PGS TS KH Lê Văn Cảm: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo 1 thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ că
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục chính trị
Trang 2Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục chính trị
Lớp : 48B3 Chính trị - Luật
Vinh - 2011
Trang 3để tôi hoàn thành tốt khoá luận này!
Vinh, ngày 06 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Dên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 0
MỤC LỤC 0
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN 0
A MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3
7 Kết cấu của đề tài 4
B NỘI DUNG 5
Chương I Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam 5
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của án treo 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của án treo 5
1.1.2 Bản chất pháp lí của án treo 6
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của án treo 6
1.2 Các căn cứ để cho hưởng án treo 10
1.2.1 Về mức hình phạt tù 11
1.2.2 Về nhân thân người phạm tội 11
1.2.3 Có nhiều tình tiết giảm nhẹ 14
1.2.4 Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù 17
1.3 Thời gian thử thách của án treo và cách tính thời gian thử thách của án treo 18
1.3.1 Thời gian thử thách của án treo 18
Trang 51.3.2 Cách tính thời gian thử thách 21
1.4 Tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo 25
1.4.1 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách 27
1.4.2 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về một tội đã thực hiện trước khi có bản án treo 30
1.5 Điều kiện thử thách của án treo 31
Chương II Một số bất cập và hạn chế của chế định án treo và thực tiễn áp dụng án treo tại Nghệ An 34
2.1 Thực tiễn áp dụng án treo hiện nay 34
2.2 Thực tiễn áp dụng án treo trên địa bàn tỉnh Nghệ An 36
2.3 Một số bất cập và hạn chế của chế định án treo 45
2.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về án treo trong luật hình sự Việt Nam 47
2.4.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về án treo 47
2.4.2 Kiến nghị một số điểm về vận dụng án treo 49
C KẾT LUẬN 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
1 BLHS: Bộ luật hình sự
2 TAND: Tòa án nhân dân
3 TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Án treo là một chế định pháp lí hình sự ra đời từ rất sớm, xuất hiện vàphát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Luật hình sự Việt Nam Xuất phát
từ nhiệm vụ của Luật hình sự và mục đích của việc buộc người phạm tội phải thihành hình phạt thể hiện việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như mụcđích răn đe, giáo dục, cải tạo người phạm tội hoàn lương, án treo là một trongcác biện pháp tác động mà nhà nước đã sử dụng để tác động đến người phạmtội Trải qua một lịch sử phát triển khá dài, án treo đã ngày càng khẳng định
được tính ưu việt của nó Chế định án treo là một biểu hiện rõ nét sự kết hợp hài
hoà giữa phương châm trừng trị với khoan hồng, đồng thời cũng thể hiện sự
tham gia của nhân dân vào việc giám sát người phạm tội tự giáo dục, cải tạo để
trở thành người có ích cho xã hội Tuy nhiên, về mặt lí luận, cũng như về thực
tiễn áp dụng, vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất trong quan điểm, quan niệm
về án treo Hơn nữa, xét về mặt lập pháp còn nhiều quy định về án treo chưachặt chẽ, chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng án treo
Từ lí luận cũng như tình hình thực tế áp dụng án treo ở nước ta hiện naycũng như những quan niệm khác nhau về án treo thì vấn đề nghiên cứu một cáchtoàn diện, sâu rộng về chế định này là rất cần thiết và có ý nghĩa to lớn góp phầnđem lại một cách hiểu đúng đắn, toàn diện, và thống nhất trong lí luận cũng nhưtrong thực tế áp dụng án treo Đồng thời, góp phần vào việc hoàn thiện chế định
án treo, phát huy một cách có hiệu quả nhất tác dụng của án treo trong đấu tranh
phòng, chống tội phạm Bằng đề tài “Chế định án treo, thực tiễn áp dụng trên
địa bàn tỉnh Nghệ An” tác giả mong muốn góp phần lý giải về lý luận cũng như
thực tiễn trong Pháp luật Việt Nam khi xây dựng và áp dụngk chế định này ởViệt nam
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Án treo là một đề tài có nội dung phong phú được các nhà lập pháp, các
cơ quan bảo vệ pháp luật, các cán bộ nghiên cứu khoa học pháp lí cũng quantâm Trên thực tế, vấn đề án treo được đề cập rất nhiều ở một số giáo trình Đạihọc chuyên ngành luật, các bài tham luận tại các diễn đàn khoa học, các luận án,luận văn… Điển hình như giáo trình luật hình sự - trường đại học Luật Hà Nội;giáo trình luật hình sự - Khoa luật trường đại học Quốc gia Hà Nội; Chế định ántreo trong luật hình sự Việt Nam - Thạc sỹ Lê Văn Luật, NXB Tư pháp 2007;Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam - Luận án thạc sĩ luật học 1996 củatác giả Phạm Thị Học; Án treo và thực tiễn áp dụng ở tỉnh Bắc Ninh - Luận ánthạc sĩ luật học 2004 của tác giả Nguyễn Hữu Xương… ngoài ra còn có các bàiviết liên quan đến chế định án treo được đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến vấn
đề này Việc có nên giữ lại chế định án treo hay không, nếu giữ lại thì phải làmthế nào để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chế định án treo cũng như làmthế nào để khắc phục những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng cũng nhưhoàn thiện chế định này? Đó chính là những điều mà rất nhiều nhà nghiên cứupháp luật quan tâm Chính vì vậy, hiện nay vấn đề nghiên cứu chế định này luônnhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu pháp luật, các thầy cô giáo vàcác sinh viên cũng như các tầng lớp khác nhau trong xã hội
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trên cơ sở việc xem xét các quy định liên quan đến án treo, cũng nhưtham khảo những tài liệu liên quan đến chế định này, đề tài nghiên cứu sẽ đi mộtcách khái quát nhất các nội dung cơ bản của chế định này thông qua việc nghiêncứu sự hình thành, phát triển của chế định án treo trong lịch sử và thực tiễn củaviệc áp dụng chế định án treo để giúp mọi người hiểu rõ hơn về chế định này,đồng thời cũng đưa ra những nhận xét, nhận định, những biện pháp tháo gỡnhững vướng mắc còn tồn tại trong quá trình phát triển của án treo để từ đóđóng góp một số ý kiến nhằm làm hoàn thiện hơn chế định này
Trang 94 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Mục đích của đề tài nghiên cứu là nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thốngnhững vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về chế định án treo trong luật hình sựViệt Nam Từ đó nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa vào phương pháp của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với việc sử dụng cácphương pháp như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương phápthống kê và phương pháp so sánh, đối chiếu Qua đó, rút ra những kết luận, đềxuất những biện pháp nhằm hoàn thiện chế độ án treo cả về mặt lí luận và thựctiễn áp dụng
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu.
Đề tài “Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam” có ý nghĩa quantrọng cả về lí luận và thực tiễn
Về lí luận: Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình hìnhthành và phát triển của chế định án treo, nội dung các vấn đề của án treo, phânbiệt án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ, qua đó góp phần nâng caonhận thức, tạo tiền đề cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định này
Về thực tiễn áp dụng: Đề tài nghiên cứu góp phần đem lại cách hiểu đúngđắn về chế định án treo, từ đó giúp cho việc áp dụng pháp luật một cách chínhxác, khách quan, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng
và chống tội phạm
Trang 107 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 2 chương:
Chương I : Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam
ChươngII : Một số bất cập và hạn chế của chế định án treo và thực tiễn áp dụng án treo tại Nghệ An
Trang 11B NỘI DUNG
Chương I Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của án treo.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của án treo.
Án treo là chế định hình sự ra đời từ rất sớm, trải qua một lịch sử pháttriển lâu dài, từ sắc lệnh 21/SL ngày 14 - 2 - 1946 tới nay, tuy có nhiều cách
hiểu khác nhau Đôi lúc án treo được hiểu là “tạm đình chỉ việc thi hành án”, hoặc là một biện pháp “hoãn hình có điều kiện” hoặc là “biện pháp miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện” Tuy nhiên, dù có nhiều quan niệm khác nhau
nhưng án treo chưa bao giờ được coi là hình phạt trong hệ thống hình phạt
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác nhau về ántreo như:
Tác giả Đinh Văn Quế : “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá 3 năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”.
PGS TS KH Lê Văn Cảm: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình
phạt tù kèm theo 1 thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định”.
Căn cứ vào Điều 60 BLHS 1999 cùng với những văn bản hướng dẫn thi
hành và những phân tích nêu trên, theo tác giả “Án treo là biện pháp miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người đã bị kết án phạt tù không quá 3 năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ những căn cứ và điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định (nhằm khuyến khích họ tự giác cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội), đồng thời cũng cảnh cáo họ là nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt tù đã được hưởng án treo của bản án trước đó”.
Trang 12Việc quy định án treo một mặt, thể hiện nội dung khoan hồng, tính nhânđạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật hình sự của nhà nước ta, mặt khác cũng thểhiện chính sách nghiêm trị kết hợp với giáo dục, khoan hồng của Đảng và Nhànước ta khi xét thấy người phạm tội không nguy hiểm tới mức nếu để ngoài xãhội không những không ảnh hưởng xấu đến tình hình phòng ngừa và chống tộiphạm, mà còn có tác dụng tốt đối với việc giáo dục họ, tạo điều kiện thuận lợihơn để họ có thể cải tạo tốt để trở thành người có ích cho xã hội.
Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy án treo có những đặc điểm sau:
- Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
- Việc toà án quyết định án treo nhất thiết phải kèm theo thời gian thửthách nhất định
- Án treo chỉ được áp dụng khi có đủ những căn cứ và những điều kiện dopháp luật quy định
- Án treo không phải là một loại hình phạt
1.1.2 Bản chất pháp lí của án treo.
Căn cứ vào định nghĩa và đặc điểm của án treo, ta có thể thấy bản chấtpháp lí của án treo đó là:
- Án treo là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam
- Là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
- Được áp dụng đối với người bị phạt tù có thời hạn không quá 3 năm(bản án đã có hiệu lực trên thực tế), có nhân thân tốt, có những tình tiết giảmnhẹ (ít nhất phải có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 46 BLHS 1999), vàTòa án xét thấy không cần thiết phải bắt buộc họ chấp hành hình phạt tù
- Người được hưởng án treo sẽ phải chịu 1 thời gian thử thách nhất định
do pháp luật quy định
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của án treo.
Hiện nay có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc có nên cho phép tồn tại ántreo hay không Thậm chí còn có ý kiến đề xuất nên bỏ hẳn án treo và thay bằng
Trang 13hình phạt cải tạo không giam giữ Như vậy chúng ta cần phải xem xét vai trò của
án treo như thế nào đối với việc đấu tranh phòng chống tội phạm
Trước hết, cần phải khẳng định rằng “án treo” và “cải tạo không giamgiữ” hoàn toàn khác nhau
Thứ nhất, “cải tạo không giam giữ” là một loại hình phạt chính trong hệ
thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam Còn “án treo” không phải làmột loại hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.Một bên đang chấp hành án, thời hạn hình phạt rút ngắn từng ngày (cải tạokhông giam giữ); bên kia là trong thời gian thử thách, hình phạt vẫn lơ lửng trênđầu, nếu tái phạm thì phải ngồi tù (án treo)
Thứ hai, “cải tạo không giam giữ” chỉ áp dụng đối với những người phạm
tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn địnhhoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly ngườiphạm tội ra khỏi xã hội (tức là hành vi phạm tội chưa đến mức phải phạt tù,nhưng cũng cần phải giáo dục răn đe) Án treo được áp dụng với tất cả các loạitội phạm không phân biệt tội gì mà mức phạt tù không quá 3 năm, ngoài rangười được hưởng án treo còn phải đáp ứng một số điều kiện nhất định do phápluật quy định (nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có từ hai tình tiết giảm nhẹtrở lên…), nếu xét thấy không cần thiết phải buộc họ chấp hành hình phạt tù (tức
là hành vi phạm tội đáng phạt tù, nhưng không nhất thiết phải bắt họ phải thihành hình phạt, mà việc để họ ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến việcphòng và chống tội phạm, chẳng những thế lại còn có tác dụng tốt hơn trongviệc cải tạo họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội)
Thứ ba, đối với “cải tạo không giam giữ” nếu người phạm tội thực hiện
tội phạm mới trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì họcũng không bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của hình phạt trước Còn đốivới “án treo”, nếu người được hưởng án treo thực hiện tội phạm trong thời gianthử thách thì họ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước mà khôngcho hưởng án treo nữa Nghĩa là hình phạt tù của bản án trước luôn “treo lơ
Trang 14lửng” trên đầu họ, và luôn nhắc nhở họ rằng nếu còn phạm tội thì bản án trước
đó cho phép họ hưởng án treo sẽ “rơi” xuống đầu họ
Thứ tư, cải tạo không giam giữ có thời hạn sáu tháng đến ba năm, chỉ áp
dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng Còn án treo đượcvận dụng đối với tất cả các loại tội, kể cả tội phạm ma túy, xâm phạm an ninhquốc gia Chế định này đã giúp cá thể hóa hình phạt tới từng trường hợp phạmtội Đó là tính ưu việt của án treo
Qua những đặc điểm của cải tạo không giam giữ nêu trên có thể thấy rằngtính chất giáo dục của án treo dường như có tác dụng hơn đối với cải tạo khônggiam giữ Bởi lẽ, án treo vừa có tính chất trừng phạt, răn đe, đồng thời cũng vừa
có tính chất nhân đạo, khoan hồng, tạo điều kiện tốt hơn cho người phạm tội tựcải tạo mình thành người có ích cho xã hội hơn
Cũng có người cho rằng áp dụng án treo là làm mất đi tính nghiêm minhcủa pháp luật, vì có những trường hợp không đáng cho hưởng án treo nhưng với
ý định chủ quan của người thẩm phán muốn cho hưởng án treo ngay từ đầu nêntoà án hạ thấp mức phạt tù xuống để đủ điều kiện cho hưởng án treo, có nhữngtrường hợp đáng cho hưởng án treo thì lại phạt tù giam v.v… Đó là việc conngười cố ý làm sai pháp luật làm mất đi bản chất của án treo Bởi lẽ, chúng tađều biết, án treo không phải là một loại hình phạt mà nó chỉ là một biện phápmiễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Có nghĩa là, khi toà án xét xử mộtngười phạm tội, thì toà án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi, cũng như hậu quả xảy ra để ấn định mức phạt tù tương xứng vớihành vi phạm tội, sau đó mới xét đến các điều kiện mà pháp luật quy định đểxem xét có nên cho người đó được hưởng án treo hay không Việc thi hành hìnhphạt tù đối với người phạm tội có nhiều mặt tốt trong việc cải tạo người phạmtội, nhưng bên cạnh đó không phải không có những hạn chế nhất định Việctước đi quyền tự do, cách ly tạm thời người phạm tội ra khỏi môi trường sốngbình thường ngoài xã hội, cải tạo họ trong một môi trường đặc biệt ở trại cải tạo,bắt buộc họ phải tuân theo những nguyên tắc hầu như không thay đổi, sẽ làm
Trang 15cho phạm nhân trở nên thụ động Nếu sống ở trong môi trường đặc biệt này ởmột mức độ nhất định, thì tính thụ động đó sẽ trở thành một thói quen mà saunày ra tù không phải ai cũng có thể khắc phục được Và nếu như những địnhkiến ngoài xã hội vẫn coi họ là những người bị tù, ngại hay sợ tiếp xúc với họ,hoặc các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế ngoài xã hội… không muốn nhận họvào làm việc, cùng với những xáo trộn trong cuộc sống gia đình như vợ (chồng)xin ly hôn, kinh tế giảm sút… buộc họ phải tìm mọi cách để tự kiếm sống, thìđiều này rất dễ tác động đến tâm lý của họ, rất dễ dẫn đến việc họ sẽ tiếp tụcquay lại con đường phạm tội Điều này cũng giải thích tại sao tỉ lệ tái phạm lạigia tăng trong giai đoạn hiện nay.
Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng, việc duy trì chế độ án treo
là một việc làm đúng đắn và cần thiết Thực tế đã chứng minh, trong những lầnsửa đổi, bổ sung BLHS trước đây đã từng có tranh cãi về việc nên duy trì án treohay không, cuối cùng các nhà làm luật thấy rằng không thể bỏ được chế định ántreo Chế định án treo đã tồn tại liên tục từ khi nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam hình thành cho tới nay Việc áp dụng án treo đúng pháp luật,không những không làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật mà ngược lại nócòn có một vai trò rất lớn trong việc giáo dục cải tạo người phạm tội có thểnhanh chóng khắc phục, sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho gia đình
và xã hội
Theo nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của HĐTP TANDTChướng dẫn về việc áp dụng án treo Điều 44 BLHS (năm 1985) thì ý nghĩa của ántreo là:
- Án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án với sự giúp đỡ tíchcực của xã hội, tự lao động cải tạo để trở thành người lương thiện, đồng thờicảnh cáo họ là nếu trong thời gian thử thách mà phạm tội mới do vô ý và bị phạt
tù hoặc phạm tội mới do cố ý thì họ phải chấp hành hình phạt tù đã được hưởng
án treo của bản án trước
Trang 16- Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm trừng trịkết hợp với giáo dục và tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sựcủa Nhà nước Việt Nam Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tácdụng tốt là không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt đượcmục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội; nhưng nếu ápdụng không đúng thì sẽ gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt như: không phát huyđược tác dụng tích cực của án treo là khuyến khích người bị kết án tự cải tạo đểtrở thành người tốt, không thể hiện được tính công minh của pháp luật, khôngđược nhân dân đồng tình ủng hộ, không đề cao được tác dụng riêng và phòngngừa chung.
Án treo còn có tác dụng cảnh tỉnh, nhắc nhở người phạm tội, cũng nhưnhững người xung quanh lấy đó làm bài học để cố gắng tránh xa những cạm bẫycủa đời thường, tránh được việc phạm tội Đồng thời án treo cũng có tác dụngthu hút một bộ phận dân cư tham gia và việc giúp đỡ, giáo dục, giám sát ngườiđược hưởng án treo trong thời gian thử thách, làm cho họ không phân biệt, xalánh người bị kết án mà tiến lại gần gũi, giúp đỡ họ để họ cải tạo tốt hơn và sớmhoà nhập với cộng đồng
Với việc áp dụng án treo sẽ giúp cho nhà nước giảm bớt được chi phítrong công tác cải tạo, giáo dục người phạm tội mà vẫn đạt kết quả tốt
1.2 Các căn cứ để cho hưởng án treo.
Những căn cứ để áp dụng án treo đối với người bị phạt tù là những yêucầu, đòi hỏi bắt buộc do pháp luật hình sự quy định đối với người đó, mà chỉ khinào có đầy đủ những căn cứ này thì tòa án mới được áp dụng án treo đối vớingười đó
Theo quy định của Khoản 1 điều 60 Bộ luật hình sự, căn cứ vào nhữngđiều kiện sau để tòa quyết định cho hay không cho bị cáo hưởng án treo:
- Về mức phạt tù không quá 3 năm, không phân biệt tội gì
- Về nhân thân, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự
Trang 17- Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong
đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999.Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng thì tình tiếtgiảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên
- Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù
1.2.1 Về mức hình phạt tù.
Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để toà án xem xét cho người bị kết án
tù có được hưởng án treo hay không
Người bị xử phạt tù không quá 3 năm, không phân biệt tội gì có thể đượcxem xét cho hưởng án treo Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần vềnhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thìcũng có thể được hưởng án treo
Khi toà án tuyên mức hình phạt tù phải dựa trên tính chất, mức độ nguyhiểm của hành vi phạm tội, trên cơ sở tuân thủ những căn cứ để quyết định hìnhphạt, đồng thời tuân thủ những nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam để ápdụng hình phạt cho từng trường hợp cụ thể Tránh trường hợp vì có ý định trước
là sẽ cho người bị kết án hưởng án treo nên Tòa tuyên mức án thấp hơn thời hạn
3 năm tù giam để cho người đó được hưởng án treo; hoặc đáng lẽ bị cáo đượchưởng án treo nhưng ý định từ trước không cho hưởng án treo nên tuyên mức áncao hơn 3 năm để không cho hưởng án treo
Khoản 1, điều 60 của BLHS 1999 quy định mức phạt tù không quá 3 năm,không phân biệt tội gì, tuy nhiên trên thực tế xét xử, thường chỉ áp dụng đối vớitội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng vì những tội này thường nằm ở mức phạt
tù không quá 3 năm
1.2.2 Về nhân thân người phạm tội.
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặctính thể hiện bản chất xã hội của người thực hiện hành vi phạm tội Khi xem xétnhân thân người phạm tội với vai trò là một trong các cơ sở của việc quy địnhTNHS thì độ tuổi chịu TNHS, tiền án, tiền sự của người phạm tội và một số đặc
Trang 18điểm khác thuộc nhân thân người phạm tội là những vấn đề rất quan trọng (Một
số vấn đề về nhân thân người phạm tội - Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 5/2001)
Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định nguyên nhân thực hiện tội phạm Cụ thể là khuynh hướng thể hiệntính chống đối xã hội của một con người cụ thể, trước hết là động cơ xử sự củangười đó trong sự tác động qua lại với môi trường và hoàn cảnh thuận lợi choviệc thực hiện tội phạm Ở giai đoạn điều tra, những hiểu biết về nhân thânngười phạm tội cho phép cơ quan điều tra có cơ sở để xác định phương pháp,phương hướng và chiến thuật điều tra để đề xuất và kiểm tra các giả thuyết điềutra của mình; Ở giai đoạn xét xử, các tài liệu về nhân thân người phạm tội là cơ
sở quan trọng của việc truy cứu TNHS và quyết định hình phạt (lượng hình); Ởgiai đoạn thi hành án, nhân thân người phạm tội là căn cứ để xác định chế độgiam giữ, cải tạo, giáo dục người phạm tội (Nhân thân người phạm tội với việcquy định TNHS - Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Tạp chí toà án nhân dân số 8/2005)
Theo Nghị quyết số 01/ 2007/ NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 hướng dẫn ápdụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành
hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có quy định: “Người được hưởng
án treo phải có nhân thân tốt, được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng”.
Khi xem xét về nhân thân người phạm tội, trước hết cần xác định độ tuổichịu TNHS của người phạm tội
Đối với việc xét cho hưởng án treo thì độ tuổi là một vấn đề hết sức quantrọng Án treo với mục đích là khuyến khích người phạm tội tự cải tạo và sửachữa bản thân, đồng thời cũng tạo điều kiện cho người phạm tội học tập, hoànhập với xã hội Việc áp dụng án treo đối với những người còn ở lứa tuổi vịthành niên, những người trẻ tuổi khi họ mắc sai lầm là việc hết sức đúng đắn và
Trang 19có tác dụng lớn trong việc cải tạo Tạo điều kiện cho họ không những có cơ hộilàm lại cuộc đời, tiếp tục học tập, và làm việc, đóng góp sức mình cho đất nước.
Vấn đề thứ hai khi xem xét tới nhân thân người phạm tội đó là xem xétngười phạm tội đã có hay chưa có tiền án, tiền sự
Tiền án là việc một người đã từng bị kết án về một tội danh được quy địnhtrong bộ luật hình sự mà chưa được xóa án tích theo quy định tại các điều 64,
từ đó Toà án ra quyết định hình phạt và ra quyết định cho hưởng án treo sau khi
đã ra quyết định hình phạt
Ngoài ra, một số đặc điểm khác thuộc về nhân thân như đặc điểm về lốisống của người phạm tội (sử dụng các chất có cồn hoặc các chất kích thíchkhác); đặc điểm về ý thức của người phạm tội (ý thức được việc mình phạm tộihay không); đặc điểm về thái độ, cách ứng xử của người phạm tội sau khi thựchiện tội phạm (tự thú, thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả…)
Tóm lại, khi xem xét để quyết định cho hưởng án treo thì Toà án phải dựatrên quan điểm toàn diện, hệ thống cũng như trong từng trường hợp cụ thể vềngười phạm tội Mặt khác, khi áp dụng những căn cứ về nhân thân đòi hỏi phải
có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung và ý nghĩa pháp lý của từng căn
cứ, cũng như mối liên hệ giữa các căn cứ này với nhau để có thể áp dụng đượcmột cách đúng đắn điều kiện về nhân thân người phạm tội để có thể đưa ra đượcmột hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cũng như biện pháp thi hành
Trang 20hình phạt tù một cách có hiệu quả để đạt được mục đích cải tạo, giáo dục, răn đengười phạm tội cũng như mục đích phòng chống tội phạm nói chung.
1.2.3 Có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
Các tình tiết giảm nhẹ đã được xem xét để quyết định hình phạt vẫn đượcxem xét cùng với các căn cứ khác để quyết định việc cho hoặc không cho hưởng
án treo( Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18 - 10 - 1990)
Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho hưởng án treo là những tình tiếtđược quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 cũng như các tình tiết giảm nhẹđược toà án xác định trong từng vụ án cụ thể Ngoài ra, các tình tiết giảm nhẹcòn được ghi nhận trong Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 củaHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh về Phần chung của BLHS năm 1999
Tại điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đã bỏ một số tình tiết giảm nhẹ màĐiều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định; cụ thể những tình tiết sau đây:
- Phạm tội vì bị người khác chi phối về mặt vật chất, công tác hay các mặtkhác (điểm đ khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985)
- Phạm tội do trình độ nghiệp vụ non kém (điểm g khoản 1 Điều 38 Bộluật hình sự năm 1985)
Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 vàhướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm
1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội"(sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT), thì vẫn có thể áp dụngnhững tình tiết giảm nhẹ nói trên đối với người phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau thời điểm này mới bị xét xử, nếu họ có những tình tiết giảm nhẹđó
Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng quy định bổ sung một tình tiếtgiảm nhẹ mới; cụ thể là những tình tiết sau đây:
Trang 21- Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả (Điểm b khoản 1);
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội (điểm r khoản 1);
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiếnđấu, học tập hoặc công tác (điểm s khoản 1)
Mặc dù những tình tiết giảm nhẹ nói trên được Bộ luật hình sự năm 1999quy định bổ sung, nhưng trong thực tế thì các Toà án đã áp dụng những tình tiếtnày khi quyết định hình phạt theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01-89/HĐTPngày 19 - 4 -1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "hướng dẫn
bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự" Tuy nhiên, nay Bộluật hình sự năm 1999 đã quy định bổ sung các tình tiết này vào khoản 1 Điều
46 Bộ luật hình sự năm 1999; do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sựnăm 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT, thì đối vớingười thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau thờiđiểm này mới bị xét xử và nếu họ có các tình tiết giảm nhẹ này, thì áp dụng cácđiểm tương ứng của khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với họ
Mục 5 của Nghị quyết số 01/2000/NQ - HĐTP cũng nêu rõ: Để áp dụngđúng các điểm r, s khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cần chú ý:
- "Đã lập công chuộc tội" là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm chođến trước khi bị xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), ngườiphạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có tráchnhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hànhđộng giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạmkhác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện sựquên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng củangười khác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận
- Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặccông tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằnglao động sáng tạo hoặc có sáng chế phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều nămđược công nhận là chiến sỹ thi đua
Trang 22Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Toà án còn có thểcoi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án" Theocác văn bản hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao và của Toà ánnhân dân tối cao với các cơ quan hữu quan khác cũng như thực tiễn xét xử trongthời gian qua, thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công vớinước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệuvinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ ViệtNam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu
tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theoquy định của Nhà nước;
- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ,con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;
- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác,
có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;
- Người bị hại cũng có lỗi;
- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;
- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;
- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hìnhphạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại,gây thiệt hại về tài sản;
- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đichống bão, lụt, cấp cứu
Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể củangười phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưngphải ghi rõ trong bản án
Theo hướng dẫn mới nhất của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tốicao tại Nghị quyết 01/2007/NQ - HĐTP trong đó có hướng dẫn về án treo cóquy định: Khi xem xét về điều kiện có nhiều tình tiết giảm nhẹ để xét cho hưởng
Trang 23án treo thì người phạm tội phải “có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có
tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS Trong trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên”.
Việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
áp dụng án treo Bởi lẽ, một người có nhiều tình tiết giảm nhẹ cho thấy được khảnăng tự giáo dục, cải tạo của họ cũng như khả năng có thể gây nguy hiểm cho xãhội nếu như để họ ngoài xã hội là cao hay thấp Trên cơ sở đánh giá, xem xétcác tình tiết giảm nhẹ, toà án có thể ra quyết định hình phạt cũng như xem xétcho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo hay không
Đối với quy định : “ Trong trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có
tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên”, thì cũng cần lưu ý, với người có nhiều tình tiết tăng nặng
theo quy định tại Điều 48 BLHS thì dù họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thểhơn tình tiết tăng nặng hai tình tiết trở lên, thì việc áp dụng án treo với nhữngngười này cũng cần phải rất chặt chẽ, trên tinh thần chung là rất hạn chế việc xéthưởng án treo đối với những người này Vì với người có nhiều tình tiết tăngnặng, cho thấy được phần nào thái độ phạm tội, ý thức phạm tội của họ cũngnhư khả năng tự cải tạo của họ là rất khó Cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội đểđảm bảo được mục đích răn đe và phòng ngừa chung
1.2.4 Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù.
Khi xét việc cho người bị kết án được hưởng án treo, Hội đồng xét xử chủyếu dựa vào 3 căn cứ mức phạt tù, nhân thân của người bị kết án và các tình tiếtgiảm nhẹ, phân tích từng căn cứ và đánh giá các căn cứ đó, đồng thời đối chiếuvới yêu cầu phòng ngừa và chống tội phạm ở từng loại tội trong môi trường xãhội cụ thể của từng thời kì để có thể kết luận về khả năng tự giáo dục, cải tạocủa người bị kết án phạt tù với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội để từ đó xácđịnh chính xác việc bắt người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù hay cho họ
Trang 24được hưởng án treo Chỉ khi nào xét thấy nếu không bắt họ đi chấp hành hìnhphạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởngxấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm mà ngược lại, còn có tác dụngtốt cho việc cải tạo, khuyến khích người phạm tội sửa chữa thì mới cho họhưởng án treo Cần tránh tình trạng cho người được hưởng án treo một cách tuỳtiện, thiếu căn cứ, không được nhân dân đồng tình ủng hộ và làm giảm tác dụnggiáo dục và phòng ngừa chung của án treo.
Cần lưu ý rằng, đối với những người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì chỉcho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù
1.3 Thời gian thử thách của án treo và cách tính thời gian thử thách của án treo.
1.3.1 Thời gian thử thách của án treo.
Trước đây, theo Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946 về việc tổ
chức toà án quân sự quy định: “… Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án,
tội nhân không bị toà án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới…” Như
vậy, thời gian thử thách của án treo cố định là 5 năm
Thực tiễn vận dụng án treo đã chứng tỏ việc ấn định thời gian thử thách
cố định là cứng nhắc, không công bằng Bởi vì, thời gian răn đe đối với ngườiphạm tội bị kết án tù ở mức độ thấp và thời gian răn đe đối với người phạm tội
bị kết án tù ở mức độ cao hơn lại bằng nhau Ví dụ: A bị tòa án phạt 6 tháng tùnhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm cũng bằng thời gian thửthách của B bị phạt tù 5 năm Điều này rõ ràng là bất hợp lí đối với trường hợpcủa A Có toà án muốn tránh sự bất bình đẳng đó, đã tự tuyên thời gian thửthách của án treo tuỳ theo từng trường hợp dài ngắn khác nhau, không tuyên cốđịnh 5 năm như Sắc lệnh số 21/SL đã quy định Trong phần đánh giá sơ bộ tìnhhình áp dụng án treo tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961, Toà án nhân
dân tối cao không coi đây là nhược điểm mà cho đó là sự linh hoạt: “Bên cạnh
những nhược điểm và thiếu sót một số toà án cũng đã áp dụng những biện pháp linh hoạt như:
Trang 25… Một số toà án đã không áp dụng thời gian cố định 5 năm như trước mà đã ấn định thời gian thử thách dài ngắn tuỳ theo hình phạt nặng nhẹ và tuỳ theo bản chất can phạm” (Thời gian thử thách của án treo theo luật hình sự Việt Nam -
Phạm Thị Bích Học - Tạp chí Luật học số 1/1997)
Tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961, Toà án nhân dân tối cao đã
hướng dẫn cách xác định thời gian thử thách của án treo cụ thể hơn: “ Khi cho
hưởng án treo, toà án phải ấn định một thời gian thử thách trong khoảng từ 1 đến 5 năm dài ngắn tuỳ theo hình phạt và tuỳ theo bản chất của can phạm Thời gian thử thách nói chung phải dài hơn mức hình phạt chính” Theo đó, thời gian
thử thách của án treo có thể được toà án tuyên bằng hoặc thậm chí ít hơn mứcphạt tù đã cho hưởng án treo, điều này là bất hợp lí Hướng dẫn này được sửdụng cho đến khi ban hành BLHS năm 1985
* Trong BLHS 1985, thời gian thử thách của án treo được quy định tại
khoản 1 Điều 44: “Khi xử phạt tù không quá năm năm, căn cứ vào nhân thân
của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.
Trên thực tế đã có nhiều Công văn, Nghị quyết được ban hành trong đó cóhướng dẫn áp dụng khoản 1 điều 44 như: Nghị quyết 02/HĐTP ngày 5-1-1986,Công văn số 108/HĐNN ngày 19-6-1987, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-
1988 Tuy nhiên, những hướng dẫn này có nhiều điểm chưa hợp lý, chưa thểhiện được ý nghĩa, tầm quan trọng của thời gian thử thách của án treo Ví dụ:
Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 có hướng dẫn: “… Thông thường thì
thời gian thử thách phải bằng hoặc dài hơn hình phạt đã tuyên nhưng trong bất
cứ trường hợp nào cũng không được dưới 1 năm hoặc quá 5 năm”, với hướng
dẫn như vậy, người áp dụng có thể hiểu rằng trong một số trường hợp cụ thể,thời gian thử thách của án treo có thể bằng hoặc thấp hơn hình phạt tù nhưngcho hưởng án treo Nếu thời gian thử thách của án treo lại có thể thấp hơn mứchình phạt tù thì ý nghĩa đích thực của án treo cũng bị hạn chế bởi không thể có
Trang 26kết luận đúng đắn về người phạm tội, những nỗ lực tự giác cải tạo giáo dục củangười đó trong điều kiện thời gian thử thách ít hơn hình phạt tù.
Để khắc phục những nhược điểm trong các văn bản hướng dẫn trước đây,Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 44 BLHS đã thống nhất: “Theo khoản
1 Điều 44 BLHS thì thời gian thử thách của án treo là từ 1 năm đến 5 năm, bất
cứ trương hợp nào cũng không được dưới 1 năm hoặc quá 5 năm và không được ít hơn mức hình phạt tù Thời gian thử thách của án treo là bắt buộc, không được cho hưởng án treo mà lại miễn thời gian thử thách”.
* BLHS 1999 ra đời quy định về thời gian thử thách của án treo tại khoản
1 Điều 60: “Khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người
phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm”.
Để hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng thời gian thử thách của án treo,Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ban hành ngày 2-10-2007 quy định như sau:
“… Khi cho người xử phạt tù được hưởng án treo trong mọi trường hợp toà án phải ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm và phân biệt như sau:
a, Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng 2 lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 1 năm và không quá
5 năm.
b, Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt
tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng 2 lần mức hình phạt
tù còn lại phải chấp hành nhưng không được dưới 1 năm và không được quá 5 năm.
Trang 27c, Trong trường hợp đặc biệt thì Toà án có thể ấn định thời gian ngắn hơn mức được hướng dẫn tại các điểm a và b nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.”
Như vậy, Nghị quyết trên đã hướng dẫn một cách cụ thể từng trường hợpgiúp cho Toà án quyết định thời gian thử thách của án treo được chính xác, đúngđắn hơn
1.3.2 Cách tính thời gian thử thách.
Chế định án treo chỉ có ý nghĩa và phát huy đúng tác dụng của nó khitrong bản án cho hưởng án treo có một thời gian thử thách được tuyên đúng, đủcho người phạm tội tự khẳng định mình về tính tự cải tạo, giáo dục để hoà nhậpvới cộng đồng Qua đó, toà án cũng có điều kiện để kiểm tra sự đúng đắn trongviệc áp dụng án treo trên cơ sở phân tích, đánh giá những thông tin cần thiết từhai chiều (phía cơ quan hoặc tổ chức xã hội và phía người phạm tội) về thái độcải tạo, tu dưỡng của người phạm tội Chính vì vậy mà cách tính thời gian thửthách như thế nào là hợp lí là một việc hết sức quan trọng trong việc ấn định thờigian thử thách của án treo
Trong lịch sử phát triển của chế định án treo, cách tính thời gian thử thách
có được quy định khác nhau qua từng thời kì
Trước hết là sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946 quy định thời gian thử
thách của án treo được tính “bắt đầu từ ngày tuyên án”.
Đến năm 1961 có thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961, Toà án nhân
dân tối cao hướng dẫn: “Thời gian thử thách này bắt đầu từ khi bản án đã trở
thành nhất định”(Hệ thống hoá luật lệ hình sự Tập I; Toà án nhân dân tối cao
xuất bản năm 1975 tr.125)
Năm 1965, trong công văn số 1327/NCPL ngày 4-11-1965 gửi Toà án
nhân dân tỉnh Hà Tây, Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn : “Thời gian thử
thách có thể tính từ ngày tuyên án sơ thẩm…
Cần nói rõ ngày bắt đầu tính thời gian thử thách (trong án) để cho việc chấp hành được dễ dàng”( Hệ thống hoá luật lệ hình sự Tập I; Toà án nhân dân
Trang 28tối cao xuất bản năm 1975 tr.125) Một trong những lí do khiến TANDTC có sự
thay đổi này là “… sẽ có tác dụng thiết thực giáo dục, ngăn ngừa ngay đối với
người bị kết án Người bị kết án sẽ hiểu rằng nếu y lại phạm tội mới trong khi chờ xét xử lại, tức là y đã phạm tội mới trong thời gian thử thách…” (Hệ thống
hoá luật lệ hình sự Tập I; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1975 tr.132)
Ở các giai đoạn này, việc tồn tại các cách tính thời gian thử thách của ántreo cũng khác nhau cho thấy thiếu sự thống nhất trong thực tiễn xét, điều nàyrất dễ dẫn đến sự tuỳ tiện trong xét xử
Đến khi BLHS 1985 được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì cách tínhthời gian thử thách của án treo cũng chưa được quy định cụ thể trong luật Việcluật không quy định cụ thể cách tính thời gian thử thách của án treo đã gâykhông ít khó khăn trong công tác xét xử Việc tính thời gian thử thách của ántreo như thế nào lại phải dựa vào các văn bản hướng dẫn áp dụng BLHS
Trong văn bản hướng dẫn đầu tiên ngay sau khi BLHS 1985 có hiệu lựcpháp luật (Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, Toà án NDTC đã hướng
dẫn: “Thời gian thử thách là từ một năm đến năm năm, tính từ ngày bản án có
hiệu lực pháp luật (bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bản
án phúc thẩm cho hưởng án treo mới)”( Hệ thống các văn bản cần thiết cho
công tác kiểm sát Tập I VKSNDTC xuất bản năm 1991, tr.196) Cách tính nàygiống với cách tính theo hướng dẫn tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-
1961 Tuy nhiên, việc hướng dẫn như vậy lại gặp phải khó khăn Đó là trườnghợp người bị toà án cấp sơ thẩm phạt tù nhưng cho hưởng án treo, bản án đó bịkháng nghị, kháng cáo Trong thời gian chờ đợi toà phúc thẩm xét xử lại, ngườiphạm tội lại phạm tội mới Nếu toà án không coi đây là phạm tội mới trong thờigian thử thách thì sẽ không công bằng Người bị kết án trong thời gian chờ xét
xử phúc thẩm sẽ không bị coi là phạm tội trong thời gian thử thách nên khôngđược buộc họ thi hành hình phạt tù mà họ đã được hưởng án treo Như vậy, sẽkhông đảm bảo được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tái phạm Chính vì vậy, thờigian sau đó hướng dẫn này đã được thay thế bằng thông tư số 01/NCPL ngày 6-
Trang 294-1988, Toà án NDTC đã sửa lại: “Thời gian thử thách của án treo được tính từ
ngày tuyên án treo đầu tiên, cụ thể như sau:
- Nếu xử sơ thẩm thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án và phải ghi
rõ ngày, tháng, năm Nếu bị cáo đang bị tạm giam thì phải tuyên tha ngày bị cáo Nếu án sơ thẩm bị kháng cáo hay kháng nghị (kể cả trường hợp án sơ thẩm
đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm) mà khi xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm vẫn y án treo của án sơ thẩm thì thời gian thử thách cũng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nếu án sơ thẩm phạt tù giam, án phúc thẩm hoặc án giám đốc thẩm cải
án sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên
án phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm”( Hệ thống các văn bản cần thiết cho công
tác kiểm sát Tập I VKSNDTC xuất bản năm 1991, tr.230)
Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 của HĐTP TANDTC hướngdẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, tại mục II của Nghị quyếtquy định về thi hành án treo (tại Điều 44 BLHS 1985), có hướng dẫn về cách
tính thời gian thử thách như sau: “Thông tư số 01/NCPL ngày 6- 4-1988 có
hướng dẫn là thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên án treo đầu tiên tức là tuỳ trường hợp có thể là ngày tuyên án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm Cách tính này nhằm giải quyết cho người bị kết án đỡ bị thiệt thòi vì xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thường chậm Nay Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật Do
đó, từ này thống nhất tính thời gian thử thách của án treo từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật…” Hướng dẫn này lại nảy sinh những bất cập giống với
hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 5-1-1986
Như vậy, cách tính thời gian thử thách của án treo lại được sửa lại tạiNghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của HĐTP TANDTC Theo văn bản
này, cách tính thời gian thử thách được xác định như sau: “Để phát huy tác
dụng phòng ngừa của án treo, tránh tình trạng người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc
Trang 30thẩm hoặc phạm tội mới trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm mà không bị coi là phạm tội mới trong thời gian thử thách, từ nay thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo Nghĩa là: nếu Toà án cấp sơ thẩm cho người bị kết án hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; nếu Toà án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm; nếu cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đều không cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp giám đốc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án giám đốc thẩm; nếu Toà án sơ thẩm cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo nhưng Toà án cấp giám đốc thẩm lại cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm” Hướng dẫn tại Nghị quyết này đã được áp dụng
cho tới năm 2007 Có thể nói, cách tính thời gian thử thách này là hợp lí hơn cả,
và phát huy được tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm
Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2-10-2007 của HĐTP TANDTChướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án,miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt đã một lần nữa
hướng dẫn cách tính thời gian thử thách của án treo như sau: “Thời điểm bắt
đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo; cụ thể như sau:
a) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo (có thể mức hình phạt thay đổi) thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
b) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
c) Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ bản án