng núi non hiểm trở, đáng

kể nhất là thung lũng Casơmia có cảnh vật nên thơ từ thời cổ đại đợc mệnh danh

là “ Thiên đờng của hạ giới” Nhờ rặng núi này, ấn Độ đã tránh đợc những đợtgió lục địa băng giá từ phía Bắc tràn về, và tận dụng đợc những ảnh hởng của giómùa, với phong cảnh hùng vĩ và vắng lặng, rặng Hymalaya đã từng là nơi tu hànhkhổ luyện của những đạo sĩ ngày xa, và trong trí tởng tợng của con ngời ấn Độ

đó là đỉnh núi thần Mêru một thứ trụ trời và là nơi trú ngụ của các thần linh Bốnphần năm diện tích rặng Hymalaya đặc biệt ở vùng chân núi là rừng rậm, nơi ctrú của nhiều loài thú dữ nh Hổ, Báo, Tê giác, Voi, Hơu, Trâu rừng, Bò mộng,Rắn độc cùng các loài chim chóc Rừng rậm ấn độ rất phong phú với các loạithực vật, các loại thảo mộc nh tre trúc, dây leo, hoặc cây thảo sôma nổi tiếng xakia đã từng làm vật hiến tế thần thánh Trong lịch sử rặng Hymalaya và thảm

động vật giàu có của nó đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hoátruyền thống ấn độ

Trong t tởng của ngời ấn độ cổ đại, rặng Hymalaya là một thứ “ trụ trời ”

là hình ảnh cụ thể của ngọn núi thần thánh đã từng là nơi trú ngụ của các vị thầnlinh trong thần phả ấn độ Các nhà giáo sỹ khổ hạnh cũng thờng lấy rặngHymalaya với phong cảnh hùng vỹ và vắng lặng là nơi toả thuyền tu hành khổhạnh để mong ngày đắc đạo Các loài cầm thú và thảo mộc Hymalaya thì lại làhình ảnh rất quen thuộc trong đời sống cổ đại ấn độ Ngời ấn Độ ngày xa chorằng các sinh vật này là các anh em bầu bạn của con ngời, chúng chính là những

Trang 8

kiếp sống khác nhau của con ngời trong vòng luân hồi Vì vậy nó không lànhững yếu tố quan trọng của thiên nhiên ấn độ mà còn ảnh hởng sâu sắc đến đờisống văn hoá tâm linh của con ngời ấn độ qua những chặng đờng lịch sử [ 11;

7 ]

Các con sông lớn của ấn độ nh Indus, Gange đều chạy từ ngọn núi vĩ đạiHymalaya, tạo nên đồng bằng ấn độ nổi tiếng Tuy còn bắt nguồn từ chânHymalaya nhng chúng lại chảy 2 hớng ngợc nhau Nói một cách hình ảnh, sông

ấn và sông hằng nh hai cô gái kiều diễm, vốn là hai chị em sinh đôi, nhng ngay

từ khi sinh ra đã ngoảnh mặt lại nhau và mãi mãi chẳng nhìn nhau Con sông ấn,sông indus dài trên 1.500km chạy theo hớng Tây Nam

Về phía Nam rặng Hymalaya là dải đồng bằng ấn -Hằng, một trong những

đồng bằng rộng nhất thế giới Nó đợc tạo nên bởi châu thổ của hai dòng sông lớn

đã từng nuôi dỡng đất nớc ấn Độ từ ngàn đời xa Sông ấn ở phía tây và sôngHằng ở phía Đông, cùng với một nhánh của sông Hằng là Bra-ma-putr Đồngbằng ấn - Hằng đã kéo dài từ bờ biển Ôman đến vịnh Bengan trên một chiều dàirộng khoảng 260km- 600km và theo một chiều dài khoảng 3.600km

Sông ấn ( In-dus ) là một dòng sông mạnh nhất ở đầu nguồn Nó phát sinh

từ rặng Hymalaya dài khoảng 2900km, có năm chi lu chảy qua vùng Pengiápphía Nam vùng Casơmia đổ ra biển Arập Lu lợng của sông ấn hàng năm rất lớn,khoảng từ 274 tỷ mét khối nớc, gấp hai lần lu vực sông Nin hoặc ba lần hai consông ở tiểu á là Ti-grơ và Ơ- Prát cộng lại Sông ấn là một sông cổ xa, đã từngmang tên của đất nớc ấn Độ cổ đại, nhiều lần đợc nhắc đến trong các bộ kinhVêđa Chính ở châu thổ dòng sông này, cách đây trên 40 thế kỷ, đã hình thànhnhững khu vực văn hoá đầu tiên của ấn Độ, đó là “ Nền văn hoá sông ấn” với các

di chỉ khảo cổ nổi tiếng Ha- Ráp-Pa và Mô-Hen-Giô Đa-Rô

ở phía Đông, gần nh chảy đối xứng với sông ấn là sông Hằng, một dòngsông đợc coi là linh thiêng thần thánh, vị thần bảo trợ cho cuộc sống và con ngời

ấn Độ, trong hình ảnh nữ thần Ganga Sông hằng cũng bắt nguồn từ rặngHymalaya, rất gần với sông ấn ở nơi phát nguyên, nhng khi chảy ra đến vịnhBengan thì lại cách sông ấn hơn 2000km Sông Hằng dài 3090km, tới nớc chomột châu thổ rộng trên 2 triệu km2 ( nếu kể cả chi lu), là một trong số năm dòngsông có lu lợng lớn nhất Thế Giới Theo truyền thuyết, sông Hằng trớc kia ở tậntrên trời, sau nhờ thần Siva kéo nó chảy qua đầu tóc mình, luẩn quẩn ở đó hàng

Trang 9

ngàn năm, rồi mới đổ xuống trần thế tạo thành bảy nguồn sông ở bên sờn rặngHymalaya

Sông Hằng là chiếc nôi đã khai sinh ra những đế quốc lừng danh trong lịch

sử ấn Độ, bên bờ soi bóng những kinh thành cổ kính với những cột tháp, lâu đàitráng lệ Đặc biệt sông Hằng còn chảy qua một thành phố từ ngàn đời nay đã lànơi hành hơng linh thiêng nhất đối với ngời ấn Độ, đó là thành phố Va- na- ra-si( Bê-na- rét) Theo họ đợc đến thành phố này và đợc tắm trong làn nớc mát củasông Hằng và đợc chết bên bờ sông Hằng là một diễm phúc lớn trong cuộc đời.Hằng năm, có đến hàng chục ngàn ngời đã lặn lội đi đến thợng nguồn sông Hằngtrẩy hội dâng hơng mong tìm kiếm phớc lành và một niềm tin an ủi cho cuộcsống trần thế

Nếu về kinh tế và dân c, đồng bằng ấn - Hằng lớn và màu mỡ đã là địa bànsinh hoạt chủ yếu của đất nớc và con ngời ấn Độ, là nguồn sữa mẹ nuôi cho cảmột dân tộc trên bớc đờng trởng thành, ngày nay lại là quê hơng của những “cuộc cách mạng xanh ” thì trên bình diện lịch sử, nó cũng là sân khấu chủ yếucủa những diễn biến, thay đổi, những thăng trầm của đời sống văn minh đất nớc

ấn Độ truyền thống

Miền đất hình tam giác ở phía Nam ấn Độ là cao nguyên Đêcan cổ xa,chiếm diện tích chủ yếu ở vùng này, cùng với hai dãi đồng bằng hẹp từ 20km đến60km chạy dài theo bờ biển phía Đông và phía Tây Theo thuyết “ Lục địa trôidạt” miền này từ rất xa đã là một bộ phận châu lục cổ đại Gônđanoa, sau khi táchkhỏi Châu Phi và Châu Đại Dơng đã để lại vết tích là các đảo trên ấn Độ Dơng[ 13; 9 ] Cao nguyên Đêcan đợc ngăn cách với miền đồng bằng ấn- Hằng bởidãy núi chảy qua ấn Độ từ Tây sang Đông Đó là dãy Vinđya, kề dới dãy Vinđya

ở phía Nam là dòng sông Narbađa Do sự án ngự của dãy núi này mà các luồnggió lạnh và ẩm từ phía Bắc không tràn xuống đợc, khiến cho cao nguyên Đêcanluôn có khí hậu khô nóng, ít ma Về phơng diện lịch sử, dãy Vinđya tạo thànhchiến luỹ tự nhiên, ngăn chặn phần nào sự xâm nhập của các tộc ngời từ phía Bắc

Dọc hai bên cao nguyên Đêcan, song song với hai dãi đồng bằng ven biển

là hai dãy núi lớn, viền quanh tiểu lục địa nh hình chử V khổng lồ Theo tiếngHinđi, Gát có nghĩa là các bậc thang Vì lẽ đó, địa hình cao thấp khác nhau củahai dãy núi này đã khiến chúng đợc mang tên Gát Đông và Gát Tây Dãy Gát Tâycao từ 1000m đến 1500m, có phần nào cao hơn dãy Gát Đông Mỏm cực Nam

Trang 10

của hai dãy núi này gặp nhau ở vùng đồi Ningali ( nay thuộc bang Cacnataca vàbang Maharaxma)

Trong miền bán đảo Đêcan, cao nguyên Đêcan là đất cổ, có nền đợc tạothành do những đá mẹ có nguồn gốc từ núi lửa, ít màu mỡ, thực vật ít phát triển

ở đây thảm thực vật quá đơn điệu, chủ yếu là cỏ tranh, tre và nứa bạt ngàn.Riêng ở phía Tây bán đảo có đất đỏ Bazan, tạo thành vùng trồng bông thuận lợi.Ngoài hai dãi đồng bằng hẹp và màu mỡ, bán đảo Đêcan không có giá trị lớn vềnông nghiệp Nhng trong lòng đất lại chứa nhiều khoáng sản với trử lợng cao nhsắt, mangan, than đá, với điều kiện tự nhiên nh thế, bán đảo Đêcan xa kia từng lànơi trú ngụ của một số loài thú quí nh hổ, báo, rắn độc ở bán đảo Đêcan, vềkinh tế, xã hội có phần ít phát triển hơn so với miền đất phía Bắc Vì vậy ng ời tathờng ví miền này, đặc biệt là vùng cao nguyên rộng lớn là nhà bảo tàng của nềnvăn minh cổ xa nơi gìn giữ tinh thần truyền thống của ấn Độ

Những xáo trộn và biến động ở đây ít hơn rất nhiều so với miền đồng bằng

ấn - Hằng Ngời ta còn tìm thấy ở cuối thế kỷ XX này những bộ lạc gần nhnguyên thuỷ nh các bộ lạc Munđa và Santam Một số thổ ngữ xa cũng tồn tại ởnơi đây Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng đây cũng là nơi c trú của c dân ấn

Độ cổ xa nhất Sự rộng lớn về diện tích và đa dạng về địa hình đã tạo cho ấn Độnhững vùng khí hậu khác nhau

Nhìn chung ấn Độ là nớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song giữa cácmiền, khí hậu khác nhau rất rõ rệt phía Bắc có khí hậu ôn đới, phía Nam mangkhí hậu nhiệt đới Còn phía Đông và Tây ấn Độ chịu ảnh hởng của khí hậu đại d-

ơng Về đại thể có bốn mùa, mùa đông từ tháng 12 đến tháng 13 và mùa này tuy

có chịu ảnh hởng của không khí lục địa, bị lục địa khô nhng không khí lạnh bịchắn lại bởi dãy Hymalaya nên ít ảnh hởng đến ấn Độ Nhiệt độ trung bình là

200C mùa đông ở ấn Độ là mùa khô hanh Đặc biệt ở phía Bắc và Tây Bắc mùakhô kéo dài 6- 7 tháng, mùa hè bắt đầu từ cuối tháng 3 tới hết tháng 5 Đây làmùa nắng nóng của nhiều vùng ở ấn độ Sự đa dạng về địa hình còn tạo ra nhữngkhác biệt lớn giữa các vùng trong cùng một khoảng thời gian Nếu nh vào mùa hènhiệt độ trong bóng râm có thể lên tới 40 đến 500C thì mùa ma nớc trút xuốngtầm tả nh không dứt, lợng ma ở phía Bắc ấn Độ lên tới 2000mm/năm ở một sốnúi rừng đông bắc lợng ma lên tới 11419mm/năm cao nhất thế giới ấn Độ cómột hệ thống sông ngòi chằng chịt với bốn hệ thống lớn là vùng núi Hymalaya,vùng cao nguyên Đêcan, vùng ven biển và hệ thống sông thuỷ nông Hệ thống

Trang 11

sông vùng núi Hymalaya có lu lợng nớc dồi dào hơn cả, tuyết, băng, và lợng nớc

ma chảy xuống, nớc đầy và chảy qua nhiều núi non, thung lũng nên thờng lắmthác gềnh, dòng chảy mạnh do đó tiềm năng thuỷ điện rất phong phú

Mặt khác hệ thống sông này thờng gây lũ lụt vào mùa tuyết tan và mùa ma.Những trận lụt này thờng gây chết ngời và tàn phá nhiều vùng đất đai, nhà cửa,hoa màu Trong hệ thống sông vùng Hymalaya thì sông Hằng có lu vực rộng lớnbằng 1/4 tổng diện tích lu vực sông toàn ấn Độ Do lu vực nớc rất lớn sông Hằnghay gây ra lụt lội vì vậy nhiều công trình trị thuỷ đã lần lợt đợc xây dựng ở lu vựcsông này

Sự đa dạng về địa hình đã tạo cho ấn Độ sự phát triển phong phú về nhiềumặt và đồng thời thiên tai cũng đa dạng Không ít lần khi Miền Bắc ấn Độ ma, lũlụt rất nặng nề thì cùng thời gian ấy, nạn hạn hán nghiêm trọng xảy ra ở MiềnNam làm hàng triệu ngời lâm vào cảnh khốn khổ Tuy nhiên từ mấy nghìn nămtrớc cho tới ngày nay ấn Độ luôn luôn giữ đợc sự phát triển thống nhất và tạodựng bản sắc riêng cho quốc gia dân tộc

Từ ngàn xa ấn Độ đã sớm phát triển nền nông nghiệp lúa nớc, lúa mì, kêcao lơng và các loại hoa màu cùng cây ăn quả và cây công nghiệp nh, bông, chè,

hồ tiêu Đã xuất hiên sớm và lan rộng ở ấn Độ Ngoài những đồng bằng trù phú

ấn Độ còn có nhiều khu rừng già có giá trị kinh tế cao với thảm thực vật phongphú và đa dạng về quần thể thực vật quý hiếm không chỉ ở dãy Hymalaya màngay cả ở vùng đồng bằng, ở miền Nam ấn Độ vẫn có những dãy rừng bạt ngàn.Tuy nhiên khoảng nửa thế kỷ vừa qua, rừng ở ấn Độ đang bị thu hẹp nhiều độngvật quí hiếm vẫn là niềm tự hào của ấn Độ cũng đang ít dần Các loài s tử, hổngựa rừng, hơu nai, rắn, voi Đang đợc chính phủ ấn Độ quan tâm bảo vệ

ấn Độ không chỉ tự hào về cảnh quan mà còn tự hào về nguồn khoáng sảnkhá phong phú với trử lợng và chất lợng tốt nằm rải rác khắp đất nớc Vùng thanlớn nhất ở ấn Độ là Gônđana, tốc ky na ry, trử lợng khoảng 122000 triệu tấn

Nh vậy ấn Độ là đất nớc không chỉ có cảnh quan đẹp kỳ diệu mà ở đây còn

có cả một vùng tài nguyên phong phú tạo nên nét đẹp truyền thống, một vẻ đẹphùng vĩ của núi non tạo nên nét đẹp trong lịch sử văn hoá của ấn Độ

1.1.2 Con ngời:

ấn Độ đợc coi là một đất nớc có c dân đông đúc, nhiều chủng tộc và đangôn ngữ Từ lâu, ấn Độ luôn đứng ở vị trí số hai sau Trung Quốc về số dân

Trang 12

Hiện nay dân số ấn Độ đã lên tới 899 triệu ngời Tốc độ tăng dân số là rất cao, sovới mức tăng trởng kinh tế và sự cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên thì đây là mộtvấn đề đáng lo ngại Dân c đông đúc song phân bố không đều ở vùng đồng bằng

ấn -Hằng mật độ dân số đông hơn so với vùng núi phía Bắc và vùng cao nguyênkhô cằn

ấn Độ lại là một đất nớc đa dạng và phức tạp về chủng tộc Suốt hàng ngànnăm lịch sử trải qua những đợt thiên di, những cuộc xâm nhập, ấn Độ đã tồn tại

và tiếp tục nhận nhiều làn sóng ngời khác tràn vào và trụ lại ở đây Những chủngtộc này đã lai tạo pha trộn với nhau khó tách biệt đợc Tuy nhiên về đại thể có thểchia thành bốn giống ngời chính đã từng sinh sống ở ấn Độ Chủng tộc Nê- grô-it

là chủng tộc bản địa cổ xa nhất, nhận biết đợc qua các di chỉ khảo cổ, chủng tộcnày đã tồn tại lâu đời, trong số đó có các giống ngời Ved-da và Gônd ở Nam vàTrung cao nguyên Đêcan Các giống ngời này thuộc chủng tộc da đen, với ngờinhỏ, mũi tẹt, tóc xoăn

Chủng tộc Đra-vi-đi-an (còn gọi là chủng tộc ốt-xtra-lô ít hay Mê-la-nôAnh Điêng) Có nguồn gốc đại dơng xa xa, là những bộ tộc di c tới ấn Độ sớmnhất cũng đợc coi nh là ngời bản địa, c trú phần lớn ở cao nguyên Đêcan Họ cónớc da nâu sẫm, khuôn mặt hẹp, mũi thẳng, tóc đen Có ngời đã nhận xét đó là “Một chủng tộc da đen, nhng nét mặt lại phảng phất gợi nên khuôn mặt của ngời

da trắng” Sự khác biệt chủ yếu của chủng tộc này với chủng tộc A-ry-an là ở hệthống ngôn ngữ

Chủng tộc A-ry-an là những chủng tộc da trắng hoặc da nâu sáng, vóc ngờicao, mủi thẳng, có nguồn gốc từ bên ngoài lãnh thổ ấn Độ, có thể là xuất phát từvùng núi Cáp-ca-dơ Vào khoảng nữa sau thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên,các tộc ngời này qua hớng Tây Bắc ấn Độ đã tràn vào miền đồng bằng sông ấn,dần dần lan sang phía Đông tới vùng châu thổ sông Hằng và xuống phía Nam tớicao nguyên Đêcan Qua nhiều thế kỷ, họ đã dồn các chủng tộc Đra-vi đi-anxuống phía Nam, đồng thời cũng hợp chủng với giống ngời này Đặc điểm chungcủa các tộc ngời A-ry-an này là ngôn ngữ có nhiều quan hệ với ngôn ngữ Châu

Âu gọi chung là ngữ hệ ấn - Âu Sau này ngời A-ry-an đã tạo nên thành phầnchính yếu của cả dân ấn Độ

Chủng tộc Mônggôlôít: Gốc gia vàng, thuộc chủng Miến-Tạng, không córâu, gò má cao Chủng tộc Mônggôlôít đã xâm nhập vào ấn Độ qua hớng Bắc,

Đông Bắc một số lan sang phía Đông Chủng tộc này hầu nh đã không còn giữ lại

Trang 13

đợc nét thuần khiết qua nhiều cuộc pha trộn trong lịch sử Nhìn chung đứng vềphơng diện lịch sử văn hoá ngời ta thờng coi yếu tố Đra-vi-đi-an là nền tảng đá

mẹ, còn yếu tố A-ry-an là yếu tố chủ thể của đất nớc ấn Độ truyền truyền thống[11;12]

Bên cạnh quá trình hỗn chủng, quá trình gia tăng dân số cũng diễn đã rakhá mạnh mẽ ở ấn Độ, nhất là trong những thập kỷ vừa qua Trong 30 năm gần

đây,số dân ấn Độ đã tăng lên gấp đôi Ngời ta dự đoán rằng, cứ với tốc độ hiệnnay, thì đến năm 2000, số dân ấn Độ sẽ lên tới 1,2 tỷ ngời, trong đó có 505 ở dới

độ tuổi 20 Nhà nớc ấn Độ đã phát động rộng rãi phong trào giáo dục dân số và

kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ phát triển dân số

Lần lợt vào những năm sau đó, ngời Hylạp, ngời Arập và ngời Mông cổ từphía Bắc và Tây Bắc xâm nhập vào ấn Độ Bán đảo này càng trở nên phức tạp vềtộc ngời Ngày nay, ấn Độ có khá nhiều tộc ngời, ngoài những tộc ngời kể trên,còn có ngời Naga, CusanRômanh, Do Thái, Xích Kim Những tộc ngời ở ấn Độvừa sống xen kẻ, hoà hợp vừa có sự biệt lập do những nguyên nhân về địa lý, lịch

sử nhất định Năm tháng cứ trôi đi những tộc ngời đã có sự pha trộn huyết thống

ở mức độ khác nhau Tuy nhiên nhiều tộc ngời vẫn giữ đợc dáng vẻ, phong tục,ngôn ngữ của riêng mình Cũng không phải không có những bất đồng về chủngtộc trong suốt chiều dài lịch sử cho tới ngày nay

Do sự phức tạp về chủng tộc, trên bán đảo ấn độ rộng lớn có nhiều ngônngữ tồn tại Đến nay nhiều ngôn ngữ cùng tồn tại và cũng có nhiều ngôn ngữ đãdần mất đi Thậm chí tiếng Sanscrít ( Tiếng phạn ) một thời đợc sử dụng rộng rãikhắp bán đảo nay cũng không còn đợc sử dụng nữa Nhng dẫu vậy, ấn Độ vẫn làmột trong những nớc trên thế giới có nhiều ngôn ngữ còn đợc sử dụng trong cộng

đồng c dân

Hiện nay có tới 1652 ngôn ngữ và thổ ngữ đợc dùng ở khắp các vùng trongnớc Hiến pháp ấn Độ công nhận 15 ngôn ngữ chính thứcm, đó là các ngôn ngữ :Hinđi, asamain, Bengali, Gugiarati, Kannara, Kasmiri, Narati, Malagam, ôriga,Pengiabi, Sanscrít, Sinđhi, Tamin, Têlugu, Vốcđu Tuy vậy trên thực tế chỉ có haingôn ngữ đợc sử dụng rộng rãi hơn cả là tiếng Hinđi và tiếng Anh, ngoài ra mộtvài thổ ngữ cũng vẫn đợc sử dụng

Sự đa dạng về ngôn ngữ đã làm nên những bản sắc riêng biệt về văn hoácác dân tộc ở ấn Độ Song mặt khác, nó cũng gây không ít khó khăn phức tạptrong quá trình giao lu kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, các cộng đồng trong n-

Trang 14

ớc và hoạt động của nhà nớc liên bang Ngay trên đồng Rupi (Tiền ấn Độ) nhànớc phải cho in tới 8thứ tiếng để nhân dân cả nớc có thể sử dụng đợc với các dântộc khác trên cùng địa bàn sinh sống Mặt khác sự phân chia đẳng cấp xã hội từthời cổ đại qua bao biến thiên lịch sử, vẫn tồn tại dai dẳng, đã gây thêm khó khăncho sự ổn định và phát triển của đất nớc ấn Độ.

ấn Độ còn là đất nớc có nhiều tôn giáo Tôn giáo có đông tín đồ nhất là ấn

Độ giáo ( Đạo Hin đu) chiếm trên 80% dân số ấn Độ Tôn giáo lớn thứ hai là Hồigiáo( Đạo Ixlam) với hơn 10% dân số đây là hai tôn giáo có thế lực nhất và cónhiều ảnh hởng tới sự thăng trầm của quốc gia từ xa tới nay Thiên chúa giáo đợc

du nhập vào ấn Độ muộn hơn nhng số tín đồ cũng khá đông trên 2% dân số,nghĩa là tới hàng chục triệu ngời, tập trung nhiều ở các thành phố lớn và vùng bờbiển Đạo xích chiếm 2% dân số, tập trung chủ yếu ở Pungiáp, đạo này vừa làmột tôn giáo, vừa là một tổ chức chính trị Còn phật giáo tuy ra đời ở ấn Độ từ cổ

xa nhng sau thời kỳ phát triển rực rỡ ở ấn Độ và lan tỏa ra các nớc khác và bị đẩyxuống vị trí khiêm tốn Hiện nay tín đồ của đạo phật ở ấn Độ chỉ chiếm 0,8% dân

số, Đạo Giaina ( Kỷ na Giáo) cũng là một tôn giáo lâu đời ở ấn Độ nhng tín đồchỉ chiếm 0,5% dân số và tập trung nhiều ở miền Trung ấn Độ Ngoài những tôngiáo trên, ấn Độ còn có những tôn giáo khác nh bái hoả giáo, Do thái giáo, và sốtín đồ cũng nhiều đáng kể và không có sự xung đột với các tôn giáo khác, ít gây

ra căng thẳng trong xã hội

Tóm lại, về một góc độ nhất định sự đa dạng về địa hình, sự phức tạp vềchủng tộc, tôn giáo, sự phong phú về ngôn ngữ gây cho ấn Độ không ít khó khăn,phức tạp trong quá trình phát triển Tuy nhiên, ở một góc độ khác, chính sự đadạng, phong phú đó là nét bản sắc riêng của ấn Độ Trong quá trình phát triểncủa mình ấn Độ luôn giữ đợc thống nhất về t tởng và văn hoá

Chúng ta đã nói nhiều đến tính đa dạng của đất nớc ấn Độ về các mặt địahình, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo Sự đa dạng đó còn thể hiện ở rất nhiềumặt về tự nhiên, xã hội, khí hậu, trình độ văn hoá Rời khỏi những đỉnh núi quanhnăm tuyết phủ của dãy Hymalaya, trong một khoảng cách vài trăm km, du khách

có thể đi đến vùng sa mạc Thar của bang Ra-jas-tan mặt trời cháy bỏng có lúcnhiệt độ ngoài trời lên đến 500C, lợng ma rất ít

Tuy nhiên, ở phía Đông ấn Độ, vùng Bengan lại đợc coi nh một khu vực cólợng ma cao nhất thế giới, đồng bằng màu mỡ, mật độ dân c đông đúc lên tới

Trang 15

3000 ngời/1km2 Xuống phía Nam, cao nguyên Đêcan là một miền đất tơng đốitha dân, bao phủ bởi một lớp đất La-tê-rít nghèo nàn, đạm bạc [11; 14].

1.2 Nền văn hoá truyền thống:

Ngời ta thờng nói: Văn hoá là tấm gơng phản chiếu tâm hồn của một dântộc, văn hoá chính là nhân cách cộng đồng của dân tộc ấy, điều đó hoàn toàn

đúng với nền văn hoá ấn Độ Trải rộng ra trên một không gian của một tiểu lục

địa mêng mông và đi suốt dọc chiều dài 40 thế kỷ, văn hoá ấn Độ đã kết tinh lạithành cái mà các nhà nghiên cứu thờng gọi là “ Bản sắc ấn Độ”, “ Cá tính ấn

1.2.1 ấn Độ thời kỳ nguyên thuỷ:

ấn Độ là một quốc gia lớn ở châu á có lịch sử lâu đời Tuy rằng cho đếnngày nay, các nhà khoa học cha phát hiện đợc những chứng cứ của loài ngời cổ ở

ấn Độ, nhng rải rác ở khắp các địa phơng, ngời ta đã thấy những di chỉ đá cũ và

đá mới, có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 6 đến thiên niên kỷ thứ 3 tr ớc côngnguyên, nh ở các bang Gu-ja-rát, Ra-jas-thas, vùng núi Vyn-dhya và sống Nar-ba-đa, phía Nam cao nhuyên Đêcan Ngời ta còn tìm thấy một số mộ đá cổ đợctạo thành bởi ba trụ đá ( hoặc nhiều hơn) dựng trong một vòng tròn, chống đỡmột mái đá đồ sộ bên trên ở ấn Độ cũng nh ở các nớc khác, có một thời đại dàisong song tồn tại hai loại đá mới và đồng

ở Bắc ấn Độ ngời ta tìm đợc nhiều các loại rìu, gơm, mũi giáo bằng đồng

đỏ Trong khi đó ở vùng Nam ấn, ngời ta chỉ phát hiện đợc đồ sắt Có giả thuyếtnêu lên rằng ở miền Bắc ấn Độ công cụ lần lợt chuyển từ đá mới sang đồng đỏrồi đến sắt, khả năng là công cụ đá mới vẫn tồn tại lâu dài ở phía Nam, cho đến

Trang 16

khi công cụ sắt từ phơng Bắc du nhập vào [11, 18] Trong khi đồng đỏ đợc phổbiến rộng rãi ở vùng Bắc ấn, thì ở ấn Độ, ngời ta đã thấy khá hiếm các công cụbằng đồng thau [13; 23].

Cũng nh châu Âu và các nơi khác, Bắc ấn Độ đã trãi qua những thời kỳbăng hà Những dấu tích về con ngời đợc tìm thấy trên lãnh thổ ấn Độ thuộc thời

kỳ giữa băng hà lần thứ hai tức hơn 100.000 năm trớc công nguyên Đó là nhữngcông cụ ghè, đẽo thô sơ thời kỳ đồ đá củ, xoan tên một con sông nh ở Pungiápnơi tìm thấy phần lớn công cụ của văn hoá này Xét về mặt loại hình, các công cụvăn hoá Xoan gần với các công cụ phổ biến ở cựu Thế Giới suốt từ Anh Quốc tớiChâu Phi và Trung Quốc Tuy không tìm thấy di cốt, nhng rõ ràng các công cụXoan là thuộc những con ngời nguyên thuỷ nh ngời Pitecastrôp ở Giava và TrungQuốc

ở Nam ấn Độ vào thời kỳ này, đã tồn tại một xởng công cụ đá khác, xởngcông cụ đá Matrát nếu so với công cụ đá Xoan, các công cụ của Matrát tiến bộhơn và thuộc ngời Hômôsapiên thực sự Những con ngời thời kỳ đồ đá là nhữngngời đi săn và sống theo cộng đồng rất nhỏ theo kiểu du mục Dần dần những conngời đó đã học đợc cách lấy lửa, cách làm quần áo bằng da thú, bằng vỏ cây haylá để chống rét, đã biết thuần dỡng chó Cũng nh ở trên toàn Thế Giới con ngờinguyên thuỷ đã sống nh vậy suốt hàng nghìn năm

Sau đó nếu tính theo thời đại địa chất thì chỉ cách đây không lâu, trongcuộc sống của con ngời đã diễn ra những sự thay đổi lớn, vào khoảng trên dới 10nghìn năm trớc công nguyên, trong lịch sử loài ngời đã xuất hiện một cuộc cáchmạng trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Con ngời đã học cách trồng cácloại cây lơng thực, thuần dỡng gia súc, làm gốm và dệt [23; 18]

Trớc khi biết cách dùng kim loại, con ngời đã biết chế tạo những công cụ

đá tinh tế hơn nhiều so với thời kỳ dồ đá cũ Những công cụ này đã đ ợc tìm thấy

ở khắp ấn Độ nhng chủ yếu tập trung ở vùng Tây bắc và vùng Đêcan ở rất nhiềunơi trên đất ấn Độ, văn hoá đá mới tồn tại khá lâu thậm chí nhiều bộ lạc miền núichỉ mới bỏ qua giai đoạn này cách đây không lâu ở vùng cận Đông, nền nôngnghiệp phát triển và việc định c lần đầu tiên xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ VIItrớc công nguyên Còn ở ấn Độ các dấu tích của văn hoá nông nghiệp định c pháttriển đợc tìm thấy ở Belutjistan và Sinđơ, có niên đại khoảng cuối thiên niên kỷthứ IV trớc công nguyên

Trang 17

Theo các tác giả Hilạp cổ đại, khi Alêchxanđrơ Maxêđoan vào ấn Độ thìkhí hậu vùng Tây Bắc ấn Độ vẫn nh ngày nay Chính những điều kiện thiên nhiênthuận lợi đó là cơ sở xuất hiện vùng Tây Bắc này một nền văn minh đô thị nổitiếng - Văn minh Harappa hay văn minh sông ấn vào thiên niên kỷ thứ III trớccông nguyên Nh vậy trải qua hơn 3000 năm, những ngời ấn Độ nguyên thuỷ đãtạo lập cuộc sống cho mình, làm nên một nền văn minh sông ấn khá rực rỡ.

1.2.2 Nền văn hoá sông ấn:

Nền văn minh sông ấn còn đợc các nhà khảo cổ học gọi là văn hoáHarappa Tên của một làng nằm bên hữu ngạn sông Ravi ở vùng Pusgiáp, vàMôhengiô-Đarô, nằm bên tả ngạn sông ấn Gần đây tại Calibangan, trên đồngbằng của dòng sông cổ Sarasvati giờ đã khô cạn, khảo cổ học đã phát hiện đô thịlớn thứ ba có nhiều nét rất gần với hai đô thị trên

Ngoài ba đô thị lớn còn một số thành phố nhỏ và nhiều địa điểm c trú nằmtrong một vùng rộng suốt từ Rupara đến Lôvala ở Gutjarat Và các cứ hiệu cổ đãchứng minh chủ nhân của nền văn minh sông ấn vĩ đại là những ngời ấn NgờiHarappa không chỉ tạo ra một nền văn hoá cao mà còn một nền kinh tế phát triển

đặc biệt là trong nông nghiệp, là ngời đầu tiên trồng bông trên thế giới, thuần ỡng trâu và nuôi gia cầm

d-Nền văn hoá đồ đồng cổ đại mang tính chất đô thị rực rỡ nhất ấn Độ vàcũng rất nổi tiếng trên thế giới là nền văn hoá sông ấn, ở Tây Bắc ấn Độ Các dichỉ nằm trải dọc theo châu thổ sông ấn, đặc biệt ở hai thành thị lớn đã chìm sâutrong lòng đất là Ha-ráp-pa Mô-hen-jô Đarô Nền văn hoá này chỉ mới đợc pháthiện trong những năm 20 của thế kỷ này, sau những đợt khai quật của nhà khảo

cổ học ngời Anh là J.Mar-san và những ngời đồng sự ở ấn Độ của Ông; đặc biệt

là R.D.Ba-ner-ji theo sự đoán định của các nhà nghiên cứu nền văn hoá sông ấn

có niên đại từ khoảng chừng 2500 năm đến 1500 năm trớc công nguyên Chủnhân của nó là những tộc ngời tiền A-ry-an, cũng có thể là ngời Đra-vi-đi-an

Thành tựu nổi bật nhất của Mô-hen-jơ Đarô là các công trình kiến trúc đôthị ở đây có khu “ thành” trên đồi cao đợc đoán định là chổ ở của các tầng lớptrên và khu “phố” ở dới thấp là nơi c trú của quần chúng nhân dân Các phố xá cắtnhau ngang dọc, vuông vắn nh bàn cờ, có nhiều loại nhà đợc xây bằng gạch mộc

và gạch nung Một số nhà gác cũng có sàn lát cửa sổ, cầu thang Hầu hết các nhà

đều có giếng nớc, hệ thống thoát nớc và phòng tắm, có nhiều cửa hiệu trông ra

Trang 18

mặt phố Ngời ta còn thấy những căn phòng có diện tích rộng ( chiều dài tới 70m)

mà các nhà khảo cổ cho là nơi để hội họp hoặc cúng tế

Công trình nổi tiếng nhất ở đây là bể tắm lớn, dài 55m, rộng 30m, ở giữa

có một bồn nớc hình hình chử nhật dài 82m, rộng 7m, sâu 2,4m có nhiều bậc lênxuống xung quanh có một hệ thống phòng Có nhiều khả năng bể tắm này đã liênquan đến các nghi lễ tôn giáo, nh các lễ tắm thần của đạo Bà-la-môn về sau này.Trong cuộc khai quật ở Mô-hen-jô Đarô và một số thành phố khác, ngời ta pháthiện đợc nhiều loại hiện vật khác nhau nh xơng súc vật, các bàn xoay đồ gốm, bát

đũa bằng vàng bạc sự tráng men và trang trí màu đen,các đồ trang trí rất tinh vi và

đẹp đẽ “Tởng chừng nh ngời ta trong hiệu kim hoàn trên phố, chứ không phải là

nó ở trong một ngôi nhà cách đây gần 5000 năm” Ngời ta còn tìm thấy nhiều vũkhí nh rìu, lao, dao găm, một ít cung tên, không thấy gơm và các loại vũ khíkhác nh kiếm, áo giáp, đặc biệt không thấy dấu vết nào của kim loại sắt, cónhiều đồ chơi trẻ con, ngời ta tìm thấy gần 1000 quả ấn bằng đất nung, có kíchthớc nhỏ, phần lớn hình vuông, đôi khi còn có các lỗ, trên mặt có hình các loàithú nh :tê giác, voi, hổ, trâu rừng cùng nhửng hàng chữ tợng hình kèm theo.Trong một thời gian dan giài, cha có một nhà bác học nào khám phá ra đợc ýnghĩa của các loại chữ đó Nhng gần đây, một nhóm chuyên gia Liên xô, phầnlan, đan mạch với sự hộ trợ của máy tính điện tử đã bớc đầu đa ra giã thuyết cho

đó là một loại chữ viết của một nhóm tộc ngời Đra-vi đi an Về công dụng củacác loại quả ấn, một số ý kiến cho rằng đó có thể là những bùa chú tôn giáo, một

số khác cho rằng nó đợc dùng nh một vật chứng nhận trong các việc giao dịch

th-ơng mại Vă hoá sông ấn là một nền văn hoá đô thị, đồ đồng phát triển ở mức độcao và đã có mối quan hệ chặt chẽ giữa nền văn hoá sông ấn với những nền vănhoá đô thị đồ đồng khác ở lỡng hà và ba t Ngời ta đoán định rằng xã hội củanền văn hoá sông ấn là một xã hội đã vợt qua trình độ nguyên thuỷ để bớc vàogiai đoạn văn minh Nông nghiệp khá phong phú, các loại lúa mì, lúa mạch,bông dùng để dệt vải Nhiều động vật đợc thuần hoá nh trâu, dê, cừu, lợn để chănnuôi Thủ công nghiệp chế tác các kim loại (trừ sắt) và đồ gốm khá phát triển.Việc giao thông buôn bán trong nớc đã phổ biến Các mô hình làm bằng đất nungcủa một loại xe cút kít Ngời ta đã tìm thấy những hòn nặng nh một loại quả cândùng trong việc giao dịch, buôn bán và di tích của một cái chợ Mặt khác việcbuôn bán với ngời nớc ngoài cũng đợc đẩy mạnh đặc biệt với lởng hà và Ba t

Có một khu di tích đợc đoán định là một cầu tàu điều đó nói lên sự phát triển củathơng nghiệp đờng biển và kỹ thuật đi biển Nhng sự cách biệt giữa hai khu

Trang 19

“thành trên ” và “Phố dới” về quy mô nhà ở, đồ trang sức cho phép ta thấy rằng

đó là một xã hội đã có sự phân hoá giai cấp, tuy cha sâu sắc do một chính quyềnquân chủ chuyên chế đứng đầu Trong nền văn hoá sông ấn đã có thể có một thứtôn giáo nguyên thuỷ với sự có mặt của các tợng nhỏ thần mẹ tợng trng cho sựphồn thực ngời ta cũng lu ý đến bức phù điêu có đắp hình một đạo sĩ ngồi với tthế toạ thiền để cho rằng lúc này đã có một tôn giáo tiền Bà là môn, tiền Siva có

ảnh hởng đến các thời kỳ sau

Tuy nhiên các nhà sử học đã khẳng định rằng nền văn hoá sông ấn cónhững nét khác biệt cơ bản với nền văn hoá A-ry-an tiếp đó Văn hoá A-ry-an khidợc tụ lại ở ấn Độ là một nền văn hoá nông nghiệp, sử dụng đồ sắt, dùng ngựa.Trong khi đó văn hoá sông ấn là một nền văn hoá đô thị, sử dụng đồ đồng và cha

hề biết đến đồ sắt, cũng cha biết dùng ngựa Phải chăng đã có một biến cố tạo nên

sự gián đoạn giữa hai nền văn hoá đó?

Trớc đây, ngời ta thờng cho rằng chính sự xâm lợc và tàn phá của tộc ngờiA-ry-an là nguyên nhân gây nên sự suy vong của văn hoá sông ấn Ngày nay đa

số ý kiến lại nghiêng về một nguyên nhân nội tại Có thể là tai hoạ thiên nhiênnào đấy, một sự sụt lở, động đất hoặc nhiều khả năng hơn là một sự đổi dòng bấtngờ của sông ấn đã gây ra một trận lụt lớn huỷ diệt nền văn hoá đô thị xa xa Dùsao, đó cũng chính là những giả thuyết, cần đợc chứng minh.Văn hoá ấn Độ pháttriển rực rở khi đạo Hồi và văn hoá Hồi giáo du nhập vào hoà nhập với văn hoáHin đu bản địa tạo nên một nền văn hoá đa dạng trong thống nhất

Tóm lại: Trong nền văn hoá ấn Độ, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái

đạo và cái đời, sự hoà đồng giữa cái mộng và cái thực Ngay từ thời cổ đại ở ấn

Độ đã có những môn phái triết học duy vật Ngày nay trong xã hội ấn Độ hiện

đại, xu hớng quan tâm đến tính thực tế của thế giới vật chất ngày càng phát triển.Song xu hớng đó không vợt quá những giới hạn chuẩn mực không lấn át cái tâmlinh, không làm tha hoá con ngời Văn hoá ấn Độ đang cố gắng vơn tới sự hàihoà Đặc trng nổi bật khác của nền văn hoá ấn Độ là tính gắn bó với truyềnthống

Theo tinh thần ấn Độ cuộc sống của một con ngời hay cuộc sống của mộtcộng đồng dân tộc là một dòng chảy liên tục và bất tận Quá khứ trổ hoa và kếttrái thành hiện tại đến lợt nó hiện tại sẽ đam chồi nảy lộc trong tơng lai Từ thế

kỷ này đến thế kỷ khác con ngời ấn Độ đã kiên nhẫn xây từng viên gạch, hòn đá

để dựng nên toà lâu đài văn hoá uy nghi, đồ sộ của mình Trên nền tảng của văn

Trang 20

hoá truyền thống, văn hoá hiện đại ngày càng đạt đợc những thành tựu tiếp nốitruyền thống là cơ sở cho sự cách tân, trung thành với cội nguồn của mình, dòngsông văn hoá ấn Độ đang chảy xuôi ra biển cả Nhà triết học ấn Độ hiện đại

Ô-rô-Ghô-zơ đã từng nói “ Quá khứ đối với chúng ta là thiêng liêng, nhng tơnglai lại còn thiêng liêng hơn” Còn cố tổng thống ấn Độ giáo s Ra-đra kri-nsan thì

đã khuyên nhủ thanh niên ấn Độ “ Chớ nên biến mình thành những tù nhân củaquá khứ, mà phải hành động nh những con ngời hành hơng đi đến tơng lai ”

Cuối cùng “Tinh thần ấn Độ” đã thể hiện qua sự giao lu văn hoá hoà bìnhvới các nớc xung quanh Cũng nh các nền văn hoá lớn khác trên thế giới, tronglịch sử, văn hoá ấn Độ đã tiếp nhận, đồng hoá nhiều yếu tố của nền văn hoángoại nhập, đồng thời cũng toả rộng ảnh hởng của mình ra bên ngoài thế giới.Thế nhng sự lan toả của văn hoá ấn Độ không giống các nền văn hoá khác, cónhững đế quốc cổ trung đại đã tiến hành những cuộc xâm lăng văn hoá qua vóngựa, lỡi gơm của các đội quân chinh phục, hay qua sự áp đặt cỡng chế của viênquan cai trị Còn sự lan toả của văn hoá ấn Độ lại mang sắc thái hoà bình, thôngqua các thơng nhân, nhà s, tăng lữ Thờng các quốc gia trong vùng đã chắt lọc lấytinh hoa văn hoá của ấn Độ để hoà tan vào dòng chảy của văn hoá truyền thốngbản địa, tạo thành nền văn hoá dân tộc độc đáo của riêng mình ở đây văn hoá làcây cầu hữu nghị nối liền các tâm hồn dân tộc, là con đờng ngắn nhất để nhữngquốc gia xa cách xích lại gần nhau

Chơng 2: CHính sách cai trị của vơng triều Hồi giáo đêli

(XIII - XVI) 2.1.Quá trình hình thành đạo Hồi:

2.1.1 Sự phát triển của đạo Hồi (XI – XIII ). XIII ).

Đầu thế kỷ XI ngời Tuyếc vào đợc Bat và tiếp nhận đạo Hồi Năm 1005ngời Tuyếc đợc vị Khalipha ở Bát Đa đến để đánh đuổi thế lực của dòng họ Buivẫn kìm chế mình Nhờ Khalipha- arập thoát khỏi bàn tay thao túng của dòng họBui nhng cũng từ đó họ đánh mất luôn quyền thống trị thế giới Hôì Giáo vào taycác Xuntan ngời Tuyếc Theo bớc chân chinh phục của ngời Tuyếc thế giới Hồi

Trang 21

giáo bành trớng Tây đến áo, Đông sang tận Trung Quốc, Nam xuống ấn Độ rồitràn vào Inđônêxia và Tây Nam xuống tận Châu Phi.

Từ 1096 - 1270 ngời Tuyếc phải đơng đầu với những cuộc tấn công củaquân Thập tự chinh Cơ đốc giáo để giành khu mộ thánh Jêsuzalem, quân Thập tựchinh thất bại, thế giới Hồi giáo đợc củng cố Vào thế kỷ thứ XII thế giới Hồigiáo lại bị những đoàn kị binh Mông cổ tấn công, năm 1258 quân Mông cổ tấncông chiếm Bát Đa Từ năm 1380 - 1400 Timuaky từ Trung á kéo quân trànxuống ấn Độ sang Tây Xiri, thế giới Hồi giáo liên tiếp bị đe doạ tởng chừng bịtiêu diệt nhng ngợc lại ảnh hởng của đạo Hồi lại càng đợc nhân rộng Trung á trởthành một trung tâm quan trọng của đạo Hồi suốt mấy thế kỷ Sự xuất hiện củangời Tuyếc ốttôman ở tiểu á trong một thời gian dài là chỗ dựa và là thời kỳ pháttriển đỉnh cao của thế giới Hồi giáo

Ngay sau khi xuất hiện ở bán đảo A-rập, Đạo Hồi bắt đầu ngay những cuộcchiến tranh bành trớng với t cách là quyền lực về chính trị và tôn giáo kết hợp làmmột Những ngời Hồi giáo chinh phục Xiri, Bat, Aicập họ lần lợt chinh phục cácthành phố Bácni từ đó vợt biển vào TâyBanNha và châu Âu Về phía Đông họ từ

Ba T tiến vào đất ấn Độ và Trung á, Bắt đầu từ thế kỷ VII đã có quân Hồi giáo

đặt chân lên đất ấn Độ ở Thana ( Bom Bay) và vùng Trung ấn ( Is Dus) Đếnnăm 712 cả vùng hạ lu sông IsDus bị ngời A-Rập chiếm đóng, đợt tấn công này

mở đầu cho một thời kỳ mới của lịch sử ấn Độ

Thế kỷ VIII ngời A-Rập đã đột nhập vào ấn Độ lập ra các thánh đờng Hồigiáo ở miền Tây ấn Độ Trong thời kỳ này ngời A- Rập cũng đã tiếp thu đợcnhững thành tựu của văn hoá ấn Độ nh triết học, thiên văn học, vật lý học, y học.Macút một thủ lĩnh ngời Tuyếc cầm đầu đã kéo quân tràn vào ấn Độ với cuộcxâm lăng này nó đã truyền bá mạnh mẽ Hồi giáo vào ấn Độ, đặc biệt từ thế kỷthứ XIII - XVI ở ấn Độ xuất hiện vơng triều mới, vơng triều Hồi giáo ĐêLi, đây

là thời kỳ Hồi giáo trở thành quốc giáo ở ấn Độ

Việc chiếm hữu các vùng đất nửa sa mạc ở phía Bắc, những ngời Hồi giáo,trong một thời gian dài đã không thực hiện đợc, chỉ có vùng Pengiáp vào thế kỷ

XI là nằm trong tay của họ Còn phải mất hai thế kỷ nửa mới thành lập vơng quốcHồi giáo ĐêLi (1206), trải dài ở vùng Đông Bắc ấn Độ [15; 342] Nằm trongchu trình đó, lâu dần việc sống chung đợc áp đặt với những xáo trộn của nó,những sự khoan dung lẫn nhau và tơng đối của nó thì văn hoá Hồi giáo đã hỗndung với nền văn hoá HinĐu bản địa đặc biệt là nghệ thuật và nền nghệ thuật đó

Trang 22

đã phát triển mạnh mẽ ở ĐêLi Song trên bình diện văn hoá ấn Độ vẩn là bảnthân nó Tuy có sự pha trộn nhng những nét văn hoá truyền thống xa xu của ấn

Độ vẫn đợc bảo lu

Thực ra sự đô hộ, độc đoán của Đạo Hồi, mặc dù có vô vàn hậu quả, nhng

nó đã ảnh hởng đến cơ cấu xã hội và kinh tế ít hơn là sự tiếp xúc với Phơng Tây

Đầu thế kỷ XIII khi vơng triều Hồi giáo ĐêLi xác lập sự thống trị của mình ở ấn

Độ thì đạo Hồi lại đợc mở rộng hơn ở khu vực Bắc ấn Và ở đây đạo Hồi đã trởthành quốc giáo rồi phát triển mạnh mẽ từ đó lan rộng và dung hoà với văn hoáHinĐu bản địa tạo nên một nền văn hoá mang đậm bản sắc ấn Độ “ Tinh thần ấn

Độ” và “ Bản sắc ấn Độ”

Với chính sách cai trị của các vua Hồi giáo luôn đề cao Hồi giáo nên hầu

nh trên tất cả các lĩnh vực của văn hoá thời kỳ này đều mang màu sắc của văn hoáHồi giáo đặc biệt là, trong kiến trúc các cung điện, lăng tẩm đợc xây dựng, trongtôn giáo đạo Hồi đã đợc tôn vinh bậc nhất

2.1.2 Cuộc xâm chiếm của ngời Hồi vào ấn Độ:

Suốt lịch sử nhân loại không có trang nào đẫm máu bằng trang sử Hồi xâm

chiếm ấn Độ Trong những thế kỷ VII nà VIII các tộc ngời A-Rập theo Hồi giáo

đã phát triển mạnh mẽ lập nên một đế quốc rộng lớn đi chinh phục nhiều miền

đất đai ở châu Âu, châu Phi và châu á, các tộc ngời này cũng đã nhiều lần tràn qua miền Bắc ấn Độ ở lại cớp bóc một thời gian rồi lại rút lui Tiếp đến là những

bộ tộc thổ và áp-Ghas dới chiêu bài trừng trị dị giáo cũng đã tiến hành nhữngcuộc xâm nhập vào ấn Độ Những cuộc xâm nhập lớn của các tộc Hồi giáo vào

ấn Độ thực sự diễn ra vào đầu thế kỷ XI.

Năm 1001 vua Mah-Mud xứ Gha-đơni ( Đông ápganistan) đã đem quân ồ

ạt xâm lợc miền Bắc ấn tàn phá nghiêm trọng miền Bắc ấn Độ, cớp đi một số của cải, vàng bạc, châu báu, bắt một số ngời dân ấn Độ đem về làm nô lệ Từ đó các

tộc Hồi giáo hàng năm mở các đợt xâm nhập cớp phá đất ấn Độ ( có tới 20 đợt).Tuy nhiên các tộc Hồi giáo cha chủ trơng chiếm đóng đất đai lâu dài [11; 28].Mahmud thấy rằng vơng quốc của mình trẻ trung mà lại quá nghèo, còn ấn Độ ởbên kia biên giới đã già cỗi mà lại giàu có Thế là lòng tham của ông nổi lên.Viện cớ thiêng liêng là để diệt thói sùng bái ngẫu tợng ở ấn, ông đã dắt một độiquân thờ cái “ Đạo” cớp bóc, vợt biên giới Ông ta đánh tan đạo quân ởBhimnagar, tàn phá các thành thị, đền chùa và chở về nớc không biết bao là của

Trang 23

cải ngời ấn đã tích luỹ trong mấy thế kỷ Về tới Gharni, ông ta trải các của cớpbóc đợc cho các sứ thần ngoại quốc coi, làm cho bọn này ngạc nhiên, vô cùng tánthởng: Thôi thì đủ hết “ đồ tế nhuyễn” các viên ngọc trai hồng ngọc lấp lánh, nhnớc hoà với rợu rồi đóng lại, các viên ngọc trai nh trái sim, và những viên kim c-

ơng lớn bằng trái lựu

Từ đó quen mùi, mỗi mùa đông ông ta lại đem quân xuống ấn Độ, vơ vétcho đầy kho báu của ông và cho quân lính thả cửa giết chóc, cớp bóc, qua mùaxuân lại trở về kinh đô, ngày càng giàu có hơn Sáu năm sau ông ta cớp phá mộtthành phố trù phú ở Bắc ấn, thành San-nash, giết sạch năm chục ngàn dân rồi chởhết của cải về Ghazni, thành một ngời có lẽ giàu nhất trong lịch sử nhân loại Đôikhi ông ta tha chết cho dân chúng các thành phố chiếm đợc, lôi hết về nớc, bắtlàm nô lệ, nhng số nô lệ quá nhiều đến nổi chỉ trong vòng vài năm, giá rẻ mạt chỉvài quan tiền pháp một tên Trớc khi ra trận Mahmad quỳ xuống cầu nguyệnAllah phù hộ cho mình Ông ta giữ ngôi đợc một phần ba thế kỷ và khi chết đợccác sử gia Hồi coi là vị vua lớn nhất của thời đại [14; 170]

Thấy tên ăn cớp hạng nhất đó đợc coi nh thần thánh, các lãnh tụ Hồi giáokhác cũng muốn noi gơng nhng không thành công hơn Năm 1186, bộ lạc Ghuri

ở Aphú Hản xâm lăng ấn Độ, chiếm ĐêLi, đốt phá các đền đài, chiếm của cải rồilập ra một vơng triều Hồi giáo ở ĐêLi, gồm 33 vơng quốc (XunTan) Những nhàvua của vơng triều này phần lớn là những thủ lĩnh quân sự dạn dày chinh chiếnnhng mặt khác lại rất cuồng tính và tàn bạo Một số nhà vua đã không ngần ngạigiết chết cả những ngời thân nhất của mình để chiếm độc quyền hành, tàn sáthàng chục ngàn ngời một lúc, đè bẹp những âm mu chống lại chính quyền Hồigiáo Nhìn chung các triều đình Hồi giáo đã áp dụng chính sách đàn áp và bầncùng hoá dân chúng Vua Hồi giáo khát máu đầu tiên là Kutb-d-Din Aibak đánglàm “ kiểu mẫu ” cho sự: cuồng tín, dữ giằn và tàn nhẫn Một sử gia Hồi giáo bảo

“ Ông ta phân phát của cải tới mấy trăm ngàn, nhng những kẻ bị ông giết cũng tớimấy trăm ngàn”, mà hồi nhỏ Ông ta cũng đã bị bán làm nô lệ

Balban vua Hồi khác, trừng trị bọn côn đồ hoặc phiến loạn bằng cách chovoi dày hoặc lột da, hay cho vùi vào đống rơm cho chết ngạt, treo cổ lên cửathành Đêli Khi một số ngời Mông cổ lại ở làm ăn ở Đêli thì vua Hồi Alau-d-dintrong một ngày đã giết chết hết đàn ông Mông Cổ, từ mời lăm đến ba chục ngànmạng, ông đã từng nói “ Chỉ khi nào làm cho ngời ấn Độ trở nên bần cùng thì họ

Trang 24

mới chịu khuất phục và biết vâng lời” Chính những chính sách cai trị tàn bạo đó

là một trong những nguyên nhân cơ bản để vơng triều Hồi giáo Đêli sụp đổ

Với sự tồn tại của vơng triều Hồi giáo Đêli, đạo Hồi và nền văn hoá Hồigiáo đã có điều kiện du nhập vào ấn Độ ở phía Bắc mà nhất là vùng Tây Bắc hỗndung với nền văn hoá HinĐu truyền thống Đây là thời kỳ Hồi giáo trở thànhquốc giáo ở ấn Độ Hồi giáo đã xâm nhập vào các tầng lớp nhân dân một cáchrộng rãi bởi những biện pháp cỡng ép, mua chuộc, dụ dỗ và có cả tự nguyện nữa

Về mặt lý thuyết Hồi giáo đã mang lại một t tởng dân chủ nào đó cho xã hội đẳngcấp ở ấn Độ; mang lại những yếu tố mới cho kinh tế vốn đóng kín ở ấn Độ.Trớc

đó bởi những ngời ấn Độ thờng chịu đau khổ bởi luật pháp hà khắc và tàn bạocủa chế độ đẳng cấp thì Hồi giáo với nội dung của nó lúc đầu là kêu gọi đoàn kếtkhông hành hạ phụ nữ, khuyến khích giải phóng nô lệ Rõ ràng nó có sức hấp dẫnnào đó, trong khi tiếp nhận Hồi giáo một tôn giáo hứa hẹn sự bình đẳng cho cáctín đồ của mình, những ngời thuộc đẳng cấp dới ở ấn Độ nh Vaitria đã gửi gắmvào tôn giáo này những hi vọng của mình mặc dù trong thực tế Hồi giáo khôngmang lại cho họ sự bình đẳng xã hội và không giải thoát khỏi chế độ đẳng cấpkhắc nghiệt Nhng rõ ràng tại ấn Độ Hồi giáo cũng đã khẳng định vị trí của mình

dù cho quá trình tryền bá đạo Hồi thờng gắn liền với những cuộc chiến tranh xâmlợc và công cụ đàn áp sự kháng cự của quần chúng nhân dân

Quá trình hình thành vơng triều Hồi giáo Đêli gắn liền với những cuộcchiến tranh tàn bạo, giã man của ngoại tộc, cuối thế kỷ XII, ngời Hồi giáo đã liêntục tiến hành các cuộc chiến tranh Vơng triều Gasni bị Môhamét Go tiêu diệt lậpnên vơng triều Go chiếm dữ những vùng đất ở vùng Tây Bắc ấn Tuy vậyMôhamét vua của vơng quốc Go cha bằng lòng với đất đai hiện có Năm 1192

Ông ta tiến hành xâm lợc phía Đông ấn Độ, làm chủ giữa vùng lãnh thổ sôngGiammu và sông Hằng Cuộc xâm lợc của tộc ngời Hồi giáo kết thúc năm 1200,toàn bộ miền Bắc ấn Độ bị chinh phục Vua Hồi giáo xứ Go phân phong đất đaimới chiếm đợc ở ấn Độ cho các tớng lĩnh và quan lại làm lãnh địa riêng Ông còn

cử Cutút Đin Ai bếch một viên tớng tàn bạo, làm tổng đốc để quản lý toàn bộ cáclãnh chúa ở miền Bắc ấn độ

Năm 1206, vua Môhamét bị giết chết những lãnh chúa Hồi giáo đợc phânphong đất đai ở ấn Độ đã tách miền Bắc ấn Độ thành một quốc gia riêng Cutút

Đin Ai Bếch tự xng là Xuntan ( quốc vơng Hồi giáo) của quốc gia này và đóng đô

ở Đêli Vơng triều Hồi giáo Đêli chính thức đợc thiết lập ở ấn Độ Tới năm 1526

Trang 25

lần lợt có năm vơng triều kế tục nhau đều lấy Đêli làm kinh đô và đều là nhữngngời ngoại tộc theo đạo Hồi Vì vậy giai đoạn 320 năm này (1206 – XIII ) 1526) tronglịch sử ấn Độ đợc gọi là giai đoạn Vơng triều Hồi giáo ĐêLi [19; 53].

2.2 Các đời Xuntan của vơng triều Hồi giáo Đêli ở ấn Độ.

Cuối thế kỷ XII, miền Bắc ấn Độ lại liên tục bị ngời Hồi giáo xâm lợc.Vào năm 1173, Môhamét Go (Ghori) lật đổ vơng triều Gazni và sáng lập vơngtriều Go và ngay sau đó Môhamét Go mang quân tràn vào Pengiáp Sau khichiếm đợc vùng này, Môhamét Go lại tiếp tục phía Đông và nhiều vùng khác

Đến năm 1200, hầu hết miền Bắc ấn độ rơi vào tay kẻ xâm lợc và trởthành một bộ phận của đế quốc Gazni Với t cách là kẻ chiếm hữu tối cao đất đaicủa quốc gia Ông (Môhamét Go) đã đem đất đai chinh phục đợc ở miền Bắc ấn

Độ phân phát cho các tớng lĩnh của mình làm thái ấp gọi là Ikta, đồng thời cửCutútđin Ai bếch quan cai trị các đất đai đó

Năm 1206, trên đờng trở về sau cuộc hành quân trấn áp cuộc khởi nghĩa ởPengiáp, Môhamét Go bị giết và các tớng lĩnh đợc phong đất ở Bắc ấn Độ,không chịu thừa nhận ngời cai trị mới của Gazni là tân chủ, nên đã tách Bắc ấn

Độ ra thành một quốc gia riêng do Aibếch làm vua gọi là Xuntan, đóng ở Đêli

Từ đó cho đến năm 1526, tuy có thay đổi nhiều vơng triều nhng hầu hết nhữngngời Hồi giáo cai trị ấn Độ đều lấy Đêli làm kinh đô Vì vậy lịch sử gọi thời kỳHồi giáo thống trị ở ấn Độ (1206 – XIII ) 1526) là thời kỳ Xuntan Đêli ( vơng triềuHồi giáo Tuyếc đóng ở Đêli)

Thời kỳ đầu, nền thống trị của Xuntan Đêli còn cha đợc vững chắc Bọn ớng lĩnh phong kiến Hồi giáo chia cắt đất nớc, chiếm giữ từng vùng vẫn cha thoảmãn, họ còn muốn Xuntan ban cấp thêm nhiều đất đai mới và đặc quyền mới Dovậy họ không chịu sự kiểm soát của các Xuntan, khiến cho quyền hành của cácXuntan chỉ là h vị Sau khi Ai bếch chết (1210), những cuộc tranh dành ngôi vuadiễn ra đẫm máu và liên tiếp ở triều đình nên chỉ trong vòng 36 năm (1210- 1246)

t-đã thay đến 6 đời Xuntan Đồng thời giữa các vua chúa phong kiến Hồi giáo cũngdiễn ra cuộc chiến tranh tơng tàn không ngớt, làm cho ấn Độ rơi vào tình cảnhhết sức rối loạn và suy yếu Nhìn chung những nhà vua của vơng triều này phầnlớn là những thủ lĩnh quân sự dạn dày kinh nghiệm chiến đấu nhng mặt khác họlại rất cuồng tín đầy tham vọng và tàn bạo, chẳng hạn nh chống lại một âm mubạo loạn ở Đêli, Abútđin Khalgi đã sai giết hại trong một đêm tất cả những ngời

đàn ông khoảng từ 15 đến 30 ngàn ngời Còn Môhamét Go thì đã lập mu mời cha

Trang 26

đẻ của mình đến dự tiệc,rồi sai làm sập đổ toà lầu giết chết ngời cha để chiếmngôi vua Nhà vua này đã đa vơng triều Hồi giáo Đêli lên đến đỉnh cao nhng cũngbắt đầu biểu hiện những dấu hiệu của quá trình suy sụp [12; 65] Ông ta đã saigiết rất nhiều ngời ấn Độ, vứt thây ngổn ngang ở trớc cung điện và trong sântriều Cũng chính ông ta, vì muốn chuyển dời kinh đô đã sai đuổi tất cả dânchúng ở Đêli phải lập tức đi theo ông và biến Đêli thành hoang vắng Khi nhậnthấy chỉ còn một ngời mù lang thang ở lại Đêli, nhà vua đã sai ngời sấn sổ lôi

đi đến nỗi con ngời bất hạnh kia đến kinh đô mới đã trở nên tàn phế

Nhìn chung chính quyền Hồi giáo đã áp dụng một chính sách đàn áp bầncùng hoá quảng đại quần chúng nhân dân ấn Độ và đó cũng là nguyên nhân dẫn

đến vơng triều Hôì giáo Đêli sụp đổ Năm 1265 Banban lên làm vua 1287), sau khi lên ngôi Banban đã thi hành nhiều biện pháp nhằm cũng cố quyềnlực của mình Ông tổ chức lực lợng quân đội thờng trực rất lớn bao gồm nhữnglính tuyển mộ từ ngời Trung á, ápGanistan, iran, nhờ đó quân đội mạnh,Banban đã bảo vệ đợc đất nớc trớc nhiều cuộc tấn công nổi dậy trong nớc, đánhbại các lãnh chúa phong kiến các xứ thu hồi Xuntan về cho mình và mở rộng lãnhthổ Ngoài ra, để củng cố sự thống trị của ngời Hồi giáo ở ấn Độ, Banban đãkhuyến khích ngời ấn theo đạo Hồi Ông dành cho ngời theo đạo Hồi những utiên đặc biệt trong việc giữ chức vụ cao trong quân đội và bộ máy cai trị, thăngchức và nhiều đặc quyền khác

(1265-Sau khi Banban chết (1287), những ngời kế tục ông còn tiếp tục phải đốiphó với nhiều đợt tấn công nữa của ngời Mông cổ.Dới thời của Xuntan Alautđin(1296- 1316) quân Mông cổ tiến hành ba cuộc xâm lợc lớn vào ấn Độ, nhng cả

ba cuộc điều bị Alaútđin đánh bại, từ đó ngời Mông cổ phải tạm thời ngừngnhững cuộc tấn công vào ấn Độ Khi đã bảo vệ đợc lãnh thổ của mình trớc nhữngcuộc tấn công của ngời Mông cổ, Alaútđin đã hớng nỗ lực của mình vào việc tiếnhành bành trớng xuống phía Nam Năm 1308 bắt đầu diễn ra cuộc tiến công lớnvào vùng Đề Can của Alaútđin Cuộc chiến kéo dài ba năm (1308- 1311) và lần l-

ợt các nớc Yađava(1308), Lacati (1309) và Hôysa (1311) bị chinh phục Miền

Đêcan kéo dài đến sông Cariari và bị sát nhập vào đế quốc Xuntan Đêli Cũngtrong những năm này đế quốc Xuntan Đêli ở vào thời kỳ cờng thịnh nhất

Sau khi Alaútđin chết, một cuộc đấu tranh dành ngôi vua đã diễn ra, cuốicùng, vào năm 1320, GhiatúcĐinTuglúc, tổng đốc miền Pengiáp đã giành thắnglợi, trở thành Xuntan, mở đầu cho vơng triều Tuglúc (1321- 1414) Trong thời kỳ

Trang 27

rối loạn tất cả các vơng quốc Đêcan bị Alaútđin chinh phục đều tách ra khỏi sự lệthuộc của Xuntan

Ngời kế nghiệp Alaút đinTuglúc là Môhamét Bin Tuglúc (1325- 1351) đãphải tốn nhiều công sức chiếm đợc nhiều công quốc ở Đêcan Vào 1326Môhamét dời đô về Đêôghia cuộc dời đô này đã gây hậu quả rất tai hại cho Đêlilàm cho thế lực Xuntan ở Miền Bắc ấn Độ trở nên suy yếu Lợi dụng tình hình

đó, ngời Mông cổ lại tiến hành những cuộc xâm lợc vào ấn Độ, còn ở trong nớcthì khắp nơi các lãnh chúa phong kiến nổi dậy chống Xuntan Môhamét đánh bại

đợc ngời Mông Cổ, nhng cuộc đấu tranh giữa các lãnh chúa địa phơng diễn ra daidẳng và hết sức khó khăn Môhamét thành lập một đội quân rất lớn, việc nuôi d-ỡng quân đội này đã làm cho ngân sách nhà nớc cạn kiệt Để bổ sung cho côngquỹ Môhamét đã tăng thuế, vốn đã rất cao, làm cho đời sống của các tầng lớpnhân dân trở nên điêu đứng [15; 180- 352]

Năm 1357, MôhamétbinTuglúc chết, cảnh tranh dành ngôi vua giữa nhữngngời trong dòng họTuglúc lại diễn ra Chính quyền Xuntan, vì thế trở nên suyyếu Trong khi đó bọn phong kiến Hồi giáo và ấn Độ giáo liên tục gây chiến vớinhau, tàn phá đất nớc, đó là những nguyên nhân để nhiều vơng quốc tách ra khỏi

sự lệ thuộc của Xuntan (nh vơng quốc Manva, Hanđít)

Năm 1398, Quân Mông Cổ do Timua dẫn đầu vợt sông ấn tràn vào Bắc ấn

Độ, đánh tan đạo quân của Xuntan Môhaméttuglúc, chiếm Đêli, cớp phá thànhphố và tàn sát c dân Năm 1399, Timua rút về Sanmacandơ ở Trung á, với rấtnhiều của cải cớp đợc và nhiều tù binh ấn độ Khi rút khỏi ấn độ, Timua để lạiviên tớng của mình là Khidơrơ làm tổng đốc, vơng triều Tuglúc của ngời Hồi giáovẫn tồn tại nhng phạm vi thống trị của nó chỉ còn phạm vi rất hẹp ở Đêli vàPengáp mà thôi

Năm 1414, ông vua cuối cùng của vơng triều Tuglúc chết, Khơđơrơ lênlàm Xuntan, lập ra vơng triều Xait (1414 – XIII ) 1450) Đến năm 1450, nhân khi vơngtriều Xait suy yếu, tổng đốc Pengiáp là Balenkhanlôđi chiếm ĐêLi và tự xng làXuntan, lập ra vơng triều Lôđi (1451 – XIII ) 1526) Nớc Xuntan Đêli dới hai vơngtriều Xait và Lôđi thì chỉ còn rất hẹp, thực chất chỉ còn tiểu quốc Đêli mà thôi

Còn phần lớn miền Bắc ấn độ đã chia ra thành nhiều nớc nhỏ, khôngngừng đánh chiếm lẫn nhau Tình trạng đó khiến cho ấn độ không chống lại nổilàn sóng xâm lăng của ngời mông cổ vào đầu thế kỷ XVI Năm 1526, Đêli bị

Trang 28

ngời Mông Cổ chiếm, vơng triều Lôđi bị diệt vong chấm dứt 320 năm ấn độ dới

Vơng quốc này lấy Cabun làm trung tâm đến thế kỷ IX đã hoàn thành xâmchiếm miền bắc ấn độ và biến vùng đó thành một tỉnh của vơng triều Gajiơni.Nhng đến thế kỷ XII thì vơng triều Gajiơni bị vơng triều Go tiêu diệt Nh vậyvùng Bắc ấn trở thành một tỉnh của vơng triều Go Vào năm 1206 nhân cơ hộMôhamét Go bị ám sát chính quyền Hồi giáo lục đục và suy yếu Lợi dụng tìnhhình đó tổng đốc Aibếch đã tuyên bố ấn độ tách khỏi vơng triều Go và lập nênvơng triều Hồi giáo Đêli thống trị tại ấn độ Từ đó ngời Hồi đã đặt ách thống trịcủa họ lên đất ấn độ hơn ba thế kỷ (1206 - 1526) Từ đây ấn độ bị đặt ách thốngtrị của ngoại tộc, các đời Suntan của vơng triều Hồi giáo đã thực hiện đờng lối caitrị với nhiều chính sách phân biệt chủng tộc, phân biệt kỳ thị tôn giáo hà khắc,trong ách nô dịch bóc lột lên đầu lên cổ nhân dân ấn độ

Vơng triều Hồi giáo đã thiết lập nên bộ máy cai trị đứng đầu là Xuntanvừa nắm giữ vơng quyền vừa thống lĩnh thần quyền, dới Xuntan có ba chức làquan chỉ huy, quan thu thuế, quan xây dựng các công trình Nhà nớc Xuntan tồntại dựa trên một lực lợng quân đội đông đảo đợc xây ở nớc ngoài Các tớng lĩnhthờng do ngời sắc mục (Iran, Arập, thổ nhĩ kỳ) đảm nhận Tổ chức hành chínhcơ sở dới cùng ở địa phơng vẫn duy trì chế độ công xã nông thôn Với chính sáchphân biệt chủng tộc, tôn giáo, đẳng cấp, xây dựng các công trình tốn kém gâynhiều cuộc tấn công hao ngời tốn của, trong khi đó thì nhân dân ấn độ vừa phảichịu nhiều thứ thuế hà khắc và nghĩa vụ lao dịch đời sống của họ cực khổ và họ

đã đứng dậy đấu tranh để giành lấy những quyền lợi thực về mình Dới thời đạinày đã diễn ra cuộc khởi nghĩa lớn không những của nông dân mà có cả nhữngcuộc khởi nghĩa của thị dân ngay cả ở kinh đô Đêli đó là cuộc khởi nghĩa củanông dân ở Đôáp (ngoại thành Đêli) họ quyết tâm đốt thóc giống, giết súc vật rồi

Trang 29

chạy vào rừng để chiến đấu trong nhiều năm, nghĩa quân thờng xuyên tập kíchvào kinh đô phá kinh thành mở của các kho tàng rồi lấy của cải phát cho dân làmcho triều đình Đêli khốn đốn Cuối cùng triều đình đã tập hợp lực lợng các lãnhchúa phong kiến địa phơng bao vây toàn bộ khu rừng và phóng lửa đốt, cuối cùngcuộc khởi nghĩa bị dập tắt Ngoài cuộc khởi nghĩa của nông dân thì thị dân cũng

có cuộc khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ ở kinh thành Đêli do Hatxơmu là một ngờidân nghèo thành thị lãnh đạo Mục đích của cuộc khởi nghĩa này là chống thuếcao, chống chính sách phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đòi mở cửa nhà tù để thả tùnhân ấn độ giáo, sau đó họ đã xông vào cung điện của nhà vua một cách dũngmạnh, buộc nhà vua phải chạy khỏi kinh thành và họ đã làm chủ đợc Đêli trongmột thời gian, rồi cử một ngời dân nghèo ở ấn độ lên làm vua Sau đó lực lợngphong kiến Hồi giáo đã tập hợp lực lợng phản công và đàn áp lại phong trong tràokhởi nghĩa cuối cùng phong trào khởi nghĩa cũng dập tắt

Ngoài phong trào đấu tranh trên mặt trận chính trị, kinh tế còn có phongtrào mạnh mẽ trên lĩnh vực t tởng đó là phong trào Bờrắcty, họ đấu tranh tuyêntruyền cho sự bình đẳng của mọi ngời trớc thần linh không có sự phân biệt giữangời ấn độ giáo và ngời Hồi giáo đặt biệt là họ lên án chế độ đẳng cấp, bất bình.Vào thế kỷ XIV vơng triều Hồi giáo tỏ ra suy yếu bởi vì nội bộ xung đột thờngxuyên, họ lại bị một đòn tấn công quyết liệt vào năm 1398 của thủ lĩnh Timoleng

từ bên ngoài vào, ông đa 1,5 vạn quân tấn công ồ ạt vào kinh đô phá kinh đôthành tro bụi, vơng triều Hồi giáo không còn đủ sức để chống đở nữa cuối cùngnhân dân đã đoàn kết lại và chỉ bằng những vũ khí thô sơ nhng một tháng sau đã

đuổi đợc Timoleng ra khỏi bờ cõi của đất nớc

Đến thế kỷ XV nội bộ vơng triều Hồi giáo đánh nhau quyết liệt, vơng triềubây giờ chỉ còn một khu đất nhỏ hẹp xung quanh Đêli Tình hình đó kéo dài mãi

đến năm 1526 thì Babua là cháu của Timoleng đã đem 20 ngàn quân tiến vào ấn

độ lật đổ vơng triều Hồi giáo

2.3.1.2 Về kinh tế

Nhà nớc nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất và chi phối đất trong cả

n-ớc ở trong nớc các Xuntan Hồi giáo đã tiến hành phân chia các loại hình sở hữu

Trang 30

Ruộng đaminđa là loại ruộng đất của bọn quý tộc phong kiến ấn Độ giáo,thì vẫn đợc sử dụng nh cũ nhng họ phải đóng thuế và có nghĩa vụ lao dịch chonhà nớc loại ruộng này có quyền thừa kế Tuy vậy nhà nớc có quyền tớc đoạt bất

kỳ lúc nào Loại ruộng đất của nhà nớc phân phối cho các công xã nông thôn đểcông xã tự cày cấy và nộp thuế cho nhà nớc gọi là ruộng Hatxơ Lúc bấy giờ đãxuất hiện loại ruộng t gọi là Mincờ tuy nhiên loại ruộng này không phổ biếnlắm.Thuế đánh vào ruộng t rất thấp, ngoài ra các đền thờ Hồi giáo và ấn Độ giáo

có rất nhiều đất đai do nhà nớc ban tặng, loại ruộng này không phải đánh thuế

mà nhà thờ sử dụng hoa lợi để chi cho những việc của tôn giáo

Lúc này Hồi giáo đợc đề cao, trong khi đó ấn Độ giáo bị truy bức, Hồigiáo đợc coi là quốc giáo Các ông vua lúc bấy giờ có mọi quyền tối thợng họ cóquyền về kinh tế, chính trị đợc tham gia vào các quân chức của nhà nớc, đợc xửtrong toà án riêng và ngời Hồi chỉ phải đóng thuế bằng một nửa thuế của ngời ấn

Độ giáo Nhà nớc còn bao cấp ruộng đất cho các nhà thờ Hồi giáo sử dụng Còn

đối với những ngời theo ấn Độ giáo thì họ phải chịu một khoản thuế đặc biệt đó

là thuế đầu ngời ngoại đạo Trong các khoản thuế đóng góp nặng gấp hai lần màngời Hồi giáo phải nộp Ngời ấn Độ giáo không đợc tham gia vào quan chức nhànớc họ còn phải chịu đánh thuế hành hơng Bởi vậy nhiều tín đồ ấn Độ giáo đã

bỏ chạy sang Hồi giáo để khỏi bị truy bức

Nhà nớc còn quan tâm đến việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nh đào hồchứa nớc, khai thông kênh rãnh, nổi bật là hồ chứa nớc ở ngoại ô Đêli có chiềudài đến nửa dặm và chiều rộng đến 0,4 dặm, riêng vơng triều thứ 14 đã khaithông một con kênh dài 200km.Nhà nớc còn khuyến khích sản xuất nông nghiệp

nh việc đẩy mạnh khai hoang mở rộng diện tích, cả khu rừng ở xung quanh thànhphố ĐêLi cũng đợc phát quang để trồng trọt

Bên cạnh những thành tựu về mặt văn hoá thì thời kỳ này kinh tế cũng kháphát triển, do việc các Xuntan Đêli chú trọng xây dựng các công trình thuỷ lợi đểtới tiêu cho hoa màu nên việc khai hoang và mở rộng diện tích đã làm cho nềnkinh tế phát triển “Các vùng trở nên phồn thịnh, ruộng đồng nối với ruộng đồng,vờn tợc nối với vờn tợc, làng ấp nối liền với làng ấp” Nhiều làng đợc mọc lên,diện tích gieo trồng ngày đợc mở rộng, ngời ta trồng nhiều các loại cây trong đólúa vẫn là loại cây chính có 21 loại lúa đợc trồng ở ấn Độ thời kỳ này Ngoài racác loại cây ăn quả, cây công nghiệp, các biện pháp thâm canh, kỹ thuật canh tác

Trang 31

đợc chú ý, năng suất trong công nghiệp, nông nghiệp ngày càng tăng, họ có thểthu hoạch đợc một năm 2 đến 3 vụ

Thủ công nghiệp cũng đợc các Xuntan chú trọng, đặc biệt là các ngànhnghề truyền thống nh: dệt, nghề làm đồ trang sức, kinh tế riêng rẽ là hình thứcchủ yếu của sản xuất công nghiệp, sản phẩm đợc đem bán ra thị trờng địa phơnghay theo sự đặt hàng của quý tộc và quan lại phong kiến Thời kỳ này cũng đãxuất hiện nhiều thành phố lớn Đó chủ yếu là những nơi trú ngụ của Xuntan vàcác quan cai trị địa phơng nên ở đó nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủ côngnghiệp và nông nghiệp lớn Do vậy thành phố là nơi thủ công nghiệp phát triển.Khác với ở nông thôn, thủ công nghiệp ở các thành phố có sự phân công giữa cácnghành nghề khá tỷ mỉ,chất lợng của các sản phẩm thủ công ở các thành phốcũng tăng lên Ngoài ra các thợ thủ công tự do, ở thành phố còn có thợ thủ công

lệ thuộc làm việc trong các xởng thủ công của nhà nớc, để sản xuất ra những vậtliệu cần thiết trong sinh hoạt của các Xuntan

Ngoại thơng thời kỳ này cũng đợc các Xuntan chú ý phát triển, các thànhthị ra đời, hải cảng ở vịnh Ben Gan, vịnh arập và một số địa điểm trên các đèo ởdọc các đờng thơng mại lớn Vẫn nh trớc kia thời kỳ Xuntan Đêli ấn độ đem vảivóc, đồ trang sức và gia vị để đổi lấy hàng hoá của các nớc khác Ngựa chiến binh

là hàng hoá nhập khẩu quan trọng nhất đợc đa từ các nớc trung á, tiến sang Còncác loại các hàng hoá khác nh: đồ sứ tráng men, đồ sơn mài và một số kim loại đ-

ợc nhập khẩu từ Trung Quốc nh : bạc, vàng nhập khẩu vào ấn độ, một phần để

đúc tiền, nhng chủ yếu đợc tích tụ lại trong các kho tàng của nhà nớc

Tuy nền kinh tế dới thời Xuntan Đêli có sự phát triển nhất định, nhng nóchỉ làm lợi cho giai cấp thống trị, còn quần chúng nhân dân ấn độ thì vẫn cựckhổ do chịu thuế quá nặng nề, chiến tranh tàn phá và sự hận thù về tôn giáo Điều

đó đã làm cho những mâu thuẫn giai cấp, tôn giáo trong xã hội ngày càng gaygắt Nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân đã diễn ra dới nhiều hìnhthức Song nó đều giống nhau về mục đích đó là chống áp bức phong kiến và sựphân biệt đẳng cấp, tôn giáo, sự bình đẳng về mọi mặt giữa các tầng lớp, giai cấp.Những cuộc đấu tranh đó phần lớn bị đàn áp đẫm máu và đó cũng là nguyên nhânlàm cho các vơng triều Xuntan Đêli suy yếu và sụp đổ vào năm 1526

2.3.1.3 Văn hoá xã hội:

Khi xâm chiếm và thống trị ấn độ, những ngời Hồi giáo du nhập đạo Hồivào đất nớc này Vì vậy hầu hết các chức vụ cao cấp và quan trọng trong bộ máy

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w