Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình nàokhảo sát một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống vấn đề chiến tranh trong ba tiểu thuyết, nhất là trong thế đối sánh, để
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-LÊ ĐÌNH TRƯỜNG
CHIẾN TRANH TRONG BA TIỂU THUYẾT
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH, ĐẤT TRẮNG,
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG
VINH - 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 13
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận văn 14
7 Cấu trúc luận văn 15
Chương 1 Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945 – Một cái nhìn chung 16
1.1 Giới thuyết chung về khái niệm tiểu thuyết 16
1.2 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 và vị trí của Dấu chân người lính 19
1.2.1 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 19
1.2.2 Vị trí của tiểu thuyết Dấu chân người lính 28
1.3 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 30
1.3.1 Những tiền đề cơ bản của sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 30
1.3.2 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam mười năm đầu sau giải phóng (1975 – 1985) và vị trí của Đất trắng 35
1.3.3 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam sau Đổi mới (1986) và vị trí của Nỗi buồn chiến tranh 41
Trang 3Chương 2 Hiện thực chiến tranh trong ba tiểu thuyết Dấu chân
người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh 50
2.1 Hiện thực chiến tranh – Nhìn từ bối cảnh chiến trận 51
2.1.1 Từ hiện thực hào hùng đến hiện thực bi hùng 51
2.1.2 Từ hiện thực cuộc sống trong khung cảnh chiến trường đến hiện thực về số phận con người 59
2.2 Hiện thực chiến tranh – Nhìn từ người lính cách mạng 65
2.2.1 Người lính – Từ những người anh hùng mang vẻ đẹp lý tưởng 65
2.2.2 .Đến những con người bình thường, mang số phận bi kịch 74
2.2.3 Hình tượng người lính nữ trong và sau chiến tranh 84
2.3 Hiện thực chiến tranh - Nhìn từ phía đối phương 91
2.4 Hiện thực chiến tranh – Nhìn từ những người không trực tiếp tham gia cuộc chiến 102
Chương 3 Những đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện chiến tranh trong ba tiểu thuyết Dấu chân người lính, Đất trắng, Nỗi buồn chiến tranh 108
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật .108
3.1.1 Từ kiểu nhân vật hành động đến kiểu nhân vật tâm lý 108
3.1.2 Từ kiểu nhân vật tập thể đến kiểu nhân vật cá nhân 112
3.1.3 Từ kiểu nhân vật điển hình đến kiểu nhân vật cá biệt 117
3.2 Nghệ thuật tổ chức kết cấu 123
3.2.1 Kết cấu sử thi - hoành tráng trong Dấu chân người lính 124
3.2.2 Kết cấu dồn nén sự kiện trong Đất trắng 127
3.2.3 Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh 131
3.3 Tổ chức không gian – thời gian nghệ thuật 134
3.3.1 Từ không gian chiến trận đến không gian tâm lý, tâm linh 135
3.3.2 Sự gia tăng của thời gian quá khứ, thời gian hoài niệm 140
Trang 43.4 Nghệ thuật trần thuật 145
3.4.1 Điểm nhìn trần thuật 145
3.4.2 Giọng điệu trần thuật 152
3.4.3 Ngôn ngữ trần thuật 157
Kết luận 165
Tài liệu tham khảo 168
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lịch sử Việt Nam là lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ
Tổ quốc Trong văn học, "có thể dễ dàng nhận thấy rằng kể từ truyền thuyếtThánh Gióng trong văn học dân gian và bài thơ đánh giặc của Lý ThườngKiệt trong văn học thành văn cho đến 1975, đề tài chiến tranh giải phóng vàbảo vệ Tổ quốc, đề tài phản ánh những người anh hùng cầm vũ khí chốngquân xâm lược vì độc lập tự do của dân tộc đã xuyên suốt và chiếm phần quantrọng nhất về dung lượng và chiều sâu trong tiến trình lịch sử của văn họcViệt Nam" [27, 45] Không chỉ trong thời kỳ chiến tranh mà cho đến khi hoàbình thống nhất, với nhà văn “chiến tranh vẫn là siêu đề tài, người lính là siêunhân vật, càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn” [36].Thậm chí, N.I Niculin còn cho rằng, “tiểu sử của hầu hết các nhân vật trongtiểu thuyết Việt Nam hiện đại đều gắn liền bằng cách này hay cách khác vớichiến tranh, với những thử thách của chiến tranh, với trường đời, với nhữngmất mát mà chiến tranh mang lại Chiến tranh đã trở thành cái nền tảng đạođức anh hùng, cung cấp những mẫu mực hành vi cho các nhân vật văn học”[106, 185] Và tiểu thuyết viết về đề tài này từ sau 1945 cũng đã gặt hái đượcnhiều thành tựu to lớn Nghiên cứu vấn đề chiến tranh trong ba cuốn tiểu
thuyết: Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, chúng tôi mong muốn
góp phần làm rõ hơn quy luật vận động của văn xuôi nói chung và tiểu thuyếtviết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945 nói riêng
1.2 Ba cuốn tiểu thuyết nói trên là ba tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu,đánh dấu những mốc quan trọng trong quá trình vận động của tiểu thuyết viết
về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945 Dấu chân người lính
Trang 6là tác phẩm tiêu biểu cho tiểu thuyết sử thi trong văn học cách mạng (1945 –1975) Đất trắng tiêu biểu cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh giai
đoạn mười năm đầu sau giải phóng, từng được giải thưởng văn học về đềtài lực lượng vũ trang của Hội Nhà văn Việt Nam (công bố năm 1987)
Nỗi buồn chiến tranh được đánh giá là một tác phẩm có nhiều ý tưởng cách
tân, tiêu biểu cho tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới (1986), từng được HộiNhà văn Việt Nam trao tặng giải Nhất về tiểu thuyết năm 1991 Từ khi ra đời,
ba cuốn tiểu thuyết này đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của đông đảođộc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học và đã có không ít nhữngbài viết, những công trình nghiên cứu bàn về các khía cạnh khác nhau ở mỗitác phẩm Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình nàokhảo sát một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống vấn đề chiến tranh trong
ba tiểu thuyết, nhất là trong thế đối sánh, để nhận ra những nét khác biệt trongviệc nhận thức và phản ánh hiện thực chiến tranh giữa một bên là trong tìnhhình nóng bỏng của hiện thực ấy, với một bên là một hiện thực đã được chiêmnghiệm trong một độ lùi nhất định của lịch sử
1.3 Trong chương trình giảng dạy ở trường Đại học, Cao đẳng và phổthông, tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi viết về đề tài chiến tranh sau 1945 nóichung cũng chiếm một vị trí khá quan trọng Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi
hi vọng sẽ giúp ích được ít nhiều cho công tác giảng dạy mảng văn học này,trước hết là đối với bản thân
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Chiến tranh
trong ba tiểu thuyết: Dấu chân người lính, Đất trắng, Nỗi buồn chiến tranh".
Vì trình độ có hạn, thời gian và nguồn tài liệu cũng hạn chế nên vấn đề màchúng tôi nghiên cứu có thể chưa được đầy đủ như mong muốn Song đây làdịp để chúng tôi kiểm nghiệm bản thân và bày tỏ sự quan tâm đặc biệt của
Trang 7mình đối với ba tiểu thuyết trên nói riêng cũng như đối với văn xuôi viết về
đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam từ sau 1945 nói chung
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Xem xét lịch sử vấn đề trong phạm vi rộng: Những bài viết và
công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề chiến tranhtrong văn xuôi Việt Nam sau 1945
Trong văn xuôi Việt Nam sau 1945, mảng sáng tác về đề tài về chiếntranh chiếm một vị trí quan trọng cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, hiện
có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về mảng sáng tác này
Ngoài các công trình, các bài nghiên cứu phê bình còn có các cuộc hội
thảo luận bàn về tiểu thuyết chiến tranh do báo Văn nghệ tổ chức vào các năm như: năm 1991, thảo luận về tiểu thuyết đoạt giải Bến không chồng của Dương Hướng, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh; năm 1996, báo Văn nghệ đặt ra vấn đề “Những vấn đề bức xúc đặt ra trong tiểu thuyết chiến tranh”; năm 2002, tổ chức toạ đàm về Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Cuộc đời dài
lắm của Chu Lai
Nhìn chung, tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu đều cho rằng,mảng văn xuôi nói chung và văn xuôi viết về đề tài chiến tranh trước 1975mang đậm tính chất sử thi và cảm hứng lãng mạn; xây dựng được những hìnhtượng nhân vật anh hùng tiêu biểu cho cho giai cấp, cho dân tộc; có vai tròquan trọng trong việc cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội, nhândân Theo Nguyễn Đăng Mạnh, “ra đời và phát triển trong không khí lịch sử
đó, văn học giai đoạn 1945 – 1975 (trong đó có văn xuôi viết về đề tài chiếntranh cách mạng – L.Đ.T) là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phậntoàn dân, của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật trung tâm của nó là những conngười đại diện cho giai cấp dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọinhững phẩm chất cao quý của cộng đồng” [106, 61] Lê Thành Nghị sau khikhảo sát một loạt tiểu thuyết mở đầu cho giai đoạn văn học mới (1945 – 1975)
Trang 8đã khẳng định: trong các tiểu thuyết này, "nhân vật anh hùng của cuộc khángchiến hiện ra sau một bút pháp vừa thực vừa ảo – một thứ "chủ nghĩa hiệnthực" rắn rỏi mà mượt mà, tỉnh táo mà say mê trào dâng sau ngọn bút"
[106, 166]
Bên cạnh đó, cách nhà nghiên cứu cũng chỉ ra mặt hạn chế của văn xuôiviết về đề tài chiến tranh giai đoạn này Đó là thể hiện con người và cuộc sốngmột cách giản đơn, xuôi chiều, phiến diện, công thức Lê Thành Nghị thẳngthắn chỉ rõ: "Nhìn chung, vẫn thiếu một số phận điển hình tiêu biểu trọn vẹncủa một cuộc đời cụ thể Hình như cả một giai đoạn, tiểu thuyết nặng về ký họacác hình ảnh, gương mặt, chân dung mà thiếu đào sâu một cách hệ thống sốphận, tính cách, lịch sử của nhân vật" [106, 169 – 170]
Về mảng văn xuôi viết về đề tài chiến tranh sau 1975, hầu hết các bàinghiên cứu phê bình đều thống nhất ý kiến cho rằng, nó đã có sự đa dạng hơn,phong phú hơn, chân thực hơn, táo bạo hơn với nhiều suy ngẫm, nhiều khámphá; phản ánh hiện thực cuộc chiến nhiều chiều, hình ảnh người lính trongchiến tranh cũng hiện lên đa diện hơn Nhà văn Hữu Mai đã khẳng định: “Tácphẩm viết về chiến tranh đã mang những sắc thái mới Một số đi vào những
đề tài rộng lớn của chiến tranh, một số lại có xu hướng khai thác những bìnhdiện chưa được đề cập nhiều trong những tác phẩm trước đây như: cái đauthương, cái mất mát, ác liệt, cái thấp hèn, những vấn đề thuộc đạo đức trongchiến tranh Tiểu thuyết hiện nay bám sát hiện thực, nhìn thẳng vào thựctrạng, nói ra thẳng những gì mình và mọi người quan tâm” [94, 93] HồPhương cũng nhận thấy một trong những tìm tòi không mệt mỏi của tác phẩmviết về chiến tranh sau năm 1975, đặc biệt là trong thập kỷ 80 và 90 là “nhữngvấn đề về số phận con người đã được chú ý đào xới, khai thác một cách sâusắc, chân thực hơn trước” [119] Xuân Thiều cũng nhận định: “Mười năm lạiđây (từ sau Đổi mới đến 1995 – L.Đ.T), trên mặt bằng văn học, vẫn cònnhững tác phẩm viết trực diện về chiến tranh, tuy không nhiều nhưng đã có
Trang 9những nét mới, cách nhìn nhận, đánh giá hiện thực chiến tranh trung thựchơn, mạnh dạn hơn” [106, 140] Đề cập đến số phận người lính, tác giả
Nguyễn Hương Giang trong Người lính hoà bình trong tiểu thuyết chiến
tranh thời kỳ đổi mới viết: “Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới tập trung khai thác và
tô đậm số phận người lính trong và sau chiến tranh Trong tiểu thuyết giaiđoạn này, nhân vật người lính được đặt ra với tư cách con người cá thể, vớitất cả các quan hệ chung với xã hội ” [39]
Mặc dù vậy, văn xuôi viết về đề tài chiến tranh sau 1975 cũng khôngphải không có những hạn chế Hồ Phương cũng nghiêm khắc chỉ rõ: "Trướcđây quả là chúng ta dường như chỉ viết về những chuyện vui vẻ, hùng tráng vàvào cuộc chiến tranh như đi xem hội Nhưng bây giờ lẽ nào lại đi từ cực nàysang cực khác ? Bạn đọc có thể sẽ nực cười cho rằng ta đã từ bỏ một công thức
sơ lược này để đổi lấy một công thức sơ lược khác Quá lắm cũng chỉ là mộtcái mốt Mà mốt nào rồi cũng trở thành lỗi thời cả" [106, 136] Nguyễn
Phượng trong bài viết Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 và những
thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ đã chỉ ra những thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ
của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh sau 1975, đó là: vẫn còn cái nhìn đơngiản, một chiều, chưa đủ sự táo bạo cho việc phát huy trí tưởng tượng và giảiphóng những mãnh lực của hư cấu nghệ thuật; cố gắng dựng những tính cách,những số phận độc đáo, đặc biệt nhưng còn tự giam mình trong những quanniệm nghệ thuật về con người chưa thoát khỏi tính chất giản đơn, nhất phiến;
đã ưu tiên cho việc phân tích tâm lý, nhưng chưa thực sự đối diện với những
bí hiểm của tâm hồn con người hay thiếu những cây bút phân tích tâm lý thực
sự Tác giả cho rằng, đây chính là nguyên nhân khiến độc giả thờ ơ với nhiềutiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng [84, 218]
2.2 Xem xét lịch sử vấn đề trong phạm vi hẹp: Những bài viết và
công trình nghiên cứu về ba cuốn tiểu thuyết: Dấu chân người lính, Đất trắng
và Nỗi buồn chiến tranh.
Trang 102.2.1 Những bài viết và công trình nghiên cứu về tiểu thuyết
Dấu chân người lính
Là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn học cách mạng
Việt Nam (1945 – 1975), từ khi ra đời đến nay, tiểu thuyết Dấu chân người
lính của Nguyễn Minh Châu đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều
nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học và cũng đã có khá nhiều bài viết
và công trình nghiên cứu về tác phẩm này Nói chung, hầu hết các bài viết và
công trình nghiên cứu đều khẳng định Dấu chân người lính là tác phẩm thành
công nhất là trong việc xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điểnhình Theo Phan Cự Đệ, “cuốn tiểu thuyết đã miêu tả, với một sức hấp dẫn,cuộc trường chinh kì lạ trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc” [53, 57]
Song Thành cho rằng, với Dấu chân người lính, "ngòi bút Nguyễn Minh Châu
đã lột tả được vẻ đẹp tinh thần phong phú và đằng sau những khuôn mặtphong trần ấy, anh đã làm ánh lên những nét hào hoa không phải là không cósức hấp dẫn, vẫy gọi đối với bạn đọc thanh niên" [72, 130] Trần Trọng Đăng
Đàn cũng khẳng định: "Với Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã góp
một phần quan trọng vào việc đẩy những hình tượng người anh hùng cáchmạng trong văn học lên gần với những điển hình mà công chúng đang chờđợi" [53, 66] Cùng với quan điểm này, Ngô Thảo kết luận: Mặc dầu còn cónhững thiếu sót nhưng "thành công của Nguyễn Minh Châu vẫn là cơ bản,
vững vàng Chính là trên những thành tựu đó mà với Dấu chân người lính,
Nguyễn Minh Châu đã đóng góp vào văn học chống Mĩ một tác phẩm xuấtsắc viết về người lính" [72, 135]
Song song với những mặt thành công, tác phẩm này của Nguyễn MinhChâu còn có những hạn chế nhất định Phan Cự Đệ cho rằng, “tác phẩm củaanh chưa có những tư tưởng chủ đề lớn quán xuyến toàn bộ cốt truyện vànhân vật Chất liệu tốt nhưng khả năng tổ chức, khái quát hóa còn yếu” [53,
Trang 1157] Vương Trí Nhàn chỉ rõ: "Ngay từ những mặt này – mặt bút pháp, bố cục,
nói chung là những yếu tố hình thức, Dấu chân người lính đã có gì đó không
đều tay, toàn bộ không trọn vẹn, bởi các yếu tố không thật hòa hợp Từngmảng đậm nhạt không đều Không đều về hình khối bên ngoài cũng như vềcấu trúc bên trong Nhân vật đứt nối tùy tiện Một đôi chỗ, thấy những "vếthàn" khá rõ" [72, 143] Hà Minh Đức cũng lưu ý: "Thiên hướng khai thác củaNguyễn Minh Châu là thuận chiều và một chiều Tuy có những tổn thất hisinh nhất định nhưng bộ mặt chiến trường còn thiếu cái ngổn ngang quyết liệt,đau đớn ( ) Bộ mặt kẻ thù cũng chưa được khắc họa rõ nét và thường miêu
tả từ xa" [53, 64] Tuy nhiên, theo nhận định của các nhà nghiên cứu, mặtthành công của tác phẩm vẫn là cơ bản
2.2.2 Những bài viết và công trình nghiên cứu về Đất trắng
Tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh từ khi ra đời đã thu hút được
sự quan tâm của đông đảo độc giả cũng như các nhà văn và nhà nghiên cứu - phêbình văn học Cho đến nay đã có không ít bài viết và công trình nghiên cứu về tácphẩm này Tuy có những ý kiến trái ngược nhau, song nhìn chung phần lớn các tácgiả đều cho rằng đây là một tác phẩm khá thành công và cũng là một trong nhữngsáng tác tiêu biểu cho tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu sau giải phóng (1975 –1985) Theo nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, thành công của tác phẩm nàychính là ở chỗ nhà văn đã dám nhìn thẳng vào hiện thực cuộc chiến, miêu tả chiếntranh và người lính cách mạng với cái nhìn đa diện, nhiều chiều – chiến tranhkhông chỉ có chiến công vang dội, ta thắng địch thua mà còn có muôn vàn giankhổ, mất mát, hi sinh mà quân và dân ta đã phải gánh chịu; người lính cách mạngkhông chỉ có những người anh hùng, dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu hi sinh quênmình vì lý tưởng mà còn có cả những kẻ hèn nhát, phản bội Nhà văn Nguyễn VănBổng nhận định: "Cũng như các tiểu thuyết khác của chúng ta viết về chiến tranhtrước nay, tập tiểu thuyết này diễn tả khá thành công chủ nghĩa anh hùng cáchmạng của quân đội và nhân dân ta ( ) Đáng chú ý hơn ở đây là mặt khác của hiện
Trang 12thực kháng chiến của chúng ta Đó là những khó khăn không bờ bến và những mấtmát, hi sinh khó tưởng tượng ra hết mà dân tộc đã chịu đựng, nhất là trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ " [142, 93] Thiếu Mai nhận xét: Đất trắng "có thể xem
như một sự bổ sung, bù đắp cho mảng văn học về đề tài chiến tranh thêm đầy
đủ, do đó tăng thêm giá trị chân thực" [142, 93 – 94] Đặng Quốc Nhật trong
bài viết "Mấy nét về đề tài chiến tranh và tiểu thuyết Đất trắng" (Tạp chí Văn
nghệ quân đội, số 6) nhấn mạnh: "Đất trắng đã gợi ra cho chúng ta những suy
nghĩ mới cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh lúc này Ở đây, người đọcthấy được sự dữ dội của cuộc chiến đấu giữa ta và địch, những thiệt hại nặng
nề của ta, những vùng đất trắng, sự chịu đựng đến mức ghê gớm, cái giá củanhững chiến công và chiến thắng cuối cùng Không né tránh phản ánh cái đó,không thi vị hóa nó, chất hiện thực của cuốn tiểu thuyết khá đậm và chânthật" [142, 97] Cùng quan điểm này, Tôn Phương Lan viết: “Nguyễn TrọngOánh đã thể hiện một thứ chủ nghĩa anh hùng đầy âm hưởng bi thương trong
tiểu thuyết Đất trắng, mở đầu cho một cảm hứng mới viết về chiến tranh: cảm
hứng sự thật” [76, 135]
Về mặt hạn chế của tác phẩm, theo nhà văn Nguyễn Văn Bổng, "bộ tiểuthuyết mở ra cũng lộ một số mặt chưa thật vững vàng như trong tám chươngcủa tập I thì hai chương đầu (100 trang trong số hơn 300 trang) viết còn nặng
nề, rối rắm, theo dõi khá mệt Về sau đọc dễ hơn, nhưng sau chương năm (cònlại cũng khoảng 100 trang) thì việc dàn trải, nội dung có phần loãng đi." [142,92] Trần Duy Thanh phát hiện ra: "Cuốn theo việc trình bày sự kiện, ở tập II,mật độ nhân vật rõ ràng là đông đúc hơn Thế nhưng tác giả lại ít lưu ý đếnkhắc họa nhân vật, thành thử những trang viết "nhận mặt kẻ thù" của anh còn
sơ sài" [142, 101] Thiếu Mai cho rằng, "kết cấu cuốn truyện chưa chặt ( ).Các nhân vật được giới thiệu, dàn dựng theo một kiểu: sau khi xuất hiện, tácgiả dành vài trang kể tóm tắt lại quãng đời về trước của anh ta Chưa có nhânvật nào thật dầy dặn, thật có tính cách kể cả nhân vật Tám Hàn" [142, 96]
Trang 13Nhìn chung, ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình về tiểuthuyết này của Nguyễn Trọng Oánh tuy khá nhiều nhưng mới chỉ dùnglại ở những đánh giá, nhận xét chung chung, chưa có một công trình nào
có tính chất quy mô nghiên cứu về vấn đề chiến tranh trong Đất trắng của
Nguyễn Trọng Oánh
2.2.3 Những bài viết và công trình nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh
Sự xuất hiện của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã gây
nên một tiếng vang rất lớn trên văn đàn Trong số những người quan tâm đếntác phẩm này, đã có nhiều ý kiến đánh giá trái ngược nhau Tựu trung lại,chúng ta có thể nhận thấy ba xu hướng chính sau:
2.2.3.1 Xu hướng thứ nhất là lên án gay gắt, phủ nhận giá trị của tácphẩm trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Tiêu biểu cho
xu hướng này là ba bài viết:
- Đỗ Văn Khang (1991), "Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của
Đức Trung coi Nỗi buồn chiến tranh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch
hóa hiện thực”, “bôi nhọ quân đội” [143] Trần Duy Châu trong bài viết củamình nhấn mạnh: "Bảo Ninh đã tạo nên hình ảnh đảo ngược của hiện thực,chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc ca khải hoàn của dântộc thành tiếng hát bi thương ai điếu cho những kẻ lạc loài" [18, 25] Đỗ Văn
Khang cuối bài viết còn kết luận "thật đáng tiếc lẽ ra không nên in vội Thân
phận của tình yêu" [62, 20] Các tác giả này đều thống nhất cho rằng, những
đổi mới nghệ thuật của Bảo Ninh như: cấu trúc trần thuật kép, tính chất đa
Trang 14thanh, kỹ thuật dòng ý thức chỉ là việc làm thuần tuý để đánh lừa bạn đọc
mà thôi
2.2.3.2 Xu hướng thứ hai, các tác giả tuy cổ vũ, khẳng định những đổi
mới nghệ thuật của Bảo Ninh, nhưng lại tỏ ra khá rụt rè trong khi đánh giá cácvấn đề thuộc nội dung của tác phẩm
Tiêu biểu cho xu hướng này có các bài viết của nhiều tác giả trong
"Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu" (Báo Văn nghệ, số 37, năm
1991) Nói chung, các tác giả này đều là những cây bút nhìn chiến tranh quágần, thậm chí lúc nào cũng cảnh giác với nguy cơ chiến tranh, e sợ tác giả rơivào tình trạng "giải thiêng" cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Tuy họthấy được những đổi mới của Bảo Ninh ở phương diện nghệ thuật, song nỗi
băn khoăn của họ là ở chỗ: "Cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh có bị dồn
nén quá nhiều chất bi không?" Nguyễn Phan Hách bộc bạch: "Lùi ra xa, đứngcao hơn một chút thì thấy có thể thông cảm được với tác phẩm này Tôi chưahẳn tán thành hoàn toàn về nội dung, nhưng cái đẹp, cái tuyệt kĩ, văn chương
là văn chương của cuốn sách đã át đi được những e ngại khác " [104] Cũngtrong cuộc thảo luận này, Vũ Quần Phương nhận xét: "Nếu cái đáng khentrong cuốn sách là chân thực trong tâm trạng, thì chỗ cần lưu ý tác giả cũng làtính chân thực cần có, trong khi dựng lại bối cảnh hậu phương miền Bắc vànhững trận đánh trả máy bay Mỹ, Bảo Ninh đã đánh mất cái hào khí rất đẹpcủa năm tháng ấy, có thể nó ấu trĩ, nhưng nó có cảm giác tác giả có nhữngđiều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan Đọc nhữngchi tiết khủng khiếp, đay nghiến, thấy tác giả ác, ta chưa thấy được nhân tốlàm nên chiến thắng ở đây" [104] Cao Tiến Lê nhận thấy: "Nhược điểm cũngcòn nhiều điều cần nói, ví như Bảo Ninh chỉ viết khi rời trận địa mà quên mấtkhi tiến vào trận địa Đánh Mỹ cũng có cái hào khí thực lòng của nó chứ Tôi
ủng hộ tiểu thuyết Thân phận của tình yêu vì trong đó nhiều thành phần đã
nói hộ cho tôi, cho đồng đội của tôi Mặt khác, để bạn đọc biết chiến tranh có
Trang 15nhiều con đường, con đường nào cũng nhằm mục đích mang lại hạnh phúccho mọi người và bao giờ cũng phải trả giá rất đắt" [104] Lê Quang Trangcũng nêu lên quan điểm của mình: "Cuốn tiểu thuyết dữ dội, gây ấn tượngmạnh Tác giả tỏ ra không né tránh sự thật đau đớn, phũ phàng và những vấn
đề gai góc nhưng trong cách xử lý tác giả vẫn còn có những mâu thuẫn rốibời, đoạn khái quát về tác động của chiến tranh với con người, việc nhìn nhậnPhương sau những phiêu lưu, thăng trầm đã trải, sự lạnh lùng trong miêu tả,
số chi tiết và sự dồn tụ các tâm trạng rã rời, bi đát, hoảng loạn của nhữngngười lính trong tác phẩm đem đến cảm giác nặng nề Tránh được lối suynghĩ một chiều này anh lại rơi vào lối suy nghĩ một chiều khác Một vài nhậnđịnh, triết lí trong một vài đoạn, có khi chỉ thoáng qua, song đã lộ ra thiếutoàn diện và thiếu sự thận trọng cần thiết” [104] Nguyễn Kiên tuy ủng hộ
Nỗi buồn chiến tranh nhưng vẫn không tránh khỏi sự nghi ngại: "Tác giả
từng là lính chiến, sách được viết ra do sự thôi thúc nội tâm, có thể tranhluận khen chê, nhưng cũng rõ ràng là tác giả có sự thành tâm muốn mọingười chớ lãng quên cuộc chiến vừa qua, trong đó có bao nhiêu đau đớn.Cuốn sách có nhiều điểm yếu như: cái không khí âm nhạc trong tình yêuKiên - Phương có gì đó chưa Việt Nam lắm Hoặc chuyện người hoạ sĩ đốttranh hơi bị dồn ép, khiên cưỡng, đoạn Kiên và Phương ở ga tàu Thanh Hoánếu kéo thời điểm xảy ra mọi việc lùi lại mấy năm thì phù hợp với hiện thựchơn Đây là một cách viết, một bằng chứng về sự trưởng thành của văn xuôita" [104]
2.2.3.3 Xu hướng thứ ba, các tác giả đánh giá cao cuốn tiểu thuyết trên
nhiều phương diện, xem nó như một thành tựu xuất sắc của văn học thời kỳĐổi mới
Tiêu biểu cho xu hướng này có các bài viết và công trình nghiên cứucủa Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Trần Thị Mai Nhi, Nguyễn Thanh Sơn,Nguyên Ngọc, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Đăng Điệp, Vương Trí Nhàn Tại
Trang 16cuộc thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, nhiều nhà nghiên cứu
đã đánh giá rất cao tác phẩm này Theo Trần Đình Sử, "Thân phận của tình
yêu của Bảo Ninh mang lại một góc nhìn mới về chiến tranh ( ) Đây là tiểu
thuyết về nhà văn, về sự hình thành một kiểu nhà văn, dự báo những thay đổiđáng kể của ý thức văn học Không nghi ngờ gì, Bảo Ninh đã đóng góp đáng
kể, nhiều mặt cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại" [104] Nhà văn NguyênNgọc - một trong những cây bút nhiệt thành nhất trong việc đánh giá thành
tựu của Nỗi buồn chiến tranh thì khẳng định: "Cuốn sách Thân phận của tình
yêu của Bảo Ninh là sự nghiền ngẫm về chiến thắng, ý nghĩa và giá trị to lớn
và dữ dội của chiến thắng ( ) Anh viết về cuộc chiến tranh "của anh" gầnnhư bằng tất cả máu của anh Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất củavăn học đổi mới" [104] Nguyễn Đăng Điệp lại nhìn thấy sự mới mẻ trong
cách viết và tiếp cận hiện thực của Bảo Ninh qua kỹ thuật dòng ý thức: "Cho
dù viết nhiều về chiến tranh nhưng xét đến cùng tinh huyết của Bảo Ninh kết
tụ trong cuốn tiểu thuyết để đời của ông: Thân phận của tình yêu Toàn bộ tác
phẩm là niềm khắc khoải không nguôi của một người lính bước ra từ cuộcchiến khắc nghiệt ấy Vì thế, nó trung thực đến tận đáy " [128, 399] Đỗ ĐứcHiểu cũng đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết này: "Trong văn học mấy chục
năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình yêu,
quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất; có thể Phương là nhân vật phụ
nữ đẹp nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam " [51, 265] Nguyễn Thanh
Sơn cho rằng, "Nỗi buồn chiến tranh không phải chỉ là một tác phẩm viết về
chiến tranh Bản thân tiểu thuyết đã là một cuộc chiến tranh, một thảm họachiến tranh, một thế giới chiến tranh thu nhỏ trong bi kịch vĩ đại của một con
người" [123, 63] Còn Nguyễn Tường Lịch thì khẳng định: "Tác phẩm Thân
phận tình yêu (1990) của Bảo Ninh mở ra một bước ngoặt đáng kể trên quá
trình phát triển tiểu thuyết đương đại" [82]
Trang 17Tóm lại, về văn xuôi viết về đề tài chiến tranh nói chung và tiểu thuyết
viết về đề tài này nói riêng, cũng như ba cuốn tiểu thuyết: Dấu chân người
lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh - ba tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài
chiến tranh cách mạng của văn học Việt Nam trước và sau 1975, hiện đã đượcrất nhiều người quan tâm nghiên cứu Tuy vậy, trên thực tế cho đến nay vẫnchưa có một bài viết hay công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàndiện, sâu sắc và có hệ thống vấn đề chiến tranh trong ba tác phẩm nói trên,nhất là trong thế đối sánh để làm rõ hiện thực chiến tranh cũng như nghệ thuậtkhắc hoạ hiện thực chiến tranh của các tác giả Đây chính là "khoảng trốngkhoa học" để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề chiến tranh trong ba tiểu
thuyết: Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
- Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (Nxb Văn học, Hà Nội, 2009).
Ngoài ra, để làm rõ vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi còn liên hệ, sosánh, mở rộng ở một chừng mực nhất định với một số tiểu thuyết khác (viết
về đề tài chiến tranh) cùng thời với ba tiểu thuyết nói trên
Trang 184 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là nhằm làm rõ vấn đề
chiến tranh trong ba tiểu thuyết: Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích đã xác định như trên, đề tài có các nhiệm vụ như sau:
- Thứ nhất, làm rõ vị trí của tiểu thuyết chiến tranh nói chung và ba tiểu
thuyết: Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh nói riêng
trong văn học Việt Nam sau 1945
- Thứ hai, làm rõ hiện thực chiến tranh trong ba tiểu thuyết: Dấu chân
người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh
- Thứ ba, làm rõ những đặc sắc trong nghệ thuật khắc họa hiện thực
chiến tranh trong ba tiểu thuyết: Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn
chiến tranh
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụngcác phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát – thống kê
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, lần đầu tiên chúng tôi đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu đốisánh một cách tương đối đầy đủ, toàn diện và có hệ thống vấn đề chiến tranh
trong ba tiểu thuyết: Dấu chân người lính, Đất trắng, Nỗi buồn chiến tranh,
Trang 19qua đó góp phần làm rõ xu hướng vận động của tiểu thuyết chiến tranh trongvăn học Việt Nam từ sau 1945.
7 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với những nhiệm vụ đã đặt ra, ngoài phần mở đầu, phần kếtluận và tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi gồm có 3 chương:
- Chương 1: Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945– một cái nhìn chung
- Chương 2: Hiện thực chiến tranh trong ba tiểu thuyết: Dấu chân
người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh
- Chương 3: Những đặc sắc trong nghệ thuật khắc họa hiện thực chiến
tranh trong ba tiểu thuyết: Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến
tranh.
Trang 20Chương 1 TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
SAU 1945 – MỘT CÁI NHÌN CHUNG
1.1 Giới thuyết chung về khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một thể loại tuy ra đời muộn nhưng lại có một vai trò hếtsức quan trọng trong lịch sử văn học Ngay từ khi mới ra đời, thể loại này đãthu hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình Tuy nhiên, do đây
là một "thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa địnhhình” [6, 23] nên việc nghiên cứu vấp phải những khó khăn đặc biệt và xungquanh khái niệm về thể loại này, hiện còn có nhiều vấn đề phức tạp, không dễ
gì đi đến thống nhất trong cách hiểu Tuỳ theo từng góc nhìn, từng hoàn cảnhphát ngôn mà các nhà lý luận khi thì nhấn mạnh đặc điểm này, khi thì nhấnmạnh đặc điểm kia của tiểu thuyết
1.1.1 Ở Nga và phương Tây từ lâu xung quanh khái niệm tiểu thuyết đãđược tranh luận rất sôi nổi Hêghen gọi tiểu thuyết là “sử thi tư sản hiện đại”
và nhấn mạnh tính chất “văn xuôi” của thể loại này Biêlinxky thì khẳng định:
“Anh hùng ca của thời đại ta là tiểu thuyết ( ) Nhưng khác với thời cổ đại: ởđây không có tính thần thoại Tính cách các nhân vật anh hùng không cònnhững gương mặt khổng lồ dường như không có thực” [Dẫn theo 120, 79].Còn Eikhenbaum – nhà tự sự học thuộc trường phái hình thức Nga thì phânbiệt tiểu thuyết với truyện ngắn từ góc độ hình thức trần thuật: "Tiểu thuyết làmột hình thức tổng hợp, còn truyện ngắn là hình thức sơ yếu của văn xuôi.Tiểu thuyết xuất phát từ lịch sử, từ ghi chép và nhật ký những chuyến duhành; còn truyện ngắn thì xuất phát từ truyện cổ tích và giai thoại" [Dẫn theo
128, 33 – 34] N.A.Gulalev lại đưa ra định nghĩa: "Tiểu thuyết là một hìnhthức tự sự lớn, mô tả hình thức riêng của con người trong những mối quan hệ
Trang 21rộng lớn với xã hội" [42, 244] Ngoài ra còn có các ý kiến của Stendhal,Turghênhep, M Burto, M.Kundera, H Bénac
Song đáng chú ý nhất là những luận điểm rất chính xác về tiểu thuyếtcủa M Bakhtin vào những năm 70 của thế kỷ trước Trên cơ sở quan niệm thểloại là nhân vật chính của lịch sử văn học chứ không phải trào lưu, trườngphái hay phương pháp sáng tác, ông cho rằng, tiểu thuyết là sản phẩm tinhthần tiêu biểu nhất của thời đại mới, bởi vì nó thể hiện được tư duy văn họcmới gắn với thời hiện tại, tư duy này gắn với một thứ triết học mới nhân bản
về con người, nhìn nhận con người như những cá thể độc lập, những cá nhântồn tại với bản ngã của nó và đối thoại với những bản ngã khác Nó là một thểloại ở thời hiện tại, một thể loại đang vận động và phát triển; nó tồn tại với tưcách như một thể loại chủ đạo của văn học hiện đại, nó giễu nhại và thu hútcác thể loại khác vào nó Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ có tính đa thanh.Thời gian trong tiểu thuyết là thời gian hiện tại, trong đó khoảng cách giữangười trần thuật và đối tượng trần thuật được rút ngắn tối đa, cho phép ngườitrần thuật có thể hiểu được nhân vật bằng chính kinh nghiệm sống của mình.Nhân vật trong tiểu thuyết là nhân vật không trùng khít với chính nó, conngười có thể cao hơn thân phận hoặc có thể nhỏ bé hơn tính người của mình
Và nguồn gốc của tiểu thuyết chính là từ lễ hội carnaval thời Trung cổ ởphương Tây [6]
1.1.2 Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, có lẽ Phạm
Quỳnh là người bàn về tiểu thuyết sớm nhất Trong Khảo về tiểu thuyết đăng trên tạp chí Nam Phong (1921), ông viết: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng
văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạtích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú” [100, 123] Sau Phạm Quỳnh là
Trọng Khiêm trong lời tựa Kim Anh lệ sử (1924) đã so sánh tiểu thuyết ta tiểu
thuyết phương Tây: “Tiểu thuyết ta tuy về hình thức có điều khuyết điểm thật,song về đường tinh thần lại có nhiều vẻ đặc sắc mà chính văn Âu Tây không
Trang 22có Những cái đó, ta đã không nên bỏ, mà ta lại cần phải bảo tồn, bồi dưỡng
lấy nữa” [100, 44] Ngoài ra, các tác giả như: Nguyễn Văn Ngọc (trong Dân
ta với tiểu thuyết - 1933), Thiếu Sơn (trong Nói chuyện tiểu thuyết – 1933, Nhà viết tiểu thuyết – 1935), Thạch Lam (trong Vài ý kiến về tiểu thuyết –
1938, Theo dòng – 1943), Hải Triều (trong Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn
chương: những khuynh hướng trong tiểu thuyết - 1939), Đinh Gia Trinh
(trong Đọc tiểu thuyết Việt Nam cận đại - 1942) cũng có nhiều ý kiến sắc
sảo về tiểu thuyết Tuy nhiên, ở giai đoạn này, dường như các nhà lý luậnnước ta chưa có cái nhìn hệ thống về tiểu thuyết, các phát biểu đều dừng lại ởnhững ý tưởng bộc phát ban đầu
Sau 1945, các nhà văn, nhà lý luận ở cả hai miền Nam Bắc cũng cónhững ý kiến khác nhau về tiểu thuyết Tiêu biểu là các ý kiến của Vi HuyềnĐắc, Nhất Linh, Vũ Bằng, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thái Hoà, Hoàng NgọcHiến, Đỗ Đức Hiểu, Đặng Anh Đào, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Đình Thi,
Tô Hoài, Chu Lai, Tạ Duy Anh Nói chung, các ý kiến của các nhà văn, nhànghiên cứu đều đã chỉ ra được đặc trưng của tiểu thuyết ở những khía cạnhkhác nhau gắn với những quan niệm khác nhau về thể loại này Cho đến nay,
ở Việt Nam, nhiều người đã nhất trí với khái niệm tiểu thuyết trong Từ điển
thuật ngữ văn học: Tiểu thuyết là "tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản
ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết cóthể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức
xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đadạng” [47, 328]
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát các tiểu thuyết trên cơ sở nhất
trí với quan niệm như trên của các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học Tuy
nhiên, chúng tôi xin nhắc lại rằng, tiểu thuyết là một thể loại đang trong quátrình vận động và biến đổi không ngừng nên hiện tại chưa thể đưa ra một địnhnghĩa hoàn toàn chính xác và có thể bao quát được toàn bộ thực tiễn sáng tác
Trang 23đa dạng, sinh động của thể loại này Ngay cả M Bakhtin cũng đã thừa nhận:
"Nghiên cứu các thể loại khác tựa hồ nghiên cứu những tử ngữ; nghiên cứutiểu thuyết giống như nghiên cứu những sinh ngữ, là lại sinh ngữ trẻ Chính vìthế mà xây dựng lý thuyết tiểu thuyết là việc cực kỳ khó khăn" [6, 24] Trongcông trình của mình, ông chủ trương: “Tôi không xây dựng một định nghĩacho một quy phạm tiểu thuyết đang tác động trong văn học (trong lịch sử vănhọc) như một hệ thống các dấu hiệu thể loại cố định Nhưng tôi sẽ cố gắngtìm ra những đặc điểm cấu trúc cơ bản nhất của cái thể loại mềm mại nhấtnày, những đặc điểm quy định cả phương hướng biến đổi của chính bản thân
nó lẫn phương hướng ảnh hưởng và tác động của nó đến toàn bộ văn học” [6,36] Và việc chúng tôi tiếp thu quan niệm về tiểu thuyết như trên của các các
giả Từ điển thuật ngữ văn học, tất nhiên, cũng không nằm ngoài tinh thần ấy.
1.2 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam
1945 – 1975 và vị trí của tiểu thuyết Dấu chân người lính
1.2.1 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam 1945 – 1975
“Bầu sữa nuôi dưỡng tiểu thuyết bao giờ và trước hết cũng là một cuộcsống thực với tất cả sự phong phú, đa dạng và phức tạp của nó Nhưng khôngphải cuộc sống nào cũng là mảnh đất thuận lợi của tiểu thuyết Thể loại vănhọc này đặc biệt phát triển trong những thời kỳ mà xã hội có chuyển biến dữdội” [33, 191] Hiện thực sôi động của lịch sử dân tộc ta suốt ba mươi nămchiến tranh thực sự là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tiểu thuyết nóichung và mảng tiểu thuyết chiến tranh nói riêng Trên thực tế, tiểu thuyết viết
về mảng đề tài này trong văn học cách mạng Việt Nam (1945 – 1975) đã ngàycàng phát triển và gặt hái được những thành quả quan trọng Về tổng quan,chúng ta có thể chia quá trình phát triển này thành hai chặng: tiểu thuyết chiếntranh thời kỳ chống Pháp (1945 – 1954) và tiểu thuyết chiến tranh thời kỳchống Mĩ (1955 – 1975)
Trang 241.2.1.1 Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam thời kỳ chống Pháp (1945 – 1954)
Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã đập tan được ách nô lệ non mộtthế kỷ của thực dân Pháp, mở ra trên đất nước ta một thời kỳ lịch sử mới: thời
kỳ độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội Thế nhưng không lâu sau đạithắng vẻ vang ấy, thực dân Pháp lại quay trở lại xâm lược nước ta một lầnnữa Nhân dân ta với ý chí đấu tranh kiên cường và tinh thần đoàn kết mộtlòng, “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định khôngchịu làm nô lệ” (Hồ Chủ tịch) dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh đã vùng lên làm cuộc kháng chiến trường kỳ và một lần nữa đã giànhđược thắng lợi huy hoàng trước kẻ thù hung bạo Thắng lợi của cách mạngtháng Tám và cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
đã đánh dấu những mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dântộc Bối cảnh lịch sử ấy, hiện thực cuộc sống với không khí nhiệt sôi tinh thầncách mạng ấy chính là nguồn cảm hứng vô tận cho những cây bút viết về đềtài chiến tranh trong văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Về tác độngcủa cách mạng thành công đối với nhà văn, Tô Hoài đã nói một cách ý nhị:
"Đối với bản thân người viết văn, công trình thay sông đổi núi ấy còn có một
ý nghĩa cực kỳ quan trọng là nó lay tận đầu óc và gốc rễ tất cả mọi thứ ràngbuộc, mọi thứ tôn thờ, mọi thứ trì trệ" [Dẫn theo 88, 390]
Lúc này, trên cơ sở xác định “văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận”(Hồ Chí Minh), văn học trước hết là một thứ vũ khí, nhà văn trở thành ngườichiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng và nhiệm vụ hàng đầu của văn nghệ làphục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, các tầng lớp văn nghệ sỹ đã dũng cảmxông pha trên mọi nẻo đường, hoà nhập vào hiện thực cuộc chiến sôi động đểphác hoạ những nét tươi nguyên của bức tranh cuộc sống Chính qua nhữngchuyến đi thực tế, bằng thực tiễn nhập cuộc ấy mà những cây bút như NguyênNgọc, Anh Đức, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao,
Trang 25Hồ Phương, Hữu Mai… đã tích luỹ vốn sống phong phú, nhanh chóng trưởngthành và đã bắt đầu khẳng định được vị trí của mình qua những trang viếtchân thực, sống động, giàu cảm xúc
Mặc dù thành tựu của văn học giai đoạn này tập trung chủ yếu ở thơ trữtình và truyện ngắn, nhưng với tiền đề xã hội cùng sự nỗ lực của đội ngũnhững người cầm bút trong việc khắc hoạ bức chân dung hiện thực cuộc sống
mà trung tâm là hình tượng người lính gắn với bối cảnh chiến tranh cáchmạng, từ đầu những năm 50, tiểu thuyết chiến tranh trong văn học ta cũng đã
thu được vụ mùa đầu tiên với những tác phẩm tiêu biểu như: Xung kích (1951) của Nguyễn Đình Thi, Con trâu (1953) của Nguyễn Văn Bổng…
Xung kích phản ánh cuộc chiến đấu cam go của quân và dân ta, qua đó tác
phẩm cho thấy tính chất âm thầm và quyết liệt của cuộc kháng chiến, cũng
như tinh thần lạc quan trong khó khăn, gian khổ của quân và dân ta Con trâu
lại đi vào khám phá trận chiến sản xuất – một mặt trận cũng không kém phầncam go, ác liệt của nhân dân Quảng Nam để giành lại từng con trâu, qua đó,tác phẩm khẳng định ý chí cách mạng kiên cường, bất khuất của người dânđất Quảng Nói chung, những sáng tác đầu tay này đã phần nào khái quátđược một giai đoạn lịch sử mới của dân tộc với những sự kiện biến cố quantrọng, những vấn đề thời sự hết sức nóng hổi, tươi nguyên của đời sống xãhội; đã chĩa mũi nhọn vào lực lượng thù địch; bước đầu thể hiện sự chín muồicủa lý tưởng cách mạng; ngợi ca, khẳng định, cổ vũ cuộc chiến tranh vệ quốc
vĩ đại của nhân dân ta
Về phương diện nghệ thuật, điều đáng ghi nhận nhất trong những sángtác mở đầu này là ở chỗ các nhà văn đã bước đầu xây dựng được hình tượngcon người mới, con người làm chủ thời cuộc Đó là những nhân vật tích cực,những nhân vật chính diện được khắc hoạ trong tác phẩm như anh tiểu đội
trưởng Na, trung đội phó Toại, anh liên lạc Luỹ (Xung kích), hay những dân quân du kích: chị Bai, anh Phận, Trợ, Chức (Con trâu) Một số tác phẩm còn
Trang 26chú ý xây dựng và ít nhiều xây dựng thành công hình tượng nhân vật quầnchúng cách mạng Có thể nói, với những tác phẩm này, “lần đầu tiên tronglịch sử văn học, đông đảo quần chúng công nông binh chiếm một vị trí trọngtâm trong tiểu thuyết Những đám đông với những hành động lẫy lừng, với vẻđẹp tinh thần của lý tưởng yêu nước và lòng căm thù giặc” [33, 137] Pháthiện nghệ thuật này không chỉ quy định phương hướng sáng tác mà còn có thểxem là một hệ quy chiếu đã quy tụ và xác định các nguyên tắc của mọi sự tìmtòi, thể hiện nghệ thuật trong tiểu thuyết chiến tranh chặng đường này và cả
về sau này – thời kỳ chống Mĩ
Tuy nhiên, là những tác phẩm mở đầu cho một nền tiểu thuyết mới nêntiểu thuyết chiến tranh trong chặng đường đầu này đương nhiên không thểtránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Viết về chiến tranh, tuy đã phần nào phảnánh được cái không khí sôi động một thời của lịch sử dân tộc, song các tácphẩm mới chỉ dừng lại những mốc, những sự kiện mà chưa có được khả năngkhái quát cũng như tầm nhận thức, triết luận Quần chúng công – nông – binhbước vào tác phẩm nhưng chưa được các tác giả dụng công khắc họa, kháiquát thành hình tượng điển hình, nhất là điển hình cá thể Hạn chế này là tấtyếu, bởi đây mới chỉ là những năm tháng mở đầu cho một giai đoạn lịch sửmới nên gương mặt của thời đại mới, con người mới vẫn chưa ổn định, chưathật định hình rõ nét Mặt khác, lúc này nhà tiểu thuyết bị lôi cuốn bởi nhữngthác người cuồn cuộn đi vào cách mạng nên chưa đủ thời gian lắng lại để tìmhiểu sâu vận mệnh và đời sống bên trong của cả dân tộc cũng như của từngcon người cụ thể Hơn nữa công – nông – binh lại là đối tượng mới mẻ vớimột số nhà văn tiểu tư sản trí thức Những hạn chế này sẽ được khắc phục ởtiểu thuyết giai đoạn sau – trong điều kiện lịch sử xã hội mới
Nói chung, mặc dù tiểu thuyết chiến tranh chặng đường này còn tươngđối "mỏng" cả về số lượng lẫn chất lượng, song nó đã cắm một cột mốc đầutiên trong quá trình phát triển của tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt
Trang 27Nam thời đại mới, đồng thời đặt nền tảng, tạo tiền đề cho sự phát triển củatiểu thuyết viết về đề tài này ở chặng tiếp theo.
1.2.1.2 Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ (1954 -1975)
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địacầu vào mùa hè năm 1954 đã đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của quân vàdân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Nhưng ngaysau đó, toàn quân, toàn dân ta lại bước vào cuộc chiến tranh chống Mĩ đầycam go, quyết liệt Một lần nữa lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, ý thức tự tôn dân tộc, lòng quả cảm, đức hi sinh, sức mạnh quật khởicủa tinh thần đoàn kết dân tộc lại tiếp tục trỗi dậy mạnh mẽ Lúc này, nói như
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cả dân tộc ta đang "sống những ngày vĩ đạinhất của lịch sử Đúng là chúng ta đang sống dồn, dồn thời gian, dồn khônggian" [Dẫn theo 27, 116] Điều kiện lịch sử - xã hội ấy chính là mảnh đất hiệnthực màu mỡ để văn học nói chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng tiếptục cắm rễ, đâm chồi, phát triển, gặt hái được những thành tựu to lớn và điđến đỉnh cao vinh quang
Mặc dù bước sang thời kỳ chống Mỹ, thể loại tiểu thuyết đã có sựphong phú hơn ở đề tài nhưng đề tài chiến tranh cách mạng vẫn là đề tài trọngtâm, chủ đạo và đạt được thành tựu lớn nhất Đề tài này được triển khai theohai hướng: viết về hiện thực lịch sử nóng bỏng của cuộc kháng chiến chốngPháp vừa đi qua và cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra Viết về cuộckháng chiến chống Pháp, tiếp sau tác phẩm mở đầu cho tiểu thuyết chặng
đường này là Đất nước đứng lên (1955) của Nguyên Ngọc là một loạt những tác phẩm tiêu biểu như: Một truyện chép ở bệnh viện (1959) của Bùi Đức Ái;
Trước giờ nổ súng (1960) của Lê Khâm; Sống mãi với thủ đô (1961) của
Nguyễn Huy Tưởng; Cao điểm cuối cùng (1961) của Hữu Mai… Viết về cuộc
kháng chiến chống Mĩ oanh liệt đang diễn ra, tiểu thuyết chiến tranh cách
Trang 28mạng cũng gặt hái một vụ mùa bội thu với nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Hòn
Đất (1966) của Anh Đức; Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao (1967) của
Nguyễn Đình Thi; Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu; Kan Lịch (1968) của Hồ Phương; Gia đình má Bảy (1968), Mẫn
và Tôi của Phan Tứ; Đường trong mây (1970), Ra đảo (1970) của Nguyễn
Khải; Vùng trời (1971) của Hữu Mai; Đất Quảng (1971) của Nguyễn Trung Thành; Dòng sông phía trước (1972) của Mai Ngữ; Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi; Rừng U Minh của Trần Hiếu Minh Trong số này có khá nhiều
cuốn tiểu thuyết có dung lượng lớn với hai, ba tập chững chạc, bề thế, kháiquát cả một thời kỳ lịch sử dân tộc với số lượng lớn các nhân vật
Viết về chiến tranh, dù là cuộc kháng chiến chống Pháp vừa đi qua haycuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra, với khuynh hướng sử thi và cảmhứng lãng mạn, tiểu thuyết chiến tranh chặng đường này đều phản ánh mộtphạm vi hiện thực cách mạng rộng lớn với những sự kiện, biến cố lớn lao củalịch sử dân tộc, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện được khí thếhừng hực niềm tin chiến thắng của quân và dân ta trên khắp mọi miền Tổquốc, đồng thời vạch rõ bộ mặt dã man, độc ác, tàn bạo và hèn nhát của kẻ
thù Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc) – tác phẩm đạt giải thưởng văn học
Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955, với khả năng khái quát toàn cảnh và sựgià dặn trong xử lí sự kiện đã thực sự trở thành một thiên anh hùng ca, ca ngợicuộc kháng chiến chống Pháp anh dũng của đồng bào thượng nguồn TâyNguyên – xứ sở của chim Đ’ráo, chim Ưng, của đờn Tơ - rưng, đờn Giông…
Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng) với chất liệu hiện thực phong phú
cùng với đôi cánh lãng mạn bay bổng đã thể hiện một cách ấn tượng tinh thầnsục sôi cách mạng của nhân dân thủ đô trong những ngày đầu kháng chiến
Trước giờ nổ súng (Lê Khâm) lại dựng lên bối cảnh cuối năm 1952, ở chiến
trường hạ Lào, khi quân tình nguyện Việt Nam sắp mở chiến dịch Tây Nam,
để từ đó khẳng định ý chí chiến đấu kiên cường, vượt lên khó khăn, gian khổ,
Trang 29chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng chính bản thân mình của cán bộ, chiến sĩ
ta Vào lửa (Nguyễn Đình Thi) là bức tranh anh bộ đội cao xạ pháo được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương đã anh dũng, kiên cường đánh trả địch Dấu
chân người lính (Nguyễn Minh Châu) phản ánh cuộc chiến đấu ác liệt của bộ
đội ta trên mặt trận Khe Sanh Hòn Đất (Anh Đức) phản ánh trọn vẹn cuộc
chiến tranh nhân dân với ba mũi giáp công tài tình, sáng tạo của quân và dân
đất Hòn Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh) phản ánh cuộc chiến tranh chống
Mĩ đầy gian khổ, hi sinh của nhân dân miền Tây Nam Bộ từ lúc gây dựng cơ
sở Đảng cho đến khi tập hợp lực lượng và vùng lên đồng khởi Với Mẫn và
Tôi, Phan Tứ lại tái hiện lại cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân làng Cá
Nói chung, so với thời kỳ chống Pháp, tiểu thuyết chiến tranh thời chống Mĩ
đã có sự mở rộng hơn rất nhiều về dung lượng cũng như tầm khái khái quáthiện thực, đặc biệt, nhiều tác phẩm còn có xu hướng vươn tới qui mô sử thi Ởphương diện này, có thể nói thuyết đã tạo nên những bức tranh cận cảnh củachính cuộc đời, giúp người đọc thấy được tầm vóc vĩ đại của cuộc khángchiến và con người trong kháng chiến, đồng thời thấy được sức mạnh kỳ diệucủa lý tưởng cách mạng
Về mặt nghệ thuật, thành tựu nổi bật nhất của tiểu thuyết chiến tranhchặng đường này chính là ở nghệ thuật xây dựng nhân vật Một bước pháttriển dễ nhận thấy là bên cạnh những điển hình tập thể, những hình tượngnhân vật đám đông, các tác giả tiểu thuyết giờ đây đã xây dựng thành côngnhiều hình tượng cá nhân điển hình, mà tiêu biểu là hình tượng người lính,người chiến sĩ cách mạng mang trên vai mình trọng trách lớn lao của lịch sửdân tộc Đó là hình tượng những cán bộ, người chỉ huy già dặn trưởng thànhqua khói lửa chiến tranh, mưu lược, quả cảm trong chỉ huy chiến đấu, luôn
luôn có niềm tin vào thế hệ trẻ, tiêu biểu như: anh hùng Núp (Đất nước đứng
lên); chính uỷ Kinh (Dấu chân người lính); Chín Chuyên (Gia đình má Bảy);
Chín Kiên (Rừng U Minh)… Đó là hình tượng đẹp đẽ của những chiến sĩ cách
Trang 30mạng còn trẻ tuổi nhưng thông minh, năng động, nhiệt tình cách mạng, có bảnlĩnh của người anh hùng và sẵn sàng hi sinh vì nghiệp lớn, như: Lữ, Khuê
(Dấu chân người lính); Quỳ, Đông, Tú (Vùng trời); Hải, Ngôn (Sao băng); Lương, Toản (Mặt trận trên cao); Mẫn (Mẫn và Tôi)… Đó còn là những hình
tượng người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” như: Kan
Lịch (Kan Lịch); Chị Sứ (Hòn Đất); út Hảo, Sâm (Mẫn và Tôi)… Quả thực,
"chưa bao giờ trong văn học của chúng ta lại xuất hiện nhiều đến thế nhữngđiển hình cao đẹp sáng ngời chất lý tưởng của con người mới, con người anhhùng trong chiến tranh" [27, 114] Họ chính là những con người đại diện chotinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc, kết tinh nhữngphẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng, gắn bó số phận của mình với số phậncủa đất nước, "mỗi điển hình văn học tích cực là một đại diện chung cho cảmột dân tộc hay một tầng lớp, một thế hệ những người cầm súng" [27, 49].Nhiều người trong số họ là nhân vật lịch sử, những anh hùng cách mạng trongcuộc đời thực bước vào tiểu thuyết (anh hùng Núp, chị Sứ, chị Tư Hậu, KanLịch ) Điều này chứng tỏ rằng, trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, chủnghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở một số cá nhân ưu tú nhấttrong giờ phút thử thách cam go ở mặt trận đấu tranh trực tiếp với kẻ thù màtrở thành nếp sống, chiến đấu và lao động, thành hành động thường nhật củahàng triệu quần chúng thuộc mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp nhân dân, ở khắpmọi miền Tổ quốc
Bên cạnh nhân vật, các phương diện thi pháp khác của tiểu thuyết chiếntranh chặng đường này cũng thể hiện rất rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứnglãng mạn Cốt truyện trong tác phẩm được tạo nên bởi hầu hết là những sựkiện lịch sử có thực ít nhiều tác động đến đời sống của cộng đồng Kết cấu cốttruyện chủ yếu theo trục thời gian tuyến tính Thời gian nghệ thuật trong tácphẩm thường là thời gian khách quan, thời gian hiện tại, những khoảng thờigian sự kiện xã hội, đánh dấu bằng sự mở đầu hoặc kết thúc của những hoạt
Trang 31động cách mạng và kháng chiến Không gian ở đây là những không gian rộnglớn của các vùng miền đất nước, không gian của những trận đánh, các chiếndịch, các hoạt động chung của dân tộc, của nhân dân Những từ ngữ chính trị
và ngôn ngữ quần chúng xuất hiện dày đặc trong tác phẩm Giọng điệu chủđạo là giọng trang nghiêm, ngợi ca, hào hùng Giữa tác giả (người kể chuyện)với nhân vật cũng luôn có một “khoảng cách sử thi” tương tự như trong sử thitruyền thống
Mặc dù đã có được những chuyển biến tích cực trên mọi phương diệnnhưng tiểu thuyết chiến tranh thời chống Mỹ vẫn còn những hạn chế nhấtđịnh Do lấy việc tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu làm nhiệm vụ hàngđầu, nên nhiều tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này phản ánh hiện thực chiếntranh và xây dựng hình tượng người lính còn giản đơn, xuôi chiều, công thức.Viết về hiện thực chiến tranh, các tác giả nói nhiều đến thuận lợi hơn khókhăn, về chiến thắng hơn là thất bại, về thành tích hơn là tổn thất, về cái vuihơn là nỗi đau, cái buồn, về hi sinh hơn là hưởng thụ Người lính, người chiến
sĩ cách mạng cũng chủ yếu được đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, dântộc, được nhìn nhận đánh giá trên quan điểm giai cấp, ở thái độ chính trị, ở tưcách công dân, đời sống cá nhân, mặt tâm lý, tâm linh và các phương diệnkhác ít được quan tâm khai thác, vì vậy các hình tượng nhân vật điển hình chỉ
có tính giai cấp mà chưa có tính nhân loại phổ biến, ít nhiều còn mang tínhminh hoạ Nói chung, tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này thiên về phản ánhnhững “chỗ sáng” của con người và hiện thực, phần nào tô hồng hiện thựccòn những “chỗ tối”, những góc khuất chưa được đề cập đến Về phương diệnnày, GS Trần Đình Sử đã nhận xét rất xác đáng rằng: “Văn học Việt Nam 40năm qua (trong đó có tiểu thuyết – L.Đ.T) chưa có nhiều thành công về mặthình tượng tính cách Yếu tố cá tính chưa nổi bật, sự phân tích xã hội, phântích tâm lý chưa được phát triển đầy đặn Còn ít có những hình tượng tầm cỡcung cấp một mẫu mực thuyết phục trọn vẹn về phương diện này” [107, 93]
Trang 32Đây cũng là những nhược điểm chung của văn học cách mạng Việt Nam(1945 – 1975) Những hạn chế này là do sự chế định của điều kiện lịch sử,trình độ nhận thức của thời đại và cũng có phần do các nguyên nhân chủquan từ phía quản lý, lãnh đạo, từ công tác lý luận, phê bình và cả từ hạnchế trong tài năng, bản lĩnh của người sáng tác Ngoài ra, cũng cần phải kểđến những luồng ảnh hưởng tiêu cực của khuynh hướng xã hội học du nhập từbên ngoài
Tóm lại, qua ba mươi năm hình thành và phát triển, nhất là từ 1964 khi cả nước có chiến tranh cho đến 1975, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranhcách mạng của nước ta đã bám chắc vào hiện thực màu mỡ, đồ sộ và sâu thẳm– sự nghiệp chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước để khôngngừng lớn lên vượt bậc, sung sức và tràn đầy sự sống Mặc dù còn những hạnchế nhất định song tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1945 – 1975 thực sự làtấm gương phản chiếu những phương diện cơ bản nhất của tâm hồn dân tộc;thể hiện được lẽ sống, khát vọng lớn “không có gì quý hơn độc lập, tự do” củanhân dân ta; đồng thời có tác dụng xây dựng tư tưởng, bồi đắp tâm hồn, hoànthiện và phát triển nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam không chỉ ởthời đại ấy mà còn có ý nghĩa lâu dài cho những thế hệ mai sau
-1.2.2 Vị trí của tiểu thuyết Dấu chân người lính
Nguyễn Minh Châu là một trong số những cây bút hàng đầu của nềnvăn học Việt Nam hiện đại Trong suốt 29 năm cầm bút của mình, kể từ lần
đầu tiên xuất hiện trên văn đàn với truyện ngắn Sau một buổi tập được in trên báo Văn nghệ quân đội (số 10 năm 1960) cho đến những tác phẩm cuối cùng
được viết trên giường bệnh, ông đã để lại cho đời 13 tập văn xuôi và 1 tập tiểu
luận phê bình Trong số đó, tiểu thuyết Dấu chân người lính (1970) là một
trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu và cũng là một trongnhững tác phẩm có vị trí quan trọng trong tiểu thuyết chiến tranh trong vănhọc cách mạng Việt Nam (1945 – 1975)
Trang 33Dấu chân người lính chủ yếu viết về cuộc hành quân, bao vây và tiêu
diệt giặc ở núi rừng Quảng Trị, qua đó ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạngViệt Nam; làm sáng rõ hơn mối quan hệ máu thịt giữa tổ quốc và chủ nghĩa
xã hội, đặc biệt trình bày được mối quan hệ biện chứng giữa hai thế hệ cùngsát cánh bên nhau cùng chiến đấu cho lý tưởng cách mạng Tác phẩm ngay từ
hai chương đầu giới thiệu trên tạp chí Văn nghệ quân đội vào năm 1970 đã
chinh phục được bạn đọc
Không chỉ được đông đảo độc giả hoan nghênh mà Dấu chân người lính
của Nguyễn Minh Châu còn được đồng nghiệp cũng như giới nghiên cứu –
phê bình văn học đánh giá cao Theo Song Thành, “Dấu chân người lính đánh
dấu bước tiến mới của Nguyễn Minh Châu trong tiểu thuyết Ở đây cảm xúccủa anh đã có thể theo kịp suy nghĩ để tạo nên một số hình tượng có sức hấp
dẫn về tư tưởng và nghệ thuật” [53, 88] Ngô Thảo khẳng định: “Với Dấu
chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã đóng góp vào văn học chống Mĩ một
tác phẩm xuất sắc viết về người lính” [72, 135] Phan Cự Đệ nhận xét: “Từ
Cửa sông đến Dấu chân người lính Nguyễn Minh Châu đã tiến những bước
vững chắc và hứa hẹn ” [72, 137] Trung Dũng cho rằng, “có thể nói sáng tácmới này của anh là một trong những cuốn tiểu thuyết đáng được chú ý trong
số những sáng tác đã xuất bản những năm gần đây, một sáng tác văn học cótính chiến đấu phản ánh một hiện thực cuộc sống còn đang nóng bỏng, màmuốn có được những chất liệu quý báu ấy người viết đã xác định trước nếucần thì cũng sẽ cầm súng và sẵn sàng hi sinh cuộc sống của mình” [53, 49]
Trần Trọng Đăng Đàn cũng nhận định: "Với Dấu chân người lính, Nguyễn
Minh Châu đã góp một phần quan trọng vào việc đẩy những hình tượng ngườianh hùng cách mạng trong văn học lên gần với những điển hình mà công
chúng đang chờ đợi" [53, 66] Hà Minh Đức nhấn mạnh: "Dấu chân người
lính khẳng định tài năng của nhà văn quân đội về đề tài chiến tranh cách
mạng" [53, 59] Còn nhà thơ Vũ Cao nói về Dấu chân người lính đã kết luận:
Trang 34“Người khó tính nhất cũng phải khen đây là một thành công mới trong sựnghiệp sáng tác về chiến tranh” [15, 42]
Qua ý kiến đánh giá của các nhà văn, nhà nghiên cứu – phê bình văn
học, chúng ta thấy Dấu chân người lính đã đánh dấu một bước phát triển mới
trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu cũng như của tiểu thuyếtchiến tranh nói riêng và nền văn xuôi cách mạng nói chung
1.3 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975
1.3.1 Những tiền đề cơ bản của sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.3.1.1 Tiền đề chính trị - xã hội
"Xã hội nào thì văn nghệ ấy" (Hồ Chí Minh), là một hình thái ý thức xãhội, văn học luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố chính trị - xã hội Sự thayđổi của lịch sử xã hội tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của văn học Đó là mộtquy luật Văn học Việt Nam sau 1975 cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn.Thắng lợi này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyênđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Chiến tranh kết thúc, đất nướcđược độc lập thống nhất, nhân dân bước vào thời kỳ hoà bình, xây dựng chủnghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Song đây cũng là lúc chúng ta phải đốimặt với một tình hình mới đầy biến động và phức tạp Bước ra khỏi chiếntranh đất nước ngập tràn trong niềm vui hoà bình, thống nhất nhưng cũng trựctiếp đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách Chiến tranh chưa thể là câuchuyện của ngày hôm qua, vẫn còn đó những đống hoang tàn đổ nát, nhữngđau thương mất mát, những di chứng của chiến tranh và biết bao ngổn ngang
xô bồ của thời hậu chiến Hậu quả, mặt trái của cuộc chiến vẫn đeo bám, indấu trên mỗi cuộc đời, mỗi số phận con người
Trang 35Các phương diện khác của đời sống xã hội cũng có sự thay đổi Lúcnày, vết thương của chiến tranh chưa kéo da non, nhưng khuyết tật của thờihậu chiến đã nảy sinh và lộng hành Cuộc sống mưu sinh quá đỗi vất vả, nhọcnhằn, bế tắc với trắng – đen, tốt – xấu lộn sòng bao trùm khắp nơi Bên cạnh
đó, các giá trị về xã hội, đạo đức, nhân cách… trước đây tưởng là một thànhtrì không gì phá nổi thì giờ bắt đầu lung lay, rạn nứt và đổ vỡ từng mảng,trong khi đó, các chuẩn giá trị mới lại chưa thực sự hình thành Thói vị kỷ,thực dụng, mất lòng tin đang dần biến thành lối sống khá phổ biến trong xãhội Người lính vừa mới bước ra khỏi chiến tranh đã phải đối mặt với biết baobộn bề, phức tạp, toan tính của cuộc sống đời thường Có thể nói, xã hội vàcon người Việt Nam sau chiến tranh, nhất là từ những năm đầu thập kỷ 80 trảiqua một cuộc trở dạ lớn lao và không ít đau đớn, vừa phải xây dựng lại hìnhảnh của chính mình vừa phải tự hình thành từng bước các chuẩn giá trị mới
Tình hình đó đã khiến cho yêu cầu đổi mới về mọi mặt của đất nướctrong đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật được đặt ra và trở thành vấn đề bứcthiết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đấtnước, đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội
và mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam Đường lối đổi mới do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo đã ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái kinh tế, làmcho nền kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường với tốc
độ tăng trưởng ngày càng cao Cùng với kinh tế, chính trị cũng đi vào ổnđịnh, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, văn hoá xã hội, vì thế,
cũng có bước phát triển mạnh mẽ Dân chủ hóa trở thành xu thế bao trùm của
toàn xã hội cũng như trong đời sống tinh thần của con người Có thể nói, côngcuộc đổi mới đã “thổi một luồng gió đầy sinh khí vào đời sống xã hội ViệtNam, kích thích những cải cách kinh tế và khơi dậy những suy nghĩ mới,những tìm tòi, sáng tác trong giới trí thức, văn nghệ sĩ” [141, 33]
Trang 36Thêm vào đó, trong hai ngày mùng 6 và 7/10/1987, Tổng Bí thưNguyễn Văn Linh đã có cuộc nói chuyện, tiếp xúc thân mật với đông đảo giớivăn nghệ sĩ Tổng Bí thư đã thay mặt Đảng khuyến khích, kêu gọi các vănnghệ sĩ cần phải đổi mới tư duy nghệ thuật, nhìn thẳng vào hiện thực cuộcsống, nói thẳng, nói thật các vấn đề miễn là nhà văn phải đứng trên lập trườngquan điểm của toàn Đảng, toàn dân khi phản ánh hiện thực, trên cơ sở đó,thay đổi cách viết cho phù hợp với hoàn cảnh mới của dân tộc Cũng trong
năm này, Nghị quyết 05 của Bộ chính trị (1987) về Đổi mới và nâng cao trình
độ quản lí văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới ra đời
đã mở ra một cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ, mở ra mộtbầu không khí dân chủ trong sáng tác Tất cả đã tạo động lực quan trọng thúcđẩy sự đổi mới, cách tân trong văn học Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội,văn học nghệ thuật hưởng ứng kịp thời và hết sức mạnh mẽ đường lối đổi mớicủa Đảng, đồng thời nhanh chóng hiện thực hoá tư tưởng đổi mới trong sángtác của mình
Không những thế, trong thời kỳ Đổi mới, Việt Nam mở cửa hội nhậpgiao lưu kinh tế, văn hoá với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với phươngTây Do đó, giai đoạn này nhiều luồng tư tưởng mới từ bên ngoài tràn vào,nhiều trào lưu, khuynh hướng văn học và lý luận nghệ thuật hiện đại của thếgiới đã được giới thiệu ở Việt Nam Đón nhận những luồng tư tưởng ấy khiếncác nhà văn có dịp “hiểu mình” hơn trên cơ sở “hiểu người” Đồng thời, côngtác dịch thuật phát triển, nhiều tác phẩm văn học nước ngoài, nhất là văn học
Xô viết thời cải tổ đến được tay các nhà văn và độc giả Việt Nam (như: Và
một ngày dài hơn thế kỷ, Con tàu trắng, Đoạn đầu đài, Vính biệt Gunxarư…
của Aimatốp, Bia mộ, Gắng sống đến bình minh… của Bưcốp, Lựa chọn, Trò
chơi của Bônđarép, Sống mà nhớ lấy, Đám cháy…của Raxputin…) Tất cả
đã tạo ra “cú híc”, khuyến khích các nhà văn tìm tòi, đổi mới, sáng tạo và làmbiến đổi cả thị hiếu tiếp nhận của công chúng
Trang 37Ngoài ra, sau 1975, sự bùng nổ của nhiều thế hệ nhà văn, sự ra đời củanhiều hội văn nghệ, sự phát triển của báo chí, in ấn, xuất bản, sự xuất hiện củacác trang web văn hoá, văn học trên mạng Internet cũng góp phần quantrọng làm cho văn học phát huy được chức năng của nó, đưa văn học trở vềđúng nghĩa "phản ánh hiện thực", đồng thời tạo điều kiện để văn học đượcgiao lưu rộng rãi, giúp tác phẩm nhanh chóng đến được với công chúng hơn.
Như vậy, có thể nói, hiện thực đất nước sau chiến tranh, nhất là sau Đổimới (1986) ngày càng có sự thay đổi toàn diện và sâu sắc Đất nước ta chínhthức bước sang một thời đại mới Thực tế cuộc sống đó khiến những ngườicầm bút không thể tiếp tục viết theo cách cũ, không thể nhìn cuộc sống và conngười bằng "đôi mắt cũ" mà phải đặt nó trong sự biến động, đổi thay phứctạp, phải thay đổi cách viết của mình Đây chính là tiền đề quan trọng cho sựphát triển và đổi mới văn học nghệ thuật
1.3.1.2 Tiền đề thẩm mĩ
Sau 1975, đặc biệt là sau Đổi mới (1986), con người dần trở lại vớimuôn mặt đời thường đa đoan, phức tạp Hiện thực bây giờ không chỉ là chiếnđấu và lao động như trong văn học 1945 - 1975 nữa mà là mọi vấn đề bề bộn,
đa dạng, phức tạp của cuộc sống xã hội Hiện thực cuộc sống thay đổi đã dẫnđến nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức văn chương của công chúng cũngthay đổi Yêu cầu của độc giả đối với văn hoá nghệ thuật nói chung và vănhọc nói riêng giờ đây cũng cao hơn Bạn đọc của chúng ta giờ đây muốn hiểutoàn bộ hiện thực cuộc sống và con người (trong đó có hiện thực chiến tranh
và người lính) trong tính đa diện, đa chiều, phức tạp của nó Vì vậy, côngchúng hôm nay không dễ gì bằng lòng với những tác phẩm văn học dễ dãi,một chiều, mà đòi hỏi nhà văn phải phản ánh hiện thực toàn diện hơn Sứmệnh của văn học lúc này là làm sao đáp ứng được một cách cơ bản và hữuhiệu nhất trình độ tiếp nhận và khả năng thưởng thức văn học ngày càngtrưởng thành của độc giả Để không bị "bỏ rơi", văn học buộc phải nhìn lại
Trang 38mình và chuyển đổi theo hướng mới để đối thoại với bao vấn đề đang đặt ratrong cuộc sống Muốn lấp đầy "khoảng chân không trong văn học" (NguyênNgọc), văn học thời kỳ mới phải có những tìm tòi mới để đáp ứng nhu cầu tưtưởng, tình cảm của con người mới; cần nhìn nhận, đánh giá mọi vấn đề dướiánh sáng của thời đại mới, phủ định những gì đã lạc hậu, lỗi thời Hay nóicách khác, văn học phải nhìn nhận, đánh giá hiện thực bằng “con mắt củangày hôm nay” Có thể nói, nhu cầu thẩm mĩ mới của công chúng chính làmột trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự đổi mới, cách tân của nghệthuật của văn học nói chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng.
Riêng đối với hai cuộc chiến tranh đã đi qua, giờ đây người đọc muốnhiểu nó một cách toàn diện, kể cả mặt trái, mặt tiêu cực chứ không phải chỉ cónhững chiến công hào hùng, những tấm gương chiến đấu anh dũng Vì vậy,tuy văn học vẫn tiếp tục viết về chiến tranh nhưng nhà văn buộc phải thay đổicách viết, không thể viết theo lối cũ nữa - nghĩa là viết thiên về chiến thắng,
về cái anh hùng vĩ đại của dân tộc Điều này đã tạo nên sự đổi mới trong tiểuthuyết chiến tranh nói riêng và văn học viết về đề tài này nói chung
Về phía những người sáng tác, khát vọng cởi trói mà văn nghệ sĩ ấp ủhàng chục năm trời giờ đây được hiện thực hoá Nhà văn được thoả sức pháthuy tài năng, cá tính sáng tạo độc đáo của mình Nhờ thế mà sáng tác của họ
tự nhiên, giàu giọng điệu, sắc thái, giàu phương thức biểu hiện nghệ thuật.Bên cạnh đó các nhà văn cũng đã tỉnh táo hơn trong cách đối xử với hiện thực
và bạn đọc Đặc biệt, họ đã xây dựng được mối quan hệ thân mật, bình đẳngđối với độc giả và đã giành quyền kết luận cuối cùng cho bạn đọc về tác phẩmcủa mình Người đọc vừa là người đồng sáng tạo vừa là người phê bình tácphẩm Nhà văn đương đại là “nhà văn đối thoại” (Lê Xuân Giang) với cáinhìn dân chủ hoá và người kể chuyện không mách nước cho ai, không lên lớpcho ai, thậm chí nhiều chỗ đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc Nhiệm vụ củanhà văn không phải là người nói ra chân lí mà là thức tỉnh ý hướng về chân lí
Trang 39hoặc là người thức tỉnh về phẩm giá con người cho độc giả Không những thế,lúc này mỗi nhà văn còn dần dần bộc lộ và xác lập những quan niệm riêng, cụthể, rõ ràng của mình về nghề văn Văn chương giờ đây không còn là phươngtiện tuyên truyền đạo đức, tuyên truyền chính trị như một thời nó đã làm tronghoàn cảnh đặc biệt là đất nước có chiến tranh, mà còn được xem như một tròchơi, một phép ứng xử Đối với hiện thực, các nhà văn không phản ánh mộtcách giản đơn, thụ động mà nghiền ngẫm, tìm tòi, suy tưởng và nghiền ngẫmhiện thực, một hiện thực chưa thể biết trước đã trở thành phương châm hànhđộng và đòi hỏi tất yếu đối với các nhà văn sau 1975 Những biến động xãhội, những vấn đề thế sự và nhân sinh luôn đặt ra gay gắt và tác động lớn đếncuộc sống, số phận, vận mệnh con người, luôn buộc người viết phải có suynghĩ, thái độ và lối “ứng xử” nghệ thuật thích hợp
Tất cả những tiền đề cơ bản nói trên đã thúc đẩy tiểu thuyết nói riêng
và văn học Việt Nam sau 1975 nói chung đổi mới theo hướng dân chủ hoá vàngày càng gia tăng tính hiện đại
1.3.2 Nhìn chung về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam mười năm đầu sau giải phóng (1975 – 1985) và vị trí của
những cây bút trưởng thành trong kháng chiến, tiêu biểu như: Miền cháy (1977) của Nguyễn Minh Châu; Đất trắng (Tập 1 – 1979, Tập 2 – 1984) của
Trang 40Nguyễn Trọng Oánh, Nắng đồng bằng (1977) của Chu Lai, Năm 75 họ đã
sống như thế nào (1978) của Nguyễn Trí Huân, Đất nước (1981) của Hữu
Mai …
Nền văn học nói chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng, nhất là nửacuối thập kỷ 70, về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo kiểu văn học thời chiếnvới khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Tiểu thuyết chiến tranh giaiđoạn này chủ yếu thiên về tái hiện lại những biến cố, sự kiện nóng hổi củamột một thời đã qua, bao quát một phạm vi hiện thực rộng lớn, vẫn chủ yếughi lại “những ấn tượng còn nóng hổi trong những diễn biến và từng trải đượctrình bày chưa kịp qua suy ngẫm và sàng lọc, có thể còn chưa đủ độ lắngnhưng lại mang tính chất sinh động kịp thời” [Dẫn theo 33], qua đó tiếp tụckhẳng định cái vĩ đại, cái anh hùng của dân tộc ta, của nhân dân ta trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Cửa gió đi vào bối cảnh chiến
đấu của tuổi trẻ Vĩnh Linh với những sự kiện dồn dập: cuộc chạm trán giữađoàn quân tiếp tế ở Cồn Cỏ và quân địch, những hi sinh mất mát, lễ truy điệu,cảnh xóm làng bị thiêu rụi, tản mác, sơ tán, cơ sở chiến đấu ngả nghiêng,những trận chiến đấu ác liệt , qua đó tái hiện lại một đoạn sử Vĩnh Linh
trong những năm tháng dữ dội của đất nước Miền cháy lại được triển khai
trong bối cảnh những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ vàcuộc sống dân tộc những ngày đầu hoà bình với những cuộc chạy loạn củanhững tên cuồng phản, công cuộc xây dựng cuộc sống mới bằng việc khắc
phục hậu quả của cuộc chiến với biết bao những bộn bề ngổn ngang… Sao
đổi ngôi của Chu Văn cũng viết về những năm cuối chiến tranh giải phóng,
đầu hoà bình với không khí khẩn trương, náo nức của chiến dịch lớn, sự ngỡngàng trước cuộc sống hoà bình, những xao động của chiến tranh biên giớiTây Nam do bọn phản động Pôn Pốt gây ra Nguyễn Trí Huân trong tiểu
thuyết Năm 75 họ đã sống như thế nào lại tái hiện lại không khí chiến trận
hào hùng của dân tộc những năm đánh Mỹ cứu nước