Việc Mĩ thay đổi các chính sách đối ngoại theo hớng ngợc lại với d luận trong nớc vàquốc tế, trái với xu thế phát triển của thời đại ắt hẳn không phải do nhữngnguyên nhân đơn giản.Từ chỗ
Trang 1Lời cảm ơn
Khoá luận này hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hớng dẫn Trần Thị Thanh Vân cùng với sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch Sử trờng Đại học Vinh Tôi xin bày tỏ sự biết ơn và lòng kính trọng tới các thầy cô giáo Chúc thầy cô sức khoẻ và hạnh phúc
Vinh, ngày 28 tháng 4 năm 2004 Tác giả
Trang 2Mục lục
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài……… 2
2 Lịch sử vấn đề……… 3
3 Đối tợng nghiên cứu……… 4
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu………… 4
5 Bố cục của đề tài……… 5
Chơng1 Nớc Mĩ và châu Mĩ La tinh thời cận đại……… 7
1.1 Vài nét về lịch sử nớc Mĩ……… 7
1.2 Cơ sở chính sách đối ngoại của Mĩ……… 10
1.3 Tình hình Châu Mĩ La tinh đầu thời kỳ cận đại…… 16
Chơng 2 Học thuyết Mônrô và chính sách của Mĩ đối với châu Mĩ La tinh ……… 22
2.1 Học thuyết Mônrô……… 22
2.2 Chính sách của Mĩ đối với Mĩ La tinh ……… 27
Chơng 3 Phong trào cách mạng ở các nớc Mĩ La tinh thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX……… 40
3.1 Bối cảnh lịch và bớc đầu của phong trào đấu tranh… 40 3.2 Phong trào cách mạng và sự ra đời các quốc gia độc lập……… 43
3.3 Phong trào đấu tranh chống sự bành trớng của Mĩ ở các nớc Mĩ La tinh ……… 49
3.4 Tiểu kết……… 55
Kết luận 57
Tài liệu tham khảo 64
Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến đổi Sự lớn mạnh của các tổ chức cực đoan, các đảng phản động… đã làm cho nhiều ngời quan tâm phải ái ngại Một trong những thay đổi lớn gây chú ý nhiều nhất cho đông
Trang 3đảo tầng lớp nhân dân cũng nh chính trị gia, chiến lợc gia của nhiều nớc trên thếgiới chính là sự thay đổi một số chính sách của nớc Mĩ- quốc gia hàng đầu thếgiới về kinh tế và quân sự.
Nớc Mĩ từ xa vốn là một quốc gia có giàu tiềm năng và lắm tham vọng,vậy những gì đang đổi thay của hiện tại phải chăng bắt nguồn từ quá khứ Việc
Mĩ thay đổi các chính sách đối ngoại theo hớng ngợc lại với d luận trong nớc vàquốc tế, trái với xu thế phát triển của thời đại ắt hẳn không phải do nhữngnguyên nhân đơn giản.Từ chỗ luôn dùng những chiêu bài “hoà bình”, “nhânquyền”, “dân chủ”…, để thực hiện hoạt động phá hoại nền chính trị nhiều nớc,dùng đồng đôla để nắm nền kinh tế và buộc các nớc phải lệ thuộc vào mình.Hiện nay, Mĩ lại dùng quân sự, dùng các loại vũ khí hiện đại, tối tân và quân
đội để đe doạ, cớp đoạt các dân tộc có đờng lối phát triển khác Mĩ Từ việcdùng các con bài “diễn biến hoà bình”, Mĩ chuyển sang chính sách dùng chiếntranh, dùng vũ lực để buộc các nớc quỳ gối quy thuận về mình Đó là nhữngthay đổi đáng suy ngẫm
Một trong những khu vực mà Mĩ quan tâm nhất trong chính sách đốingoại của mình đó là khu vực Mĩ La tinh Châu Mĩ La tinh là vùng đất mà giaicấp t sản Mĩ và những ngời cầm đầu chính phủ Mĩ khi nghĩ đến việc xâm chiếmthị trờng đã lập tức hớng về Mĩ La tinh, là các nớc láng giềng phía nam Mĩ đãtừng bớc gạt dần hoặc đẩy xuống hàng thứ yếu ảnh hởng từ các nớc t bản châu
Âu ở Mĩ La tinh Bằng mọi cách Mĩ đã thực hiện đợc kế hoạch của mình
Ngày 2-12-1823, tổng thống Mĩ – Giêm Mônrô chính thức tuyên bố chủtrơng của Mĩ đối với Mĩ La tinh nh sau: “Lục địa châu Mĩ đã chọn và duy trì đ-
ợc độc lập, tơng lai của nó không thể bị một cờng quốc châu Âu nào đô hộnữa.” Nh vậy chủ trơng đó của Mĩ nêu cao cái gọi là “chống sự xâm nhập của tbản châu Âu” Thực chất của khẩu hiệu này là gì, đó là đế quốc Mĩ muốn độcchiếm toàn bộ thị trờng châu Mĩ, trớc khi vơn tới nhiều khu vực khác trên thếgiới
Trang 4Đi đôi với cuộc tiến công bằng quân sự, Mĩ tăng cờng xâm nhập Mĩ Latinh bằng kinh tế: xuất khẩu t bản, tăng cờng đầu t trên quy mô lớn Thông qua
đó, dần dần đế quốc Mĩ tạo đợc một cơ sở kinh tế và một cơ sở xã hội để bớcvào khống chế đời sống chính trị các nớc này Đồng thời, Mĩ mở cuộc cạnhtranh lớn với các nớc t bản châu Âu có bỏ vốn ở Mĩ La tinh để dành quyền báchủ Mĩ La tinh Đó là “chính sách ngoại giao đồng đôla” của Mĩ
Mong muốn giải thích đợc phần nào những thay đổi của Mĩ trong hiện tại
và hiểu thêm về lịch sử nớc Mĩ cũng nh lịch sử ngoại giao của nớc Mĩ, đồngthời hiểu đợc những chính sách mà Mĩ đã sử dụng để biến “châu Mĩ là của ngờichâu Mĩ”, chúng tôi đã chọn đề tài: “ Châu Mĩ la tinh trong chính sách đốingoại của Mĩ thời cận đại” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
“Chính sách đối ngoại của Mĩ” nói chung và “Châu Mĩ La tinh trongchính sách đối ngoại của Mĩ thời cận đại” là đề tài mà đợc nhiều ngời quan tâmchú ý Chắc rằng sẽ có nhiều công trình của các học giả Âu- Mĩ và Liên Xô(cũ)viết về đề tài, song do trình độ ngoại ngữ có hạn nên bản thân cha có điều kiện
để tiếp cận và tham khảo ở Việt Nam, do điều kiện còn hạn chế nên các côngtrình chuyên khảo đầy đủ về vấn đề này hầu nh cha có Vấn đề cũng đã đợc
điểm qua trong các ấn phẩm thông sử trình bày khái quát về tiến trình lịch sử
n-ớc Mĩ nh: “Lịch sử nn-ớc Mĩ” của Lê Minh Đức và Nguyễn Văn Nghị”; “Hợpchủng Quốc Hoa kì” do Đào Huy Ngọc chủ biên; “Lịch sử nớc Mĩ” của VơngKính Chi… Đồng thời một số khía cạnh khác của vấn đề cũng đợc đề cập đếntrong các ấn phẩm nh là: “Kinh tế Mĩ” của Ngô Xuân Bình; “Hệ thống chính trị
Mĩ – cơ cấu và tác động đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại” do
Vũ Dơng Huân chủ biên; “Văn minh Hoa kì” của Giăng Pie Phisu; “Bốn mơihai đời Tổng thống Hoa Kì” của Đigrigôriô…
Trang 5Bên cạnh đó các ấn phẩm và bài viết của Mác-Ănghen, Lênin với nhữngnhận xét khách quan, khoa học là cơ sở cho đề tài về mặt phơng pháp luận.
Nhìn chung, với những t liệu đã tiếp cận đợc, trên cơ sở hệ thống các kếtquả nghiên cứu về nớc Mĩ trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII sang thế kỷXIX, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu hầu nh còn tản mản, chathực sự đi sâu vào vấn đề mà đề tài đề cập Vì thế, trên cơ sở kế thừa những kếtquả nghiên cứu của những ngời đi trớc, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu một cáchtoàn diện, có hệ thống về “châu Mĩ La tinh trong chính sách đối ngoại của Mĩthời cận đại”
3 Đối tợng nghiên cứu
Nh tên đề tài đã chỉ rõ, đối tợng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là: Châu
Mĩ La tinh trong chính sách đối ngoại của Mĩ thời cận đại Tuy nhiên để hiểu rõhơn chính sách đối ngoại của Mĩ nói chung và đối với Mĩ La tinh nói riêng,khoá luận này không thể không trình bày những nét khái quát về lịch sử và tìnhhình kinh tế, chính trị của nớc Mĩ thời cận đại
Trong khoá luận này, vì thời lợng có hạn nên chúng tôi chỉ đề cập đếnnhững nét khái quát nhất trong chính sách đối ngoại của Mĩ đối với châu Mĩ Latinh
Về giới hạn thời gian, khoá luận nghiên cứu toàn bộ chính sách đối ngoạicủa Mỹ đối với châu Mĩ La tinh thời cận đại
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
a Nguồn tài liệu.
Trang 6Khi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn do nguồn tàiliệu hạn chế Vấn đề này tuy đã đợc một số học giả nớc ngoài nghiên cứu trongcác ấn phẩm chuyên khảo, nhng các công trình cha đợc dịch sang tiếng Việtnên bản thân cha có điều kiện tiếp cận Do đó, khoá luận đợc thực hiện trên cơ
sở nguồn tài liệu đã công bố, trong đó chủ yếu là nguồn tài liệu mang tính tổnghợp về lịch sử nớc Mĩ và một số khía cạnh về kinh tế, chính trị, văn hoá… của n-
ớc Mĩ
Bên cạnh đó chúng tôi còn tham khảo một số tác phẩm kinh điển củaMác -Ănghen và Lênin cùng các bài viết trên các tạp chí của các học giả trongnớc
b Phơng pháp nghiên cứu.
Khoá luận dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử làm cơ sở phơng pháp luận cho việc nghiên cứu Trình bày sự kiện trungthực, xem xét sự vận động của lịch sử trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, từ đó
1.2 Cơ sở chính sách đối ngoại của Mĩ
1.3 Tình hình châu Mĩ La tinh đầu thời kì cận đại
Chơng 2 Chính sách của Mĩ đối với châu Mĩ La tinh
Trang 72.1 Học thuyết Mônrô
2.2 Chính sách của Mĩ đối với Mĩ La tinh
Chơng 3 Phong trào cách mạng ở các nớc Mĩ La Tinh thế kỷ XIX vànhững năm đầu thế kỷ XX
3.1 Bối cảnh lịch sử và bớc đầu của phong trào đấu tranh
3.2 Phong trào cách mạng và sự ra đời của các quốc gia độc lập 3.3 Phong trào đấu tranh chống sự bành trớng của Mĩ ở các nớc
Mĩ Đó là cuộc đấu tranh để xây dựng đợc bản Hiến pháp liên bang và thốngnhất trong việc củng cố và phát triển nhà nớc liên bang Mĩ vững mạnh Thực tếnớc Mĩ lúc này còn tồn tại nhiều vấn đề mâu thuẫn, những khó khăn cha thểgiải quyết đợc ngay trong một sớm, một chiều Và vấn đề xây dựng hệ thốngchính trị nh thế nào cũng là một trong những khó khăn đặt lên hàng đầu Lúcbấy giờ rất nhiều ngời Mĩ đã tỏ ra hoài nghi, lỡng lự không biết nên vui hay
Trang 8buồn; nên hồ hởi hay cam chịu đón nhận một chính phủ mạnh mang tính toànquốc Sở dĩ xuất hiện tâm trạng này ở ngời Mĩ vì họ đã chịu bao đau khổ dớithời đại thực dân Anh cai trị và họ lo sợ nghĩ đến tình cảnh tơng tự Mặt khác,
họ cũng ý thức đợc rõ ràng nếu chính phủ trung ơng quá yếu thì những nớc đếquốc đang lăm le nhòm ngó nh Anh, Pháp sẽ thừa cơ xâm nhập, hoặc tạm thờikhông nói đến ngoại xâm, nếu chính phủ trung ơng không đủ mạnh để giữthăng bằng cho toàn bộ tiểu bang, thì 13 bang trong nớc Mĩ sẽ tranh chấp nhaumãi, thậm chí có thể dẫn đến nội chiến Và nh vậy làm sao giữ yên đợc đất nớc.Tuy nhiên mọi mâu thuẫn đều đợc giải quyết , khúc mắc đợc giải toả trên sựthống nhất thông qua Hiến pháp để duy trì một chính phủ trung ơng vững mạnhvới hệ thống Toà án liên bang, Quốc hội liên bang và tổng thống Năm 1789,Gioócgiơ Oasintơn trở thành tổng thống đầu tiên của Hoa Kì và Giôn Ađam trởthành phó tổng thống.Trong nội các của Oasinhtơn có Thômat Giepphơsơn(Thomas Fefferson) làm bộ trởng ngoại giao và Alếchxanđơ Hamintơn(Alexander Hamilton) làm bộ trởng tài chính Từ Oasintơn trở đi, các đời tổngthống Hoa Kì luôn có ý thức tập trung cố gắng nhằm xây dựng một chính phủtrung ơng vững mạnh Đây là điều kiện thuận lợi nhất để sau này Mĩ có đợcchính sách đối ngoại hoàn hảo Sức mạnh của nhà nớc liên bang Mĩ đã đợcchính thức bằng việc nhanh chóng ổn định công việc trong nớc, hàn gắn vết th-
ơng chiến tranh, phát triển kinh tế… Đồng thời cũng thể hiện qua chính sáchbình đẳng với Anh, Pháp Đặc biệt, trong cuộc chiến tranh với Anh(1812-1814),
Mĩ đã bắt đầu cuộc chiến với t thế rất yếu, nhng sau chiến tranh lại nổi lên làmột dân tộc có sức mạnh mới Rõ ràng trong một số thời kì dài nớc Mĩ đangmạnh dần lên và sớm trở thành một cờng quốc trên thế giới
Khi đã hoàn thành việc xây dựng một nền tảng nhà nớc vững chắc, Mĩ cónhững kế hoạch khác mang tầm chiến lợc có ý nghĩa lâu dài hơn Năm 1816,Giêm Mônrô (James Monroe) đợc bầu làm tổng thống, cũng năm đó Henri Clây(Henrry Clay) đã đa ra trớc Quốc hội một kế hoạch gọi là “Hệ thống Mĩ”, kế
Trang 9hoạch đợc xây dựng với mục đích xây dựng một nớc Mĩ độc lập với phần cònlại của thế giới [11;22] Đến năm 1823, tổng thống Mônrô đã đa ra học thuyếtmới mang tên mình -“Học thuyết Mônrô” Học thuyết này nhằm khẳng địnhrằng “châu Mĩ của ngời châu Mĩ” và cảnh cáo với sự can thiệp của các nớc châu
Âu vào châu Mĩ Trên thực tế thì trong nhiều năm từ 1815-1840, dân tộc Mĩ trẻtuổi đã không ngừng vơn lên về mọi mặt Lãnh thổ nớc Mĩ đợc mở rộng, liênbang không chỉ là 13 tiểu bang nh ngày mới thành lập, mà đã thu hút nhiềubang khác Nền kinh tế phát triển mạnh với nhiều trung tâm thơng mại và côngnghiệp ở miền Bắc cùng các trang trại đồn điền rộng lớn ở miền Nam Tronggiai đoạn này kỹ thuật đợc cải tiến, nâng cao, nền sản xuất đợc cải tiến và pháttriển hơn Mặt khác hệ thống giao thông, thông tin liên lạc thuận lợi, tiện dụng
đã thúc đẩy hoạt động sản xuất trao đổi Vì thế, nền kinh tế Mĩ có những bớctiến nhảy vọt Sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế công thơngnghiệp t bản chủ nghĩa ở miền Bắc đòi hỏi những điều kiện thuận lợi để có thể
tự do tăng trởng, phát triển hơn nữa Những đòi hỏi này mâu thuẫn với cơ chếquản lí và phong cách sản xuất ở miền Nam – nơi còn tồn tại phổ biến chế độnô lệ Những lời kêu gọi, những cuộc đàm phán nhằm thuyết phục miền Nambãi bỏ chế độ nô lệ đợc đa ra Nhng miền Nam đã bác bỏ và cố gắng biện minhcho việc làm của mình rằng việc duy trì chế độ nô lệ là cần thiết và đúng đắn.Vấn đề nô lệ đã đẩy miền Nam và miền Bắc xa cách nhau Những khác biệtgiữa miền Bắc với miền Nam về kinh tế và cách sống đã chia rẽ nớc Mĩ Càngngày vấn đề nô lệ càng trở nên nóng bỏng và thoả hiệp 1850 chẳng qua chỉ làgiải pháp tạm thời thì đang mất dần hiệu lực theo thời gian Các cuộc khởi nghĩanô lệ liên tục nổ ra với sự giúp đỡ của ngời da trắng và mâu thuẫn gay gắt giữahai miền đã đẩy nớc Mĩ đến bên bờ vực thẳm của cuộc nội chiến
Nớc Mĩ đã không tránh khỏi nội chiến thảm khốc ấy (cuộc nội chiến kéodài từ 1860-1865), khi LinCôn (Abraham Lincon) một ngời chủ trơng xoá bỏchế độ nô lệ đợc bầu làm tổng thống nớc Mĩ, các bang miền Nam đã tách khỏi
Trang 10liên bang và thành lập liên bang mới Nớc Mĩ bị chia cách thành hai bang độclập và mâu thuẫn nhau Ngày 12/4/1861, nội chiến nổ ra khi quân đội của liênbang mới ở, miền Nam đã nổ súng vào Pho Xămtơ (fort Sumter) Cuộc nộichiến giữa miền Bắc và miền Nam, hay còn gọi là chiến tranh li khai, kéo dài vàgay gắt nhất trong lịch sử nớc Mĩ Dân miền Nam chiến đấu để bảo vệ chế độnô lệ và li khai khỏi liên bang Dân miền Bắc chiến đấu bảo vệ thống nhất liênbang và chấm dứt chế độ nô lệ Cả hai miền đều có những thuận lợi và khókhăn Cuộc chiến cũng có lúc nghiêng về bên này hay bên kia Song kết cục làmiền Bắc đã giành đợc thắng lợi quyết định và chế độ nô lệ đợc xoá bỏ hoàntoàn trên đất Mĩ Cuộc nội chiến tuy gây nhiều thiệt hại năng nề về ngời và củacải cho cả hai bên tham chiến, tàn phá nớc Mĩ, những nó cũng có tác dụng lớn
đối với nền kinh tế nớc Mĩ là đã gạt bỏ mọi cản trở cuối cùng của chế độ nô lệ,tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế t bản chủ nghĩa Mĩ phát triển mạnh tronggiai đoạn kế tiếp Phải thừa nhận rằng cuộc nội chiến đã tạo điều kiện ơm mầm
để nớc Mĩ hiện đại hình thành
Nội chiến kết thúc, nớc Mĩ bắt tay vào công việc hàn gắn vết thơng chiếntranh và phát triển đất nớc Thời kì tái thiết sau chiến tranh là thời điểm đầyphức tạp trong lịch sử nớc Mĩ, nhiều công việc chồng chất đòi hỏi phải giảiquyết Với nỗ lực hết mình, Mĩ đã giải quyết ổn thoả mọi việc Từ đó Mĩ vữngvàng, tự tin trong bớc đờng phát triển và vơn ra thế giới Chẳng mấy chốc, Mĩ
đã trở thành một đế quốc t bản chủ nghĩa và là một trong 4 cờng quốc hàng đầuthế giới vào cuối thế kỷ XIX
1.2 Cơ sở chính sách đối ngoại của Mĩ
Sau cuộc nội chiến kết thúc, nớc Mĩ có nhiều chuyển biến quan trong.Chủ nghĩa t bản thực sự xác lập và phát triển trên lãnh thổ nớc Mĩ Chú hải âunớc Mĩ đang dần dần đủ lông đủ cánh, từng bớc trởng thành và làm chủ bầu trời
Trang 11của nó Có thể khẳng định rằng chủ nghĩa t bản Mĩ đang phát triển cực kì mạnh
mẽ và đạt đợc những thành tựu đáng kể Để có sự phát triển kì diệu đó là nhờvào nhiều nguồn lực: trớc hết phải kể đến nguồn lực tự nhiên, những yếu tố mà
tự nhiên ban tặng cho nớc Mĩ Đó là một lãnh thổ rộng lớn, với nhiều dạng địahình phong phú, đa dạng, là khí hậu ôn hoà,là những dòng sông chở nặng phùsa; là những tài nguyên ẩn dấu trong lòng đất bao la cũng nh dới đại dơng sâuthẳm Tất cả những thuận lợi ấy tạo điều kiện để Mĩ có thể xây dựng một nềncông nghiệp vững mạnh, một nền công nghiệp phát triển
Thật là thiếu sót nếu ta quên đi yếu tố mang tính quyết định đối với mọitiến bộ của xã hội cũng nh phát triển quốc gia, đó là yếu tố con ngời Khác vớicác quốc gia khác, nớc Mĩ vùng đất của ngới nhập c Thực tế cho thấy rằng Bắc
Mĩ có sức hấp dẫn đối với nhiều ngời ở nhiều quốc gia Không chỉ lôi kéonhững ngời có tham vọng đổi đời, những ngời muốn thanh thản, tự do trong tinhthần xét về mặt tôn giáo… Bắc Mĩ còn thu hút đông đảo các tri thức lớn, các nhàkhoa học tài ba Chính những nhập c này đã tạo nên sức mạnh và trí tuệ Mĩ Họvừa là những ngời trực tiếp lao động đồng thời cũng là lực lợng thúc đẩy toàn xãhội phát triển Công sức, lí tởng và trí tuệ mà họ dâng hiến cho nớc Mĩ tronglịch sử đã đa nớc Mĩ thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Anh, giải thoát nớc Mĩkhỏi bế tắc, tù túng của chế độ nô lệ tồn tại dai dẳng, biến nớc Mĩ từ chú vịt conxấu xí thành chim đại bàng trong thế giới t bản chủ nghĩa Sẽ chẳng có ai dámphủ nhận uy lực của bàn tay, khối óc của con ngời cũng nh không một ngời nàonghĩ vai trò to lớn con ngời trong việc đa nớc Mĩ bớc những bớc vững chãi vàhiên ngang trong “thế giới tự do”
Một yếu tố nữa tác động không nhỏ đến sự phát triển nhảy vọt củakinh tế Mĩ mà ta không thể không nhắc đến là cuộc nội chiến với những tác
động to lớn của nó và cuộc cách mạng công nghiệp Đây là yếu tố trực tiếpnhất làm nên sự biến đổi thực sự của nớc Mĩ, liên quan mật thiết với sự toàn
Trang 12thắng của chủ nghĩa t bản trên toàn nớc Mĩ và là nguồn gốc của sự tăng trởngkinh tế.
Nhận thức đợc rằng “một gia đình bị chia rẽ, chống lại nhau thì khôngthể đứng vững đợc…Nhà nớc này không thể chịu đựng đợc mãi tình trạng nửanô lệ nửa tự do” (Lincôn,1858) Nớc Mĩ không thể duy trì mãi tình trạng haimiền hai chế độ khác nhau, mâu thuẫn nhau nh hai kẻ ích kỷ luôn kìm giữ chânnhau, mâu thuẫn nhau không cho ai phát triển Vì thế cuộc nội chiến nổ ranhằm giải quyết mọi mâu thuẩn gay gắt giữa hai miền Để cho cuộc nội chiến
nổ ra, có nghĩa là chấp nhận mọi biện pháp nhằm đạt đợc sự thống nhất kể cả sự
đau thơng Cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi của t sản công nghiệp MiềnBắc và nó làm đợc những việc vĩ đại Thực tế cho thấy cuộc nội chiến đã gạt bỏmọi trở ngại cuối cùng để đa nền kinh tế Mĩ cất cánh Chế độ nô lệ và nhữngtàn d của nó đợc xoá bỏ, những tiến bộ kỹ thuật đợc áp dụng vào sản xuất đãthổi vào nền kinh tế Mĩ một luồng sinh khí mới Các thành tựu của các cuộccách mạng công nghiệp đã đi vào sản xuất và làm nền cuộc cách mạng thực sựtrong sản xuất Và kết quả là Mĩ trở thành nớc có tiềm lực kinh tế đứng đầu thếgiới
Vào cuối thế kỷ XIX, nền công nghiệp Mĩ phát triển rất mạnh mẽ, với trữlợng sắt, đồng, bạc, chì, dầu lửa khổng lồ và sáng chế, phát minh của các nhàkhoa học, sản lợng công nghiệp Mĩ tăng lên đáng kể: 1894 sản lợng côngnghiệp Mĩ đã vợt xa các nớc khác, chiếm lĩnh vị trí hàng đầu với sản lợng bằng1/2 tổng sản lợng công nghiệp của các nớc tây Âu cộng lại và gấp hai lần sản l-ợng công nghiệp Anh Tổng chiều dài đờng sắt là 350.000km lớn hơn tổngchiều dài đờng sắt của tây Âu Mạng lới đờng sắt đã lan toả khắp nớc Mĩ, xuyênqua cả dãy núi lớn để nối liền miền Bắc và miền Nam, nối liền lại các vùng lạivới nhau, làm cho chi phí về thời gian và tiền của đi lại, trao đổi giữa các vùng,miền trở nên thuận tiện hơn, mạng lới đờng sắt lan rộng trong cả nớc đã làmcho tốc độ khai thác và phát triển công nghiệp mở rộng thị trờng Ngợc lại, sự
Trang 13phát triển công thơng nghiệp càng thúc đẩy xây dựng đờng sắt Cũng trong thời
kỳ này, vào những năm 1890, sản lợng công nghiệp luyện kim của Mĩ đã vợt xaAnh; vài năm sau vợt cả Anh và Đức cộng lại Cụ thể, năm 1860, sản lợng gangcủa Mĩ là 800 tấn và sản lợng thép cũng xấp xỉ con số này, đến năm 1900, sản l-ợng gang tăng 172,5% đạt 13.800 tấn, sản lợng thép là 10.200 tấn Công nghiệpkhai thác than cũng tăng nhanh(146,5%) từ 18,500 tấn vào năm 1860 lên20.000 tấn năm 1900
Sự phát triển công nghiệp đã tác động to lớn tới sự thịnh vợng và sứcsống mãnh liệt của nền kinh tế Mĩ Tuy nhiên bất chấp những thành tựu lớn laotrong công nghiệp, nền nông nghiệp vẫn là vấn đề căn bản của ngời Mĩ và làlĩnh vực làm nên sự khởi đầu ngọt ngào đầy hứa hẹn Với diện tích đất đai rộnglớn, màu mỡ của vùng đồng bằng duyên hải ven Đại Tây Dơng và đồng bằngtrung tâm, nớc Mĩ có đầy đủ điều kiện thuận lợi để tạo lập một nền nông nghiệpxứng đáng Cuối thế kỷ XIX, cuộc cách mạng trong nông nghiệp đã biến nềnnông nghiệp Mĩ từ tình trạng tự cung tự cấp thành nền nông nghiệp thơng mại
Điều đó đợc chứng thực không chỉ sự tăng lên nhanh chóng của con số cáctrang trại và diện tích canh tác trong những năm từ 1860 đến 1910, mà còn đợcchứng minh một cách thuyết phục bằng sản lợng nông sản và số lợng hàng hoá
đợc bán ra thị trờng Cụ thể trong khoảng thời gian từ 1860 đến 1900, sản lợnglúa mì tăng 4 lần, ngô tăng 3,5 lần, lùa kiều mạch tăng 5,5 lần Đồng thời Mĩcũng là nớc cung cấp cho thế giới nhiều thịt bò, lùa mì…nhất Vì thế, Mĩ trởthành vựa lúa của thế giới nói chung và của châu Âu nói riêng
Trong công việc kinh doanh, buôn bán nông sản này, Mĩ đã thu đợcnhững nguồn thu khổng lồ Chính điều đó có học giả đã nhận định rằng “ở Mĩ
có thể thấy ở khắp nơi những biểu hiện rõ ràng về sự thịnh vợng và phát triểnmạnh mẽ trong nông nghiệp và thơng mại”
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Mĩ không chỉ tạo nên một khối ợng sản phẩm khổng lồ còn tác động đến quá trình tập trung t bản và sự hình
Trang 14l-thành các tổ chức, các công ty độc quyền có tên gọi là Tơrớt Quy luật pháttriển của t bản cho thấy rằng kinh tế càng phát triển, sức cạnh tranh của hànghoá càng cao, sự đua tranh các tổ chức, các công ty ngày càng gay gắt Tronggiai đoạn tự do cạnh tranh, tất cả mọi cá thể kinh tế đều lao mình cuộc chiếnkhốc liệt của cơn lốc thị trờng và kết quả không ít kẻ bị cuốn đi, chỉ còn lạinhững kẻ đủ sức mạnh và giàu tham vọng tồi tại Trong cuộc chiến ấy hiện tợngcá lớn nuốt cá bé đợc thừa nhận nh một quy luật, vì thế sau một thời kì thửthách của phát triển và khủng hoảng, hàng loạt công ty bị phá sản, nhiều công
ty khác bị các công ty lớn thâu tóm và một số tập trung lại với nhau cùng hợptác để tăng sức mạnh nhằm đơng đầu với cơn sóng gió Các tổ chức lũng đoạn,những công ty độc quyền ra đời và nắm hầu hết nền sản xuất của quốc gia.Năm1910, sản phẩm công nghiệp của 100 xí nghiệp chiếm 44% tổng sản lợngcông nghiệp toàn quốc Các tổ chức lũng đoạn này thờng trởng thành lên trongcạnh tranh tự do nhng nó không tiêu trừ sự cạnh tranh âý mà nó song song tồntại Điều này làm cho quá trình tập trung t bản càng trở nên sâu sắc hơn vớihình thức cao nhất là Tơrớt, các tổ chức lũng đoạn, các công ty độc quyềnkhông chỉ nắm nền công nghiệp mà còn nắm cả nớc Mĩ, đời sống kinh tế Mĩ Với một thực tế rằng, đầu thế kỷ XX, quá trình tập trung t bản và tậptrung sản xuất diễn ra ngày càng mạnh mẽ Từ năm 1899 –1907, Tơrớt tăng từ
185 đến 200, sự ra đời và phát triển của “Công ty thép Mĩ” do Moóc Gan vàCacnêghi lãnh đạo với số vốn khoảng 1/3 tỷ đôla và 170.000 công nhân đã đẩynhanh quá trình tập trung t bản chủ nghĩa Sự ra đời của phố Uôn ở Niu -Yoócvới vị thế là trung tâm tài chính, chứng khoán thế giới cùng sự lớn mạnh củanền kinh tế Mĩ đã đa Mĩ từ một nớc có nền kinh tế phụ thuộc châu Âu trởthành quốc gia công nông nghiệp đứng đầu thế giới, chuyên xuất khẩu t bản với
số vốn tăng 50 lần trong vòng 14 năm (1899-1913), ngoại thơng đạt 5,5 tỷ đôla
“Rõ ràng Hoa Kì lại tự biến đổi từ một dân tộc nông thôn nông nghiệp đã trởthành một cờng quốc công nghiệp có nền tảng là thép và than, các con đờng sắt
Trang 15và sức hơi nớc”…Và sự xuất hiện phát triển của các Tơrớt thuộc nhiều ngànhcông nghiệp đã chứng tỏ rằng “Các Tơrớt Mĩ là biểu hiện cao nhất của nềnkinh tế của chủ nghĩa đế quốc hay chủ nghĩa t bản độc quyền” (Lênin )
Sự thịnh vợng của nền kinh tế Mĩ và sự phồn vinh của đế quốc t bản chủnghĩa này đã thúc đẩy lòng kiêu hãnh của quốc gia, ý thức về vị trí của mìnhtrong thế giới tự do, nớc Mĩ cảm thấy mình xứng đáng ở vị trí cao hơn Vì thế,giới cầm quyền Mĩ đã có những kế sách mới về đối nội cũng nh đối ngoại.Những chính sách này đều bắt nguồn từ những biến đổi sâu sắc của nớc Mĩ và
đặt cơ sở cho nền tảng ngoại giao của nớc Mĩ về sau Cũng kể từ đây chính sáchngoại giao nớc lớn ra đời và dần dần đợc hoàn thiện
Qúa trình tập trung t bản và sản xuất đợc đẩy mạnh nền kinh tế Mĩ pháttrển vợt bậc đồng nghĩa với việc khối lợng sản phẩm làm ra ngày càng nhiềuhàng hoá phong phú và đa dạng hơn, nền thơng mại đợc đẩy mạnh Điều nàydẫn đến tình trạng “vì luôn luôn bị thúc đẩy về nơi tiêu thụ mới, giai cấp t sảnxâm lấn khắp toàn cầu Nó phải xâm nhập vào khắp nơi và thiết lập những mốidây liên hệ khắp nơi” Quả thật, nhu cầu thị trờng vào thời điểm này trở nên bứcthiết hơn bao giờ hết vì Mĩ là đế quốc trẻ không có nhiều thuộc địa nh các đếquốc già ở châu Âu Vơn lên chủ nghĩa đế quốc khi lãnh thổ thế giới đã chiaxong, Mĩ không còn khoảng trống nào để giải quyết vấn đề của mình.Vì thế Mĩmơ đến những vùng đất hứa giàu có của các đế quốc châu Âu lâu đời
Hơn nữa trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, lợi nhuận bình quân do đầu
t mang lại đã không thoả mãn các nhà t bản Để có thể đánh bại những kẻ kình
địch trong cuộc cạnh tranh tàn khốc, đặc biệt là trên thị trờng thế giới, nhà t bảnlũng đoạn đòi hỏi phải thu đợc lợi nhuận tối đa Quy luật kinh tế t bản của chủnghĩa t bản lũng đoạn là dùng biện pháp nô dịch và không ngừng cớp đoạt cácnớc khác, dùng biện pháp chiến tranh, quân sự hoá nền kinh tế nhằm đảm bảolợi nhuận t bản tối đa
Trang 16Trớc hết t bản lũng đoạn mua nguyên vật liệu với giá hết sức rẻ mạt vàtiêu thụ hàng công nghiệp với giá hết sức đắt ở các nớc lạc hậu Tuy nhiên cái
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là xuất cảng t bản Thông qua sự cho vay có tínhchất nô dịch, thông qua việc buôn bán, vận tải,đầu t cục bộ vào các ngành côngnghiệp nhẹ ở các nớc lạc hậu, t bản đã đem lại cho các đế quốc công nghiệpnhững món lời khổng lồ Mỗi đồng đôla dùng vào việc không ngừng xâm lợccác nớc phơng Đông, khi trở về chính quốc đã lớn lên thành hàng ngàn đồng
Thực tiễn cho thấy việc bóc lột các nớc thuộc địa và nửa thuộc địa ở
ph-ơng Đông, châu Phi và Mĩ La tinh- Những khu vực có sức lao động rẻ mạt, côngnghiệp dân tộc yếu ớt, nguyên liệu phong phú, dồi dào, đã đem lại nguồn lợinhuận đặc biệt cao Điều này đã thu hút sự chú ý của nhiều đế quốc và chẳngkhác nào là “bữa tiệc thịnh soạn” trớc con mắt những kẻ khổng lồ háu đói.Không ít những kẻ muốn chiếm đoạt cho riêng mình, song để làm đợc thậtkhông dễ Đế quốc Mĩ không phải không có tham vọng nắm đợc những khu vựcnày nhng với điều kiện và hoàn cảnh lúc bấy giờ, Mĩ tự thấy cha đủ khả năng đểthực hiện ớc nguyện ấy Khôn khéo, Mĩ quyết định tiến hành từng bớc
1.3 Tình hình châu Mĩ La tinh đầu thời cận đại
Châu Mĩ La tinh là một bộ phận rất rộng lớn của châu Mĩ, chạy dài từsông Riô Grănđê, ở vĩ tuyến 380 Bắc, xuống đến mỏm cực Nam của đảo ĐấtLửa, ở vị tuyến 560 Nam, bao gồm một phần Bắc Mĩ, toàn bộ Trung, Nam Mĩ vàtất cả những hòn đảo lớn nhỏ ở vùng biển Caraip, có diện tích khoảng 21 triệucây số vuông, bằng 15% diện tích nổi của quả đất
Theo thống kê năm 1963 dân số châu Mĩ La tinh có 220 triệu ngời, baogồm nhiều chủng tộc: ngời Inđian là ngời chủ lâu đời của địa phơng, ngời datrắng di c tới, ngời da đen từ châu Phi bị bọn con buôn châu Âu bắt đem sangbán làm nô lệ cho bọn thực dân da trắng và những ngời lai các giống ngời trên
Trang 17Do ảnh hởng của chủ nghĩa thực dân chân Âu kéo dài trên ba thế kỷ (từthế kỷ XVI –XIX), đa số các dân tộc châu Mĩ La tinh nói tiếng Tây Ban Nha,riêng ngời Braxin nói tiếng Bồ Đào Nha, ngời Haiti và dân ở vùng khác nóitiếng Anh Nhìn chung tiếng nói của 200 triệu ngời trên lục địa này thuộc ngữ
hệ La tinh Ngời ta gọi bộ phận của châu Mĩ này là Châu Mĩ La tinh chính vì
lẽ đó
Trải qua nhiều biến đổi lịch sử, hiện nay châu Mĩ La tinh có 23 nớc cộnghoà lớn nhỏ đợc bố trí nh sau: một nớc thuộc Bắc Mĩ là Mêhicô, 6 nớc thuộctrung Mĩ là Goatêmala, Hônđurat, Xanvađo, Nicaragua, Côxtarica và Parama; 5nớc thuộc quần đảo Ăngti là Cuba, Haiti, Dôminica, Giamaica và Tơriniđat –Tômagô ( 2 nớc sau này mới đợc Anh trao trả độc lập 1962); 11 nớc thuộcNam Mĩ: Côlômbia, Vênêzuêla, Êcuađo, Pêru, Bôlivia, Paragoay, Urugoay,Chilê, Acjăntin, Braxin và Tây Guyana (nớc sau này; mới đợc Anh trao trả độclập 1966) Ngoài ra cho mãi tới nay ở châu Mĩ La tinh vẫn còn có những thuộc
địa chính cống của các nớc đế quốc nh Puertô Ricô thuộc Mĩ, Trung Guyanathuộc Hà Lan, Đông Guyana và một số đảo nhỏ khác thuộc Pháp, một phầnHônđurat và nhiều đảo nhỏ khác thuộc Anh
Châu Mi la tinh là một khu vực rất đẹp và giàu có Phần lớn đất đai củaChâu Mĩ La tinh nằm trong miền nhiệt đới, khí hậu nóng, ẩm, ma nhiều nên cây
cỏ tốt tơi cảnh sắc thiên nhiên rực rỡ
Dãy núi Ăngđơ hùng vĩ, uốn khúc ven theo bờ biển phía tây lục địa Nam
Mĩ, là dãy núi dài nhất thế giới Phía đông dãy núi này là những cao nguyên vàbình nguyên mênh mông
Rừng Châu Mĩ La tinh bao phủ trên 40% diện tích lục địa, có tới mấyngàn loại cây, trong đó có nhiều loại cây quý và nhiều lâm sản kỳ lạ nh: Cây
“Carêtô” rắn nh thép và không bao giờ mọt dùng làm tà vẹt và đờng sắt rất tốt,cây “campanô” tỉ trọng nhỏ hơn nớc 6 lần mà lại bền nên rất có giá trị trongcông nghiệp đóng tàu thuỷ, cây “Bêjucô” có từng chuỗi quả dài nớng lên ăn t-
Trang 18ơng tự nh bánh mì, cây “Vaca” cung cấp một thứ nhựa có nhiều chất bổ nh sữabò…
Sông ngòi châu Mĩ La tinh chằng chịt khắp nơi, rất thuận tiện cho việcgiao thông đờng thuỷ là nguồn cung cấp nớc dồi dào cho nông nghiệp và lànguồn năng lợng rất lớn để phát triển thuỷ điện Con sông Amazôn và các chinhánh của nó bắt nguồn từ dãy núi Ăngđơ chạy về bờ biển về bờ biển phía đônglục địa Nam Mĩ đã tạo nên một vùng đất bồi lớn nhất thế giới chiếm tới một 1/4toàn bộ diện tích của lục địa này Châu thổ của các con sông khác nhRiôgranđê, Ôrênnôcô, Parana… cũng là những đồng bằng bát ngát màu mỡ rấtthuận tiện cho việc chăn nuôi
Nông sản phẩm ở châu Mĩ La tinh rất phong phú, gồm có lúa mì, ngô,khoai, đỗ, bông, đay… và các loại cây ăn quả Vùng trung Mĩ có rất nhiều loạichuối, cây chuối cao tới 4,5 mét, mỗi buồng nặng tới 30 đến 35 kg Mía Trung
Mĩ và quần đảo Ăngti cũng rất nhiều; thân mía cao tới 3 mét và tỷ lệ đờng trongmía rất cao Càfê, cacao, thuốc lá của châu Mĩ La tinh nổi tiếng ngon và nhiều.Nhìn chung châu Mĩ La tinh sản xuất 35% ca cao, 50% đờng mía, 70% chuối,80% cà phê của thế giới t bản
Lòng đất châu Mĩ La tinh tập trung rất nhiều kim loại quý và nhữngkhoáng sản có ích, chiếm tới 68% trữ lợng tất cả các loại khoáng sản của thếgiới t bản Vàng, bạc ở châu Mĩ La tinh có rất nhiều, tiếp đó là kim cơng, bạchkim Những mỏ bạc ở Mêhicô chiếm 45% trữ lợng bạc toàn thế giới, đã đợckhai thác trên 400 năm nay mà số còn lại vẫn hầu nh vô tận Braxin đứng hàng
đầu thế giới t bản về trữ lợng quặng sắt với 12 tỷ tấn, ngoài ra còn có đồng ởPêru, thiếc ở Bôlivia… nhiều nơi nổi tiếng và dễ khai thác Hầu hết các nớc Mĩ
La tinh đều có dầu lửa, nhiều nhất là ở Vênêxuêla, là nơi tập trung 69% trữ lợngdầu lửa của toàn châu Mĩ La tinh và hiện đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩudầu lửa Ngoài ra châu Mĩ La tinh còn có các mỏ kẽm (chiếm 14 trữ lợng thế
Trang 19giới), chì (hơn 1/5 trữ lợng toàn thế giới) và các nguyên liệu chiến lợc khác nh:Nhôm, vônfram, Bốcxít, Mănggan, Vanađium, Tôrium và Uranium.
Với điều kiện khí hậu thuận lợi, ruộng đất phì nhiêu và tài nguyên phongphú nói trên, lẽ ra châu Mĩ La tinh có thể phát triển toàn diện nền kinh tế củamình và theo sự tính toán của các nhà khoa học thì có thể nuôi sống đợc khôngphải là mấy trăm mà là một nghìn triệu ngời với mức sống cao Song, cho mãi
đến ngày nay các nớc châu Mĩ La tinh vẫn không có đợc một nền kinh tế tự chủ
và phát triển toàn diện Nhân dân châu Mĩ La tinh mặc dầu có mật độ vào loạithấp nhất thế giới (10 ngời/1km2) vẫn phải sinh sống trong điều kiện khổ cực vàlạc hậu [10; 9]
Về chế độ kinh tế – xã hội, tuyệt đại đa số dân c châu Mĩ La tinh làmnghề nông Phần lớn đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà vua Tây Ban Nha, của
địa chủ và Giáo hội Những kẻ cầm đầu Giáo hội là những tên địa chủ lớn nhất,chiếm 1/3 số đất đai Giáo hội ở Tân Tây Ban Nha đã dùng một nửa diện tích
đất đai của họ để lập đồn điền, hầm mỏ; tiến hành những hoạt động tài chính vàcho vay nặng lãi Phần lớn ngời dân Inđian làm tá điền hoặc nô lệ từ thời cha
đến thời con cháu Một bộ phận các bộ lạc Inđian sống trong rừng núi vẫn giữnguyên chế độ công xã thị tộc Trong một số vùng nh Braxin, Laplata, TânGranađa cũng có nông dân tự do, nhng số ngời này chủ yếu làm nghề chănnuôi Bọn thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vẫn duy trì và tăng cờng cácquan hệ phong kiến cũ Để thực hiện mục đích bóc lột, chúng áp dụng ở đâymột chế độ gọi là “tô lao dịch” kéo dài hơn 200 năm, từ 1503 – 1720 Dới chế
độ này, những ngời nông nô hàng năm phải làm việc không công cho bọn chúa
đất từ 200 đến 300 ngày Từ năm 1720 trở đi, chúng thay thế chế độ “tô laodịch” bằng chế độ “đồn điền lớn” (Latifundia)
Ngời nông nô làm việc trong các đồn điền, đợc phép lấy công trừ nợ, khinào sạch sợ sẽ đợc giải phóng Nhng thực tế, những ngời nông nô vẫn bị cộtchặt vào mảnh đất của bọn đại địa chủ, không bao giờ có thể trả hết đợc nợ
Trang 20Trong các hầm mỏ, đồn điền, các công trình giao thông, xây dựng và trong cáccông việc khai thác kim loại quý, bọn thực dân Tây Ban Nha cũng nh Bồ ĐàoNha thiết lập chế độ lao dịch cỡng bức để ép buộc ngời Inđian và ngời da đenlàm việc Ngay từ khi bọn thực dân bình định xong khu vực Mĩ La tinh, chúng
đã đa rất nhiều nô lệ da đen tới và chỉ trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XV
đến đầu thế kỷ XIX bọn lái buôn nô lệ da đen đã chuyển tới Châu Mĩ hơn 60triệu ngời dân cùng khổ từ Châu Phi đến Họ bị xô đẩy ngay vào những côngviệc khổ sai cực kỳ nặng nhọc, bị chà đạp dới báng súng và roi vọt của nhữngtên lính gác, bọn chủ mỏ và chủ đồn điền, bị giày vò vì đói rét, bệnh tật vànhững tai nạn lao động Họ cũng nh ngời dân Inđian phải làm việc khổ saikhông công hoặc may ra chỉ đợc trả một số tiền công rất ít ỏi Tính ra cứ 5 ngời
đi làm việc trong hầm mỏ, chỉ may ra còn một ngời sống sót trở về Bọn thựcdân một mặt vơ vét kim loại quý, một mặt đua nhau lập đồn điền Những tênthực dân cai trị chính là những chủ đồn điền và chủ mỏ lớn nhất, nắm trong tayhàng chục vạn nô lệ
Chủ nghĩa thực dân thiết lập ở các thuộc địa Mĩ La tinh chế độ thống trịrất phản động Chúng chia thành nhiều khu vực và đặt mỗi vùng một tên toànquyền Bên cạnh viên toàn quyền là bộ máy đàn áp, bóc lột khổng lồ bao gồmquân đội, cảnh sát, bọn chủ mỏ và chủ đồn điền Nhân dân ở đây không biết đếnquyền chính trị, tình trạng bất bình đẳng về chủng tộc rất phổ biến Mọi quyềnhành chính trị, quân sự, t pháp, giáo hội… đều tập trung vào tay những ngời sinh
ra ở chính quốc Ngay cả những ngời sinh ra ở Tây Ban Nha sinh trởng ở thuộc
địa, thờng gọi là ngời Criôlô cũng bị phân biệt đối xử và thực ra trong công việccai trị, họ cũng bị gạt ra ngoài Nhà thờ công giáo là một công cụ để nô dịch cácdân tộc Mĩ La tinh Nó cản trở việc du nhập và phổ biến sách báo tiến bộ, đàn
áp bất cứ t tởng tự do nào và trấn áp các khuynh hớng tiến bộ
Lịch sử phát triển của Mĩ La tinh là cả một quá trình đấu tranh anh dũng,lâu dài chống chủ nghĩa thực dân [13; 546]
Trang 21Nh vậy, qua việc tìm hiểu về tình hình của nớc Mĩ và châu Mĩ La tinhthời cận đại cho chúng ta thấy rằng sự lạc hậu của châu Mĩ La tinh chính là điềukiện thuận lợi để cho các nớc t bản phơng Tây nói chung và đế quốc Mĩ nóiriêng nhảy vào xâu xé Với điều kiện địa lí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiênphong phú với trữ lợng lớn, trình độ dân trí thấp, châu Mĩ La tinh nhanh chóngtrở thành mục tiêu chủ yếu của một đế quốc trẻ đầy tham vọng đó là Hoa Kì.Cũng từng là thuộc địa của thực dân Anh, nhng sau khi giành đợc độc lập, đồngthời gạt bỏ đợc mọi cản trở trên con đờng phát triển, Hoa Kì đã tiến nhanh trêncon đờng kinh tế t bản chủ nghĩa và đã trở thành một quốc gia mạnh – cả vềtiềm lực kinh tế cũng nh quân sự Và tất nhiên, sự phát triển của Hoa Kì cũng
đồng nghĩa với việc cần phải tìm ra những vùng đất mới giàu tiềm năng Hoa Kì
đã không ngừng vơn lên, không ngừng bành trớng thế lực ra bên ngoài nhằm
mở rộng biên giới lãnh thổ Bên cạnh một quốc gia trẻ đầy tham vọng nh vậy,châu Mĩ La tinh lại là một khu vực lạc hậu, mặc dù đợc thiên nhiên u đãi Sựlạc hậu của châu Mĩ La tinh phải kể đến “công sức” của Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha Hai quốc gia này đã tiến hành xâm lợc Mĩ La tinh từ rất sớm và đặt
ách cai trị ở khu vực này rất nghiêm ngặt, hạn chế sự phát triển về kinh tế côngnghiệp, kìm hãm dân trí… Chính lẽ đó châu Mĩ La tinh đã ngày càng tụt hậu.Nhng với tinh thần quốc gia dân tộc, ham muốn sống tự do, hoà bình, nhân dânchâu Mĩ La tinh đã không ngừng đấu tranh để vơn tới chân lý tốt đẹp
Chơng 2
Trang 22Mĩ cần một học thuyết kế thừa đợc toàn bộ những giá trị truyền thống ấy vàHọc thuyết Mônrô đã đáp ứng đợc trọn vẹn những điều kiện trên.
Trớc những mối lo ngại rằng Tây Ban Nha có thể sẽ giành dật lại cácthuộc địa cũ của nớc này ở châu Mĩ La tinh và Nga có thể mở rộng quyền khaithác của mình ở Alasca sang cả vùng Oregon, tổng thống Mônrô liền lập tức gửitới Quốc hội bản thông điệp vào ngày 02/12/1823, trong đó có lời cảnh cáo cáccờng quốc châu Âu không đợc phép can thiệp vào bán cầu phía Tây nớc Mĩ này.Bức thông điệp ấy đợc biết đến dới cái tên “Học thuyết Mônrô” Nớc Anh thấycác quyền lợi thơng mại của mình sẽ đợc đáp ứng tốt hơn nếu châu Mĩ La tinh
đợc độc lập nên đã đề nghị Mĩ cùng ra thông cáo chung Tuy nhiên, Bộ trởngngoại giao John Quicy Adams đã thuyết phục đợc Tổng thống hãy ra một tuyên
bố riêng của phía Mĩ nhằm tránh hiện tợng “Chiếc thuyền nhỏ theo gót tàuchiến Anh” Song, tất cả đều hiểu rằng để Học thuyết Mônrô có hiệu lực thì Mĩvẫn cần phải dựa vào thế mạnh vốn có của nớc Anh trên biển Với việc khẳng
định: “Các lục địa thuộc Mĩ, sẽ không đợc xem là đối tợng để bất kỳ một cờngquốc châu Âu nào biến thành thuộc địa trong tơng lai”, Mônrô đã đặt nền tảngcho chính sách ngoại giao của Mĩ trong quãng thời gian còn lại của thế kỷ XIX[16; 181]
Trang 23“Học thuyết Mônrô” có 3 điểm chính: 1, Các nớc châu Mĩ không còn lànơi để các cờng quốc châu Âu tiến hành thực dân hoá; 2, Hoa Kì sẽ chống lạibất kỳ hành động can thiệp nào vào các nớc Mĩ La tinh; 3, Mĩ sẽ không canthiệp vào công việc của bất kỳ nớc châu Âu nào[11; 34].
Về thực chất, “Học thuyết Mônrô” nhằm bảo vệ quyền lợi thống trị của
Mĩ ở châu Mĩ và gạt ảnh hởng của các nớc châu Âu ra khỏi khu vực
Thông điệp của tổng thống Gioocgiơ Oasinhtơn cực kỳ rõ ràng: Mĩkhông đợc dính vào công việc của châu Âu nếu không muốn họ cũng sục vàocông việc của mình “Học thuyết Mônrô” cụ thể hoá thêm lời khuyên ấy Họcthuyết nhấn mạnh rằng các cờng quốc châu Âu không đợc chiếm thêm thuộc
địa mới trên lục địa châu Mĩ nữa và cũng không bao giờ đợc có mu đồ áp đặtchế độ chính trị cũng nh kinh tế ở đó Giao thông tự do trên các đại dơng cũngphải đợc đảm bảo Đổi lại ngời Mĩ sẽ không can thiệp vào châu Âu Có ngờicho rằng học thuyết này mang tính phòng vệ, một số khác lại tin là nó phản ánhthực lực của Mĩ Nhiều ngời cũng có những ý kiến khác nhau Nhng dù thế nào
đi chăng nữa cũng khó mà phủ nhận đợc một thực tế lịch sử là:
Vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, miền Trung Mĩ và Nam
Mĩ đang trở nên sôi động và bị xáo động trớc làn sóng cách mạng T tởng tự do
đã khuấy động nhân dân từ thời 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ giành đợc độclập Sự suy yếu của đế quốc Tây Ban Nha sau cuộc chinh phục của Napôlêôngnăm 1808 đã trở thành tín hiệu cho nhân dân Mĩ La tinh vùng lên khởi nghĩa
Đến năm 1822, dới sự lãnh đạo tài tình của Ximông Bôliva, Phơ răngxitMiranđa, Giôgiê đờ MacTanh, tất cả Mĩ La tinh từ Achentina và Chi Lê ở MiềnNam tới Mêhicô và Caliphoocnia ở Miền Bắc đều đã giành đợc độc lập khỏimẫu quốc Ngay lập tức, Mĩ nhanh chóng công nhận các quốc gia mới này,
đồng thời tiến hành trao đổi đại sứ với các nớc ấy Sự công nhận đó đã khẳng
định uy tín của họ với t cách là quốc gia độc lập thực sự đợc tách khỏi nhữngmối ràng buộc trớc kia với châu Âu
Trang 24Giải thích hành động vội vàng này của Mĩ, không ít học giả ngôn ngữ Mĩ
đã cho rằng: “Mĩ quan tâm sâu sắc đến những cuộc cách mạng của nhân dân Mĩ
La tinh vì đây dờng nh là một cuộc diễn tập lại những kinh nghiệm của chính
họ trong việc phá bỏ quyền thống trị của châu Âu Những phong trào đòi độclập ở Mĩ La tinh đã khẳng định niềm tin nơi họ về quyền độc lập Hơn nữa, Mĩ
có đủ lí do để khuyến khích các phong trào độc lập của nhân dân Mĩ La tinh vìnhững nớc mới đợc giải phóng này sẽ là những thị trờng của chủ nghĩa t bản Mĩ
đang phát triển Song, ta lại tự hỏi rằng: trong thế bị kìm kẹp, nhòm ngó của cácnớc t bản châu Âu với vị trí hớng đạo cho các quốc gia mới ra đời, Mĩ thích cáigì hơn? Không một ai nghi ngờ tham vọng của Mĩ trong tơng lai khi nó đangvùng vẫy để thoát khỏi những cái bóng khổng lồ của những tên đế quốc già nuakia, cũng nh không một ngời nào lại không tin một cách chắc chắn vào việc Mĩ
đang khẳng định tiếng nói của mình trên trờng quốc tế, tuy hành động đó đợcche đậy một cách khéo léo và kín đáo
Dờng nh không ai hiểu gì về tâm lí của dân tộc trẻ tuổi này, nớc Nga SaHoàng đã không ngần ngại bày tỏ tham vọng của mình ở Oregon khi tuyên bốlãnh thổ của Nga kéo dài tới vĩ tuyến 510 (phía Nam Alasca) và cấm tàu bè bất
cứ nớc nào thâm nhập vào hải phận 100 hải lý kể từ bờ biển (1821) Khôngdừng lại ở đây, nớc Nga còn cùng các đồng minh trong Liên minh thần thánh vànớc Pháp cam kết ủng hộ nền quân chủ chuyên chế chống lại các cuộc cáchmạng, ủng hộ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chiếm lại thuộc địa cũ đã mất ở Mĩ
La tinh Nếu nh trớc đây, khi Liên minh thần thánh còn giới hạn hoạt động củachúng trong phạm vi Cựu thế giới thì cha gây lo lắng cho Mĩ, nhng khi các nớcnày bày tỏ quan điểm, ý định muốn phục hồi các thuộc địa cũ của Tây Ban Nha
và Bồ Đào Nha thì ngời Mĩ bắt đầu lo âu Về phần mình, nớc Anh có những lợiích thơng mại quan trọng với các nớc cộng hoà non trẻ ở Mĩ La tinh nên cũng longại không kém Muốn ngăn ngừa hành động ấy, Luân Đôn vội vàng hối thúc
Mĩ đa ra bản thông cáo chung Anh – Mĩ đối với khu vực Mĩ La tinh Tuy
Trang 25nhiên Mĩ đã quyết định hành động đơn phơng Quyết định này phải chăng vìkiêu hãnh hay vì lý do nào khác? Không phải ngẫu nhiên, đơn giản mà Bộ trởngngoại giao Mĩ John Adams nhấn mạnh: “Sẽ là ngay thẳng, chân thật hơn, cũng
là đờng hoàng hơn khi ta tuyên bố những nguyên tắc của chúng ta một cách rõràng với Nga và Pháp so với việc bớc lên một con thuyền nhỏ chạy theo tàuchiến của Anh” Rõ ràng, Mĩ không muốn dính líu đến Anh hay phải dựa vào
đế quốc châu Âu này Mĩ muốn khẳng định sự trởng thành và phát triển củamình, đồng thời muốn chứng tỏ sức mạnh của một dân tộc trẻ tuổi Cả một thờigian dài trong lịch sử đau thơng dới sự thống trị của thực dân Anh, Mĩ đã đúcrút đợc nhiều bài học kinh nghiệm quý báu Tuy nhiên, “Học thuyết Mônrô” bị
lờ đi, bị chế diễu, thậm chí bị coi nh “một trò bịp ngoại giao” nếu không có mộtsức mạnh quân sự đứng đằng sau, mà Mĩ lại cha có điều đó Chính vì thế, không
ai lại không hiểu rằng học thuyết này có hiệu lực thì ngời Mĩ phải dựa vào thếmạnh vốn có của Anh trên biển Vấn đề củ ngời Mĩ là làm sao lợi dụng đợc sứcmạnh của Anh mà không bị lệ thuộc vào Anh và vẫn khẳng định đợc vị thế củamình Đang băn khoăn cha biết làm thế nào thì Mĩ nh đợc giải thoát khỏi mọi lolắng khi biết rằng hải quân Anh sẽ bảo vệ Mĩ La tinh chống lại Liên minh thầnthánh và Pháp nếu các đế quốc này tiến hành xâm lợc Chụp lấy cơ hội thuận lợinày, ngày 02/12/1923 nhân dịp gửi thông điệp hàng năm tới Quốc hội, Tổngthống Mônrô đã gửi thông cáo công bố những điều mà sau này nổi tiếng với cáitên “Học thuyết Mônrô” – Chối từ việc chấp nhận bất cứ một sự mở rộngthống trị tiếp theo của châu Âu ở các nớc châu Mĩ Thông điệp chỉ rõ: “Cáclục địa châu Mĩ từ nay trở đi không đợc coi là đối tợng cho việc thực dân hoátrong tơng lai do bất kỳ cờng quốc châu Âu nào tiến hành
Chúng ta phải coi bất kỳ toan tính nào về phần họ nhằm mở rộng hệthống (chính trị) của họ tới bất cứ bộ phận nào của bán cầu này là nguy hiểm
đối với hoà bình và an ninh của chúng ta Chúng ta đã không can thiệp và sẽkhông can thiệp vào những thuộc địa hay các xứ phụ thuộc nào của bất cứ cờng
Trang 26quốc châu Âu hiện đang tồn tại Nhng với những chính phủ đã tuyên bố độc lậpcủa mình và bảo vệ nền độc lập ấy và đợc chúng ta thừa nhận thì chúng ta phảicoi bất kỳ một sự can thiệp nào nhằm mục đích áp chế họ hay kiểm soát sốphận của họ bằng bất kỳ phơng thức nào, do bất cứ cờng quốc Châu Âu nàothực hiện là một khuynh hớng thù nghịch đối với nớc Mĩ…”
Với bản thông cáo này, nớc Mĩ đã khẳng định châu Mĩ của ngời Châu
Mĩ, yêu cầu các cờng quốc châu Âu phải tôn trọng u thế của Mĩ đối với lục địanày, đồng thời cũng cảnh cáo, đe doạ các nớc có tham vọng biến những nớccộng hoà non trẻ nơi đây thành thuộc địa Cũng thông qua đây Mĩ gián tiếptuyên bố quyền làm chủ châu Mĩ của mình Từ thời điểm ngời Mĩ bắt đầu lêntiếng khẳng định vị thế của mình trong các vấn đề lớn mang tính quốc tế Còncác sử gia Mĩ thì hết lời ca ngợi học thuyết này khi cho rằng đó là một thủ đoạnphòng ngự, là biện pháp tự vệ, là những lời hữu nghị, hoà bình
Từ thời lập quốc, do những kinh nghiệm đau thơng của những năm sốngdới sự đô hộ của đế quốc Anh, ngời Mĩ luôn tỏ ra nghi ngờ chủ nghĩa đế quốc.Chủ trơng chống chủ nghĩa bành trớng, chủ nghĩa đế quốc và rất tâm đắc vớichủ nghĩa biệt lập “Học thuyết Mônrô”, do đó vừa kế thừa đợc truyền thốngkia, vừa mang những nét mới phù hợp với sự phát triển của bản thân nớc Mĩ và
sự biến đổi của thế giới Ngời Mĩ không những tham gia vào trò chơi mà cònmuốn chiếm u thế trên bàn cờ quốc tế Chính vì thế chủ nghĩa biệt lập lúc này
đợc biểu hiện và vận dụng một cách tơng đối linh hoạt Nớc Mĩ không hẳnkhông bành trớng thế lực ra bên ngoài
Điều đáng nói ở đây là “Học thuyết Mônrô”, ngay từ thời điểm ra đời,cha thực sự đợc chính giới nhiều nớc quan tâm Không ít chính khách coi nó làmột học thuyết nhiều tai tiếng, là “một trò hề”, song thực tế nó lại đặt nền móngcho chính sách ngoại giao của Mĩ trong suốt thế kỷ XIX và sau này Về sau, hệluận Rudơven và “Chính sách láng giềng thân thiện” có sửa đổi phần nào học
Trang 27thuyết này, nhng “Học thuyết Mônrô” vẫn là một phần không thể thiếu trongcông việc hoạch định chính sách ngoại giao của Mĩ.
Với học thuyết mang tên mình, Tổng thống Mônrô đợc coi là ngời đã
“bảo vệ quyền lợi, danh dự, uy tín của nớc Mĩ trớc nớc ngoài… thông qua chínhsách hoà bình nhng kiên định để kiềm chế t tởng thù địch của liên minh châu
Âu đối với các nớc cộng hoà Nam Mĩ; dựa trên những lý lẽ ôn hoà nhng vữngchắc để lấy về các vùng bờ biển Thái Bình Dơng của Tây Ban Nha, buộc kẻchuyên quyền hống hách ở Miền Bắc phải từ bỏ quyền thống trị ở Miền Nam và
họ phải vội vàng tự nhận trở lại phạm vi ranh giới hợp pháp…”
2.2 Chính sách của Mĩ đối với Mĩ La tinh
Những thập niên cuối thế kỷ XIX là giai đoạn bành trớng của đế quốc Mĩvì nớc Mĩ đã mở rộng ảnh hởng và lãnh thổ trên các vùng đất rộng lớn rãi rác ở
Đại Tây Dơng, Thái Bình Dơng tới Trung Mĩ Giới cầm quyền và giai cấp t sản
Mĩ biện minh cho hành động này bằng thuyết “Bành trớng do định mệnh”, từ
đó khẳng định rằng: Mĩ có quyền và bổn phận mở rộng ảnh hởng ở tây bán cầu,vùng biển Caribê cũng nh dọc Thái Bình Dơng Để thực hoá “sứ mệnh cao quýnày”, Mĩ nghĩ ngay đến Mĩ La tinh – vùng đất rộng lớn ngay cạnh mình
Lịch sử nớc Mĩ cho thấy: Sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập của 13bang Bắc Mĩ chấm dứt, Hợp chủng quốc Mĩ ra đời, giai cấp t sản Mĩ đã khôngngừng tìm mọi cách để mở mang đất đai Nhiều cuộc chiến tranh tàn bạo tiêudiệt thổ dân Inđian chiếm đất, những cuộc chiến tranh đối với các thuộc địathực dân châu Âu liên tiếp diễn ra Miền Tây nớc Mĩ ngày càng mở rộng Năm
1803 Mĩ chiếm Lusianna; năm 1819 chiếm miền Đông Mitxixipi từ trong taythực dân Tây Ban Nha; năm 1825 Mĩ cho quân chiếm đảo Puertô Ricô cũng làthuộc địa của Tây Ban Nha; năm 1846 chiếm Tếch Dát; năm 1848 mở rộng tớiCaliphoócnia, Nêvađa, Ariđona, Uta sau cuộc chiến tranh với Mêhicô Cho đến
Trang 28thế kỷ XIX lãnh thổ của Mĩ đã mở rộng từ Thái Bình Dơng cho đến Đông ĐạiTây Dơng Song song với quá trình bành trớng về phía Tây, t sản Mĩ cũng đặtbiệt chú ý tới đất đai của Trung và Nam Mĩ Mĩ La tinh đợc đa vào tầm ngắmcủa nớc Mĩ đế quốc, nhng thực chất của vấn đề đợc che đậy bằng ngọn cờ của
“Học thuyết Mônrô” Âm ma thâu tóm Mĩ La tinh của ngời Mĩ đợc phủ kínbằng bức bình phong của tinh thần đoàn kết với các nền cộng hoà non trẻ của
Mĩ La tinh Tuy nhiên, “Học thuyết Mônrô” với những lý lẽ sắc sảo và đầy hàm
ý cũng đủ cho cả thế giới hiểu rằng “Châu Mĩ là của ngời Châu Mĩ” các đếquốc khác không nên mạo hiểm mà đi xâm lợc, bành trớng ở khu vực này vì
“Mĩ là chúa tể cao nhất của lực địa này” Mĩ tỏ ra quá nóng lòng với Mĩ La tinh
là do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân trớc hết là Mĩ đã nhận ra tầm quantrọng của khu vực này Hơn nữa Mĩ còn cảm thấy vận may đang mỉm cời vớimình khi các đế quốc thực dân cũ của những vùng đất này đang suy yếu trầmtrọng Quả thật, Mĩ La tinh có vị trí vô cùng quan trọng trong đó khu vực Trung
Mĩ và khu vực Caribê là cửa ngõ giao nhau của Tây bán cầu, biển Caribê vàvịnh Mêhicô là con đờng quan trọng giữa Bắc và Nam Mĩ, cũng là nơi xung yếucần phải đi qua của đờng hàng hải quốc tế giữa Thái Bình Dơng và Đại Tây D-
ơng đồng thời nơi đây là con đờng thông thơng thơng mại và chiến lợc của Mĩ
đối với Nam Mĩ và khu vực Châu á - Thái Bình Dơng; kênh đào Panama là con
đờng vận tải ngắn nhất trên biển quốc tế nối liền Thái Bình Dơng và Đại Tây
D-ơng, rút ngắn trên một vạn km đờng hàng hải vòng quanh Nam Mĩ Mặt khác,
đây là vùng đất giàu có với tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, là vùng
đất đợc thiên nhiên u đãi rất phì nhiêu, cây cối tơi tốt, tài nguyên vô cùng phongphú Rừng rậm ở đây có tới 4000 loại cây khác nhau, trong đó có nhiều loại gỗquý Hầu hết sản phẩm của Mĩ La tinh nh cà phê, ca cao, mía, chuối, lúa mì,ngô, bông… đều đợc tiêu thụ trên thị trờng thế giới Mĩ La tinh có những đồng
cỏ bạt ngàn thuận lợi cho việc chăn nuôi và những vùng đất màu mỡ Ngoàinhững nguồn lợi nông nghiệp phong phú nói trên, còn có rất nhiều khoáng sản
Trang 29cần thiết cho đời sống và cho một nền công nghiệp phát triển cao, tập trung rấtnhiều kim loại quý nh vàng, bạc, kim cơng, bạch kim Hầu hết các nớc Mĩ Latinh đều có dầu lửa Các mỏ Đồng, Kẽm, Sắt, Thiếc, Măng gan, Bốcxít, Nitrat,Vônfram ở Mĩ La tinh cũng dồi dào và dễ khai thác [10; 543].
Hơn nữa, Mĩ La tinh lúc này đang say sa hng phấn với nhiều nớc cộnghoà non trẻ vừa ra đời, ngời chủ của một số vùng đất còn là thuộc địa thực dân,
đế quốc Tây Ban Nha đã suy yếu, con đờng đa ngời Mĩ tới khu vực này quá gần
và thuận tiện Những điều ấy đã tạo điều kiện cho Mĩ nắm lấy Mĩ La tinh mộtcách khá nhanh chóng và nhẹ nhàng Ngời Mĩ đã không bỏ qua dịp may hiếm
có ấy Kể từ khi “Học thuyết Mônrô” ra đời, Mĩ luôn khẳng định trung tâm của
sự chú ý, sự quan tâm đặc biệt của mình là Mĩ La tinh Vì thế, hàng loạt nhữngbiện pháp, những đối sách nhằm nắm khu vực này đã đợc các chiến lợc gia Mĩvạch ra
Đến cuối thế kỷ XIX, hoạt động của Mĩ càng trở nên ráo riết nhằm thựchiện hoá những đối sách ấy và quy tụ các nớc Mĩ La tinh dới ngọn cờ chỉ huycủa mình Năm 1889, nấp dới những chiêu bài “hợp tác” và “đoàn kết”, đếquốc Mĩ đã triệu tập “Hội nghị toàn châu Mĩ” lần đầu tiên ở Oasinhtơn Hộinghị nhóm họp các nớc Mĩ La tinh với chơng trình nghị sự: Thành lập chế độquan thuế và chế độ tiền tệ chung cho các nớc châu Mĩ, làm trọng tài cho nhữngbất đồng có thể xảy ra giữa các nớc châu Mĩ…Hội nghị này thờng đợc biết đếnvới tên gọi là “Hội nghị liên Mĩ” Cũng tại hội nghị, “Cục các nớc cộng hoàchâu Mĩ” đợc thành lập, trụ sở đóng tại Oasinhtơn, làm nhiệm vụ của một trungtâm thơng mại ý đồ của đế quốc Mĩ là dùng chiêu bài “đoàn kết giúp đỡ” để tổchức các nớc châu Mĩ La tinh thành một khối phụ thuộc vào Mĩ, buộc các nớc
đó phải theo đờng lối chính trị của đế quốc Mĩ Đồng thời dùng nó để đấu tranhgiành quyền bá chủ xâm chiếm Mĩ La tinh đối với đế quốc Mĩ và tăng thêm uytín của Mĩ trên trờng quốc tế Đánh giá về việc này của Mĩ, có học giả nhận
định: “Hoa Kì đã ý thức hơn bao giờ hết mối quan hệ có tính chất bá quyền của
Trang 30họ đối với các nớc còn lại của thế giới mới” Quả thật sau Hội nghị liên Mĩ lần
đầu tiên này, Mĩ đã trở thành chỉ huy của Mĩ La tinh một cách danh chính ngônthuận Để chứng tỏ “sự tận tâm của ngời lãnh đạo đầy trách nhiệm” Mĩ đã tậndụng mọi cơ hội có đợc để can thiệp hoặc dính líu đến công việc của các nớcchâu Mĩ Tuy nhiên, để có đợc địa vị này, Mĩ đã phải có sự chuẩn bị lâu dài, có
hệ thống Hành động đáng lu ý đầu tiên mà chúng ta không thể không đề cập
đến là vấn đề kênh đào Panama Không có một đế quốc nào đang mơ tởng đến
Mĩ La tinh và có tầm nhìn chiến lợc lại không nhận thấy sự tiện lợi và cần thiếtcủa việc xây dựng một con kênh ngang qua eo biển Panama đế nối liền hai đạidơng lớn là Thái Bình Dơng và Đại Tây Dơng Lợi ích của một con kênh nh vậy
đối với việc buôn bán trên biển đã đợc các quốc gia thơng mại trên thế giớinhận thức từ lâu Hơn nữa Mĩ là quốc gia ở cả hai biển Thái Bình Dơng và ĐạiTây Dơng nên còn thấy đợc tầm quan trọng về mặt quân sự mà con kênh manglại Mĩ cảm thấy sự cần thiết phải đào một con kênh xuyên qua vùng Trung Mĩ.Bởi vì lúc bấy giờ chiếc tàu Oregon đậu ở Sanphranxitcô, bờ biển phía Tây nớc
Mĩ phải mất 68 ngày để vòng xuống mũi Horn và trở lại vị trí chiến đấu củamình ở vùng biển Cuba ở phía Đông nớc Mĩ Nếu không có một con kênh đào
nh vậy, Hoa Kì buộc phải thành lập 2 hạm đội chứ không phải một, một cho
Đại Tây Dơng và một cho Thái Bình Dơng [10; 244]
Cũng vì có tầm quan trọng nh vậy nên vào thập niên 70 của thế kỷ XIX,ngời Pháp cũng có ý định xây dựng một kênh đào xuyên qua Trung Mĩ và côngviệc này đã đợc bắt đầu tiến hành ngay sau đó Nhng công việc này về sau phải
bỏ dỡ vì nớc Pháp gặp nhiều khó khăn Không ai có thể xác định chính xácnhững khó khăn mà nớc Pháp phải đối mặt khi khởi công công trình này, song,
có rất nhiều ngời suy đoán rằng, không ít khó khăn ấy là do Mĩ gây ra nhằmtranh chấp quyền xây dựng và quản lý huyết mạch giao thông quan trọng này.Một thực tế không thể chối cãi là ngay khi ngời Pháp có ý đồ xây dựng conkênh thì ngời Mĩ đã muốn chiếm lấy nó tham vọng này của Mĩ đợc thể hiện rõ
Trang 31nhất trong bức thông điệp gửi cho Quốc hội vào tháng 3/1880 của Tổng thốngHayít với nội dung: “Chính sách của đất nớc này là kênh đào Panama chịu sựquản lý của châu Mĩ Nớc Mĩ không thể chấp nhận nhờng quyền kiểm soát nócho bất kỳ chính quyền nào ở châu Âu hay một nhóm chính quyền ở châu Âunào” Chính sách này về sau đợc thi hành suốt 1/4 thế kỷ.
Nớc Pháp chấp nhận từ bỏ công trình này không đồng nghĩa với việcquyền xây dựng và quản lý công trình sẽ thuộc về ngời Mĩ Loại đợc Pháp, Mĩlại bớc vào cuộc tranh chấp với Anh và Mĩ đã gặp không ít khó khăn Phải saunhiều năm dài đấu tranh, đến đầu thế kỷ XX, Anh mới quyết định chuyển giaocho Mĩ quyền xây dựng và độc quyền sử dụng, kiểm soát với điều kiện conkênh này phải đợc mở cửa tự do cho mọi loai tàu biển, kể cả tàu buôn, tàu chiến
và không phân biệt trong việc thu phí qua kênh Những điều kiện mà Anh đa ra
đều là những đòi hỏi “quá trớn” và vi phạm sâu sắc đến quyền lợi và ý đồ của
Mĩ , song về tình thế và kế hoạch lâu dài, Mĩ đã chấp nhận Năm 1901 , mộthiệp ớc đã đợc ký kết công nhận tất cả những điều kiện trên, Mĩ đã đạt đợcthành công bớc đầu Ngay sau khi hiệp ớc này đợc ký kết, Mĩ vội vàng tiếnhành khởi công công trình Quốc hội Mĩ quyết định đào con kênh đó xuyên qua
eo đất Panama, thuộc lãnh thổ Côlômbia Ngày 22/1/1903, chính phủ Hoa Kì sẽtrả cho nớc này một khoản tiền là 10 triệu đôla và một khoản tiền hằng năm là
250 nghìn đôla thuê một dải đất rộng 5 dặm (8 km) ở mỗi bên bờ của kênh đào.Nhng thợng nghị viện Côlômbia đã cho rằng những điều khoản đó không hợp lý