1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chăm sóc sức khỏe trước và sau sinh của phụ nữ thanh long, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học

83 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chăm sóc sức khỏe trước và sau sinh của phụ nữ xã Thanh Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An hiện nay
Tác giả Trần Thị Nhã
Người hướng dẫn Thạc sĩ Đặng Thị Minh Lý
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 429,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã được sự quan tâm của nhà nướccũng như tỉnh, huyện nhưng công tác y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu cơ bảncủa nhân dân, không những thế nhận thức về vấn đề sinh sản, chăm sóc sứckhỏe

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-*** -Trần thị nhã

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Chăm sóc sức khỏe trớc và sau sinh của

phụ nữ xã Thanh Long, huyện Thanh Chơng,

tỉnh Nghệ An hiện nay

Chuyên ngành: công tác xã hội

Vinh - 2011

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian nghiờn cứu, Tụi đó hoàn thành khúa luận tốt nghiệp

với đề tài: “Chăm súc sức khỏe trước và sau sinh của phụ nữ xó Thanh

Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An hiện nay”.

Qua khúa luận tốt nghiệp này, tụi xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, cỏc thầy cụ giỏo trong tổ bộ mụn cụng tỏc xó hội – Khoa Lịch

Trang 2

sử, đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thạc sỹ Đặng Thị Minh

Lý – Tổ trưởng tổ bộ môn Công tác xã hội đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Thanh Long, Trạm trưởng trạm y tế xã Thanh Long, Chủ tịch hội phụ nữ xã Thanh Long,

Bí thư chi bộ 3 cùng toàn thể nhân dân xóm 2,3,4 xã Thanh Long đã giúp đỡ, hợp tác, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài.

Do kiến thức, năng lực còn hạn chế nên chắc chắn đề tài sẽ có nhiều thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày 14 tháng5 năm 2011

Sinh viên: Trần Thị Nhã

Trang 3

MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DS-KHHGD Dân số kế hoạch hóa gia đìnhDVCSSK Dịch vụ chăm sóc sức khỏeKHHGD Kế hoạch hóa gia đình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 0

MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 0

MỤC LỤC 0

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Giả thuyết nghiên cứu 7

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Các lý thuyết làm cơ sở cho vấn đề nghiên cứu 8

1.1.2 Các khái niệm làm công cụ nghiên cứu 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 19

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSK cho nhân dân 21

1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSK nói chung cho nhân dân .21 1.2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSK trước và sau sinh cho phụ nữ 24

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 29

Chương2: THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRƯỚC VÀ SAU SINH CỦA PHỤ NỮ XÃ THANH LONG, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN 32

2.1 Thực trạng vấn đề CSSK trước và sau sinh của phụ nữ tỉnh Nghệ An 32

2.2 Thực trạng CSSK trước và sau sinh của phụ nữ xã Thanh Long, huyện Thanh Chương 35

Trang 5

2.2.1 Nhận thức của người phụ nữ về CSSK trước và sau sinh 36

2.2.2 Hoàn cảnh kinh tế gia đình ảnh hưởng lớn đến vấn đề CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ 43

2.2.3 CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ chưa được sự quan tâm đúng mức từ phía người đàn ông, người chồng và gia đình 46

2.2.4 Nguyên nhân cản trở việc CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ .48 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc CSSK trước và sau sinh của phụ nữ xã Thanh Long, huyện Thanh Chương 49

2.3.1 Yếu tố kinh tế - xã hội 49

2.3.2 Dịch vụ y tế 50

2.3.3 Hoạt động của các tổ chức đoàn thể 51

2.3.4 Những thuận lợi và khó khăn của quá trình nghiên cứu 53

2.4 Một số các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSS cho phụ nữ xã Thanh Long, huyện Thanh Chương 54

2.4.1 Tăng cường số lượng và chất lượng các DVCSSK – KHHGĐ cho người phụ nữ 54

2.4.2 Các giải pháp đối với người phụ nữ 55

2.4.2.1 Nâng cao nhận thức cho người phụ nữ trong việc CSSK trước và sau sinh 55

2.4.2.2 Chính sách dành cho phụ nữ 56

2.4.3 Huy động sự tham gia của nam giới vào công tác CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ 60

2.4.4 Giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác trong cộng đồng 61

2.4.5 Giáo dục sức khỏe 61

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63

3.1 Kết luận 63

3.2 Khuyến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 68

Trang 7

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi con người, có sức khỏe, conngười sẽ tạo ra được nhiều của cải vật chất phục vụ cho hoạt động sống củamình, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và ngày càng cao của xã hội loài người.Việc chăm sóc sức khỏe, chống bệnh tật có ý nghĩa và tầm quan trọng đối vớimỗi cá nhân và cả cộng đồng

Xã hội ngày nay phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng tạo ra nhiềucủa cải vật chất, đời sống ngày càng được nâng cao, cùng với nó là nhiều vấn

đề xã hội nảy sinh, trong đó có bệnh tật và những vấn đề về sức khỏe Đặcbiệt là những vấn đề về sức khỏe sinh sản

Sức khoẻ sinh sản (SKSS) là một trong những lĩnh vực quan trọngđược Đảng, Nhà nước, nhiều tổ chức cũng như toàn xã hội quan tâm Chươngtrình SKSS của Liên hiệp quốc họp tại Cairo- Ai Cập năm 1994 đã xác địnhSKSS bao gồm mười nội dung cơ bản trong đó CSSK bà mẹ trước, trong, saukhi sinh và trẻ sơ sinh là nội dung quan trọng bậc nhất

Chăm sóc sức khỏe trước, trong và sau sinh nhằm đảm bảo cho ngườiphụ nữ có một kỳ sinh đẻ an toàn, đảm bảo sự phát triển bình thường, khỏemạnh của những đứa con, tránh hiện tượng tai biến sản khoa

Theo Báo cáo chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS tại hội nghị quốcgia về dân số và phát triển bền vững cho thấy tỷ lệ các bà mẹ được khám thai

và khi đẻ được cán bộ chuyên môn giúp còn thấp, việc chăm sóc sau sinh,việc hướng dẫn cho bú và cách nuôi con chưa được chú ý làm tốt Điều đó đã

để lại nhiều hậu quả cho người phụ nữ Vì vậy, GDSK nâng cao nhận thứccủa người dân cũng như củng cố hệ thống y tế được coi là những giải pháphữu hiệu để cải thiện tình trạng này

Trang 8

Thanh Long là xã nghèo của huyện Thanh Chương, do đặc điểm vị tríđịa lý không mấy thuận lợi nên nền kinh tế - văn hóa - xã hội ở đây có nhiềuhạn chế hơn so với các xã khác trong huyện cũng như các địa phương kháctrong cả nước Một trong những vấn đề xã hội nổi cộm ở xã Thanh Long làtình trạng gia đình sinh con thứ 3 trở lên còn khá phổ biến Công tác DS –KHHGD chưa phát huy hiệu quả Mặc dù đã được sự quan tâm của nhà nướccũng như tỉnh, huyện nhưng công tác y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu cơ bảncủa nhân dân, không những thế nhận thức về vấn đề sinh sản, chăm sóc sứckhỏe của người dân trong xã còn nhiều hạn chế.

Là xã kém phát triển, ngoài sản xuất nông nghiệp, các hoạt động kinh

tế kém phát triển, tình trạng thiếu việc làm, đặc biệt là sau mỗi mùa vụ kháphổ biến Vì vậy lao động thanh niên và nam giới trong xã thường đi đến cácđịa phương khác tìm kiếm việc làm trong thời gian rảnh rỗi hoặc ra thành phốlàm việc Phụ nữ trở thành lao động chính, đảm đương các công việc tronggia đình cũng như xã hội Những công việc trong gia đình, dòng họ, làng xã làm cho người phụ nữ không có thời gian chăm sóc cho sức khỏe bản thân, kể

cả khi mang thai và sau khi sinh đẻ

Vì những lí do trên nên tôi chọn: “Chăm sóc sức khỏe trước và sau khi

sinh của phụ xã Thanh Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An hiện nay”

làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu vấn đề CSSK trước và sau sinh của phụ nữ nông thôn có ýnghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn to lớn Đã có rất nhiều những nghiên cứu

về SKSS nhưng phần lớn những nghiên cứu đó là những nghiên cứu ở gócnhìn y hoc, nhân học xã hội Việc CSSK trước và sau khi sinh của người phụ

nữ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bình thường, khỏe mạnh của nhữngđứa trẻ, đến thể chất, tinh thần của người mẹ Tuy vậy, không phải người phụ

Trang 9

nữ nào cũng nhận thức được điều đó, không những thế, việc chăm sóc sứckhỏe không đúng cách còn có thể gây tác động ngược trở lại

2.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu vấn đề chăm sóc sức khỏe trước và sau sinh của phụ nữ xãThanh Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An nhằm tìm hiểu thực trạngviệc CSSKSS, vấn đề khám, chữa bệnh cho người phụ nữ thời kì mang thai

và sau khi sinh con đến khi đứa trẻ được 12 tháng tuổi

Đồng thời nghiên cứu cũng góp phần tìm hiểu nhận thức của người phụ nữ

và nam giới trong việc CSSKSS cho người phụ nữ cũng như những hạn chế,khó khăn mà người phụ nữ gặp phải trong việc CSSK

Nghiên cứu CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ xã Thanh Longnhằm tìm hiểu nguyên nhân cản trở việc tiếp cận các DVCSSK của người phụ

nữ, từ đó có sự đánh giá, nhìn nhận, giải thích về vấn đề trên quan điểm củacông tác xã hội

3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Chăm sóc sức khỏe trước và sau sinh của người

Trang 10

- Nghiên cứu tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm (Với 7 đối tượng trong đó có 5phụ nữ và 2 đàn ông) nhằm tìm hiểu thông tin về 3 nội dung được đặt ra tronggiả thuyết nghiên cứu.

Cách thức chọn mẫu:

+ Với phụ nữ: Tiến hành nghiên cứu CSSK trước và sau sinh của phụ

nữ xã Thanh Long, Tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

để chọn mẫu là phụ nữ

Bước 1: Lập danh sách các hộ gia đình đang sinh sống tại 3 xóm 2,3,4

xã Thanh Long (do trưởng xóm 2,3,4 cung cấp): Xóm 2 có 79 hộ gia đình,xóm 3 có 72 hộ gia đình, xóm 4 có 96 hộ gia đình Như vậy, tổng thể là 247

hộ gia đình

Bước 2: Đối chiếu với danh sách “phổ cập giáo dục” và sổ theo dõi dân

số của cán bộ phụ nữ xóm 2,3,4 và những thông tin thu thập được về số phụ

nữ đang mang thai tại 3 xóm, từ đó lựa chọn ra được 69 gia đình có:

* Cặp vợ - chồng mới kết hôn

* Gia đình có phụ nữ đang mang thai

* Gia đình có con từ 0 đến 36 tháng tuổi

Bước 3: Lập danh sách những người phụ nữ trong 69 gia đình theo thứ

tự từ 1 đến 69 Chọn ra những người có số thứ tự lẻ, lấy 10/35 người

+ Với nam giới: Để chọn ra đối tượng nghiên cứu là nam giới, Tôi sử

dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (mẫu phán đoán) Theo tôi trongnghiên cứu này cần phải thu thập thông tin từ phía cán bộ y tế và cán bộ xóm

để bổ sung và xác thực nguồn thông tin nên tôi lựa chọn 1cán bộ trạm y tế xãThanh Long và 1 trưởng xóm (trưởng xóm 3) làm đối tượng phỏng vấn sâu.Cũng theo phương pháp đó, tôi lựa chọn ra 2 người đàn ông (25 đến 45 tuổi)trong 247 gia đình thuộc xóm 2, 3, làm đối tượng phỏng vấn sâu

Trang 11

3.3 Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng CSSK trước và sau sinh

của phụ nữ nông thôn tại xã Thanh Long

Mục tiêu cụ thể:

- Việc tiếp cận với các dịch vụ CSSK của người phụ nữ: khám thai định

kỳ, tiêm chủng, điều trị các bệnh phụ khoa

- Chế độ dinh dưỡng và vệ sinh cá nhân của người phụ nữ tại xã ThanhLong

- Thời gian làm việc và tính chất công việc của người phụ nữ trong thời

kỳ mang thai và sau khi sinh 12 tháng

- Sự tham gia của nam giới vào việc CSSK của người phụ nữ thời kỳmang thai và sau khi sinh

Phỏng vấn là phương pháp cụ thể để thu thập thông tin của nghiên cứu

xã hội học thông qua việc tác động tâm lý – xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi

và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụcủa đề tài nghiên cứu

Trong nghiên cứu khoa học, phỏng vấn phải tuân thủ theo mục tiêu, đốitượng, khách thể nghiên cứu được thể hiện trong chương trình nghiên cứu

Có nhiều loại phỏng vấn khác nhau: Phỏng vấn sâu, phỏng vấn tiêuchuẩn, phỏng vấn bán tiêu chuẩn, phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điệnthoại

Phỏng vấn sâu là dạng phỏng vấn mà trong đó người ta xác định sơ bộnhững vấn đề cần thu thập thông tin cho đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, người

Trang 12

phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, trong cách xếpđặt trình tự các câu hỏi và ngay cả cách thức đặt các câu hỏi nhằm thu thậpđược thông tin mong muốn Mục tiêu của phỏng vẫn sâu không phải để hiểumột cách đại diện, khái quát về tổng thể,mà giúp chúng ta hiểu sâu, hiểu kỹ

Trong nghiên cứu này tôi tiến hành phỏng vấn sâu 9 đối tượng trong đó: Phỏng vấn sâu với đối tượng là phụ nữ: 5 đối tượng, thuộc 3 xóm: Xóm 2, 3,4 Phỏng vấn sâu với đối tượng là nam giới: 4 đối tượng, trong đó có 1 cán

bộ trạm y tế, 1 cán bộ xóm và 2 người dân tại xóm 3

Trong nghiên cứu này, quan sát hòa nhập là một phương pháp được sửdụng có hiệu quả Việc hòa nhập như một thành viên trong cộng đồng vàquan sát phát huy hiệu quả tối đa

Trang 13

4.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là việc nhân viên xã hội đưa ra một vấn

đề, có thể là thông qua một số câu hỏi hay nội dung gợi ý và yêu cầu cácthành viên nhóm thảo luận trong một khoảng thời gian nhất định

Thảo luận nhóm là một phương pháp thu thập thông tin được sử dụngphổ biến trong công tác xã hội

Để làm rõ nghiên cứu này, trong quá trình nghiên cứu, Tôi đã tiến hành

3 buổi thảo luận nhóm

Đối tượng tham gia thảo luận nhóm là những người phụ nữ và đàn ôngđược chọn ra trong phương pháp chọn mẫu

4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp

Tiến hành nghiên cứu này, tôi đã sử dụng phương pháp tổng hợp, phântích một số tài liệu như báo cáo công tác y tế năm 2010 của trạm y tế xãThanh Long, báo cáo đại hội Đảng bộ xã Thanh Long nhiệm kỳ 2005 –2010 và một số tài liệu liên quan khác

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhận thức của người phụ nữ về vấn đề CSSK trước và sau sinh cònnhiều hạn chế

- Hoàn cảnh kinh tế gia đình ảnh hưởng lớn đến vấn đề CSSK trước vàsau sinh của người phụ nữ

- CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ chưa được sự quan tâmđúng mức từ phía người chồng, và gia đình

Trang 14

Khái niệm vai trò ra đời đầu tiên với sự đóng góp của nhà nhân học vănhóa R Linton (1893 – 1953) Ông định nghĩa về khái niệm vai trò trong tác

phẩm Study of Man (1936): “Từ nay trở đi chúng ta sẽ gọi vị trí do một cá

nhân chiếm lĩnh vào một thời gian cụ thể, trong một hệ thống cụ thể là địa vị của cá nhận đó Vế thứ hai, vai trò được coi là tổng thể của những khuôn mẫu văn hóa gắn liền với một địa vị cụ thể Như vậy khái niệm này sẽ bao gồm những quan điểm, ước lệ về giá trị và phương thức hành động được xã hội quy định cho thân chủ của địa vị này” (R Linton,1973:31) [2; 173]

Theo Robertsons, vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi vànghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định

Mỗi cá nhân tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau do vậymỗi cá nhân có nhiều vai trò xã hội

Hành vi của con người chịu sự chỉ đạo của những mong muốn cá nhân

họ hoặc từ mong muốn của những người khác.Mỗi cá nhân có nhiều vai trò

Trang 15

khác nhau do đó có những mong muốn khác nhau phù hợp với các vai trò mà

cá nhân đảm nhận

Thực hiện vai trò xã hội là cá nhân phải thực hiện một hệ thống, tập hợpcác hành vi mà xã hội mong đợi trên cơ sở phù hợp với những giá trị, chuẩnmực ứng với vị thế xã hội của cá nhân

Đối với người phụ nữ, trong gia đình, họ có vai trò là người vợ, người mẹ,người bà, người con Ngoài xã hội họ có thể có vai trò là người quản lý, ngườilàm công ăn lương, người giáo viên, người bác sĩ Những vai trò đó ảnh hưởngđến sức khỏe của người phụ nữ theo cách thức và mức độ khác nhau

Những vai trò mà người phụ nữ đảm nhận trong gia đình cũng như ngoài

xã hội là những nhân tố ảnh hưởng, tác động đến hành vi CSSKSS trước vàsau sinh của phụ nữ Việc cùng lúc phải đảm nhận nhiều vai trò làm chongười phụ nữ không có nhiều thời gian dành cho việc CSSKSS Bên cạnh đó

là sự xung đột, mâu thuẫn, những khó khăn trong việc thực hiện vai trò cũngtác động lớn đến viêc CSSKSS của người phụ nữ

là tư duy của người ấy không hoàn hảo

Trong công tác xã hội, nếu như nhận thức là cách nhìn nhận của mộtngười về một vấn đề nào đó theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực thì trịliệu nhận thức là phương pháp tác động vào thân chủ làm thay đổi nhận thức

Trang 16

tiêu cực của họ Phương pháp này sử dụng kỹ thuật “chuyển cơ cấu tư duy”trong hoạt động giúp đối tượng Kỹ thuật này gồm các yếu tố:

 Giúp thân chủ nhận thức được các suy nghĩ sai lầm đó có ảnh hưởngđến các hoạt động chức năng của thân chủ

 Xóa bỏ những suy nghĩ sai lầm và thay vào đó là những tư duy xácthực và các hành động có tính chất tích cực để tăng cường các hoạt động chứcnăng của thân chủ

 Một số ứng dụng có ảnh hưởng đến hình thức trị liệu nhận thức chính

là chương trình “lý luận và phục hồi” được sử dụng theo chương trình dịch vụ

về quản chế và những môi trường tư pháp khác

 Tái tạo nhận thức là hình thức nổi tiếng nhất của trị liệu nhận thức

Hình thức trị liệu nhận thức cấu trúc có liên quan đến ba cấu trúc về

niềm tin trong ý thức của thân chủ

 Một số phương thức trị liệu nhận thức đó được kết hợp với phươngthức thay đổi hành vi để trị liệu các vấn đề tâm lý

Nghiên cứu đề tài CSSK trước và sau sinh của phụ nữ tại xã Thanh Longtrên cơ sở tìm hiểu quan niệm, sự nhìn nhận, đánh giá cũng như thói quen,hành vi CSSK của người dân nơi đây Từ đó có sự tác động nhằm thay đổi,hạn chế những hành vi, suy nghĩ tiêu cực

* Thuyết hiện sinh (quan điểm nhân văn hiện sinh)

Quan điểm nhân văn hiện sinh ra đời và phát triển vào những năm cuốithập kỷ 40 do C Rogers (1902) sáng lập

Quan điểm nhân văn hiện sinh là cách thức nhìn nhận cuộc sống dựa trênnhững nền tảng triết lý vững chắc về con người và khả năng của họ trong việclàm chủ thế giới Quan điểm này tin tưởng vào khả năng lý trí cũng như khảnăng ra quyết định và hành động của con người Quan điểm này khẳng địnhcon người sống có chủ đích, và họ có khả năng tự hành động theo mục tiêu

Trang 17

mà mình đặt ra.Vì vậy những người theo quan điểm nhân văn luôn tập trungkhích lệ khả năng con người luôn có niềm tin vững chắc về sức mạnh của conngười về việc kiểm soát cuộc sống.

Quan điểm nhân văn hiện sinh công nhận rằng môi trường chứa đựng cảnhững kinh ngiệm cũng như sự đau khổ hay những điều không tốt đẹp songquan điểm này cũng nhấn mạnh quá trình mà con người có thể nhận biết khảnăng của chính mình để tự điều chỉnh để thích hợp với thế giới và làm chủ thếgiới phù hợp với khả năng thực tế của bản thân

Như vậy, qua cách nhìn nhận này chúng ta có thể thấy thuyết hiện sinh nhấnmạnh đến những khía cạnh sau:

 Con người không chỉ là một thực thể tồn tại mà còn có khả năng ý thức

về sự tồn tại của mình và ý nghĩa về sự tồn tại ấy

Chú ý đến khả năng của các cá nhân nhằm đạt được quyền lực kiểm

soát về cuộc sống của chính mình

 Cá nhân được chấp nhận như “chủ thể”, “khách thể” (họ hành độngtheo, bị ảnh hưởng bởi môi trường)

 Chú ý đến việc con người sẽ thay đổi như thế nào để hướng tới xã hộitốt đẹp hơn

 Tìm kiếm việc tái tạo toàn bộ tổ chức xã hội, tái tạo “xã hội hóa” Vìthế, con người tự do dựa vào nhu cầu và mong muốn của mình để tham giavào một tiến trình tái tạo liên tục của xã hội

 Xem xét các cá nhân và hệ thống như một tổng thể

+ Sự tồn tại của con người: Những gì đang diễn ra trong hiện tại ảnhhưởng như thế nào đến hành vi của con người Các cá nhân được tự do hànhđộng theo mục đích mà bản thân đặt ra và mong muốn, từ đó kiến tạo, xácđịnh chính mình, hình thành nhân cach cấu trúc xã hội

Trang 18

+ Bản chất xã hội của con người: Mỗi người đều có những mục đíchkhác nhau, vì thế có những hành động khác nhau để đạt được mục đích Các

cá nhân thông qua sự tự do của bản thân mình để kiến tạo và xác định về bảnthân, nhân cách riêng cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Bên cạnh đó, các cánhân chịu sự chi phối, tác động của những yếu tố như sự kì vọng của xã hội Nghiên cứu CSSSK trước và sau sinh của phụ nữ xã Thanh Long, cầnxem xét người phụ nữ với vai trò là một thành tố của hệ thống xã hội Trong

hệ thống đó, họ có vai trò là người vợ, người mẹ, người con, người lao động,người giáo viên Họ thực hiện nhiều hoạt động để thực hiện vai trò đó

Trong xã hội nông thôn Việt Nam nói chung, ở xã Thanh Long nói riêng,

vị trí của người phụ nữ trong gia đình còn bị hạn chế, chưa được sự nhìn nhậnđúng mức từ phía người chồng và gia đình do chịu ảnh hưởng bởi phong tụctập quán, lối sống, tư tưởng trọng nam khinh nữ Cần cù, cam chịu là đứctính đặc trưng của người phụ nữ nơi đây

Như vậy, có thể thấy rằng, thói quen và hành vi CSSKSS của ngườiphụ nữ chịu ảnh hưởng từ phía gia đình, xã hội Để thay đổi nhận thức, hành

vi đó phải có sự tác động tích cực vào cộng đồng chứ không chỉ là sự tácđộng vào những người phụ nữ

1.1.2 Các khái niệm làm công cụ nghiên cứu

 Khái niệm nhận thức

Theo quan điểm của Triết học Mác-LêNin, nhận thức được định nghĩa:

“Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ

óc con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo trên cơ sở thực tiễn”.[1; 294]

Cũng có thể hiểu: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái

hiện hiện thực trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó.” [11; 712]

Trang 19

Theo quan điểm của phép duy vật biện chứng, hoạt đông nhận thức củacon người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừutượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giaiđoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từhình thức bên ngoài đến bản chất bên trong, đó chính là nhận thức cảm tính

và nhận thức lý tính

Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của nhận thức, là giai đoạn màcon người sử dụng cảm giác để tác động vào sự vật, nắm bắt được sự vật ấy.Còn nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng khỏi sự vật,được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phỏng đoán và suy luận.Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính không tách rời nhau mà luôn cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhận thức cảm tính thì không cónhận thức lý tính, mà không có nhận thức lý tính thì thì không nhận thức đượcbản chất của sự vật hiện tượng

Chủ thể của nhận thức chính là con người và con người chính là tổnghoà các mối quan hệ xã hội Con người với tư cách là chủ thể của nhận thứccho nên nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu và lợi ích, đặc điêmtâm sinh lý và truyền thống văn hoá dân tộc

Khách thể của nhận thức là đối tượng nhận thức hướng vào, khách thểnhận thức không đồng nhất với thế giới vật chất vì khách thể nhận thức khồngchỉ hướng vào thế giới vật chất mà còn hướng vào thế giới tinh thần

Tóm lại, nhận thức là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư

duy trừu tượng, thông qua nhận thức con người mới hiểu được thế giới khách quan.

Trang 20

 Khái niệm phụ nữ

Để hiểu được khái niệm phụ nữ ta phải hiểu được khái niệm giới tính

Giới tính (sex) là: “nhắc đến những khác biệt sinh lý căn bản nhất giữa đàn

ông và đàn bà, khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh sản.”

[2; 147]

Giới tính gồm: giới tính nam (nam giới) và giới tính nữ (nữ giới)

Về khái niệm nữ giới, hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về nữgiới Mỗi người có một cách hiểu, cách nhìn nhận khác nhau Có ý kiến cho

rằng: “nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay

toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi

cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người”.[19]

Theo tôi, nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhómngười hay toàn những người trong xã hội, mà một cách tự nhiên mang nhữngđặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nởkhi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường

Từ đó ta có thể hiểu rằng phụ nữ là một nhóm hay tất cả nữ giới trưởngthành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội, nó cho thấy một cái

nhìn ít nhất là trung lập.“Một người phụ nữ sức khỏe là tổng của cô hạnh

phúc, không phải chỉ do yếu tố sinh hoc và sinh sản mà còn do ảnh hưởng của khối lượng công việc, dinh dưỡng, căng thẳng, chiến tranh và di cư trong

số những người khác.” (Van der Kwaak A, et Al, năm 1991, Tạp chí phụ nữ

và sức khỏe Vena3)

Trang 21

 Khái niệm sức khoẻ

Nghị quyết trung ương (khoá VII) nêu rõ: Sức khoẻ là vốn quý của mỗicon người là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường quan quan niệm sức khoẻ làkhông ốm đau bệnh tật, con người có sức khoẻ là một người lao động tốt, làmđược những công việc nặng nhọc

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Sức khoẻ là trạng thái thoải mái

toàn diện về thể chất và tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng có bệnh tật hay thương tật.” [7; 16] Mục tiêu chung của Tổ chức Y tế

Thế giới là phấn đấu để đạt được cho tất cả mọi người một mức độ cao nhất

có thể được về sức khỏe

Sức khỏe còn được hiểu đó là “ trạng thái không có bệnh tật, thoải mái

về thể chất, thư thái về tinh thần” [11; 879]

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức khỏe được thể hiện ở bakhía cạnh:

Khía cạnh thứ nhất: Sức khỏe là sự thống nhất giữa hai yếu tố thể chất

và tinh thần: sinh hoạt vật chất vừa đủ “tự cung thanh đạm”, trạng thái tinh thần sáng suốt, thanh thản “tinh thần sảng”

Khía cạnh thứ hai: Sức khỏe gắn liền với cuộc sống lao động, gắn với

một nếp sống đẹp, có văn hóa: hướng tới sự lao động hữu ích “tố sự thung

dung” để huwỏng sự sống lâu dài “nhật nguyệt trường”

Khía cạnh thứ ba: Sức khỏe cá nhân gắn liền với sức khỏe cộng đồng:

“mỗi người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi nguwòi dân khỏe mạnh tức

là cả nuwóc khỏe mạnh ”

Từ những định nghĩa này chúng ta thấy có rất nhiều yếu tố tác động đếnsức khoẻ con người bao gồm: xã hội, văn hoá, kinh tế, môi trường và sinhhọc

Trang 22

Khái niệm sức khoẻ sinh sản

Tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển họp ở Cairo (1994), khái

niệm SKSS đã được định nghĩa:

“Sức khoẻ sinh sản là trạng thái hoàn thiện về thể chất, tinh thần và xã

hội không chỉ đơn thuần là không có bệnh hoặc tàn phế, trong tất cả các vấn

đề liên quan đến hệ thống sinh sản và hoạt động chức năng của nó Do vậy, sức khoẻ sinh sản còn hàm ý rằng mọi người đều có thể có đời sống tình dục thoả mãn và an toàn, rằng họ có khả năng sinh sản cũng như có quyền tự do quyết định có hoặc không có con, khi nào có và khoảng cách giữa các lần sinh là bao lâu Nó cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam lẫn nữ, đều có quyền được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình cũng như các biện pháp phù hợp khác để điều hoà mức sinh có quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đảm bảo cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng cơ may tốt

để sinh được đứa con khoẻ mạnh.” [10; 13]

Qua định nghĩa trên chúng ta thấy rằng SKSS bao gồm 3 yếu tố cơ bảnsau đây:

- Khả năng: Con người có khả năng sinh sản và điều hòa sự sinh sản của

họ, được thỏa mãn trên cơ sở tự nguyện trong quan hệ tình dục

- Sự thành công: Sinh sản cho ra đời một đứa con, đứa con đó sống, lớnlên và phát triển khỏe mạnh

- An toàn: Quá trình điều hòa sinh sản, thai nghén diễn ra suôn sẻ, không

có rủi ro nào về sức khỏe và quan hệ tình dục

Như vậy, SKSS là một trong những yếu tố cơ bản đóng vai trò quan trọngđối với cuộc sống hạnh phúc của mỗi gia đình và đặc biệt là đối với phụ nữnói chung và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nói riêng

Trang 23

 Khái niệm chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là cách giúp cho mọi người chuyển cáckiến thức, thái độ và giá trị về SKSS thành hành động CSSKSS theo xuhướng tích cực Có nhiều khái niệm cơ bản về CSSKSS, sau đây là khái niệm

CSSKSS của Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em (2003): “Chăm sóc sức khoẻ

sinh sản là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khoẻ và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề SKSS.” [3; 31]

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là sự phối hợp giữa vợ chồng, gia đình, xãhội và các biện pháp kỹ thuật, dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng SKSS làmcho sự hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản được tốt hơn, khỏe mạnhhơn, bao hàm cả sức khỏe tình dục Mục đích là làm cho cuộc sống có chấtlượng và hạnh phúc hơn bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề sứckhỏe sinh sản như khám thai, chăm sóc bà mẹ khi có thai, phát hiện và điều trịsớm các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản

Mỗi người dân đều có quyền được chăm sóc sức khoẻ sinh sản Chămsóc sức khoẻ không có nghĩa chỉ là kế hoạch hoá gia đình hay sức khoẻ tìnhdục mà là chăm sóc toàn diện để đảm bảo chất lượng dân số về thể chất, tinhthần và trí tuệ

Theo Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em (2003) Chăm sóc sức khoẻsinh sản tập trung vào các đối tượng sau:

- Bà mẹ (phụ nữ mang thai, phụ nữ sinh đẻ) và trẻ em

- Vị thành niên

- Mỗi cá nhân, cặp vợ chồng ở độ tuổi sinh đẻ cả nam và nữ

- Người cao tuổi

Trong các đối tượng trên phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng được quantâm hàng đầu trong công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Trang 24

Theo đó, các nội dung cơ bản cần tuyên truyền vận động về chăm sócsức khoẻ sinh sản.

Thứ nhất: Quyền sinh sản và chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Thứ hai: Phòng ngừa viêm nhiễm các đường sinh sản, bệnh lây truyềnqua đường tình dục và HIV/AIDS

Thứ ba chăm sóc sức khoẻ vị thành niên: hiểu biết về giới tính và tìnhdục an toàn, phòng ngừa tránh mang thai ngoài ý muốn và sinh con ở tuổi vịthành niên, phòng tránh phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dụcHIV/AIDS ở tuổi vị thành niên, không kết hôn sớm

Thứ tư chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em: Làm mẹ an toàn

Thứ năm phá thai: Đề phòng hậu quả và cách phòng tránh

Thứ sáu kế hoạch hoá gia đình: Quy mô gia đình ít con, sinh con vàothời điểm thích hợp, khoảng cách giữa hai lần sinh con hợp lý, nâng cao chấtlượng kế hoạch hoá gia đình

Thứ bảy bình đẳng giới và chống bạo lực với phụ nữ trong chăm sóc sứckhoẻ sinh sản: Nâng cao trách nhiệm và thu hút sự tham gia của nam giớitrong chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chăm sóc biình đẳng con trai và con gái,không bạo hành phụ nữ

Việc tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ sinh sản được cụ thể hoá như trêngiúp các cán bộ làm công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản thực hiện được tốtnhiệm vụ của mình Các đối tượng của chăm sóc sức khoẻ sinh sản có mộtnhận thức cao hơn về sức khoẻ sinh sản

Vì vậy chăm sóc sức khoẻ một cách tốt nhất sẽ góp phần làm giảm đáng

kể tỷ lệ mắc bệnh tử vong trẻ sơ sinh và trẻ em, các bệnh lây truyên quađường tình dục, HIV/AIDS, nạo phá thai ngoài ý muốn Có thể nói chăm sócsức khoẻ sinh sản tốt là nâng cao chất lượng dân số

Trang 25

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Vấn đề chăm sóc sức khỏe là một trong những vấn đề quan trọng, được

sự quan tâm của Đảng, nhà nước cũng như của toàn xã hội

Ở Việt Nam, thời kỳ 1971 – 1974 Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ, trẻ em đượcthành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và vận động việc thực hiệnviệc sinh đẻ có kế hoạch, bảo vệ sức khỏe cho người phụ nữ và sự phát triểnkhỏe mạnh của những đứa trẻ

Ngày 11/7/2009 tại Việt Nam, Bộ Y Tế và Qũy dân số Liên Hợp Quốc

đã tổ chức buổi họp báo nhân ngày Dân số thế giới Mục đích của buổi họpbáo là kêu gọi, khuyến cáo các quốc gia quan tâm, bảo vệ quyền được chămsóc y tế của phụ nữ, tăng cường đầu tư cho xã hội, đặc biệt là CSSKSS Quanghiên cứu của Liên Hợp Quốc (được trình bày trong buổi họp báo này) mỗinăm trên thế giới mất khoảng 15 tỷ đô la mỹ giá trị sản phẩm vỡ một nửatriệu phụ nữ chết khi mang thai, khi sinh con và 4 triệu trẻ em tử vong.Thếnhưng chúng ta có thể cứu sống họ mà chỉ mất 6 tỷ đô la mỹ để đảm bảo cungcấp các dịch vụ y tế cần thiết Từ đó Bộ Y Tế và Qũy dân số Liên Hiệp Quốcđưa ra giải pháp là các hệ thống y tế cần được tăng cường nhằm cung cấpdịch vụ KHHGĐ, người hỗ trợ sinh đẻ có kỹ năng và cung cấp cứu sản khoa.Việc đầu tư cho phụ nữ trên thế giới cần được tiếp tục để nâng cao vị thếngười phụ nữ, từ đó có điều kiện để đảm bảo an sinh xã hội

Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo năm 1994 đãđưa ra một cách tiếp cận mới về các vấn đề dân số và phát triển Hội nghị đãchuyển hướng từ định hướng dân số sang việc tăng cường sự chú ý tới cácnhu cầu về SKSS và tình dục của người dân và quyền sinh sản Sức khỏe sinhsản không thể bị xem xét tách rời khỏi các vấn đề xã hội như nghèo, bất bìnhđẳng giới và sự tham gia chính trị

Trang 26

Mục tiêu thứ 5 trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc

tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9năm 2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York, Mỹ tập trungvào việc giảm tỷ lệ tử vong mẹ (MMR) của 75% từ 1990 đến 2015 và đảmbảo tiếp cận phổ cập tới SKSS vào 2015

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, gánh nặng bênh tật toàn cầu(GBP)

2002 ước tính mỗi năm có khoảng 10 triệu phụ nữ chịu đựng những biếnchứng đe dọa cuộc sống khi mang thai và sinh con, đôi khi dẫn đến tàn tật lâudài

Việc CSSK cơ bản, KHHGĐ và dịch vụ sản khoa là cần thiết cho phụ

nữ Phương pháp tiếp cận giới công bằng cho sức khỏe là cần thiết để chophép tham gia đầy đủ của phụ nữ trong việc lập kế hoạch và cung cấp dich vụ

y tế

Theo Dân số Liên Hiệp Quốc, Nhà nước của Dân số Thế giới năm 2005,

lời hứa của bình đẳng, bất bình đẳng, SKSS và mục tiêu phát triển Thiên niên

kỷ New York UNEFPA: Sức khỏe của gia đình và cộng đồng được gắn liền

với sức khỏe của phụ nữ - Những bệnh tật hoặc cái chết của một người phụ

nữ có ảnh hưởng nghiêm trọng và sâu rộng đối với sức khỏe của gia đình, trẻ

em và cộng đồng Các khẩu hiệu “phụ nữ khỏe mạnh, khỏe mạnh thế giới”tiêu biểu cho thực tế rằng, cũng như giữ gìn sức khỏe gia đình, phụ nữ đóngvai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và phúc lợi của cộng đồng

Tài liệu “Sổ tay SKSS gia đình” (2007) của ủy ban dân số, gia đình và trẻ

em đã đề cập đến các cách phòng chống các bệnh nguy hiểm cho phụ nữ,những lời khuyên dành cho phụ nữ khi mang thai, các biện pháp tránh thai vàcách chăm sóc trẻ sơ sinh

Bài viết “Thấy gì qua thực trạng nạo hút thai và công tác kế hoạch hoá

gia đình hiện nay” của Đặng Hà Phương và Nguyễn Thanh Liêm – Tạp chí xã

Trang 27

hội học số 1/1998 đã nói đến thực trạng nạo hút thai của phụ nữ và việc thựchiện công tác KHHGĐ hiện nay.

Qua những nghiên cứu trên chúng ta thấy được tầm quan trọng của việcCSSK, phòng chống bệnh tật đối với sự phát triển con người, thực trạng vấn

đề CSSK cho người dân, đặc biệt là người phụ nữ ở Việt Nam Mặc dù đãđược sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhưng trên thực tế, việc CSSK ởViệt Nam còn gặp nhiều khó khăn Phúc lợi xã hội dành cho các dịch vụCSSK của người dân còn thiếu, nhận thức về vấn đề CSSK, đói nghèo lànhững nguyên nhân cản trở việc CSSK trước và sau sinh của người phụ nữ.Những nghiên cứu trên đã cho ta thấy tình hình CSSK, việc tiếp cận vớicác DVCSSK của người phụ nữ, tầm quan trọng của dịch vụ y tế đối với sứckhỏe của người phụ nữ, sự phát triển của đứa trẻ Tuy nhiên những nghiêncứu này phần lớn mang tính chất thống kê ở tầm vĩ mô, chưa đi sâu tìm hiểu

về những cản trở, khó khăn mà người dân gặp phải trong việc tiếp cận với cácDVCSSK

Nghiên cứu đề tài CSSK trước và sau sinh của phụ nữ xã Thanh Long,huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm hiểu thực trạngCSSKSS của người dân, những trở ngại, những nhân tố ảnh hưởng đến việctiếp cận các DVCSSK của người phụ nữ nơi đây

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSK cho nhân dân

1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSK nói chung cho nhân dân

Điều 26 trong luật nhân quyền Việt Nam quy định: Quyền được CSSKnằm trong nội hàm các quyền được có mức sống thích đáng nêu ở Điều 25

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), theo đó, “mọi người có quyền

được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các

Trang 28

dịch vụ xã hội cần thiết Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt”.

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng các chính sách và chiến lược pháttriển con người, CSSK để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về thể chất, thoải mái

về tinh thần, lối sống lành mạnh, không có bệnh, tật Tại Nghị quyết Trungương Đảng khóa IV của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng

(BCHTW) viết: “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã

hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đầu

tư cho sức khỏe chính là đầu tư cho phát triển kinh tế, xã hội Phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe” Để triển khai Nghị quyết

IV của BCHTW Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 37/CP về Địnhhướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đến năm

2000 và 2020

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đã ban hành Nghịquyết thông qua báo cáo chính trị đánh giá những thành tựu to lớn mà đấtnước ta đã đạt được sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế (1991-2000) và sau 15 năm Đổi mới Đại hội cũng đề ra đường lối vàchiến lược phát triển kinh tế xã hội cho thời gian tới và giải quyết các vấn đề

có liên quan đến y tế, báo cáo khẳng định: “Thực hiện đồng bộ các chính

sách bảo vệ và CSSK nhân dân nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là ở cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu, đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến mọi địa bàn dân

cư Thực hiện công bằng xã hội trong CSSK, đổi mới cơ chế chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Nhà nước ban hành chính sách quốc gia về y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền từ khâu đào tạo đến khâu khám chữa bệnh và

Trang 29

điều trị” Về thực hiện chính sách xã hội, báo cáo nhấn mạnh: “Các chính sách quốc gia, xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và

sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”

Ngày 19 tháng 3 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Quyết định số35/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân

dân giai đoạn 2001-2010 Mục tiêu chung của Chiến lược là: “Phấn đấu để

mọi người dân được hưởng các dịch vụ CSSK ban đầu, có điều kiện tiếp cận

và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể chất, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi”

Để thực hiện mục tiêu, Chính phủ đã đề ra 11 giải pháp chính, trong đó

giải pháp thứ 11 là xã hội hóa công tác y tế: “Tiếp tục củng cố và phát triển

các Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe các tỉnh, thành phố Phát triển mạng lưới tuyên truyền viên đến xã Sử dụng các biện pháp và hình thức truyền thông phù hợp để mọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức quần chúng tự nguyện tham gia và đóng góp vào việc bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân và cộng đồng”.

Các chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước liêntục phát triển theo bước phát triển chung của đất nước Những bước tiến nàyđược thể hiện bằng những thành quả to lớn về công tác CSSK cho nhân dân

đã được quốc tế thừa nhận và đánh giá rất cao Quy mô đầu tư về nguồn lực

và sự quan tâm chung của các cấp lãnh đạo cũng như sự tham gia của toàn xãhội cho lĩnh vực này cũng không ngừng gia tăng đảm bảo luôn đạt những mụctiêu đề ra

Trang 30

1.2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSK trước và sau sinh cho phụ nữ

Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người phụ nữ đóng vai trò quan trọngtrong sự nghiệp phát triển con người Trong những năm qua, Đảng, nhà nước

ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm hạn chế những khó khăn, tạo điềukiện tốt nhất cho phụ nữ tiếp cận các dịch vụ CSSKSS

- Với mục đích ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do hônnhân hay sinh đẻ, bảo đảm cho phụ nữ thực sự có quyền làm việc, Điều 11công ước 183 - Công ước về việc bảo vệ quyền của phụ nữ mang thai và nuôicon nhỏ quy định:

+ Cấm và trừng phạt hành vi sa thải phụ nữ vì lý do có thai hoặc nghỉ

đẻ hoặc phân biệt đối xử trong sa thải dựa vào tình trạng hôn nhân

+ Áp dụng chế độ nghỉ đẻ vẫn hưởng lương hoặc được hưởng các phúc lợi xã hội tương đương mà không bị mất việc làm cũ, mất thâm niên hay các phụ cấp xã hội;

+ Khuyến khích việc cung cấp những dịch vụ hỗ trợ xã hội cần thiết để tạo điều kiện cho các bậc cha mẹ có thể kết hợp nghĩa vụ gia đình với trách nhiệm công tác và tham gia sinh hoạt xã hội, đặc biệt đẩy mạnh việc thiết lập

và phát triển hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo;

+ Có chế độ bảo vệ đặc biệt dành cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai làm những loại công việc độc hại.

Điều 12 Công ước 183 cũng quy định:

+ Phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhằm bảo đảm cho phụ nữ được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kể cả các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình trên cơ sở bình đẳng nam nữ.

Trang 31

+ Phải đảm bảo cho phụ nữ các dịch vụ thích hợp liên quan đến quá trình mang thai, sinh đẻ và chăm sóc sau sinh, cung cấp các dịch vụ miễn phí

ở những nơi cần thiết, đảm bảo cho phụ nữ chế độ dinh dưỡng thích hợp trong thời gian mang thai và cho con bú.

- Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại

phụ nữ (CEDAW) là một điều ước quốc tế về quyền con người được Đại

Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 18-12-1979 Việt Nam kýCEDAW ngày 29-7-1980 và phê chuẩn ngày 17-2-1982

Là một trong những điều ước quyền con người quốc tế, CEDAWnhắm tới việc thông qua các biện pháp cần thiết để xóa bỏ sự phân biệt đối

xử chống lại phụ nữ dưới tất cả các hình thức và biểu hiện khác nhau

Điều 12 Công ước CEDAW yêu cầu: “Phải xoá bỏ tất cả các hình thức

phân biệt đối xử trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và bảo đảm việc phụ nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Bảo đảm về chăm sóc sức khoẻ phải được tiến hành trong suốt cuộc đời của người phụ nữ Họ phải được bảo vệ ngay từ khi trong bụng mẹ vì dễ bị nạo phá thai do lựa chọn giới tính thai nhi cho đến khi trở thành phụ nữ cao tuổi” Điều 12 CEDAW cho thấy cần phải

nhấn mạnh nhiều lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ khác nhau cần sự chú ý, nhưtiếp cận dịch vụ y tế, chế độ thai sản và nuôi con, HIV/AIDS và các bệnhkhác lây truyền qua đường tình dục, những dịch vụ và giáo dục tính dục vàsức khoẻ sinh sản, các biện pháp hạn chế sinh đẻ và kế hoạch hoá gia đình,nạo phá thai và tư nhân hoá những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Các quốc giathành viên phải đảm bảo những dịch vụ phù hợp với phụ nữ liên quan đếnthai sản, sinh đẻ và thời kỳ sau sinh, đảm bảo những dịch vụ miễn phí khi cầnthiết cũng như đầy đủ dinh dưỡng trong thời kỳ phụ nữ có thai và cho con bú

Điều 10 Công ước CEDAW yêu cầu quốc gia thành viên: “đảm bảo sự

tiếp cận bình đẳng về giáo dục, theo đó cho phép phụ nữ tiếp cận chăm sóc

Trang 32

sức khỏe và giảm tỉ lệ học sinh nữ bỏ học nửa chừng mà thường do có thai ngoài ý muốn” Quốc gia thành viên phải cung cấp cho phụ nữ và trẻ em gái

những thông tin giáo dục chuyên biệt để giúp đảm bảo phúc lợi gia đình, gồm

các thông tin và lời khuyên về kế hoạch hóa gia đình Điều 11 quan tâm việc

“bảo vệ sức khoẻ và sự an toàn của phụ nữ trong những điều kiện công việc, bao gồm cả bảo vệ an toàn cho chức năng sinh sản, đặc biệt là khỏi các hình thức lao động độc hại trong quá trình mang thai và trả lương trong thời gian sinh con” Điều 14 (2) (b) yêu cầu quốc gia thành viên “đảm bảo cho phụ nữ nông thôn được tiếp cận bình đẳng các cơ sở chăm sóc y tế, bao gồm các thông tin, tư vấn và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình” Điều 14 (h) buộc các

quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả những biện pháp thích hợp để “đảm

bảo các điều kiện sống đủ, đặc biệt là nơi ở, vệ sinh, điện và nước, giao thông và liên lạc là tất cả những thứ quyết định tới việc phòng bệnh và thúc đẩy việc chăm sóc sức khỏe tốt”

Điều 16 (1) (e) yêu cầu quốc gia thành viên đảm bảo rằng “phụ nữ có

mọi quyền như nam giới trong việc quyết định số con, khoảng thời gian giữa những lần sinh con và tiếp cận thông tin, giáo dục và các điều kiện để họ thực hành những quyền này” Điều 16 (2) cũng cấm việc hứa hôn và kết hôn

ở trẻ em - một yếu tố quan trọng trong việc ngăn chặn việc gây hại cả về tinhthần và thể xác từ việc sớm sinh con ở các em gái

Sức khỏe tình dục và sinh sản cũng là một trong những mặt chính củaquyền sức khoẻ của phụ nữ Các quốc gia thành viên phải tạo điều kiện thuậnlợi cho phụ nữ có quyền kiểm soát và quyết định trong các vấn đề có liênquan đến tính dục của họ, bao gồm cả sức khỏe sinh sản và tình dục màkhông bị ép buộc, thiếu thông tin, phân biệt đối xử và bạo lực Chương trìnhHành động của Hội nghị Quốc tế năm 1994 về Dân số và Phát triển cùngCương lĩnh Hành động Bắc Kinh được thông qua tại Hội nghị Thế giới về

Trang 33

phụ nữ lần thứ tư năm 1995 đã nhấn mạnh các quyền của nam giới và phụ nữtrong việc tiếp cận những biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả,

có thể có được và chấp nhận được trong sự lựa chọn của họ, và quyền tiếp cậntới những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ phù hợp để phụ nữ có thể có được sự antoàn trong suốt thời kỳ mang thai, sinh con và tạo cơ hội tốt nhất cho các cặpnam nữ để có được những trẻ em khỏe mạnh

Bạo lực với phụ nữ là một nguyên nhân rộng khắp gây nguy hại về thânthể và tinh thần hay sự đau khổ cho phụ nữ, cũng như là sự vi phạm quyềnsức khoẻ của họ Uỷ ban Xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là một cơchế của Liên Hợp Quốc để giám sát việc thực hiện CEDAW đã yêu cầu cácquốc gia thành viên ban hành và thực hiện pháp luật và chính sách bảo vệ phụ

nữ cùng những trẻ em gái khỏi bạo lực và lạm dụng, đồng thời cung cấp cácdịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật chất và tinh thần phù hợp cho họ Những cán

bộ và nhân viên y tế cần được tập huấn để phát hiện và xử lý các hậu quả sứckhỏe của phụ nữ bị bạo lực Các quốc gia thành viên phải hành động quyếtliệt trong việc ngăn chặn, điều tra và truy tố những hành vi bạo lực bất kể docác quan chức nhà nước hay cá nhân gây ra Nạn nhân của mọi hình thức bạolực đối với phụ nữ cũng có quyền được đền bù, phục hồi sức khoẻ về tinhthần và thể xác

Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001

-2010 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28 tháng 11 năm

2000 xác định các mục tiêu CSSKSS:

+ Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, cũng như sự ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung của CSSKSS trong mọi tầng lớp nhân dân, trước hết trong cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong các tổ chức, đoàn thể.

Trang 34

+ Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh Bảo đảm quyền sinh con và lựa chọn các biện pháp tránh thai có chất lượng của phụ nữ và các cặp vợ chồng Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến do nạo hút thai.

+- Nâng cao tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách.

+ Dự phòng có hiệu quả để làm giảm số mắc mới và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/ AIDS và tình trạng vô sinh.

+ CSSKSS tốt hơn cho người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, phát hiện và điều trị sớm các trường hợp ung thư vú và các ung thư khác của đường sinh sản nam và nữ.

+ Cải thiện tình hình sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục của vị thành niên, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ CSSKSS phù hợp với lứa tuổi.

+ Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục

an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao sức khoẻ sinh sản và chất lượng cuộc sống.

Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về CSSK cho ngườidân nói chung, CSSKSS cho phụ nữ nói riêng được thể hiện trong hoạt độngcủa ngành y tế Các cơ sở y tế từ Trung ương đến cơ sở đều có nhiệm vụ cungcấp DVCSSKSS cho người dân Đó là điều kiện quan trọng đảm bảo cho phụ

nữ Việt Nam được tiếp cận và sử dụng các DVCSSK ngày càng thuận lợi và

có chất lượng

Trang 35

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu

Thanh Long là 1 trong 40 đơn vị hành chính của huyện Thanh Chương,

có vị trí ở vào khoảng 18047’ đến 18048’ vĩ độ Bắc, 106024’ 40’’ đến 107030’

kinh đông, phía Tây và phía Bắc giáp xã Võ Liệt, phía Nam giáp xã Thanh

Hà, phía Đông giáp sông Lam Thanh Long là xã gần trung tâm huyện, cáchthành phố Vinh 40 km

Nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với diện tích đất tựnhiên là 794 ha trong đó hơn ½ diện tích là đất đồi núi, cư dân chủ yếu hoạtđộng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp vàthương nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp

 Về điều kiện kinh tế xã hội:

Tổng giá trị sản xuất kinh tế năm 2005 là 29,59 tỷ đồng, năm 2009 là46,1 tỷ đồng, năm 2010 là 54,1 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng khinh tế hàngnăm đạt 15,1%

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch, giảm tỷ trọng ngành nông – lâm –ngư nghiệp từ 72% xuống 61% năm 2009, tăng tỷ trọng ngành tiểu thủ côngnghiệp và dịch vụ từ 28% lên 39%

Trong nông nghệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngànhchăn nuôi và giảm tỷ trọng đóng góp của ngành trồng trọt

 Về giáo dục, đào tạo

Năm 2009, xã Thanh Long đã tiến hành chuyển đổi trường lớp, chuyểncác lớp tiểu học từ cụm B (gồm 6 xóm ven núi) ra cụm A (gồm 7 xóm vensông) để làm cụm trường mầm non cho vùng B

Đội ngũ giáo viên 100% được chuẩn hóa, trẻ, tâm huyết với nghề vớinhiều giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh

Năm 2010 toàn xã có 51 em là học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và 37

em đậu vào các trường đại học, cao đẳng

Trang 36

Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, hoạt động của trung tâphọc tập cộng đồng được đẩy mạnh, hoạt động của hội khuyến học phát huyhiệu quả góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục dào tạo phát triển Trường tiểuhọc và trường trung học đạt trường tiên tiến cấp huyện.

 Về văn hóa

Đẩy mạnh thực hiện xây dựng “thiết chế văn hóa, thông tin thể thaođồng bộ” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tạikhu dân cư”, tỷ lệ gia đình văn hóa hàng năm đạt 70 – 75% , xây dựng được 1làng văn hóa (làng văn hóa xóm 5)

 Về công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em

Về công tác y tế: Xã Thanh Long hiện nay có 1 trạm y tế, 1 bác sỹ, 3 y

tá, 1 dược sỹ, 1 nữ hộ sinh

Trang thiết bị, dụng cụ y tế chưa đầy đủ nhưng hàng năm được bổ sung

và nâng cấp: năm 2009, trạm y tế xã đã mua sắm được 3 giường Inoc chobênh nhân, 1 máy điện châm, 2 bàn làm việc, 1 bộ dụng cụ sao tẩm chế biếnthuốc bắc, 1 tủ đựng thuốc bắc , xây dựng vườn thuốc nam mẫu tại trạm vớihơn 40 loại cây thuốc

Hàng năm trạm y tế xã tiếp nhận khám và điều trị cho 2500 lượt người,thực hiện tốt công tác phòng dịch

Quản lý và chăm sóc phụ nữ có thai, bà mẹ và trẻ em có hiệu quả:Công tác khám thai và quản lý thai nghén diễn ra hàng tháng, cung cấp vàthực hiện tốt các biện pháp tránh thai cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ,tiêmchủng vắc xin cho trẻ em được tiến hành mỗi năm 4 đợt

Xã có 80% dân cư được dùng nước sạch, 80% hộ có nhà vệ sinh xâygạch, được tỉnh công nhận là xã chuẩn Quốc gia về y tế năm 2009

Về dân số: Công tác tuyên truyền dân số kế hoạch hóa gia đình được chú

trọng và ngày càng phát huy hiệu quả Số người sử dụng biện pháp tránh thai

Trang 37

trong độ tuổi sinh đẻ đạt 90 – 95%, số gia đình sinh con thứ 3 ngày cànggiảm: năm 2005 là 34%, năm 2009 con 21%

Tỷ lện gia tăng dân số hàng năm là 0,8%

Tỷ lệ trẻ em suy sinh dưỡng năm 2005 là 30%, năng 2009 là 22,5%

Về y tế học đường, chăm sóc sức khỏe trẻ em:

Hàng năm trạm y tế phối hợp với trường học tổ chức khám sức khỏeđịnh kỳ cho học sinh: Trường cấp I mỗi năm 1 lần, Trường cấp II mỗi năm 1lần, Trường mẫu giáo mỗi năm 2 lần

Số trẻ em 6 đến 36 tháng tuổi được uống Vitamin A 2 lần mỗi năm đạt100%, số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm vawcxin BCG đạt 92%

Số bà mẹ có thai được tư vấn chăm sóc thai nghén và sau đẻ được uốngVitamin A 2 lần mỗi năm đạt 100%

Số trẻ em dưới 2 tuổi được cân, đo và theo dõi bằng biểu đồ tăngtrưởng 1 lần mỗi tháng đạt 100%

Số trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi năm 2009 là 19%

Trang 38

Chương2: THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRƯỚC

VÀ SAU SINH CỦA PHỤ NỮ XÃ THANH LONG, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

2.1 Thực trạng vấn đề CSSK trước và sau sinh của phụ nữ tỉnh Nghệ An

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định rõ cần phải:

“bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc” (Việt Nam, 2001).

Quyết định của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược quốcgia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010” ngày 28/11/2000 với nội dung:

“Đảm bảo năm 2010 tình trạng SKSS được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về CSSKSS phù hợp với điều kiện của các cộng đồng, từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn”.

Thực hiện Chính sách CSSKSS của Đảng và Nhà nước, trong nhữngnăm Nghệ An đã có nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng DVCSSKSScho phụ nữ

Theo báo cáo của Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Nghệ An: Đa số phụ nữ cóthai được quản lý thai sản, được sinh đẻ tại cơ sở y tế, tỷ lệ bà mẹ được chămsóc sau đẻ ngày càng tăng; các tai biến sản khoa giảm đáng kể, trẻ em đượcchăm sóc tốt từ trong bào thai, được tiêm chủng đầy đủ và nuôi dưỡng hợp lý,

vì vậy tỷ lệ trẻ tử vong trong những ngày đầu sau đẻ giảm, tỷ lệ trẻ suy dinhdưỡng qua các năm đều giảm.[14]

Trang 39

Theo báo cáo của Trung tâm Sức khoẻ sinh sản tỉnh Nghệ An: Hiệnnay chương trình Chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được thực hiện có hiệu quảtrong toàn tỉnh, bộ máy tổ chức tương đối hoàn thiện: 100% xã phường có nữ

hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, có phòng đẻ và phòng KHHGĐ, trình độ chuyênmôn của các cán bộ làm công tác CSSKSS đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm

vụ Chất lượng các dịch vụ được cải thiện: Tỷ lệ phụ nữ có thai được khámthai 3,3 lần trong một chu kỳ thai nghén; Tỷ lệ đẻ ở các cơ sở y tế đạt trên86%, khi đẻ được theo dõi bằng biểu đồ chuyển dạ; Trên 90% bà mẹ đượcthăm khám sau đẻ; Các tai biến sản khoa giảm hẳn so với những năm trước.Sức khoẻ, cân nặng trẻ sơ sinh đã được cải thiện nhiều, tỷ lệ trẻ đẻ ra dưới2.500g còn 4,8% (giảm 1% so với năm 2006), tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng giảm còn 25,1%; Trẻ dưới 1 tuổi được tiêm phòng đủ 6 loại vắc xinphòng bệnh đạt 93,9% Công tác KHHGĐ được thực hiện dưới nhiều hìnhthức, đa dạng hoá các biện pháp tránh thai và được áp dụng có hiệu quả Năm

2007 có gần 323.000 phụ nữ được khám phụ khoa (42%)

Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình CSSKSS ở Nghệ An hiện nayđang gặp không ít khó khăn Theo báo cáo tổng kết công tác CSSKSS năm

2010 của Trung tâm Sức khoẻ sinh sản tỉnh Nghệ An cho thấy: mặc dù 100%

nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi ở các trạm y tế đã được đào tạo song ở một số xã vùngsâu, vùng cao trình độ chuyên môn vẫn còn yếu, một số nơi cán bộ sau khiđược đào tạo lại bố trí làm việc khác, cán bộ thay thế chưa được đào tạo lạinên không nắm bắt, tiếp cận được với những kiến thức mới Công tác truyềnthông - giáo dục sức khoẻ, tư vấn chưa thường xuyên liên tục, hầu như chỉ tậptrung vào các đợt chiến dịch Việc quản lý thai nghén ở một số địa phươngchưa tốt nên còn để xảy ra tai biến sản khoa không đáng có Tỷ lệ chị emtrong độ tuổi sinh đẻ mắc các bệnh phụ khoa tương đối cao khoảng từ 40-50% Đây là điều đáng báo động, bởi bệnh phụ khoa là bạn đồng hành của vô

Trang 40

sinh, chửa ngoài dạ con và nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến ung thư đườngsinh dục Tuy nhiên hiện nay việc khám chữa vô sinh, khám điều trị ung thưđường sinh dục đang là khoảng trống trong các cơ sở y tế ở Nghệ An, bởingành sản khoa địa phương mới chỉ dừng lại ở điều trị những bệnh sản phụkhoa thông thường như mổ đẻ, chửa ngoài dạ con, cắt các khối u thôngthường Điều đáng nói là tình trạng nạo hút thai vẫn cao Hậu quả của việcphá thai là rất lớn, ảnh hưởng đến sức khoẻ và hạnh phúc gia đình của ngườiphụ nữ

Rõ ràng để thực hiện tốt công tác CSSKSS hiện nay, bên cạnh việc tiếnhành đồng thời nhiều giải pháp và sự giúp đỡ, phối hợp của các cấp cácngành, thì vấn đề truyền thông vẫn được coi là biện pháp hữu hiệu và ít tốnkém nhất Phải đẩy mạnh công tác truyền thông ngay ở nhà trường, ở tuổi vịthành niên, chứ không riêng gì ở độ tuổi sinh đẻ

Theo nghiên cứu về giới và sức khỏe sinh sản ở khu vực ven biển miềnBắc trung bộ tiến hành tại hai xã Quỳnh Bảng và Quỳnh Xuân, huyện QuỳnhLưu, Nghệ An của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em [8; 161] cho thấy:

- Có 9% không đi khám thai trong lần mang thai cuối

- 51% đi khám thai 3 lần, 16% đi khám thai hơn 3 lần

- 58% uống viên sắt, 75% tiêm phòng uốn ván trong lần mang thai cuối

- 6% phụ nữ nói rằng họ làm việc nặng hơn, 50% nói rằng họ làm việcnhư trước khi mang thai, 44% nói họ làm việc nhẹ hơn trước khi mang thai

- 62% nói nằng họ ăn nhiều hơn trước khi mang thai

- 69% số người được hỏi bắt đầu làm việc lại trong thời kỳ từ 1 đến 3tháng sau khi sinh

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong việc CSSKSS của phụ nữ dựatheo trình độ văn hóa: 20% phụ nữ học hết tiểu học không đi khám trước sinh,còn đối với phụ nữ học hết phổ thông là 4% Về khía cạnh mức sống thì sự

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2004), Giáo trình Triết học Mác-Lê Nin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lê Nin
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
2. Hoàng Bá Thịnh, Giáo trình xã hội học về giới, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học về giới
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
3. Nguyễn Thị Kim Hoa (2007), Giáo dục giới tính định hướng sức khỏe sinh sản vị thành niên, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính định hướng sức khỏe sinh sản vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
4. Ts. Mai Thị Kim Thanh, công tác xã hội cá nhân, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: công tác xã hội cá nhân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
5. Tony Bilton và những người khác (1993), Nhập môn xã hội học, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hập môn xã hội học
Tác giả: Tony Bilton và những người khác
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1993
6. Mai Huy Bích (2003), Giáo trình xã hội học gia đình, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
7. Trường Đại Học Y Huế (2008), Giáo trình sức khỏe cộng đồng, Nxb Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sức khỏe cộng đồng
Tác giả: Trường Đại Học Y Huế
Nhà XB: Nxb Huế
Năm: 2008
9. Các tác giả, Phương pháp nghiên cứu xã hội học, nhà xuất bản đại học quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia
10. Uỷ ban Quốc gia - Dân số - KHHGĐ (2002), Sức khỏe sinh sản, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản
Tác giả: Uỷ ban Quốc gia - Dân số - KHHGĐ
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2002
11. Viện Ngôn Ngữ Học (2005), Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn Ngữ Học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
12. Trạm y tế xã Thanh Long, kế hoạch hoạt động y tế xã Thanh Long năm 2010, Thanh Long tháng 1 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kế hoạch hoạt động y tế xã Thanh Long năm 2010
13. Uỷ ban nhân dân xã Thanh Long , Báo cáo đại hội Đảng xã Thanh Long nhiệm kỳ 2005 – 20010, Thanh Long, ngày 15 tháng 04 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đại hội Đảng xã Thanh Long nhiệm kỳ 2005 – 20010
15. Diệp Từ Mỹ, Nguyễn Văn Lơ, Kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS của học sinh PTTH TP HCM năm 2004, tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 9, phụ bản của số 1. 68 – 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS của học sinh PTTH TP HCM
17. Trung tâm Sức khoẻ sinh sản tỉnh Nghệ An, Báo cáo tổng kết công tác CSSKSS năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm Sức khoẻ sinh sản tỉnh Nghệ An
18. Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, Kĩ năng truyền thông thực hiện nhằm đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc SKSS, Nxb Hà Nội, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng truyền thông thực hiện nhằm đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc SKSS
Nhà XB: Nxb Hà Nội
14. Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Nghệ An, Báo cáo tổng kết công tác CSSKSS/KHHGĐ năm 2010 Khác
16. Trung tâm DS – KHHGĐ huyện Thanh Chương, Báo cáo tổng kết công tác DS – KHHGĐ năm 2010, phương hướng nhiệm vụ năm 2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w