ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Trên cơ sở điều tra thành phần loài sâu hại và chân khớp ăn thịt, ký sinh của chúng từ đó đánh giá sự đa dạng sinh học côn trùng trên sinh quầ
Trang 1mở đầu
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu chân khớp ăn thịt, ký sinh sâu hại vừng
Cây vừng là một trong 60 loài của họ Pedaliaceae, trong họ có 37 loài
thuộc giống Sesamum, nhng chỉ có Sesamum indicum Lineus là loài duy nhất
đợc sử dụng trong trồng trọt Sesamum indicum là cây có dầu cổ xa nhất đợc
con ngời gieo trồng rộng khắp từ các vùng nhiệt đới đến ôn đới, phổ biến ở Châu Phi, Địa Trung Hải, Trung á, ấn Độ, các nớc Đông Dơng, Trung Quốc, Nhật Bản, Trung và Nam Mỹ Ngời Ai Cập cổ đại và một số nớc khác ở Châu Phi đã coi vừng nh là một loại dợc liệu từ 2000 năm trớc công nguyên (Nguyễn
Vy, Phan Bùi Tân, Phạm Văn Ba)[55]
Hạt vừng chứa khoảng 50% dầu, 25% protein, 5% chất khoáng, 1% can
xi, 3% axit, 4% chất xơ, Giá trị sử dụng chủ yếu của vừng là làm thực phẩm,
kể cả dạng dầu tinh khiết cũng nh hạt thô Thành phần axít hữu cơ chủ yếu của dầu vừng là hai loại axít béo không no là axít ôlêic (C18H34O2), chiếm 45,3- 49,4% và axít linolêic (C18H34O2), chiếm 37,7 – 41,2% Dầu vừng thơm, dễ bảo quản hơn nhiều loại dầu thực vật khác, gần đây, trong các nghiên cứu về ăn chay, ngời ta đánh giá rất cao vai trò của vừng trong việc bồi dỡng và nâng cao sức khoẻ con ngời, nhất là khả năng phòng và trị một số bệnh hiểm nghèo (Nguyễn Vy, Phan Bùi Tân, Phạm Văn Ba)[55]
Hiện nay, trên thế giới, vừng đợc gieo trồng với diện tích không nhiều, nhng vừng có mặt ở khắp các châu lục, sản lợng vừng hàng năm trên thế giới khoảng 2 triệu tấn Các vùng trồng vừng chính là Châu á, chiếm 55 – 60%, Châu Mỹ chiếm 18 – 20%, ngoài ra Châu Âu, Châu Đại Dơng cũng có trồng rải rác nhng không đáng kể Các nớc đứng đầu về sản xuất vừng là ấn Độ (400.000 tấn/năm), Trung Quốc (320.000 – 350.000 tấn/năm, SuDan (150 –
200 tấn/ năm), Mêxico (150.000 – 180.000 tấn/năm)
Đối với nớc ta, vừng là một loại thực phẩm truyền thống, hạt vừng làm tăng vị bùi cho chiếc kẹo lạc, cho tấm bánh đa, cho bánh mè xửng, Cơm nắm
Trang 2chấm muối vừng đã đi theo ngời lính trên nhiều chiến trờng trong các cuộc chiến tranh giữ nớc của dân tộc ta Việc gieo trồng vừng ở nớc ta đã có từ lâu, ít nhất đã vài ba thế kỷ Trong sách “Vân đài loại ngữ” nhà bác học Lê Quí Đôn
đã từng tổng kết “Phép làm ruộng tốt thì nên trồng đỗ xanh trớc, sau đó đến các
đậu nhỏ và vừng” (Nguyễn Vy, Phan Bùi Tân, Phạm Văn Ba)[55]
Với khả năng chống chịu hạn tốt của cây vừng cho nên nó chủ yếu đợc gieo trồng ở những vùng khô hạn, không chủ động tới tiêu ở những vùng khô hạn, cha có cây trồng nào đạt hiệu quả kinh tế cao nh cây vừng Diện tích gieo trồng vừng ở nớc ta chủ yếu tập trung vào hai vùng chính là vùng đồng bằng ven biển miền Trung và vùng đất bạc màu Hà Bắc Nghệ An là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam, với diện tích 3.316 ha, năng suất đạt 1,3 tấn/ha (1989); 4.098 ha (1900) và năng suất đạt 2,4 tấn/ ha; 4.370 ha, năng suất
đạt 3,0 tấn/ ha Cho đến năm 1994, ngoài các giống vừng địa phơng nh vừng
đen, vừng vàng thì ở Nghệ An đã đa vào khảo nghiệm thêm một giống vừng mới là vừng trắng – vừng V6 Tổng diện tích gieo trồng vừng ở tỉnh Nghệ An năm 1994 là 5.681 ha, trong đó vừng V6 là 5 ha, đến năm 1995, diện tích gieo trồng vừng V6 là 500 ha trong tổng diện tích vừng 5.710 ha (Cục thống kê Nghệ An)[7] Trong năm 2001 diện tích vừng ở Nghệ An là 9.909 ha, trong năm 2002 diện tích gieo trồng lên đến 12.000 ha, trong đó vụ hè thu gieo trồng 7600 ha (Báo cáo của Sở NN và PTNT Nghệ An, 2002)
Có thể nói cây vừng (Sesamum indicum) đợc mệnh danh là “Hoàng hậu
của cây có dầu”, cây công nghiệp ngắn ngày, cây xuất khẩu và là cây thực phẩm quan trọng ở Việt Nam Tiềm năng phát triển của cây vừng còn rất lớn,
nh tăng diện tích gieo trồng vừng với các tiến bộ về kỹ thuật canh tác, giống mới và phòng trừ sâu bệnh Trên thực tế, trong phòng trừ sâu bệnh hại vừng, ng-
ời nông dân ở hầu hết các địa phơng đều dựa hoàn toàn vào thuốc hoá học, những thiệt hại do sâu bệnh gây ra hầu nh không giảm Việc mở rộng diện tích trồng vừng và thâm canh với những giống mới có năng suất cao chắc chắn sẽ kéo theo sự phát triển của những loại sâu hại vừng, trong đó có những loại trớc
đây cha bùng nổ thành dịch Để đóng góp những dẫn liệu khoa học cho biện
Trang 3pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) sâu hại vừng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài:
“Chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu non bộ cánh phấn gây hại vừng tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, năm 2003- 2004 ”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu gây hại vừng tại huyện Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An, nhằm góp phần cung cấp các dẫn liệu làm cơ
sở khoa học cho việc sử dụng thiên địch tự nhiên trong biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) sâu hại vừng
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Sâu hại vừng: Nhóm sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc bộ cánh phấn (Lepidoptera)
- Chân khớp ăn thịt: Nhện lớn ăn thịt, cánh cứng ăn thịt,
- Côn trùng ký sinh: Ong ký sinh (Hymenoptera), ruồi ký sinh (Diptera)
- Cây vừng: Giống vừng V6, giống vừng đen
- Các nghiên cứu đợc tiến hành trên sinh quần ruộng vừng tại xã Nghi
Đức và xã Nghi Trờng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở điều tra thành phần loài sâu hại và chân khớp ăn thịt, ký sinh của chúng từ đó đánh giá sự đa dạng sinh học côn trùng trên sinh quần ruộng vừng
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa sâu hại vừng và thiên địch của chúng trong sinh quần ruộng vừng nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản
lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu hại vừng
chơng I tổng quan tài liệu 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trang 41.1.1 Sâu hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp
Qua thực tiễn sản xuất nông nghiệp, chúng ta có thể khẳng định: Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tổn thất lớn về năng suất và phẩm chất cây trồng là do dịch hại Dịch hại làm cho cây trồng không thể tiến hành tạo năng suất một cách bình thờng Sinh vật gây dịch hại còn tiết ra các chất có tác động làm rối loạn hoạt động sống của tế bào cây trồng, làm ảnh hởng đến phẩm chất cây trồng, làm giảm giá trị hàng hoá của nông sản Nói chung, dịch hại gây tổn thất cho cây trồng nông nghiệp ở nhiều mặt, mức độ hại khác nhau tùy loại cây và vùng sinh thái
Tuy nhiên, sâu hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp Nói về tác hại của một loài sinh vật nào đó, thực ra là xét dới góc độ lợi ích của nó đối với con ngời Trong tự nhiên không có loài sinh vật tuyệt đối gây hại, cũng không có loài sinh vật hoàn toàn có lợi Thực ra, mỗi loài sinh vật đều
có một vị trí nhất định trong mạng lới dinh dỡng của hệ sinh thái, chúng thực hiện những chức năng riêng trong chu trình chuyển hoá vật chất của tự nhiên
- ở vòng tuần hoàn vật chất, các loài sinh vật tồn tại hài hoà với nhau khi
hệ sinh thái hoạt động bình thờng Do đó, đảm bảo cho hệ sinh thái tồn tại và phát triển
- Trên cơ thể cây trồng và xung quanh các loài cây trồng có rất nhiều loài sinh vật khác nhau cùng tồn tại Trong số đó, có loài cần thiết cho hoạt động sống của cây trồng, thiếu chúng cây không thể sống đợc một cách dễ dàng Bên cạnh đó, có loài sinh vật lấy cây trồng làm thức ăn (đây là các loài sinh vật gây hại) Thế nhng không phải tất cả các sinh vật lấy cây trồng làm thức ăn đều là dịch hại đối với con ngời: côn trùng ăn cỏ dại lại trở thành có ích, côn trùng bắt mồi, ký sinh là yếu tố điều hoà quần thể dịch hại, tạo điều kiện cho cây giữ đợc
số lợng thích hợp trong hệ sinh thái
Nh vậy, “ Sinh vật có lợi hay có hại không phải là thuộc tính của một sinh vật nào đó mà là đặc tính của loài đó trong mối quan hệ nhất định của mỗi
Trang 5hệ sinh thái” Các loài sinh vật vừa là điều kiện tồn tại của nhau, vừa là yếu tố hạn chế nhau trong mỗi chuỗi dinh dỡng của chu trình tuần hoàn vật chất (Hà Quang Hùng, 1998)[16].
*Khái niệm hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái đồng ruộng
Hệ sinh thái tự nhiên là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại với môi trờng bằng các dòng năng lợng tạo nên cấu trúc dinh dỡng nhất
định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất
Hệ sinh thái nông nghiệp vốn là hệ sinh thái tự nhiên đợc con ngời biến
đổi để sản xuất ra lơng thực, thực phẩm, sợi và các sản phẩm nông nghiệp khác
Hệ sinh thái đồng ruộng là sự tồn tại của sinh vật (bao gồm các sinh vật sống nh cây trồng, cỏ dại, chuột, sâu bệnh, chim, ếch nhái ) trong một môi tr-ờng nhất định (bao gồm đất, nớc, không khí ) Hệ sinh thái nông nghiệp có khả năng tạo ra khối lợng nông sản có ích cho con ngời Con ngời không ngừng cải tạo, hoàn chỉnh theo hớng có lợi cho mình, cho nên hệ sinh thái nông nghiệp
đơn giản, ít thành phần loài hơn so với hệ sinh thái tự nhiên Hệ sinh thái nông nghiệp kém bền vững cho nên muốn tồn tại phải có tác động thờng xuyên của con ngời Trong hệ sinh thái nông nghiệp, cây trồng đợc tạo điều kiện để ít chịu
sự tác động của các loài sinh vật khác, chỉ còn chịu tác động của con ngời Tuy nhiên, cây trồng theo qui luật tự nhiên là thức ăn của nhiều loài sinh vật Hệ sinh thái nông nghiệp càng đợc chăm sóc tốt, cây trồng càng trở thành nguồn thức ăn tốt cho sinh vật đó Chúng hoạt động mạnh, tích luỹ nhân lên thành dịch tác động lớn đến
toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp Các loài sinh vật gây hại cây chiếm giữ những khâu nhất định trong chuỗi dây chuyền dinh dỡng , tham gia một cách tự nhiên vào chu trình chuyển hoá vật chất trong tự nhiên
Trang 6Vì vậy, dịch hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp (Hà Quang Hùng, 1998)[16].
1.1.2 Mối quan hệ giữa sâu hại cây trồng và hoạt động mất cân đối trong sản xuất nông nghiệp của con ngời
Trong hệ sinh thái nông nghiệp, sự hoạt động bình thờng của các loài sinh vật đều có vị trí nhất định và hoạt động hài hoà với nhau Khi một loài sinh vật nào đó gặp điều kiện thuận lợi phát triển mạnh lên, lập tức các cơ chế điều hoà và điều chỉnh số lợng giữa các loài sinh vật đợc hoạt hoá Các cơ chế này
đảm bảo cho hệ sinh thái luôn luôn giữ đợc hoạt động bình thờng
Sự mất cân đối khi sử dụng giống cây trồng trong sản xuất nông nghiệp làm cho tác hại của dịch hại ngày càng tăng.
Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp, một giống cây trồng đồng thời thoả mãn các tiêu chuẩn: năng suất cao, phẩm chất tốt, chống sâu bệnh, chông chịu hạn, chống chịu úng còn rất hiếm Thông thờng một giống cây trồng chỉ đạt một vài tiêu chuẩn lợi ích cho con ngời Từ đó phát sinh sự mất cân đối trong sử dụng giống cây trồng, làm đảo lộn hệ sinh thái, tạo điều kiện cho dịch hại phát triển, cho nên các giống mới năng suất cao thờng bị dịch hại phát triển mạnh Giống cây trồng chống chịu với một số loài sâu bệnh cụ thể nào đó khi đa vào sản xuất, chỉ sau một thời gian ngắn giống này lại bị loài sâu bệnh chủ yếu mới gây hại nghiêm trọng
Sự mất cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất và áp dụng các biện pháp canh tác kỹ thuật tạo điều kiện cho dịch hại phát triển.
Tình trạng tơng đối đồng đều về cây trồng (vùng chuyên canh, độc canh) trên diện tích lớn là điều kiện thuận lợi cho dịch hại phát triển và gây hại Trong tình trạng này, việc đảm bảo mối quan hệ giữa cây trồng và thành phần sinh vật khác là quan trọng (Hà Quang Hùng, 1998)[20]
1.1.2 Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật
Trang 7Tính ổn định và năng suất quần thể của một loài đợc xác định bởi rất nhiều yếu tố, một phần các yếu tố đó là cấu trúc của quần xã sinh vật (Watt, 1976)[56] Cấu trúc của quần xã sinh vật bao gồm 3 nhóm yếu tố:
a) Mạng lới dinh dỡng trong quần xã (thể hiện quan hệ dinh dỡng trong quần xã )
b) Sự phân bố không gian của sinh vật
c) Sự đa dạng loài của quần xã
Cũng nh ở các hệ sinh thái khác, trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn luôn tồn tại mối quan hệ về mặt dinh dỡng và đó là mối quan hệ tất yếu trong mỗi quần xã sinh vật cũng nh hệ sinh thái, một loài sinh vật thờng là thức ăn, là điều kiện tồn tại cho một loài sinh vật khác Quan hệ phổ biến giữa các loài sinh vật
là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau vô cùng phức tạp, nhng có qui luật, đặc biệt là quan hệ dinh dỡng (thể hiện qua chuỗi và lới thức ăn)
Hiện tợng ăn thịt là một dạng quan hệ, trong đó một loài (vật ăn thịt) săn bắt một loài khác (vật mồi) để làm thức ăn và thờng dẫn dến cái chết của con mồi trong một thời gian ngắn Để hoàn thành sự phát triển, mỗi cá thể vật ăn thịt thờng phải tiêu diệt rất nhiều con mồi (trừ một số trờng hợp bọ rùa nhỏ ăn rệp sáp lớn) Các loài ăn thịt có hai khả năng ăn mồi: Vật ăn thịt có thể nhai
Trang 8nghiền con mồi (nh cánh cứng ăn thịt, chuồn chuồn, ) hoặc chúng có thể hút dịch dinh dỡng từ con mồi (nh bọ xít ăn thịt, nhện lớn ăn thịt, ).
Hiện tợng ký sinh là một dạng quan hệ tơng hỗ giữa các loài sinh vật rất phức tạp và đặc trng Có nhiều định nghĩa về ký sinh Dogel (1941) gọi các loài
ký sinh là những sinh vật sử dụng các sinh vật sống khác (vật chủ) làm nguồn thức ăn và môi trờng sống Bondarenko (1978) định nghĩa ký sinh là loài sinh vật nhờ vào loài sinh vật khác (vật chủ) trong thời gian dài, dần dần làm vật chủ chết hoặc suy nhợc Viktorov (1976) định nghĩa ký sinh là một dạng quan hệ t-
ơng hỗ lợi một chiều trong đó loài đợc lợi (loài ký sinh) đã sử dụng loài sinh vật sống khác (vật chủ) làm thức ăn và nơi ở trong một phần nào đó của chu kỳ vòng đời của nó (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995[23]
Đối với các loài sâu hại thì hiện tợng ký sinh có tính chất chuyên hoá cao
về tơng quan giữa loài sâu hại và loài ký sinh, pha sinh trởng phát triển và đặc biệt tơng ứng với thời vụ sản xuất cây trồng Hiện tợng ký sinh là hiện tợng phổ biến trong tự nhiên, đặc biệt là côn trùng ký sinh, trong đó thông thờng vật ký sinh (loài ký sinh) sử dụng hết hoàn toàn các mô của cơ thể vật chủ và chúng thờng gây chết hoàn toàn vật chủ ngay sau khi chúng hoàn thành chu kỳ phát triển
Mỗi một cá thể ký sinh chỉ liên quan đến một cá thể vật chủ, mỗi loài côn trùng ký sinh thông thờng chỉ liên quan với một pha phát triển của loài vật chủ Tuỳ theo mối quan hệ của loài ký sinh với pha phát triển của loài sâu hại
mà phân biệt các nhóm ký sinh: ký sinh trứng, ký sinh nhộng, ký sinh sâu non
và ký sinh trởng thành
Sự liên quan mật thiết giữa các loài sâu hại với côn trùng ăn thịt, côn trùng
ký sinh trong quá trình phát triển của quần xã có ý nghĩa to lớn không những trong lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ tơng hỗ đó đã góp phần quan trọng trong các biện pháp phòng trừ
Trang 9dịch haị nông nghiệp theo xu hớng bảo vệ sự đa dạng, cân bằng trong hệ sinh thái nông nghiệp.
1.1.4 Biến động số lợng côn trùng
Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến đổi số lợng và các dạng
điều hoà số lợng, Viktorov (1967) đã tổng hợp khái quát thành sơ đồ chung về
sự biến động số lợng côn trùng Một trong những đặc trng của quần thể là mật
độ cá thể trong quần thể đợc xác định bởi sự tơng quan giữa các quá trình bổ sung thêm và giảm bớt số lợng cá thể Tất cả các yếu tố gây biến động số lợng
đều tác động đến các quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ tử vong của quần thể và sự di c của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà trớc hết là
điều kiện thời tiết khí hậu tác động đến côn trùng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn, thiên địch Sự điều hoà thông qua các mối quan hệ tác
động qua lại đó đã phản ánh ảnh hởng của mật độ quần thể lên sức sinh sản, tỷ
lệ tử vong và di c trong đó tồn tại mối quan hệ trong loài và bằng sự thay đổi tính tích cực của thiên địch và đặc điểm của thức ăn Sự tồn tại của các mối quan hệ này đảm bảo những thay đổi đền bù cho sự bổ sung và sự giảm sút số l-ợng cá thể của quần thể Chính sự tác động thuận nghịch đó đã san bằng những sai lệch ngẫu nhiên trong mật độ quần thể (dẫn theo Phạm Bình Quyền, 1994)[38]
Các cơ chế điều hoà số lợng có liên quan với các yếu tố điều hoà mà các yếu tố này điều chỉnh đợc những thay đổi ngẫu nhiên của mật độ quần thể.Trong đa số trờng hợp, hiệu quả tác động của các yếu tố điều hoà có đặc
điểm chậm trễ
Các cơ chế riêng biệt của sự điều hoà số lợng côn trùng tác động trong những phạm vi khác nhau của mật độ quần thể Đó là các ngỡng giới hạn và vùng hoạt động của các yếu tố cơ bản điều hoà số lợng côn trùng
Ngỡng giới hạn thấp với vùng điều hoà hẹp của các sinh vật ăn côn trùng
đa thực Độ hẹp của vùng hoạt động của sinh vật ăn côn trùng đa thực là ngợc
Trang 10nhau làm cho chúng ít khả năng hạn chế sâu hại ở ngỡng giới hạn thấp có cả
ký sinh và ăn thịt chuyên hoá Chính khả năng của các thiên địch chuyên hoá có mặt cả khi vật chủ, (vật mồi) của chúng ở mật độ quần thể thấp đã tạo điều kiện cho chúng có phản ứng số lợng
Các sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá có khả năng thực hiện sự điều hoà số lợng côn trùng ở mật độ thấp đợc xác nhận trong thực tiễn của phơng pháp đấu tranh sinh học chống côn trùng gây hại Khác với sinh vật ăn côn trùng đa thực, các côn trùng ký sinh và ăn thịt chuyên hoá có thể hoạt động trong phạm vi rộng hơn của mật độ quần thể vật chủ (con mồi) nhờ khả năng tăng số lợng với
sự tăng mật độ của sâu hại Điều này đợc ghi nhận trong thực tế ở những trờng hợp khả năng khống chế sự bùng phát sinh sản hàng loạt của côn trùng ăn thực vật bởi sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá Vai trò quan trọng của ký sinh, ăn thịt
đợc coi là yếu tố điều hoà số lợng của côn trùng và đợc thể hiện ở hai phản ứng
Hiện nay có hàng loạt dẫn liệu thực tế xác nhận khả năng điều hoà của các cơ chế ở các mật độ khác nhau của quần thể sinh vật Cơ chế đó đợc thực hiện liên tục kế tiếp nhau tham gia tác động, khi mật độ quần thể đợc điều hoà vợt ra khỏi giới hạn hoạt động của yếu tố điều hoà trớc đó
Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng (IPM) dựa trên mối quan hệ
t-ơng hỗ giữa cây trồng – sâu hại - thiên địch của sâu hại trong hệ sinh thái nông nghiệp, các nguyên tắc sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp
1.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại vừng và thiên địch của chúng
Trang 11Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về sâu hại vừng, tuy nhiên về thiên địch của chúng thì ít thấy đề cập Các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ thống kê và mô tả các loài sâu hại Chẳng hạn, trong nghiên cứu của Strickeland và Smith (1991) về các loài côn trùng gây hại vừng ở Australia, đã cho biết trên thế giới có khoảng 20 loài sâu chính gây hại vừng thuộc 12 họ của
8 bộ, trong đó bộ có số loài nhiều nhất là bộ cánh phấn (Lepidoptera) Tại Australia có tới 14 loài thuộc 8 họ của 8 bộ, trong đó bộ cánh phấn (Lepidoptera) có số loài nhiều nhất (8 loài) Theo Patil et al (1992) nghiên cứu việc sản xuất vừng tại India thì việc kiểm soát các loài sâu hại có thể làm giảm thiệt hại hơn 35% (Strichkland G.R and Smith E.S.C, 1991)[58]
Tại Việt Nam, trong “Kết quả điều tra cơ bản côn trùng trong hai năm 1967- 1968” đã thống kê đợc 28 loài sâu hại vừng (Viện BVTV, 1976)[48] Theo Trần Văn Lài và nnk (1993), cây vừng có nhiều loài sâu hại, nhất là vừng chuyên canh nh các loài câu cấu (bọ vừng), sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu đục quả, sâu róm, rệp, bọ xít, sâu xanh, sâu đo Cho đến nay đã biết sâu hại vừng ở Việt Nam có 39 loài thuộc 5 bộ: cánh phấn, cánh cứng, cánh nửa, cánh tơ, cánh giống (Thống kê của cục BVTV, 1991)
Các công trình nghiên cứu và tài liệu phổ biến về gieo trồng vừng ở Việt Nam chỉ đề cập đến biện pháp phòng trừ sâu hại vừng bằng thuốc hoá học Trong “Kỹ thuật gieo trồng lạc ,đậu, vừng” (Nxb Nông nghiệp, 1993), việc phòng trừ sâu hại vừng chỉ đề cập phơng pháp hoá học với các loại thuốc nh Dipterex, Servin, (TrầnVăn Lài và nnk, 1993)[22]
Những năm gần đây ở Việt Nam việc nghiên cứu thiên địch các loài sâu hại chỉ mới tập trung vào các cây trồng phổ biến nh thiên địch các loài sâu hại lúa, với các công trình của Vũ Quang Côn (1985, 1992, ), Phạm Văn Lầm (1985, 1997), Trần Ngọc Lân (2000) nghiên cứu thiên địch của sâu hại lúa ở Nghệ An
Trang 12Tại Nghệ An, công trình của Nguyễn Đình Vinh về “ Chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu bộ cánh phấn hại vừng V6 tại huyện Yên thành và Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” đã tổng kết: có 10 loài sâu hại thuộc 5 họ của bộ cánh phấn, trong đó
có 2 loài sâu hại chính là sâu xanh và sâu khoang Có 17 loài chân khớp ăn thịt thuộc 12 họ của 6 bộ Còn theo báo cáo của Chi cục BVTV Nghệ An: “Sâu bệnh hại chính và cách phòng trừ” chỉ mới dừng lại ở mức độ thống kê và mô tả sơ lợc các loài sâu chính nh sâu khoang, sâu xanh, rệp vừng và khuyến cáo biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học nh Match 50ND, Polytrin 440ND, Sherpa 25EC (Báo cáo của Sở NN và PTNT Nghệ An, 2002) [13]
Ngày nay, việc phòng trừ sâu hại sẽ không đạt hiệu quả cả về kinh tế và môi trờng nếu không sử dụng các phơng pháp khác Trong phòng trừ sâu hại, sử dụng thiên địch tự nhiên là một tiềm năng quan trọng, đóng góp cho sự thành công của biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) và bảo vệ môi trờng
1.3 Một vài đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở Nghệ An.
Điều kiện tự nhiên
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Trờng Sơn Bắc, có tọa độ địa lý từ 18035’-
19030’ vĩ độ Bắc và 103052’ – 105042’ kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên1.673.068 ha (bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam)
Địa hình Nghệ An có thể chia thành ba vùng cảnh quan, đây là đặc điểm chi phối đến mọi hoạt động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp của Nghệ An Vùng núi cao (chiếm 77,0% diện tích), vùng gò đồi (chiếm 13,0%), vùng đồng bằng (chỉ chiếm 10%) Đồng bằng hẹp, lại bị đồi núi chia cắt thành vùng đồng bằng phù sa và dải cát ven biển Đồng bằng phù sa gồm các dải đồng bằng của các huyện Quỳnh Lu, Yên Thành, Diễn Châu, Đô Lơng, Nam Đàn, Hng Nguyên, Nghi Lộc Khu đất cát ven biển Quỳnh Lu – Diễn Châu, Nghi Lộc - Hng Nguyên
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm và ma nhiều theo mùa Hàng năm, đất Nghệ An nhận đợc trung bình
Trang 13120 –140 kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 –240C, độ ẩm không khí là 85%, lợng ma trung bình cả năm từ 1.600 – 2.000 mm (Lê Văn Phợng, 1982)[36].
Đặc điểm kinh tế xã - hội
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.865.409 ngời (tính đến 31/12/1995), mật độ trung bình toàn tỉnh 152 ngời/km2
Dân c phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích nhng tập trung đến 80% dân số; vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhng chỉ có 20% dân số (Cục thống kê Nghệ An, 1999)[7]
Ngoài ra, cùng với sự thay đổi cơ cấu cây trồng, giống mới năng suất cao, với việc đầu t phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuỷ lợi tới tiêu từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đã chuyển đổi mùa vụ, coi vụ hè thu là một trong ba vụ sản xuất chính trong năm Sự thay đổi mùa vụ, cùng với việc đầu t các loại giống mới với năng suất cao có ảnh hởng không nhỏ đến hệ sinh thái đồng ruộng, trớc hết là sâu hại và thiên địch của chúng
1.4 Cây vừng ở Nghệ An
Cây vừng (Sesamum indicum) là cây có dầu cổ xa nhất đợc con ngời gieo
trồng ở khắp các vùng nhiệt đới đến ôn đới Đối với nớc ta, vừng là loại thực phẩm truyền thống đợc gieo trồng từ rất lâu, ít nhất đã vài ba thế kỷ Nghệ An
là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam Từ năm 1993 trở về trớc, tại Nghệ An chủ yếu gieo trồng các giống vừng địa phơng nh vừng đen, vừng vàng, vừng nâu (Nguyễn Vy, 1994)[54] Các giống vừng này tuy thích nghi với
điều kiện khí hậu, thời tiết nhng năng suất thấp, hàm lợng dầu, protein không cao
Đến năm1994, Nghệ An đa vào khảo nghiệm và sản xuất giống vừng mới - vừng nhập nội V6 Từ vị trí một cây trồng phụ trong cơ cấu cây trồng trớc đây,
đến nay vừng là cây công nghiệp ngắn ngày chủ đạo Sản xuất vừng đang mở ra
Trang 14một hớng phát triển mới cho nền nông nghiệp Nghệ An (Nguyễn Hữu Hơn, 2002)[13].
Bảng 1 Diện tích và năng suất vừng ở Nghệ An qua các năm
Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha)
Sản lợngTổng diện
tích
Vừng trắng (vừng V6) Bình quân Vừng V6
chơng II nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những nội dung sau:
(1) Điều tra thành phần sâu hại vừng, xác định sâu chính hại vừng
(2) Điều tra thành phần loài chân khớp ăn thịt, ký sinh và xác định vai trò của một số thiên địch chính của sâu hại vừng
(3) Diễn biến sâu hại trên ruộng vừng
(4) Nghiên cứu mối quan hệ giữa cây vừng (thuộc các giống vừng), sâu hại – côn trùng ăn thịt, côn trùng ký sinh
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Trang 15Nghệ An là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam, tuy nhiên vừng chỉ đợc trồng tập trung ở vùng đồng bằng ven biển Huyện Nghi Lộc đại diện cho vừng đất phù sa cổ, có cơ cấu luân canh cây lạc (vụ xuân) – cây vừng (vụ hè thu) – cây vụ đông (ngô, khoai, đậu ) với một diện tích lớn 3.569 –3.699 ha.
Chính vì vậy, địa điểm nghiên cứu đợc lựa chọn là xã Nghi Đức và xã Nghi Trờng huyện Nghi Lộc
Thời gian nghiên cứu hai năm: Vụ vừng hè thu 2003 (5 - 8/2003), vụ vừng
hè thu 2004 (6 – 9/2004)
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Sâu hại vừng: Nhóm sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc bộ cánh phấn
- Chân khớp ăn thịt: Nhện lớn ăn thịt, cánh cứng ăn thịt
- Côn trùng ký sinh: Ong ký sinh, ruồi ký sinh
- Cây vừng: Giống vừng đen, vừng V6
2.4 Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp điều tra nghiên cứu sâu hại vừng và thiên địch tuân thủ theo
các phơng pháp thờng qui về nghiên cứu côn trùng và bảo vệ thực vật (Tổ côn trùng – UBKHKTNN, 1967; Viện BVTV, 1997; )
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Nghiên cứu sâu hại vừng và chân khớp ăn thịt, ký sinh cũng nh mối quan
hệ giữa chúng với cây vừng đợc tiến hành trên các thí nghiệm ở đồng ruộng và thí nghiệm trong phòng, các thí nghiệm đợc bố trí nh sau:
2.4.1.1 Thí nghiệm đồng ruộng
Trang 16Tìm hiểu ảnh hởng của một số giống vừng lên quần thể sâu hại vừng và thiên địch của chúng, đợc tiến hành nghiên cứu trên các công thức:
- Công thức I: Ruộng vừng V6
- Công thức II: Ruộng vừng đen
Các công thức đợc bố trí tại xã Nghi Đức và xã Nghi Trờng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Mỗi công thức đợc tiến hành trên 3 ruộng vừng có diện tích 300 m2 có cùng một loại đất, cùng chế độ chăm sóc,
Phơng pháp thu thập mẫu vật:
+ Thu mẫu định lợng: Tại mỗi ruộng vừng, tiến hành thu mẫu định kỳ 5
ngày/lần, quan sát và đếm số lợng sâu hại và thiên địch trên tổng số cây vừng
t-ơng ứng với 3 m2 trên 5 điểm chéo góc trong một ruộng vừng theo các công thức định sẵn Các điểm điều tra lần sau không trùng với vị trí điểm điều tra lần trớc Việc điều tra đợc tiến hành vào thời điểm nhất định trong ngày (6giờ- 8 giờ 30 phút)
- Tiến hành thu thập trứng, sâu non bộ cánh phấn từ tuổi 1 đến tuổi 5, tuổi
6 và nhộng trên sinh quần ruộng vừng Mỗi lần thu từ 35 - 50 con sâu non mỗi loại/ công thức Nuôi sâu hại (vật chủ) ở phòng thí nghiệm Động vật - Khoa Sinh học Trờng Đại học Vinh
- Tất cả thành phần, số lợng sâu hại lạc và thiên địch của chúng thu đợc
đều ghi vào phiếu định lợng để xử lý
- Khi sâu hại phát triển mạnh hoặc thành dịch tiến hành thu mẫu định lợng
bổ sung tại các ruộng vừng thuộc khu vực nghiên cứu
Trang 17- Thu mẫu định tính bổ sung: Khi sâu hại phát triển mạnh hoặc phát triển thành dịch tiến hành thu mẫu định tính bổ sung, dùng vợt côn trùng vợt 10 vợt/ công thức, thu bắt tự do ở các điểm điều tra cố định cũng nh các sinh quần ruộng vừng ở các xã khác thuộc huyện Nghi Lộc.
2.4.1.2 Thí nghiệm trong phòng
- Nuôi vật chủ trong phòng thí nghiệm: Thành phần, số lợng sâu hại vừng
9 trứng, sâu non, nhộng) thu đợc ở mỗi công thức đều để riêng và tiến hành nuôi trong ống nghiệm (kích thớc 15 – 20 ì 2 cm) có nút bằng bông thấm nớc sạch hoặc chất liệu xốp và trong ống nhựa (kích thớc 7-10 cm, h = 9 – 12 cm)
Thức ăn của các loại sâu ăn lá thuộc bộ cánh phấn là lá vừng sạch, của các loại sâu đục quả là quả vừng đợc thu hái ngoài ruộng và đợc bảo quản tại phòng thí nghiệm Động vật – Khoa Sinh học, trờng Đại học Vinh
- Phân tích, định loại sâu hại vừng và chân khớp ăn thịt, ký sinh sâu hại vừng
2.4.2 Xử lý và bảo quản mẫu vật
Mẫu vật thu thập đợc bảo quản tại phòng thí nghiệm Động vật – Khoa Sinh học bằng phơng pháp giữ mẫu khô và giữ mẫu nớc trong cồn 70 độ
Mỗi mẫu vật đợc giữ trong một ống nghiệm có nắp đậy và số ký hiệu (etyket) bao gồm mẫu định lợng và mẫu định tính
Nhãn (etyket) đợc ghi theo:
- Số ký hiệu mẫu
Trang 18- Công thức thí nghiệm.
- Địa điểm thu mẫu
- Thời gian thu mẫu
- Phơng pháp thu mẫu
- Ngời thu mẫu
2.4.3 Phơng pháp định loại
Tài liệu định loại:
- Định loại sâu hại vừng (sâu hại thuộc bộ cánh phấn, cánh cứng, cánh giống, cánh thẳng, cánh nửa, cánh đều) theo các tài liệu về cây trồng ở Việt Nam nh Vũ Đình Ninh và nnk (1976), Cục BVTV (1986), Nguyễn Xuân Thành (1996),
- Định loại nhện lớn ăn thịt ( Araneida): Barrion et al (1995)
- Cánh cứng ăn thịt (Coleoptera): Hoàng Đức Nhuận (1982,1983), Barion
et al (1994)
- Bọ xít ăn thịt (Hemiptera): Barrion et al (1994), Li Yongxi et al (1988),
…
- Ong ký sinh (Hymenoptera): Barion et al (1994), Nishida et al (1970)
Cách thức định loại Theo Mayer (1974)[28].
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi sâu hại, chân khớp ăn thịt, ký sinh
- Mật độ sâu hại:
Mật độ (con/m2) = Tổng số sâu bắt gặp (con)Tổng diện tích điều tra (m2)
- Mật độ chân khớp ăn thịt:
Mật độ (con/m2) = Tổng số chân khớp ăn thịt bắt gặp (con)
Tổng diện tích điều tra (m2)
Tỷ lệ ký sinh chung (%)= Tổng số sâu theo dõi (con)Số sâu bị ký sinh (con) ì100
Trang 19Tỷ lệ ký sinh từng loài (%)= Tổng số sâu bị ký sinh của mỗi loài (con)Tổng số sâu theo dõi của loài đó(con) ì100
Công thức tính độ thờng gặp (chỉ số có mặt): C = p ì100
P
Trong đó: p là tần số lấy mẫu có loài nghiên cứu
P là tổng số địa điểm các lần lấy mẫu
2.4.6 Hoá chất, thiết bị, dụng cụ
- Hoá chất: cồn 960, formol 40%
- Thiết bị: kính hiển vi soi nổi, kính lúp cầm tay, kính lúp 2 mắt, nhiệt kế
- Dụng cụ: bình thuỷ tinh, ống nghiệm, lọ nhựa, vải phin, đĩa petri, kim mũi mác, thớc đo, giấy bóng ghi nhãn, bút chì, vợt côn trùng
Trang 20Chơng 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đa dạng loài chân khớp trên sinh quần ruộng vừng
3.1.1 Đa dạng số lợng loài gây hại và có lợi
Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài chân khớp trên sinh quần ruộng vừng rất phong phú đa dạng gồm 71 loài thuộc 34 họ của 9 bộ Trong đó
có 34 loài gây hại thuộc 14 họ của 4 bộ và 37 loài có ích: 11 loài côn trùng kí sinh (5 họ, 2 bộ) và 26 loài chân khớp ăn thịt (16 họ, 6 bộ) Bộ Lepidoptera có
số loài nhiều nhất (17 loài), bộ Coleoptera có 13 loài, bộ Araneida có 11 loài Các loài của bộ Lepidoptera đều gây hại, bộ Coleoptera có 4 loài gây hại, 9 loài
có ích, bộ Araneida có 11 loài và bộ Heminoptera có 9 loài đều có ích, các bộ khác có số loài ít hơn (Bảng 2)
Trang 21Bảng 2 Số lợng bộ, họ, loài chân khớp trên sinh quần ruộng vừng ở Nghi Lộc,
Côn trùng hại vừng là yếu tố quan trọng làm hạn chế năng suất vừng Với
điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, đã tạo điều kiện cho các loài côn trùng gây hại từ khi gieo đến khi thu hoạch và đó là nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất vừng, có khi tới 20-30%
Kết quả nghiên cứu trong 2 năm 2003 và 2004 ở Nghi Lộc, Nghệ An cho thấy thành phần sâu hại trên sinh quần ruộng vừng rất phong phú gồm 34 loài thuộc 14 họ của 4 bộ (Bảng 3) Trong đó bộ Cánh phấn (Lepidoptera) có 17 loài thuộc 7 họ (chiếm 50% tổng số loài gây hại), họ Ngài đêm (Noctuidae) có số loài nhiều nhất (5 loài), trong đó có 1 loài thờng xuyên có mặt và gây hại chính trên sinh quần ruộng vừng là sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), tiếp theo là
họ Ngài sáng (Pyralidae) với loài phổ biến là sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) Sự xuất hiện của các loài sâu hại vừng bộ cánh phấn ở các giai
đoạn phát triển khác nhau cũng khác nhau
Giai đoạn I (35NSG) xuất hiện 9 loài và phổ biến là các loài sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr và Lamprosema sp.)
Trang 22Giai đoạn II (35 – 60 NSG) xuất hiện 14 loài và phổ biến là sâu cuốn lá và
sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.)
Giai đoạn III (60 NSG đến khi thu hoạch) xuất hiện 11 loài sâu hại bộ cánh phấn (Bảng 3)
Bảng 3 Thành phần loài sâu hại vừng ở Nghi Lộc, Nghệ An
T
Giai đoạn sinh trởng
1 Bộ Lepidoptera
3 Cnaphalocrocis medinalis Guenee Sâu cuốn lá + +
11 Chalciope geometrica Warren Sâu đo nâu giả +
12 Argyrogram agnataStaudinger Sâu đo xanh +
3 Họ Lymantridae Ngài sâu róm
4 Họ Tortricidae Ngài cuốn lá
Trang 2319 Atratomorpha chinensisI Boviar Cào cào nhỏ
3 Bộ Coleoptera Bộ cánh cứng
24 Epicauta impressicornis Pic. Ban miêu đen + +
10 Họ Coccinellidae Họ bọ rùa
25 Epilachna sparsa28 punctata Bọ rùa 28 chấm + +
26 Epilachna gayri Mulsant. Bọ rùa 12 chấm +
28 Cletus trigonus Thunb. Bọ xít gai vai dài ++ ++
12 Họ Pentatomidae Họ bọ xít
32 Piezodorus rubrofasciatus F. Bọ xít xanh vai bạc +
Giai đoạn I: Từ khi hạt nẩy mầm đến 35 NSG +++ Rất phổ biến
Giai đoạn II: Từ 36 đến 60 NSG ++ Thờng gặp
Giai đoạn III: 60 NSG đến khi thu hoạch + ít gặp
3.1.3 Chân khớp ăn thịt
Chân khớp ăn thịt là một yếu tố sinh thái hữu sinh đóng một vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lợng các loài sâu hại trên sinh quần ruộng vừng Điều tra trên sinh quần ruộng vừng ở Nghi Lộc – Nghệ An trong 2 vụ hè thu 2003 – 2004, kết quả cho thấy trên sinh quần ruộng vừng có 26 loài chân khớp ăn thịt thuộc 16 họ của 6 bộ (Bảng 4) Trong đó, bộ Araneida có số loài
Trang 24nhiều nhất gồm 11 loài thuộc 8 họ (chiếm 42,37% tổng số loài) Tiếp đến là bộ Coleoptera có 9 loài thuộc 3 họ (chiếm 34,61%) các bộ còn lại có số loài, số họ
10 Họ Staphilinidae
11 Họ Carabidae
Trang 2520 Chlaenius bimaculata Chaudoir. +
®iÒu kiÖn khoa häc kü thuËt vµ s¶n xuÊt n«ng nghiÖp ë níc ta nãi chung vµ ë NghÖ An nãi riªng, híng gi÷ g×n, b¶o vÖ vµ khÝch lÖ sù ph¸t triÓn cña c¸c loµi ch©n khíp ¨n thÞt, ký sinh trªn mçi sinh quÇn ruéng võng lµ biÖn ph¸p tèt nhÊt t¹o kh¶ n¨ng ®iÒu hoµ sè lîng quÇn thÓ nhiÒu loµi s©u h¹i c©y trång
Trang 26côn trùng ký sinh thuộc 5 họ của 2 bộ Các loài chủ yếu tập trung vào bộ Hymenoptera (9 loài thuộc 4 họ) (Bảng 5)
Các loài côn trùng chủ yếu ký sinh sâu non bộ cánh phấn tuổi 2, 3 và hoàn thành vào các giai đoạn tiếp theo vào tuổi cuối của sâu Một số loài hoàn thành các giai đoạn phát triển tiếp theo vào pha nhộng (phổ biến là côn trùng ký sinh
Sâu non Ký sinh đơn
2 Apenteles anomidis Watavabe S litura Sâu non KS tập đoàn
2 Họ Ichneumonidae
4 Xanthopimpla flavolineata
5 Xanthopimpla punctata Fabr L.indicata Nhộng Ký sinh đơn
3 Họ Chalcididae
4 Họ Encyrtidae
2 Bộ Diptera
5 Họ Tachinidae
Trang 2710 Paribaea sp S.litura Sâu non Ký sinh đơn
11 Tachinidae sp S.litura Sâu non Ký sinh đơn Kết quả nghiên cứu cho thấy sâu cuốn lá, sâu khoang có số loài côn trùng
ký sinh cao nhất, các loài sâu hại khác có số loài ký sinh ít hơn (Bảng 6)
Bảng 6: Côn trùng ký sinh một số loài sâu bộ cánh phấn hại vừng
ký sinh Loài ký sinh chủ yếu
1 Sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) 5 Microlitis prodeniae
2 Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata.) 4 Brachymeria sp1
Xanthopimpla punctata
3 Sâu đo (Anomis flava Fabr.) 3 Copdosomopsis sp.
4 Sâu xanh (Heliothis armigera Hub.) 1 Ichneumon sp.
3.2 Biến động số lợng sâu non bộ cánh phấn hại vừng và chân khớp ăn thịt, ký sinh trên sinh quần ruộng vừng ở Nghi Lộc, Nghệ An
3.2.1 Vụ vừng hè thu 2003
Dịch hại cây trồng do sâu, bệnh và cỏ dại gây tổn thất đáng kể cho sản xuất nông nghiệp, ở Việt Nam, trong những năm qua, nhiều trận dịch do sâu khoang, châu chấu, rầy nâu, gây ra đã là nỗi kinh hoàng cho ngời nông dân Khi dịch hại xảy ra nó không những làm thất thu năng suất mà còn làm giảm chất lợng sản phẩm một cách đáng kể Nớc ta là một nớc nông nghiệp, hơn 80% dân số sống bằng nghề nông là chính, vì vậy sự ổn định của ngành nông nghiệp
sẽ có ảnh hởng lớn đến sự phát triển của đất nớc Phòng trừ sâu bệnh hại, bảo vệ mùa màng là một trong những biện pháp quan trọng nhằm tạo ra sự ổn định này
Trên sinh quần ruộng vừng có nhiều loài sâu hại, trong đó các loài thuộc
bộ cánh phấn (Lepidoptera) là những sâu chính hại vừng Bởi vậy, nghiên cứu
sự biến động số lợng của các loài sâu bộ cánh phấn hại vừng cũng nh mối quan
hệ giữa chúng với chân khớp ăn thịt, ký sinh (nhện lớn ăn thịt, cánh cứng ăn
Trang 28thịt, ong ký sinh, ruồi ký sinh, ) qua các giai đoạn phát triển của cây vừng là rất có ý nghĩa.
Bảng 7 Mật độ quần thể sâu non bộ cánh phấn hại vừng và chân khớp ăn thịt
của chúng ở vụ vừng hè thu 2003 (đơn vị con/m2)GĐST Ruộng vừng trắng (CTI) Ruộng vừng đen (CTII)
Bảng 8 Diễn biến mật độ các loài sâu non bộ cánh phấn hại vừng và chân khớp
ăn thịt của chúng ở vụ hè thu 2003.( Đơn vị con/m2)GĐST NSG ruộng vừng trắng (CTI) ruộng vừng đen (CTII)
Trang 29Hình1 Biến động mật độ sâu non bộ cánh phấn hại vừng và chân
khớp ăn thịt của chúng ở ruộng vừng trắng (CTI), vụ hè thu 2003
Hình2 Biến động mật độ sâu non bộ cánh phấn hại vừng và chân
khớp ăn thịt của chúng ở ruộng vừng đen (CTII), vụ hè thu 2003
Trang 30Qua bảng 7, bảng 8 và hình 1, hình 2 cho thấy sâu hại vừng xuất hiện từ 15 NSG cho đến khi thu hoạch, số lợng luôn biến động và đạt 2 đỉnh cao trong một vụ.
Đỉnh cao 1: vào 25 NSG với mật độ là 2,99 con/m2 ở ruộng vừng trắng (CTI) và 1,33 con/m2 vào 30 NSG ở ruộng vừng đen (CT II)
Đỉnh cao 2: vào 45 NSG với mật độ là 6,66 con/m2 ở ruộng vừng trắng (CTI) và 2,00 con/m2 vào 55 NSG ở ruộng vừng đen (CTII)
Nh vậy, ở cả 2 giống vừng thí nghiệm đỉnh cao 2 đều cao hơn đỉnh cao 1,
số lợng sâu trung bình ở ruộng vừng trắng là 2,25 con/m2 cao hơn ở ruộng vừng
đen (1,40 con/m2) và sự sai khác này không có ý nghĩa (T = 0,68)
Khác với sâu hại, chân khớp ăn thịt sâu hại vừng xuất hiện sớm hơn (từ 5 NSG), số lợng cũng biến động tơng ứng với sâu hại tức cũng đạt 2 đỉnh cao trong vụ
Đối với nhện lớn ăn thịt, đỉnh cao 1 vào 35 NSG với số lợng là 2,66 con/m2
ở ruộng vừng trắng (CTI) và 3,00 con/m2 vào 40 NSG ở ruộng vừng đen (CTII) Đỉnh cao 2 vào 60 NSG với số lợng là 3,00 con/m2 ở ruộng vừng trắng (CTI) và 4,01 con/m2 vào 70 NSG ở ruộng vừng đen (CTII)
Đối với cánh cứng ăn thịt: ở ruộng vừng trắng (CTI) đỉnh cao 1 là 1,33 con/m2 vào 35 NSG, đỉnh cao 2 là 1,67 con/m2 vào 60 NSG
ở ruộng vừng đen (CTII), đỉnh cao 1 là 2,33 con/m2 vào 40 NSG; đỉnh cao
2 là 1,99 con/m2 vào 70 NSG
Sự biến động số lợng chân khớp ăn thịt ở cả 2 giống vừng cũng giống nhau
và tơng ứng với sự biến động số lợng của sâu hại vừng - đạt 2 đỉnh cao trong vụ, nhng đỉnh cao của thiên địch luôn chậm pha hơn đỉnh cao của sâu hại từ 5 - 10 ngày Điều này hoàn toàn hợp quy luật về mối quan hệ giữa vật ăn thịt và con mồi
Số lợng nhện lớn ăn thịt, cánh cứng ăn thịt trung bình và đỉnh cao ở ruộng vừng trắng (CTI) thấp hơn ruộng vừng đen (CTII) Số lợng nhện lớn ăn thịt