Bài viết của Lê Tiến Dũng: "Đặc điểm nhân vật truyện cổ tích và việchiện đại hoá truyện cổ dân gian" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3/2004 đã phát hiện ra tình trạng một số tru
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
-ef -nguyễn ngọc hồi
chất cổ tích của nhân vật
Chuyên ngành: văn học Việt Nam Mã số: 60.22.34
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học: ts Phạm tuấn vũ
Vinh - 2008
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn đợc hoàn thành nhờ sự hớng dẫn tận tình
và chu đáo của TS Phạm Tuấn Vũ Trong quá trình nghiên cứu, tôi cũng nhận đợc sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong tổ
bộ môn văn học Việt Nam.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo Phạm Tuấn Vũ cùng các thầy, cô giáo đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn các thầy giáo phản biện đã đóng góp cho chúng tôi nhiều ý kiến qúy báu
Xin gửi tới các thầy, cô lòng biết ơn sâu sắc!
Vinh, tháng
11 năm 2008
Nguyễn Ngọc Hồi
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phơng pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc luận văn 5
Ch ơng 1 : Chất cổ tích ở loại nhân vật phiếm chỉ 7
1.1 Khái niệm nhân vật phiếm chỉ, nhân vật phiếm chỉ trong truyện cổ tích 7
1.1.1 Nhân vật phiếm chỉ 7
1.1.2 Nhân vật phiếm chỉ trong cổ tích 9
1.2 Thông kê nhân vật phiếm chỉ trong 101 truyện ngày xa 12
1.3 Những điểm tơng đồng và khác biệt của loại nhân vật phiếm chỉ trong tác phẩm của Tô Hoài và trong cổ tích 16
1.3.1 Những điểm tơng đồng 16
1.3.1.1 Số lợng lớn và đông đảo 16
1.3.1.2 Giống nhau về hoàn cảnh và số phận nhânvật 18
1.3.1.3 Nhân vật đợc miêu tả theo xu hớng khái quát hóa 24
1.3.2 Lý giải sự tơng đồng 28
1.3.3 Những điểm khác biệt 30
1.3.3.1 Nhân vật 101 truyện ngày xa vừa mang tính khái quát hóa vừa mang tính cá thể hóa 31
1.3.3.2 Cốt truyện 101 truyện ngày xa đơn giản hơn so với cổ tích 37
Trang 41.3.3.3 Những yếu tố ngoài cốt truyện 40
1.3.4 Nguyên nhân của sự khác biệt 45
Ch ơng 2 : Chất cổ tích ở nhân vật có tên 49
2.1 Thống kê, phân loại nhân vật có tên trong 101 truyện ngày xa 49
2.1.1 Thống kê 49
2.1.2 Phân loại 52
2.2 S tơng đồng và khác biệt của loại nhân vật này trong tác phẩm cuả Tô Hoài và trong cổ tích 52
2.2.1 Sự tơng đồng 52
2.2.1.1 Nguồn gốc xuất thân và số phận nhân vật 52
2.2.1.2 Phẩm chất, tài năng và chiến công của nhân vật 55
2.2.1.3 Chất liệu xây dựng nhân vật 60
2.2.2 Lý giải sự tơng đồng 62
2.2.3 Sự khác biệt 63
2.2.3.1 Cách thức xây dựng nhân vật 63
2.2.3.2 Những nhân vật lịch sử mới 73
2.2.4 Nguyên nhân của sự khác biệt 80
Ch ơng 3 : Chất cổ tích ở những nhân vật là loài vật 83
3.1 Thống kê, phân loại nhân vật là loài vật 83
3.1.1 Thống kê 83
3.1.2 Phân loại 83
3.2 Sự tơng đồng và khác biệt của Tô Hoài và tác giả dân gian ở truyện viết về loài vật 84
3.2.1 Sự tơng đồng 84
3.2.1.1 Kiểu loài vật trong cổ tích 84
3.2.1.2 Nhân vật loài vật mang dáng dấp và tính cách con ngời 91
3.2.2 Lý giải sự tơng đồng 95
3.2.3 Sự khác biệt 95
3.2.3.1 Cách dẫn truyện của văn học viết 98
3.2.3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật loài vật mang phong cách Tô Hoài 100
Trang 53.2.3.3 Ngôn ngữ mới lạ, giàu hình ảnh 104
3.2.3.4 Lối so sánh độc đáo 106
3.2.4 Lý giải sự khác biệt 108
Kết luận 105 Tài liệu tham khảo
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 101 truyện ngày xa gồm những tác phẩm của Tô Hoài viết lại truyện
cổ tích Việc các nhà văn su tầm hoặc viết lại truyện cổ tích là hiện tợng phổ biến trên thế giới ở nớc ta thời trung đại đã có nhiều nhà văn làm công việc này, chẳng hạn, Đỗ Thiện với Ngoại sử ký, Lý Tế Xuyên với Việt điện u linh,
Trần Thế Pháp với Lĩnh Nam chích quái Thời hiện đại, các nhà văn Nguyễn
Văn Ngọc, Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo cũng có những tác phẩm viết lại truyện cổ tích Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định những đóng góp của Tô Hoài ở lĩnh vực “truyện cũ viết lại''
1.2 Tô Hoài đánh giá rất cao truyện cổ tích Ông cho rằng “cổ tích mang diện mạo và tâm hồn ngời Mọi mặt gốc gác, nề nếp và truyền thống đều in bóng tuyệt vời trong cổ tích Nghe cổ tích, ngẫm cổ tích, thấy đợc và cắt nghĩa
đợc tất cả cơn cớ ta tồn tại, ta sinh sôi Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật hoang đ-ờng đến đâu đều thấm đợm ý nghĩa đời ngời, con ngời trong niềm than thở hay ngàn vạn ớc mong đều vẫn nảy nở từ trong tấm lòng nhân nghĩa và đức tình lam làm cùng với nụ cời thật hóm, thật duyên và phóng khoáng mọi nhẽ Cái cời rừng cời trong cổ tích Việt Nam sâu xa lòng tin và nghị lực”[28,5] Nghiên cứu
đề tài này nhằm nhận thức những t tởng, tình cảm mà nhà văn tâm đắc ở truyện
cổ tích và những giá trị mà ông đóng góp thêm cho truyện cổ tích
1.3 Truyện cổ tích và sáng tác văn chơng của nhà văn hiện đại thuộc hai nền văn học Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu sự dung hợp phong cách văn
Trang 6học viết và phong cách văn học dân gian trong một sản phẩm nghệ thuật củanhà văn Tô Hoài.
biểu cho phơng pháp nghiên cứu cấu trúc – loại hình Trong cuốn sách này,V.la.Propp đã nghiên cứu cốt truyện của truyện cổ tích thần kì theo chức nănghành động nhân vật, ông đã chỉ ra đợc rằng: suy cho cùng toàn bộ cổ tích chỉ có
31 chức năng hành động của nhân vật, dẫu rằng mỗi truyện cổ tích có “n” chứcnăng trong tổng số đó Ông còn chỉ ra rằng trong cổ tích chức năng nhân vậtmới là yếu tố bền vững, ổn định còn nhân vật có thể thay đổi Vì thế, điều cốtlõi trong cổ tích không phải nhân vật là ai, làm gì mà là anh ta làm nh thế nào
Cuốn Cổ tích thần kỳ ngời việt - Đặc điểm cấu tạo cốt truyện của Tăng
Kim Ngân là công trình mô phỏng lại mô hình của V.la.Propp đã lập ra Dựavào 31 chức mà V.la.Propp dựng nên cho cổ tích thần kỳ ngời Nga, Tăng KimNgân đã khảo sát 50 truyện cổ tích thần kỳ ngời Việt và rút ra đợc nhiều kếtluận có tính thuyết phục Theo Tăng Kim Ngân, hầu hết 31 chức năng màV.la.Propp đã tìm ra ở cổ tích ngời Nga đều có mặt trong 50 truyện cổ tích thần
kỳ ngời Việt Nhng cổ tích thần kỳ ngời Việt còn có thêm một chức năng thứ 32– chức năng “sự biến hình ”
Thi pháp thể loại văn học dân gian của Nguyễn Xuân Đức (Tài liệu
chuyên đề dành cho hệ sau đại học) là một công trình nghiên cứu chuyên sâu vềthi pháp nhân vật truyện cổ tích thần kỳ ngời Việt trên hai hệ thống nhân vật
Trang 7chính và nhân vật phụ Nhà nghiên cứu khái quát những đặc trng thi pháp củanhân vật cổ tích thần kỳ Tác giả nhấn mạnh tính chức năng của nhân vật cổ tích
và theo ông: “có thể xem tính chức năng của nhân vật cổ tích là một trongnhững đặc trng thi pháp nhân vật cổ tích thần kỳ mà việc nhận diện nó góp phầnlàm ta hiểu thêm tài năng sáng tạo của tác giả dân gian” [17,72]
Bên cạnh đó, có một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Ngữ văn
Đại học Vinh nghiên cứu về nhân vật cổ tích Chẳng hạn, khoá luận Phơng pháp xây dựng nhân vật trong thần thoại, truyền thuyết và cổ tích của Nguyễn
Văn Tính đã pháp hiện ra sự phát triển trong t duy xây dựng nhân vật từ thầnthoại, truyền thuyết đến cổ tích của tác giả dân gian
2.2 Về các công trình nghiên cứu về sự ảnh hởng của truyện cổ tích đốivới văn học viết
Trong các công trình nghiên cứu văn học dân gian, chúng tôi nhận thấycác tác giả đã dần chú trọng nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học viết, cũng nh ảnh hởng của văn học dân gian đối với văn học viết.Trong Văn học dân gian Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu khái quát: “Chính chuyện
kể dân gian mà chủ yếu là truyện cổ tích đã góp phần quan trọng vào sự hìnhthành loại truyện thơ và truyện vừa viết bằng tản văn trong nền văn học viết nớc
ta thời phong kiến Những truyện cổ tích đợc viết lại dới hình thức tản văn trong
Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Thánh Tông di thảo (của vua Lê Thánh
Tông), Truyện kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ)… đã góp phần quan trọng vào việc hình
thành loại truyện vừa trong văn học Việt Nam thời trung đại” [66,18]
Hớng nghiên cứu về sự ảnh hởng này đợc tiếp tục nghiên cứu ở các khoáluận sinh viên khoa Ngữ văn Đại học Vinh Chẳng hạn, khoá luận của sinh viênNguyễn Thị Thu Hiền: So sánh cốt truyện và nhân vật trong truyện kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và truyện cổ tích hay khoá luận So sánh nhân vật ngời phụ nữ trong truyện cổ tích và truyện trung đại của sinh viên Trần Thị Dung Những
khoá luận này không những chỉ ra đợc Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) đã vay
Trang 8mợn “môtíp” nhân vật, sử dụng yếu tố kỳ trong cổ tích mà còn chỉ ra đợc sự
t-ơng đồng và khác biệt ở các bình diện vị trí, vai trò, phẩm chất và cách thức xâydựng nhân vật của truyện cổ tích và truyện trung đại, qua đó khẳng định tàinăng sáng tạo của Nguyễn Dữ
Bài viết của Lê Tiến Dũng: "Đặc điểm nhân vật truyện cổ tích và việchiện đại hoá truyện cổ dân gian" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số
3/2004 đã phát hiện ra tình trạng một số truyện cổ dân gian đựơc các nhà văndựng lên “một cách quá hiện đại”, “tính cách nhân vật truyện cổ đợc xây dựng
nh những tính cách nhân vật trong truyện ngắn hiện đại” [11,93] Đây là mộtthực tế cần đợc nhìn nhận lại, đòi hỏi nhà su tầm cần nắm vững đặc trng thipháp thể loại, nếu không sẽ rơi vào “tình trạng làm mới văn hóa cổ xa, làm mất
đi giá trị đích thực vốn có của nó” [11,95]
Võ Quang Trọng trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2/1995 có bài: "Một
số đặc điểm của truyện cổ tích văn học trong mối quan hệ thể loại với truyện cổtích dân gian" cho rằng viết lại truyện cổ tích là một hiện tợng phổ biến trên thếgiới Nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những điểm tơng đồng và khác biệt giữatruyện cổ tích văn học và truyện cổ tích dân gian về tính chất loại hình Tác giảcho rằng: “truyện cổ tích văn học là một thể loại đang tồn tại và không ngừngphát triển trong đời sống văn học của nhiều dân tộc trên thế giới Việc tìm hiểunghiên cứu nội dung, t tởng thẩm mỹ và đặc trng thi pháp của thể loại trên cơ sởkhảo sát từng tác giả cụ thể ở Việt Nam là công việc lý thú và hấp dẫn” [67,57]
2.3 Từ việc điểm lại một số công trình nghiên cứu về truyện cổ tích,nhân vật truyện cổ tích ta thấy rằng các nhà nghiên cứu đã chú trọng nghiên cứunhân vật cổ tích trên góc độ thi pháp và mối quan hệ văn học dân gian và vănhọc viết… Các công trình bớc đầu nhìn nhận đợc dự ảnh hởng sâu đậm củatruyện cổ tích dân gian đối với văn học viết trên các mặt nh nhân vật, cốttruyện…Tuy nhiên, sự nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở truyện trung đại mà cha
có sự mở rộng nghiên cứu đối với một thể loại gần gũi với truyện cổ tích hơn cả
Trang 9là truyện cổ tích viết lại (hay còn gọi là truyện cổ tích văn học) trong văn họchiện đại Việt Nam.
Trên cở sở tiếp thu ý kiến các công trình trên, luận văn này chúng tôi sẽtìm hiểu Chất cổ tích của nhân vật 101 truyện ngày xa (Tô Hoài) trong sự đối
sánh truyện cổ tích do Nguyễn Đổng Chi su tập, từ đó ngời đọc sẽ thấy đợc sự
ảnh hởng của cổ tích đối với tập truyện của Tô Hoài và sự đóng góp của nhà vănkhi viết lại cổ tích
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Làm rõ những đặc điểm của nhân vật trong 101 truyện cổ tích ngày
101 truyện ngày xa không phải là bộ su tập truyện cổ tích kiểu của
Nguyễn Đổng Chi hay Nguyễn Văn Ngọc, nh chính nhà văn cho biết Đây lànhững tác phẩm viết lại truyện cổ tích, tức là phần sáng tạo của Tô Hoài rất
đáng kể Bởi vậy, chúng tôi chú trọng phơng pháp so sánh, so sánh 101 truyện ngày xa với truyện cổ tích và so sánh với truyện cổ tích viết lại của các nhà văn
khác, bên cạnh việc sử dụng các phơng pháp nghiên cứu phổ biến khác nh:thống kê, phân loại, tổng hợp, phân tích
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn đợc trình bày qua ba chơng:
Trang 10Ch¬ng 1 ChÊt cæ tÝch ë lo¹i nh©n vËt phiÕm chØ
Trang 111.1 Khái niệm nhân vật phiếm chỉ, nhân vật phiếm chỉ trong cổ tích
1.1.1 Nhân vật phiếm chỉ
"Văn học là nhân học", là khoa học về con ngời Bất cứ một nền văn họcnào cũng lấy con ngời làm đối tợng chủ yếu Chính việc quan tâm và lý giảinhững vấn đề có liên quan đến con ngời đã làm nên đặc trng của văn học nghệthuật trong mối quan hệ với các hình thái ý thức khác
Khi tiếp xúc với tác phẩm tự sự chúng ta đợc tiếp xúc với nhân vật Nhânvật văn học là những con ngời đợc miêu tả bằng phơng tiện ngôn ngữ, dù miêutả trực tiếp hay gián tiếp thì nó cũng đựơc thể hiện tập trung nhất, đặc biệt làtrong tác phẩm tự sự
Nhân vật có thể đợc thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau Đó có thể
là những con ngời đợc miêu tả cả ngoại hình và nội tâm, có tính cách, có tiểu sử
nh vẫn thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Có thể là những con ngời thiếu hẳn nét
đó nhng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn nh nhân vật ngời trần thuật Hoặcchỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ cảm nhận nh nhân vật trữ tình trong thơ trữtình Nhìn chung, văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì nhân vật là hìnhthức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới con ngời Bản chất của văn học
là phản ánh cuộc sống hiện thực, có quan hệ đối với đời sống Và nó chỉ tái hiệnqua những chủ thể nhất định Nhân vật là yếu tố cơ bản, là hạt nhân trung tâm
để nhà văn bộc lộ t t tởng, quan niệm về vũ trụ, xã hội và con ngời
Trong một tác phẩm văn học có những dấu hiệu để cho ta nhận ra nhânvật Thông thờng nhân vật có tên nh Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thuý Kiều, KimTrọng, chị Dậu, Trơng Phi, Chí Phèo, AQ Nhng cũng có nhân vật không cótên riêng mà chỉ đợc giới thiệu bằng danh từ hoặc cụm danh từ mang tính chấtphiếm chỉ nh: chàng mồ côi, anh chàng thông manh, ngời tù khổ sai, nhà t sản,
ông quan huyện, thầy đồ Nhân vật văn học có thể đợc thể hiện bằng nhữnghình thức khác nhau, bằng những tên gọi khác nhau Nghĩa là, "khái niệm nhân
Trang 12vật chỉ đợc sử dụng nh một ẩn dụ, không chỉ con ngời cụ thể nào mà chỉ là mộthiện tợng nổi bật trong tác phẩm"[36,277].
Nhân vật phiếm chỉ tồn tại phổ biến từ lâu trong văn học ở những tácphẩm có phạm vi phản ánh rộng lớn nhân vật phiếm chỉ đóng một vai trò kháquan trọng, là cái nền để cho nhân vật chính phát triển Ta từng bắt gặp nhânvật phiếm chỉ ông Tát bể, ông Kể sao, ông Đào sông trong thần thoại, truyền
thuyết; thằng bán tơ, mụ quản gia trong Truyện Kiều; cô hàng xóm, cô em xóm núi, cô nhân tình bé nhỏ, ngời đi tìm hình của nớc trong thơ trữ tình; thằng đạo đức giả, anh th ký, ông toà soạn, ngời có bộ mặt cời trong văn học
hiện đại hay kẻ đa tin, anh lính hầu, ngời vú em thờng thấy trong kịch Nhng
thể loại mà nhân vật phiếm chỉ chiếm số lợng đông đảo nhất là truyện cổ tích ở
cổ tích, nhân vật phiếm chỉ dờng nh chiếm số lợng áp đảo những nhân vật cótên Điều này xuất phát từ đặc điểm loại hình của cổ tích - là thể loại tồn tạibằng hình thức truyền miệng, vì thế cái gì có lợi cho trí nhớ đợc lu giữ còn cáigì không có lợi cho trí nhớ đều bị lợc bỏ hoặc lớt qua Để đảm bảo tính bềnvững và khái quát của thể loại, ngoài nội dung tác phẩm phải cô đọng, đơn giản,nhân vật cũng phải mang tính khái quát, phiếm chỉ
Trong Thi pháp thể loại văn học dân gian, T.S Nguyễn Xuân Đức cho
rằng: "trong cổ tích, ngay cả cái tên nhân vật cũng mang tính chất phiếm chỉ.Thậm chí, có những nhân vật không có tên tuổi nh ngời anh, ngời em trong
truyện Cây khế, anh trai cày trong truyện Cây tre trăm đốt" [17,38]
Phiếm chỉ là "chỉ chung, không rõ ràng, cụ thể ngời nào, sự vật nào".Trong tiếng Việt có các đại từ phiếm chỉ: nó, chúng nó, ông nọ, bà kia, thằngnày, chị đó ở đây khái niệm nhân vật phiếm chỉ đợc chúng tôi hiểu với ýnghĩa là những nhân vật tồn tại trong tác phẩm văn học dới dạng những tên gọichung một loại ngời, không chỉ một cá nhân cụ thể Nhân vật đó có thể không
có danh tính, lý lịch, ngoại hình, nội tâm và cá tính Nói chung đó là loại nhân
Trang 13vật không đợc miêu tả đầy đặn, cụ thể và tỉ mỉ nh các loại nhân vật khác Một
điều rất dễ nhận ra nhân vật phiếm chỉ là nhân vật không có tên riêng mà chỉ
đ-ợc gọi tên bằng một danh từ chung hoặc ngữ danh từ chung nào đó Ví dụ:chàng mồ côi, anh thợ săn, lão địa chủ, anh lái đò, cô gái xinh đẹp Nhân vậtphiếm chỉ cũng là một bộ phận nhân vật quan trọng của văn học, góp phần làmcho nhân vật văn học trở nên phong phú và đa dạng Nhân vật phiếm chỉ không
có tính danh, đó cũng là một u thế của loại nhân vật này, vì tồn tại dới dạngnhững tên gọi chung nên nó có khả năng đại diện cho một nhóm ngời, một kiểungời, hay một giai cấp nào đó trong xã hội, thờng là tầng lớp phần đông của xãhội, rất đắc lực trong việc thể hiện chủ đề, t tởng của truyện cổ tích
1.1.2 Nhân vật phiếm chỉ trong cổ tích
Khảo sát Kho tàng truyện cổ tích của Nguyễn Đổng Chi chúng tôi thấy
phần lớn là nhân vật phiếm chỉ Sự phiếm chỉ của nhân vật thờng đợc thể hiệnngay phần mở đầu tác phẩm, sau khi tác giả có lời mào đầu giới thiệu về khônggian, thời gian, khung cảnh thiên nhiên mà câu chuyện diễn ra Tính chất phiếmchỉ của nhân vật thờng diễn ra trên ba phơng diện
Trớc hết, là sự phiếm chỉ về mặt tên tuổi Bất kì một tác giả văn học viếtnào khi xây dựng một hình tợng nhân vật cũng đều rất chú trọng đến việc đặttên cho nhân vật ấy, nhất là những nhân vật mà họ tâm đắc - những nhân vật cótính cách điển hình Trong Nghệ thuật thi ca, Arixtốt viết: "Tôi hiểu rằng tính
cách là cái lý do mà chúng ta gọi nhân vật bằng một cái tên nào đó" Có nghĩa
là, cái tên của nhân vật góp phần biểu hiện tính cách của nhân vật cũng nh chủ
đề mà tác phẩm hớng tới Nam Cao đã từng tâm sự rằng, những nhân vật trongtác phẩm của ông đều dựa trên nguyên mẫu có thật ngoài đời Tuy nhiên khi đivào tác phẩm ông đã đặt lại tên cho nhân vật Những cái tên do sự sáng tạo của
ông đã trở nên nổi tiếng, để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và khẳng định
đợc tài năng của ông Mỗi khi nói đến Chí Phèo, lão Hạc, Hộ ngời ta nhớ đếnngời đã sản sinh ra nó
Trang 14Ngợc lại với truyện hiện đại, tính danh của nhân vật lại không phải là vấn
đề quá quan trọng trong cổ tích V Ia Prốp - chuyên gia nghiên cứu nổi tiếngtruyện cổ tích khẳng định rằng: "Đối với việc nghiên cứu truyện cổ tích thì vấn
đề quan trọng nhất là các nhân vật của truyện làm cái gì, còn vấn đề ai làm và làm nh thế nào, đó là vấn đề cũng phải nghiên cứu nhng có tính chất thứ
yếu"[39,25] Phần lớn các nhân vật trong cổ tích Việt Nam không có tên tuổi
Họ là những ngời anh, ngời em (trong Cây khế, Hà rầm hà rạc), chàng mồ côi
(trong Nàng Tiêu ốc), mụ gì ghẻ (Tấm Cám), anh học trò (Lấy vợ Cóc, Ngời học trò và Ngọc Hoàng), anh chèo thuyền( Con chó và con mèo có nghĩa),
ông quan huyện ( Quan huyện phân xử)
Bên cạnh đó cũng có một số ít nhân vật có tên nh: Tấm, Cám (trong Tấm Cám), Thạch Sanh ( Thạch Sanh), Chử Đồng Tử ( Chử Đồng Tử và nàng công chúa Tiên Dung), Heo ( Vua Heo), Chổm ( Nợ nh chúa Chổm) Nhng
những tên gọi đó vẫn mang màu sắc chung chung, biểu trng cho thân phận củanhững con ngời dới đáy xã hội Tấm, Cám là biểu trng cho thân phận thấp hèn,nhỏ mọn của ngời nông dân một nắng hai sơng cày cấy Chử Đồng Tử theotiếng Hán có nghĩa là đứa trẻ sinh ra trên bến nớc, cho nên Chử Đồng Tử đợcxem là tên chỉ chung những ngời nghèo khổ sống bằng nghề sông nớc Heo chỉnhững ngời vất vả quanh năm lấm lem trong bùn đất Ngoài ra có những cái tên
nh nàng Đỗ, chàng công tử họ Lý, ông quan họ Nguyễn cũng chỉ là tên chungcho một họ nào đó Tất cả những cái tên đó có vẻ là riêng cho một ngời nhngthực ra lại chỉ chung cho nhiều ngời
Thứ hai, tính phiếm chỉ còn thể hiện ở sự không xác định về mặt nguồngốc của nhân vật Trong khi xây dựng nhân vật, một điều hiển nhiên là tác giảphải giới thiệu về nguồn gốc của nhân vật đó Trong cổ tích lý lịch nhân vật đợcgiới thiệu một cách sơ lựơc, những thông tin nh nhân vật ở đâu, làm gì đều đợcnói qua một cách chung chung, không cặn kẽ nh nhân vật của văn học viết
Trang 15Có thể dẫn ra một vài ví dụ nh trong Sự tích sao Hôm sao Mai có hai
nhân vật ngời anh và ngời em Hai nhân vật này đợc kể là: ''Ngày xửa ngày xa,
ở làng kia có hai anh em mồ côi cha mẹ Em còn dại nên anh không quản khónhọc, lo làm lụng nuôi em" Hoặc nói về nhân vật ngời thợ săn trong Ngời thợ săn và mụ Chằng thì chỉ là: "Ngày xa có một một anh thợ săn trẻ tuổi" Sự
khiếm khuyết lý lịch của nhân vật không làm cho ngời nghe cổ tích khó chịu
mà vẫn đợc chấp nhận nh là một điều tất yếu
Tính chất phiếm chỉ của nhân vật cổ tích còn đợc thể hiện ở chỗ các nhânvật đều là con ngời đại diện cho các hạng ngời, loại ngời, các giai cấp trong xãhội Vì thế, mà khi khảo sát truyện cổ tích ngời ta có thể chia truyện cổ tíchthành các nhóm truyện nh: Nhóm truyện kể về những ngời mồ côi Đây lànhóm tiêu biểu nhất, phổ biến nhất của cổ tích (nh truyện Thạch Sanh, Chử
Đồng Tử và nàng công chúa Tiên Dung); Nhóm truyện kể về các nhân vật đàn
em (nh Hà rầm hà rạc, Cây khế; Ngời con gái út hiếu thảo) ở những truyện
này, nhân vật đàn em thờng là những ngời em út trong gia đình phụ quyền chịunhiều thiệt thòi, bất hạnh Ngoài ra, còn có nhóm kể về những con ngời độilốt( hay là những con ngời dị dạng, bề ngoài xấu xí) nh Sọ Dừa, Công chúa Cóc, Lấy chồng Dê; Nhóm truỵên kể về những con ngời ngốc nghếch nh Gái ngoan dạy chồng, Chàng Ngốc
Nhân vật phiếm chỉ trong các tác phẩm văn học viết thờng chỉ đóng vaitrò nhân vật phụ, thứ yếu, thờng xuất hiện thấp thoáng, gắn liền với những tìnhtiết, sự kiện có tính chất phụ trợ cho nhân vật chính Nhân vật phiếm chỉ trongtruyện cổ tích lại ở vị trí là nhân vật trung tâm của tác phẩm, là cái trục cốt lõicho tình tiết và sự kiện đợc phát triển ở nhiều tác phẩm nhân vật phiếm chỉ lànhân vật lý tởng Ngời mồ côi, ngời em út, ngời mang lốt xấu xí, đó là kiểunhân vật phổ biến trong cổ tích Thật ra tất cả các nhân vật này đều có nhữngnét chung thuộc phẩm chất của ngời lao động: thật thà, hiền lành, chất phác
Trang 16101 truyện ngày xa là tác phẩm Tô Hoài viết lại truyện cổ tích, vì thế hệ
thống nhân vật phiếm chỉ trong tập truyện phong phú, đa dạng không thua kémgì trong cổ tích Điều đó làm cho tập truyện của ông đậm đà dấu ấn dân tộc vàtruyền thống
1.2 Thống kê nhân vật phiếm chỉ trong 101 truyện ngày xa
Có 50/101 tác phẩm có nhân vật phiếm chỉ hoàn toàn (nghĩa là từ đầu
đến cuối tác phẩm, nhân vật chính cũng nh nhân vật phụ đều là nhân vật phiếmchỉ), chiếm xấp xỉ 50% số tác phẩm
2 Trả ân báo oán Anh đi câu cá
Con trai vua Thủy tề,Kiến, Chuột, Trăn, ngời
em kết nghĩa, vua, côngchúa
3 Giàu ba họ khó ba đời Anh học trò Phú ông, ông chủ vờn
cam, Ba ba, Ngọc Hoàng
4 Ba ngời tài
Anh chàng bắn giỏi, anh chàng lặn giỏi, thầy thuốc gia truyền
Ông già họ Lê, cô congái, quan huyện
5 Cái bóu cổ Cô gái nghèo bớu cổ Các cô tiên, phú ông,
con gái phú ông
6 Lọ nớc thần Anh thợ cày Quạ, Chim sẻ, ngời vợ,
vua
8 Chuyện chàng đốn củi Chàng đốn củi Phú ông, chủ quán
9 Ba con quỉ cáo Thầy đồ, ba con quỉ Phú ông, con gái phú
Trang 17Ngời chị dâu, nhà vua.
16 Cái chổi Bà đầu bếp, ông bổ
19 Quan huyện phân xử Quan huyện
Hai ngời đàn bà mất vải,
24 Ông ồ
Anh chàng đánh cá, ônggià cày ruộng, em trai
ông ồ, anh trai ông ồ
25 Công chúa nói ba lần Chàng Mồ Côi Công chúa câm, nhà vua
mụ chủ quán, ông lão sãi
30 Chó đá biết cời Vợ chồng ngời anh, Ông lão ăn mày
Trang 1835 Chó cuéi cung tr¨ng Cuéi Vî Cuéi, con Vµng
40 Con chã con mÌo cã
R¾n Mßng, Chã, MÌo,ngêi vî, ngêi thî b¹c,
«ng chµi
41 Nói non nø¬c ¤ng l·o Rïa vµng, hoµng tö,
c«ng chóa
Ngêi cuìi ngùa b¹ch,
ng-êi cìi ngùa hång, ngng-êi
c-ìi ngùa x¸m, «ng l·o
43 Kho b¸u trªn nói PhÝa
45 ¬n bè mÑ
Vî chång anh C¶, vîchång anh Hai, vî chång em ót
Vî chång phó «ng
46 Hai anh em Ngêi em, ngêi anh Con chã, lò khØ
Trang 1947 Nàng tiên giã gạo Cô gái nhà nghèo Lão nhà giàu, bà lão ăn
Thần rừng, Cậu con trai
Trong 50 truyện có nhân vật phiếm chỉ đó:
1.3 Những điểm tơng đồng và khác biệt của nhân vật phiếm chỉ trong tác phẩm của Tô Hoài và trong cổ tích
1.3.1 Những điểm tơng đồng
Chúng tôi thấy nhân vật phiếm chỉ của 101 truyện ngày xa và truyện cổ tích
có những điểm tơng đồng sau:
- Số lợng lớn và đa dạng
- Giống nhau về hoàn cảnh và số phận
- Nhân vật đợc miêu tả theo xu hớng khái quát hoá
1.3.1.1 Số lợng lớn và đa dạng
"Nhân vật văn học là một hiện tợng hết sức đa dạng Các nhân vật thànhcông thờng là những sáng tạo độc đáo không lặp lại" [36,282] Tuy nhiên cũng
có những nhân vật sự lặp lại về mặt nội dung, cấu trúc và chức năng theo một
Trang 20môtíp nhất định Sự lặp lại này không đơn điệu mà vẫn đạt đựơc những thànhcông, tạo ra sức hấp dẫn mới mẻ cho ngời đọc
Nhân vật phiếm chỉ của 101 truyện ngày xa là kiểu nhân vật sáng tạo theo
môtíp của cổ tích Hầu hết các loại nhân vật phiếm chỉ trong cổ tích đều có mặttrong tập truyện này, vì thế nhân vật phiếm chỉ trong tập truyện rất đông đảo và
đa dạng Ta có thể tìm thấy rất nhiều hạng ngời, kiểu ngời thuộc mọi tầng lớpkhác nhau của xã hội xa Nhng nhìn chung nhân vật phiếm chỉ trong tập truyệngồm ba loại: nhân vật là con ngời, nhân vật là thần tiên và nhân vật là loài vật Trớc hết nói về loại nhân vật phiếm chỉ là con ngời Họ là những con ngờithuộc tầng lớp trên nh vua Trung Quốc, vua nớc Nam, công chúa, hoàng tử, lão
địa chủ, phú ông, quan huyện Đối lập với tầng lớp trên là những con ngờinông dân lao động lớp dới Cũng có nhân vật có tên nh chàng Ngốc, chàng Heonhng phần lớn không cụ thể, chỉ mang những danh từ phiếm chỉ nh chàng trai,anh chàng, ông lão, bà cụ, chị vợ ,ông chồng Tên gọi có thể gắn với nghềnghiệp nh: chàng tiều phu, chàng đốn củi, lão lái buôn, chủ quán, bà ăn mày,anh câu cá, thầy đồ, chàng lực điền, ngời đánh giậm ; hoặc gắn với hoàn cảnhxuất thân nh: chàng mồ côi, ngời em út; hoặc gắn liền với hình dạng bên ngoàicủa họ (Cô Cóc, chàng Dê ) Nhân vật cũng có thể chỉ mang họ nh ông già họ
Lê, công tử họ Lý, ông tớng họ Nguyễn,
Ngoài ra còn có loại nhân vật là thần: thần ma, thần sông, vua Bếp, ThổCông, Ngọc Hoàng, ông Bụt, các cô tiên, bà tiên
Thế giới nhân vật phiếm chỉ đợc Tô Hoài miêu tả trong tập truyện còn
có cả loài vật Chúng là những con vật gần gũi với đời sống bình dân nh chó,mèo, gà, trâu bò, dê, chuột, kiến, cóc Những con vật này c trú ở những khônggian khác nhau Trên rừng nh hổ, khỉ, trăn, gấu, cáo ; những con vật dới nớc
nh cá lăng, cá chuối, rắn mòng cá sấu, rùa, ba ba ; con vật bay trên trời nhchim trời, nghỗng trời, quạ, sẻ Tất cả tạo nên một thế giới sinh động, huyễnhoặc, lung linh, kích thích trí tò mò của ngời đọc
Trang 21Nhân vật là một hình thức để nhà văn tái hiện cuộc sống Viết lại truyện
xa, xây dựng nhân vật phiếm chỉ thành một hệ thống trong tác phẩm, Tô Hoàinhằm thể hiện nhận thức của mình về một thời kỳ xã hội xa xa, thời mà con ng-
ời "biết quân quần thành bầy đàn, sống ở hang, ở chòm, trên sông, trên bãi".Qua 101 truyện ngày xa ngời đọc nh đợc thấy bối cảnh xã hội đã hình thành
sản sinh ra cổ tích Chúng ta đều biết cổ tích ra đời trong thời kỳ công xãnguyên thuỷ, đặc biệt phát triển trong xã hội có giai cấp Kéo theo nó là chế độchiếm hữu t sản đã tạo ra những lớp ngời khác nhau về địa vị xã hội Thông qua
hệ thống nhân vật phiếm chỉ trong tập truyện chúng ta nh thấy đợc thực trạng xãhội, thời kỳ truyện cổ tích nảy sinh và phát triển Đó là thời kỳ xã hội phân hoámạnh, tạo ra hai lớp ngời có cuộc đời và số phận khác nhau, có khi đối lậpnhau Xã hội phân chia thành hai giai cấp: giai cấp áp bức và giai cấp bị áp bức.Thực trạng này đã dẫn đến xung đột, bất công gay gắt mà nạn nhân đầu tiên lànhững ngời mồ côi, những ngời em út, những đứa con riêng
Là nhà văn hiện đại đã từng sống qua thời kỳ xã hội cũ, Tô Hoài phần nàothấu hiểu đợc nỗi thống khổ của nhân dân lao động Chính sự tơng đồng về cơ
sở xã hội đó đã giúp ông xây dựng các hình tợng nhân vật phiếm chỉ có nhiềunét tơng đồng với tác giả dân gian Nói nh vậy không có nghĩa là Tô Hoài saochép truyện cổ tích, mô phỏng hoàn toàn truyện cổ tích mà tập truyện là kết quảsáng tạo của nhà văn
Điểm gặp gỡ trớc hết giữa Tô Hoài và tác giả dân gian là xây dựng nhânvật phiếm chỉ thành một hệ thống nhân vật đông đảo và đa dạng Hầu nh nhữngnhân vật phiếm chỉ có trong cổ tích đều đợc Tô Hoài đa vào trong tác phẩm và
có vai trò, chức năng quen thuộc Nghĩa là sự tơng đồng giữa tập truyện của TôHoài và truyện cổ tích không chỉ là sự tơng đồng về dạng thức tồn tại của nhânvật mà còn là chức năng của chúng trong tác phẩm
1.3.1.2 Sự giống nhau về hoàn cảnh và số phận
Trang 22Tác phẩm văn học luôn đặt con ngời trong một hoàn cảnh xã hội cụ thểrồi triển khai số phận của nó Hoàn cảnh là môi trờng để cho nhân vật bộc lộtính cách của mình Banzắc từng nói rằng: "Phải chăng xã hội đã từ những conngời, tuỳ theo những hoàn cảnh trong đó nó hoạt động tạo nên đợc bao nhiêucon ngời khác nhau" (Tựa Tấn trò đời) Nh chúng ta đã biết, nhân vật cổ tích là
nhân vật chức năng, không phải là nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điểnhình Những hoàn cảnh mà nhân vật cổ tích phải trải qua cũng có thể đợc gọi làhoàn cảnh điển hình, vì nó tiêu biểu cho cuộc sống và số phận của nhân dân lao
động ngày xa Những "nhân vật thấp hèn trong cổ tích chính là hình ảnh tợngtrng cho thận phận của ngời lao động trong xã hội cũ" [16,98]
Tìm hiểu hoàn cảnh nhân vật phiếm chỉ trong cổ tích chúng ta sẽ thấycuộc sống của nhân dân lao động xa Hầu hết, họ đều là những con ngời thuộclớp dới trong xã hội có giai cấp, là đàn em trong gia đình phụ quyền, là nhữngcon ngời hiền lành tốt bụng, chịu nhiều thiệt thòi, đáng thơng và cũng đángkhâm phục Tựu trung, họ đều xuất thân từ hoàn cảnh bất hạnh nhng mỗi ngờilại bất hạnh khác nhau
Đó là những con ngời cô độc, lẻ loi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi
n-ơng tựa phải tự kiếm sống nuôi bản thân nh Thạch Sanh, Chử Đồng Tử, chàng
Đó là những ngời bề ngoài dị dạng, xấu xí hay đội lốt những loài vật tầmthờng nh cô Cóc trong Lấy vợ Cóc, chàng Dê trong Lấy chồng Dê, chàng Rắn,
Sọ Dừa
Trang 23Trong 101 truyện ngày xa cũng vậy, hầu nh các nhân vật đều có hoàn
cảnh xuất thân thấp hèn và cuộc đời bất hạnh nh nhân vật truyện cổ tích Saukhi trình bày về thời gian, không gian khung cảnh câu chuyện, kéo ngời đọc rakhỏi dòng đời hằng ngày để bớc vào một thế giới kì ảo, xa xa, Tô Hoài bắt đầugiới thiệu về hoàn cảnh xuất thân và cuộc đời đầy đau khổ của nhân vật "Nhânvật hiện ra mang ngay những đặc điểm của kiểu truyện và bớc vào dòng vận
động thông thờng của cốt truyện"[48, 208]
Nhân vật mồ côi ở 101 truyện ngày xa không nhiều nh trong truyện cổ
tích Có bốn truyện viết về kiểu nhân vật này là: Con hơu sao, Chuyện chàng
đốn củi, Công chúa nói ba lần, và Đi học khôn
ở truyện Con hơu sao, cũng nh tác giả dân gian, Tô Hoài giới thiệu
nguồn gốc của nhân vật bằng những câu ngắn gọn: "ở núi Bờ Lá, có một chàngtrai mồ côi từ thủa nhỏ Tởng nh khi biết đi cậu bé đã phải một mình vào rừngkiếm củi đem ra chợ bán Có đợc miếng ăn cũng khó, thế mà chàng tính nết tốt,hay đỡ đần ngời gặp khó khăn hơn" Chỉ với một sự giới thiệu giản dị nh vậy màngời đọc hình dung ra đợc cuộc sống vất vả vì mu sinh của nhân vật
Trong Chuyện chàng đốn củi nhân vật đợc giới thiêụ nh sau: "Có một
anh chàng chỉ ở một thân một mình mà vẫn nghèo khó Cấy cày cật lực quanhnăm, nhng đợc hạt thóc lại phải đem trả thuế ruộng thì vừa hết" Thật gần gũivới lối giới thiệu nhân vật của cổ tích
Truyện Công chúa nói ba lần, Tô Hoài không giới thiệu ngay hoàn cảnh
của nhân vật mà gián tiếp qua việc miêu tả nhân vật chàng Mồ Côi, "một hôm,
có một chàng trẻ tuổi đến xin vào triều thi kén phò mã Chàng tên là Mồ Côi chẳng hiểu sao lại có tên quái dị nh vậy Quanh mình đeo quấn những cuộnthừng, chảo, cái niêu, cái ống thổi cơm lam, lại cái ấm đun nứơc, cái bùi nhùirơm buộc mấy hòn đá đánh lửa Vai này vác rùi, vai bên kia đeo cái nỏ ốngtên"[28,312] Qua sự miêu tả đó, ta thấy đợc cuộc sống của Mồ Côi là một cuộcsống tạm bợ trong rừng núi, không nhà cửa, không cha mẹ, không ngời thân
Trang 24-Hằng ngày chàng phải tự bơn chải, kiếm sống nuôi thân Đến cả những vậtdụng cần thiết cho một con ngời cũng phải luôn mang theo bên mình cho thấy
sự côi cút, đơn độc, vất vả của chàng Chính vì thế mà đứng trên sân rồng chàngvẫn điềm nhiên nh đang ở trong rừng Chàng làm những công việc mà hằngngày chàng vẫn làm "Đến bữa Mồ Côi ngả thức ăn ra thổi nấu Anh đặt cáiniêu xuống, cầm ruột tợng đỏ gạo vào niêu, đem ra cái chum ở góc sân lấy nớc,bóp gạo luôn trong niêu rồi bng vào gốc cây đề Anh ra vờn tìm hai hòn đá kêlàm đầu rau " Chàng làm tuần tự các buớc để có một bữa tra ngon miệng màkhông hề để ý đến công chúa hay quan lại Chính giản dị và chân thành nh vậy
đã làm cho công chúa phải bật lên tiếng nói một cách tự nhiên Cuối cùng, MồCôi đã chiến thắng, dành đợc phần thởng xứng đáng, nhà vua gả công chúa chochàng
Trong cổ tích, Thạch Sanh và Chử Đồng Tử tiêu biểu cho ngời mồ côi vớithân phận thấp hèn, bị vùi dập hắt hủi Chàng mồ côi (trong Con hơu sao) và
Mồ Côi (trong Công chúa nói ba lần) tiểu biểu cho kiểu ngời mồ côi trong tập
truyện của Tô Hoài Họ là những ngời thân phận thấp hèn nhng không camchịu, trái lại có quyết tâm vơn lên để có một cuộc sống tốt đẹp hơn
Con riêng là một trong những loài ngời thu hút các tác giả dân gian Khánhiều truyện cổ tích của các dân tộc nói về loại nhân vật này: Tấm Cám, Mụ dì ghẻ độc ác (dân tộc Kinh), Tua Gia Tua Nhi (dân tộc Tày), ý ởi ý Nọong (dân
tộc Thái), Gầu Nà (dân tộc Mông), Tô Hoài có hai truyện viết về loại nhân
vật này là Tấm Cám và Ngời hóa dế Tấm đợc coi là nhân vật điển hình trong
cổ tích và ở trong truyện này cũng vậy Tấm hiện lên trong trang văn của TôHoài là một cô gái hay lam hay làm, hiền lành, chụi khó, bất hạnh "Mẹ Tấm,cha Tấm mất đã lâu Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám Cùng con cái trong nhà, nhngngời dì ghẻ con yêu con ghét này vốn cay nghiệt, độc ác Tấm phải lăn lng ralàm suốt ngày Đi chăn trâu, khi về lại quảy theo một gông cỏ Không đợc thếthì mẹ con Cám không cho ăn cơm Rồi gánh nớc, ra ao vớt bèo cái cho lợn, bèo
Trang 25tấm cho vịt Tối đến, giã gạo Có đêm khuya, vừa đứng chân cối vừa ngủ gật.Chợt bừng mắt, Tấm lại hối hả, cuống quýt chân tay" [28,125] Có thể xemquan hệ giữa mẹ con Cám và Tấm là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đấu tranh gaygắt giữa thế lực áp bức và bị áp bức Sự áp bức của mẹ con nhà Cám đối vớiTấm đợc biểu hiện dới nhiều hình thức Đó là sự tớc đoạt nhỏ nh việc Cám lừaTấm để trút sạch tép của Tấm, là sự tớc đoạt đến cạn tàu ráo máng nh bắt cábống đem ăn thịt, là sự độc ác tận cùng quyết diệt tận gốc Tấm Nhng mẹ conCám ra sức hãm hại Tấm bao nhiêu thì cô lại chống trả bấy nhiêu, để đợc sống,
đợc mu cầu hạnh phúc, dù phải trải qua hết nạn này đến nạn khác
Trong gia đình với chế độ t hữu, đứa con riêng là kẻ đau khổ nhất TôHoài đặt ra vấn đề số mệnh "đứa con riêng" và giải quyết nó theo quan điểmcủa nhân dân ở Ngời hóa dế xung đột giữa đứa con chồng và dì ghẻ quyết liệt,
không thể nào điều hòa đợc Ngời con riêng đấu tranh với dì ghẻ độc ác để dànhlấy sự công bằng và hạnh phúc, đó cũng là sự đấu tranh muôn thủơ giữa thiện và
ác Ta nh bắt gặp đứa con riêng trong cổ tích, nhân vật bất hạnh nhất lên đếnmức tột cùng
Nhân vật ngời em út, nổi bật ở ba truyện: Đám cới kì lạ Chó đá biết cời, Làm ác phải tội Đây đều viết lại truyện cổ tích nên nội dung và nhân vật cơ
bản giống cổ tích Nhân vật ngời em đều chịu thiệt thòi trớc thói tham lam củangời anh Nhng cũng chính trong hoàn cảnh đó, những phẩm chất tốt đẹp củangời em nh thật thà chịu khó, thơng ngời đợc bộc lộ Và cũng vì thế mà ngời em
đến cuối truyện đợc đền bù xứng đáng, còn ngời anh tham lam đã bị trừng trị
đích đáng
Nhân vật ngời đi ở có trong các truyện nh Cây tre trăm đốt, Vua Heo,
Viên ngọc xanh Nếu nói "cổ tích là bức vẽ nhân sinh phong phú vào bậc nhất
của nhân dân đã phản ánh mâu thuẫn của xã hội phong kiến: mâu thuẫn giữa địachủ và nông dân", thì các truyện này đã phán ánh một cách sâu sắc mâu thuẫn
đó, tiêu biểu nhất là truyện Cây tre trăm đốt Trong cổ tích, nhân vật này có tên
Trang 26là Khoai, còn trong tập truyện của Tô Hoài nhân vật có tên là anh thợ cày để tô
đậm hoàn cảnh nghèo khổ của nhân vật Cũng giống nh trong cổ tích, nhân vậtthợ cày đợc Tô Hoài miêu tả mang những đặc điểm của ngời đi ở nói chung:bần cùng, không có ruộng đất, nhà cửa, phải bán sức lao động rẻ mạt, đi ở đợcho bọn nhà giàu để kiếm sống Họ siêng năng, chịu khó, không phàn nàn vềthân phận của mình Mặc dù họ phải đầu tắt mặt tối nhng cái kiếp đi ở khôngbao giờ khá lên đợc Bọn phú ông, địa chủ luôn đè đầu cỡi cổ những thân phận
bé nhỏ, đáng thơng này, bóc lột sức lao động của họ đến cùng kiệt Chúngkhông từ một thủ đoạn nào nhằm lợi dụng sự thật thà và đặc biệt là sự siêngnăng của ngời đi ở để làm giàu Thông qua thân phận những ngời đi ở Tô Hoài
đã vạch rõ sự đối lập giữa cảnh giàu có của địa chủ và cảnh bần cùng của ngờilao động Đồng thời cũng thể hiện hai loại bản chất trái ngợc, địa chủ gian ác,ngu dốt, keo kiệt, hèn nhát và ngời nông dân chất phác, thông minh, hiền lành,dũng cảm
ở loại nhân vật có ngoại hình xấu xí, tập truyện có các nhân vật: cô gáibớu cổ (trong Cái bớu cổ), cô Cóc (Lấy vợ Cóc), chàng Dê (Đám cới kì lạ).
Kiểu nhân vật này trong tác phẩm của Tô Hoài vừa tiểu biểu cho loại ngời bấthạnh vì ngoại hình xấu xí, vừa tiểu biểu cho loại ngời có t chất thông minh Côgái bớu cổ (Cái bớu cổ) hát hay, tính tình vui vẻ, hoà nhã với mọi ngời Chính
vì thế cô đợc các nàng tiên lấy đi cục bớu, trả lại vẻ đẹp Cô Cóc (Lấy vợ Cóc)
dễ thơng, giọng nói nhẹ nhàng làm cho anh học trò yêu mến, là một ngời vợgiỏi lo khéo liệu, giúp chàng vợt qua đợc các thử thách
Những hoàn cảnh bất hạnh trong tập truyện đã đợc tác giả miêu tả tới mứctriệt để Tô Hoài đã học tập các tác giả dân gian khi ông cho những nhân vậtcủa mình sống trong những hoàn cảnh khó khăn, cũng chính trong hoàn cảnh ấynhững phẩm chất tốt đẹp của họ mới có cơ hội thử thách, bộc lộ và tỏa sáng
1.3.1.3 Nhân vật đợc miêu tả theo xu hớng khái quát hoá
Trang 27Có thể nói rằng cách xây dựng nhân vật của cổ tích có nhiều điểm khácvới nhân vật văn học viết Một tác phẩm văn học viết luôn hớng đến việc xâydựng những nhân vật có cá tính, nhân vật có tính cách, hơn nữa là nhân vật cótính cách điển hình Muốn vậy "tác giả văn học viết phải hoàn thiện nhân vật từngoại hình đến nội tâm, nhân vật phải mang đức tính chung nhất tiêu biểu chomột lớp ngời nhng đồng thời cũng phải có cá tính riêng biệt" [17,36]
Trong khi đó nhân vật cổ tích là nhân vật chức năng, "nhân vật có đặc
điểm, phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sốngnội tâm, sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năngtrong truyện và trong việc phản ánh đời sống Nhân vật đồng nhất với vai trò mà
nó đóng trong tác phẩm" [19,196] Vì thế, nhân vật cổ tích không bộc lộ tínhcách, cha có nội tâm, thậm chí cha đợc chú ý đến ngoại hình Nhân vật ít khihành động theo suy nghĩ của nó mà hành động theo những chức năng mà cốttruyện định sẵn V.Ia Prốp trên cở sở khảo sát truyện cổ tích Nga, nhận ra rằngtrong cổ tích những yếu tố bất biến chính là chức năng nhân vật, "những tên gọithay đổi và cùng với các tên gọi là các thuộc tính của những nhân hành động,nhiều hành động của họ không thay đổi hay chức năng của họ không thay đổi
Do đó, ta có thể kết luận rằng cổ tích thờng gắn với những hành động nh nhaucho những nhân vật khác nhau Điều này cho phép ta có thể nghiên cứu cổ tíchtheo những chức năng nhân vật hành động" [51,40] Tác giả dân gian dồn trọngtâm vào việc miêu tả sự kiện và xung đột nên nhân vật cổ tích thờng đợc miêutả theo xu hớng khái quát hoá Xu hớng khái quát hóa này thể hiện trên ba ph-
ơng diện: ngoại hình, nội tâm và tính cách
Về mặt ngoại hình, tác giả truyện cổ tích không quan tâm tới chân dungnhân vật, không đi sâu miêu tả ngoại hình của nó Bề ngoài của nhân vật đợcmiêu tả bằng những nét sơ qua, mờ nhạt Diện mạo của nhân vật đợc giới thiệumột cách chung chung Là gái thì xinh đẹp nh Tấm, là chàng trai thì phải khôingô nh Thạch Sanh Nhng xinh đẹp nh thế nào, khôi ngô ra sao thì không đợc
Trang 28miêu tả cụ thể Diện mạo của con ngời ấy nh thế nào tuỳ thuộc vào s hình dungcủa ngời nghe.
Tô Hoài là nhà văn có biệt tài thể hiện thần thái của nhân vật Dế Mèn phiêu lu ký vẽ nên một chú dế mèn đang tuổi thanh niên cờng tráng rất sinh
động bằng hình tợng ngôn ngữ: "Bởi tôi ăn uống và làm việc có chừng mực nêntôi chóng lớn lắm Đôi càng tôi mẫm bóng Những cái vuốt ở chân ở khoeo cứcứng dần và nhọn hoắt Thỉnh thoảng muốn thử sức lợi hại ở những chiếc vuốt,tôi co cẳng lên đạp phanh phác vào các ngọn cỏ Những ngọn cỏ gãy rạp y nh
có nhát dao vừa lia qua Đôi cánh tôi trớc kia ngắn hủn hoẳn, bây giơ cái áo dàikín xuống tận chấm đuôi Lúc tôi đi bách bộ cả ngời tôi rung rinh một màunâu bóng mỡ soi gơng đợc và rất a nhìn Đầu tôi to và nổi từng tảng, rất bớng.Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp nh hai lỡi liềm máylàm việc Sợi râu tôi dài một vẻ rất đỗi hùng dũng Tôi lấy làm hãnh diện với bàcon về cặp râu âý lắm"
Viết về chuyện ngày xa, ông tuân thủ một cách có ý thức thi pháp xâydựng nhân vật truyện cổ Tô Hoài miêu tả nhân vật cổ tích nh cách thức mà tácgiả dân gian vẫn làm Ông tả sắc đẹp của cô gái chỉ ngắn gọn một câu: "Mộtnhà trong làng sinh đợc một ngời con gái đến khi tuổi vừa tròn đôi tám thì sắc
đẹp tiếng đồn ra ngoài cõi" [28,142], hay "nhà họ Lê có một ngời con gái đẹpnức tiếng trong vùng" [28,45] Tô Hoài đã miêu tả nhân vật bằng một bút pháphết sức khái quát, tợng trng, khác hẳn với khi ông miêu tả nhân vật trong tiểuthuyết
Trong cổ tích nội tâm nhân vật có đợc nhắc đến bằng những từ khái quátnhng không đợc miêu tả cụ thể và có quá trình nh trong văn học viết Mỗi lầngặp đau khổ Tấm chỉ khóc Thạch Sanh không hề oán thán gì về cảnh phải ngồidới gốc cây đa của mình Ngời em trong truyện Cây khế không hề phiền muộn
khi ngời anh chiếm hết gia tài cha mẹ để lại
Trang 29ở văn học viết tình hình ngợc lại Chúng ta hẳn đã biết đến tài năngcủa Tô Hoài trong việc miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ Đó là một quá trình diễn biến tâm lý phức tạp, từ một cô Mị sống
câm lặng nào, lúc nào cũng cúi mặt " lùi lũi nh con rùa nuôi trong xó cửa" củanhà thống lý Pá Tra, tê dại ý thức phản kháng, lại có thể bừng lên khao khátthoát chốn đau khổ ý thức này nảy sinh từ đêm Mị bắt gặp hình ảnh A Phủ bịtrói "Nhìn thấy tình cảnh nh thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trớc A Sử trói Mị,
Mị cũng phải trói đứng thế kia Nhiều lần khóc nớc mắt chảy xuống miệng,xuống cổ, không biết lau đi đợc Trời ơi, nó bắt trói đứng ngời ta cho đến chết,
nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói ngời đàn bà ngày trớc cũng ở cái nhànày Chúng nó thật độc ác Cơ chừng này thì chỉ đêm mai là ngời kia chết, chết
đau, chết đói, chết rét, phải chết Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà
nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rủ xơng ở đây thôi Ngời kia việc gì mà phảichết thế APhủ " Tởng khó ai có thể vợt hơn Tô Hoài trong việc diễn tả quátrình diễn biến tâm lý phức tạp nh vậy Đỗ Kim Hồi cho rằng: "trong một đêm
đông nh thế Mị không liệu tính gì từ trớc, đột nhiên cắt đây trói cho A Phủ rồitheo anh trốn lên Phiềng Sa, Tô Hoài đã tự đặt cho mình một bài toán khó"[35,267] Tô Hoài đã giải bài toán khó ấy bằng một tài năng vững vàng
Vậy mà ở đây, tác giả đã không để cho thi pháp của văn học hiện đại
ảnh hởng đến công việc xây dựng nhân vật kiểu cổ tích của mình Nhân vậttrong tập truyện vẫn là những con ngời suy nghĩ đơn giản, nội tâm đơn giản.Tấm trong tập truyện vẫn là cô Tấm của truyện cổ tích, không đau khổ khi bị dìghẻ hành hạ, hay toan tính trả thù khi mẹ con Cám năm lần bảy lợt giết hại,không có một nét tâm lý nào của nhân vật này đợc nhắc đến
Ngời vợ trong Gái ngoan dạy chồng cũng vậy, sau khi bị chồng đánh
đập và xua đuổi, nàng xấu hổ, bỏ đi vùng khác nhng tâm trạng xấu hổ và tủi cựccủa ngời đàn bà bị chồng ruồng bỏ nh thế nào không đợc diễn tả cụ thể Chỉbiết nàng mở cửa hàng buôn bán rồi trở nên giàu có, nàng mở gạo phát chẩn
Trang 30cho ngời nghèo để mong tìm đợc ngời chồng cũ Tuyệt nhiên không có mộtdòng nào cho thấy việc phát chẩn xuất phát từ nghĩa vợ chồng năm xa Anh câucá trong Trả ân báo oán cũng vậy Bị ngời anh kết nghĩa anh từng cứu mạng
phản bội, bị giam vào ngục tối anh chỉ biết thở dài, "tiếng thở dài của anh nãonuột nh gió thổi" Không hề căm ghét hay nổi giận đùng đùng nh ta thờng thấy
ở các nhân vật của truyện hiện đại trong tình huống tơng tự
Khi xây dựng nhân vật kiểu nhân vật cổ tích, Tô Hoài vẫn giữ nguyên đặctrng của loại nhân vật này, không thay đổi đáng kể nh một số nhà văn hiện đạikhác Chẳng hạn, truyện Nàng tiên ngủ in trong tập truyện dân gian xuất bản
gần đây coa đoạn nh sau: "Cô con gái hoang cắn chặt răng để khỏi bật khóc,nàng nhớ lại những ngời sống trong cái làng nhỏ ấy Không phải ngời nào cũng
tử tế với nàng, thậm chí có ngời còn đối xử tệ bạc với nàng nữa là khác Nhnghầu hết mọi ngời trong làng đều hiền lành, biết quí trọng công sức của nàng, vìchính họ cũng phải lam lũ mới có miếng ăn Nàng nhớ những bậc thang đất bịxói mòn ở cái ao làng, nơi nàng thờng tắm giặt, nhớ cả những cánh bèo nàng th-ờng tinh nghịch vớt lên rồi thả trôi Nàng nhớ bà cụ ở cái quán nhỏ dới bờ trevẫn thờng cho nàng những miếng xôi cháy những năm nàng còn nhỏ, từ tốn âncần thăm hỏi nàng những năn gần đây khi nàng đã trở thành một thiếu nữ xinh
đẹp" [11,94] Ta nhận thấy nhân vật mang dáng vẻ nhân vật hiện đại hơn lànhân vật cổ tích Nhân vật đợc miêu tả có quá trình tâm lý phức tạp (trongtruyện cổ điều này đợc lớt qua) Ngời su tầm cho nhân vật sống với hồi ức, một
điều khá xa lạ với thi pháp truyện cổ Nhân vật cổ tích bao giờ cũng ở thời hiệntại Tác giả của truyện này cũng đã miêu tả nhân vật trong quá trình diễn biếntính cách Điều này không giống với bút pháp truyện cổ mà gần với truyện ngắnhiện đại hơn Đây chỉ là một trong nhiều tác phẩm dân gian đã bị các tác giảviết lại truyện cổ tích hiện đại hóa Chính sự làm mới này không làm chotruyện cổ tích hấp dẫn hơn mà vô tình làm mất đi vẻ đẹp của truyện cổ tích
Trang 31Những đặc trng thi pháp của truyện cổ tích làm cho nhân vật loại truyện
cổ này có những điểm khác biệt với nhân vật truyện hiện đại Những đặc điểmnày còn đợc lu giữ và ảnh hởng đến nghệ thuật giai đoạn sau, nhất là các tácphẩm phóng tác truyện cổ tích Nhân vật của tập truyện Tô Hoài đậm đà màusắc dân gian chứ không biến nhân vật cổ tích thành nhân vật văn học hiện đại
Ông thờng căn cứ vào chủ đề t tởng ban đầu của truyện, chọn lọc những chi tiếttâm đắc, sau đó tô đậm hoặc lợc bỏ các tình tiết để làm sáng rõ hơn chủ đề củatruyện Bởi vì với ông những nhân vật trong truyện cổ là những giá trị do nhiềuthế hệ tạo nên Nó đã trải qua nhiều thử thách, cho nên chúng ta cần trân trọng,giữ gìn
Những điểm giống nhau giữa 101 truyện ngày xa và cổ tích chứng tỏ
Tô Hoài đã viết lại cổ tích trên tinh thần trân trọng và giữ gìn những gì đợc coigiá trị văn hóa truyền thống Khi xây dựng nhân vật phiếm chỉ ông đã kế thừa
và học tập rất nhiều thi pháp xây dựng nhân vật của các tác giả dân gian Vìthế, nhân vật của tập truyện bảo lu đợc các giá trị nghệ thuật của dân gian đíchthực, không mất đi vẻ đẹp của thế giới cổ tích
1.3.2 Lý giải sự tơng đồng
Về mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tợng, cần chú ý là không phảithấy các sự vật giống nhau thì hiển nhiên xem chúng có quan hệ phụ thuộc màcần tìm ra căn nguyên sự tơng đồng Giới nghiên cứu văn học so sánh Xô Viếtcho rằng: "chỉ thấy những chỗ giống nhau mà kết luận về quan hệ phụ thuộc thìcũng vu vơ nh là không thấy chỗ giống nhau mà phủ định quan hệ phụ thuộc" Xuất phát từ t tởng đó, chúng tôi tìm nguyên nhân của sự giống nhaugiữa 101 truyện ngày xa và truyện cổ tích Nguyên nhân cơ bản là sự ảnh hởng
của văn học dân gian đối với văn học viết Việt Nam nh là một truyền thống vănhọc cho sự kế thừa và phát triển
Kiều Thu Hoạch trong bài Vai trò của truyện kể dân gian đối với việc hình thành các thể loại văn học tự sự trong văn học Việt Nam đã chỉ ra: " Kho
Trang 32tàng truyện kể dân gian đã có vai trò quan trọng và ảnh hởng to lớn sự hìnhthành và phát triển các thể loại văn học tự sự Việt Nam về nhiều mặt Có thểnói, kho tàng truyện kể dân gian chính là một trong những nguồn suối máttrong đã nuôi dỡng cho văn học tự sự Việt Nam mãi xanh tơi" Cũng bàn vềmối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học viết, tác giả Lê Kinh Khiêntrong bài Một số vần đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian - văn học viết cũng khẳng định: "ở Việt Nam chúng ta, do những điều kiện lịch
sử riêng, văn học dân gian có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trìnhxây dựng nền văn học dân tộc Mối quan hệ văn học dân gian và văn học viếthết sức sâu sắc, trở thành một động lực thúc đẩy nền văn học dân tộc phát triểnmạnh mẽ" [33,327] Những nhận định này đã nhấn mạnh và khẳng định tầmquan trọng đặc biệt, cũng nh vai trò, vị trí của văn học dân gian đối với văn họcviết Có thể nói rằng, việc sử dụng các t liệu văn học dân gian vào trong sángtác văn học viết đã trở thành một việc làm mang tính chất truyền thống, khôngphải đến tận văn học hiện đại mới có mà đã từng diễn ra ở văn học trung đại(đặc biệt là trong các tác phẩm truyền kỳ) Hơn nữa, viết lại truyện cổ tích - mộtsản phẩm nghệ thuật có chủ tâm của t duy cổ đại, ắt hẳn sự giống nhau về mặtthi pháp cốt truyện, nhân vật hay cách thức xây dựng nhân vật là điều tất yếu
M Gorki nói rằng "nhà văn không biết đến văn học dân gian là một nhàvăn tồi" Nhận xét này cho ta thấy đợc mối quan hệ giữa nhà văn với văn họcdân gian là rất mật thiết Việc sử dụng chất liệu văn học dân gian vào sáng tác
sẽ góp phần khẳng định tài năng của nhà văn "Kinh nghiệm nghệ thuật phongphú của nhân loại hàng bao nhiêu đời nay đã vạch rõ nguyên nhân thành côngchủ yếu của những tác phẩm u tú ở tất cả mọi nớc, là sự liên hệ mật thiết củanhà văn đối với đời sống nhân dân, với sáng tác tập thể của nhân dân" [6,366]
Và quả thực, từ chất liệu văn học dân gian nói chung, đặc biệt là truyện cổ tích,Tô Hoài đã xây dựng nên những nhân vật cổ tích của riêng mình, vừa mangbóng dáng của con ngời thời xa, vừa có hơi thở của con ngời hiện đại Sự giống
Trang 33nhau về mặt nhân vật phiếm chỉ không phải là sự sao chép cứng nhắc mà chính
là sự tâm đắc của nhà văn đối với đặc trng phản ánh nghệ thuật của một thể loại''có một không hai" này Đúng nh lời ông nói trong tựa cuốn sách: "Cổ tíchmang diện mạo và tâm hồn ngời Mọi mặt gốc gác, nề nếp và truyền thống đều
in bóng tuyệt vời trong cổ tích Nghe cổ tích, ngẫm cổ tích, thấy đợc và cắtnghĩa đợc tất cả cơn cớ ta tồn tại, ta sinh sôi Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật dùhoang đờng đến đâu đều thấm đợm ý nghĩa đời ngời, con ngời nỗi niềm thanthở hay ngàn vạn ớc mong đều vẫn nảy nở từ trong tấm lòng nhân nghĩa và đứctính lam làm cùng với cùng với nụ cời thật hóm, thật duyên và phóng khoángmọi nhẽ Cái cời, rừng cời trong cổ tích Việt Nam sâu xa lòng tin và nghị lực"[28;6]
1.3.3 Những điểm khác biệt
ở loại nhân vật phiếm chỉ, 101 truyện ngày xa có nhiều điểm tơng đồng
với truyện cổ tích Tuy nhiên, đứng bên cạnh cổ tích, để cho nhân vật của mìnhtồn tại lâu bền trong lòng độc giả, bên cạnh những điểm tơng đồng Tô Hoàikhôn khéo tạo cho đứa con tinh thần của mình những điểm khác biệt Sự khácbiệt ấy thể hiện trên mấy phơng diện sau :
- Nhân vật 101 truyện ngày xa vừa mang tính khái quát vừa mang tính cá
thể
- Cốt truyện 101 truyện ngày xa đơn giản hơn so với cốt truyện cổ tích.
- 101 truyện ngày xa có nhiều yếu tố ngoài cốt truyện mà truyện cổ tích
Trang 34ờng có xu hớng khái quá hoá Tác giả cổ tích ít quan tâm tới ngoại hình nhânvật Ngời nghe chỉ biết Tấm là một gái đẹp, còn đẹp ra sao không đợc diễn tả cụthể Diện mạo của Thạch Sanh, Lý Thông nh thế nào tuỳ thuộc vào sự hìnhdung của ngời nghe cổ tích
Trong cổ tích Tấm Cám, nhân vật Tấm đợc giới thiệu nh sau: “Ngày xa,
cô Tấm và cô Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ Hai chị em suýt soát tuổinhau” Còn trong truyện Hai cô gái và cục bớu: “Xa có một cô gái con nhà
nghèo khó không may cho cô là khi sinh ra đã mang một cục bớu ở mặt Ngờicàng lớn, cục bớu càng to vì vậy nhan sắc của cô thua kém chị em” [6,77].Trong truyện Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử, sắc đẹp của các cô đợc giới
thiệu: “Ngày xa, có vợ chồng một nhà phú hộ nọ sinh đợc bốn cô con gái Lớnlên cô nào cô nấy nhan sắc xinh đẹp, tởng trong vùng khó ai sánh kịp” Đó làcách mà các tác giả dân gian giới thiệu về nhân vật cổ tích ở đó, nhân vật chỉ
đợc miêu tả một cách chung chung, mờ nhạt, là những con ngời mới chỉ cóhình hài chứ cha có đờng nét
Trong 101 truyện ngày xa, bên cạnh những nhân vật có bề ngoài miêu tả
sơ lợc, mờ nhạt nh vậy, có một số không nhỏ nhân vật đợc tác giả miêu tảngoại hình rất tỉ mỉ, cụ thể
Trong truyện Cô gái muốn lấy chồng hoàng tử, nếu nh nhân vật cô gái
đ-ợc tác giả miêu tả khái quát bằng một câu quen thuộc: “một nhà trong làng sinh
đợc một ngời con gái đến tuổi vừa đôi tám thì sắc đẹp đồn ra ngoài cõi” thì ởnhân vật bác lái hơng ngời vốn bấy lâu hâm mộ sắc đẹp đó lại đợc tác giả miêutả cụ thể hơn: “Ngời bán hơng là một bác đã đứng tuổi, mặt lỗ chằng chịt.Không biết đã goá vợ hay bỏ vợ, một mình bác lái quảy gánh hơng đến bán”.Hay nhân vật vợ của thầy đồ Ngọa trong Cha đỗ ông nghè đã đe hàng tổng
đựơc nhà văn miểu tả tỉ mỉ, khi cho nhân vật thầy đồ nhìn nhận vẻ nhếch nháccủa thị: "thầy thấy con mẹ hĩm nhà mình xấu xí quá Nái xề cạo đầu trọc già
mõ, lại mặt rỗ huê, quanh năm hết chạy chợ về nhà lại váy đụp, cởi trần phơi
Trang 35nắng, bắt cua ngoài bờ rộc" Nh vậy, đến Tô Hoài nhân vật truyện cổ tích viếtlại đã cụ thể hoá nhiều hơn.
Nhân vật đội lốt là loại nhân vật rất phổ biến trong cổ tích Dê trong Lấy chồng Dê là một ví dụ Nếu trong cổ tích, Dê khi sinh ra chỉ là một chú dê, làm
bố mẹ phiền lòng chỉ muốn vứt quách đi cho xong thì Dê trong Đám cới kì lạ
của Tô Hoài lại là một chú dê rất ngộ nghĩnh, dễ thơng: “Đến tháng đẻ, ngời vợsinh ra một cái bọc to, trong vọc vang lên tiếng kêu nghe lạ lắm Rồi cái thai
nh con gà mới nở đạp vỏ trứng trong bọc nhảy ra một con dê xinh xắn Con dêmới sinh thật khác đứa trẻ Dê đã có móng, hai mép mọc hàng ria, bốn chânduỗi thẳng, ve vẫy đuôi đứng dậy bớc nhanh nhanh ngay Dê không khóc oe oe
mà dê giơ mõm kêu be be”[28,220] Sự miêu tả hóm hỉnh xuất phát từ tài quansát tinh tế của tác giả về những con vật khiến ngời đọc có cảm giác truyện rấthiện thực, chính tác giả là ngời đã chứng kiến rồi kể lại cho ta nghe Tô Hoài
đã làm cho con vật thật sinh động, gần gũi với ngời ngày nay
Và khi đã bỏ lốt vật để làm ngời, Dê không phải là một chàng trai đợcmiêu tả ớc lệ mà là một con ngời đẹp một cách cụ thể với “thân hình lực lỡng,mắt sáng quắc, bớc nhanh thoăn thoắt, mặt đẹp ngời ngời, đầu chít khăn điều,tấm áo lụa thiên thanh thắt lng bỏ giọt màu lục” Ngoại hình của nhân vật đã đ-
ợc Tô Hoài chú ý miêu tả chi li, chi tiết từ vóc dáng, cử chỉ, trang phục và cảnhững chi tiết nhỏ nhất là màu sắc cái thắt lng cũng đợc nhắc đến Tô Hoài đãtạo ra sự khác biệt giữa nhân vật cuả mình so với cổ tích ở chỗ nhân vật của ông
có ngoại hình cụ thể riêng biệt, mang dấu ấn sáng tạo của nhà văn
Cô Cóc truyện cổ tích khi lột bỏ tấm da cóc thành ngời, cô có một vẻ đẹp
ớc lệ "da trắng, môi son, mắt ngài mày phợng” thì cô Cóc của Tô Hoài mang vẻ
đẹp thôn quê của cô gái Kinh Bắc xa: “Lát sau, trong vòm lá nứa xanh um bớc
ra một cô gái da trắng nh trứng gà bóc, đôi mắt sáng ngời Váy áo mớ ba mớbảy rực rỡ, rõ ràng là một cô gái đi chơi xuân đẹp nhất hội” Nhân vật cổ tíchviết lại đợc Tô Hoài chú ý miêu tả ngoại hình một cách cụ thể, chi tiết.Tô Hoài
Trang 36muốn nhân vật không đóng khung cố định mà thật sinh động Khi đọc cổ tích ta
đều nhận thấy nhân vật có khoảng cách lớn đối với ngời tiếp nhận, vì nhân vật
cổ tích bao giờ cũng đẹp một cách công thức, tợng trng Chú trọng miêu tảngoại hình nhân vật, Tô Hoài đã rút ngắn khoảng cách giữa thế giới cổ tích vớicuộc sống
Tác giả cổ tích không quan tâm đến đời sống nội tâm của nhân vật, ở 101 truyện ngày xa điều này đợc nhà văn chú ý hơn Nhân vật cổ tích của Tô Hoài
có đời sống nội tâm phức tạp chứ không đơn giản một chiều nh cổ tích
Chiếc giày thơm là một tác phẩm viết lại truyện cổ tích cùng tên Dới
ngòi bút của Tô Hoài, thấy nhân vật Nàng Đỗ và chàng Lý khác so với cổ tích,
có đời sống nội tâm phong phú hơn Trong cổ tích, chàng Lý có tên Lý QuốcHoa, con của tớng Kim Ngô, cô gái mà chàng yêu là họ Trơng Hai ngời gặpnhau đem lòng yêu thơng nhau, sau vài lần hẹn hò, tình yêu ngày càng thắmthiết, say nồng Giữa lúc đó đã xảy ra một biến cố Chàng Lý vì bận công việccha giao mà lỡ hẹn với nàng Trơng Để cho ngời yêu phải đợi, chàng Lý vôcùng hối hận, “chàng cảm thấy nh có một sự đổ vỡ ghê gớm, không cứu vãn đ-
ợc Cầm lấy chiếc giày, chàng âu yếm mãi trong một phút rầu lòng đến cực
điểm, tự nhiên hồn lìa khỏi xác và chàng ngã vật xuống bên cầu bất tỉnh nhân
sự ” Trong cổ tích, nội tâm của nhân vật đợc nhắc đến nhng cha đợc miêu tả ụthể, có quá trình nh văn học sau này Vì thế cái hành động "bỗng nhiên" chếtgiấc của công tử họ Lý hết sức là “yểu” và thiếu logíc trong con mắt của những
độc giả hiện đại
Tô Hoài đã dẫn dắt câu chuyện lôgíc hơn Sau khi xong việc cha giao biết
là lỡ hẹn với ngời yêu, chàng Lý vẫn đến chỗ hẹn chỉ mong đợc đứng nơi ngờiyêu vừa đứng Tình yêu của chàng dành cho nàng đã đến độ chân thành, sâusắc Lúc này không gian truyện phụ hoạ với tâm trạng nhân vật, phản ánh trạngthái rối bời của chàng Lý: “Bên kia cầu Đông, chẳng đâu còn ánh đèn lửa, ánhtrăng càng vằng vặc xuống dòng sông và bãi dâu Trong bóng trăng và bờ dâu
Trang 37phảng phất mùi hơng quen thuộc của nàng đâu đây Chàng bớc lại phía mùi
h-ơng” Cảnh vật đâu đâu cũng gợi nhớ đến hình ảnh nàng khiến chàng quay quắtnhớ thơng nên khi trông thấy chiếc giày thơm của ngời yêu thì chàng đã bật lênnhững lời độc thoại thoảng thốt: “Chiếc giày của nàng, nàng vừa đứng đây,nàng để rớt chiếc giày Vì sao nàng lại rơi giày Vì sao, hay là nàng để lại cho tabiết nàng đã chờ ta ở đây Hay là bọn cớp đã bắt nàng đi, hay là nàng giận ta màliều mình” Vì thế, tâm trạng chàng đợc diễn tả rất hợp lý: “Bao nhiêu hốthoảng rối bời mỗi một lúc một ngổn ngang Chàng Lý cầm trong tay chiếc giày,mùi hơng toả nồng nàn Bỗng nhiên, chàng Lý trông thấy nàng Đỗ vừa đếnngay trớc mặt, một chân giày một chân không, gót sen đỏ hồng Càng Lý bớctới, chàng Lý chới với, giơ hai tay chàng Lý chới với” Trong cổ tích, chàng Lývì sầu lòng mà ngất đi, thì ở đây, Tô Hoài lý giải chàng Lý ngất đi do quá lolắng cho nàng Đỗ, trong trạng thái hoảng loạn, bớc hụt chân ngã mà ngất đi
Đoạn miêu tả tâm lý này đặt trớc hành động chết giấc của nhân vật nhằm tạo ra
sự hợp lý cho câu chuyện đồng thời cũng tạo cho nhân vật có nội tâm hơn, “thậthơn”
Miêu tả nội tâm là cách bộc lộ cảm xúc, suy t thầm kín trong lòng nhânvật, góp phần làm cho nhân vật miêu tả trở nên phong phú, sinh động Nh vậymiêu tả nội tâm còn là cách khắc họa tính cách nhân vật Một trong những ph-
ơng diện thử thách tài năng của ngời nghệ sỹ là ở đây Đó là thế giới tinh thầncủa nhân vật, là những cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật về thế giới, vềcon ngời và về bản thân mình Nhà văn có thể trực tiếp biểu hiện nội tâm nhânvật bằng ngôn ngữ của mình với t cách là ngời kể chuyện, nhng biện pháp mànhà văn hay sử dụng nhất là độc thoại nội tâm và đối thoại, chúng "vang lên"một cách thầm lặng trong tâm t nhân vật Nhân vật tự phơi bày những diễn biếntrong tâm trạng của mình qua những suy nghĩ, cảm xúc cụ thể
Độc thoại nội tâm ở tập truyện này không đợc Tô Hoài sử dụng phổ biến
nh trong các tiểu thuyết của ông, nhng có nhiều nhân vật đợc nhà văn khắc họa
Trang 38bằng hình thức này Chẳng hạn, trong Con cóc hớp nớc ma, nhân vật Hai đã
đ-ợc thể hiện hình thức độc thoại nội tâm Sau khi giết anh trai mình, bề ngoài Hai
tỏ ra bình thản để che dấu lỗi lầm, nhng lơng tâm không hề yên ổn, luôn daydứt đau khổ vì việc làm bất nhân đó Sở dĩ ta có thể biết đợc điều này là thôngqua những dòng độc thoại: "Hai càng bứt rứt, áy náy Câu chuyện đã quên lại cứnhớ, phải nhớ Nh cái kim trong bọc lâu ngày đơng dần dần thò ra Nỗi ám ảnh,day dứt đơng trở đi trở lại, nói hay không nói, chẳng lúc nào dứt đợc câu tự hỏitrong lòng Rồi Hai nghĩ: Chuyện đã xa lắm rồi Vả lại bây giờ ta đã giàu có,khác những ngày ấy" Hai quyết định thú tội với vợ để tìm lấy sự thanh thản.Qua những dòng độc thoại nội tâm đó ta thấy nhân vật trong truyện cổ của TôHoài sống rất thực, không đơn điệu nh nhân vật cổ tích
Qua thể hiện nội tâm, hình ảnh nhân vật sẽ hiện lên rõ hơn, đọng lạitrong lòng độc giả hơn Vậy là, dù đời sống nội tâm cha thực sự trở thành yếu
tố quan trọng nhng Tô Hoài đã đi xa hơn truyện cổ tích vốn ít miêu tả nội tâm,
ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật Từ truyện cổ dângian Tô Hoài đã xây dựng thành những truyện trong đó nhân vật có diện mạo,tính cách riêng
Tấm Cám là truyện bất kỳ ai đọc cũng thích, vì nó phản ánh ớc mơ của
con ngời từ muôn đời nay về một xã hội công bằng, hạnh phúc “ở hiền gặp lành,
ác giả ác báo” Nếu nh các nhân vật Tấm, Cám, gì ghẻ, vua trong cổ tích đềukhông đợc miêu tả tâm lý thì trong tác phẩm Tô Hoài đã đợc nhà văn miêu tảtâm lý Vua trong truyện cổ tích sau khi Tấm mất không hề có chút hồi ức nhớnhung gì, vua trong tập truyện rất chân tình với Tấm Tấm mất, "vua buồn lắm.Nhng nhớ Tấm, lại thơng mẹ con nhà Cám Vua nhận cho Cám vào cung” KhiTấm biến thành chim Vàng Anh, chim và ngời nh có mối liên hệ mật thiết:
"Vua đơng ngồi, bỗng nhiên có cảm tởng nh Tấm sắp về Vàng Anh cất tiếnghót thánh thót Vua nghe rõ ràng tiếng Tấm Vua đứng dậy, bớc ra song cửa.Không thấy Tấm chỉ có chim Vàng Anh Vua đăm đăm nhìn chim Vàng Anh”
Trang 39Vì thế, khi chim Vàng Anh chết “vua lặng ngời nh hôm nghe tin Tấm ngã câycau chết đuối dới ao Cả ngày, cả tháng vua không nói một lời” Nhà vua rấtnhớ thơng Tấm, nỗi nhớ ấy luôn thờng trực trong lòng, có thể bộc lộ bất cứ lúcnào khi cảnh vật gợi đến hình ảnh nàng Khi cây xoan đào bị chặt làm khungcửi, “vua đến xem thợ mộc đóng khung cửi Nhiều mảnh vỏ bào ở gỗ xoan đào
đỏ phòi ra nh máu tơi, vua không dám nhìn nữa” Vua cũng giống những chàngtrai bình thờng khác, đau buồn khi mất ngời yêu Hàng loạt các tính từ chỉ tâmtrạng đợc nhà văn sử dụng Phải nhớ thơng Tấm nh vậy thì đoạn cuối tác phẩmnhà vua có thể nhận ra Tấm qua miếng trầu cánh phợng trong quán bà hàng n-ớc: “Tấm bớc ra Vua bàng hoàng đứng lên Tấm của ta, Tấm của ta vẫn nhngày xa” Miêu tả diễn biến nội tâm là sự sáng tạo của Tô Hoài trong việc xâydựng nhân vật trên cơ sở truyện cổ Nhân vật của ông không khuôn mẫu nhtrong truyện cổ tích mà có tình cảm riêng, có đời sống nội tâm không phụ thuộcvào ý muốn của tác giả
Nhân vật phiếm chỉ của 101 truyện ngày xa bên cạnh những điểm tơng
đồng với cổ tích còn có nhiều điểm khác biệt Nhân vật ở đây đợc miêu tả cụthể về ngoại hình, nội tâm nên độc lập với ý đồ của tác giả Có thể nói, nhân vậtcủa Tô Hoài khác xa vẻ đẹp khuôn sáo, công thức của cổ tích mà sinh động, gầngũi với cuộc đời Nhân vật không chỉ có vẻ đẹp bề ngoài mà còn có vẻ đẹp nộitâm phong phú, có cá tính và bản sắc Chính vì thế, nhân vật phiếm chỉ trong
101 truyện ngày xa dù có những điểm tơng đồng với cổ tích nhng vẫn đáp ứng
đợc thị hiếu của độc giả hôm nay
1.3.3.2 Cốt truyện "101 truyện ngày xa" đơn giản hơn so với cổ tích
“ Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể đợc tổ chức theo yêu cầu t tởng vànghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản quan trọng nhất trong hìnhthức động của tác phẩm văn học thuộc các loại hình tự sự và kịch"[19,88] Vìthế, cốt truyện vừa góp phần bộc lộ tính cách nhân vật lại vừa trình bày có hệ
Trang 40thống sự kiện phản ánh xung đột xã hội, tạo ra sự lôi cuốn ngời đọc Cốt truyện
là bộ phận quan trọng hàng đầu của tác phẩm tự sự, nhất là đối với cổ tích
Bàn về cốt truyện của cổ tích, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Phát, BùiMạnh Nhị cho rằng: “có lẽ trong lịch sử sáng tác nghệ thuật của loài ngời khó
có thể gặp tác phẩm nào có kết cấu trong sáng, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc, tìnhtiết phong phú nhng cách sắp xếp lại có nề nếp, tuân theo một trật tự nghiêmngặt nh cổ tích thần kỳ”[48,208]
Đọc bất kỳ một tác phẩm cổ tích nào, ta cũng thờng thấy cốt truyện của
nó gồm ba phần: Phần mở đầu, phần diễn biến cùng với các sự kiện, tình tiếttheo tăng tiến của xung đột và phần kết thúc Đây là sờn cơ bản của phần lớncác tác phẩm, nhng cũng cần thấy một số truyện - mà thờng là những truyện rất
có giá trị - cốt truyện phức tạp hơn ở những truyện này, cốt truyện không dừnglại khi nhân vật dành đợc phần thởng vì kẻ thù vẫn tồn tại, tiếp tục các thủ đoạntàn ác Nhân vật chính lại phải tiếp tục cuộc chiến đấu của mình cho đến khixoá sạch mầm mống của tội ác Đó là trờng hợp cô gái út trong Lấy chồng Dê
(hay trong Sọ Dừa) vẫn tiếp tục chống chọi các trò lừa gạt của hai chị cả; nhân
vật thầy đồ (trong Ngời học trò và ba con quỷ) sau khi diệt đợc ba con quỷ vẫn
tiếp tục chinh phục đối tợng khác để trở thành trạng nguyên; hay Tấm sau khi
đã trở thành hoàng hậu vẫn phải chiến đấu với mẹ con Cám Sự mở rộng cáctình huống nh vậy là cách các tác giả dân gian kéo dài tác phẩm, gia tăng xung
đột gay cấn, mâu thuẫn thiện - ác đạt đỉnh điểm, tạo lý do chính đáng để cáithiện chiến thắng cái ác
Tô Hoài đánh giá cao vai trò nhân vật Theo ông nhân vật quyết định mọithành công của câu chuyện: “Nhân vật là nơi tập trung hết thảy, giải quyết hếtthảy trong một sáng tác Câu chuyện thành công thì nhân vật phải đặt hàng đầuvì nhân vật hay thì câu chuyện mới hay”[29,62] Để xây dựng truyện với TôHoài nhân vật là trụ cột nhng cùng với nhân vật phải là bố cục truyện “Tôi thìtôi chuẩn bị bố cục dàn khung truyện tựa nh dựng nhà cho nhân vật ở, làm đờng