TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Nguyễn Hải Bình Tên Luận văn: “Đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình”.. Ng
Cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo
Cơ sở lý luận về đánh giá của hộ nông dân tới thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo
2.1.1.1 Khái niệm và bản chất của hộ nông dân
Trong từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press – 1987) có nghĩa “Hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung” Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về Hộ bao gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ.
Theo Mc Gê (1989) – Đại học tổng hợp Colombia (Canada) nhận định rằng
“Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm” Đối với các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”
Theo Wallerstan (1982); Wood (1981, 1982); Smith (1985); Martin and BellHel (1987) cho rằng: Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác” vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Tại Việt Nam khái niệm hộ nông dân được nhận định theo nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng Xét về khía cạnh kinh tế hộ nông dân là một chủ thể trong hệ thống kinh tế và môi trường kinh doanh như vậy hộ nông dân chịu sự phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế lớn hơn (Mai Văn Xuân, 2009)
2.1.1.2 Vai trò của hộ nông dân trong đánh giá thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo
Trong sản xuất phát triển kinh tế, hộ nông dân tạo ra động lực kinh tế thức đẩy sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc (FAO) khẳng định, hộ nông dân đóng vai trò trọng tâm trong nỗ lực giải quyết đói nghèo và suy dinh dưỡng toàn cầu.
Trong việc đánh giá thực hiện chính sách nói chung và đánh giá thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo nói riêng, hộ nông dân đóng vai trò chủ thể cung cấp các thông tin cần thiết, hữu ích cho cơ quan nhà nước, các nhà nghiên cứu về việc thực hiện các chính sách của chính phủ, giúp cho việc thực hiện chính sách, lập chính sách cũng như hưỡng dẫn thực hiện chính sách cải thiện mang lại hiệu quả như mong muốn.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm cũng như khía cạnh về hộ nghèo, theo Trần Chí Thiện, Đỗ Anh Tài (2006), hộ nghèo là những hộ gia đình có hoàn cảnh sống khó khăn và thiếu thốn về điều kiện vật chất Họ không được thỏa mãn những nhu cầu tối thiếu của con người để duy trì cuộc sống như cơm ăn chưa no, áo không đủ mặc, nhà cửa không che được mưa nắng.
Hộ nghèo là các hộ có thu nhập bình quân dưới ngưỡng nghèo đói theo quy định của Chính phủ hay của địa phương Đây là đơn vị cơ bản để tính mức độ đói nghèo trong cộng đồng dân cư Việc hỗ trợ thông qua hộ có nhiều ưu điểm: một là, hộ là đơn vị cơ bản cuối cùng của cộng đồng Hai là, hộ là tế bào kinh tế gắn kết thành viên trong gia đình để thực hiện các hoạt động sản xuất và tái sản xuất kinh doanh Ba là, đơn vị hộ tiện lợi cho việc quản lý hành chính khi tiến hành các biện pháp hỗ trợ (Vũ Ngọc Thư, 2014). Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau:
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu.
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại
- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét.
- Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.
- Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo
* Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau:
- Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã.
- Không có hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: Điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm ytế và nước sinh hoạt.
- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao.
* Khái niệm về vùng nghèo:
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm thế giới về đánh giá chính sách
Ida J.Terluin and Pim Roza (2010) đã tổng hợp và phân loại 22 phương pháp đánh giá chính sách phát triển nông thôn được sử dụng ở châu Âu thành 05 nhóm tiếp cận đánh giá chính sách chính như sau:
1) Cách tiếp cận Khung đánh giá và giám sát chung (Common Monitoring and Evaluation Framework - CMEF) Cách tiếp cận này sử dụng hệ thống chỉ số (160 chỉ số) theo thứ bậc phối hợp với các câu hỏi đánh giá Cách đánh giá này được sử dụng cho các chương trình phát triển nông thôn ở Châu Âu và chương trình do Châu Âu tài trợ.
2) Tiếp cận theo phương pháp “kiểm điểm”: các phương pháp trong nhóm này đánh giá kết quả đạt được so với mục đích của chính sách.
3) Tiếp cận kinh tế lượng: các phương pháp của nhóm này sử dụng tiếp cận kinh tế lượng trong đánh giá chính sách.
4) Tiếp cận mô hình: sử dụng mô hình toán trong đánh giá chính sách.
5) Tiếp cận tổng hợp, nghiên cứu trường hợp (case study): nhóm phương pháp này sử dụng cả tiếp cận định tính, định lượng, trực tiếp, gián tiếp trong đánh giá chính sách, trong một trường hợp cụ thể.
Các phương pháp “kiểm điểm”, kinh tế lượng và tổng hợp, nghiên cứu trường hợp thích hợp khi đánh giá tác động của chính sách ở mức độ một khu
16 vực lãnh thổ, vùng Phương pháp CMEF được sử dụng để đánh giá chính sách ở cấp vùng, hay quốc gia, hoặc cũng có thể sử dụng cho chính sách cho một khu vực lãnh thổ nhất định Khi chính sách ở từng lĩnh vực được xem xét đánh giá, thì có thể đánh giá ở cấp hộ nông dân, địa phương Với các phương pháp đánh giá bằng mô hình kinh tế lượng (Social Accounting Matrices - SAMs) có thể sử dụng ở các cấp độ khác nhau, mô hình LEITAP chỉ được dùng ở cấp độ quốc gia, phương pháp CMEF và LEITAP còn được dùng cho toàn bộ lãnh thổ EU Trong khi đó mô hình SAMs và nghiên cứu trường hợp, thường được dùng cho một khu vực nào đó.
Theo OECD (2009), việc đánh giá chính sách phát triển nông thôn rất khó định lượng, do phụ thuộc vào đặc điểm thể chế, nhiều vấn đề rộng liên quan, nhiều yếu tố tác động, nhất là đánh giá hiệu quả chính sách Việc đánh giá chính sách phụ thuộc vào vai trò của nông nghiệp và chính sách phát triển nông nghiệp trong tổng thể phát triển nông thôn Tại các nước Nhật Bản và EU, chính sách nông nghiệp đóng vai trò hàng đầu trong chính sách phát triển nông thôn Về hỗ trợ tài chính, vai trò của khu vực tư nhân, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng ở Úc, Canada, Mĩ hơn là ở Nhật và EU.
Julia và cộng sự (2010) đã tiến hành đánh giá tác động của chính sách EAFRD đến sự phát triển nông thôn của EU thông qua mô hình tương tác (interactive programming) Kết quả thể hiện trên các biến phản ánh tác động đến lĩnh vực phát triển kinh tế, việc làm, bảo vệ môi trường và hiệu quả công tác quản lý.
Koen Carels (2005) đã tiến hành đánh giá tác động của chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn đến tình hình phát triển của vùng Flemish, Bỉ Bằng việc sử dụng dữ liệu nông trại và kết quả điều tra trực tiếp các hộ nông dân, tác giả chỉ ra ảnh hưởng của các chính sách hỗ trợ đến thu nhập của người dân và tình trạng môi trường, cảnh quan nông thôn.
Shenggen Fan (2010) đánh giá tác động của chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn Trung Quốc đã chỉ ra rằng tăng trưởng với tốc độ cao của lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn là nhờ vào chính sách đảm bảo quyền tài sản về đất nông nghiệp, tăng cường thị trường đầu vào, đầu ra, cải thiện dịch vụ khuyến nông Ngoài ra, cần ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, hệ thống thủy lợi.
Chương trình Hành động cộng đồng được triển khai nhằm giúp cải thiện cuộc sống của người dân có thu nhập thập ở vùng nông thôn Alaska, Mỹ (Mark Goldenberg, 2008) Việc đánh giá tác động của chương trình này đã được thiết kế ngay từ khi bắt đầu triển khai Thông qua việc theo dõi và tài liệu hóa sự thay đổi về điều kiện và hành vi và các chỉ số đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân để đánh giá tác động của chương trình, đề xuất các giải pháp điều chỉnh hợp lý.
Tại châu Âu, Viện nghiên cứu phát triển nông thôn thuộc đại học Frankfurt đã tiến hành đánh giá tác động của chính sách phát triển của Liên minh châu Âu thông qua các phương pháp sử dụng các thông tin định tính, định lượng và có sự tham gia của các tác nhân có liên quan vào quá trình triển khai và hưởng lợi chính sách
2.2.2 Thực tiễn chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo tại Việt Nam
Năm 2014, ngân sách Trung ương đã bố trí 6.242 tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, trong đó Chương trình 135 là: 3.129,8 tỷ đồng; Chương trình 30a (huyện nghèo và các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo) là 3.060,2 tỷ đồng; Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo là 32 tỷ đồng; Dự án nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát đánh giá là 20 tỷ đồng).
Theo báo cáo giảm nghèo năm 2014 thì những vấn đề khó khăn còn tồn tại cũng như kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ tái nghèo hàng năm còn cao, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên 1 ; Mặc dù tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60-70% Số hộ nghèo là dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước 2 ;
- Chính sách giảm nghèo tương đối toàn diện, bao trùm mọi mặt đời sống của người nghèo, dân tộc thiểu số nhưng còn dàn trải, phân tán, khó thực hiện, hiệu quả chưa cao;
1 Khoảng cách chênh lệch về mức độ nghèo có xu hướng tăng hơn: Khu vực Tây Nguyên, năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 1,53 lần so với bình quân của cả nước, năm 2012 con số này gấp 1,6 lần; Khu vực miền núi phía Bắc, năm
2010, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 2,34 lần so với bình quân của cả nước, năm 2012 con số này là 2,52 lần.
2 Báo cáo của Ủy ban Dân tộc
- Về huy động nguồn lực: tuy đã đạt được những kết quả nêu trên, nhưng trong thực hiện vẫn chưa khai thác, huy động được nhiều nguồn lực tại chỗ, chưa phát huy được nội lực trong dân và chính người nghèo; quan điểm trông chờ, ỷ lại vào vào nguồn vốn ngân sách vẫn còn tồn tại không ít ở một số địa phương và người nghèo; mặt khác, trong bối cảnh kinh tế suy thoái, hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, hạn chế đến việc huy động nguồn lực hỗ trợ cho giảm nghèo ở các Doanh nghiệp;
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Huyện Lạc Thuỷ nằm về phía đông nam tỉnh Hoà Bình, có ranh giới phía đông giáp huyện Kim Bảng và huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam), phía tây giáp huyện Yên Thuỷ (tỉnh Hoà Bình), phía bắc giáp huyện Kim Bôi (tỉnh Hoà Bình) và
Hà Nội, phía nam giáp huyện Gia Viễn và huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình).
Hình 3.1 Bản đồ hành địa bàn nghiên cứu
Nguồn: UBND tỉnh Hòa Bình
Huyện Lạc Thuỷ có tuyến quốc lộ 21A chạy qua với chiều dài 30 km đã giúp nối liền trung tâm huyện lỵ với cả 13 xã, đồng thời nối huyện Lạc Thuỷ với thị xã Hoà Bình, với quốc lộ 1A (giao cắt tại thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) Tuyến đường huyết mạch này không những có vai trò quan trọng đối với tỉnh
Hoà Bình mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lạc Thuỷ Trong tương lai, quốc lộ 21A sẽ là trục tăng trưởng kinh tế của huyện Lạc Thuỷ.
Tỉnh lộ 438 tiếp nối với quốc lộ 21A ở thị trấn Chi Nê và đi Nho Quan (Ninh Bình), đoạn qua địa phận Lạc Thuỷ tuy chỉ dài 7 km, nhưng là tuyến đường tạo ra sự giao lưu giữa Lạc Thuỷ với các địa phương thuộc tỉnh Ninh Bình và phía bắc tỉnh Thanh Hoá.
Hệ thống đường giao thông nông thôn ở Lạc Thuỷ còn rất hạn chế Theo thống kê, cả huyện hiện có chừng 260 km đường giao thông nông thôn, trong đó có hơn 100 km rải vật liệu cứng, số còn lại là đường đất, đường mòn.
Cùng với hệ thống đường bộ, huyện Lạc Thuỷ còn có 15 km đường thuỷ chạy dọc theo sông Bôi, qua địa bàn của 5 xã Tuyến đường thuỷ này tương đối thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá với khối lượng lớn và giao lưu giữa các xã. Địa hình huyện Lạc Thuỷ mang tính chất đặc trưng trung chuyển giữa trung du và miền núi Nhìn tổng thể, địa hình Lạc Thuỷ có xu hướng thấp dần theo hướng từ tây bắc xuống đông nam, tương đối phức tạp với nhiều đồi và núi đá vôi, xen kẽ là hệ thống sông, suối.
Khí hậu Lạc Thuỷ mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa khá rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Trong mùa mưa, lượng mưa tương đối cao: 1.681 mm, chủ yếu tập trung vào tháng 6 và 7 Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước và kết thúc vào tháng 4 năm sau Vào mùa mưa, do điều kiện mặt đệm và địa hình chia cắt mạnh kết hợp với mưa lớn dễ gây ra lụt lội, lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân Độ ẩm trung bình năm khoảng 75 - 86%, cao nhất vào các tháng 7 và 8.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 o C, cao nhất là 28 o C, thấp nhất là 17,2 o C. Khí hậu Lạc Thuỷ lạnh nhất từ giữa tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 31.495,35 ha, cơ cấu đất của LạcThuỷ gồm: diện tích đất nông nghiệp là 5.455 ha (chiếm 18,6% diện tích của huyện), đất lâm nghiệp có rừng là 12.766 ha (chiếm 43,51%) Về mặt chất lượng,nhìn chung tầng đất canh tác nơi đây mỏng, có nguồn gốc hình thành từ đá vôi, granít, sa thạch, trầm tích Kết quả phân tích định lượng cho thấy: lớp đất ở Lạc Thuỷ có độ phì khá, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả.
Rừng ở Lạc Thuỷ có chủng loại cây phong phú và đa dạng: bương, tre, nứa, mây, song, cây dược liệu quý Trong rừng có nhiều loài thú quý sinh sống như: hổ, báo, gấu, trăn, rắn, hươu, nai
Nguồn tài nguyên khoáng sản đáng kể nhất của Lạc Thuỷ là cát vàng, đá, sỏi Cát vàng được khai thác chủ yếu ở ven sông Bôi; sỏi tập trung ở các xã Phú Lão, Đồng Tâm và An Lạc; đá tập trung ở các xã Phú Lão (với trữ lượng khoảng 195.000 m 3 ), Đồng Tâm (33.000 m 3 ), Khoan Dụ (20.000 m 3 ).
Tổng dân số toàn huyện là 63.595 người, có 7 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 60%, dân tộc Mường chiêm s39,7% các dân tộc khác chiếm 0,3% Đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống trên địa bàn 15 xã, thị trấn tập trung chủ yếu tại các xã vùng sâu vùng xa của huyện như: xã An Bình, An Lạc, Đồng Môn, Hưng Thi, Liên Hòa, Thanh Nông, đồng bào người dân tộc trong huyện sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông lâm nghiệp; trình độ dân trí không đồng đều tình hình phát triển kinh tế xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Lạc Thủy
Huyện Lạc Thủy có 13 xã và 02 thị trán, xã khu vực I có 02 xã, xã khu vực
II có 8 xã, xã khu vực III có 5 xã Tổng dân số toàn huyện là 63.596 người có 7 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc kinh chiếm 60%, dân tộc Mường chiếm39,7% các dân tộc khác chiếm 0,3% Đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống trên địa bàn 15 xã thị trấn, tập trung chủ yếu tại các xã vùng sâu, vùng xa của huyện như: xã An Bình, An Lạc, Đồng Môn, Hưng Thi, Liên Hòa, Thanh Nông,đồng bào người dân tộc trong huyện sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông lâm nghiệp; trình độ dân trí không đồng đều, tình hình phát triển kinh tế xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn.
Bảng 3.1 Tình hình dân số, lao động huyện Lạc Thủy
TT Các chỉ số Đơn vị
1 Tổng số hộ trên địa bàn toàn huyện
Sổ hộ là người dân tộc thiểu số (hộ)
2 Số hộ nghèo trên địa bàn huyện
Số hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Tỷ lệ hộ cận nghèo
Số hộ đân tộc thiểu số nghèo Tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu sổ
3 Thu nhập bình quân đẩu người
4 Số lao động trên địa bàn toàn huyện Số lao động được đào tạo
Tỷ lệ lao độns đuợc đào tạo
Số hộ sử dụng nước sinh hoạt
Tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh
6 Số hộ sử dụng điện Tỳ lệ hộ sử dụng điện hộ 15.654 15.891 16.063 16.294 16.608 hộ 6.215 6.309 6.377 6.469 6.850 hộ 3.816 3.222 2.615 2.436 2.155
Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình 135 huyện Lạc Thủy (2015)
Các xã được thụ hưởng Chương trình 135 gồm 11 xã đó là An Binh, An Lạc, Đồng Môn, Hưng Thi, Liên Hòa, Yên Bồng, Lạc Long, Cố Nghĩa, Phú Lão,
Phú Thành, Thanh Nông; có 02 xã thuộc khu vực II được hưởng Chương trình 135 cho thôn đặc biệt khó khăn là xã Khoan Dụ và xã Đồng Tâm.
Năm 2011 tổng số hộ dân cư trên địa bàn huyện có 15.654 hộ, số hộ nghèo là 3.816 chiếm tỷ lệ 24,38% đến năm 2015 có 16.608 hộ dân, số hộ nghòe là 2.155 chiếm 12,98% Số hộ nghèo là người DTTS năm 2011 là 1.345 chiếm tỷ lệ 35,25
% so với tổng số hộ nghèo, năm 2015 ccos 1.243 hộ nghèo là đồng bào DTTS chiếm 57,68% số hộ nghèo.
Giá trị sản xuất 6 tháng đầu năm 2015 tăng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; thu ngân sách Nhà nước được 21,3 tỷ đồng, đạt 42,7% tỷ lệ hộ nghèo là 12,98%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 42,0%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1% tỷ lệ trương học đạt chuẩn quốc là là 52,5% tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 21/40 trường; tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc là về y tế là 9/13 xã đạt 69,23%.
Sơ đồ 3.1 Tình hình hộ nghèo trên địa bàn huyện
Hệ thống thương mại, dịch vụ trên địa bàn đã được bố trí, sắp xếp lại theo hướng phù hợp hơn với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Theo đó, hệ thống các dịch vụ đã phát triển về loại hình, nhanh gọn về thủ tục Đặc biệt, huyện đã thành lập được Trung tâm Thương mại ở thị trấn Chi Nê.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp tiếp cận, chọn điểm và khung phân tích Đánh giá của người dân về việc thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong giảm nghèo (bao gồm kết mong đợi và không mong đợi) từ việc thực hiện mỗi chính sách Đánh giá của người dân nhằm trả lời các câu hỏi chính về những nội dung được thực hiện, không được thực hiện, ở đâu, tại sao và kết quả như thế nào Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu này, cách tiếp cận như sau:
- Tiếp cận theo nội dung chính sách quy định tại các văn bản chính sách:
Nghiên cứu này liên quan đến nhiều chính sách và các chính sách có sự khác nhau về cơ quan tham gia thực hiện, đối tượng hưởng lợi trực tiếp, kênh truyền dẫn tác động, Vì vậy mỗi chính sách sẽ có đối tượng khảo sát, chỉ tiêu đánh giá riêng biệt.
- Tiếp cận theo kênh tác động và tác nhân hưởng lợi trực tiếp từ chính sách:
Thu thập các thông tin cần thiết về hộ nông dân cũng như chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo được thực hiện tại địa bàn huyện bằng cách tiếp xúc trực tiếp các cán bộ nông nghiệp, khuyến nông, thú y, tổ chức tín dụng, cơ sở chính quyền huyện Các chính sách có đối tượng hưởng lợi trực tiếp khác nhau Chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn, khuyến ngư, chính sách đào tạo lao động nông thôn thì đối tượng hưởng lợi trực tiếp là hộ gia đình, cá nhân nông thôn Ngoài ra, các chính sách này có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế chung, sự chuyển đổi cơ cấu lao động của cả xã Vì thế chủ thể đánh giá chính sách là những đối tượng hưởng lợi ở các cấp như cá nhân người dân, hộ gia đình, tổ nhóm, cộng đồng, mô hình hợp tác Ở cấp hộ gia đình là thu nhập, năng suất cây trồng vật nuôi Đối với cá nhân là mức lương, năng suất lao động, cơ hội
28 việc làm Đối với mô hình hợp tác là hiệu quả sản xuất, tiếp cận vốn, thị trường khả năng cung ứng Việc đánh giá của người dân được giới hạn ở tác động ngắn và dài hạn bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực.
- Tiếp cận theo vùng: vùng 135 và không thuộc vùng 135 Đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong giảm nghèo ở mỗi khu vực đặc thù khác nhau là khác nhau, việc chọn cách tiếp cận này cho thấy được sự so sánh rõ nét về đặc thù của vùng trong việc nghiên cứu đánh giá của người dân về chính sách hỗ trợ nông nghiệp.
Hệ thống các giải pháp chính sách hỗThông tin phản hồi trợ nông nghiệp cho giảm nghèo
Khả năng thực thi giám sát chính sách sách hỗ thực hiện trợ nông
(các cấp từ Tỉnh đến nghiệp ĐP - huyện, xã, người cho giảm dân) nghèo Điều kiện tự nhiên, kinh
Nguồn lực hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo (vốn, tế - xã hội kỹ thuật, nhân lực, thị trường…)
T hô ng ti n p hả n h ồi
Sơ đồ 3.4 Khung phân tích
- Tiếp cận theo loại hộ : Trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp với mục tiêu giảm nghèo có nhiều đối tượng thụ hưởng trong cùng một địa bàn, song song với đó là các cơ chế và tiếp cận với từng đối tượng là khác nhau, vì vậy việc đánh giá về chính sách của các đối tượng này là khác nhau trongNghèo, cận nghèo và thoát nghèo, không nghèo. Để nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo tại Lạc Thủy, với cách tiếp cận đã nêu ở trên, nghiên cứu sẽ được triển khai theo các nhóm đối tượng và yếu tố tác động đến chu trình chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo như sau:
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin
3.2.2.1 Thông tin thứ cấp/ Số liệu đã công bố
• Thông tin cơ bản về tình hình hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo ở huyện Lạc Thủy.
• Nguồn số liệu được thu thập từ các cơ quan địa phương có hoạt động trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo.
• Các nghiên cứu có liên quan đến tình hình hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo trên địa bàn huyện, sách báo, tạp chí khoa học và các công trình nghiên cứu đã công bố.
3.2.2.2 Thông tin sơ cấp/ Số liệu mới
• Đánh giá có sự tham gia (PRA) nhằm trao đổi thông tin đa chiều với người dân, chính quyền, chuyên gia địa phương;
• Trao đổi với các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, xã
• Điều tra trường hợp điển hình (case study) với các cá nhân, nhóm
• Điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng hệ thống bảng hỏi (structured survey) với các hộ gia đình
• Chọn điểm và chọn mẫu( loại hộ và số lượng hộ) : Khảo sát các hộ nông dân ở 2 xã trong vùng nghiên cứu, mỗi xã điều tra 70 hộ.Trong đó có 30 hộ nghèo; 25 hộ cận nghèo và thoát nghèo; 15 hộ không nghèo.
Bảng 3.2 Phân loại số hộ khảo sát
STT Nội dung Xã Đồng Tâm Xã Lạc Long
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá của hộ về tình hình thực thi chính sách
Số hộ/tỷ lệ hộ nhận được hỗ trợ về vốn bằng tiền
Số hộ/tỷ lệ hộ nhận được hỗ trợ về vật tư thiết bị
Số hộ/tỷ lệ hộ nhận được hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất.
Số hộ/tỷ lệ hộ nhận được hỗ trợ về dịch vụ sản xuất
Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện chính sách
Số hộ/tỷ lệ hộ thoát nghèo sau khi nhận được các hỗ trợ.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh đánh giá của hộ về nhóm đối tượng thụ hưởng của chính sách
Số hộ/tỷ lệ hộ đánh giá cách thức bình xét nhóm đối tượng thụ hưởng của chính sách là phù hợp với thực tế.
Số hộ/tỷ lệ hộ cho rằng cách thức bình xét đối tượng thụ hưởng của chính sách ở địa phương không bỏ sót đối tượng.
Nhóm chỉ tiêu về đánh giá của hộ về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp Số hộ/tỷ lệ hộ đánh giá hỗ trợ nhận được là phù hợp. Đánh giá của hộ về vốn được hỗ trợ của chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp
Cách thức bình xét hộ nghèo. Đánh giá của hộ về cách thức bình xét hộ nghèo ở các thôn.
Số hộ/tỷ lệ hộ biết về huy động nguồn lực thực thi chính sách.
Số hộ/tỷ lệ hộ được tham gia huy động nguồn lực.
Nhóm phổ biến, tuyên truyền chính sách
Số hộ/tỷ lệ số hộ được tiếp nhận phổ biến tuyên truyền chính sách.
Nhóm chỉ tiêu về giám sát đánh giá việc thực hiện chính sách
Số hộ/tỷ lệ hộ biết đến việc giám sát, đánh giá.
Số hộ/tỷ lệ hộ không biết đến việc giám sát, đánh giá. Đánh giá có bất cập có điều chỉnh. Điều chỉnh có hợp lý.
Số hộ/tỷ lệ hộ biết đến tổng kết chính sách.
Số hộ/tỷ lệ hộ được tham gia vào tổng kết chính sách.
Yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong giảm nghèo:
- Tính phù hợp: Hiến pháp, quan điểm, đường lối và các chính sách liên quan, nhu cầu thực tiễn của xã hội;
- Tính hệ thống: sự toàn vẹn đầy đủ, sự thống nhất Tính khả thi: căn cứ vào nhân lực tài lực, vật lực, tổ chức, thời gian;
- Tính công bằng; bình đẳng về cơ hội, quyền lợi, bình đẳng giới;
- Tính bền vững: duy trì kết quả và gia tăng thoát nghèo cho các nhóm khó khăn dễ tổn thương.
3.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phương pháp xử lý thông tin:
Các thông tin thu thập được xử lý bằng cả phương pháp phân tích định lượng và phân tích định tính.
- Phân tích định lượng tập trung vào thống kê mô tả, so sánh nhằm phân tích các chỉ tiêu phản ánh yếu tốt tác động đến việc thực thi chính sác hỗ trợ nông nghiệp, cho biết hiện trạng và sự thay đổi dưới tác động của chính sách Thống kê so sánh nhằm so sánh các việc đánh giá của người dân trong thực hiện chính sách;
- Phân tích định tính dựa trên các ý kiến và đánh giá của đối tượng cung cấp thông tin, có sự đối chiếu giữa các nguồn cung cấp Trong phân tích định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) nhằm phân tích các trường hợp cụ thể, minh chứng cho các đánh giá về tác động của chính sách ở các địa phương nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, đánh giá:
- Phương pháp định tính: Phương pháp này dựa vào ý kiến đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước địa phương các cấp, chuyên gia địa phương và người hưởng lợi trực tiếp chính sách Cách đánh giá này cho biết chính sách có được áp dụng không, có khó khăn gì trong thực hiện, có tác động đến tác nhân nào, xu hướng tác động ra sao (tích cực, tiêu cực),
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Nhằm mô tả việc áp dụng các chính sách trong thực tế, các khó khăn, nhu cầu, giúp cho hiểu rõ logic của quá trình triển khai chính sách trên thực tế Phân tích cũng cho phép xác định các nguyên nhân của các tác động tiêu cực, tích cực của các chính sách hỗ trợ nông
32 nghiệp mục tiêu giảm nghèo lên các đối tượng hưởng lợi Thông qua so sánh sự khác nhau của các chỉ tiêu trước và sau khi chính sách được thực hiện nhằm xác định chính sách có tác động lên kết quả không.
- Phương pháp kiểm định bằng phần mềm tính toán: Mục đích nhằm đưa ra những luận cứ trong việc suy rộng mẫu thông qua các thông tin thu thập từ phía địa phương và phỏng vấn người dân, nhận định đánh giá về mặt ý nghĩa thống kê trong các kết luận đưa ra, cũng như tìm ra mối liện hệ giữa các yếu tố trong việc đánh giá của người dân và yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách.