Xuất phát từ những mong muốn trên, việc tìm hiểu đề tài: Chế độ giáo“ Với núi sông thắng tích cả đất n dục khoa cử Nho học ở huyện Hoằng Hoá dới thời Nguyễn từ 1802 - 1919”.. Do đó, với
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh - Khoa lịch sử
- nguyễn thị thanh hiền
-chế độ giáo dục khoa cử nho học
ở huyện Hoằng Hoá dới thời Nguyễn
từ 1802 đến 1919
chuyên ngành lịch sử việt nam
luận văn tốt nghiệp đại học
Ngời hớng dẫn: ThS Hoàng Thị Nhạc
Vinh, 5 – 2002 2002
Phần A: Mở đầu
1 lý do chọn đề tài:
Xứ Thanh là địa đầu của miền Trung, phong phú về lịch sử và di tích,
nh-ng cũnh-ng rất nổi tiếnh-ng về cảnh đẹp thiên nhiên Đúnh-ng nh lời nhận xét của nhà văn
hoá - cố giáo s Hoàng Xuân Hãn : Với núi sông thắng tích cả đất n“ Với núi sông thắng tích cả đất n ớc Việt Nam không đâu phong phú và đẹp đẽ bằng Thanh Hoá ”
Hoằng Hoá là mảnh đất gắn bó máu thịt với tỉnh Thanh, với Tổ quốc ViệtNam trong suốt mấy nghìn năm lịch sử Nằm ở hạ lu sông Mã, Hoằng Hoá vẫnmang đầy đủ truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc; đồng thời biểu hiện rõ
Trang 2sắc thái văn hoá riêng của một miền quê xứ Thanh – một vùng địa linh nhân“ Với núi sông thắng tích cả đất n
kiệt ” Trong tiến trình phát triển của lịch sử, Hoằng Hoá là nơi sản sinh ra nhiềubậc hiền tài, trí thức Nho sĩ cho đất nớc, tên tuổi sự nghiệp của họ từng nổi danhmột thời đợc sử sách lu danh nh: Lơng Đắc Bằng, Nguyễn S Lộ, Nguyễn NăngNhợng, Nhữ Bá Sĩ, Lơng Hữu Khánh …v v… họ chính là tài sản vô giá mà laov v…v v… họ chính là tài sản vô giá mà lao họ chính là tài sản vô giá mà lao
động cùng với trí tuệ, tài và đức đã góp phần làm rạng rỡ non sông đất nớc, quêhơng Nhng cũng không ít những gơng xa từng là “ Với núi sông thắng tích cả đất nviên ngọc quý” bị lớp bụi thờigian hay bị một lý do nào khác che lấp, đến nay không còn dấu tích
Là con ngời của quê hơng Hoằng Hoá và rất đỗi tự hào là con cháu củavùng đất “ Với núi sông thắng tích cả đất nvăn vật” có bề dày về truyền thống giáo dục khoa cử, tôi mong mỏi sẽtìm hiểu, tổng hợp lại những giá trị đích thực mà cha ông ta đã gây dựng lên Tôimong muốn giúp cho các thế hệ trên quê hơng Hoằng Hoá nói riêng và hiện naycũng nh mai sau có cái nhìn đúng đắn đối với những gì mà cha ông đã tạo dựng
Hy vọng rằng, gơng xa và gơng nay là một dòng chảy không ngừng mà mỗi ngờichúng ta, nhất là thế hệ trẻ cần phải biết để tự hào về quê hơng, để soi sáng lòngmình qua các vị danh sĩ, trí thức Nho học thời xa
Xuất phát từ những mong muốn trên, việc tìm hiểu đề tài: Chế độ giáo“ Với núi sông thắng tích cả đất n
dục khoa cử Nho học ở huyện Hoằng Hoá dới thời Nguyễn từ 1802 - 1919”
đ-ợc coi là giai đoạn khởi sắc nhất của giáo dục Nho học Hoằng Hoá với hy vọng
sẽ có thể giới thiệu đợc các trí thức Nho học, những tên tuổi và địa danh cụ thể,những bậc danh Nho có phẩm chất cao đẹp trong việc khổ công tu dỡng họchành để cống hiến cho đất nớc Qua đó không riêng mỗi ngời con Hoằng Hoá
mà cả tỉnh Thanh càng thấy tự hào về truyền thống khoa bảng từ xa, đối với thế
hệ trẻ cần phải ra sức học tập vơn tới đỉnh cao của khoa học, góp phần xây dựngmột quê hơng giàu đẹp Chuẩn bị một thế hệ làm chủ thế kỷ XXI- thế kỷ tiến bộxã hội, hoà nhập vào nền văn minh trí thức
Là một ngời giáo viên dạy sử tơng lai, nên sau khi hoàn thành tốt đề tàinày, sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc hiểu biết thêm về bản sắc văn hóatruyền thống chung của dân tộc Việt từ ngàn đời xa và bản sắc văn hoá con ngời
xứ Thanh nói riêng Và giúp ích cho tôi rất nhiều sau này khi ra dạy lịch sử địaphơng cũng nh khi dạy lịch sử dân tộc Việt Nam
Trang 3Do vậy, khi quyết định chọn đề tài này - điều tôi mong đợi và tâm đắc để
có thể góp một phần nhỏ vào việc tái hiện lại nền giáo dục Nho học trên quê
h-ơng Hoằng Hoá
2 Lịch sử vấn đề:
Việc thi cử, học hành đỗ đạt và giai thoại về các nhà khoa bảng từ xa đã
đ-ợc các nhà sử gia của các triều đại phong kiến ghi chép tơng đối đầy đủ Nhng
đó mới chỉ là những vấn đề chung của một thời kỳ, một triều đại, hay cả chiều
dài của chế độ phong kiến kéo dài hàng ngàn năm Do đó, với đề tài Chế độ“ Với núi sông thắng tích cả đất n
giáo dục khoa cử Nho học ở huyện Hoằng Hoá dới thời Nguyễn ” là một đề tài
có phạm vi nhỏ hẹp Vì vậy, cần phải có thời gian tìm hiểu, khảo cứu, xác định
và tổng hợp lại những t liệu lịch sử gốc của địa phơng Cho đến hiện nay, vấn đềkhoa cử mới chỉ đợc đề cập ở phạm vi rộng hơn nh:
- Lịch triều hiến chơng loại chí của Phan Huy Chú; NXBKHXH Hà Nội
1992 có phần: D địa chí, Nhân vật chí và Khoa mục chí ghi chép có hệ thống vềlịch sử giáo dục khoa cử Nho học và đóng góp của kẻ sĩ từ đời Lý đến trớc đờiNguyễn
- Quốc triều hơng khoa lục của Cao Xuân Dục – NXBTp Hồ Chí Minh
1993 Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội – NXBVHTT – Hà Nội 2000.
- Các bộ sử xa nh: Đại Việt sử ký toàn th của Lê Quý Đôn; Đại Nam liệt
truyện; Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn; Phủ biên tạp lục của
Lê Quý Đôn; Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn …v v… họ chính là tài sản vô giá mà lao lànhững tác phẩm đề cập đến tiểu sử các nhà khoa bảng
- Lợc truyện các tác gia Việt Nam của Trần Văn Giáp (CB) –
NXBKHXH – Hà Nội 1971 Những ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn của Bùi Hạnh Cẩn (CB) – NXBVH H 1995; Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 –
1919 của Ngô Đức Thọ chủ biên – NXBVH H 1993…v v… họ chính là tài sản vô giá mà laoCác tác phẩm này đề cập
đến danh sách những ngời đỗ cử nhân, phó bảng, tiến sĩ, tiểu sử, sự nghiệp và
tr-ớc tác của các nhà khoa bảng
- Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, qua các triều đại phong kiến Việt Nam của Trần Hồng Đức – NXBVHTT.H.1999, kể tên các vị tam khôi từ
triều Trần đến triều Nguyễn trong cả nớc
- Những cuốn sách đề cập đến việc giáo dục thi cử Nho học khá toàn diện
nh các cuốn: Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc cách mạng tháng 8 - 1945 của
Trang 4Nguyễn Đăng Tiến chủ biên – NXBGD 1996 Sự phát triển giáo dục và chế độ
thi cử ở Việt Nam thời phong kiến của Nguyễn Tiến Cờng – NXBGD H 1998.
Ngoài ra, còn có các cuốn nói riêng về Thanh Hoá nh:
- Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xa của Trần Văn Thịnh (CB) –
- 50 giáo dục và đào tạo Thanh Hoá 1954 – 1995 sự kiện và thành tựu.
NXB Thanh Hoá 1995…v v… họ chính là tài sản vô giá mà lao là những cuốn có đề cập đến lịch sử, địa lý, truyềnthống văn hoá và truyền thống giáo dục thi cử của tỉnh Thanh
Tuy các sách nghiên cứu, các bộ sử viết về giáo dục khoa cử Nho học rấtnhiều, nhng cha có một chuyên khảo nghiên cứu cụ thể về chế độ giáo dục khoa
cử Nho học ở một huyện Do đó tôi chọn đề tài này, mong góp phần nhỏ củamình vào việc khơi dậy truyền thống giáo dục khoa cử của quê hơng
3 Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài:
Bất cứ ai là con cháu của quê hơng Hoằng Hoá, luôn ý thức một điều làphải có trách nhiệm chăm lo phát triển và gìn giữ những giá trị văn hoá cổ truyềncủa cha ông để lại về cả hai mặt: văn hoá hữu thể và văn hoá vô thể Nó là mộtgia tài mà nhân dân Hoằng Hoá đã sáng tạo và gìn giữ đợc, nhất là không ngừngrèn rũa trong lịch trình tiến hoá Niềm tự hào lớn nhất của ngời dân Hoằng Hoáchính là truyền thống khoa bảng, mà dới thời Nguyễn đợc xem là thời kỳ khởisắc nhất Trong phạm vi đề tài chủ yếu đề cập đến các vấn đề sau:
Thứ nhất: Khái quát chung về địa lý lịch sử và truyền thống giáo dục,
khoa cử ở huyện Hoằng Hoá trớc thời Nguyễn (1075 - 1802) Từ đó có cái nhìnchung về con ngời, địa lý tự nhiên của Hoằng Hoá…v v… họ chính là tài sản vô giá mà laoĐó chính là cơ sở thúc đẩy
sự phát triển truyền thống học của nhân dân Hoằng Hoá dới thời Nguyễn
Thứ hai: Đề tài đi sâu nghiên cứu chế độ giáo dục khoa cử ở huyện Hoằng
Hoá dới thời Nguyễn (1802 - 1919): Với tình hình chế độ giáo dục thi cử, hệ thốngtrờng học của huyện Hoằng Hoá thời Nguyễn; danh sách những vị đỗ tiến sĩ, phóbảng, cử nhân và những đóng góp của kẻ sỹ Hoằng Hoá trên mọi lĩnh vực…v v… họ chính là tài sản vô giá mà lao
Trang 5Qua đó thấy đợc những đóng góp của nền giáo dục khoa cử ở huyệnHoằng Hoá dới triều Nguyễn và sự phát triển chung của giáo dục đào tạo hiệnnay, trong thế kỷ tri thức, trí tuệ.
4 Phơng pháp nghiên cứu:
Chủ yếu sử dụng phơng pháp chuyên ngành để trình bày nh: Đọc tài liệu,
su tầm, thống kê tập hợp các con số, trích dẫn tài liệu, đối chiếu so sánh, xác
định tỷ lệ %, có phân tính đánh giá vấn đề
Bên cạnh đó, luận văn còn đợc sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháplogic để mở rộng nhiều sự kiện lịch sử, nhiều tài liệu lịch sử…v v… họ chính là tài sản vô giá mà lao nhằm rút ranhững nhận xét khách, quan sát thực hơn
Đề tài này hoàn thành với sự giúp đỡ trực tiếp của cô giáo Hoàng ThịNhạc Cảm ơn cô đã giúp đỡ, để em nhanh chóng hoàn thành luận văn
giáo dục khoa cử ở huyện Hoằng Hoá
1.1 Vị trí địa lý tự nhiên – lịch sử ở huyện Hoằng Hoá
1.2 Giáo dục khoa cử ở huyện Hoằng Hoá trớc thời Nguyễn (1075 - 1802)
Chơng 2: Giáo dục khoa cử Nho học ở huyện Hoằng Hoá dới thời Nguyễn
(1802 - 1019)
2.1 Tổng hợp thành tựu về khoa cử:
2.1.1 Tình hình giáo dục khoa cử Nho học ở Hoằng Hoá (1802 - 1919)
2.1.2 Các khoa thi Hơng triều Nguyễn
2.1.3 Những làng và những dòng họ tiêu biểu
2.2 Hệ thống trờng học ở huyện Hoằng Hoá thời Nguyễn:
Trang 62.3 Danh sách các vị đỗ tiến sĩ, phó bảng và cử nhân đất Hoằng Hoá dới
thời Nguyễn:
2.3.1 Danh sách các vị đỗ tiến sĩ , phó bảng
2.3.2 Danh sách số ngời đỗ cử nhân
2.4 Một số Nho sĩ tiêu biểu cho nền giáo dục khoa cử Nho học ở Hoằng Hoá
dới thời Nguyễn:
2.4.1 Những thầy giáo dạy giỏi
2.4.2 Đóng góp của Nho sĩ Hoằng Hoá vào văn học, lịch sử
2.4.3 Nho sĩ Hoằng Hoá phát huy truyền thống “ Với núi sông thắng tích cả đất ntrung quân ái quốc”
Phần C: Kết luận
Trang 7Phần b: nội dung
Chơng 1 Khái quát chung về địa lý tự nhiên - lịch sử và truyền
thống giáo dục khoa cử ở huyện Hoằng Hoá.
1.1 vị trí địa lý tự nhiên - lịch sử huyện Hoằng Hoá:
Hoằng Hoá là một huyện lớn của tỉnh Thanh Hoá Không chỉ ngày naymới gắn liền với xứ Thanh, mà ngay từ thời tiền sử, khi nớc ta mang tên nớc làVăn Lang - Âu Lạc thì Hoằng Hoá là đất của bộ Cửu Chân Suốt thời thuộc Hán,Hoằng Hoá là đất của huyện T Phố Nh vậy, với Hoằng Hoá hơn 1000 năm BắcThuộc và tiếp theo đó là quá trình trị vì của các triều đại phong kiến Việt Nam
mà tên gọi nơi đây đợc nhiều lần thay đổi nh: Đời Tuỳ (năm 581 - 618) đổi làLong An, đời Đờng đổi thành huyện Sùng An, rồi Sùng Bình
Năm 939, sau khi nớc ta giành đợc quyền tự chủ bớc vào kỷ nguyên độclập và tự chủ dới các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê, đất Hoằng Hoá gọi là Giáp
Cổ Hoằng Đời Lý (1010) vẫn thế Tiếp đến là nhà Trần (1225) đổi tên thànhhuyện Cổ Đằng (có lúc đổi thành huỵện Cổ Linh), khi nhà Lê lên thay nhà Lý thìhuyện Cổ Đằng đổi làm huyện Hoằng Hoá (cái tên huyện Hoằng Hoá có từ đây)
và thuộc phủ Hà Trung (gồm bốn huyện: Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Nga Sơn vàTống Sơn ), sau này đến triều Tây Sơn và triều Nguyễn (1802-1919) vẫn gọi làhuyện Hoằng Hoá
Sau cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời giữa các huyện có có sự điều chỉnh lại phần đất: Hoằng Hoá có 8 tổng (đó là:Hành Vĩ, Bái Trạch, Từ Minh, Bút Sơn, Ngọc Chuế, Dơng Thuỷ, Lỗ Hơng và D-
ơng Sơn, và sau có thêm làng Trung Hòa của huyện Hậu Lộc nhập vào HoằngTrinh Hiện nay Hoằng Hoá có 47 xã và có 1 thị trấn: Hoằng Giang, HoằngXuân, Hoằng Khánh, Hoằng Phợng, Hoằng Phú, Hoằng Quý, Hoằng Kim,Hoằng Trung, Hoằng Trinh, Hoằng Sơn, Hoằng Lơng, Hoàng Long, HoằngQuang, Hoằng Anh, Hoằng Minh, Hoằng Lý, Hoằng Quỳ, Hoằng Hợp, HoằngPhúc, Hoằng Đức, Hoằng Hà, Hoằng Đạt, Hoằng Đồng, Hoằng Vinh, Hoằng
Đạo, Hoằng Thắng, Hoằng Xuyên, Hoằng Cát, Hoằng Khê, Hoằng Phong,Hoằng Lu, Hoằng Châu, Hoằng Tâm, Hoằng Lộc, Hoằng Thành, Hoằng Trạch,Hoằng Đại, Hoằng Thái, Hoằng Thịnh, Hoằng Ngọc, Hoằng Yến, Hoằng Trờng,
Trang 8Hoằng Tiến, Hoằng Hải, Hoằng Thanh, Hoằng Đông, Hoằng Phụ, và thị trấn BútSơn.
Hoằng Hoá là một huyện lớn thuộc vùng biển, có diện tích tự nhiênkhoảng 22208 ha Phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc, Phía nam giáp huyện QuảngXơng, thành phố Thanh Hoá và một phần của huyện Đông Sơn Phía Tây giápcác huyện Thiệu hoá, Yên Định và Vĩnh Lộc Phía Đông có đờng bờ biển dàikhoảng 12km kéo dài từ Lạch Trờng đến Lạch Trào, rất thuận lợi cho việc tầuthuyền ra vào đánh cá Nh vậy, huyện Hoằng Hoá nằm từ vĩ tuyến 19050’ Bắc ởLạch Trào đến 19030’ vĩ độ Bắc ở núi Sơn Trang và từ kinh độ 105059’ ở ngã baBông đến 105059’ ở Lạch Trờng
Qua nghiên cứu khảo sát địa hình Hoằng Hoá, nhìn chung có thể nhận
định đợc rằng đất Hoằng Hoá cơ bản chia thành hai vùng: vùng ven biển và vùng
đồng bằng Vùng ven biển của Hoằng Hoá có đờng bờ biển kéo dài từ lạch ờng (cửa sông Mã cũ), đến lạch Trào (cửa sông Mã hiện nay) dài 12km.Vùngven biển Hoằng Hoá đã ổn định từ lâu Từ đây các làng ven biển đợc lập nên nhlàng Cồn Tiên, Cồn Tán, Cồn Hậu, Cồn Định ở Hoằng Tiến còn vùng đồngbằng ở Hoằng Hoá, từ xã Hoằng Thắng chúng ta nhìn những dải cát kéo dài từHoằng Lộc xuống phía Bắc sông Lạch Trờng Nhng do đợc hình thành từ lâu mànhững dải cát đó bị bào mòn làm mờ đi theo thời gian, chỉ còn nhận rõ qua việcsắp xếp các làng mạc.Vùng đồng màu mỡ này bao gồm các xã: Hoằng Lộc,Hoằng Thành, Hoằng Đông, Hoằng Thịnh, Hoằng Thái, Hoằng Vinh, HoằngPhong, Hoằng Trạch, Hoằng Đạo Phía trên để lại một cánh đồng trũng nằm ở
Tr-địa phận 3 tổng: Từ Minh, Hành Vĩ và Bút Sơn, nhân dân thờng gọi là “ Với núi sông thắng tích cả đất n cánh
đồng Tam Tổng ”., độ cao trung bình 1,2m nơi đây đợc xem nh là vựa lúa của
đồng bằng Hoằng Hoá, vì có hệ thống sông ngòi rộng khắp, đợc sông Mã bao
bọc các cánh đồng nên thờng xuyên đợc phù sa bồi đắp Theo “ Với núi sông thắng tích cả đất n Đại Việt sử ký
toàn th ” : “ Với núi sông thắng tích cả đất n ất Mão năm Nguyên Phong thứ 5 (1255) đời Trần Thái Tông, mùa
xuân, tháng 2 vua sai Lu Miễn đi bồi đắp đê các sông Thanh Hoá Vua còn saicả Trần Thủ Độ vào trông coi việc đắp đê Đỉnh Nhĩ (quai Vạc) ở Thanh Hoá vàNghệ An ” [12;24]
Mặc dù việc đắp đê rất đợc chú ý nhng dấu vết bị vỡ đê vẫn còn, nên cóthể thấy rằng các cánh đồng Hoằng Hoá liên tục đợc phù sa sông Mã bồi đắp
Trang 9Nói chung, bao quát toàn cảnh địa hình Hoằng Hoá vùng ven biển có cácdải cồn cát lợn sóng kéo dài, song song xen kẽ là những vùng đồng bằng trũnghẹp, thấp và một vài vùng đất cao Tất cả đều tạo nên nét chung cho địa hìnhHoằng Hoá bằng phẳng, phì nhiêu Bộ mặt địa hình đó không chỉ do thiên nhiêntạo ra, phần lớn cảnh quan sung túc, sầm uất của các xóm làng, nơi đây đềumang đậm dấu vết của bàn tay tri não của từng ngời dân huyện Hoằng Hoá.Ròng rã bao thế kỷ, chống chọi lại với thiên nhiên cho đến ngày nay, tạo nênmột vùng quê giàu đẹp và rất đỗi tự hào những ai là ngời con Hoằng Hoá, ngờidân xứ Thanh.
Sông và núi là sự kết hợp tuyệt vời tạo nên một huyện Hoằng Hoá tơng
đối bằng phẳng, đặc biệt chất trữ tình toát lên từ ngọn núi con sông Nổi bậttrong tổng thể tự nhiên nơi đây là hai ngọn núi : Kim Trà (thuộc xã HoằngKhánh ) và núi Linh Trờng (xã Hoằng Yến) Một núi ở góc Tây Bắc án ngữ các
đợt gió mùa Đông Bắc tràn về Còn một núi ở góc Đông Nam án ngữ xu hớngchuyển dịch về phía Nam của cửa Lạch Trờng, giữ thế ổn định lâu dài cho bờbiển Hoằng Hoá Song điều khiến mỗi du khách khi qua Hoằng Hoá đều muốnngắm nhìn thiên nhiên nơi đây nét hùng vĩ, tráng lệ và cũng rất thiêng liêng củanhững ngọn núi và nét thơ mộng của dòng sông Mã, sông Ngu (nhánh sôngchính của sông Mã).Tất cả đều góp phần tạo nên cái hồn tiềm ẩn, những nét tinhhoa, nỗi niềm khát vọng của con ngời nơi đây
Hoằng Hoá nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Hơn nữa ThanhHoá là tỉnh địa đầu của đất miền Trung nên c dân Hoằng Hoá cũng phải chịucảnh thời tiết khí hậu khá khắc nghiệt, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng (từtháng 5 đến tháng 10), trong mùa này ngời dân hàng năm phải chịu cảnh giómùa Tây Nam hay còn gọi là “ Với núi sông thắng tích cả đất n ngạt Tây ”., “ Với núi sông thắng tích cả đất ngió Tây khô nóng”., nhiệt độ trungbình khoảng 280C, có lúc lên tới 400C Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau), nhiệt độ mùa này bình quân 200C, có khi giảm xuống còn 100C
Song với vị trí thuận lợi là huyện ven biển nên khí hậu thời tiết ở HoằngHoá có phần đợc thiên nhiên u đãi hơn các huyện khác
Tổng lợng ma bình quân là: 1650mm/năm Nhiệt độ bình quân là: 23,50C
Nhiệt độ mặt đất bình quân: 260C Độ ẩm bình quân % là: 85
Trang 10Các đợt gió tây khô nóng thổi vào mùa hè khi đi qua biển đã mang theohơi nớc làm cho khí hậu dịu bớt đôi chút Mùa đông với những đợt gió mùa đôngBắc và ma phùn chỉ kéo dài vài ngày không dầm dề hàng tuần nh một số vùngkhác trong tỉnh Thanh Hoá
Huyện Hoằng Hoá có các đờng giao thông quan trọng chạy qua nh: Quốc
lộ 1A chạy song song với đờng sắt ( dài 9 km từ nghĩa trang đến Hàm Rồng ) ờng sông có trên 30 km đó là các con sông Mã, sông Bút , sông Cung Nằm ở vịtrí rất thuận lợi Nhng mặt khác không tránh khỏi sự khắc nghiệt của thời tiết,khí hậu Chính điều này đã tô luyện cho con ngời nơi đây mang một khí chất
Đ-riêng, cái riêng của con ngời đất Hoằng Hoá.Trong Đại Nam nhất thống chí “ Với núi sông thắng tích cả đất n ”
viết về Thanh Hoá sỹ tử thích văn học, giữ khí tiết, nông dân chăm cày“ Với núi sông thắng tích cả đất n
cấy Hàng năm về tuần tiết vui mừng, viếng thăm nhất thiết theo Chu Văn Công Gia lễ về việc cầu phúc tế thần đại khái nh các tỉnh ” Còn LeBreton trong “ Với núi sông thắng tích cả đất n
Laprôvincede Thanh Hoá” thì viết: Thanh Hoá là một nơi căn bản của n“ Với núi sông thắng tích cả đất n ớc Nam, muốn học sử Nam phải học sử Thanh Hoá trớc Phong cảnh tỉnh Thanh Hoá đẹp có tiếng, nhiều tay sử bút Tầu đã đề tả mà khen, lại nhiều cổ tích danh
kỳ, nên những bậc văn nhân, ai đã đến ở đó một ít lâu sau dẫu đi đâu, lòng vẫn nhớ đó mãi ” [12;87]
Nớc có nguồn, cây có cội là ng“ Với núi sông thắng tích cả đất n ời Nam phải quí đất Thanh Hoá ” và huyện
Hoằng Hoá là một huyện lớn của tỉnh Thanh Hoá nên cũng không nằm ngoài lờinhận xét trên
“ Với núi sông thắng tích cả đất n Vi hoa huyện trấn đông nam giới
Nhất thốn Sơn Hà nhất thốn kim ”.
( Dịch nghĩa: Là một huyện ở phía Đông Nam thị trấn Thanh Hoá;
Huyện này một tấc non sông, một tấc vàng )Dịch thơ: Đông Nam một cõi Thanh Hoa trấn“ Với núi sông thắng tích cả đất n
Một tấc non sông một tấc vàng ”.
( Hoằng Hoá phong vật)
Khi nghĩ đến đất Hoằng Hoá còn có cách nhìn khác, đó là các tác giả đềunhìn vào vị thế núi sông của huyện để cắt nghĩa về đất Hoằng Hoá, con ngờiHoằng Hoá dòng dõi của “ Với núi sông thắng tích cả đất n cháu giống, con Rồng ” nối tiếp xa
“ Với núi sông thắng tích cả đất n Giáp ngọc tình lơng tinh thái tại
Vi hoa huyện bảo ức thiên thu ”.
Trang 11Tạm dịch: Tinh tuý đúc đầy, phô mỹ sắc
Thanh Hoa huyện trấn qúy muôn năm.
Cùng chung bớc trong lịch sử chống ngoại xâm của xứ Thanh, của dân tộcViệt đã rèn luyện con ngời nơi đây ý chí gan góc, tinh thần bền bỉ, quyết tâmbảo vệ lãnh thổ tổ quốc mình Ngay từ những cuộc đấu tranh chống bắc thuộc,Hoằng Hoá đã có ý chí tinh thần dân tộc, không ngừng vơn lên chống đồng hoácủa kẻ thù phơng Bắc Năm 40 - 41 có cuộc khởi nghĩa của hai bà Trng; Năm
248 có cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nơng đó là những cuộc khởi nghĩa đã
đi vào lịch sử của dân tộc Việt Ghi nhớ công lao của các nữ Vơng, nhân dânHoằng Hoá đã có những câu ca đến nay vẫn tiếp tục lu truyền Nhân dân xãHoằng phú đã ca ngợi hai bà Trng:
“ Với núi sông thắng tích cả đất n Đầu voi, miệng cọp vì nớc quên mình, trời khéo để làm gơng, dấu tích Trng
Trong thời kỳ đầu của quốc gia Đại Việt, các xã Hoằng Giang, HoằngXuân, Hoằng Hợp đều có dấu tích là căn cứ địa đóng góp vào cuộc đại thắngquân Nam Hán (938) Năm 1044 có tớng Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Sơn) cùngvua Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành Trong cuộc kháng chiến chống MôngNguyên (1258 - 1288) với hào khí Đông A vang dội, Hoằng Hoá đã cùng cả nớctrở thành hậu phơng trực tiếp trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông và đ-
ợc nhà Trần gửi gắm niềm tin
Trang 12Cối kê cựu sự quân tu ký;“ Với núi sông thắng tích cả đất n
Hoan, ái do đồn thập vạn binh ”.
( Chuyện cũ cối kê ngời hãy nhớ;
Hoan, ái nay còn mời vạn quân )
Góp vào chiến thắng Nguyên Mông là một tớng tài Nguyễn Công Đàn,nhân dân thờng gọi là ông Đàn ngời xã Hành Vĩ ( nay là Hoằng Thịnh) đợc triều
đình phong đến Phụ Ký Lang Hầu đô tổng thống Đến cuối thời Trần, một ngờicon của đất Hoằng Hoá đã ghi danh vào lịch sử dân tộc Việt là tớng HoàngPhụng Thế trong cuộc kháng chiến chống Chiêm Thành ông là ngời Cát Xuyên -xã Hoằng Cát và trong Đại Việt sử ký toàn th có câu khi nói về tài đánh giặc của
ông:
“ Với núi sông thắng tích cả đất n Đánh một trận bắt sống s Ôn ”.
Sang thế kỷ XV với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhân dân Hoằng Hoá đẫhết lòng ủng hộ nghĩa quân, Nguyễn Công Duẩn đã có công lớn trong cuộc tấncông thành Nghệ An, công phá Xơng Giang Lê Viện (ngời xã Hoằng Thành)tích cực tham gia nghĩa quân của Lê Lợi ngay từ những ngày đầu, khi thiên hạ
đại định đợc Lê Lợi ban cho là “ Với núi sông thắng tích cả đất n Hoàng triều trận vang ”., khen là “ Với núi sông thắng tích cả đất n hết lòng tiếttháo ”., truy tặng là “ Với núi sông thắng tích cả đất n Lê triều quận công”
Vào giữa thế kỷ XVII, đất nớc ta rơi vào cảnh “ Với núi sông thắng tích cả đất n nồi da nấu thịt”., cuộcchiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 – 1672) đã chia cắt đất nớc ta làm hai miềngây nội chiến gần nửa thế kỷ làm cho dân tộc ta điêu linh khổ cực
Trong số những tớng tài ba vào cuối thời Lê Trịnh ở đất Hoằng Hoá cũngnổi lên một ngời, đó là Nguyễn Phan ( ngời xã Hoằng Đạt ) đời vua Lê ý Tông(1735 - 1740) Ông đã lập đợc nhiều chiến công, dẹp tan cuộc khởi nghĩa củaNguyễn Danh Phơng, phá tan căn cứ địa Trình Quang của Lê Duy Mật
Nửa sau thế kỷ XIX, lợi dụng sự suy yếu của vua chúa nhà Nguyễn, thựcdân Pháp xâm lợc Việt Nam (1858), nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã dũng cảm
đứng lên đánh đuổi giặc Pháp Không cam chịu cảnh bất công và tàn bạo do giaicấp thống trị gây nên, nhân dân Hoằng Hoá đã không ngừng vùng dậy đấu tranhchống đế quốc và phong kiến Ngay từ khi thực Pháp đặt chân lên đất ThanhHoá, nhân dân Hoằng Hoá đã đã tích cực tham gia phong trào đấu tranh - lúcbấy giờ là phong trào Cần Vơng do các sĩ phu yêu nớc lãnh đạo Nổi lên trên “ Với núi sông thắng tích cả đất nnhững ngời xớng nghĩa tiên thanh phù xã tắc” là các sĩ phu sau đây:
Trang 13- Nguyễn Đôn Tiết- ngời làng Thọ Vực - Tổng Bút Sơn , nay là xã
Hoằng Đức
- Lê Trí Trực - ngời làng Trung Hậu - Hoằng Trung Trớc khi chết
ông đã nói một câu mà đến nay vẫn còn vang mãi:
“ Với núi sông thắng tích cả đất n Sinh bất h sinh, sinh tại khôi khoa; sinh bất phục.
Tử nhi vô tử, tử quốc sự ; tử vi sinh .”
< Dịch nghĩa:
Sống không phải là sống thừa, sống làm nên khôi khoa sống chẳng phục với đời Chết mà không chết, chết vì việc nớc, chết ấy là vinh >
Ngoài ra còn có Cao Điểm, Nguyễn Xuân và cũng không thể bỏ qua
đông đảo nhân dân Hoằng Khả đã góp sức ngời, sức của cho hai cuộc khởi nghĩa
Ba Đình do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo và khởi nghĩa Hồng Lĩnh
do Tống Duy Tân, Cao Điển lãnh đạo Sau phong trào Cần Vơng là phong trào
Đông Du, Hội Duy Tân, Đông kinh Nghĩa Thục và cuộc vận động chống thuế ởTrung kỳ liên tiếp nổ ra.Và huyện Hoằng Hoá đã tích cực cùng cả nớc đánh giặc,
có nhiều ngời tham gia nh: ông thủ khoa Dự, cụ Cử Phơng, Lê Trọng T Tinhthần cứu nớc của các bậc tiền bối đã trở thành một di sản thiêng liêng, quý báumãi mãi đợc khắc sâu trong tâm khảm của thế hệ mai sau
Kế tục truyền thống vẻ vang của lịch sử dân tộc, các tầng lớp thanh niênquê hơng Hoằng Hoá sau này vẫn nối chí cha ông tiếp bớc trên con đờng cứu n-
ớc Năm 1925-1926 luồng gió cách mạng thổi vào Hoằng Hoá các đồng chí LêMạnh Trinh, Lê Tất Đắc, Phùng Duy Diện, Lê Viết Thành là những thanh niênyêu nớc tiêu biểu của đất Hoằng Hoá sớm tiếp thu t tởng mới – t tởng cáchmạng vô sản
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc
Mỹ xâm lợc (1954-1975), dới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, nhân dânHoằng Hoá đã cùng với cả nớc góp phần tích cực hết sức mình vào công cuộcchống ngoại xâm và tháng 8/1945 nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.Những ngời con thân yêu ra đi chiến đấu đã xứng đáng với truyền thống yêu nớcbất khuất của tổ tiên, làm cho trang sử quê hơng thêm rạng rỡ
Xuân 1975 miền nam đợc hoàn toàn giải phóng cả nớc độc lập, thống nhất
và bớc vào giai đoạn mới Song bè lũ Bắc Kinh âm mu bành trớng đã tiến hànhchiến tranh xâm lợc biên giới nớc ta Đảng bộ và nhân dân Hoằng Hoá lại tiếp
Trang 14tục cùng cả nớc đoàn kết một lòng giơng cao ngọn cờ “ Với núi sông thắng tích cả đất n bách chiến bách thắng ”.của Đảng tiếp tục chi viện sức ngời, sức của ra trận tuyến biên giới, nhanh chóng
đập tan quân xâm lợc bành trớng, để ngày nay, Hoằng Hoá đang cùng cả nớc rasức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ quê hơng ngày càng giàu đẹp, vì sự tiến
bộ xã hội
Trong cuộc sống thờng nhật tôn trọng tổ tiên, tôn trọng những ngời cócông với đất nớc, đối với làng xã, kính yêu cha mẹ, sống với anh chị em, bà conbạn bè, làng nớc có nghĩa có tình là một trong những đức tính của ngời dânHoằng Hoá Không chỉ có vậy, ngời dân Hoằng Hoá còn nổi tiếng trong tỉnhThanh và cả nớc là có tinh thần hiếu học, biết thởng thức cái đẹp trong cuộcsống, trong xã hội, trong văn chơng, không dễ gì mà bà con khắp nơi trong tỉnhThanh Hoá có câu: “ Với núi sông thắng tích cả đất n Mẹo mực Quảng Xơng, văn chơng Hoằng Hoá ” Các sĩ tử
đất Hoằng Hoá đợc coi là những ngời đỗ đạt nhiều, sống có tiết tháo, làm quanthanh liêm
Nói chung Hoằng Hoá có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi,hậu đãi cùng với cả một quá trình đấu tranh xây dựng bảo vệ tổ quốc đã hun đúcnên những giá trị truyền thống cao quý trong khí chất và tính cách con ngời
Hoằng Hoá nói riêng và con ngời xứ Thanh nói chung đó là: Con ng“ Với núi sông thắng tích cả đất n ời cần cù trong lao động, hào hùng trong đấu tranh, năng động trong công việc, hoạt bát trong đối xử, thông minh trong học hành, phóng khoáng trong ăn ở sinh hoạt, nghĩa tình trong cách sống, thắm thiết đối với quê hơng đất nớc, hâm mộ anh hùng, trọng danh dự, trọng vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng của xã hội và con ngời Kể cả vẻ đẹp trong lý tởng, của tâm linh, không bao giờ để cho lợi ích nhỏ nhen trớc mắt làm vẩn đục nhân cách, vẩn đục nghĩa lớn ” [12;91-92] Chínhnhững điều đó đã thúc đẩy tinh thần hiếu học của nhân dân Hoằng Hoá, vùng đất
có nhiều ngời đỗ đạt, có nhiều truyền thống khoa bảng từ ngàn đời xa trong cả ớc
n-1.2 Giáo dục khoa cử ở huyện Hoằng Hoá trớc Thời Nguyễn
Trang 15(1075- 1802 ):
Thiên cổ Long Châu tinh thái thuý
“ Với núi sông thắng tích cả đất n
Văn tinh cao chiếm dữ xơng vinh”.
( Tạm dịch:
Ngàn thuở Rồng, Châu in vẻ đẹp Sao Văn cao chiếu đất vinh xơng )
Thời xa các tác giả đã biết lấy khí linh thiêng, tinh tuý của núi sông nơi
dây để cắt nghĩa về vùng đất Hoằng Hoá Con ngời nơi đây thì sao : Mẹo mực“ Với núi sông thắng tích cả đất n
Quảng Xơng, văn chơng Hoằng Hoá , ” phải chăng từ những thế kỷ xa xôi trớc vàngay thời kỳ lập quốc, giáo dục khoa cử ở Hoằng Hoá đã đợc lu tâm Là vùng
đất văn vật địa linh“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” nên ngay từ thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập các triều
Lý - Trần - Hồ sau này đến Lê sơ đã sản sinh ra rất nhiều “ Với núi sông thắng tích cả đất n nhân kiệt ” cho đất
nớc, làm rạng rỡ cho quê hơng Cho đến ngày nay, Hoằng Hoá vẫn nổi tiếng
trong cả nớc là vùng đất học “ Với núi sông thắng tích cả đất n ” Trải qua hơn mời thế kỷ dới các triều đại phongkiến Việt Nam, chế độ khoa cử đã góp phần lớn trong việc tuyển chọn và sửdụng ngời hiền tài vào việc xây dựng đất nớc và phát triển một chế độ phongkiến trung ơng tập quyền vững mạnh Bởi “ Với núi sông thắng tích cả đất n hiền tài là nguyên khí của quốc gia ”
sự hùng mạnh của một triều đại cũng tuỳ thuộc vào chính sách dùng ngời, mộtdân tộc càng nhiều lớp ngời hiền tài thì càng hùng cờng bấy nhiêu Để có đợc
đội ngũ quan lại thống nhất từ trung ơng đến địa phơng, phải đào tạo một lớp
ng-ời mới, phải có nền giáo dục chính quy của một nhà nớc
Đời Lý, từ Lý Thánh Tông (1054 - 1072) niên hiệu Thần Vũ (1069-1072)
và đời Lý Nhân Tông (1072 - 1127) niên hiệu Thái Ninh ( 1072 - 1076) có ba sựkiện nổi bật : Mùa thu tháng 8 năm 1070 nhà Lý cho lập Văn Miếu; năm ấtMão (1075) triều đình tổ chức mở khoa thi Nho học tam trờng lấy tên là “ Với núi sông thắng tích cả đất n Minhkinh bác học ” ; năm 1076 lập Quốc Tử Giám Điều đó cho thấy rõ triều Lý đãkhẳng định chọn nho giáo làm nền giáo dục chính thống, đánh đấu bớc tiến củanho học [Theo 16]
Nhà Trần thay nhà Lý đã kế tiếp và mở rộng hệ thống học hiệu, tổ chức
đ-ợc một nền giáo dục khoa cử quy mô hơn Năm 1253 nhà Trần đổi Quốc TửGiám thành Quốc học viện, về sau nâng dần lên thành Thái học viện Việc lậpvăn Miếu - Quốc Tử Giám đã đào tạo đợc tầng lớp quan văn trị nớc khá đông
Trang 16Định lệ thi giữa các khoa thi cũng dần đợc ổn định hơn: Năm Kỷ Hợi quy địnhkhoa thi cách nhau 7 năm, sang đời Lê năm ất Mão (1435) đời Lê Thái Tôngmỗi kỳ thi rút ngắn còn 6 năm và cho đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466), lệ thirút ngắn xuống còn 3 năm và lệ thi này kéo dài mãi về sau cho đến đời Nguyễn(thế kỷ XIX) [6; 7-8]
Bắt đầu từ triều Trần, khoa thi Thái học sinh đầu tiên đợc tổ chức vào nămNhâm Thìn 1232, niên hiệu Kiến Trung thứ tám đời vua Trần Thái Tông Khoathi này cho đỗ tam giáp (tức chia làm ba bậc: nhất giáp, nhị giáp và tam giáp);năm 1247 mở khoa thi chọn ra ba vị tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn vàThám hoa lang và lấy đỗ 48 Thái học sinh Theo sử cũ năm 1256 nhà Trần mởkhoa thi lấy: 1 trạng nguyên dành cho các lộ phía Bắc (gồm bốn trấn: Sơn Nam,Kinh Bắc, Hải Dơng, Sơn Tây ) và một trại trang nguyên dành cho các vùng từHoan - ái trở vào (tức từ Thanh Hoá-Nghệ An vào phía nam ), mục đích là đểkhuyến khích việc học ở vùng xa kinh thành, thực hiện định chế này đợc haikhoa thì xoá bỏ
Nh vậy, ngay từ thời nhà Lý – Trần, các vua chúa đã nhận thấy rằng:
Thức giả là nguyên khí của quốc gia
“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” muốn trị vì đất nớc, xây dựng nớc hùngmạnh không chỉ giỏi múa kiếm trên lng ngựa, cho nên triều đình đã liên tụctuyển chọn nhân tài đỗ đạt cao trong các kỳ thi để bổ sung vào hàng ngũ quanlại Chế độ khoa cử và chính sách sử dụng hiền tài của các triều đại phong kiến
đã tạo điều kiện cho các đời vua chúa giữ gìn xây dựng đợc non sông đất nớcvững mạnh Đến thời Lê sơ, nho giáo từ chỗ giữ lại vị trí còn mờ nhạt đã tiến lêntrở thành nền giáo dục chính thống Nhờ đó mà các triều đại phong kiến có đợcmột vua sáng, tôi hiền, tớng tá có tài, đa đất nớc Đại Việt tiến lên trình độ cờngthịnh một thời, khiến cho phong kién phơng Bắc tuy lớn mạnh hơn nhiều lần,phải kiêng nể
Nhng từ thế kỷ XVI trở đi đến trớc khi lập nên triều Nguyễn, đất nớc ta
rơi vào cảnh nồi da nấu thịt“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” diễn ra những trận giao tranh giữa Lê và Mạc.Lúc này vùng đất Hoằng Hoá, cũng nh cả tỉnh Thanh Hoá không tránh khỏi
phạm vi diễn ra các trận giao chiến “ Với núi sông thắng tích cả đất nnhân dân các huyện Thanh Hoá phiêu tán,
ruộng không ai cấy nhiều ngời chết đói” Tình hình chính trị - xã hội của đất nớc
bất ổn định, đã đồng thời kéo luôn theo sự sa sút của chế độ thi cử
Trang 17Tuy nhiên, trong lịch sử khoa cử của các triều đại phong kiến đã để lại chochúng ta niềm tự hào về lớp ông Nghè, ông Cống thời xa:
Bảng thống kê các kỳ thi hội -thi đình trong cả nớc
Các triều đại Tổng số
khoa thi
Số tiến sĩ trong cả nớc
Số trạng nguyên
Số tiến sĩ Hoằng Hoá
lúc xếp vào loại “ Với núi sông thắng tích cả đất n trại ”.- các châu xa kinh thành nên giáo dục cha đợc thấm
nhuần, nhân tài ở các thời Lí-Trần-Hồ không nhiều nh các vùng kinh lộ Nhng
theo nh thống kê của cuốn Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời x“ Với núi sông thắng tích cả đất n a” Trần Văn
Thịnh chủ biên và cuốn Địa chí văn hoá Hoằng Hoá“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” Ninh Viết Giao - chủbiên, thì con số 37 ngời đỗ đại khoa của đất Hoằng Hoá không phải là ít từ đời
Trần đến hết đời Lê (từ khoa thi năm 1232-1787) Và theo nh Liệt truyện đăng“ Với núi sông thắng tích cả đất n
khoa bị khảo” <của Phan Huy Chú> cả Thanh Hoá từ năm 1075-1787 có 187
ngời đỗ tiến sĩ trên tổng số 2338 ngời cả nớc Việt Nam, trong số đó có ba ngời
đỗ tam khôi:
1 Lu Miễn: Quê Vĩnh Trị - nay là thôn Vĩnh Trị xã Hoằng Quang, huyện
Hoằng Hoá Ông đỗ Đệ Nhất Giáp đệ nhất danh (nh học vị trạng nguyên) khoathi Thái học sinh năm Kỷ Hợi, niên hiệu Thiên ứng Chính Bình thứ 8 (1239) đời
Trang 18Trần Thái Tông, làm quan đến chức Tả T Mã An Phủ xứ Lộ Thanh Hoa, tớcMinh Tự có nhiều công trong việc đắp đê ở Thanh Hoá
2 Lu Diễm (1211- ? ): Quê Vĩnh Trị, huyện Hoằng Hoá nay là thôn Vĩnh Trị
xã Hoằng Quang, Hoằng Hoá Ông đỗ Đệ Nhất Giáp đệ nhị danh (nh học vịbảng nhãn, khoa thi này cha có tên học vị ) đỗ khoa thi Thái học sinh năm NhâmThìn, niên hiệu Kiến Trung thứ 8 (1232) đời Trần Thái Tông, lúc ông 22 tuổi,làm quan đến chức Đông Các đại học sĩ
3 Lơng Đắc Bằng (1475-1526): Quê ở Hội Triều nay là thôn Hội Triều, xã
Hoằng Phong, huyện Hoằng Hoá Năm 28 tuổi đỗ Hội Nguyên, Đệ Nhất Giáptiến sĩ cập đệ nhị danh (bảng nhãn) khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2(1499) đời Lê Hiến Tông Làm quan đến chức lại bộ Thợng Th, kiêm Đông Các
đại học sĩ tri kinh diên, tham dự triều chính- tớc Đôn Trung bá
Ngoài ba vị Tam khôi kể trên từ thời Trần cho đến thời Lê ở Hoằng Hoá
có rất nhiều ngời đỗ đại khoa:
(1) Nguyễn Xuân Dơng (1440-?): ngời xã Từ Minh, nay thôn Từ Quang,Hoằng Hoá, đỗ tiến sĩ khoa quý Mùi - niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời LêThánh Tông, năm ông 24 tuổi
(2) Nguyễn Tắc Dĩnh (1447-?): ngời xã Lam Cầu, nay là thôn Lam Hà, xãHoằng Đại, Hoằng Hoá Đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất, Hồng Đức thứ 9 (1478) năm
ông 32 tuổi, làm quan đến chức Hộ bộ tả thị lang
(3) Nguyễn Nhân Lễ (1453-?): ngời xã Bột Thợng - nay là xã Hoằng Lộc
đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, Hồng Đức thứ 12 (1481) đời
Lê Thánh Tông, năm 29 tuổi, làm quan tới chức Hữu thị lang
(4) Lê Duy Hàn (1459-?): quê xã Bái Cầu - nay là xã Hoằng Thanh, đỗ đệtam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, Hồng Đức thứ 12 (1481) đời LêThánh Tông, đỗ năm 23 tuổi làm tới chức Hiến sát sứ
(5) Nguyễn S Trác (1460-?) ngời xã Vĩnh Trị - nay thuộc thôn Vĩnh Trị,xã Hoằng Quang ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa GiápThìn, Hồng Đức thứ 15 (1484) đời Lê Thánh Tông, năm 25 tuổi ông làm chức
Đài quan ngự sử đài
(6) Trơng Đức Quang (1478-?): ngời xã Ngọc Quyết nay thuộc xã HoằngYến 25 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Nhâm Tuất,
Trang 19niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502) đời Lê Hiến Tông làm quan đến Đề hìnhgiám sát ngự sử, từng đợc cử đi sứ sang nhà Minh.
(7) Lê Nhân Tế (1480-?): ngời xã Đại Nhuệ, nay thuộc thôn Hồng Nhuệxã Hoằng Thắng, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, xuất thân (Hoàng Giáp) khoa NhâmTuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502) đời Lê Thánh Tông, đỗ năm 23 tuổilàm quan đến chức Đông các Hiệu th
(8) Lê Văn Hiểu (1477-?): quê Vĩnh Trị- nay thuộc thôn Vĩnh trị xãHoằng Quang, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508) đời Lê Uy Mục năm 32 tuổi,làm quan chức Thiên đô ngự sử
(9) Nguyễn Thanh (1514-?): quê ở Bột Thái nay thuộc xã Hoằng Lộc, đỗtiến sĩ khoa Tân Sửu (1541) đời Mạc Phúc Hải năm 30 tuổi, làm quan đến chứcThợng Th, tớc Văn Khê bá
(10) Nguyễn S Lộ (1519-?): quê ở Bột Thái nay thuộc xã Hoằng Lộc Ông
đỗ Đệ nhất giáp chế khoa Giáp Dần (1554) đời Lê Trung Tông, năm 36 tuổi, làmLại khoa Đô cấp sự trung
(11) Bùi Khắc Nhất (1544-?): quê ở Bột Thái nay thuộc xã Hoằng Lộc
Ông đỗ Đệ nhất giáp chế khoa ất Sửu (1565) đời Lê Anh Tông, năm 22 tuổi.Làm quan đến chức Hộ bộ thợng th, tớc Văn Phú bá, đợc vinh phong là kiệt tiếttuyên lực hiệp mu tá lý công thần
(12) Nguyễn Cẩn (1537 - ?): quê ở Bột Thái nay thuộc xã Hoằng Lộc Ông
đỗ Hoàng giáp khoa Canh Thìn, Diên Thành thứ 3 (1580) đời Mạc Mậu Hợp, vềsau theo nhà Lê làm chức Hình khoa cấp sự trung
(13) Nguyễn Nhân Thiệm (có sách ghi là Nguyễn Nhân Thiệu) 1645): quê ở Bột Thái nay thuộc xã Hoằng Lộc Ông đỗ Hoàng Giáp khoa KỉSửu (1589) đời Lê Thánh Tông, năm 25 tuổi làm chức Lại khoa đô cấp sự, mấttrên đờng sứ sang nhà Minh đợc truy tặng Công bộ Thợng th tớc nhân quậncông
(1563-(14) Lê Nhữ Bật (1565- ?): ngời xã Vĩnh Trị, nay thuộc thôn Vĩnh Trị xãHoằng Quang Đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỉ Sửu,Quang Hng thứ 12 (1589) đời Lê Thánh Tông, đỗ năm 25 tuổi làm quan đếnchức Lại khoa đô cấp sự trung Cử đi sứ sang nhà Thanh mất trên đờng đi và truytặng Công bộ Thợng th, tớc Nhân quận công, phong phúc thần
Trang 20(15) Lơng Khiêm Hanh (1563- ?): quê Hội Triều, nay là thôn Hội Triều,xã Hoằng Phong ( cháu nội Lơng Đắc Bằng ), đỗ tiến sĩ khoa Kỉ Sửu, Quang H-
ng thứ 12(1589) đời Lê Thế Tông, đỗ năm 27 tuổi làm quan đến chức Lễ khoacấp sự trung
(16) Nguyễn Thứ 4 (1572-?): ngời xã Bột Thái nay thuộc xã Hoằng Lộc(con của Nguyễn S Lộ ), 27 tuổi đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất, Quang Hng thứ
21 (1598) đời Lê Thế Tông, Làm chức Lại khoa cấp sự trung
(17) Lu Đình Chất (1566 - ?): quê Quỳ Chử, nay là thôn Đông Khê - xãHoằng Quỳ, đỗ Hoàng Giáp khoa Đinh Mùi (1607) đời Lê Kính Tông năm 42tuổi Ông đã kinh qua các chức Tả lý Công thần, tham tụng, Hộ bộ Thợng Th,Thiếu bảo, tớc lộc quận công - khi mất đợc thăng Thiếu sự
(18) Nguyễn Lại (1581- 1661): quê Bột Thợng, nay thuộc xã Hoằng Lộc
Ông đỗ Hoàng giáp khoa Kỉ Mùi, Hoằng Định thứ 20 (1619) đời Lê Kính Tông,năm 39 tuổi Ông làm chức Lại bộ hữu thị lang từng đi sứ sang nhà Minh
(19) Nguyễn Trật (1573- ?): quê ở Nguyệt Viên, nay là thôn Nguyệt Viên,xã Hoằng Quang, đỗ tiến sĩ khoa Quý Hợi, Vĩnh Tộ thứ 5 (1623) đời Lê ThầnTông làm quan đến chức Công khoa Đô cấp sự trung
(20) Nguyễn Nhân Trứ ( 1612 - ? ): quê Nguyệt Viên, nay là thôn NguyệtViên, Hoằng Quang, 25 tuổi đỗ tiến sĩ khoa Giáp Tuất, Đức Long (1634) đời LêThần Tông Làm quan đến chức Công bộ Tả thị lang, tớc Hoang Thái Hầu Khimất đợc tặng chức thợng th
(21) Lơng Đạt ( 1580 - ? ): ngời xã Hoằng La, nay là xã Hoằng Xuân, đỗtiến sĩ khoa Đinh Sửu, Dơng Hoà thứ 3 (1673) đời Lê Thần Tông, năm 58 tuổi,
ông làm quan đến chức Tham Chính
(22) Nguyễn Vi (1608-?): quê Nguyệt Viên, nay là thôn Nguyệt Viên,Hoằng Quang Đỗ tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1637) đời Lê Thần Tông, năm 30 tuổi,làm quan đến chức Lại khoa đô cấp sự trung
(23) Lê Bỉnh Trung (1594-?): quê Nguyệt Viên, nay là thôn Nguyệt Viên,Hoằng Quang Ông đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn, Dơng Hoà thứ 6 (1640) đời LêThần Tông, năm 47 tuổi <có sách ghi năm 42 tuổi>
(24) Lê Kiêm (1597-?): quê ở Bái Cầu, nay là xã Hoằng Thanh Đỗ tiến sĩkhoa Canh Thìn (1640) đời Lê Trần Tông, năm 29 tuổi, làm quan Đề hình giámsát ngự sử
Trang 21(25) Lê Khắc Kỷ (1610-?): quê ở Phù Minh, nay là thôn Phù Minh xãHoằng Quang Đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất, Phúc Thái thứ 4 (1646) đời Lê ChânTông, năm 37 tuổi, làm quan chức Tham Chính, tớc nam.
(26) Nguyễn Vĩnh (1616-?): ngời xa Lam Cầu, nay là thôn Lam Cầu xãHoằng Đại, đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646) đời Lê Chân Tông, làm quan chứcTham Chính, tớc Nam
(27) Nguyễn Kính (1629): quê Nguyệt Viên, nay là thôn Nguyệt Viên,Hoằng Quang, đỗ tiến sĩ khoa Tân Sửu,Vĩnh Thọ thứ 4 (1661) đời Lê Thần Tôngnăm 33 tuổi, làm quan chức Giám Sát
(28) Nguyễn Tông (1643-?): quê Nguyệt Viên, nay là thôn Nguyệt Viên,Hoằng Quang, đỗ tiến sĩ khoa Canh Thân, Vĩnh trị thứ 5 (1680) đời Lê Hy Tông,năm 38 tuổi Ông làm quan, chức Hiến sứ
(29) Đặng Quốc Đỉnh (1669-?): quê ở Cát Xuyên, nay là thôn Cát Xuyênxã Hoằng Cát, đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn, Chính Hoà thứ 21 (1700) đời Lê HyTông, năm 32 tuổi, làm quan đến chức Hiến sát sứ
(30) Lê Khắc Thuần (1668-1730): ngời xa Phù Minh, nay là thôn PhùMinh, xã Hoằng Quang (cháu nội Lê Khắc Kỷ) Ông đỗ tiến sĩ năm 43 tuổi,khoa Canh Dần (1710) đời Lê Dụ Tông, làm quan chức Hình khoa cấp sự trung
(31) Lu Thành (1656-?): ngời xã Vĩnh Trị, nay là thôn Vĩnh Trị xã HoằngQuang Đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, năm 48 tuổi, làm quan chức Đông các hiệuth
(32) Nguyễn Ngọc Huyền (1685-1744) ngời xã Bột Thái nay, xã HoằngLộc Ông đỗ tiến sĩ năm 37 tuổi khoa Tân Sửu,Thái Bảo thứ 2 (1721) đời Lê DụTông Ông từng làm Đốc trấn tỉnh Cao Bằng, đợc triệu về triều giữ chức Hữu thịLang bộ Hộ, Bồi tụng, Tham tụng, Đô Ngự Sử, tớc Hầu, khi mất đợc tặng chứcCông Bộ Thợng Th, tớc Quận Công
(33) Nguyễn Đình Giản (1734-?): quê ở Vĩnh Trị, nay là thôn Vĩnh trị xãHoằng Quang Ông Đỗ tiến sĩ năm 36 tuổi, khoa Kỷ Sửu, Cảnh Hng 30 (1769)
đời Lê Hiển Tông Tớc Triệu Phong bá
(34) Lê Huy Du (1757-?) quê ở Bột Thợng, nay xã Hoằng Lộc Đỗ tiến sĩnăm 31 tuổi, khoa Đinh Mùi, Chiêu Thống thứ 1 (1787) đời Lê Mẫn Đế Đến đờiGia Long làm chức Đốc học Bắc Thành.[theo 12& 24]
Trang 22Nếu chỉ tính số ngời đỗ Hơng cống đời hậu Lê (từ 1702-1783) trong mối
t-ơng quan chung của cả nớc, thì Hoằng Hoá cũng chiếm tỉ lệ vào loại cao và phầnnào thấy rõ thông qua bảng thống kê sau:
Bảng thống kê khoa thi hơng triều lê ở Thanh Hoá
TT Khoa thi Năm Số ngời đỗ Ghi chú
Thanh Hoá Hoằng Hoá
1 Trớc năm
Các khoa trớc năm Chính Hoà 23
Trang 23Nh vậy, qua các kỳ thi Hội, thi Đình trong cả nớc từ triều Lý cho đến triều
Lê (1010-1789), nền giáo dục khoa cử huyện Hoằng Hoá ngày một ổn định hơn
Đặc biệt là từ khi nhà Lê thay thế nhà Hồ, hệ thống trờng học ở các châu xa kinhthành nh Thanh Hoá, Nghệ An cũng đợc mở rộng hơn và tỉ lệ đỗ đạt của các sĩ
tử cũng chiếm tỉ lệ cao hơn Ngoài 37 vị đỗ đại khoa kể trên, thời Lê các sĩ tửHoằng Hoá đỗ trung khoa (cử nhân) trong các kỳ thi Hơng chung của cả nớc tổchức ở trờng Thanh Hoá hoặc Nghệ An chiếm tỉ lệ khá đông Những kỳ thi Hơngtrớc năm Chính Hoà thứ 23 đời vua Lê Hy Tông còn cha xác định đợc con số đỗ
đạt thuộc khoa thi nào Còn từ khoa thi Nhâm Ngọ (1702) cho đến khoa QuýMão, Cảnh Hng thứ 44 (1783) vấn đề giáo dục khoa cử đợc các đời vua ghi chépcẩn thận Trong thời gian từ 1702-1783 triều Lê đã tổ chức đợc 27 khoa thi tạiThanh Hoá và số ngời đỗ trong các kỳ thi Hơng toàn tỉnh Thanh Hoá là 1188 ng-
ời, riêng huyện Hoằng Hoá chiếm 292 ngời, khoảng 1/4 so với toàn tỉnh Với sốlợng đỗ đạt khá cao, chứng tỏ Hoằng Hoá là một trong những vùng đất học nổitiếng trong cả nớc, nơi đã sinh ra nhiều nho sĩ, nhiều bậc tớng tài cho nền Nhohọc phong kiến Việt Nam
Xa kia, việc học hành của các con em nhân dân tại các trờng học thờng
đ-ợc tổ chức rất đơn giản Trong các làng xã, ta thờng thấy các ông đồ, ông tú mở
trờng trong nhà“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” dạy học trò và con em xung quanh đợc gửi tới học Lúc bấygiờ cả huyện Hoằng Hoá có một huấn đạo phụ trách việc giáo dục Vị Huấn đạonày trông coi việc học ở các tổng xã đồng thời trực tiếp giảng dạy tại trờng
huyện Vài năm huyện tổ chức sát hạch học sinh các tr “ Với núi sông thắng tích cả đất n ờng làng” một lần Qua sát hạch, học sinh đạt một trình độ nào đó đợc gọi là tuyển sinh“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” và đợc vào học
tr
“ Với núi sông thắng tích cả đất n ờng huyện hay trờng phủ” Hoặc các học sinh có thể tự do tìm thầy giáo giỏi
để học Sau đó huyện hoặc phủ lại tổ chức sát hạch một lần nữa để chọn học
Trang 24sinh, rồi đa lên trờng học tỉnh do chính quan Đốc học trực tiếp giảng dạy Họ lànhững ngời nổi tiếng hay chữ để theo đòi nghiên bút, sau đó quan Đốc học lại tổchức một cuộc sát hạch để chọn ra những “ Với núi sông thắng tích cả đất nkhoá sinh” đạt yêu cầu về trình độhọc vấn nhất định để đi thi Hơng.
Những xã đợc xem là “ Với núi sông thắng tích cả đất ncái rốn khoa bảng” ở Hoằng Hoá là Bột Thợng, BộtThái (Hoằng Lộc), Nguyệt Viên, Vĩnh Trị, Phù Quang, (Hoằng Quang), QuỳChử, Đông Khê (Hoằng Quỳ) nhng có lẽ làm rạng danh đất học là đất HộiTriệu (xã Hoằng Phong) và đất Nguyệt Viên:
Nguyệt Viên mời tám ông nghè
Ông cỡi ngựa tía, ông che tán vàng
và làm nổi danh đất Hội Triệu chính là Lơng Đắc Bằng vừa là một danh s, vừa làmột danh nhân văn hoá Lơng Đắc Bằng (1475-1526), tuổi nhỏ và đi học tên làLơng Ngạn ích, sau đợc nhà vua đổi cho là Lơng Đắc Bằng, tên chữ là Tử Lăng;sinh năm 1475 ở xã Trác Vĩnh, giáp cổ Hoằng sau đổi là làng Hội Triều thuộc xãTrào Âm, tổng Bái Trạch, nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hoá Lơng
Đắc Bằng sinh ra trong một gia đình khoa bảng Bố là Lơng Hay đỗ giải nguyênnăm 1460 đời Lê Thánh Tông Mẹ là Lê Thị Sử cũng con nhà khoa bảng, tínhtình đôn hậu, ham thích thơ văn Sinh ra trong một gia đình khoa bảng lại thông
minh, năm 9-10 tuổi ngời đời khen là thần đồng“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” Năm 21 tuổi (1496) thi
H-ơng, Lơng Ngạn ích đậu giải nguyên khoa thi Kỷ Mùi (1499), niên hiêu CảnhThống đời Lê Hiến Tông Thi Hội, cụ trúng Hội nguyên, tiếng tăm lừng lẫykhắp hai trấn Thanh Hoá và Nghệ An Sau đó thi Đình cụ đậu Bảng nhãn Ralàm quan, lúc đầu giữ chức thị Độc, sau Bổ Tả Thị Lang, năm 1510 thăng lại BộThợng th Làm quan đến Lại Bộ Thợng Th suốt bốn triều vua (Lê Hiến Tông, Lê
Uy Mục, Lê Tơng Dực, Lê Chiêu Tông) Nhng tính tình lúc nào cũng thẳng thắncơng trực, liêm khiết, xét việc có trí có nhân, trông xa thấy rộng Lơng Đắc Bằng
có ngời học trò là Nguyễn Bỉnh Khiêm đậu trạng nguyên khoa thi ất Mùi (1533).Theo gia phả và tài liệu của Nguyễn Bỉnh Khiêm truyền lại thì gia đình nhà cụsống rất bình thờng, thanh bần Đến nỗi khi cụ mất con là Lơng Hữu Khánh phảidắt mẹ đi làm thuê khắp đất Thanh, đất Bắc để kiếm ăn
Thời kỳ Lơng Đắc Bằng làm quan là thời kỳ nhà Lê suy vong Sau đỉnh cao
Lê Thánh Tông, các vua kế tiếp ham mê tửu sắc ra sức ăn chơi, vơ vét của cải đểxây cung này điện nọ, nhân dân vô cùng cơ cực, đình thần chia nhiều phe cánh,
Trang 25nội bộ anh em nhà Lê chém giết lẫn nhau Sau khi bạo chúa Lê Tấn (Lê UyMục) chết, Tơng Dực lên thay vẫn xa hoa, trác táng cụ ra sức khuyên răn không
đợc, nhân mẹ mất xin về cử tang mẹ Những định cáo quan về dạy học nhng chahết tang mẹ đã có chiếu của triều đình vời ra Trở lại Thăng Long, thấy TơngDực vẫn nh vậy cụ dâng vua kế sách trị nớc (gọi là trị bình thập tứ sách) gồm 14
điều Lơng Đắc Bằng đã tâu lên nhà vua: các điều thần tâu lên xin Hoàng Th“ Với núi sông thắng tích cả đất n ợng xem xét Thần nghe cổ ngữ có câu: Lời nói dù của ngời kiếm củi, thánh nhân cũng phải chọn nghe Kinh th có câu: biết không phải khó, làm đợc mới khó Xin
-bệ hạ chớ cho lời nói của thần là vu khoát nên chọn mà thi hành, răn điều đáng răn, lo điều đáng lo, ngõ hầu thiên đạo đợc thuận, địa đạo đợc yên, nhân đạo đ-
ợc vui vẻ và cái cơ thái bình đến nơi” (theo khâm định Việt sử).[24;113]
Kế sách trị nớc của Lơng Đắc Bằng đợc khen là hay nhng mãi không đợcthi hành, cụ cáo quan về quê dạy học Tin cụ mở trờng dạy học, học trò khắp nơinghe tiếng cụ đã lâu về đức, về tài, tính tình cơng trực Từ ngoài Bắc vào nhNguyễn Văn Đạt (tức Nguyễn Bỉnh Khiêm), từ Nghệ An ra nh Đinh Bạt Tụy,hay Nguyễn Thừa Hu Trong tỉnh ngoài tỉnh có tới hàng nghìn ngời đến xin phụgiáo Bản tính đôn hậu, rất yêu thơng học trò, nhng trong dạy học cụ rất nghiêmngoài việc dạy theo sách, giảng theo sách cụ còn dạy cách làm ngời, đạo lý làmngời là chủ yếu “ Với núi sông thắng tích cả đất ndạy ngời” qua “ Với núi sông thắng tích cả đất ndạy chữ”., dạy biết cách sống, chọn lẽ sống vànghiệm lẽ sống Nhờ vậy mà bao ngời trở thành tài, học giỏi đỗ cao, giúp ích cho
đời nh: Thám hoa Nguyễn Thừa Hu, và đợc ngời đời nhắc tới là trạng nguyênNguyễn Bỉnh Khiêm (tức Nguyễn Văn Đạt- đậu khoa thi ất Mùi năm 1533)
Năm 1526 Lơng Đắc Bằng mất Đỗ Cơng, Ngự Sử triều đình lúc bấy giờ
đã vỗ bàn khóc và nói: Ng“ Với núi sông thắng tích cả đất n ời trung nghĩa nh Lơng Đắc Bằng đã qua đời, vận mệnh nớc nhà còn mất sắp đến nơi rồi ” Đợc tin thầy mất, Nguyễn Bỉnh Khiêm
vào Hội Triều dựng nhà để tang thầy ba năm mới về Giờ đây nói đến Lơng ĐắcBằng là nói đến một con ngời thông minh có trí, có nhân, có dũng: Một ôngquan cơng trực, liêm khiết có tài giúp rập, nhng không gặp thời, một nhà giáogiỏi, hết mực thơng yêu học trò, biết cách dạy chữ - bằng phơng pháp vấn đáp;
một nhân s“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” đào tạo đợc nhiều ngời thành danh để lại tiếng thơm cho
Hoằng Hoá
Nh vậy, vấn đề khuyến học cầu hiền bao giờ cũng là quốc sách đối với sựnghiệp dựng nớc giữ nớc và hng thịnh quốc gia Từ xa nhân dân ta đã có câu:
Trang 26“ Với núi sông thắng tích cả đất n Cho ruộng, cho tiền không bằng cho nghiên cho bút ”.
Mặc dù điều kiện địa lý tự nhiên ở vùng đất miền Trung không mấy thuậnlợi, nhng bằng đức tính hiếu học, khổ học, thông minh học giỏi, đặc biệt là tínhcơng trực, thẳng thắn mà nền giáo dục nho học ở huyện Hoằng Hoá từ thời Lýcho đến hết thời Lê đã góp phần xứng đáng vào hệ thống quan lại thời phongkiến thêm vững mạnh Tiếp nối truyền thống vẻ vang đó, nền giáo dục nho họcHoằng Hoá ngày một khẳng định mình, trong nền giáo dục đợc xem là khởi sắc
ở thời Nguyễn, góp vào bộ máy chính quền phong kiến sau này khá nhiều nhân
tài Xứng đáng với câu ca ngợi: Cơm Nông Cống, cá Quảng X“ Với núi sông thắng tích cả đất n ơng, văn chơng Hoằng Hoá ”
Chơng 2 Giáo dục thi cử nho học ở huyện Hoằng Hoá Dới
thời Nguyễn ( 1802 - 1919).
2.1 Tổng hợp thành tựu về khoa cử:
2.1.1 Tình hình giáo dục khoa cử Nho học :
Hoằng Hoá là một huyện lớn của tỉnh Thanh, nên cũng không tránh khỏinhững biến đổi của tình hình đất nớc Ngay từ buổi đầu công nguyên, Nho giáo
Trang 27đã thâm nhập vào nớc ta, nhng đến thời Lý, Trần mới bắt đầu đợc mở rộng và bắt
đầu phát triển cho đến thời Lê Nhà Lê thịnh trị từ thời Lê Thái Tổ đến thời LêThánh Tông, chế độ phong kiến lên đến đỉnh cao Đồng thời ở đời Lê ThánhTông(1460 - 1497), Nho giáo giành đợc vị trí độc tôn, nhng rồi sau đó nhà Lêsuy yếu dần Vào các đời vua Lê Túc Tông (1504), Lê Uy Mục (1505 - 1509),
Lê Tơng Dực (1510 - 1516), Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) triều đình mục nát,vua chẳng nghĩ gì đến triều chính đến nỗi Lơng Đắc Bằng - Lại bộ thợng th phảidâng lên vua 14 chớc trị bình Cũng từ đây cảnh đất nớc thái bình không cònnữa, đất nớc rơi vào tình trạng chia cắt, trên đất Hoằng Hoá cũng diễn ra liên tiếpcác trận giao chiến giữa Lê và Mạc Từ thế kỷ XVIII đến năm 1802, sau khi
đánh bại Tây Sơn, Gia Long định đô ở Huế lập nền thống trị cả nớc Việt Nam từmũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái, đa đất nớc ta thoát khỏi những cuộc chiếntranh và các cuộc khởi nghĩa nông dân Vì vậy, cho đến trớc khi Gia Long thiếtlập nên triều Nguyễn, nền giáo dục Nho học nớc ta cũng trong tình trạng xuốngdốc
Năm 1802, sau khi lật đổ triều Tây Sơn, Nguyễn ánh lên ngôi vua, lấy niênhiệu là Gia Long lập nên một nớc Đại Nam hùng mạnh ở khu vực Đông Nam á -
mở đầu cho sự thống trị của triều Nguyễn Đồng thời uy quyền tuyệt đối của nhogiáo lại một lần nữa đợc xác định Chế độ giáo dục khoa cử nho học dần dần đi
vào ổn định Theo Lịch triều hiến ch“ Với núi sông thắng tích cả đất n ơng loại chí ” của Phan Huy Chú ( thế kỷ
XIX) có đoạn viết về xứ Thanh nh sau: Vẻ non sông tốt tuơi chung đúc nên“ Với núi sông thắng tích cả đất n
sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khi tinh hoa tụ họp nảy ra nhiều văn nho, Bởi vì đất thiêng thì ngời giỏi nên nảy ra những bậc phi thờng, vững khí chung
đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nớc ” [7;42]
Khi võ công đã ổn định đất nớc thu về một mối thì truyền thống hiếu học
của dân tộc đạo C“ Với núi sông thắng tích cả đất n ơng thờng , Trung hiếu , Tu tề trị bình” “ Với núi sông thắng tích cả đất n ” “ Với núi sông thắng tích cả đất n ” và mục tiêutuyển chọn nhân tài qua việc học, qua khoa cử thời phong kiến lại đợc phát huy
Thôi thúc các bậc anh tài ngày đêm đèn sách , nấu sử sôi kinh “ Với núi sông thắng tích cả đất n ” “ Với núi sông thắng tích cả đất n ” tiếp nối từ cáctriều đại trớc đó, triều Nguyễn cũng đã sớm mở mang giáo dục thu nạp anh tài
để đổi mới chính trị Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì“ Với núi sông thắng tích cả đất n
thế nớc mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nớc yếu rồi xuống thấp ” Vì
vậy, các đấng thánh đế minh vơng đời Nguyễn coi việc bồi dỡng nhân tài, kénchọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên Nhng dới thời Gia Long -vịvua đầu tiên của triều Nguyễn do đất nớc mới thống nhất cha ổn định xã hội mọi
Trang 28vấn đề còn khó khăn, nên việc lựa chọn và tuyển dụng nhân tài mới chỉ là “ Với núi sông thắng tích cả đất nchiêu hiền đại sỹ ” mà thôi.
2.1.2 Các khoa thi Hơng triều Nguyễn:
Theo Quốc triều H“ Với núi sông thắng tích cả đất n ơng khoa lục” của Cao Xuân Dục kể từ khoa thi Hơng
đầu tiên năm Đinh Mão, niên hiệu Gia Long thứ 6 (1807) cho đến khoa MậuNgọ, năm Khải Định thứ 3 ( 1918) khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn và cũng
là khoa thi Hơng cuối cùng của phong kiến Việt Nam, toàn quốc có 7 trờng thi,gồm 47 khoa thi Hơng, số ngời lấy trúng cử nhân là 5226 ngời, Hoằng Hoá trúng
154 ngời trong số 441 ngời của cả tỉnh Thanh Hoá, nh vậy chiếm hơn 1/3 so vớitoàn tỉnh
Giống nh đời Lê, có những khoa thi thí sinh Hoằng Hoá trúng cử nhân với
số lợng khá đông tại trờng thi Thanh Hoá hoặc trờng thi Nghệ An (có thí sinhThanh Hoá vào thi chung ) Truyền thống hiếu học của vùng đất Hoằng Hoá vốnnổi tiếng là cái nôi nảy sinh của nhiều tài năng, điều này đợc thể hiện rõ thôngqua bảng kê các khoa thi Hơng tiêu biểu ở triều Nguyễn nh sau:
Trang 29Bảng thống kê các khoa thi hơng triều Nguyễn
( Tại trờng thi Thanh Hoá và Nghệ An)
Khoa thi Năm Số ngời đậu(cử nhân) Ghi chú
Thanh Hoá Hoằng Hoá
Khoa Tân Sửu 1841 8/21 4 Thời Thiệu Trị (thi
chung với Nghệ An)
[24;31-32]
Qua một số khoa thi tiêu biểu tổ chức ở trờng thi Thanh Hoá và trờng thiNghệ An dễ dàng nhận thấy việc một khoa thi, tại một trờng thi, sĩ tử Hoằng Hoáchiếm 1/3 số ngời đỗ cử nhân là chuyện bình thờng Và có đến 6 khoa thi sĩ tửHoằng Hoá chiếm 1/2 số ngời đỗ cử nhân tại trờng thi Thanh Hoá Tỷ lệ đạt đợc
nh vậy thật không đơn giản
Lệ thi Hơng cứ 3 năm mới mở một khoa Đến kỳ thi, có hàng ngàn sĩ tửvào trờng nhất, vợt đợc trờng nhất mới qua trờng nhị, rồi vào trờng tam Cứ mỗikhoa thi tại một trờng thi, nhà nớc thờng lấy nhất cử, tam tú nh: Lấy 16 cử nhânthì 48 tú tài; lấy 15 cử nhân thì lấy 45 tú tài Nh vậy, đỗ tú tài đã khó song còn
Trang 30phải đỗ cử nhân thì mới đợc đi làm quan Lời cổ nhân từng răn dạy: Nhân tài“ Với núi sông thắng tích cả đất n
là nguyên khí của nhà nớc, còn khoa cử là thản đồ của học trò ” là con đờng tiếnthân duy nhất của nho sinh Thấm nhuần lời răn dạy của các bậc cha ông nêntrong cuộc sống dù có vất vả chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, nhân dânHoằng Hoá mà cụ thể là các học trò Hoằng Hoá đều cố gắng vợt qua mọi nghèokhó, khổ cực vơn lên và tự khẳng định mình trong sự khởi sắc của giáo dục khoa
cử Nho học thời Nguyễn
2.1.3 Những làng và những dòng họ tiêu biểu:
Là ngời con Hoằng Hoá thật sự tự hào với truyền thống khoa bảng, nhiềungời đỗ đạt đợc lu danh bảng vàng của cha ông xa Các làng nh: Hội Triều(Hoằng Phong), Cát Xuyên (Hoằng Cát), Bột Thợng, Bột Thái (Hoằng Lộc), QuỳChử, Phợng Đình, Lam Cầu, Bái Cầu Là những làng đợc coi là vùng đất linhthiêng nẩy sinh ra nhiều bậc hiền tài cho quê hơng Riêng làng Nguyệt Viên có
11 ngời Đỗ đại khoa (tính cả đời Lê) đó là:
(1) Nguyễn Trật (1573 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Quý Hợi (1623) đời Lê ThầnTông, năm 51 tuổi làm chức Công khoa đô cấp sự trung
(2) Nguyễn Nhân Trứ (1612 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Giáp Tuất (1634) đời LêThần Tông, năm 32 tuổi làm chức Công bộ tả thị lang, tớc Hầu Khi mất đợctặng chức thợng th
(3) Nguyễn Vi (1608 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Đinh Sửu (1637) thời Lê ThánhTông, năm 30 tuổi ông làm chức Lại khoa đô cấp sự trung
(4) Lê Bỉnh Trung (1594 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Canh Thìn (1640) đời LêThần Tông, năm 47 tuổi
(5) Nguyễn Kính (1629 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Tân Sửu (1661) đời Lê ThầnTông, năm 33 tuổi - làm Giám sát
(6) Nguyễn Tông ( 1643 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Canh Thân (1680) đời Lê
Hy Tông, năm 38 tuổi - làm quan chức Hiến sứ
(7) Nguyễn Hữu Độ ( 1813 - ?): Đỗ tiến sỹ khoa Mậu Tuất (1838) đờiMinh Mệnh, năm 34 tuổi làm Bố chánh tỉnh Bình Định
(8) Nguyễn Xuân Đàm (1878 - ?): đỗ phó bảng khoa Canh Tuất ( 1910)
đời Duy Tân, năm 33 tuổi làm chi phủ huyện Diễn Châu
(9) Lê Khắc Khuyến (1879 - ?): đỗ tiến sỹ khoa Bính Thìn (1916) đờiKhải Định, năm 38 tuổi làm chức Hành tẩu bộ Học
Trang 31(10) Nguyễn Phong Di ( 1889 - ?): đỗ tiến sỹ ( đỗ đầu toàn quốc)
khoa Kỷ Mùi (1919), năm 31 tuổi làm Lục sự ở toà khâm sứ Trung Kỳ
(11) Lê Viết Tạo ( 1876 - ?) đỗ phó bảng khoa Kỷ Mùi (1919) đời Khải
Định, năm 44 tuổi làm chức thừa phái bộ Hình [Theo 26]
Ngoài làng Nguyệt Viên xã Hoằng Quang có số ngời đỗ đại khoa nhiềunhất huyện, còn có các làng có số ngời đỗ đại khoa cũng nhiều nh: Làng VĩnhTrị -7 ngời Đỗ tiến sỹ, Bột Thái - 7 ngời Đỗ tiến sỹ, Bột thợng -5 ngời Đỗ tiến
sỹ, Phù Quang - 3 ngời đỗ tiến sỹ Bên cạnh những làng gọi là “ Với núi sông thắng tích cả đất n làng học ” thìcũng tại chính các làng học đó còn có nhiều dòng họ đáng lu danh, nhiều gia
đình cha con, ông cháu anh em cùng thi đậu Chỉ tính riêng đời Nguyễn cần phải
nhắc tới: gia đình họ Nhữ (Hoằng Cát); gia đình họ Đặng (Hoằng Cát); gia đình
họ Nguyễn ở Phợng Đình ( Hoằng Anh ) Trong số đó lớn nhất là dòng họ
Nguyễn nhng ở các làng - xã khác nhau, nh:
1 Gia đình họ Nhữ ở Cát Thôn ( Hoằng Cát ) anh em, cha con, ông cháu, chúcháu cùng thi đậu:
- Em: Nhữ Đình An: Đỗ khoa Kỹ Mão, Gia Long (1819)
- Anh: Nhữ Bá Sỹ:Đỗ khoa Tân Tỵ, Minh Mệnh 2 (1821)
- Con: Nhữ Dĩ Huyên (con ông Nhữ Bá Sỹ): Đỗ khoa ất Mão,
Tự Đức 7(1855)
- Con thứ: Nhữ Trí Thuật: Đỗ khoa Canh Ngọ, Tự Đức 23 (1870)
- Cháu: Nhữ Duy Cơ (con Nhữ Dĩ Huyên): Đỗ khoa Giáp Ngọ,ThànhThái 6(1894)
Nh vậy, gia đình dòng họ Nhữ kế thế đăng khoa, anh em, cha con, ông cháu thi nhau đỗ đạt làm rạng danh dòng họ Nhữ và phát huy truyền thống khoa bảngnho học huyện Hoằng Hoá
2 Trong xã Hoằng Cát còn nổi lên dòng họ Đặng ở thôn Cát Mao cha con đềuthi đỗ:
- Cha: Đặng Quốc Lang: Đỗ khoa Tân Mão, Minh Mệnh 12 (1813)
- Con: Đặng Huy Hoán: Đỗ khoa Kỹ Mão, Tự Đức (1867)
Dòng họ Đặng vốn có truyền thống khoa bảng từ các triều vua trớc, đó là:
Đặng Quốc Đỉnh đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sỹ khoa Canh Thìn, niên hiệu ChínhHoà thứ 21(1700)
Trang 323 Dòng họ Nguyễn ở Phợng Đình (Hoằng Anh ), cả nhà đều thi đậu:
- Anh: Nguyễn Đình Văn: Đỗ cử nhân khoa Mậu Tý, Đồng Khánh 3(1888), sau đó năm 1892 thi Hội đậu phó bảng
- Em: Nguyễn Hữu Đan: Đỗ cử nhân khoa Quý Mão, Thành Thái 15( 1903)
- Con của Nguyễn Đình Văn là Nguyễn Đình Ngân (cháu Nguyễn Hữu
Đan): Đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý, Duy Tân thứ 6 (1912)
4 Dòng họ Nguyễn ở Bột Hng Hoằng Lộc
- Anh: Nguyễn Năng Nhựơng: Đỗ khoa Kỷ Mão, Tự Đức 32 (1879)
- Em: Nguyễn Thúc Đôn: Đỗ Khoa Giáp Thân, Kiến Phúc 1 (1884)
- Con: Nguyễn Thiện Phỏng (bố là Nguyễn Năng Nhợng) đỗ khoa ất Dậu,Thành Thái 9 ( 1897)
ở xã Hoằng Lộc còn nổi danh các gia đình cha con cùng đỗ đạt, con nối cha, anh em tiếp nối đua nhau tiếp nối rèn luyện kinh sử để cùng lu danh trên bảng vàng, đó là các gia đình: Họ Nguyễn ở Bột Thợng, họ Nguyễn Huy ở Bột Hng
5 Dòng họ Lê ở Thọ Vực, xã Bút Sơn cũ ( nay là xã Hoằng Đức) ông, con, cháu
đều thi đỗ cử nhân:
- Ông: Lê Danh Tùng: Đỗ khoa Quý Mão, Thiệu Trị 3 (1843)
- Con: Lê Thận Ngôn: Đỗ khoa Tân Dậu, Tự Đức 4 (1861)
- Cháu: Lê Đôn Phục; Đỗ khoa Bính Ngọ, Thành Thái 18 (1806)
Hay một gia đình họ Nguyễn khác cha con đều thi đậu:
- Cha: Nguyễn Đôn Tiết: Đỗ cử nhân khoa Bính Tý, Tự Đức 29 ( 1876),sau đó năm 1879 đỗ phó bảng khoa Kỷ Mão, Tự Đức 32
- Con: Nguyễn Lê Dự: Đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ, Thành Thái 18
( 1906)
[12;254-256 & 24]
Mới chỉ qua việc thống kê lại số ngời đỗ đạt ở thời Nguyễn theo làng và
đỗ đạt theo họ cũng đã thấy rõ tầng lớp nho học ( Đỗ tiến sỹ, cử nhân) ở huyệnHoằng Hoá chiếm tỷ lệ cao hơn so với các triều vua trớc Điều này chứng tỏ triều
đình nhà Nguyễn rất chú trọng đến việc học và thi, nghĩa là việc đào tạo và tuyểnlựa nhân tài cho chế độ phong kiến Nhận thức rõ vai trò trọng yêú của văn hoá,
Trang 33giáo dục, t tởng trong công việc củng cố chính quyền, xây dựng một triềuNguyễn vững mạnh tập trung mọi quyền hành trên các lĩnh vực chính trị - t tởng.Hơn nữa các vua triều Nguyễn đều là những nhà nho học khá uyên thâm, các vịvua này đều là những nhà thơ, nhà văn ham mê sáng tác.
Sách Đại Nam thực lục chính biên“ Với núi sông thắng tích cả đất n ” ghi rằng năm Gia Long thứ 13, chỉ thị
cho đình thần: Học hiệu là nơi chứa nhân tài, phải giáo dục có căn bản thì mới“ Với núi sông thắng tích cả đất n
có thể thành tài ” Tuy vậy, thời Gia Long việc học và thi còn kém, bởi sẵn
trong tay có nhiều tên võ biền trung thành trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn đủ sức để lập thành bộ máy cai trị Phải đợi đến thời Minh Mạng mới
-mở khoa thi Hội, thi Đình đầu tiên vào năm 1822 Cũng nh thi Hơng, ba nămnhà nớc phong kiến mới mở khoa thi Hội Mà thi Hội chỉ có một trờng thi ở kinh
đô, mỗi khoa thi nh vậy chỉ lấy đỗ tiến sỹ vài chục ngời, thậm chí có khoa chỉlấy đỗ 3 ngời, có khoa lấy đỗ 7 ngời Mà một huyện 2 ngời đỗ cùng khoa thực làhiếm thấy, nhng ở đời Nguyễn, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919) khoathi Hội cuối cùng của triều Nguyễn, ở Hoằng Hoá tiếp tục vẫn có 2 ngời đỗ đạikhoa cùng khoa Đó là: Nguyễn Phong Di ở làng Nguyệt Viên, đỗ Đình nguyên
và Lê Viết Tạo cũng ở làng Nguyệt Viên đỗ phó bảng Hai ngời này khôngnhững cùng huyện Hoằng Hoá, mà còn cùng làng Nguyệt Viên (xã HoằngQuang) Điều đó thực sự vinh dự, không những là niềm vinh dự cho cá nhân, chogia đình, cho làng có ngời đỗ đạt, mà đó còn là niềm tự hào nỗ lực của chính conngời Hoằng Hoá một vùng đất văn vật Trong tiến trình phát triển của lịch sử,giai đoạn nào dân tộc Việt cũng có những nhân tài kiệt xuất Với truyền thốngyêu nớc đấu tranh kiên cờng bất khuất, lao động, học tập cần cù, thông minhsáng tạo, Hoằng Hoá không chỉ góp vào tài sản vô giá của đất nớc bằng nhữngtên tuổi đỗ đạt trên bảng vàng, mà đi vào nhiều làng xã ở Hoằng Hoá còn nghe
kể khá nhiều về ông mền, ông kép, ông tú, các ông trúng tam trờng, nhị trờng,các anh khoá, anh nho, học giỏi, chí cao, u thời mẫn thế làu thông kinh sử václều chõng đi thi hết khoa thi này đến khoa thi khác mà vẫn không đỗ hoặc xếphạng tú tài, nh Nguyễn Đôn Thúc ở Hoằng Nghĩa, còn có một số ngời khác ởNguyệt Viên, Quỳ Chữ, Hội Triều, Cự Đà số ngời này chiếm số lợng khá đông
ấy là cha kể đến bao ngời thông thái, không chịu đi thi vì chán ghét chế độ khoa
cử, chán ghét quan trờng đơng thời nh: cả Triệu ở Hội Triều, cả Bích ở PhợngNgô vv Họ là những ngời đợc nhân dân mến phục, ngợi ca học tập
Trang 34Nh vậy, từ năm 1702 - 1788 đời Hậu Lê có tất cả 27 khoa thi, Trờng ThanhHoá lấy đỗ cả thảy 1038, riêng huyện Hoằng Hoá trúng 292 cử nhân Bớc sang
đời Nguyễn ( 1807 - 1918 ) có 39 khoa thi Hơng trong tổng số 441 ngời ThanhHoá thi đỗ cử nhân, riêng huyện Hoằng Hoá chiếm 154 ngời Với số lợng đóHoằng Hoá chiếm 2,8% so với toàn tỉnh
Vậy là cùng với quá trình thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, nhà Nguyễn đã rất
chú tâm đến việc tuyển chọn hiền tài Đạo trị n“ Với núi sông thắng tích cả đất n ớc tất phải lấy việc gây dựng nhân tài làm việc u tiên mà phơng pháp gây dựng thì phải nuôi cho có sẵn” Đó
chính là phơng sách để giữ vững bộ máy chính quyền phong kiến nhà Nguyễn.Trong dòng chảy chung của cả dân tộc Việt, nhân dân Hoằng Hoá đã góp phầnkhông nhỏ vào việc củng cố hệ thống chính quyền chuyên chế Nhân dân HoằngHoá luôn biết vợt qua đói nghèo, vợt lên số phận để tự khẳng định mình; bởi vậy
ngời dân nơi đây đã có câu vè: Ông nghè, ông Cống sống bởi ngọn lang, ông“ Với núi sông thắng tích cả đất n
Lý trong làng không lang cũng chết ” Nhiều ngời phải ăn ngô, ăn khoai, đi ở, đi
làm thuê chỉ vì để theo đuổi việc học tập: Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham“ Với núi sông thắng tích cả đất n
vì cái bút, cái nghiên anh đồ ” biểu hiện sự ham muốn có học thức của nhân dân
tỉnh Thanh nói chung
2.2 hệ thống trờng học ở huyện Hoằng Hoá thời nguyễn:
Cũng nh các triều đại phong kiến trớc, sau khi diệt nhà Tây Sơn, Gia Longlên ngôi đã phải giải quyết hàng loạt vấn đề về chính trị - kinh tế - xã hội Phải
có hiền tài, có đội ngũ quan lại đông đảo phụ trách mọi công việc từ trung ơng
đến địa phơng Song những năm đầu của triều đại mới cha thể đào tạo đợc nhântài Bởi vậy, sử dụng nhiều những danh sỹ, danh nho, các cựu thần nhà Lê cũ lâunay vẫn sống ẩn dật không chịu cộng tác với Tây Sơn là việc quan trọng và cầnkíp Ngay sau khi lên ngôi năm 1802, Gia Long đã hạ chiếu dụ các cựu thần nhà
Lê ra mắt để tuỳ tài đức mà nhà vua sẽ bổ dụng làm quan Năm 1814, Gia Long
ra chỉ dụ cho các đình thần "học hiệu là nơi chứa nhân tài, tất phải giáo dục có
căn bản thì mới có thể thành tài Trẫm muốn bắt chớc ngời xa đặt nhà học, nuôi học trò, ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi để cho nhà nớc dùng " [22;
212]
Mặc dù các vua triều Nguyễn đều ban sắc lệnh cầu hiền, nhng số ngời ragiúp việc không nhiều khiến nhà vua ra lệnh cho các quan lại cả mời một hạt BắcThành và hai hạt Thanh - Nghệ hễ thấy ai học rộng, văn hay…v v… họ chính là tài sản vô giá mà laođều phải tiến cử