1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978 2006)

111 479 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Cải Cách Kinh Tế Của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Đối Với Nông Thôn Và Những Kết Quả Bước Đầu (1978 - 2006)
Tác giả Ngô Thị Lan
Người hướng dẫn TS. Phạm Ngọc Tân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Lịch Sử
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 388 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những kinh nghiệm rút ra trong thực tiễn cảicách, tác giả đã đề xuất những biện pháp để nhằm mục đích triển khai tốt hơncông cuộc cải cách nông nghiệp và nông thôn.Ngoài ra, ở các nớc

Trang 1

- -ngô thị lan

chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bớc đầu (1978 - 2006)

kể từ khi nhận đề tài cho đến khi luận văn đợc hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong khoa Lịch sử, nhất

là các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lịch sử thế giới - khoa Lịch sử, trờng

Đại học Vinh đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.

Lời cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các bạn bè, gia đình và những ngời thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập vừa qua

Trang 2

Vinh, th¸ng 12 n¨m 2007

Häc viªn Ng« ThÞ Lan

Trang 3

A mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trung Quốc có diện tích gần 9,6 triệu km2, trong đó đất nông nghiệpchiếm gần 100 triệu ha Đồng thời Trung Quốc lại là nớc có lịch sử lâu đời, tàinguyên nông nghiệp phong phú, có số dân đông nhất thế giới và đa số c dânsống ở nông thôn Vì thế, kinh tế nông nghiệp nông thôn luôn giữ vai trò đặcbiệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Trong thời kỳ cáchmạng (1931-1949), nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc vẫn giữ một vai trò

quan trọng, nh Mao Trạch Đông đã nói: "Cách mạng Trung Quốc sở dĩ thành

công đợc quy đến cùng là do sự nắm tơng đối tốt vấn đề nông thôn", xây dựng

căn cứ cách mạng ở nông thôn, đi theo con đờng lấy nông thôn bao vây thànhthị Trên mức độ nào đó có thể nói, cách mạng Trung Quốc nếu không cónông thôn, không có căn cứ cách mạng ở nông thôn thì sẽ không giành đợcthắng lợi Hiện nay về cơ bản, Trung Quốc vẫn là một nớc nông nghiệp vớidân số hơn 1,3 tỷ ngời, trong đó có tới 866 triệu ngời sống ở nông thôn Chonên, nông dân Trung Quốc vẫn là nhân tố quyết định và kinh tế nông thôn vẫn

có vai trò quan trọng trực tiếp đến sự phát triển của đất nớc Đặng Tiểu Bình,

nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh: "Trung Quốc có tới 80% c

dân nông nghiệp, Trung Quốc có ổn định hay không trớc hết phải xem 80% c dân này có ổn định hay không Thành thị có làm tốt đến bao nhiêu mà nông thôn không ổn định thì cũng chẳng có nghĩa gì Kinh tế Trung Quốc có thể phát triển hay không, trớc hết xem nông thôn Trung Quốc có phát triển hay không, cuộc sống của nông dân có khá hơn không Nông thôn, nông nghiệp không ổn định, nông dân không thoát khỏi nghèo nàn thì đất nớc Trung Quốc còn cha thoát khỏi nghèo nàn Nông dân không phấn khởi tích cực sản xuất thì đất nớc khó bề phát triển" Hay trong nghị quyết Trung ơng Đảng cộng

sản (ĐCS) Trung Quốc lần thứ 8, khoá XIII (11/1991) cũng nhấn mạnh "Nông

nghiệp là cơ sở cho nền kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đất nớc tự lập Nếu không có sự ổn định và tiến bộ toàn diện ở nông thôn, sẽ không có sự ổn định

và tiến bộ toàn diện của xã hội Nếu không có sự khá giả của nông dân sẽ không có sự khá giả của nhân dân cả nớc Nếu không có hiện đại hoá nông nghiệp, sẽ không có hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân [127; 47].” [127; 47].Chính vì xác định đợc tầm quan trọng đặc biệt của nó, nên trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc vấn đề nông thôn đợc đặt vào vị trí

Trang 4

trọng tâm của toàn bộ công tác Đảng và chính quyền ở Trung Quốc.

Việt Nam chúng ta, vốn có nhiều điểm tơng đồng với Trung Quốc, ViệtNam cũng từng xây dựng CNXH theo mô hình của Liên Xô Nông thôn ViệtNam cũng trải qua thời kỳ phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tậptrung với hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là các hợp tác xã nông nghiệp.Nông thôn Việt Nam cũng đã từng thực hiện các chính sách khoán 100, khoán10 và hiện nay nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam đã chuyển sang sản xuấttheo hộ gia đình và phát triển theo kinh tế thị trờng

Xuất phát từ thực tế đất nớc, cùng với việc xác định đợc tầm quan trọngcủa kinh tế nông nghiệp, nên Đảng và Nhà nớc ta cũng đang từng bớc tiếnhành hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, song trong quá trình thực hiệncũng gặp không ít khó khăn Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách của Đảng vàNhà nớc Trung Quốc đối với nông thôn sẽ giúp chúng ta rút ra những bài họccần thiết đối với công cuộc hiện đại hoá (HĐH) nông thôn Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay

Với lý do trên, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và lựa chọn vấn đề

"Chính sách cải cách kinh tế của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đối với nông thôn và những kết quả bớc đầu (1978 - 2006)" làm đề tài luận văn tốt

nghiệp cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế TrungQuốc, nhất là lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã khiến cho nhiều nớc,nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới quan tâm Nhiều công trìnhnghiên cứu, nhiều luận án tiến sĩ, nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoàinớc đã đợc công bố Các nhà Trung Quốc học của Viện Nghiên cứu TrungQuốc thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia Việt Nam cũng

đã có những công trình nghiên cứu về Trung Quốc ở nhiều góc độ khác nhau.Trong đó, số bài viết về chính sách kinh tế của Trung Quốc đối với nông thônTrung Quốc chiếm một số lợng không nhỏ Khi đề cập tới vấn đề này, các nhànghiên cứu đã tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà có cách nhìn nhận và đánhgiá cũng không hoàn toàn giống nhau Song, do hạn chế của bản thân nênnguồn tài liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc phần lớn là các tài liệu viết bằngtiếng Việt hoặc đã dịch ra tiếng Việt và một số tài liệu bằng tiếng Trung

2.1 Trong nớc

Trang 5

Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu và tìm hiểu về nôngthôn Trung Quốc, nh:

- Cuốn "Cải cách nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc" của Nguyễn

Đăng Thành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1994 Cuốn

"Những vấn đề bức xúc ở nông thôn Trung Quốc", đề tài cấp Bộ, TS Phùng Thị Huệ làm chủ nhiệm Cuốn "Tìm hiểu tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá nông nghiệp nông thôn Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay" đề tài

cấp Viện của Nguyễn Xuân Cờng, năm 2004 Ba cuốn sách này đã trình bàymột cách khái quát về tiến trình cải cách nông nghiệp và nông thôn TrungQuốc Trong đó, chủ yếu tập trung vào các vấn đề phát triển công nghiệp ởnông thôn và đề cập tới một số vấn đề đang tồn tại gây nên những bất ổn trongcuộc sống của nông dân Trung Quốc

- Cuốn "Xí nghiệp hơng trấn ở nông thôn Trung Quốc (Quá trình hình

thành và phát triển)" của Đỗ Tiến Sâm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà

Nội 1994 Trong công trình này, tác giả đã trình bày về quá trình ra đời vàphát triển của các mô hình xí nghiệp hơng trấn khác nhau, kể từ khi các xí

nghiệp này còn mang tên "xí nghiệp xã đội", đồng thời tác giả cũng nêu lên

những đặc trng cơ bản của các mô hình đó

- Luận văn thạc sỹ "Trung Quốc với việc giải quyết vấn đề "tam nông"

trong thời kỳ cải cách mở cửa" của Bùi Thị Thanh Hơng (ĐHKHXH và NV),

Hà Nội 2006 Trong công trình này, tác giả đã trình bày khái lợc về các vấn đềnông nghiệp, nông thôn, nông dân Trung Quốc qua các thế hệ lãnh đạo, đồngthời cũng nêu lên những thay đổi trong chủ trơng của các nhà lãnh đạo quatừng giai đoạn khác nhau về việc giải quyết vấn đề "tam nông"

Trên các tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Kinh tế cũng đã

đăng các bài viết chuyên đề về các vấn đề nông thôn Trung Quốc, nh :"Tìm

hiểu kinh tế nông thôn Trung Quốc" của Nhợc Huy, Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc, số 3-1997; "Vài nét về tiến trình cải cách nông thôn Trung Quốc

từ cải cách mở cửa đến nay" của Nguyễn Xuân Cờng, Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc số 2-2005; "Nông nghiệp - khó khăn lớn nhất của Trung Quốc

trong cải cách phát triển , Tạp chí Kinh tế Quốc tế” [127; 47] , ngày 25/4/2004 Các bàinghiên cứu này đã ít nhiều đề cập tới quá trình phát triển, thành tựu cũng nhnhững khó khăn của công cuộc cải cách nông nghiệp ở nông thôn TrungQuốc Đó chính là những tài liệu bổ ích để chúng ta có cơ sở phân tích, đánhgiá khách quan, khoa học hơn quá trình cải cách nông thôn Trung Quốc

Trang 6

Ngoài ra, rải rác trên các báo cũng đã đăng các bài, nh: "Trung Quốc

với các biện pháp thúc đẩy kinh tế nông thôn ” [127; 47] của Quang Trờng, Báo Nhân

dân, ngày 26/6/2003; "Trung Quốc để phát triển nông thôn bền vững" của Danh Đức, Tuổi trẻ Chủ nhật, số 11-2004; "Trung Quốc: Lấp dần hố sâu“hố sâu” ” [127; 47]

giàu nghèo” [127; 47]., của Phạm Chu, Quân đội nhân dân, số 16527, ngày 27/4/2007

Trong các bài viết này, các tác giả đã đa ra những nhận định ban đầu và một

số giải pháp để giải quyết tốt hơn vấn đề nông thôn Trung Quốc hiện nay, mục

đích làm cho khoảng cách nông thôn và thành thị xích lại gần nhau hơn Đây

là cơ sở để chúng ta đánh giá khách quan sự thay đổi của nông thôn TrungQuốc trong thời kỳ thực hiện cải cách - mở cửa

2.2 Ngoài nớc

- Tại Trung Quốc, những năm gần đây, vấn đề nông thôn đã và đang làmột trong những vấn đề nổi cộm, trở thành tiêu điểm của d luận và các nhàquyết sách Trung Quốc Cho nên, đây là đề tài đợc rất nhiều nhà nghiên cứuquan tâm và đã có những công trình nghiên cứu tổng hợp của nhiều tác giả vàtác phẩm của Sơ Huệ, Lục Học Nghệ, Lu Bân, Trần Tích Văn, Lý Kinh Văn Nh:

- Cuốn "Kinh tế Trung Quốc bớc vào thế kỷ XXI" do Lý Kinh Văn chủ

biên, gồm 2 tập Nội dung của 2 tập sách này đã đề cập một cách toàn diệnnền kinh tế Trung Quốc trong thời gian (1978-1998) và nêu lên những khuynhhớng, mục tiêu phát triển cũng nh cục diện chuyển dịch cơ cấu sản nghiệptrong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế Trung Quốc trongthế kỷ tới Về vấn đề nông thôn, trong cuốn sách này cũng trình bày khái lợc

sự biến đổi cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch lao động nông nghiệp trong nôngthôn, đồng thời tác giả cũng nêu lên những nét sáng tạo và sự phát triển củacác tổ chức kinh tế nông thôn ở Trung Quốc

- Trong tạp chí Trung Cộng nghiên cứu có bài "Trung Cộng tăng cờng

công tác cơ sở nông thôn nhằm củng cố vững chắc chế độ sản xuất nông nghiệp" của Sơ Huệ, trang 88-96, năm 1982 Đề ra việc tăng cờng công tác cơ

sở ở nông thôn Đồng thời, tác giả cũng đa ra những biện pháp để thực hiện,

đó là: tăng cờng giáo dục t tởng chính trị; chấn chỉnh xây dựng tổ chức Đảng

và tổ chức quần chúng ở cơ sở; đẩy mạnh các hoạt động khoa học kỹ thuật ởnông thôn

- Cuốn "Hai mơi năm cải cách nông thôn Trung Quốc"(quyển 1), thuộc

Trung tâm nghiên cứu trờng Đảng, Nxb Trung Châu cổ tịch, năm 1998 Trong

Trang 7

cuốn sách này tác giả đã tập trung trình bày các mục tiêu chủ yếu và các kinhnghiệm cơ bản của công cuộc cải cách nông thôn ở Trung Quốc trong 20 nămcải cách mở cửa (1978-1998) Từ những kinh nghiệm rút ra trong thực tiễn cảicách, tác giả đã đề xuất những biện pháp để nhằm mục đích triển khai tốt hơncông cuộc cải cách nông nghiệp và nông thôn.

Ngoài ra, ở các nớc khác cũng đã có nhiều công trình khoa học, nghiêncứu về công cuộc cải cách nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc

Nh vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những khíacạnh khác nhau có liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu Đóchính là nguồn t liệu quan trọng và quý giá để chúng tôi thực hiện đề tàinghiên cứu của mình Tuy nhiên, theo chúng tôi cho đến nay vẫn cha có một

công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về "Chính sách cải

cách kinh tế của CHND Trung Hoa đối với nông thôn và những kết quả bớc

đầu (1978-2006)" Bởi vậy, thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng góp phần

tìm hiểu đầy đủ hơn về nông thôn Trung Quốc trong công cuộc cải cách mởcửa, để từ đó tìm ra những bài học kinh nghiệm nhằm mục tiêu giải quyết tốthơn vấn đề nông nghiệp, nông thôn ở nớc ta hiện nay

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu: Nh tên đề tài của luận văn đã chỉ rõ, đối tợng

nghiên cứu của luận văn là "Chính sách cải cách kinh tế của Cộng hoà nhân

dân Trung Hoa đối với nông thôn và những kết quả bớc đầu (1978-2006)".

Tuy nhiên, để có thể hiểu đợc chính sách kinh tế của Trung Quốc đối với nôngthôn trong thời kỳ cải cách mở cửa, chúng ta không thể không đề cập tớinhững nét khái quát cơ bản nhất về chính sách đối với nông thôn Trung Quốctrớc đó, đặc biệt là từ khi nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời (1949) đếntrớc khi tiến hành cải cách mở cửa

Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chính sách cải cách kinh

tế của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đối với nông thôn trong công cuộc cảicách mở cửa, trong đó chủ yếu tập trung tìm hiểu những chính sách, chủ trơngcủa Đảng và Nhà nớc Trung Quốc đối với kinh tế nông thôn, những thành tựu

và những vấn đề tồn tại trong thời gian thực hiện cải cách mở cửa từ năm 1978

đến năm 2006 Đồng thời luận văn cũng chú trọng đến các giải pháp giảiquyết vấn đề nông thôn hiện nay tại Trung Quốc, những triển vọng phát triểnnông nghiệp nông thôn để tiến tới xây dựng xã hội hài hoà, khá giả toàn diện

ở Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI

Trang 8

4 Phơng pháp nghiên cứu và nguồn t liệu

Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, về mặt phơng pháp luận,chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vậtlịch sử Thông qua nguồn tài liệu thu thập đợc chúng tôi tiến hành phân tích,

xử lí, hệ thống hoá và khái quát hoá những vấn đề cần thiết để đa vào luậnvăn Nói cách khác là sử dụng kết hợp hai phơng pháp: phơng pháp lịch sử vàphơng pháp logic, bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phơng pháp đối chiếu sosánh và các phơng pháp liên ngành để giải quyết các vấn đề liên quan tới luậnvăn

Nguồn tài liệu đợc sử dụng chủ yếu là các văn kiện của ĐCS TrungQuốc, các sách, tạp chí đã xuất bản, đồng thời tìm kiếm thêm những tài liệumới nhất trên mạng Internet

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích: Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về

chính sách cải cách kinh tế của nớc CHND Trung Hoa đối với nông thôn vànhững kết quả bớc đầu Nhằm đạt đến sự hiểu biết toàn diện, sâu sắc, có hệthống về chính sách cải cách của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đối với kinh

tế nông nghiệp và nông thôn từ năm 1978 đến năm 2006

5.2 Nhiệm vụ: Xuất phát từ mục đích trên đề tài nghiên cứu phải làm

rõ một số vấn đề cơ bản sau:

- Khái quát thực trạng nông thôn Trung Quốc trớc năm 1978, đặt ra yêucầu cấp thiết phải tiến hành cải cách

- Chính sách cải cách của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đối với nôngthôn từ năm 1978 đến năm 2006

- Những thành tựu bớc đầu đạt đợc và những vấn đề hiện đang tồn tại ởnông thôn Trung Quốc trong quá trình thực hiện chính sách cải cách, từ đó đa

ra những giải pháp tơng ứng để khắc phục, đồng thời luận văn cũng nêu lênnhững triển vọng phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc trong tơnglai

6 Đóng góp của luận văn

Theo suy nghĩ chủ quan của bản thân, luận văn có những đóng góp sau:

Đây là đề tài tập trung tìm hiểu về chính sách cải cách kinh tế củaTrung Quốc đối với nông thôn và những kết quả bớc đầu (1978 - 2006) Luậnvăn sẽ hệ thống hoá và khái quát hoá, dựng lại bức tranh tổng thể chính sáchcải cách kinh tế của Trung Quốc đối với nông thôn từ khi nớc Cộng hoà nhân

Trang 9

dân Trung Hoa thành lập (1949) đến năm 2006 Qua đó giúp ngời đọc hiểu

đ-ợc tơng đối rõ ràng về đờng lối, chính sách của ĐCS Trung Quốc đối với kinh

tế nông thôn từ năm 1949 đến nay, đặc biệt là trong thời kỳ cải cách mở cửa(1978-2006)

Trung Quốc và Việt Nam là hai nớc xã hội chủ nghĩa do ĐCS lãnh đạo,

đều đứng trớc nhiệm vụ lịch sử hiện đại hoá đất nớc Chúng ta có chung môitrờng và cũng gặp những vấn đề khó khăn nh nhau Về vấn đề nông thôn, giữahai nớc có nhiều điểm tơng đồng Tìm hiểu kinh tế nông thôn Trung Quốc cóthể góp phần gợi mở cho chúng ta những suy nghĩ về các vấn đề đang đặt ra ởnông thôn Việt Nam hiện nay

Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta cũng đang tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp và nông thôn, nhằm tăng thu nhập chonông dân, mở mang và phát triển kinh tế nông thôn nh tinh thần của nghịquyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ơng Đảng khoá IX đề ra Do

đó nội dung và t liệu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục

vụ cho quá trình thực hiện nghị quyết trên

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu lịch sửTrung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay, đồng thời, nội dung của luận văn cóthể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ và sinh viên đang học tập vànghiên cứu lịch sử Trung Quốc

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn đợc chia làm ba chơng:

Trang 10

b nội dungChơng 1Khái quát chính sách của trung quốc đối với nông

thôn trớc cải cách mở cửa (1949 - 1978)

1.1 Chính sách của Trung Quốc đối với nông thôn trớc năm 1978

1.1.1 Chính sách của Trung Quốc đối với nông thôn trong thời kỳ khôi phục kinh tế (1949 - 1952)

Ngày 1- 10 - 1949, nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đợc thànhlập, cách mạng Trung Quốc đã bớc sang giai đoạn phát triển mới - giai

đoạn quá độ lên CNXH Ngay sau ngày giải phóng nhân dân Trung Quốc

đã tiến hành thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế Nh ng do sự tồntại lâu dài của chế độ ruộng đất phong kiến đã đa đến sự chiếm hữu đất

đai ở nông thôn vô cùng bất hợp lý Số địa chủ và phú nông chỉ chiếmkhông đầy 10% dân số nông thôn, nhng lại chiếm tới 70% - 80% đất đaicủa cả nớc, còn số bần nông chiếm tới 70% - 80% dân số nông thôn, nh ngchỉ sở hữu không đến 10% đất đai Số địa tô hiện vật mà địa chủ và phúnông thu đợc chiếm khoảng 50% lợng sản phẩm nông nghiệp, thậm chí lúccao nhất phải lên tới 70 - 80% Đồng thời, ng ời nông dân còn bị bóc lộtbởi nạn cho vay nặng lãi và nhiều loại thuế khoá khác Chế độ sở hữuruộng đất phong kiến này là trở ngại lớn nhất của sự phát triển sức sảnxuất nông nghiệp, là nguồn gốc chủ yếu làm cho kinh tế nông nghiệp lạchậu và đời sống của nông dân nghèo khổ

Hơn nữa, từ năm 1931, Nhật đã phát động cuộc chiến tranh xâm l ợcvùng Đông Bắc Trung Quốc Đến năm 1937, Nhật mở rộng xâm l ợc ra cảnớc, nhân dân Trung Quốc đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhậttrong vòng 8 năm, tiếp theo lại trải qua 3 năm nội chiến với quy mô lớn

Trang 11

Nh vậy, hơn 10 năm chiến tranh liên miên đã làm cho kinh tế nông thôn

và sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc bị phá hoại nghiêm trọng Lực l ợng lao động ở nông thôn giảm sút, hệ thống thuỷ lợi bị phá hỏng gần nhhoàn toàn, đất đai bị bỏ hoang, trình độ sức sản xuất nông nghiệp suygiảm mạnh

-Đến năm 1949, so với năm đạt sản lợng cao nhất trong lịch sử(1936), sản lợng lơng thực cả nớc giảm 25%, sản lợng bông giảm 48%,sản lợng lá thuốc giảm 76%, sản lợng mía giảm 53%, sản lợng lạc giảm60%, trình độ chung của sản xuất nông nghiệp giảm 25% so với thời kỳ tr -

ớc kháng chiến chống Nhật [37; 16], nông sản phẩm chủ yếu không thểthoả mãn đợc nhu cầu của đời sống nhân dân

Chính vì thực trạng nh vậy, nên Chính phủ Trung Quốc đã chủ tr ơngdành khoảng thời gian 3 năm (1949-1952) để khôi phục kinh tế quốc dân.Nhng do đặc thù là một nớc nông nghiệp, c dân đa số là nông dân, bởivậy, nhiệm vụ căn bản trong thời kỳ này là phải khôi phục và phát triểnkinh tế nông thôn, nhằm mục đích giải quyết vấn đề lơng thực, ổn định vậtgiá thị trờng và đời sống của nhân dân

Quá trình thực hiện: Do việc chiếm hữu ruộng đất không hợp lý của

địa chủ và phú nông gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp,bởi vậy cần thiết phải tiến hành cải cách ruộng đất Tr ớc khi nớc CHNDTrung Hoa thành lập, ĐCS Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân vùng giảiphóng tiến hành cải cách ruộng đất, khoảng 160 triệu nông dân đã đ ợcchia ruộng đất, nhờ vậy đã phát huy mạnh mẽ tính tích cực sản xuất củanông dân, sản xuất nông nghiệp ở vùng giải phóng phát triển nhanh chóng.Sau khi nớc CHND Trung Hoa thành lập luôn coi cải cách ruộng đất là

nhiệm vụ cấp bách Chính vì vậy, ngày 28 - 6 - 1950 "Luật cải cách ruộng

đất của nớc CHND Trung Hoa" trên phạm vi cả nớc đã đợc ban bố [142;

2] Luật cải cách ruộng đất chỉ rõ, mục đích cơ bản của cải cách ruộng đấtlà: xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất bóc lột phong kiến của giai cấp địachủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, nhằm giải phóng sứcsản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất nông nghiệp, mở ra con đ ờngCNH của nớc Trung Quốc mới Tịch thu đất đai, gia súc, nông cụ, lơngthực thừa của địa chủ cùng với nhà ở d thừa trong nông thôn của họ; Trngthu đất đai trong nông thôn của các từ đờng, miếu mạo, tu viện, giáo đờng,trờng học và đoàn thể cùng với các loại đất công khác Toàn bộ số đất đai

Trang 12

cùng với t liệu sản xuất (TLSX) khác đã tịch thu và trng thu đợc, trừ sốphải quy về sở hữu Nhà nớc theo quy định của Luật cải cách ruộng đất ra,còn lại đều phân phối một cách thống nhất và công bằng hợp lý cho nhữngnông dân nghèo khổ không có đất hoặc ít đất và thiếu TLSX Ngoài ra,cũng phân cho địa chủ một ít ruộng đất để họ có thể dựa vào lao động củamình duy trì cuộc sống, nhằm bảo đảm quyền sử dụng ruộng đất cho nôngdân.

Trải qua 3 năm nổ lực phấn đấu của toàn Đảng toàn dân, kế hoạchkhôi phục kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đã hoàn thành thắng lợi Luậtcải cách ruộng đất đã đợc thực thi trong phạm vi cả nớc và đã thu đợcnhững kết quả sau:

Xoá bỏ chế độ bóc lột ruộng đất của bọn địa chủ phong kiến, giảiphóng đông đảo sức lao động ở nông thôn, thực hiện ớc mơ nghìn đời nay của

nông dân là "ngời cày có ruộng" Cải cách ruộng đất đã mang lại lợi ích to lớn

cho nông dân Theo thống kê, cải cách ruộng đất đã đem khoảng 700 triệumẫu (15 mẫu Trung Quốc bằng 1 hécta) ruộng phân chia cho 300 triệu nôngdân (chiếm khoảng 60% - 70% nhân khẩu nông nghiệp) Trớc cải cách ruộng

đất, để đợc canh tác trên 700 triệu mẫu ruộng đất này, nông dân đã phải nộpcho địa chủ Trung Quốc mỗi năm 30 triệu tấn lơng thực dới hình thức địa tônhng số lơng thực này sau cải cách ruộng đất đã hoàn toàn thuộc sở hữu củanông dân Sự biến đổi lớn lao này đã làm cho ngời nông dân Trung Quốc thực

sự đổi đời, trở thành ngời chủ ruộng đất, chủ nông thôn, đã nâng cao sự giácngộ chính trị của nông dân Đông đảo quần chúng nông dân đã trở thành trụcột của chính quyền nhân dân ở nông thôn, vì vậy đã tăng cờng củng cố vữngchắc khối liên minh công - nông

- Việc xoá bỏ chế độ bóc lột phong kiến đã tạo điều kiện thuận lợi

cho việc khôi phục và phát triển kinh tế Việc thực hiện "ngời cày có

ruộng" đã nâng cao tính tích cực sản xuất của nông dân và do đó thúc đẩy

sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh chóng Nông nghiệp giờ đây khôngnhững bảo đảm nhu cầu lơng thực của nhân dân cả nớc, mà còn tăng cờngcung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ngày càng tăng Cùng với việc sảnxuất nông nghiệp phát triển, thu nhập của nông dân tăng, thì sức mua đ ợcnâng cao, vì vậy đã mở thị trờng nông thôn rộng lớn cho việc tiêu thụ hàngcông nghiệp và thúc đẩy công nghiệp khôi phục và phát triển Ng ợc lại, sựkhôi phục và phát triển công nghiệp, nông nghiệp đã thúc đẩy sự giao l u

Trang 13

hàng hoá giữa thành thị và nông thôn, thúc đẩy th ơng nghiệp và giaothông vận tải phát triển theo Năm 1951, sức mua của nhân dân cả n ớctăng 25% so với năm 1950; mức tiêu thụ một số mặt hàng tiêu dùng thiếtyếu cũng tăng lên đáng kể, nh: năm 1951 vải sợi bông tiêu thụ tăng 10%,

đờng tăng 41%, chè tăng 70%, dầu hoả tăng 47% so với năm 1950 [111;6]

Nh vậy, qua 3 năm khôi phục kinh tế, bộ mặt nông thôn Trung Quốc

đã có nhiều thay đổi, đời sống của nông dân có phần đ ợc nâng cao hơn

Họ đã thực sự trở thành ngời chủ trên mảnh ruộng của mình, ớc mơ nghìn

đời nay của ngời nông dân đã trở thành hiện thực, cho nên càng thôi thúc

họ hăng say lao động sản xuất, phấn khởi bớc vào thực hiện kế hoạch 5năm lần thứ nhất

1.1.2 Chính sách của Trung Quốc đối với nông thôn trong kế hoạch

5 năm lần thứ nhất (1953-1957)

Sau khi hoàn thành công cuộc cải cách ruộng đất, chủ thể của kinh tếnông thôn cơ bản là nông dân cá thể phân tán Hình thức kinh tế này, tuy cólợi cho việc phát huy tính tích cực sản xuất của nông dân, nhng cơ sở kinh

tế của nông dân cá thể rất kém; sức kéo, nông cụ và vốn thiếu thốn nghiêmtrọng, khó khăn trong sản xuất rất lớn Không lâu sau, ở nông thôn xuấthiện hiện tợng mua bán ruộng đất, một số nông dân đợc chia đất trong cảicách ruộng đất, đã buộc phải bán đất và lại rơi vào tình trạng khốn quẫn.Nhằm tránh sự phân hoá hai cực mới xuất hiện ở nông thôn, củng cố thànhquả của ba năm khôi phục kinh tế, phát huy u thế của sự hợp tác quần thểnhằm xây dựng và tu bổ công trình thuỷ lợi, phòng chống thiên tai và ứngdụng khoa học - kỹ thuật (KH-KT) nông nghiệp tiên tiến nh máy móc nôngnghiệp phát triển thêm một bớc sản xuất nông nghiệp và kinh tế nôngthôn, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã quyết định trên cơ sở cải cáchruộng đất, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN) đối với nông nghiệp,dẫn dắt nông dân đi vào con đờng hợp tác hoá

Công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp của Trung Quốc đãtrải qua ba giai đoạn là: Tổ tơng trợ lẫn nhau, hợp tác xã nông nghiệp sơcấp và hợp tác xã (HTX) nông nghiệp cao cấp, kịp thời dẫn dắt nông dân đivào con đờng tập thể hoá

*Tổ tơng trợ lẫn nhau trong lao động nông nghiệp:

Đây là tổ chức tơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất nông

Trang 14

nghiệp do nông dân tiến hành Trong nội bộ tổ chức tơng trợ, TLSX của cácthành viên, đất đai vẫn thuộc quyền sử dụng của cá thể đó, chỉ thực hiện đổicông lao động giữa các nông hộ, sử dụng chung một số gia súc và nông cụ Tổtơng trợ lẫn nhau trong lao động nông nghiệp có hai hình thức.

- Một là, hình thức cấp thấp, do 3 - 5 hộ dân hợp thành, tổ chức tơng

hỗ lẫn nhau khi mùa vụ bận rộn, sau mùa thì giải tán, đến mùa vụ năm saulại tổ chức lại, cho nên hình thức này còn gọi là tổ chức t ơng trợ lẫn nhautạm thời hoặc theo thời vụ

- Hai là, hình thức cao cấp, có quy mô tơng đối lớn, ngoài việc tiến

hành hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động mùa vụ nông nghiệp chủ yếu ra, còntiến hành hợp tác tơng trợ lẫn nhau trong các ngành nghề phụ của nôngnghiệp, có một số tổ tơng trợ còn tích luỹ đợc một ít tài sản chung Nhìnchung, ở một mức độ nhất định tổ chức này đã giải quyết đ ợc tình trạngthiếu thốn sức lao động, sức kéo và nông cụ trong sản xuất nông nghiệp,

đồng thời phát huy vai trò thúc đẩy trong việc phát triển sản xuất nôngnghiệp Năm 1954, nông thôn cả nớc có tất cả 9,931 triệu tổ tơng trợ lẫnnhau, số nông hộ tham gia đạt 68,478 triệu hộ

* Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp sơ cấp:

Tổ tơng trợ lẫn nhau tuy có lợi cho việc phát triển sản xuất nôngnghiệp, nhng đất đai vẫn không thể sử dụng đầy đủ và hợp lý, ảnh hởng đếnphát triển nông nghiệp Trên cơ sở các tổ tơng trợ lẫn nhau đó, Đảng vàChính phủ đã tiếp tục xây dựng các HTX nông nghiệp sơ cấp HTX sảnxuất nông nghiệp sơ cấp là trên cơ sở bảo l u chế độ t hữu của nông dân,thực hiện góp ruộng đất, thống nhất kinh doanh; các TLXS nh gia súc vànông cụ lớn do HTX thống nhất sử dụng; xã viên tham gia lao động sảnxuất của tổ chức hợp tác xã Thu nhập của HTX, trừ một số l ợng tiền thuếnhất định phải giao nộp, và trích ra một số l ợng quỹ công tác, công ích nhất

định, số còn lại chủ yếu thực hiện phân phối theo lao động, đất đai đónggóp cũng đợc chia hoa hồng, số gia súc, nông cụ và TLSX khác giao nộpcho hợp tác xã sử dụng cũng đợc bù đắp tơng ứng HTX nông nghiệp sơ cấp

đã biến việc sản xuất phân tán của các nông hộ thành sản xuất thống nhất,

đã có đợc nguồn tích luỹ công cộng tơng đối lớn Đến năm 1955, cả nớc cótất cả 63,3 vạn hợp tác xã sản xuất nông nghiệp sơ cấp

* Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cao cấp.

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cao cấp đợc hình thành trên cơ sở

Trang 15

các HTX sản xuất nông nghiệp sơ cấp, có HTX do các tổ t ơng trợ lẫn nhauhoặc nông dân cá thể trực tiếp xây dựng nên Các TLSX chủ yếu nh đất đai,súc vật kéo, nông cụ lớn thuộc nông dân t hữu đa vào HTX đợc chuyểnthành sở hữu tập thể của xã viên, trong đó ruộng đất t hữu đợc chuyển thành

sở hữu tập thể, còn số súc vật, nông cụ lớn thuộc t hữu thì căn cứ vào giábình thờng lúc đó do hợp tác xã thu mua và chuyển thành sở hữu tập thể.Các t liệu sinh hoạt, cây cối, gia súc nhỏ, nông cụ nhỏ, nông cụ cần thiếtcho kinh doanh nghề phụ gia đình vốn thuộc sở hữu t nhân của xã viên vàthuộc xã viên t hữu thì không đa vào HTX Đến năm 1957, cả nớc đã xâydựng đợc 78,9 vạn HTX sản xuất nông nghiệp, trong đó có 75,3 vạn HTXcao cấp, số nông hộ gia nhập các HTX nông nghiệp cao cấp chiếm 96,2%tổng số nông hộ cả nớc

ở nông thôn, ngoài kinh tế tập thể của HTX, còn có kinh tế gia đình xãviên, các nông trờng quốc doanh Kinh tế gia đình xã viên là chỉ những côngviệc sản xuất mà các thành viên trong gia đình tham gia vào làm công việc đóngoài thời gian lao động trong HTX Kinh tế gia đình xã viên chủ yếu bao gồm

đất canh tác trên đất phần trăm để lại, kinh doanh đất núi để lại; chăn nuôi giasúc, gia cầm; hoạt động thủ công nghiệp gia đình nh dệt, thêu , trồng cây xungquanh nhà, bắt cá, nuôi ong v.v Trong đó, đất phần trăm và đất đồi để lại là doHTX cấp cho xã viên, nên xã viên chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sởhữu Sản phẩm kinh doanh của kinh tế gia đình xã viên và thu nhập tiêu thụ dogia đình xã viên sở hữu và chi phối

Còn nông trờng quốc doanh là nông trờng thuộc chế độ sở hữu toàndân mà nhà nớc quản lý Trớc giải phóng, trong vùng giải phóng ở ĐôngBắc đã xây dựng một số nông trờng quốc doanh, nhiệm vụ chủ yếu của cácnông trờng này là nhân giống cây trồng, tiến hành chỉ đạo kĩ thuật cho nôngdân Sau khi nớc CHND Trung Hoa ra đời, không những ở các địa ph ơngthành lập một loạt nông trờng quốc doanh, mà quân giải phóng nhân dâncòn căn cứ vào chỉ thị của Đảng và Chính phủ, điều động tập hợp mấy chụcvạn quân nhân, xây dựng một loạt nông trờng quân đội ở Hắc Long Giang,Tân Cơng, Ninh Hạ, bán đảo Lôi Châu, đảo Hải Nam, Giang Tây, HồNam Căn cứ vào nhiệm vụ đảm nhận, các nông trờng quốc doanh chủ

yếu có hai loại hình lớn: Một là, doanh nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, có

nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các cơ sở sản xuất l ơng thực, nguyên liệu

cho công nghiệp, thực phẩm thô, sản phẩm đặc sản Hai là, những đơn vị

Trang 16

sự nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, nhiệm vụ chủ yếu là nhân giống và mởrộng giống cây trồng, giống gia súc gia cầm, mở rộng KH-KT tiên tiến,phát huy vai trò đi đầu làm mẫu cho các doanh nghiệp tập thể Ngoài ra,các nông trờng quốc doanh ở khu vực biên giới, còn có nhiệm vụ xây dựng

và bảo vệ biên giới

Qua việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứnhất (1953-1957) nông thôn Trung Quốc đã giành đợc những thắng lợi tolớn, đã có hơn 90% hộ nông dân trong cả nớc tham gia vào các hình thứcHTX sản xuất nông nghiệp Sự xác lập quan hệ sản xuất mới ở nông thôn đãthúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Sản lợng lơng thực năm 1952 là163,9 triệu tấn, năm 1957 tăng lên 195,05 triệu tấn; sản l ợng bông năm

1952 là 1,304 triệu tấn, năm 1957 đạt 1,640 triệu tấn; sản lợng hạt có dầunăm 1952 là 4,193 triệu tấn, năm 1957 là 4,196 triệu tấn Trong tám năm(1949-1957), sản lợng lơng thực cả nớc tăng bình quân hàng năm là 7%

Nhìn chung, trong thời gian thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân

5 năm lần thứ nhất (1953-1957) trên mặt trận xây dựng kinh tế về cơ bản là pháttriển liên tục, ổn định và cân đối nhịp nhàng Tháng 6/1956, Trung ơng ĐCSTrung Quốc đã đề ra phơng châm xây dựng kinh tế phải tiến vững chắc trong sựcân đối tổng hợp và khẳng định đờng lối do đại hội VIII của ĐCS Trung Quốcthông qua là đúng đắn Trải qua 5 năm nỗ lực phấn đấu, nhân dân cả nớc đã hoànthành vợt mức các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, làm cho bộmặt kinh tế và xã hội Trung Quốc thay đổi rõ rệt và tạo cơ sở tốt cho việc tiếp tụcxây dựng chủ nghĩa xã hội

1.1.3 Chính sách của Trung Quốc đối với nông thôn giai đoạn 1958 - 1978

Sau mùa hè năm 1955, công tác nông thôn xuất hiện tình trạng trì trệ,

do sai lầm "tả" khuynh về t tởng chỉ đạo, nên đã dấy lên cao trào hợp tác hoá

nông nghiệp đa đến yêu cầu quá gấp, công tác quá sơ sài, hình thức giản đơn

đối với hợp tác hoá Theo kế hoạch cũ thì phong trào hợp tác hoá nông nghiệpphải tiến hành 10 - 15 năm mới hoàn thành, nay chỉ với thời gian 3 năm đãhoàn thành Cách làm mau chóng mạo hiểm này đã vi phạm ý nguyện củanông dân và xa rời thực tế với nông thôn ở một số địa phơng đã xuất hiệnphong trào nông dân bán, giết mổ súc vật kéo, nông hộ đòi ra khỏi HTX, đây

là những hành động của nông dân nhằm mục đích chống đối lại những sai lầm

"tả khuynh" nhng lại bị coi là "cơ hội hữu khuynh" và bị phê phán rất gay gắt.

Trớc thực trạng những sai lầm đó không đợc uốn nắn và sửa chữa Từ năm

Trang 17

1958, Trung Quốc lại đề ra khẩu hiệu "vợt Anh đuổi Mỹ", đã từ bỏ những kiến

nghị về kế hoạch 5 năm lần thứ 2 và phơng châm xây dựng kinh tế tiến vữngchắc trong cân đối tổng hợp do Đại hội VIII của ĐCS Trung Quốc thông qua,

theo đuổi chủ trơng "tả" khuynh mạo hiểm và phát động 2 phong trào lớn là

"Đại nhảy vọt" và "Công xã nhân dân".

Tháng 8 - 1958, Trung ơng ĐCS Trung Quốc ra "Nghị quyết về việc xây

dựng công xã nhân dân ở nông thôn", tháng 9 cả nớc bớc vào cao trào xây

dựng công xã nhân dân, tháng 10 công xã nhân dân về cơ bản đã đợc xâydựng trên phạm vi cả nớc, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, nông thôn cả nớc

đã thực hiện "công xã hoá", "nhất đại nhị công" (một là lớn, hai là công hữu)

và "chính xã hợp nhất" (chính quyền và công xã hợp nhất) Công xã nhân dân

là do các hợp tác nông nghiệp cao cấp gộp lại xây dựng nên, có quy mô lớn,

mức độ tập thể hoá cao Công xã nhân dân thực hiện thể chế "chính xã hợp

nhất", nó vừa là đơn vị cơ sở của chính quyền Nhà nớc ở nông thôn, vừa là tổ

chức cơ sở của kinh tế tập thể ở nông thôn Khi mới bắt đầu, công xã hoá là

đơn vị sản xuất và phân phối lấy công xã là cơ bản, thực hiện công xã thốngnhất hoạch toán, thống nhất phân phối, thống nhất bố trí sản xuất, thống nhất

điều phối sức lao động Nh vậy, nó huy động và sử dụng không bồi thờng sứclao động, TLSX và các vật t khác của các đội sản xuất Toàn bộ đất phần trăm

để lại và nghề phụ gia đình cũng dần dần chuyển thành công xã sở hữu Xâydựng nhà ăn tập thể, thực hiện chế độ cung cấp (lơng thực, thực phẩm và cácnhu cầu sinh hoạt cơ bản) theo các mức độ khác nhau Phong trào công xãnhân dân hoá ở nông thôn đã làm cho tính tích cực của nông dân bị tổn th ơngnghiêm trọng, kinh tế nông thôn bị phá hoại nặng nề Từ năm 1958-1962, sảnlợng lơng thực bình quân hàng năm giảm 3,9%, sản lợng của các nông sảnphẩm khác đều giảm, làm cho đời sống của nông dân vô cùng khó khăn

Bắt đầu từ mùa đông năm 1960, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã

từng bớc uốn nắn những sai lầm "tả khuynh" trên, đồng thời nêu lên phơng châm "điều chỉnh, củng cố, bổ sung, nâng cao" đối với nền kinh tế quốc dân.

Từ tháng 3-1961, Đảng và Chính phủ đã ra bản dự thảo "Điều lệ công xã nhân

dân nông thôn" nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại phổ biến trong các công

xã nhân dân nh chủ nghĩa bình quân về phân phối, quy mô công xã lớn, quản

lý của công xã đối với đại đội sản xuất quá nhiều, quá chặt chẽ, chế độ dânchủ của công xã không kiện toàn Tháng 9-1962, Hội nghị Trung ơng 10,

khoá VIII của ĐCS Trung Quốc đã thông qua bản "Dự thảo sửa đổi Điều lệ

Trang 18

công xã nhân dân nông thôn" nêu rõ, công xã nhân dân phải kiên trì nguyên

tắc tự nguyện cùng có lợi và trao đổi ngang giá, bãi bỏ chế độ cung cấp, xâydựng chế độ quản lý dân chủ nh đại hội đại biểu xã viên, uỷ ban giám sát ,thay đổi đơn vị hạch toán cơ bản của công xã nhân dân, đa đơn vị hạch toáncơ bản xuống đến đội sản xuất, thực hiện thể chế quản lý kinh doanh ba cấp sởhữu (công xã, đại đội sản xuất và đội sản xuất) trong đó lấy đội sản xuất làmcơ sở Và thực hiện lại việc khôi phục quyền lợi cho xã viên về đất phần trăm

để lại, nghề phụ gia đình và chợ búa

Phong trào công xã nhân dân hoá đã mang lại những tổn thất to lớn cho

sự phát triển của kinh tế nông thôn Vì vậy, mấy năm sau Chính phủ TrungQuốc đã tập trung sức điều chỉnh lớn trong quan hệ sản xuất (QHSX) nôngnghiệp và khôi phục sản xuất nông nghiệp Cho đến năm 1965, nền sản xuấtdần dần đợc phục hồi và xuất hiện triển vọng tốt để phát triển kinh tế Nhng

năm 1966 lại nổ ra cuộc "Đại cách mạng văn hóa".

Cuộc "Đại cách mạng văn hoá" đợc bắt đầu từ tháng 5 - 1966 và kết thúc vào tháng 10 - 1976 Mời năm "Đại cách mạng văn hoá vô sản" là một thời kỳ bi

thảm trong lịch sử nớc CHND Trung Hoa, ảnh hởng nghiêm trọng đến tất cả cáclĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội Trung Quốc

Do sự lãnh đạo của đờng lối cực tả, lại tiếp tục đẩy những sai lầm "tả" khuynh trong thời kỳ "Công xã nhân dân" đến bớc hoang tởng Làm cho

nhiều thành tựu đạt đợc trong thời kỳ trớc không đợc phát huy, việc xây dựngkinh tế không đợc coi trọng, tình trạng hỗn loạn trong đời sống xã hội đã ảnhhởng không nhỏ tới sản xuất Tình trạng trì trệ của nền kinh tế Trung Quốctrong những năm cách mạng văn hoá đợc biểu hiện trớc hết ở sự giảm sút tốc

độ tăng trởng kinh tế nông nghiệp Từ năm 1952 đến năm 1966, mặc dù có

những sai lầm nghiêm trọng trong phong trào "Đại nhảy vọt" nhng tổng giá trị

sản phẩm nông nghịêp Trung Quốc vẫn đạt tốc độ tăng trởng bình quân hàng

năm là 10% Nhng trong 10 năm "Cách mạng văn hoá", nông nghiệp Trung

Quốc chỉ đạt tốc độ tăng trởng hàng năm là 7,1% Riêng trong 2 năm 1967,

1968 sản xuất nông nghiệp giảm liên tục, hai năm 1974 và 1976 cũng tăng rất

ít Trong thời gian này, do nhấn mạnh mục tiêu "chuẩn bị chiến tranh" "u tiên

phát triển công nghiệp nặng" nên sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ở

Trung Quốc cũng không đợc coi trọng đúng mức Trong lĩnh vực nông nghiệp,

chủ trơng của nhà nớc là "lấy lơng thực làm cơng lĩnh", nhng các ngành lâm

nghiệp, ng nghiệp, chăn nuôi, các ngành trồng trọt sản phẩm phụ của nông

Trang 19

nghiệp không đợc chú ý đúng mức Để có nhiều lơng thực ngời ta phá rừngkhai hoang, biến đồng cỏ thành đồng lúa, lấp ao hồ làm ruộng, phá hoại sựcân bằng của môi trờng sinh thái Trong 10 năm cách mạng văn hoá thu nhập

bình quân của nông dân "giẫm chân tại chỗ", nhiều nơi nông dân luôn ở trong

tình trạng thiếu ăn nghiêm trọng, sống nhờ vào nguồn cứu tế, sản xuất nôngnghiệp bị đình trệ, đời sống nông dân trong một thời gian dài không đợc cảithiện

Nh vậy, kể từ khi nớc CHND Trung Hoa ra đời đến trớc năm 1978,

Đảng và Chính phủ Trung Quốc liên tục lãnh đạo nhân dân, đặc biệt là nôngdân tiến hành cải cách phát triển kinh tế ở nông thôn, nhng do t tởng nóng vội

"tả khuynh" nên kết cục không tránh khỏi sai lầm, đa đến những hậu quả bi

thảm trong đời sống của nông dân trớc khi tiến hành cải cách mở cửa

1.2 Thực trạng nông thôn Trung Quốc trớc cải cách - mở cửa

Nh vậy, sau 29 năm kể từ khi nớc CHND Trung Hoa đợc thành lập đếntrớc khi Hội nghị Trung ơng 3 khoá XI của ĐCS Trung Quốc tiến hành(18/12/1978), trên mặt trận nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã đạt đợcnhững bớc phát triển nhất định Tổng sản lợng lơng thực năm 1978 tăng 1,7lần so với năm 1949; cây công nghiệp, chăn nuôi, nghề rừng, nghề cá và nghềphụ trong nông nghiệp cũng có sự phát triển ở những mức độ khác nhau; cáccông trình thuỷ lợi lớn nhỏ, cải tạo đồng ruộng, sản xuất phân hoá học, máymóc nông cụ, đều có bớc phát triển to lớn so với trớc đây Tuy nhiên, trongnông nghiệp và nông thôn vẫn tồn tại rất nhiều hạn chế Tốc độ phát triểnchậm của nông nghiệp làm cho mâu thuẫn giữa sản xuất nông nghiệp với nhucầu của nhân dân và nhu cầu hiện đại hoá ngày càng gay gắt Từ năm 1957

đến năm 1978, nhân khẩu cả nớc tăng thêm 300 triệu ngời, trong đó nhânkhẩu phi nông nghiệp tăng thêm 40 triệu ngời, nhng diện tích gieo trồng lạigiảm, do bị sử dụng vào xây dựng cơ bản hoặc những việc khác Năm 1949,diện tích gieo trồng bình quân theo đầu ngời là 3 mẫu, năm 1957 là 2,59 mẫu/ngời, năm 1981 là 1,5 mẫu, năm 1983 chỉ còn là 1,45 mẫu, giảm hơn 50% sovới năm 1949 Theo điều tra nghiên cứu của Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc TrungQuốc, diện tích đất gieo trồng bình quân theo đầu ngời bị giảm sút là donhững nguyên nhân sau đây: Do xây dựng cơ bản chiếm dụng đất; nông dânlấy ruộng làm nhà; những mảnh đất canh tác có độ dốc trên 250 phải trả lại đểtrồng rừng và làm đồng cỏ chăn nuôi; bên cạch đó, việc hình thành và pháttriển các xí nghiệp hơng trấn, việc xây dựng các thị trấn trong nông thôn cũngchiếm dụng rất nhiều đất Và mặc dù sản lợng bình quân của đơn vị diện tích

Trang 20

và tổng sản lợng đều tăng, nhng chỉ tiêu lơng thực bình quân theo đầu ngờinăm 1978 vẫn chỉ tơng đơng với mức năm 1957 (năm 1957 là 306kg/ngời,năm 1978 là 318kg/ngời) Thu nhập bình quân theo đầu ngời của nhân khẩunông nghiệp năm 1978 chỉ có hơn 70 nhân dân tệ/năm, trong đó có một số

đội sản xuất thu nhập của xã viên còn ở mức dới 50 nhân dân tệ (NDT), có nơinhiều đại đội sản xuất không duy trì đợc tái sản xuất nữa Sản xuất nôngnghiệp trì trệ đã ảnh hởng đến sự phát triển của công nghiệp và các lĩnh vựckinh tế khác, mục tiêu bốn hiện đại hoá không thực hiện đợc

Có thể nói thực trạng nông thôn Trung Quốc trớc cải cách mở cửa lànghiêm trọng và đáng lo ngại Bởi vì, trong một thời gian dài kinh tế nôngthôn Trung Quốc đã duy trì thể chế tập trung bao cấp cao độ, đợc chỉ đạo bởinhững quan niệm và t duy truyền thống sai lầm

- Về quan hệ sở hữu TLSX, do quan niệm cho rằng nền kinh tế nông

nghiệp XHCN "công hữu càng cao càng tốt", "quy mô càng lớn càng tốt", cho nên suốt trong thời kỳ từ năm 1958 đến những năm "Đại cách mạng văn hoá", nông thôn Trung Quốc diễn ra quá trình "hợp nhất" và "nâng cấp" Nghĩa là hợp

nhất HTX nhỏ thành lớn, hợp nhất công xã nhân dân quy mô xã thành quy môliên xã, quy mô huyện thành quy mô liên huyện và nâng cấp HTX bậc thấp lênbậc cao, nâng cấp HTX lên công xã nhân dân Trong công xã nhân dân thì thựchiện hợp nhất nông - công - thơng - học - binh, hợp nhất chính quyền và công xã

nhân dân Cả một vùng nông thôn rộng lớn của Trung Quốc nổi lên "ngọn gió

cộng sản" và "quá độ nghèo" Trong nông thôn cũng nh cả nớc chỉ chú trọng

phát triển kinh tế thuộc sở hữu toàn dân, coi nhẹ kinh tế tập thể và bài xích kinh

tế cá thể, thậm chí ngăn cấm kinh tế gia đình của xã viên bằng cách thu hồi đất

phần trăm để lại cho gia đình xã viên và coi đó là "cái đuôi t bản chủ nghĩa" Kết

quả là dẫn đến một thể chế kinh tế cứng nhắc, hạ thấp hiệu quả kinh tế, làm nảysinh chủ nghĩa quan liêu, gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất và không pháthuy đợc sức sống của chủ nghĩa xã hội (CNXH)

- Cơ chế vận hành nền kinh tế nông thôn theo quan niệm cho rằng chỉ

có thể điều tiết bằng kế hoạch kinh tế Cơ chế đó đợc thực hiện ở nông thônTrung Quốc trên thực tế là phủ định sản xuất hàng hoá, đem đối lập giữa kinh

tế kế hoạch hoá và kinh tế thị trờng Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệpTrung Quốc còn mang nặng tính tự cung tự cấp mà thực hiện cơ chế kinh tế kếhoạch tập trung thì tất nhiên sẽ dẫn đến xu hớng tập trung hoá, hiện vật hoá,chủ nghĩa đóng cửa và chủ nghĩa bình quân Hơn nữa, trong chỉ đạo kế hoạchhoá đối với nông nghiệp đã hình thành một cơ chế kế hoạch, lấy kế hoạch

Trang 21

pháp lệnh, kế hoạch tập trung là chủ yếu và lấy hệ thống các chỉ tiêu hiện vật

là chủ yếu Gần 30 năm thực hiện chế độ thống nhất thu mua và thống nhấttiêu thụ theo kế hoạch (thờng gọi tắt là chế độ “hố sâu”thống cấu thống tiêu” [127; 47].) đối vớilơng thực và một số nông sản, thực phẩm chủ yếu khác, trên thực tế đã thủ tiêucon đờng phát triển kinh tế hàng hoá và thị trờng nông thôn, vây hãm kinh tếnông thôn trong vòng tự cung tự cấp

Việc thi hành một hệ thống quá nhiều các chỉ tiêu pháp lệnh dới hìnhthức hiện vật là chủ yếu đã gò bó quyền tự chủ sản xuất của các đơn vị sảnxuất cơ sở, đã ảnh hởng nghiêm trọng đến tính tích cực sản xuất của nông dân,làm suy yếu khối liên minh công - nông và sự phát triển của nền sản xuấtnông nghiệp hiện đại hoá

- Thực hiện cơ chế phân phối thu nhập theo chủ nghĩa bình quân còn

gọi là "nấu nồi cơm chung" hay "cái bát sắt" đợc thực hiện trong một thời

gian dài, trên thực tế đã phủ định phân phối theo lao động, hình thành tình

trạng "làm hay không làm, làm nhiều, làm tốt hay làm ít và không tốt" thì

trong phân phối cũng đều đợc hởng nh nhau Cơ chế phân phối nh vậy đãkhông kết hợp đợc lợi ích của nông nghiệp, lợi ích của tập thể và lợi ích của cánhân ngời lao động, do đó làm trở ngại cho sự phát triển của LLSX, kìm hãmtăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế

- Hợp nhất chính quyền và công xã nhân dân Cơ chế đó làm lẫn lộnchức năng quản lý sản xuất, kinh doanh và chức năng quản lý hành chính củaNhà nớc Chính quyền can thiệp trực tiếp và quá sâu vào công việc sản xuấtcủa các đơn vị kinh tế

Đến năm 1976, Khi Chủ tịch nớc Mao Trạch Đông qua đời, kinh tế TrungQuốc giống nh đống phế liệu, tiêu điều, xơ xác Bế tắc, thiếu thốn, sa sút, mấtcân đối nghiêm trọng xảy ra khắp nơi Sản xuất nông nghiệp là một trong nhữngtrụ cột của nền kinh tế, vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX đã bị lung laynghiêm trọng Do năng suất giảm, nên tỷ lệ lơng thực cũng giảm, từ 28,3% năm

1953 giảm xuống còn 20,3% vào năm 1978

Năm 1976, khi cuộc Đại cách mạng văn hoá“hố sâu” ” [127; 47] kết thúc, thì đồng thời thunhập quốc dân trong sản xuất kinh tế công nghiệp và nông nghiệp đều có mứctăng trởng âm: - 2,7%, - 2,4% và - 0,4% so với năm trớc [37; 15] Phải nói rằng,

đời sống của ngời nông dân lúc bấy giờ rất bi thảm, kinh tế giảm sút trầm trọng,cuộc sống vô cùng khốn khổ Trong 11 năm (1965 - 1976), thu nhập thực tế trungbình của nông dân tính theo đầu ngời mỗi năm tăng không đến 1 NDT Viết vềtình hình nông thôn Trung Quốc thời gian này, nhà Trung Quốc học Simon Leys

Trang 22

đã cho biết: Ngày nay đ“hố sâu” ợc lui tới các vùng nông thôn Trung Quốc tự do hơn, nơi

đây có đa số nhân dân sinh sống, và trung tâm vấn đề cũng là ở đây Các nhà quan sát sửng sốt phát hiện ra không những một nớc Trung Hoa hết sức khổ cực sống lay lắt bên miệng hố nạn đói, và nhất là cũng phát hiện ra một thế giới trung

cổ còn đầy dẫy những mê tín dị đoan và phong tục tập quán mà đờng lối chính sách hiện đại cha thay đổi đợc” [127; 47] [105; 15].

Tình cảnh của nông dân Trung Quốc cùng cực đến nỗi trong Báo cáo

của Tỉnh uỷ một tỉnh nghèo nhất vào năm 1978 đã nhấn mạnh: Tr“hố sâu” ớc đây, chúng ta không những tớc đoạt tài sản mà còn tớc đoạt cả tự do của nông dân Đó là hai nguồn gốc quan trọng làm cho tình trạng nghèo nàn của nông dân rất ít thay đổi … Từ nay, nếu không điều chỉnh mạnh mẽ chính sách nông Từ nay, nếu không điều chỉnh mạnh mẽ chính sách nông thôn thì cuối cùng nông dân sẽ nổi dậy chống lại chúng ta ” [127; 47] [37; 23]

Nh vậy, những cao trào xây dựng kinh tế“hố sâu” ” [127; 47] phiêu lu, mạo hiểm đợc tiến

hành trớc năm 1978 nh việc thực hiện Ba ngọn cờ hồng “hố sâu” ” [127; 47] (đờng lối chung, đạinhảy vọt, công xã nhân dân), đặc biệt là cuộc khủng bố trắng mang danh

nghĩa Đại cách mạng văn hoá vô sản“hố sâu” ” [127; 47] đã mang lại những thảm hoạ nghiêm

trọng đối với nông dân, đẩy hàng trăm triệu nạn nhân đến miệng hố của tử“hố sâu”

thần” [127; 47]., những cơn đói kéo dài triền miên đã dẫn tới căn bệnh kiệt sức của dạ dày

và cớp đi hàng triệu sinh mạng sống ở nông thôn, làm cho đất nớc đứng bên bờvực thẳm, dân tộc dờng nh đang trong cơn hấp hối Nạn thất nghiệp lan tràn,khắp nơi lòng tin tởng của nông dân vào đờng lối chính sách kinh tế cũ của Đảng

và Chính phủ đã bị suy giảm nghiêm trọng, mọi tầng lớp trong nhân dân đềukhông muốn tái diễn những cơn ác mộng rùng rợn của những năm trớc Họmong muốn có một cuộc cải cách sâu sắc và căn bản

Tiểu kết: Chính sách của Trung Quốc đối với nông thôn trớc khi bớc

vào cải cách - mở cửa là một cơ chế đơn nhất hoá chế độ sở hữu, quá tập trungthống nhất quản lý cứng nhắc, phân phối theo chủ nghĩa bình quân Thể chếkinh tế đó ảnh hởng nghiêm trọng đến tính tích cực sản xuất của nông dân,làm cho cuộc sống của nhân dân khốn đốn, kìm hãm sức sản xuất nông nghiệpphát triển Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiến hành cải cách thểchế kinh tế nông thôn Trung Quốc

Trang 23

Chơng 2

Chính sách kinh tế của trung quốc đối với nông thôn

trong công cuộc cải cách mở cửa (1978 - 2006)

2.1 Chủ trơng, đờng lối của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đối với kinh tế nông thôn

2.1.1 Chính sách khoán

Chế độ trách nhiệm khoán trong sản xuất nông nghiệp là cuộc cáchmạng vĩ đại sâu sắc nhất triển khai ở nông thôn Trung Quốc vào cuối nhữngnăm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đã phát huy tác dụng thúc đẩy rấtlớn đối với sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trong quátrình phát triển nông nghiệp Trung Quốc, thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệpnhững năm 50, thời kỳ 3 năm khó khăn đầu những năm 60 đã từng xuất hiệnhình thức chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ, khoán công đến hộ và thực

hiện chính sách "tam bao nhất thởng" (tức khoán công, khoán sản lợng, khoán

giá thành, thởng vợt mức, bồi hoàn giảm sản lợng), ngoài ra còn phổ biến thựchiện khoán công đoạn, định mức thù lao, nhng tất cả các hình thức đó trớc sau

đều bị phủ định Vấn đề này cho đến Nghị quyết "Về một số vấn đề đẩy

nhanh phát triển nông nghiệp" (tháng 9/1979) còn nêu rõ: "Tổ chức kinh tế các cấp của công xã nhân dân cần phải thận trọng chấp hành nguyên tắc

"làm hết năng lực, phân phối theo lao động", làm nhiều hởng nhiều, làm ít ởng ít, nam nữ làm việc nh nhau, hởng bằng nhau Tăng cờng quản lí định mức, trả thù lao cho ngời lao động căn cứ vào số lợng và chất lợng lao động, xây dựng chế độ thởng phạt cần thiết, kiên quyết khắc phục chủ nghĩa bình quân Có thể ghi công điểm theo định mức, có thể bình công chấm điểm theo thời gian Dựa trên tiền đề đội sản xuất hoạch toán và phân phối thống nhất

h-mà thực hiện khoán công việc cho tổ chuyên và tính thù lao cho ngời lao động liên quan với sản lợng, thực hiện chế độ thởng vợt sản lợng không cho phép chia ruộng đất làm ăn riêng rẽ Ngoài một số nhu cầu đặc biệt của nghề sản xuất phụ nào đó, ngoài những hộ đơn độc ở khu vực miền núi biên cơng xa xôi, giao thông không thuận tiện ra còn nói chung không nên thực hiện khoán sản đến hộ ” [127; 47] [111; 20]

Cuộc cải cách nông thôn Trung Quốc bắt đầu từ chế độ trách nhiệm vàsản xuất kinh doanh nông nghiệp Nhng trong đó, thời kỳ đầu, trớc tiên là khôi

Trang 24

phục lại khoán công đoạn, khoán công hàng năm và định mức thù lao Từ năm

1980, bắt đầu có sự chuyển hớng mạnh hơn về biện pháp khoán sản đến hộ gia

đình nông dân Trong thông tri "Về mấy vấn đề tăng cờng và hoàn thiện hơn

một bớc chế độ trách nhiệm sản xuất nông nghiệp"(ngày 27/9/1980) của Ban

chấp hành Trung ơng ĐCS Trung Quốc đã quy định: "Trớc mắt ở một số tỉnhtrong cán bộ và quần chúng đang có cuộc tranh luận rộng rãi đối với vấn đề cóthể thực hiện khoán sản đến hộ, bao gồm cả khoán toàn bộ đến hộ hay không?

để thuận tiện cho công tác và có lợi cho sản xuất, cần phải có những quy địnhthích hợp về chính sách ở một số vùng miền núi biên cơng và khu vực nghèo

nàn lạc hậu, những đội sản xuất mà trong thời gian dài, "lơng ăn dựa vào chạy

chợ, sản xuất dựa vào vay vốn tín dụng, đời sống dựa vào cứu tế", quần chúng

mất lòng tin vào tập thể và yêu cầu cho khoán sản đến hộ và cũng có thểkhoán toàn bộ đến hộ, hơn nữa cần phải duy trì tình hình ổn định trong mộtthời gian dài" Còn "ở những khu vực mà kinh tế tập thể đã tơng đối ổn định,sản xuất đã phát triển, chế độ trách nhiệm sản xuất hiện nay đợc quần chúngchấp nhận hoặc chỉ cần có sự cải tiến, thì không nên khoán sản đến hộ "[124;9]

Nh vậy, cho đến cuối năm 1981, hình thức khoán sản vẫn còn là vấn đềtranh luận trong nội bộ Đảng và nhân dân, vẫn còn là vấn đề cha đợc kết luận

rõ ràng Nhng đến Chỉ thị số 1 về công tác nông thôn năm 1982, ban hành dới

dạng "Kỷ yếu hội nghị công tác nông thôn toàn quốc” [127; 47].đã khẳng định một cách

đầy đủ về chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ gia đình nông dân, "khắcphục đợc tình trạng ăn nồi cơm chung đã tồn tại lâu dài trong kinh tế tập thể"

Chỉ thị xác định: "trớc mắt hình thức kinh tế chủ thể trong kinh tế nông thôn

nớc ta là kinh tế tập thể với quy mô tổ chức không giống nhau và phơng thức kinh doanh không giống nhau , ” [127; 47] Chỉ thị cũng cho rằng: tuỳ theo tình hình cụ“hố sâu”

thể của địa phơng mà ngay cả trong một đội sản xuất có thể thi hành các hình thức khác nhau của chế độ trách nhiệm sản xuất có thể khoán công việc, khoán sản lợng đến hộ, khoán toàn bộ" Đồng thời, Chỉ thị cũng phân tích

khoán sản lợng có thể tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nơi mà thực

hiện các hình thức khác nhau."ở những nơi có trình độ phát triển kinh tế

thấp, cha có sự phân công kỹ thuật nhiều, hơn nữa, chủ yếu là trồng trọt, nghề phụ của tập thể ít thì nói chung thực hiện khoán ruộng đất theo tỷ lệ lao động hay chia bình quân theo sức lao động ở những nơi kinh tế phát triển, đã hình thành sự phân công ngành nghề và phân công kỹ thuật tơng đối tỷ mỉ thì nói

Trang 25

chung, thực hiện khoán ngành nghề, theo phân vùng ngành nghề: nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, nghề phụ, nghề cá, công nghiệp hay một số công việc kỹ thuật" [111; 22] (Khoán toàn bộ là khoán giao nộp, nó xoá bỏ

phân phối theo công điểm Phơng pháp này giản tiện nên đợc quần chúnghoan nghênh)

Nh vậy, đến năm 1982, Trung Quốc đã khẳng định và cho phép thựchiện khoán sản đến hộ và khoán toàn bộ đến hộ

Chỉ thị số 1 năm 1983 tức Văn kiện "Một số vấn đề về chính sách kinh

tế nông thôn hiện nay" đợc Bộ chính trị ĐCS Trung Quốc thông qua ngày

31-12-1982, đã tập trung làm rõ vấn đề khoán toàn bộ đến hộ với lối làm ăn riêng

rẽ của kinh tế cá thể Chỉ thị này cũng đánh giá cao các phơng thức khoán Chỉthị cho rằng chế độ trách nhiệm khoán sản lợng đã thực hiện nguyên tắc kếthợp giữa thống nhất kinh doanh và phân tán kinh doanh, khiến cho tính u việtcủa tập thể và tính tích cực của cá nhân phát huy Hơn nữa, đó chính là sựsáng tạo vĩ đại của nông dân dới sự lãnh đạo của Đảng, là bớc phát triển mớitrong thực tiễn về lí luận hợp tác hoá nông nghiệp Đồng thời chế độ tráchnhiệm khoán sản lợng và các chính sách nông thôn đợc thực hiện đã xoá bỏ sựtrì trệ trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp chuyển biến từ kinh

tế tự cấp và nửa tự cấp sang sản xuất hàng hoá Chỉ thị cũng đã nêu rõ: "Then

chốt để hoàn thiện chế độ khoán sản lợng là thông qua khoán để giải quyết tốt quan hệ giữa thống nhất và phân tán" Ví dụ, có địa phơng trên cơ sở thống

nhất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, nghề phụ, đã thực hiện biện pháp

"khoán theo ngành nghề, khoán toàn bộ "[12; 24]

Tuy chế độ trách nhiệm khoán đã mang lại những thành quả nhất định,nhng ở một số địa phơng còn tồn tại một số vấn đề nh: phân chia ruộng đấtkhoán không thoả đáng, thiếu các biện pháp khuyến khích đầu t cải tạo đồngruộng, vấn đề giúp đỡ thiết thực đối với các hộ khó khăn trong đời sống, chế

độ trách nhiệm của mỗi cán bộ cha kiện toàn, việc đãi ngộ cho cán bộ và thùlao cho mỗi ngành nghề cha thích đáng

Để giải quyết những vấn đề trên, Văn kiện số 1 năm 1984, tức: "Thông

tri của Trung ơng ĐCS Trung Quốc về công tác nông thôn", nêu ra những nội

dung chủ yếu "kéo dài thời hạn khoán ruộng đất để khuyến khích nông dân

tăng đầu t bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh" Chủ trơng này nhằm kiện toàn

chế độ khoán sản phẩm đến hộ, khắc phục tình trạng nông dân bóc ngắn cắndài, kinh doanh có tính chất cớp đoạt độ màu mỡ của ruộng đất "thời hạn khoán

Trang 26

ruộng đất nói chung nên từ 15 năm trở lên Đối với loại kinh doanh chu kỳ sảnxuất dài có tính chất khai hoang nh vờn quả, rừng, đồi hoang, đất hoang thìthời hạn khoán cần phải dài hơn" Trớc khi kéo dài thời hạn khoán nếu quần

chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc "đại ổn

định, tiểu điều chỉnh" (nghĩa là về cơ bản phải ổn định, nhng có thể điều chỉnh

một bộ phận nhỏ ruộng đất khoán cha hợp lý) thông qua thơng lợng một cách

đầy đủ, sau đó tập thể thống nhất điều chỉnh" [111; 25]

Ngoài ra còn "khuyến khích từng bớc tập trung ruộng đất vào tay những

ngời làm ruộng giỏi", nghĩa là trong thời hạn khoán những xã viên không có

sức làm ruộng, hoặc không muốn làm ruộng mà làm nghề khác thì có thể ợng khoán cho ngời khác Có thể ngời nhợng khoán đợc nhận một số lợng l-

nh-ơng thực khẩu phần nhất định do ngời nhận chuyển nhợng cung ứng Đất phầntrăm để lại cho xã viên, đất khoán nói chung không cho phép mua bán và phátcanh thu tô, không cho phép dùng làm đất thổ c và dùng vào việc khác có tínhchất phi nông nghiệp

Hình thức khoán sản đến hộ đã đợc phát triển rộng khắp ở cả những khuvực kinh tế lạc hậu, đời sống nhân dân có nhiều khó khăn, và cả ở những khuvực kinh tế phát đạt hay có trình độ cơ giới hoá cao nh ngoại thành ThợngHải, Tô Châu Nông trờng quốc doanh cũng thực hiện chế độ khoán sản đến

hộ công nhân, viên chức

Chế độ trách nhiệm sản xuất trong nông nghiệp gồm nhiều hình thức:khoán công đoạn định mức để tính thù lao, khoán ngành nghề theo sản lợng

để tính thù lao, khoán sản lợng đến từng hộ, khoán sản lợng đến ngời lao

động, khoán sản lợng đến tổ sản xuất, khoán toàn bộ đến tổ sản xuất, khoántoàn bộ đến hộ gia đình Chung quy lại thì có ba hình thức khoán chủ yếu là:khoán công việc, khoán sản lợng, khoán toàn bộ

Đến cuối năm 1982, ở nông thôn Trung Quốc, việc thực hiện chế độkhoán sản lợng đến hộ đã tơng đối phổ biến và ngày càng trở thành hình thứcchủ yếu trong nông nghiệp ở mỗi địa phơng, quần chúng căn cứ vào những

điều kiện sản xuất khác nhau mà vận dụng một cách linh hoạt các hình thứckhoán sản lợng rất khác nhau Đối với những đội sản xuất mà phân công kỹthuật cha phát triển, chủ yếu là trồng trọt còn nghề phụ của tập thể khôngnhiều thì nói chung, đều thực hiện phân chia ruộng khoán theo tỷ lệ nhân khẩulao động hoặc theo bình quân sức lao động, đối với đội sản xuất đã hình thành

sự phân công lao động ngành nghề và phân công kỹ thuật tơng đối tỷ mỉ, thì

Trang 27

nói chung thực hiện khoán ngành nghề.

Căn cứ vào tính chất lao động sản xuất tập trung hay phân tán để khoán tổ,khoán đến hộ hoặc khoán đến lao động Điều đó thể hiện quy mô sản xuất lớnnhỏ của tổ chức lao động chứ không phải là tiêu chí của sản xuất tiến bộ hay lạchậu Còn khoán công việc, khoán sản lợng, khoán toàn bộ chủ yếu là thực hiệnphơng pháp khác nhau trong phân phối thành quả lao động Khoán toàn bộ phần

nhiều là thực hiện "khoán giao nộp", xoá bỏ phân phối theo công việc.

Nh vậy, từ năm 1978, Trung Quốc đã tiến hành cải cách thể chế kinh tếnông thôn, thực hiện hình thức khoán sản đến hộ gia đình Đến cuối năm 1984cả nớc đã có 5,69 triệu đội sản xuất trong đó 99,96% số đội đã thực hiệnkhoán sản đến hộ hay khoán toàn bộ đến hộ chiếm 98,2% số thôn, 96,3% số

hộ và 98,6% đất canh tác trong nớc

Chính sách khoán ở nông thôn Trung Quốc, đã phù hợp với trình độ sảnxuất trong nông nghiệp, giải phóng đợc sức sản xuất ở nông thôn Trung Quốc,nên nó đã kích thích đợc tính tích cực của nông dân, sản xuất nông nghiệptăng trởng nhanh, cộng với chính sách nâng giá thu mua lơng thực, thực phẩm

và cải tiến cách thu mua làm cho thu nhập của nông dân tăng nhanh Năm

1978, thu nhập của nông dân đạt khoảng 133 NDT, năm 1984 tăng lên 355NDT Tổng sản lợng lơng thực năm 1984 đạt khoảng 407 triệu tấn, mức lơngthực bình quân đầu ngời đạt gần 400kg Theo tiêu chuẩn của Trung Quốc,năm 1978 Trung Quốc đã có 250 triệu ngời thuộc diện đói nghèo, qua thựchiện chế độ khoán trong giai đoạn 1978-1984 bình quân lơng thực đầu ngời ởnông thôn tăng 14%, bông tăng 73,9%, dầu thực vật tăng 176,4%, thịt tăng87,8% Số nhân khẩu thuộc diện đói nghèo đã giảm xuống còn 125 triệu, bìnhquân mỗi năm có 17-18 triệu ngời thoát khỏi cảnh đói nghèo

Qua đây cho chúng ta thấy rằng vào cuối những năm 70 đầu những năm

80 của thế kỷ XX, Trung Quốc phổ biến thực hiện chế độ trách nhiệm khoánsản lợng đến hộ gia đình, thời hạn khoán nói chung là 15 năm, bớc vào nhữngnăm 90 thời hạn khoán vòng 1 đã kết thúc Đến cuối năm 1993, sau khi Trung

ơng Đảng và Quốc vụ viện nêu lên kéo dài thời hạn khoán 30 năm không thay

đổi, trên cơ sở điều tra nắm vững tình hình các địa phơng bắt đầu lần lợt triểnkhai công tác kéo dài thời hạn khoán ruộng đất Tiếp đó, Hội nghị Trung ơng

3, khóa XV năm 1997, tiếp tục đề ra những quyết sách mới về cải cách kinh tế

ở nông thôn, Trung Quốc đã thông qua Luật quản lý ruộng đất có sửa đổi,quyết định kéo dài thêm 30 năm kỳ hạn khoán đất, và sau 30 năm cũng sẽ

Trang 28

không thay đổi Luật này sẽ đợc thi hành từ ngày 1/1/1999 và kỳ hạn khoán

đất 30 năm cũng sẽ đợc luật pháp bảo vệ [3; 5] Đến năm 1998, cả nớc đã cóhơn một nửa số thôn, tổ hoàn thành công tác kéo dài thời hạn khoán ruộng đất.Sau đó, Hội nghị Trung ơng lần thứ 3, khoá XVI (2003) đã bổ sung và hoàn

thiện Luật khoán ruộng đất nông thôn của nớc Cộng hoà nhân dân Trung

Hoa Luật khoán này đã quy định rõ ràng hơn về thời hạn khoán: Đối với đất

canh tác trong kinh doanh khoán đến từng hộ gia đình là 30 năm; thời hạnkhoán đồng cỏ là 30 đến 50 năm; thời hạn khoán đất rừng là 30 đến 70 năm

Đồng thời luật cũng quy định: "trong quá trình hoàn thiện chế độ khoán

ruộng đất ở nông thôn, điều then chốt là phải thực hiện có hiệu quả và đúng lúc đúng chỗ những quy định này, nghiêm cấm cố ý rút ngắn thời gian khoán, tuỳ ý điều chỉnh thu hồi lại đất khoán Đồng thời cần thiết thực bảo vệ quyền

tự chủ kinh doanh của nông dân đối với đất khoán Trong thời kỳ khoán, nông dân có quyền tự chủ kinh doanh tơng đối độc lập, không một đơn vị và cá nhân nào đợc phép can thiệp vào hoạt động kinh doanh sản xuất bình thờng của nông dân, không đợc ép buộc nông dân trồng loại cây này, cây nọ, không

đợc ép buộc nông dân mua những t liệu sản xuất hoặc hàng hoá tại những nơi

đã chỉ định, không đợc ép nông dân bán sản phẩm cho những cá nhân hoặc doanh nghiệp đợc chỉ định Ngoài ra còn cần phải đảm bảo quyền đợc nhận lợi ích từ đất nhận khoán, mọi tổ chức và cá nhân đều không đợc tuỳ tiện cắt xén, chiếm dụng lợi ích mà nông dân thu đợc từ ruộng đất nhận khoán thông qua sản xuất kinh doanh" [29; 5].

Nh vậy, do nhận thức đợc tầm quan trọng của kinh tế nông thôn đối với

sự phát triển kinh tế nói chung của đất nớc Cho nên, lãnh đạo Đảng và Nhà

n-ớc Trung Quốc đã không ngừng nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện chế độ tráchnhiệm khoán ruộng đất ở nông thôn Bởi vậy, càng ngày các hình thức khoáncàng phong phú và thời hạn khoán đợc kéo dài ra, tạo điều kiện thuận lợi chongời nông dân có điều kiện bồi bổ mảnh đất của mình và ổn định cuộc sống ởquê hơng Hơn nữa, chính sách khoán cho đến hôm nay, nó không còn dừng ởmặt lý luận, nhận thức, nghiên cứu khoa học, thực hiện thí điểm , mà nó đãtrở thành chủ trơng, chính sách và biện pháp cụ thể, chặt chẽ, đồng bộ đợc cácnhà lãnh đạo Trung Quốc đa ra, đòi hỏi phải thực thi một cách nghiêm túc vàrộng rãi trên cả nớc

2.1.2 Sự cải tiến chế độ thu mua và tiêu thụ nông phẩm

Cùng với việc thực hiện chính sách khoán thì Đảng và Chính phủ Trung

Trang 29

Quốc còn thực hiện chính sách nâng giá thu mua lơng thực, thực phẩm Đây làmột chính sách quan trọng trong cải cách thể chế kinh tế nông thôn ở Trung

Quốc Xuất phát từ hiện tợng "cánh kéo giá cả" giữa nông phẩm và công nghệ

phẩm tồn tại ở Trung Quốc có nhiều nguyên nhân phức tạp Tình trạng trình độphát triển của sức sản xuất trong nông nghiệp lạc hậu rất nhiều so với côngnghiệp đòi hỏi phải có một thời gian lâu dài mới có thể giải quyết đợc Đối vớimột nớc nông nghiệp kém phát triển nh Trung Quốc muốn tiến tới công nghiệphoá thì nhất thiết phải thông qua con đờng phân phối lại thu nhập quốc dân trong

nông nghiệp dới hình thức "cánh kéo giá cả" công - nông nghiệp để tập trung

vốn cho công nghiệp hoá Cho nên, "cánh kéo giá cả" trong nông nghiệp không

bị thu hẹp mà ngợc lại, có khi lại mở rộng ra Sau giải phóng và kế hoạch 5 nămlần thứ nhất, để phát triển sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống nông dân,củng cố liên minh công nông, nhà nớc đã thi hành chính sách thu hẹp "cánh kéogiá cả" trong trao đổi giữa nông phẩm và công nghệ phẩm Trong thời gian này,nhà nớc tiến hành điều chỉnh tỷ giá trao đổi giữa nông phẩm và công nghệ phẩm.Cho nên, trong suốt thời kỳ khôi phục kinh tế và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, giácả thu mua nông phẩm không ngừng tăng lên Theo điều tra năm 1992, thì tổngchỉ số giá cả thu mua nông phẩm năm 1951 tăng 19,6%, năm 1952 tăng 1,7%,năm 1953 tăng 9,0%, năm 1954 tăng 3,2%, năm 1956 tăng 3,0%, năm 1957 tăng5% (so với năm trớc) Do việc nâng giá thu mua nông phẩm và hạ giá hàng côngnghệ phẩm làm cho tỷ giá trao đổi giữa nông phẩm và công nghệ phẩm bị thuhẹp lại

Chính vì việc "cánh kéo giá cả" nông phẩm và công nghệ phẩm thu hẹp

đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh chóng, từ năm

1954 đến 1957, do giá thành sản xuất nông phẩm thấp, lợi nhuận nông nghiệpnhiều, cho nên sản lợng bông tăng 40%, lơng thực tăng 17%, hạt có dầu tăng9% Nhng từ năm 1958 đến 1978, do giá cả thu mua nông phẩm tách khỏi giátrị quá lớn, giá thành sản xuất nông phẩm tăng nhanh, nhng giá thu mua nôngphẩm trong một thời gian dài không thay đổi, cho nên tỷ suất lợi nhuận nôngnghiệp giảm, thậm chí không có lợi nhuận Bởi vậy, trong vòng 21 năm đó,sản lợng lơng thực chỉ tăng 56%, bông tăng 32%, hạt có dầu tăng 24% [111;33-34]

Chỉ đến khi nông thôn Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế năm 1978thì vấn đề giá cả hàng nông phẩm mới thực sự đợc coi trọng Nghị quyết Hội

nghị Trung ơng 4, khoá XI "Về một số vấn đề đẩy nhanh phát triển nông

Trang 30

nghiệp" thông qua ngày 28/9/1979 đã nêu ra một số quyết định về giá cả đối

với mặt hàng nông phẩm nh sau:

- Giá thu mua lơng thực theo kế hoạch thống nhất bắt đầu từ vụ hè năm

1979 nâng lên 20%; phần nông dân bán vợt mức trên cơ sở giá mới cộng thêm50%

- Giá thu mua bông, hạt có dầu, nguyên liệu đờng, sản phẩm chăn nuôi,thuỷ sản, lâm sản cũng cần phân biệt tình hình mà từng bớc nâng lên một cáchtơng ứng

- Máy móc nông nghiệp, phân hoá học, thuốc trừ sâu, sản phẩm chấtdẻo dùng trong nông nghiệp và công nghệ phẩm dùng cho nông nghiệp thìtừng bớc trên cơ sở hạ giá thành, mà hạ giá xuất xởng và giá bán Những lợiích của việc hạ giá thành chủ yếu là giành cho nông dân

- Sau khi nâng giá thu mua nông phẩm thì giá bán lơng thực nhất thiếtkhông đợc thay đổi

- Giá bán các mặt hàng nông sản thiết yếu cũng phải giữ ổn định, một sốmặt hàng nào đó cần nâng giá thì phải trợ cấp thích đáng cho ngời tiêu dùng

- Cần phải căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế quốc dân và nguyêntắc trao đổi ngang giá mà tiếp tục điều chỉnh cần thiết đối với tỷ giá sản phẩmcông nông nghiệp

Các giai đoạn tiếp theo, Trung Quốc tiến thêm một bớc trong việc cảicách giá cả nông phẩm Nếu trớc đây, giá cả thu mua hoàn toàn do Nhà nớcquy định Thì bây giờ giá lơng thực thu mua trong hợp đồng với Nhà nớc đợcxác định tỷ lệ tính giá theo 3/7, tức là 3 phần giá thu mua theo kế hoạch thốngnhất, 7 phần theo giá khuyến khích bán vợt định mức Nông dân có thể bán sốlơng thực ngoài mức hợp đồng với nhà nớc tự do trên thị trờng Nếu giá thị tr-ờng thấp hơn giá thu mua theo kế hoạch thống nhất, nhà nớc thu mua theo giá

đã xác định để bảo vệ lợi ích của nông dân Đồng thời nhà nớc cũng thực hiệncùng một giá mua và bán lơng thực ở nông thôn Xóa bỏ tình trạng mua caobán thấp về lơng thực

Cùng với việc thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ làm chotính tích cực sản xuất của ngời nông dân đợc nâng cao, thì việc thực hiệnchính sách nâng giá thu mua lơng thực, bông, hạt có dầu theo kế hoạch thốngnhất ở mức độ lớn, đã thu hẹp một bớc "cánh kéo giá cả" sản phẩm công, nôngnghiệp, làm cho sản xuất nông nghiệp bớc đầu có lợi nhuận Theo số liệu điềutra điển hình năm 1981, tuy giá thành sản xuất nông nghiệp vẫn có xu thế

Trang 31

tăng, nhng nông nghiệp vẫn có lợi nhuận Bởi vậy, kể từ năm 1979 đến nay,việc thu hoạch nông phẩm luôn đạt kết quả cao, điều đó cho thấy việc vậndụng đòn bẩy kinh tế giá cả và lợi nhuận có tác dụng điều tiết linh hoạt đối vớisản xuất nông nghiệp.

Đi đôi với việc thực hiện chính sách nâng giá thu mua lơng thực và thựcphẩm, thì đồng thời nhà nớc cũng cải tiến chế độ thu mua và tiêu thụ nôngphẩm

ở Trung Quốc, trong một thời gian dài, nhà nớc thực hiện chính sáchthu mua có kế hoạch thống nhất đối với những nông phẩm quan trọng, cóquan hệ đến quốc kế dân sinh (gọi tắt là thống cấu) Trớc tiên nhà nớc thựchiện thu mua theo kế hoạch thống nhất đối với sợi bông (tháng 1/1951), sau

đó là lơng thực, hạt có dầu (tháng 11/1953), đến tháng 9/1954 thực hiện thumua theo kế hoạch thống nhất đối với bông và sợi bông Sản phẩm thực hiệnthu mua theo kế hoạch thống nhất là vật t đợc xếp vào loại 1, phạm vi và giácả do Quốc vụ viện tập trung quản lí

Các chỉ tiêu thu mua này do nhà nớc truyền đạt xuống địa phơng vàmang tính chất pháp lệnh, các đơn vị làm nhiệm vụ thu mua phải hoàn thànhkhông điều kiện Ngoài ra, nhà nớc còn thực hiện chế độ thu mua nghĩa vụ đốivới một số hàng nông phẩm quan trọng Năm 1959 mở rộng ra đối với thuốclá, đay, chè, tơ tằm, lông cừu, da bò, v.v

Cùng với việc thực hiện chế độ thu mua theo kế hoạch thống nhất, ởTrung Quốc còn thực hiện chế độ tiêu thụ theo kế hoạch thống nhất Đó làchính sách nhà nớc thực hiện cung cấp theo định lợng đối với một số hàng hoá

có quan hệ đến quốc kế dân sinh mà cung không đáp ứng cầu Chính sách nàybắt đầu thực hiện từ năm 1953-1954, gồm có: lơng thực, dầu ăn bông và vảibông Nhà nớc có định lợng vừa quy định giá cả thống nhất giao cho thơngnghiệp quốc doanh và hợp tác xã cung tiêu thực hiện phân phối và cung cấp

định lợng cho dân c thành thị, nông thôn và đơn vị tiêu dùng

Chế độ thu mua và tiêu thụ theo kế hoạch thống nhất đợc thực hiệntrong một thời gian dài ở Trung Quốc, nhng từ năm 1979 đã từng bớc đợc cải

tiến Nghị quyết "về một số vấn đề đẩy nhanh phát triển nông nghiệp" (ngày

28/9/1979) đề ra chủ trơng: "Trong một thời gian tơng đối dài từ nay về sau,chỉ tiêu trng mua lơng thực trong cả nớc tiếp tục ổn định trên cơ sở đã xác

định cho 5 năm (1971-1975), hơn nữa bắt đầu từ năm 1979 giảm bớt 2,5 triệutấn nhằm giải quyết bớt gánh nặng cho nông dân, để khuyến khích phát triển

Trang 32

sản xuất" Đến Văn kiện số 1 năm 1982, việc điều chỉnh chính sách thu mua

và tiêu thụ nông phẩm đã tiến thêm một bớc mới.Văn kiện này quy định:

"Thực hiện thu mua theo kế hoạch thống nhất và thu mua theo nghĩa vụ làhoàn toàn cần thiết, nhng chủng loại không thể quá nhiều, từ nay về sau, đốivới một số nông phẩm quan trọng có quan hệ đến quốc kế dân sinh vẫn tiếptục thực hiện thu mua theo kế hoạch thống nhất và thu mua theo nghĩa vụ, nh-

ng đối với những sản phẩm ngoài diện trên và những sản phẩm mà nông dân

đã hoàn thành nghĩa vụ bán nh lơng thực, cần cho phép tồn tại nhiều kênhkinh doanh thơng nghiệp quốc doanh, cần tích cực triển khai nhiệm vụ muabán thoả thuận và tham dự điều tiết thị trờng Hợp tác xã cung tiêu và các tổchức thơng nghiệp hợp tác khác có thể mua bán linh hoạt, nông dân cá thểcũng có thể kinh doanh", "khi thực hiện thu mua theo kế hoạch thống nhất vàthu mua theo nghĩa vụ đối với một số hàng hoá do việc cung cấp căng thẳng,nói chung, không nên thi hành biện pháp thu mua toàn bộ "[104; 4]

Tiếp đó, Văn kiện số 1 năm 1984 đã khẳng định: "Tiếp tục điều chỉnhchính sách thu mua và tiêu thụ nông phẩm Theo đà phát triển của sản xuất và cảithiện cung ứng thị trờng, cần tiếp tục giảm bớt chủng loại và số lợng thu muatheo kế hoạch thống nhất và thu mua theo nghĩa vụ Sản phẩm tơi sống cần hếtsức nới lỏng, cần có giá chênh lệch thời vụ và giá chênh lệch khu vực hợp lý đểcho giá cả linh hoạt, thúc đẩy sản xuất, giảm bớt h hao để đảm bảo xuất khẩu vàcung ứng cho thành phố, có thể thử nghiệm xây dựng các cứ điểm sản xuất vàtrao đổi TLSX cho nông dân cố gắng giảm bớt khâu trung gian Đối với các sảnphẩm loại ba và sản phẩm ngoài nhiệm vụ thu mua theo kế hoạch thống nhất vàthu mua theo kế hoạch nghĩa vụ phải thực sự thả nổi về giá cả, cho phép thơngnghiệp quốc doanh và HTX cung tiêu căn cứ vào mức chênh lệch mua vào bán rahợp lý để nắm giá cả mua bán linh hoạt, nhằm tạo thuận lợi cho sự tham gia cạnhtranh và điều tiết thị trờng Trong kinh doanh cố gắng giảm bớt khâu trung gian,

tổ chức lu thông trực tiếp giữa khu vực sản xuất và khu vực tiêu dùng Việcnông dân tiến hành sản xuất có kế hoạch, đòi hỏi nhiệm vụ thu mua nông sảntheo kế hoạch thống nhất và thu mua theo nghĩa vụ phải đợc thực hiện đến tận

đơn vị sản xuất và cần ổn định trong vài năm ” [127; 47] [78; 18]

Nh vậy, trong giai đoạn 1979 - 1984, ở Trung Quốc vẫn duy trì chế độthu mua và tiêu thụ theo kế hoạch thống nhất và theo nghĩa vụ đối với nôngphẩm quan trọng Chế độ thu mua này rất cần thiết trong điều kiện lịch sử đặcbiệt của thời kỳ mới giải phóng, khi việc cung cấp các loại vật t còn rất căng

Trang 33

thẳng, khi mà Trung Quốc triển khai xây dựng CNXH với quy mô lớn Tuynhiên, trong 30 năm thực hiện chế độ này, trong thực tế nó cũng bộc lộ mặthạn chế và nhợc điểm bởi vì, chế độ thu mua và tiêu thụ theo kế hoạch thốngnhất là hoàn toàn dựa trên kế hoạch pháp lệnh, hầu nh đơn thuần dựa vào biệnpháp hành chính để tổ chức hoạt động sản xuất và tiêu thụ, coi nhẹ việc vậndụng quy luật giá trị và các đòn bẩy kinh tế, do đó ngày càng bộc lộ nhiềuthiếu sót, vì vậy do yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn, yêu cầu mởrộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ gia đình nông dân trong thựchiện chế độ khoán sản đến hộ, đòi hỏi phải cải cách chế độ thu mua và tiêuthụ hiện hành đối với nông phẩm.

Vì vậy, Văn kiện số 1 năm 1985, tiếp tục quy định: "ngoài mặt hàng cábiệt, nhà nớc không giao nhiệm vụ thu mua nông sản phẩm theo kế hoạchthống nhất và thu mua theo nghĩa vụ mà sẽ căn cứ vào tình hình khác nhau đểthực hiện thu mua theo hợp đồng và theo thị trờng Đối với lơng thực và bôngthì xoá bỏ thu mua theo kế hoạch thống nhất thay bằng thu mua theo hợp

đồng Giá các sản phẩm khác mà trớc đây đã thực hiện thu mua theo kế hoạchthống nhất thì nay cũng phân biệt theo chủng loại, phân biệt theo khu vực,từng bớc thực hiện thả nổi Sau khi xoá bỏ chế độ thu mua theo thống nhất vàthu mua theo nghĩa vụ đối với nông phẩm, nhiều kênh lu thông trực tuyến đãhình thành, không còn các hạn chế bởi sự phân công kinh doanh cũ Các đơn

vị kinh doanh, gia công các đơn vị tiêu dùng nông phẩm đều có thể trực tiếp kíkết hợp đồng định mua với nông dân Ngợc lại, nông dân cũng có thể thôngqua tổ chức kinh tế hợp tác hoặc xây dựng hiệp hội ngời sản xuất để chủ độngtiến hành hiệp thơng và kí kết hợp đồng tiêu thụ với các đơn vị hữu quan” [127; 47]

Văn kiện số 1/1985 nhấn mạnh: "Bất kì đơn vị nào cũng đều không có quyền

giao kế hoạch sản xuất mang tính pháp lệnh đối với nông dân" [110; 85].

Cùng với việc thủ tiêu chế độ thu mua theo kế hoạch thống nhất và thu muatheo nghĩa vụ, năm 1986 nhà nớc còn cắt giảm 20% mức bán ngũ cốc để nôngdân đợc tự do bán một khối lợng lớn lơng thực trên thị trờng

Nh vậy, qua nhiều năm thực hiện chế độ "thống cấu thống tiêu" đối với

nông sản phẩm đã bị xoá bỏ Điều này không những tạo ra cho nhân dânquyền tự chủ hơn trong sản xuất và trong kinh doanh, tạo điều kiện để kinh tếhàng hoá nông thôn phát triển, mà còn có tác dụng khơi thông dòng chảy chothị trờng nông thôn

2.1.3 Sự điều chỉnh cơ cấu sản xuất

Trang 34

Điều chỉnh cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp ở Trung Quốc là mộtviệc làm quan trọng trong chính sách cải cách kinh tế nông thôn ở Trung

Quốc, trong một thời gian dài, ngời ta nhấn mạnh một cách phiến diện "dĩ

l-ơng vi cl-ơng", coi nhẹ sự phát triển cây công nghiệp, nghề rừng, chăn nuôi,

nghề phụ và nghề cá, do đó cơ cấu của nó còn cha hợp lí Bởi vậy, trong mộtthời gian dài, cơ cấu sản xuất mang tính chất kinh tế tiểu nông vẫn tồn tại, tìnhtrạng thiếu lơng thực vẫn cha đợc giải quyết Sản lợng lơng thực không tănglên đợc, trong khi sản lợng cây công nghiệp, nghề rừng, chăn nuôi, nghề phụ,nghề cá cũng còn rất thấp, sản lợng bình quân theo đầu ngời vẫn còn ở mứcthấp dẫn đến tình trạng phải nhập khẩu một số lợng lớn về lơng thực bông và

đờng Vì vậy, việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông thôn trở thành đòi hỏikhách quan, cho nên cần phải thay đổi cách làm ăn cũ và cần có nhận thức

đầy đủ về sự tất yếu khách quan phải phát triển đa dạng hoá các ngành nghềtrong sản xuất nông nghiệp và nông thôn, khắc phục những cách suy nghĩ saitrớc đây xuất phát từ điều kiện cụ thể của từng địa phơng để phát triển kinh

doanh nhiều ngành nghề Phơng châm "Quyết không lơi lỏng sản xuất lơng

thực, tích cực phát triển kinh doanh nhiều ngành nghề" đã đợc đề ra tại Hội

nghị Trung ơng 3, khoá XI và chỉ thị số 1/1981 đợc ban hành dới dạng thôngtri "Báo cáo về việc tích cực phát triển kinh doanh nhiều ngành nhiều nghề"

Quan điểm cơ bản chỉ đạo việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất trong nôngnghiệp là căn cứ vào quan điểm kinh tế hàng hoá để làm cho cơ cấu sản nghiệpmang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái và hiệu quả xã hội tốt nhất, làm chocác ngành nghề ở nông thôn phát triển cân đối nhịp nhàng Theo quan điểm kinh

tế đó, Trung Quốc đề ra hai nguyên tắc điều chỉnh cơ cấu sản xuất là:

Thứ nhất, căn cứ vào thị trờng để xác định cơ cấu sản xuất Nghĩa là,

nông dân căn cứ vào sự biến động của cung cầu trên thị trờng và tín hiệu củagiá cả để điều tiết sản xuất hợp lí Ngời sản xuất nhìn vào thị trờng để lựachọn và quyết định sản xuất cái gì và sản xuất bao nhiêu, những sản phẩm nàocần phải nâng cao chất lợng, sản phẩm nào cần thay đổi quy cách mặt hàng.Chỉ có nh vậy mới đạt đợc mục đích của việc điều chỉnh kết cấu sản phẩm

Thứ hai, căn cứ vào điều kiện cụ thể từng vùng, từng địa phơng để thực

hiện ngành nghề hoá trong nông nghiệp, theo nguyên tắc này, yêu cầu điềuchỉnh kết cấu sản nghiệp không những phải dựa vào nhu cầu thị trờng mà cònphải phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế của địa phơng Bởi vì,bản thân nông nghiệp là sự giao kết giữa tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất xã

Trang 35

hội Điều kiện tự nhiên và kinh tế của mỗi nơi rất khác nhau, cho nên chỉ cótuân thủ nghiêm ngặt quy luật khách quan của sự khác biệt đó, căn cứ vào điềukiện cụ thể của từng địa phơng mà phát huy thế mạnh, khắc phục chỗ yếu để bốtrí sản xuất thì mới có đợc hiệu quả kinh tế tốt nhất Trớc kia, ở một số địa ph-

ơng của Trung Quốc, do không tuân thủ những điều kiện khách quan đã máymóc phát triển một số ngành nghề không phù hợp với địa phơng mình nên đãmang lại những kết quả không mong muốn

Để thực hiện điều chỉnh kết cấu sản nghiệp trong nông nghiệp, chỉ thị

số 1/1981 đã đề ra một số vấn đề cần phải giải quyết là:

- Phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa sản xuất lơng thực và kinhdoanh nhiều ngành nghề

- Phải làm tốt công tác khảo sát tài nguyên của từng địa phơng và xâydựng quy hoạch phân bố sản xuất

- Chính sách của Đảng và Nhà nớc cần phải tơng đối ổn định

Phát triển kinh doanh nhiều ngành nghề cũng giống nh sản xuất lơngthực đòi hỏi phải dựa vào khoa học - kĩ thuật

- Cần giải quyết tốt vấn đề gia công, bảo quản và vận chuyển Vì kinhdoanh nhiều ngành nghề chủ yếu là sản xuất hàng hoá nông dân lo ngại nhất

là không bán đợc sản phẩm [103; 6]

Nh vậy, kể từ năm 1979, do quán triệt phơng châm và nguyên tắc điềuchỉnh cơ cấu sản xuất, nhà nớc đã định ra một loạt các chính sách nôngnghiệp, nhất là việc thực hiện chế độ khoán sản đến hộ, đã làm cho nông dânthực sự có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, khiến cho cơ cấu sản xuấttrong nông nghiệp có nhiều thay đổi Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cha hợp

lí, đòi hỏi cần phải tiếp tục điều chỉnh, làm sao để đảm bảo sản xuất lơng thựctăng trởng ổn định, kinh doanh nhiều ngành nghề đợc phát triển và các ngànhnghề toàn diện nh: lâm nghiệp, chăn nuôi, nghề cá, nghề phụ đợc phát triển.Năm 1984, Trung Quốc đạt sản lợng lơng thực 407 triệu tấn, mức kỉ lục caonhất trong lịch sử Nhiều ngời Trung Quốc cho rằng đất nớc của họ đã vợt quacửa ải lơng thực, từ đó đã phát sinh t tởng buông lỏng đối với sản xuất lơng

thực Trong nông thôn nổi lên cơn sốt ''phi thơng bất phú'', ''phi công bất

phú'' Nhng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cảnh tỉnh cho nhân dân nói

chung và nông dân nói riêng là ''phi nông bất ổn'', ''phi lơng tắc loạn'' Đồng

thời, thực tế sản xuất nông nghiệp từ năm 1985 đến năm 1988 lâm vào tìnhtrạng suy giảm, không ổn định Tổng sản lợng năm 1985 là 379 triệu tấn, năm

Trang 36

1986 là 391 triệu tấn, năm 1987 là 402 triệu tấn, năm 1988 là 394 triệu tấn.

Đến năm 1989 mới khôi phục đợc mức của năm 1984 là 407 triệu tấn Đơngnhiên tình hình sản xuất lơng thực lên xuống này có nhiều nguyên nhân, trong

đó nguyên nhân khách quan là do thiên tai nặng nề, nhng cũng có nguyênnhân chủ quan của con ngời Bài học thực tiễn của phát triển sản xuất nôngnghiệp là phải coi trọng sản xuất lơng thực Bởi vậy, để đảm bảo tổng sản xuấtlơng thực tăng trởng ổn định, Trung Quốc chủ trơng thi hành các biện pháp:

- ổn định diện tích gieo trồng lơng thực

- Nâng cao sản lợng trên một đơn vị sản xuất

- Nắm chắc việc xây dựng căn cứ lơng thực hàng hoá trọng điểm

- Điều chỉnh hợp lý lợi ích giữa khu vực sản xuất lơng thực chủ yếu vàkhu vực nhận đợc sự điều động lơng thực từ bên ngoài vào, động viên tính tíchcực của chính quyền và ngời sản xuất lơng thực chủ yếu

Nh vậy, từ khi cải cách đến nay cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nôngthôn Trung Quốc có nhiều biến đổi, những kết quả bớc đầu thu đợc đã chothấy đời sống của ngời nông dân có nhiều thay đổi, thu nhập ngày càng cao

Điều đó nó có tác dụng thúc đẩy quá trình điều chỉnh kết cấu sản xuất pháttriển mạnh mẽ hơn

2.1.4 Chú trọng phát triển khoa học - kỹ thuật và khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế trong nông thôn

Thực tiễn của quá trình sản xuất nông nghiệp đã làm cho ng ời TrungQuốc nhận thức rõ về vai trò của khoa học - kỹ thuật với việc đẩy nhanhphát triển nông nghiệp Nắm đợc khoa học - kỹ thuật là một vấn đề có ýnghĩa chiến lợc Bởi vậy, từ sau Hội nghị Trung ơng lần thứ 3, khoá XI(năm 1978), công tác phát triển khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp vànông thôn đợc chú trọng hơn trớc Nhà nớc đã chủ trơng khuyến khích cán

bộ khoa học - kỹ thuật về nông thôn công tác, phát triển văn hoá, giáo dục,

y tế ở nông thôn Tiếp đó, Hội nghị Trung ơng lần thứ 4, khoá XI (tháng 9

năm 1979) đã vạch rõ: ''Chúng ta cần tập trung lực lợng để cải tạo kỹ thuật

nông nghiệp, phát triển lực lợng sản xuất nông nghiệp'' Sau đó, chỉ thị số 1

năm 1981 đợc ban hành dới dạng thông tri ''Báo cáo về việc tích cực kinh

doanh nhiều ngành nghề" (tháng 3 năm 1981), Trung ơng Đảng và Quốc vụ

viện Trung Quốc lại ban hành ''Đề cơng báo cáo về phơng châm phát triển

khoa học - kỹ thuật" (16/4/1981), tiếp tục nhấn mạnh phơng châm xây dựng

kỹ thuật cần phải dựa vào khoa học - kỹ thuật ''công tác khoa học - kỹ thuật

Trang 37

phải hớng về phục vụ xây dựng kỹ thuật'' Đề cơng cũng nêu rõ trọng điểm

của công tác khoa học - kỹ thuật nông nghiệp: Đối với ngành trồng trọt, cầnphải tạo giống và phổ biến mở rộng giống cây trồng có phẩm chất tốt Đốivới ngành chăn nuôi, ngoài việc cung cấp giống tốt, cần tập trung giải quyếtvấn đề thức ăn cho gia súc nhằm tăng trọng nhanh, nâng cao chất l ợng, rútngắn chu kỳ chăn nuôi, đặc biệt chú trọng giải quyết vấn đề thiếu đạmtrong thức ăn gia súc Cần làm tốt công tác bảo vệ thực vật

Và cho đến hôm nay, Trung Quốc vẫn chủ trơng đẩy mạnh việc áp dụngtiến bộ khoa học - kỹ thuật để thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn pháttriển

Song song với việc chú trọng phát triển KH - KT trong nông nghiệp,Trung Quốc còn thực hiện chính sách khuyến khích phát triển nhiều thànhphần kinh tế ở nông thôn Trên thực tế, trải qua quá trình lịch sử mấy chụcnăm, ở nông thôn Trung Quốc đã thực hiện chế độ sở hữu tập thể đối vớiruộng đất và các TLSX chủ yếu Trong quá trình đó, hàng loạt các công trìnhthuỷ lợi đợc xây dựng, một số không nhỏ các khu rừng tập thể đợc gây trồng,nhiều xí nghiệp tập thể đợc mở rộng, tích luỹ đợc một khối lợng lớn tài sảncông cộng Cho nên, kinh tế công hữu đã đợc xác lập ở nông thôn TrungQuốc chủ trơng kiên trì phát triển chế độ công hữu và cho rằng làm nh vậy sẽ

có lợi cho việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và TLSX chủ yếu, có lợicho việc tập trung lực lợng tiến hành xây dựng trọng điểm kinh tế, tạo điềukiện cho ngời lao động có quyền lao động bình đẳng, bảo đảm công bằng xãhội và tiến theo con đờng cùng giàu có

Nhng do trình độ phát triển sức sản xuất ở nông thôn còn thấp, cha có

điều kiện để thực hiện chế độ công hữu phổ biến, vì vậy, để động viên đợcmọi nhân tố tích cực làm sống động kinh tế nông thôn và phát triển sức sảnxuất ở nông thôn, Trung Quốc chủ trơng cho phép và khuyến khích các thànhphần kinh tế khác phát triển để bổ sung cho kinh tế công hữu Các thành phầnkinh tế khác ở Trung Quốc bao gồm: kinh tế cá thể, xí nghiệp t doanh, cáchình thức chung vốn và cổ phần kinh doanh, xí nghiệp chung vốn giữa TrungQuốc và nớc ngoài, xí nghiệp hợp doanh giữa Trung Quốc và nớc ngoài, xínghiệp nớc ngoài kinh doanh riêng

Việc phát triển nhiều thành phần kinh tế trong nông thôn đã có tác dụngtích cực đối với việc tạo thêm công ăn việc làm, giải quyết vấn đề lao động dthừa trong nông nghiệp, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, nâng cao trình độ văn

Trang 38

hoá, khoa học cho nông dân, thúc đẩy kinh tế nông thôn Trung Quốc pháttriển Tuy nhiên, việc phát triển nhiều thành phần kinh tế trong nông thôncũng khó tránh khỏi các hiện tợng phát sinh mâu thuẫn với kế hoạch nhà nớc,hiện tợng phân phối không công bằng và các hiện tợng tiêu cực khác Do vậy,

“hố sâu”cần chú ý hớng dẫn để phát huy tác dụng mặt tích cực và hạn chế các mặt

tiêu cực, làm cho chúng phát triển lành mạnh và có lợi cho xây dựng kinh tế XHCN” [127; 47] ở Trung Quốc [80; 58-59].

2.1.5 Sự cải cách toàn diện thuế và phí ở nông thôn

Trong ''Văn kiện số 1'' ngày 31/12/2005 của Trung ơng Đảng và Quốc

vụ viện Trung Quốc về việc "Thúc đẩy xây dựng nông thôn mới xã hội chủ

nghĩa'', việc xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa đợc xác định là nhiệm

vụ lịch sử quan trọng trong quá trình hiện đại hóa Trung Quốc Nội dung thứ

VI trong Văn kiện là: ''Đi sâu cải cách nông thôn một cách toàn diện ''tiếp

tục thực hiện cải cách toàn diện thuế và phí ở nông thôn” [127; 47]

Việc cải cách thuế và phí ở nông thôn đợc bắt đầu từ năm 2000 Chế độthuế và phí ở nông thôn trớc khi đợc cải cách là nông dân phải nộp cho Nhà n-

ớc những loại thuế nh: thuế nông nghiệp, thuế đặc sản nông nghiệp, thuế sátsinh, còn phải nộp cho hơng trấn, thôn một khoản phí để lại dùng cho việcchung, phải chi một khoản tiền để góp vốn, huy động vốn, còn phải chi mộtkhoản nghĩa vụ công bằng tiền Từ đó cho thấy, về thực chất thì thuế nôngnghiệp và thuế đặc sản nông nghiệp là căn cứ vào diện tích trồng trọt để thu,giống nh thuế tài sản mà không phải là thuế chuyển nhợng; thuế sát sinh thuộcloại thuế hành vi, nhng trong thực tiễn thì thu theo đầu con vật; phí đợc tríchlại là thuộc thuế nhận khoán ruộng đất, giống nh một loại địa tô, nhng chủ yếu

là dùng cho việc chi phí của thôn xã; phí dùng chung cũng thuộc về loạikhoán, nhng chủ yếu là dùng để bù đắp lại sự thiếu hụt về tài chính của thônxã; huy động vốn, góp vốn là thuộc về phí mang tính phục vụ (vốn dùng đểthống nhất việc cung cấp giống), cũng có cái mang tính công ích (nh vốn dùngcho sản xuất cộng đồng), nhng có cái thuộc loại thu phí tuỳ tiện, còn công tíchluỹ hoặc công lao động nghĩa vụ là thuộc loại công ích hoặc là địa tô lao dịch.Xét về mặt đóng góp của ngời nông dân, căn cứ vào các số liệu thống kê, tổngmức thu của các loại thuế nông nghiệp năm 1998 là 30 tỷ NDT, còn mức thucủa các loại phí khác là 90 tỷ NDT, gấp 3 lần các loại thuế, nông dân chịu mộtgánh nặng về thuế và phí, không những nó là nhân tố quan trọng ảnh hởng đến

sự ổn định của nông thôn, mà nó còn ảnh hởng đến sức cạnh tranh về giá cả các

Trang 39

sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc Về phơng diện chính sách hỗ trợ cũng

nh thuế và phí, các nớc phát triển đều có sự chi viện hỗ trợ cho nông dân, còn ởTrung Quốc thì sự chi viện cho nông dân không những ít, mà lại còn thu nhữngloại thuế từ nông dân cao Căn cứ vào một số t liệu liên quan, nếu tính theo bìnhquân đầu ngời, nông dân một số nớc đợc hỗ trợ nông nghiệp nh sau: nớc Mỹ là14.000 USD, Liên minh châu Âu là 17.000 USD, Nhật Bản là 23.000 USD ởTrung Quốc riêng khoản thuế và phí mà nông dân phải gánh chịu chiếm khoảng7% - 8% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp ở nớc ngoài, các sản phẩm nôngnghiệp chính đợc hỗ trợ rất lớn, ở Trung Quốc thì không có gì thậm chí còn có

sự hỗ trợ âm, điều đó đã tác động mang tính quyết định đối với sức cạnh tranh

về giá cả của các sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc Hay nói cách khác, thuế

và phí đã triệt tiêu mất u thế cạnh tranh về giá cả của các sản phẩm nông nghiệpTrung Quốc

Theo kế hoạch của Chính phủ Trung Quốc, cải cách thuế và phí ở nôngthôn Trung Quốc đợc chia thành hai bớc để tiến hành Bớc thứ nhất đợc khái

quát là "giảm nhẹ, quy phạm, ổn định" Chủ yếu là chấn chỉnh lại thuế và loại

bỏ các loại phí, chấn chỉnh lại việc thu thuế và phí lộn xộn ở nông thôn, cóquy phạm về thu thuế nông nghiệp và thuế phụ mà nông dân phải nộp, nhằm

giảm gánh nặng cho nông dân Nội dung cụ thể là "ba cái loại bỏ, một cái

từng bớc loại bỏ, hai cái đợc điều chỉnh, một cái đợc cải cách" tức là, thuế sát

sinh đợc loại bỏ, việc huy động vốn cho thôn xã, vốn cho giáo dục và nhữngkhoản đóng góp mang tính hành chính sự nghiệp và vốn cho chính quyền đợcloại bỏ; trong vòng 3 năm giảm nhẹ tiến tới loại bỏ phí lao động nghĩa vụ vàcông tích luỹ; điều chỉnh lại thuế nông nghiệp, thuế đặc sản nông nghiệp vàphơng pháp thu: cải cách lại thuế cho thôn xã và biện pháp sử dụng nó, lấy20% hạn mức thuế nông nghiệp làm giới hạn trên cho thuế phụ nông nghiệp,thay thế cho việc trích lại ở thôn xã trớc đây

Cho đến năm 2003, trên căn bản đã hoàn thành bớc một của cải cáchthuế và phí ở nông thôn, bắt đầu bớc vào giai đoạn mới Nhiệm vụ của cảicách bớc hai là trên cơ sở của chế độ thuế và phí ở nông thôn theo quy phạm,dựa theo yêu cầu của sự hoàn thiện thể chế thị trờng XHCN, loại bỏ nhữngloại thuế và phí chuyên thu từ nông dân, thiết lập chế độ tài chính công phủkhắp thành thị và nông thôn, thiết lập một thể chế quản lý hành chính và cơchế vận hành gọn nhẹ có hiệu quả ở cơ sở, thiết lập cơ chế có hiệu quả choviệc tăng thu và giảm đóng góp cho nông dân, thực hiện việc phát triển đồng

Trang 40

bộ thành thị và nông thôn Từ sau Đại hội lần thứ XVI của ĐCS Trung Quốc

đến nay việc cải cách thuế và phí ở nông thôn đã nhanh hơn Quyết định củaHội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ 3, khoá XVI ĐCS TrungQuốc đã đề ra hoàn thiện các chính sách cải cách thí điểm thuế và phí ở nôngthôn, trên cơ sở công tác thí điểm đợc hoàn thành, từng bớc hạ thấp thí điểmthuế nông nghiệp, tạo điều kiện để thống nhất chế độ thuế ở thành thị và nông

thôn "Văn kiện số 1" năm 2004 đã đề ra, dần dần hạ thấp tỷ suất thuế nông

nghiệp Ngày 5 và 6 tháng 7 năm 2004, Chính phủ Trung Quốc đã triệu tậpHội nghị toàn quốc về công tác cải cách thí điểm thuế và phí ở nông thôn, hội

nghị yêu cầu phải đẩy nhanh việc "hai thủ tiêu, ba cải cách", tức là thủ tiêu

thuế nông nghiệp và thuế đặc sản nông nghiệp, đồng thời đồng bộ tiến hànhcải cách cơ cấu hành chính ở hơng trấn, giáo dục phổ cập ở nông thôn, thể chếtài chính ở huyện xã Đến cuối năm 2006, Trung Quốc đã tuyên bố xoá bỏthuế nông nghiệp và thuế đặc sản nông nghiệp trên toàn bộ lãnh thổ mà khôngcần đến 5 năm nh kế hoạch đề ra, đồng thời nhà nớc còn chi 339,7 tỷ NDTcho nông thôn [83; 15]

Tóm lại, trong chính sách cải cách kinh tế toàn diện ở nông thôn, Trung

Quốc đã đặt trọng tâm vào việc thực hiện chế độ khoán sản đến hộ đồng thờithi hành đồng bộ một loạt các biện pháp cải cách khác nh: nâng cao giá thumua nông phẩm; cải cách một bớc chế độ thu mua nông phẩm; giảm bớt gánhnặng cho nông dân, thực hiện chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tếtrong nông thôn; đa dạng hoá các ngành nghề trong nông nghiệp; phát triểnkhoa học kĩ thuật và văn hoá, giáo dục, y tế ở nông thôn; tiến hành cải cáchmột cách toàn diện thuế và phí ở nông thôn Chính bớc đi và biện pháp đó đãmang lại hiệu quả rõ rệt, tạo điều kiện tăng thu nhập cho ngời nông dân, làmtiền đề cho sự ổn định nông thôn, thiết lập cơ sở vững chắc cho việc tiến tớixây dựng xã hội khá giả toàn diện ở Trung Quốc

2.2 Những biện pháp thúc đẩy kinh tế nông thôn Trung Quốc phát triển

Những chính sách cải cách kinh tế của Đảng và Chính phủ Trung Quốcvạch ra đối với nông thôn, đã dẫn dắt công cuộc cải cách nông thôn đi suốt từnăm 1978 đến nay, những chính sách này đợc thực thi rộng rãi trên phạm vi cảnớc và đã thu đợc những thành tựu to lớn Song ở nông thôn Trung Quốc vẫncòn tồn tại nhiều vấn đề và nan giải Vì vậy, Trung Quốc cũng đã có nhữngbiện pháp để xúc tiến công cuộc cải cách kinh tế nông thôn phát triển, và đểthực hiện những biện pháp đó, Trung Quốc đã xác định ra cho mình một nội

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoàng Thế Anh (2007), “ Xây dựng xã hội hài hoà ”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quèc, sè 2(70), trang 70-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng xã hội hài hoà
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2007
[2] Lý Thiết ánh (2000), "Sự chỉ đạo của lý luận khoa học quyết định thành công của cải cách", Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2(30), trang 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chỉ đạo của lý luận khoa học quyết định thànhcông của cải cách
Tác giả: Lý Thiết ánh
Năm: 2000
[3] Nguyễn Kim Bảo (1998), “ Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong điều chỉnh, hoàn thiện cơ cấu sở hữu hiện nay ở Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6(22), trang 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong điềuchỉnh, hoàn thiện cơ cấu sở hữu hiện nay ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Năm: 1998
[4] Bảo hộ hay quốc tế hoá nền nông nghiệp Trung Quốc , Tạp chí Kinh tế Quốc tế, ngày 20/2/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ hay quốc tế hoá nền nông nghiệp Trung Quốc
[5] Bernd Jordan, Cộng Hoà Dân Chủ Đức, Về chính sách nông nghiệp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và những biến đổi kinh tế xã hội ở nông thôn từ 1978.Tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách nông nghiệp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và những biến đổi kinh tế xã hội ở nông thôn từ 1978
[6] Hồ Châu (1996), “Xu hớng phát triển chế độ hợp tác cổ phần ở nông thôn Trung Quốc hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3(7), trang 20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hớng phát triển chế độ hợp tác cổ phần ở nông thôn TrungQuốc hiện nay
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 1996
[7] “ Chín giải pháp tăng thu nhập cho nông thôn Trung Quốc ”, Tài liệu TKđặc biệt, ngày 11/4/03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chín giải pháp tăng thu nhập cho nông thôn Trung Quốc
[9] Công xã nhân dân của Trung Quốc đi tới đâu?, TTXVN 12/11/1982, trang 9-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công xã nhân dân của Trung Quốc đi tới đâu
[10] Phạm Chu (27/4/2007), “ Lấp dần hố sâu giàu nghèo “ ” ”, Báo Quân đội nh©n d©n, sè 16527 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấp dần hố sâu giàu nghèo"“ ”
[11] Nguyễn Sinh Cúc (4/2007), “ Nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kỳ 2, trang 6 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới vànhững vấn đề đặt ra
[13] Nguyễn Xuân Cờng (2004), “Vài nét về các giai tầng trong xã hội Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, sè 3, trang 27-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về các giai tầng trong xã hội TrungQuốc từ cải cách mở cửa đến nay
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2004
[14] Nguyễn Xuân Cờng (2004), “Trung Quốc với việc quy hoạch thống nhất thành thị và nông thôn”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 4(56), trang 26-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với việc quy hoạch thống nhấtthành thị và nông thôn
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2004
[15] Nguyễn Xuân Cờng (2004), “Vài nét về tiến trình cải cách nông thôn Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu TrungQuèc, sè 3(55), trang 27-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tiến trình cải cách nông thôn Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2004
[16] Nguyễn Xuân Cờng (2005), “Quá trình phát triển sản nghiệp hoá nông nghiệp ở Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, trang 7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển sản nghiệp hoá nôngnghiệp ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2005
[17] Nguyễn Xuân Cờng (2006), “Trung Quốc với việc xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2(66), trang 3-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với việc xây dựng nông thôn mớixã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2006
[18] Nguyễn Xuân Cờng (2007), “Cơ cấu nhị nguyên thành thị và nông thôn ở Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1, trang 19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu nhị nguyên thành thị và nông thôn ởTrung Quốc
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2007
[19] Nguyễn Xuân Cờng (2007), “ Vài nét về cải cách nông thôn ở Trung Quốc và Việt Nam (1978 2006) – ”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 4(70), trang 19-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về cải cách nông thôn ở Trung Quốcvà Việt Nam (1978 2006)"–
Tác giả: Nguyễn Xuân Cờng
Năm: 2007
[20] Dơng Danh Duy (19/5/2005), “ Vấn đề tam nông của Trung Quốc “ ” ”, Tạp chí Cộng sản, số 99, trang 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tam nông của Trung Quốc"“ ”
[21] H. T. D (28/12/1998), “ Trung Quốc và vấn đề an ninh l ơng thực”, Báo Sài gòn giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và vấn đề an ninh lơng thực
[22] Nguyễn Xuân Dũng (6/2007), “ Về giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 6, trang 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấunông nghiệp hiện nay

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình thay đổi về tỷ trọng giá trị sản phẩm các ngành nghề ở nông thôn 1978-1993. - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 1 Tình hình thay đổi về tỷ trọng giá trị sản phẩm các ngành nghề ở nông thôn 1978-1993 (Trang 65)
Bảng 2: Tỷ lệ tăng trởng nghề nông, nghề rừng, chăn nuôi, nghề phụ, nghề cá năm 1993. - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 2 Tỷ lệ tăng trởng nghề nông, nghề rừng, chăn nuôi, nghề phụ, nghề cá năm 1993 (Trang 67)
Bảng 3: Mức thu nhập danh nghĩa của dân c thành thị và nông thôn - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 3 Mức thu nhập danh nghĩa của dân c thành thị và nông thôn (Trang 85)
Bảng 4: Chênh lệch thu nhập về tài sản bình quân của dân c thành thị và nông thôn - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 4 Chênh lệch thu nhập về tài sản bình quân của dân c thành thị và nông thôn (Trang 86)
Bảng 5: Sự chênh lệch mức tiêu dùng giữa hai khu vực nông thôn và thành thị (1985-2002) - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 5 Sự chênh lệch mức tiêu dùng giữa hai khu vực nông thôn và thành thị (1985-2002) (Trang 88)
Bảng 1: Tình hình mục đích ra ngoại tỉnh của nhân khẩu lu động  nông thôn những năm 90 - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 1 Tình hình mục đích ra ngoại tỉnh của nhân khẩu lu động nông thôn những năm 90 (Trang 131)
Bảng 2: Tỷ trọng nông nghiệp trong tổng GDP - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 2 Tỷ trọng nông nghiệp trong tổng GDP (Trang 131)
Bảng 3: Nguyên nhân không muốn biến đổi thân phận - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 3 Nguyên nhân không muốn biến đổi thân phận (Trang 132)
Bảng 4: Bảng GDP Trung Quốc và Việt Nam - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 4 Bảng GDP Trung Quốc và Việt Nam (Trang 132)
Bảng 6: Tình hình cải thiện đời sống dân c  thời kỳ “5 năm lần thứ X“ - Chính sách cải cách kinh tế của cộng hoà nhân dân trung hoa đối với nông thôn và những kết quả bước đầu (1978   2006)
Bảng 6 Tình hình cải thiện đời sống dân c thời kỳ “5 năm lần thứ X“ (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w