1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''

118 539 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong “tục ngữ mường thanh hóa”
Tác giả Trần Thị Xuân
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoàn thành đề tài Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thểhiện quan hệ gia đình trong “Tục ngữ Mường Thanh Hóa”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo hướ

Trang 1

trần thị xuân

cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình

trong “ tục ngữ mờng thanh hóa ”

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh - 2010

Trang 2

trần thị xuân

cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình

trong “ tục ngữ mờng thanh hóa ”

Trang 3

Để hoàn thành đề tài Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể

hiện quan hệ gia đình trong “Tục ngữ Mường Thanh Hóa”, tôi đã nhận

được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS TS Hoàng Trọng Canh Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy

Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáotrong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, Khoa đào tạo Sau Đại học - Trường Đạihọc Vinh

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới nhà nghiên cứu văn hóa dân gianCao Sơn Hải đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành đề tàiluận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình điền dã, khảo sát

đề tài này

Do thời gian có hạn và năng lực bản thân nên luận văn có những hạnchế nhất định Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo vànhững người quan tâm đến đề tài

Xin trân trọng cảm ơn !

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trần Thị Xuân

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài 9

1.1 Vấn đề tục ngữ 9

1.1.1 Các quan điểm về tục ngữ 9

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ và tục ngữ với ca dao 12

1.1.3 Vấn đề phát ngôn và phát ngôn tục ngữ 18

1.2 "Tục ngữ Mường Thanh Hóa" và bộ phận tục ngữ thể hiện quan hệ gia đình 19

1.2.1 "Tục ngữ Mường Thanh Hóa" 19

1.2.2 Bộ phận tục ngữ thể hiện quan hệ gia đình 23

1.3 Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 Cấu trúc của các phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong " Tục ngữ Mường Thanh Hóa" 28

2.1 Vấn đề cấu trúc của tục ngữ 28

2.1.1 Khái niệm cấu trúc 28

2.1.2 Cấu trúc của tục ngữ 28

2.2 Những cấu trúc cơ bản của các phát ngôn thể hiện mối quan hệ gia đình trong "Tục ngữ Mường Thanh Hóa" 30

2.2.1 Cấu trúc tương đồng 32

2.2.2 Cấu trúc đối lập 41

Trang 5

2.2.4 Cấu trúc kéo theo 55

2.2.5 So sánh khái quát những điểm tương đồng và khác biệt về cấu trúc của bộ phận tục ngữ thể hiện quan hệ gia đình trong tục ngữ Mường và tục ngữ Việt 59

2.3 Tiểu kết chương 2 61

Chương 3 Ngữ nghĩa của các phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong " Tục ngữ Mường Thanh Hóa" 63

3.1 Vấn đề ngữ nghĩa của tục ngữ 63

3.1.1 Khái niệm ngữ nghĩa 63

3.2.2 Ngữ nghĩa của tục ngữ 64

3.2 Ngữ nghĩa của những phát ngôn trong "Tục ngữ Mường Thanh Hóa" thể hiện các quan hệ chủ yếu về gia đình người Mường 65

3.2.1 Tục ngữ Mường thể hiện quan hệ cha mẹ - con cái 66

3.2.2 Tục ngữ Mường thể hiện quan hệ vợ - chồng 75

3.2.3 Tục ngữ Mường thể hiện quan hệ anh - chị - em 82

3.2.4 Tục ngữ Mường thể hiện quan hệ dâu rể - họ hàng 85

3.2.5 So sánh khái quát đặc điểm ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ thể hiện quan hệ gia đình trong tục ngữ Mường và tục ngữ Việt 92

3.2.6 Sắc thái văn hóa Mường thể hiện qua ngữ nghĩa bộ phận tục ngữ chỉ quan hệ gia đình 93

3.3 Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 99

Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả liên quan đến đề tài luận văn 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 2.1: Các quan hệ chính trong gia đình người Mường thể hiện qua

tục ngữ

Bảng 2.2: Các cấu trúc thể hiện quan hệ gia đình người Mường

Bảng 2.3: Các tiểu nhóm cấu trúc tương đồng

Bảng 2.4: Các tiểu nhóm cấu trúc đối lập

Bảng 2.5: Các tiểu nhóm cấu trúc so sánh

Bảng 2.6: Các tiểu nhóm cấu trúc kéo theo

Bảng 2.7: Các cấu trúc thể hiện quan hệ gia đình qua tục ngữ người ViệtBảng 3.1: Các mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái

Bảng 3.2: Các mối quan hệ giữa vợ và chồng

Bảng 3.3: Các mối quan hệ anh chị em

Bảng 3.4: Các mối quan hệ dâu rể, họ hàng

Bảng 3.5: Các quan hệ chính trong gia đình được thể hiện qua tục ngữ

người Việt

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

Trong luận văn, các ví dụ tục ngữ Mường được dẫn đều lấy từ cuốn

“Tục ngữ Mường Thanh Hóa”, Cao Sơn Hải, Nxb VHDT, 2002 Để đảm bảo

tính khoa học và tiện cho người đọc tra cứu, sau các câu tục ngữ Mường đượcdẫn, chúng tôi đều ghi xuất xứ - thứ tự câu tục ngữ đó và đề trong dấu ngoặcđơn, kèm theo lời dịch ra tiếng Việt của cùng tác giả cuốn sách trên

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tục ngữ là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong

đó có ngành ngôn ngữ học Tục ngữ gắn bó khăng khít với thực tại đời sống.Với mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh giao tiếp, mỗi người sử dụng, nghĩa của tụcngữ có thể biến đổi linh hoạt với những sắc thái riêng tạo nên tính đa nghĩacho tục ngữ Tục ngữ là những bài học kinh nghiệm quý báu nhưng lại đượcthể hiện dưới hình thức ngắn gọn, cân đối, có vần, nhịp, dễ nhớ, dễ sử dụng.Chính những điều đó tạo nên sức sống lâu bền cho tục ngữ Tục ngữ khôngchỉ là hiện tượng lời nói mà còn là ý thức xã hội Qua tục ngữ, ta có thể hiểuđược phần nào cách tư duy, vốn văn hoá và vốn ngôn ngữ của từng dân tộc

1.2 Tục ngữ là sản phẩm dân gian, đúc rút kinh nghiệm về mọi mặt

cuộc sống của từng dân tộc Do ngôn ngữ, môi trường sống, phong tục tậpquán, văn hóa khác nhau nên mỗi dân tộc trong cộng đồng người Việt Namlại có những vốn tục ngữ riêng Đối với tục ngữ người Việt (Kinh), đến nay

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng tục ngữ của các dân tộc thiểu sốnói chung và của dân tộc Mường nói riêng thì ít được quan tâm Điều này mộtphần do công tác sưu tầm biên soạn còn hạn chế Mặt khác, muốn hiểu đượctục ngữ thì người viết phải có vốn hiểu biết nhất định về ngôn ngữ cũng nhưvăn hoá truyền thống của dân tộc ấy Dân tộc Mường là dân tộc thiểu số, có

số dân đông thứ ba trong các cộng đồng người Việt sau dân tộc Tày, Thái.Theo số liệu điều tra ngày 01/04/2009 thì dân tộc Mường có 1.268.963 người,phân bố chủ yếu ở Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ, Thanh Hoá và một số huyệncủa tỉnh Ninh Bình, Lâm Đồng… Tiếng Mường không chỉ là công cụ giaotiếp mà còn là nơi lưu giữ và truyền tải văn hóa Mường Tiếng Việt và tiếng

Trang 8

Mường có chung một nguồn gốc, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, họNam Á Tiếng Mường ngày nay còn giữ được nhiều dấu vết của tiếng Việt cổ,

rõ nhất là ở phương diện ngữ âm và từ vựng Vì vậy, qua tiếng Mường ta cóthể làm sáng tỏ một số vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa của tiếng Việt

1.3 Ở Việt Nam, dân tộc Mường là dân tộc bản địa, có nền văn hoá lâu

đời với nhiều giá trị đặc sắc Vượt lên trên việc không có chữ viết riêng, dântộc Mường vẫn lưu giữ được kho tàng văn học dân gian đồ sộ, phong phú,trong đó tục ngữ giữ vị trí quan trọng Người Mường có đặc tính “bẩm sinh”thật thà, chất phác, giàu tình nghĩa Họ sống yêu thương, chan hoà, tôn trọnglẫn nhau và luôn có xu thế hướng tới các hoạt động chung của cộng đồng.Đặc điểm dễ nhận thấy ở người Mường là họ thường sống chung từ ba đếnbốn thế hệ trong một ngôi nhà sàn tạo nên những gia đình lớn Hơn nữa, giađình là nơi thể hiện rõ nhất quan hệ ứng xử văn hóa của một tộc người Vìvậy, mối quan hệ gia đình ở đây vô cùng phong phú, vừa có nét chung so vớicác dân tộc khác lại vừa giữ được những nét khác biệt Cũng chính vì thế mà

số lượng những phát ngôn tục ngữ thể hiện mối quan hệ gia đình là tương đốilớn, cấu trúc cũng đa dạng

Tục ngữ Mường là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thầncủa người dân Mường Tuy nhiên, tục ngữ Mường chưa được nghiên cứu

về mặt ngôn ngữ Cho nên chọn đề tài “Cấu trúc và ngữ nghĩa của những

phát ngôn thể hiện mối quan hệ gia đình trong Tục ngữ Mường Thanh Hoá” là việc cần thiết và có ý nghĩa Bộ phận tục ngữ này không chỉ thể

hiện được đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ Mường mà còn chothấy những sắc thái văn hóa gia đình của người Mường Qua đó, chúng tôimong muốn góp phần phát huy giá trị giáo dục của tục ngữ cũng như phục

vụ tốt hơn cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ

Tục ngữ ra đời từ rất sớm nhưng lại được sưu tầm và nghiên cứu khámuộn Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ điểm qua những tài liệu cơbản liên quan đến vấn đề mà mình đang tìm hiểu

- Về sưu tầm: Theo Trần Đức Các [9, tr.7], tục ngữ được sưu tầm từ thế

kỷ 17 nhưng thành quả không đáng kể Đến trước cách mạng tháng Tám năm

1945 chỉ có hai công trình đáng chú ý là “Tục ngữ lược giải” của Lê Văn Hoè

và “Tục ngữ phong giao” của Nguyễn Văn Ngọc Sau cách mạng, có cuốn

“Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan Đây là công trình có

quy mô và đầy đủ hơn cả Trong cuốn sách này, tác giả đã khái quát lịch sửnghiên cứu tục ngữ và đưa ra những nhận định, đánh giá về đặc trưng, chứcnăng của tục ngữ Tác giả cũng đã quan tâm đến nội dung phản ánh qua việcsắp xếp các câu tục ngữ theo nội dung chủ đề Về sau, nhiều tác giả sưu tập,

biên soạn riêng thể loại tục ngữ Đáng kể nhất là bộ “Kho tàng tục ngữ người

Việt” do Nguyễn Xuân Kính làm chủ biên, xuất bản năm 2002 Đây là công

trình bao quát nhất với số lượng 16098 câu

Sách sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ thế giới được dịch ra tiếng Việt

đáng chú ý là cuốn: “Từ điển tục ngữ thế giới” của tác giả Gerd De Ley nguyên

bản tiếng Anh do Lê Thành dịch Trong cuốn sách này, tác giả đã giới thiệuhàng nghìn câu tục ngữ của nhiều quốc gia và vùng lành thổ Tục ngữ ViệtNam cũng được giới thiệu 41 câu Trong công trình này, có những câu tục ngữgiữa các nước trùng khít nhau hoặc có những câu ý tương tự nhau Điều nàycàng chứng minh tục ngữ mang tính toàn cầu và có sự giao thoa quốc tế

- Về nghiên cứu: Trước tiên, chúng ta phải kể đến cuốn “Tục ngữ với

một số thể loại văn học” của Trần Đức Các Tác giả khái quát tình hình

nghiên cứu tục ngữ qua hai thời kỳ trước và sau cách mạng Ông đi sâu thể

Trang 10

hiện mối quan hệ giữa tục ngữ và một số thể loại văn học và coi “ tục ngữ làvốn tri thức thực tiễn về mọi mặt của cuộc sống mà nhân dân đã đúc kết trongmột hình thức ngắn gọn, linh hoạt, tiện cho việc diễn đạt cảm nghĩ của conngười và được xã hội chấp nhận” [9, tr.12].

Tiếp theo phải kể đến cuốn “Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp”

của Nguyễn Thái Hoà Với 259 trang chia làm 3 phần, tác giả lần lượt nghiêncứu: tục ngữ là gì, cấu trúc của tục ngữ và thi pháp của tục ngữ Đặc biệt ởphần 1, tác giả khái quát những vấn đề tục ngữ được nghiên cứu ở góc độ vănhọc và ngôn ngữ Tác giả cũng điểm lại những quan niệm về tục ngữ và đi

đến kết luận, xem tục ngữ là “những phát ngôn đặc biệt” [47, tr.26] Phần 2,

tác giả khái quát và phân loại các khuôn hình cơ bản của tục ngữ Phần 3, tácgiả trình bày một số đặc điểm cơ bản của thi pháp tục ngữ Đây là công trìnhquan trọng, là cơ sơ lý thuyết cho những người đi sau khi muốn tìm hiểu vềtục ngữ

Năm 1999, tác giả Phan Thị Đào giới thiệu cuốn “Tìm hiểu thi pháp tục

ngữ Việt Nam” gồm 4 chương Trong chuyên luận này, tác giả đi sâu nghiên

cứu về kết cấu, vần, nhịp cũng như cách tạo nghĩa và một số thủ pháp tạo nghĩacủa tục ngữ Tác giả đưa ra các dạng kết cấu của tục ngữ như: kết cấu lôgic; kếtcấu so sánh; kết cấu đối xứng và đưa ra cách hiểu về tục ngữ: “là một hiệntượng ý thức xã hội, phản ánh lối nói, lối nghĩ, lối sống của nhân dân trải quabao thời đại Nó là thể loại ra đời vào loại sớm nhất, có số lượng phong phúnhất và có sức sống lâu bền nhất trong folklore” [28, tr.23]

Năm 2005, tác giả Nguyễn Nhã Bản xuất bản cuốn “Đặc trưng cấu

trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ trong ca dao” Đây là công trình đầu

tiên nghiên cứu đầy đủ và công phu sức sống của thành ngữ, tục ngữ trong

môi trường ca dao (dựa trên tư liệu “Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong

kho tàng ca dao người Việt” của chính tác giả) Ở đây, tác giả đã trình bày

Trang 11

những vấn đề lý thuyết xung quanh thành ngữ, tục ngữ, ca dao và khảo sát sựhoạt động của thành ngữ trong ca dao, tục ngữ trong ca dao Tác giả cũng chỉ

ra những đặc điểm về cấu trúc ngữ nghĩa của mỗi đơn vị này

Năm 2006, tác giả Đỗ Thị Kim Liên xuất bản cuốn “Tục ngữ Việt Nam

dưới góc nhìn ngữ nghĩa ngữ dụng” Ở phần đầu, tác giả hệ thống rất chi tiết,

gần như toàn bộ bức tranh nghiên cứu về tục ngữ trên nhiều phương diện Tácgiả cũng tìm hiểu ngữ nghĩa của tục ngữ qua: quan hệ lập luận; quan hệ sosánh; quan hệ đối ứng; quan hệ sóng đôi Đặc biệt, tác giả có dẫn dụ so sánhgiữa tục ngữ Anh và tục ngữ Việt để thấy được sự đồng nhất và khác biệttrong ngôn ngữ, văn hoá cũng như cách tư duy giữa hai dân tộc này

Bên cạnh đó còn có hàng loạt luận án, luận văn, khoá luận nghiên cứu

về tục ngữ Tác giả Nguyễn Việt Hương (2001) qua luận án “Tục ngữ Việt

Nam - bản chất thể loại qua hệ thống phân loại” đã nhấn mạnh: tục ngữ là

hiện tượng phức tạp về bản chất, vừa là hiện tượng của tư duy, vừa là hiệntượng của lời nói

Tác giả Nguyễn Quý Thành (luận án, 2002) lại tìm hiểu “Cấu trúc cú

pháp ngữ nghĩa của tục ngữ Việt” Tác giả chỉ ra một số kiểu cấu trúc thường

gặp trong tục ngữ Việt

Tác giả Phạm Hồng Việt (luận văn, 1995) đi sâu vào “Triết lý ứng xử

dân gian qua tục ngữ Việt Nam” Tác giả cũng khái quát lịch sử nghiên cứu

tục ngữ Việt Nam theo bốn nhóm: theo góc độ ngôn ngữ; thi pháp; văn học vàlịch sử, xã hội, dân tộc học

Tác giả Mai Thị Hồng Hà (luận văn, 2008) tìm hiểu “Cấu trúc và ngữ

nghĩa của các phát ngôn tục ngữ về mối quan hệ trong gia đình người Việt”.

Dưới sự hướng dẫn của GS TS Đỗ Thị Kim Liên, tác giả đã lần lượt tìm hiểucác dạng cấu trúc, các mối quan hệ gia đình thể hiện qua tục ngữ người Việt.Đây cũng là tài liệu quý làm cơ sở cho chúng tôi khi so sánh với tục ngữ dântộc Mường

Trang 12

Ngoài ra còn có nhiều bài báo tìm hiểu về tục ngữ đăng trên các tạp chí

như: Đạo lý trong tục ngữ (Nguyễn Dức Dân); Bác Hồ với nguồn tục ngữ dân

tộc (Hà Châu); Màu sắc dân tộc trong tục ngữ (Nhị Hà)… Nhìn chung, các

công trình đều đề cập đến vấn đề cấu trúc, ngữ nghĩa, thi pháp của tục ngữ,tuy mức độ đậm nhạt ở từng công trình có khác nhau

2.2 Về sưu tầm, nghiên cứu tục ngữ, ngôn ngữ, văn hóa Mường

Vấn đề tục ngữ, ngôn ngữ, văn hóa Mường cũng được nhiều tác giả

quan tâm Năm 1995, kỷ yếu "Văn hóa dân tộc Mường" được xuất bản với các bài nghiên cứu đáng chú ý như: Ngôn ngữ và chữ viết của người Mường (Hoàng Văn Hành); Những giá trị truyền thống và đổi mới trong nếp sống

của người Mường (Nông Quốc Chấn); Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa

và việc xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Mường (Vương Anh ) Về

văn học và ngôn ngữ Mường cũng được nhiều người tìm hiểu Tác giả Bùi

Văn Thành quan tâm đến "Thế giới biểu tượng thần thoại trong mo Mường" Tác giả Đinh Đức Giang tìm hiểu "Hình tượng người phụ nữ Mường trong

truyện thơ về đề tài tình yêu" Tác giả Mai Thị Hồng Hải viết về " Dân ca xường của người Mường Thanh Hóa - tiếp cận từ góc độ văn học dân gian".

Tác giả Lê Thị Hương " Khảo sát từ ngữ trong sử thi Đẻ đất đẻ nước"

Qua việc khảo sát trên và trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình,chúng tôi có thể nói: chưa có đề tài nào tìm hiểu về cấu trúc và ngữ nghĩa

của các phát ngôn thể hiện mối quan hệ gia đình trong “ Tục ngữ Mường

Thanh Hóa”.

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện luận văn trên cơ sở khảo sát tài liệu "Tục ngữ

Mường Thanh Hóa", Nxb VHTT, 2002 Đây là công trình nghiên cứu cấp bộ

Trang 13

về văn hóa dân gian được chính phủ tài trợ của tác giả Cao Sơn Hải Qua tổng

số 1506 câu tục ngữ, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, nghiên cứu những câuthể hiện quan hệ gia đình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sẽ tìm hiểu những vấn đề sau:

- Giới thuyết các quan điểm về tục ngữ, tục ngữ Mường, phân biệt tụcngữ với thành ngữ và tục ngữ với ca dao; giới thiệu khái quát tục ngữ Mường

và bộ phận tục ngữ thể hiện quan hệ gia đình

- Chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các phát ngôn thể hiện mối quan

hệ gia đình trong "Tục ngữ Mường Thanh Hóa".

- Chỉ ra những đặc điểm ngữ nghĩa và sắc thái văn hóa gia đình người

Mường thể hiện qua các phát ngôn thể hiện mối quan hệ gia đình trong "Tục

ngữ Mường Thanh Hóa".

4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại:

Qua việc khảo sát 1506 câu tục ngữ Mường, chúng tôi lựa chọn thống kênhững câu phản ánh quan hệ gia đình và phân theo từng nhóm cấu trúc cụ thể.Phương pháp này là cơ sở để tiến hành thực hiện các phương pháp tiếp theo

- Phương pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp.:

Sau khi khảo sát, phân loại chúng tôi tiến hành phân tích, miêu tả đặcđiểm của từng cấu trúc và từng nội dung ngữ nghĩa Trên cơ sở đó, chúng tôirút ra những đặc trưng cơ bản và nhận xét, đánh giá chung số liệu thu được vềtừng mối quan hệ và từng cấu trúc

- Phương pháp so sánh:

Chúng tôi so sánh các số liệu thu được về từng mối quan hệ và từngcấu trúc của tục ngữ Mường trong tương quan so sánh với tục ngữ của cácdân tộc Việt để thấy được điểm giống và khác nhau giữa chúng

Trang 14

- Phương pháp điền dã, quan sát, tham dự, phỏng vấn:

Ý nghĩa tục ngữ không chỉ tồn tại trên văn bản mà còn có đời sống sinhđộng trong lời nói Vì vậy, kết hợp với việc khảo sát trên văn bản, chúng tôi tiếnhành điền dã, quan sát, tham dự, phỏng vấn để tìm đến cách hiểu đầy đủ nhất,đúng đắn và linh hoạt nhất của từng câu tục ngữ

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

Vì tục ngữ là thể loại đặc biệt nên người viết sử dụng kiến thức củanhiều ngành khoa học có liên quan như: văn học, lịch sử học, văn hóa học,dân tộc học

5 Đóng góp của luận văn

Nếu thực hiện thành công đề tài này, chúng ta có thể xem đây là luậnvăn đầu tiên tìm hiểu về cấu trúc và ngữ nghĩa của các phát ngôn thể hiện

quan hệ gia đình trong " Tục ngữ Mường Thanh Hóa" Qua luận văn, chúng ta

có thể hiểu thêm về cách tư duy, cách nói cũng như vốn ngôn ngữ của dân tộcMường Từ đó, chúng ta thêm yêu quý, trân trọng và giữ gìn tục ngữ của cácdân tộc thiểu số nói riêng cũng như tiếng nói của dân tộc Việt Nam nói chung

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài Chương 2 Cấu trúc của các phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình

trong " Tục ngữ Mường Thanh Hóa"

Chương 3 Ngữ nghĩa của các phát ngôn thể hiện quan hệ gia

đình trong " Tục ngữ Mường Thanh Hóa"

Trang 15

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Vấn đề tục ngữ

1.1.1 Các quan điểm về tục ngữ

Dưới góc độ văn học, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian Dạngtồn tại tự nhiên của nó thường là những câu ngắn gọn, đã được cô đúc, gọtdũa, có vần, nhịp Đó là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm củanhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội Tụcngữ được ước đoán đã xuất hiện cách đây từ rất lâu, nhằm đúc kết những điềuquan sát được trong quá trình lao động, những chân lý thông thường Trong

xã hội có giai cấp, tục ngữ được nhân dân dùng như một công cụ để phát biểunhững nhận thức về các kinh nghiệm thực tiễn, các hiện tượng lịch sử, xã hội.Nhân dân lao động dùng tục ngữ thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan củamình Tục ngữ xuất hiện trong lời nói hàng ngày của nhân dân, trong lao độngsản xuất hoặc trong sinh hoạt gia đình Tục ngữ được hình thành từ cuộc sốngthực tiễn, do nhân dân trực tiếp sáng tác

Có thể ban đầu chỉ là những câu xuôi tai nhưng qua lưu truyền, sử dụngnhững tổ hợp đó được chỉnh sửa trở thành tục ngữ nên dễ nhớ, dễ thuộc Thực

tế cho thấy, tục ngữ là loại phát ngôn đặc biệt, không ngừng được tái hiện vàtái sinh trong lời nói Về bản chất, tục ngữ là thể loại tồn tại sống động, luônphát triển như chính cuộc sống Trong mỗi hoàn cảnh sử dụng, nó lại chịu ảnhhưởng bởi vốn hiểu biết, ngôn từ, cách diễn đạt của người nói "Mỗi câu tụcngữ đúng lúc, đúng chỗ thì cả người nói, người nghe đều thú vị như có thêmmột phát hiện mới mẻ, phát hiện về cuộc sống, về chính mình và về ngônngữ" [23, tr.7 ] Qua tục ngữ ta hiểu được thái độ, dụng ý mà người nói muốn

Trang 16

thể hiện Điều này cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa tục ngữ và lời nói.Muốn hiểu tục ngữ phải dựa vào hoàn cảnh sử dụng

Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian" Tríkhôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn

từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu Như một phương tiệnngôn ngữ, tục ngữ thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt,giao tiếp cộng đồng và xã hội Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó

chặt chẽ Một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục

ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành nhữngphương châm, chân lý qua các biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ

Trong cuốn “Từ điển tục ngữ thế giới ”, tác giả Gerd De Ley gọi tục ngữ là “trí tuệ và kinh nghiệm” mà mỗi dân tộc tích lũy được trong suốt cuộc

hành trình gian lao của sự ra đời, tồn tại và phát triển Với tính minh triếtđược ví như trí khôn loài người của mình, tục ngữ có khả năng lan rộng đếnmọi quốc gia, không chịu sự chi phối bởi rào cản ngôn ngữ, lãnh thổ hay tín

ngưỡng, phong tục tập quán Tục ngữ Nga có câu: “Tục ngữ là sự khôn ngoan

của dân tộc” Tục ngữ Arabia lại nói: “Tục ngữ là ngọn đèn của lời nói” [58,

tr.9] Tục ngữ Đức kết luận: “Người ta có thể đánh giá một quốc gia qua

phẩm tính tục ngữ của quốc gia đó” [58, tr.11]

Tục ngữ giữa các dân tộc trên thế giới cũng có những điểm chung.Cùng biểu đạt một ý nghĩa, cùng một quan hệ lôgic nhưng mỗi dân tộc lại cócách diễn đạt khác nhau Chẳng hạn, để biểu đạt nhận xét khái quát là tinh

thần lạc quan có lợi cho sức khoẻ, nếu tục ngữ Việt nói: “Một nụ cười bằng

mười thang thuốc bổ”, tục ngữ Trung Hoa cho là: “Cười một cái, trẻ mười năm” thì tục ngữ Anh cũng nói: “Nụ cười là liều thuốc tốt nhất”.

Khi nghiên cứu về tục ngữ, không chỉ các nhà nghiên cứu văn học màcác nhà ngôn ngữ đều muốn tìm một định nghĩa đầy đủ và chính xác Chỉ quaviệc khảo sát những cuốn từ điển lớn, chúng ta đã thấy được điều này

Trang 17

Theo "Từ điển Tiếng Việt": "Tục ngữ là những câu ngắn gọn, thường có

vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhândân" [69, tr.1043 ]

Theo "Từ điển văn học": Tục ngữ là "những câu nói ngắn gọn, có nhịp

điệu, có hình thức bền vững, được dùng trong lời nói hàng ngày Nội dungtục ngữ là những nhận xét, phán đoán, kết luận về hiện tượng tự nhiên, xã hội

và đời sống con người" [90, tr.1879]

Theo "Từ điển thuật ngữ văn học": Tục ngữ là "một thể loại văn học

dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hìnhthức những câu ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ truyền, dễnhớ" [44, tr.258 ]

Theo "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học": Tục ngữ là "câu

ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức,tri thức của một dân tộc" [83, tr.329 ]

Về cách gọi tục ngữ, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số tên gọi

khác nhau như: "câu - thông điệp nghệ thuật" (Hoàng Văn Hành); "một tổng

thể thi ca nhỏ nhất" (R.Jacobson); "cấu trúc mang tính thơ của ngôn từ"

(Hoàng Trinh); "những phát ngôn làm sẵn" (J.Lyons); "lời nói mang tính chất

thơ" (R.V.Vinogradov)

Trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp”, Nguyễn Thái

Hoà dành gần như toàn bộ chương 1 của phần 1 để khái quát các cách hiểu về

tục ngữ ở góc độ văn học, góc độ ngôn ngữ và khẳng định tục ngữ là " những

phát ngôn đặc biệt" Sở dĩ có những cách hiểu chưa thống nhất như vậy là do

các tác giả đứng trên những tiêu chí khác nhau khi định nghĩa Trong luận vănnày, chúng tôi không có ý định đi tìm một định nghĩa mới về tục ngữ mà chỉmuốn, thông qua việc tham khảo trên để có cách hiểu đúng đắn, chính xác vềcấu trúc, ngữ nghĩa tục ngữ nói chung Từ đó, có cơ sở để tìm hiểu cấu trúc

Trang 18

cũng như ngữ nghĩa của tục ngữ Mường Cụ thể, để có cơ sở khảo sát, chúng

tôi dựa vào quan điểm của tác giả Nguyễn Thái Hòa, coi tục ngữ là “những

phát ngôn đặc biệt”.

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ và tục ngữ với ca dao

1.1.2.1 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Việc phân biệt tục ngữ với thành ngữ đã được rất nhiều nhà nghiên cứuthực hiện Hầu hết các công trình nghiên cứu, các luận văn, khóa luận làm vềtục ngữ đều có phần này Tục ngữ và thành ngữ đều là những sản phẩm nhậnthức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan, đềuchứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân Có thể hiểu, tục ngữ tự thân nóphải là một câu, thể hiện phán đoán, có ý nghĩa trọn vẹn và có chức năngthông báo Còn thành ngữ thì ngược lại, chỉ là cụm từ cố định, có chức năngđịnh danh hoặc thể hiện khái niệm

Để thấy rõ sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, trước tiên chúng ta

tìm hiểu về thành ngữ Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”,

thành ngữ là: “Cụm từ hay ngữ cố định, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạothành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung, khác tổng số ý nghĩa của cácthành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từriêng biệt ở trong câu” [83, tr.271] Tiếng Việt có nhiều thành ngữ Trong khinói và viết, người Việt chúng ta hay dùng thành ngữ

Dương Quảng Hàm là người đầu tiên phân biệt hai khái niệm này Theoông, "một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn,hoặc chỉ bảo một điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng

mà diễn đạt một ý gì cho có màu mè"

Trong cuốn “Thành ngữ học tiếng Việt”, GS Hoàng Văn Hành cũng

coi “thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc,hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng

Trang 19

ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [38, tr.27] Có thể thấy, tác giả nhấn mạnhhai đặc trưng nổi bật của thành ngữ Thứ nhất là tính ổn định, cố định vềthành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ Thứ hai là tính hoàn chỉnh,bóng bẩy về ý nghĩa

Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói của nhân dân ta.Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất làphân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khánhiều người Thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thểchuyển hóa cho nhau song về bản chất là khác nhau Muốn phân biệt đượcđâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học

Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống,kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân dân Thành ngữ lại mang tính biểutrưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ

hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ Chẳng hạn các câu: "Hữu danh vô thực Hồng

nhan bạc phận" Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ

với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân

dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói.

Một điểm đáng chú ý nữa là, tục ngữ thường dùng độc lập, vì nó là một

câu và diễn đạt một ý trọn vẹn Chẳng hạn, người ta thường nhắc nhau: “Lời

nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Tục ngữ thường

mang nội dung nhận xét quan hệ xã hội, truyền đạt kinh nghiệm sống, là bàihọc luân lý hay phê phán sự việc Do đó, một câu tục ngữ có thể được coi làmột tác phẩm văn học hoàn chỉnh Còn thành ngữ mới chỉ là một cụm từ, mộtthành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh nên người ta thường dùng

xen trong câu nói Chẳng hạn: "Chúng ta không nên giận cá chém thớt".

Tác giả Nguyễn Văn Mệnh trong bài “Về việc xác định ranh giới giữa

thành ngữ và tục ngữ” đưa ra hai tiêu chí nội dung và hình thức để phân biệt

Trang 20

thành ngữ và tục ngữ Về nội dung: nội dung của thành ngữ mang tính hiệntượng, còn nội dung của tục ngữ mang tính quy luật Về hình thức: mỗi thànhngữ chỉ là cụm từ, chưa phải là câu hoàn chỉnh, còn tục ngữ tối thiểu phải làmột câu [64, tr.18]

Trong "Góp ý kiến về việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ", tác giả Cù

Đình Tú cho rằng, sự khác nhau cơ bản giữa tục ngữ và thành ngữ là sự khácnhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng địnhdanh còn tục ngữ có chức năng khác hẳn, đảm nhiệm thông báo một nhậnđịnh, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Dovậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ýtưởng (tạp chí Ngôn ngữ số1, 1973)

Tác giả Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”

cũng nhận xét: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét,một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ chỉ

là một phần câu sẵn có, một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng,nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” [67, tr.30]

Trong cuốn “Thành ngữ học tiếng Việt”, GS Hoàng Văn Hành cho

rằng, thành ngữ và tục ngữ khác nhau ở chỗ “thành ngữ là những tổ hợp từđặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là nhữngcâu, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [38, tr.31]

Trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa ngữ dụng”,

GS Đỗ Thị Kim Liên đã phân biệt hai khái niệm này dựa trên các tiêu chí:tiêu chí hình thức; tiêu chí cấu trúc; tiêu chí chức năng; tiêu chí ngữ nghĩa;tiêu chí đích tác động

Trong "Thử tìm một giải pháp giản dị để nhận diện tục ngữ" (đăng trên

báo Lao động cuối tuần số 24 và 25/2007), tác giả Nguyễn Đức Dương đã đưa

ra cách căn cứ vào cấu trúc đề - thuyết để xác định câu, từ đó nhận diện tục

Trang 21

ngữ là câu còn thành ngữ chưa phải là câu Tác giả đưa ra và phân tích minhhọa bằng nhiều ví dụ.

Mới đây, trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 9, 2009, tác giả Nguyễn

Thị Trung Thành có bài "Cái khó trong việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ".

Tác giả chỉ ra những điểm giống nhau khó phân biệt giữa thành ngữ và tụcngữ Tác giả cũng đưa ra ví dụ về những câu trong trường hợp này là tục ngữ,trường hợp khác lại là thành ngữ và đi đến kết luận: "chỉ có thể căn cứ vàongữ cảnh mới xác định được" [72, tr.9]

Trong cuốn “Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ

trong ca dao”, tác giả Nguyễn Nhã Bản cũng trao đổi: "Có một thực tế khác

cũng cần nêu ra, lâu nay các soạn giả "Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam"

giải thích gộp chung thành ngữ, tục ngữ theo thứ tự alphabet chứ không chúthích rõ đâu là thành ngữ, tục ngữ" Và tác giả cũng đưa ra câu hỏi "đây là sự

"khôn khéo" hay sự "lúng túng" của các soạn giả" [5, tr.38 ].

Qua những quan điểm trên, ta thấy được cái khó của vấn đề Theochúng tôi, về lý thuyết, trên bình diện nghiên cứu, đứng ở góc độ hệ thốngngôn ngữ, cần thiết phải phân biệt hai đơn vị thành ngữ và tục ngữ Song, vềmặt thực tiễn sử dụng, nhất là khi xét ngữ nghĩa của các đơn vị, không thực sựcần thiết khẳng định câu này là thành ngữ hay tục ngữ mà phải gắn với môitrường ứng dụng Nên tiếp cận tục ngữ từ bình diện ngữ dụng học, bởi tụcngữ (cũng như thành ngữ) là một hiện tượng đặc biệt xét từ tính ứng dụng Cóthể trên văn bản, cùng một câu cho ta nhiều cách hiểu khác nhau nhưng xéttrong môi trường lưu truyền và tồn tại đích thực thì với mỗi lần sử dụng, phátngôn chỉ được hiểu theo một nghĩa, tức là nghĩa đang được ứng dụng theomục đích phát ngôn Bên cạnh đó, chúng ta không nên bị phụ thuộc nhiều vềhình thức phát ngôn mà phải căn cứ vào nội hàm ngữ nghĩa Trong thực tế, sốlượng các đơn vị mang tính “lưỡng khả” làm cho người nhận diện băn khoăn

Trang 22

là thành ngữ hay tục ngữ cũng không nhiều Vì vậy, nếu gặp những đơn vịgây tranh cãi thì chúng ta nên kết hợp sử dụng nhiều tiêu chí và nên đặt trongtừng hoàn cảnh sử dụng mới có thể xác định được chính xác.

1.1.2.2 Phân biệt tục ngữ với ca dao

Để thấy rõ sự khác nhau giữa tục ngữ và ca dao, trước tiên chúng ta tìm

hiểu về ca dao Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, ca dao là: “danh từ ghép

chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không cókhúc điệu” [44, tr.31] Đó là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên, thườngdiễn tả ý nghĩ, tình cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng bình dân Trước đây,người ta còn gọi ca dao là phong dao Hình thức tồn tại của ca dao phổ biếnnhất là thể lục bát

Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữtình Người lao động biểu hiện tình yêu trong ca dao qua nhiều mặt: tình yêutrai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất được, yêu lao động,yêu thiên nhiên Ca dao còn là một biểu hiện tư tưởng đấu tranh trong cuộcsống xã hội, trong quan hệ với thiên nhiên Chính vì thế, ca dao còn phản ánhđời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người Đặc điểm của ca dao làvần vừa sát, lại vừa thanh thoát, không gò ép, giản dị và tươi tắn Chúng giản

dị như lời nói thường, nhẹ nhàng, gọn gàng, song không kém phần sâu sắc

Ca dao và tục ngữ là sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam Đó đều lànhững câu nói do người đời truyền lại trong nhân gian, là những bài học vềkinh nghiệm sống, kinh nghiệm tìm hiểu các hiện tượng tự nhiên và xã hội

Ca dao là thơ dân gian còn tục ngữ là lời nói có vần vè Như vậy, ca dao làsản phẩm mang tính nghệ thuật còn tục ngữ là lời nói đặc biệt mang tínhthông tin

Việc phân biệt tục ngữ với ca dao cũng có những điểm cần lưu ý Đôikhi, tục ngữ lại khoác áo lục bát vốn là hình thức tồn tại của ca dao Chúng là

Trang 23

hai đơn vị khác nhau nhưng trong một vài trường hợp lại có sự xâm nhập lẫnnhau Về độ lớn, ca dao có thể chứa đựng tục ngữ Có khi nội dung tục ngữđược thể hiện bằng hình thức ca dao Ví dụ như:

Tục ngữ: Có công mài sắt có ngày nên kim.

Ca dao: Ai ơi chẳng chóng thì chầy

Có công mài sắt có ngày nên kim.

Các công trình sưu tập trước đây thường gộp chung dưới tên gọi "tục

ngữ phong dao", "tục ngữ ca dao" Vấn đề này cũng được nhiều nhà nghiên

cứu đề cập tới Tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên trong cuốn "Lịch

sử văn học Việt Nam" quan niệm: tục ngữ thiên về lý trí, còn ca dao thiên về

tình cảm Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong cuốn "Tục ngữ Việt Nam cấu trúc

và thi pháp” lại cho rằng: "Tục ngữ hình thành trong lời thoại hàng ngày,

trong tình huống giao tiếp cụ thể, nhằm mục đích giao tiếp Ca dao lạithuộc một loại khác, đó là giao tiếp nghệ thuật Ca dao là những văn bảnnghệ thuật thực sự" [47, tr.46]

Theo định nghĩa, ca dao khác tục ngữ ở chỗ ca dao có thể hát lên được(tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát) Trong ca dao, vần điệu rõ rệt và âm hưởng

êm ái hơn Nói chung, câu ca dao dài hơn câu tục ngữ, và thường có nhiềucâu hợp lại thành bài Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xétthuộc phạm vi lý trí trong khi ca dao là tiếng nói của tình cảm Tuy nhiên, sựphân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca dao cũngthuộc phạm vi lý trí Vì vậy, để phân biệt hai khái niệm này, ta có thể dựa vàocác tiêu chí sau:

Tiêu chí số lượng: tục ngữ có số lượng tiếng ít, có thể chỉ ba tiếng

"Tham thì thâm", còn ca dao ít nhất là phải hai dòng trở lên;

Tiêu chí nội dung: tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm; Tiêu chí môi trường sử dụng: tục ngữ gắn với hoàn cảnh giao tiếp hàngngày, còn ca dao thường gắn với môi trường diễn xướng

Trang 24

Chúng ta có thể thấy, tuy thành ngữ, tục ngữ, ca dao là những kháiniệm khác nhau song giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, có thể có những sựchuyển hóa cho nhau rất linh hoạt và thú vị

1.1.3 Vấn đề phát ngôn và phát ngôn tục ngữ

Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, phát ngôn là “đơn

vị thông báo có tính chất hoàn chỉnh về ý và có thể được người nghe tiếpnhận trong những điều kiện nhất định của giao tiếp ngôn ngữ Một phát ngôn

là một ngữ đoạn, tương ứng với một xung động nào đấy Do đó, khối lượngphát ngôn có thể rất khác nhau Đôi khi phát ngôn chỉ gồm một từ, nhưng nócũng có thể là một cuốn tiểu thuyết, hay một luận án khoa học Tính trọn vẹncủa phát ngôn đạt được không phải chỉ nhờ các kí hiệu ngôn ngữ, mà còn nhờ

sự kết hợp của các kí hiệu ngôn ngữ với những kí hiệu khác có tính chất phingôn ngữ" [83, tr.199] Có thể hiểu, phát ngôn chính là biểu hiện của câutrong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, gắn với ngữ cảnh

Trong "Ngữ nghĩa lời hội thoại", Nxb GD, 1999, tác giả Đỗ Thị Kim

Liên nhận định: "phát ngôn là đơn vị của lời nói, nó được tách ra từ trongchuỗi lời nói dùng để giao tiếp hàng ngày hoặc được tách ra từ trong vănbản "

Về mối quan hệ giữa câu và phát ngôn, trong bài "Ngữ nghĩa học hệ

thống và ngữ nghĩa học hoạt động" ("Ngôn ngữ" 1, tr.12), GS Đỗ Hữu Châu

viết: "Khái niệm phát ngôn không phủ định khái niệm câu Nói chung phátngôn được xây dựng trên câu Không có câu thì không có phát ngôn Tuynhiên câu không trùng với phát ngôn Một câu có thể ứng với một số phátngôn" Cũng trong bài viết này, tác giả khẳng định không phải bao giờ phátngôn cũng là sự thông báo mà đôi khi chỉ là sự bộc lộ tâm trạng, trạng thái

sinh lý như: đau quá, chao ôi

Trong bài "Phát ngôn trong tiếng Việt" ("Ngôn ngữ" 4, tr.63) tác giả

Trương Đông San bày tỏ: "nhằm mục đích nghiên cứu hoạt động ngôn ngữ và

Trang 25

sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp, chúng tôi hiểu phát ngôn làđơn vị giao tiếp tối thiểu gồm một đoạn âm thanh hay chữ viết nhất định,trong một tình huống nhất định, đủ để thông tin về một cái gì đó".

Trong cuốn "Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp", tác giả Nguyễn Thái Hoà lý giải: "sở dĩ gọi là những phát ngôn đặc biệt vì tục ngữ được cấu

tạo từ những phát ngôn bình thường nhưng từ bình diện từ, cú pháp đến ngữnghĩa bề mặt và ngữ nghĩa bề sâu làm thành một chỉnh thể "[47, tr.49]

Trên tạp chí Ngôn ngữ, số 4, 1980, tác giả Hoàng Văn Hành có bài:

"Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học" Ông quan niệm, tục ngữ là câu

- thông điệp nghệ thuật Tục ngữ là câu nhưng là câu đặc biệt khác với câu

thông thường ở tư cách là thông điệp nghệ thuật Tục ngữ là thông điệp nghệthuật nhưng khác các thông điệp nghệ thuật khác ở chỗ hình thức của nó chỉ

là một câu Đây là đóng góp lớn trong việc nghiên cứu bản chất tục ngữ

Mỗi tục ngữ là một thông báo hoàn chỉnh nhưng lại được vận dụng nhưmột phần của lời nói mang tính nghệ thuật nên nó được xem là phát ngôn đặcbiệt Mặt khác, đời sống của tục ngữ cũng gắn liền và phát triển cùng sự pháttriển ngôn ngữ của một quốc gia, một dân tộc Hơn nữa, tục ngữ là đơn vị củalời nói nhưng lại tồn tại trong kí ức cộng đồng như một đơn vị ngôn ngữ Đó

là những ngữ liệu tương đối ổn định, được mọi người vận dụng trong từngđiều kiện nhất định Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách dùng

là "phát ngôn tục ngữ" vì muốn nhấn mạnh tục ngữ như một đơn vị lời nói,

một phương tiện giao tiếp

1.2 " Tục ngữ Mường Thanh Hóa" và bộ phận tục ngữ thể hiện quan hệ gia

đình

1.2.1 " Tục ngữ Mường Thanh Hóa"

"Tục ngữ Mường Thanh Hóa" bao gồm 1506 câu được tác giả Cao Sơn

Hải sắp xếp theo vần alphabet ghi âm tiếng Mường và có dịch ra tiếng Việt

Trang 26

Về nội dung: Cũng như tục ngữ của các dân tộc khác, "Tục ngữ Mường

Thanh Hóa" là kinh nghiệm ứng xử với tự nhiên và cộng đồng, là phong tục

tập quán của bản mường

Tục ngữ Mường nói về nhận biết thời tiết:

Do người Mường sống tập trung ở vùng trung du miền núi nên đờisống gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc vào thiên nhiên Các hoạt động nhưtrồng trọt, chăn nuôi, săn bắn đều chịu tác động trực tiếp từ thời tiết Vì

lẽ đó mà tục ngữ Mường ghi lại cách nhận biết nắng, mưa, lũ lụt Nhìntrăng người ta biết:

"Quầng dù thời hạn, quầng tán thời mưa"

Nhìn mặt trời họ hay:

"Ráng bông bầu trời lụt, ráng bông cụt trời hạn"

Tục ngữ Mường nói về kinh nghiệm sản xuất:

Cũng như các dân tộc khác ở Việt Nam, người Mường cũng quan tâmđến trồng lúa và chăn nuôi Họ rất cẩn thận trong việc chọn giống và chọnthời điểm canh tác

"Trên rẫy lúa xể, lúa mòng, dưới ruộng lúa vong, lúa gié"

"Nở bông ve thì cấy, nở bông cơm xôi thì đừng"

"Mua lợn giống phải xem bầu sữa"

Tục ngữ Mường nói về văn hoá ứng xử:

Chủ yếu tục ngữ Mường thể hiện quan hệ ứng xử giữa các thành viêntrong cùng gia đình, họ tộc và đề cao tình cảm láng giềng

"Anh em xa không bằng ba nhà chung rộc"

Người Mường rất hiếu khách Họ còn để tang cho cả những người ăn mày xấu

số không may lưu lạc đến bản mường

"Để tang bố mẹ mười hai tháng Để tang người làng ba mươi ngày Để tang cho người ăn mày một buổi"

Trang 27

Tục ngữ Mường có một bộ phận phản ánh thái độ của nhân dân với chế

độ lang đạo, hầu hết là sự phản kháng Và khác với tục ngữ Việt, tục ngữMường rất hiếm câu nói về nhân tình thế thái hoặc kinh tế hàng hoá, buônbán, lễ hội Điều này có thể hiểu được vì đời sống Mường xưa hầu như làkhép kín trong bản, tự cung tự cấp và họ luôn tâm niệm một điều rằng:

"Mường có lang, làng có đạo"

Về nội dung, chúng ta thấy tục ngữ Mường cũng rất gần gũi với tụcngữ người Việt Có những câu giống hệt nhau như:

Của đán ôông, côông đán mú

(Của chồng, công vợ)

Giấu biành ló, khò biành con

(Giàu bán lúa, khó bán con)

Non cấy cha, rá cấy con

(Trẻ cậy cha, già cậy con)

Sự giống nhau này có thể do nhiều nguyên nhân Có thể do người sưutầm bị ảnh hưởng văn hóa của cả hai dân tộc nên những câu tương tự nhau tácgiả dịch như vậy Cũng có thể vợ người Kinh, chồng người Mường hoặcngược lại, đến đời con cháu có sự giao thoa văn hoá giữa hai dân tộc Nhưng

có lẽ điều kiện cư trú, sinh sống gần nhau, trước đây người Việt và ngườiMường lại nói cùng một thứ tiếng nên tư duy và tục ngữ của hai dân tộc cũng

có nét giống nhau và có những câu tục ngữ trùng khít nhau như vậy

Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Kinh và người Mường có cùngmột nguồn gốc Theo họ trước kia, người Kinh thì ở đồng bằng, bị ngoại xâmliên miên nên đã bị đồng hoá nhiều, còn Mường thì tránh né vào các thung lũngnên vẫn bảo tồn được văn hoá nguyên sơ của mình Một số nhà dân tộc họcđưa ra giả thuyết, người Mường về mặt sắc tộc chính là người Kinh nhưng vì

cư trú ở miền núi nên họ ít chịu ảnh hưởng của người Trung Quốc

Trang 28

Tục ngữ Mường đến nay vẫn còn giá trị, đó vẫn là những lời khuyên,nhận xét chí tình chí lý.

Về tinh thần đoàn kết:

Một người đàn ông không làm nổi nhà, một người đàn bà không dựng nổi khung dệt

Về công ơn cha mẹ:

Ăn cá mới biết cá có xương, nuôi con mới biết thương bố mẹ

Về tình cảm anh em:

Làm em thì dễ, làm anh thì khó

Về cách ứng xử với người lớn tuổi:

Nói dối người già, mọc nhọt ở mắt

Về lòng hiếu khách:

Khách đến nhà không gà cũng lợn

Về nghệ thuật: Ngoài những nét mang tính thể loại của tục ngữ nóichung như: tính hàm súc về nội dung, cấu trúc, vần, nhịp hài hòa cân đối,

"Tục ngữ Mường Thanh Hóa" còn có những nét riêng Đó là xu hướng kéo

dài câu Cũng có những câu có số lượng bốn, năm tiếng nhưng phổ biến lànhững câu có số lượng trên mười tiếng, thậm chí là 18; 19; 20 tiếng Chỉ xétnhững câu tục ngữ thể hiện quan hệ gia đình, qua khảo sát chúng tôi thu được

tỉ lệ giữa cấu có bốn, năm tiếng so với những câu từ mười tiếng trở lên là23/145

Con nhá giấu cớ trày cau bấu ý ngò, con nhá đòi nhá khò cớ trày rò

Trang 29

(Có vợ có chồng như bát nước có tăm, không vợ, không chồng như đànchim sáo, chim giang lêu lổng).

Vì câu dài nên tục ngữ Mường cũng thường gieo vần cách, phổ biến làcách 4; 5 tiếng, thậm chí cách 8 tiếng (như ví dụ trên)

Trong lời nói hàng ngày, người Mường cũng thường nói "dài dòng" như vậy Họ rất thích nói vần vè, "có đầu, có đuôi" và hay ví von bóng bẩy.

Và tục ngữ đã phản ánh trung thực thói quen sử dụng ngôn ngữ này Chínhđiều đó dẫn đến cấu trúc tục ngữ Mường có những nét khác biệt so với cấu trúctục ngữ Việt

1.2.2 Bộ phận tục ngữ Mường thể hiện quan hệ gia đình

Gia đình là vấn đề quen thuộc được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các

ngành văn học, xã hội, ngôn ngữ quan tâm Theo "Từ điển tiếng Việt": "Gia

đình là một tập hợp người cùng chung sống thành một đơn vị nhỏ nhất trong xãhội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợchồng, cha mẹ và con cái" [69, tr.381] Gia đình vừa có chức năng bảo tồngiống nòi, vừa là đơn vị sản xuất kinh tế của xã hội Vì vậy, gia đình phản ánhđược sự vận động và phát triển của cộng đồng, quốc gia trong tiến trình lịch sử

Gia đình gắn liền với đời sống của mỗi con người Trong đời sống xãhội từ xưa đến nay, gia đình luôn giữ vị trí quan trọng Hồ Chủ tịch đã nói:

“Quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội,

xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” Có rất nhiềuđịnh nghĩa khác nhau về gia đình của các nhà khoa học nghiên cứu ở từng góc

độ khác nhau Chúng ta có thể hiểu: gia đình là một nhóm người trong xã hộiđược hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thànhviên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyềnlợi, nghĩa vụ, có tính hợp pháp, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Gia đình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của mỗi conngười Các mối quan hệ trong gia đình, sự cấu kết giữa các thành viên trong

Trang 30

gia đình bắt nguồn từ quan hệ huyết thống ruột thịt và quan hệ tình cảm, tráchnhiệm Trong gia đình, các thành viên gắn bó với nhau bằng những sợi dâyliên hệ thường xuyên, suốt cuộc đời Các thành viên luôn quan tâm đến nhau.

Ở Việt Nam, gia đình là khái niệm gần gũi với mỗi người Trải qua lịch

sử phát triển, văn hóa gia đình kết tinh được những truyền thống và lẽ sống quýbáu Đó là sự yêu thương, thủy chung, gắn bó Gia đình Việt Nam có vai tròđặc biệt quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người.Cha mẹ có ảnh hưởng lớn tới con cái qua lối sống đạo đức, ứng xử Điều nàyđược ghi lại khá rõ nét qua các thể loại văn học, đặc biệt qua tục ngữ

Cũng như các dân tộc khác, với mỗi người dân Mường, gia đình là cáinôi nuôi dưỡng, là môi trường giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Đócũng là nơi bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc mình Tronggia đình, người đàn ông được tôn kính và đảm nhiệm toàn bộ công việc lớn.Người vợ hầu như chỉ quẩn quanh trong nhà, không được bàn đến việc xómlàng, bản mường Trong xã hội xưa, cũng như các dân tộc khác, gia đìnhngười Mường cũng là đơn vị tổ chức sản xuất, là rường cột của xã hội Ở giaiđoạn này, hôn nhân nam nữ thường do cha mẹ áp đặt, lợi ích cá nhân phảiphục tùng lợi ích gia đình, gia tộc Vai trò người con trai rất được coi trọng,nhất là người con trai trưởng

Tuy nhiên, gia đình người Mường cũng có những đặc điểm riêng Trướctiên, phải kể đến sự chung sống của nhiều thế hệ trong cùng một nhà Quy môgia đình giai đoạn này thường lớn hầu hết là những gia đình tam đại đồngđường (gia đình gồm ba thế hệ), tứ đại đồng đường (gia đình gồm bốn thế hệ).Hiện nay, kiểu gia đình nhiều thế hệ cùng chung sống tuy không phải là phổbiến nhưng vẫn còn nhiều Thực tế trong quá trình điền dã chúng tôi thấyngay những gia đình cán bộ văn hóa xã cũng là những gia đình như vậy.Chẳng hạn như gia đình anh Trương Công Mạnh ở làng Quang Phú xãQuang Trung huyện Ngọc Lặc gồm có năm thế hệ chung sống Gia đình anh

Trang 31

Phạm Văn Nam ở làng Quang Thọ xã Quang Trung huyện Ngọc Lặc gồm cóbốn thế hệ chung sống

“Tục ngữ Mường Thanh Hóa” thường phản ánh kiểu gia đình truyền

thống này Hiện nay, hôn nhân gia đình là sự tự do lựa chọn của nam nữ,không còn là sự áp đặt của cha mẹ, họ hàng nhưng cơ cấu gia đình ba thế hệvẫn là phổ biến

Bên cạnh đó, người Mường rất tôn trọng người già và yêu quý trẻ nhỏ

Và người phụ nữ có vai trò cũng độc đáo Họ vừa phục tùng chồng lại vừa

được chồng kính nể Người chồng gọi vợ là ho, dâu bình đẳng như nghĩa mi,

tao của người Kinh Vì tôn trọng người phụ nữ nên vai trò bên nhà mộng

(ngoại) cũng được đề cao Ông bà ngoại có quyền cao nhất trong việc cưới gảcháu gái và có quyền đặt tên cho cháu ngoại Tuy có vị trí và vai trò quantrọng như vậy, song người phụ nữ Mường lại hiện lên với dáng vẻ âm thầm,cam chịu và nhường nhịn Có lẽ đó chính là những phẩm chất để họ luôn giữđược sự hòa thuận và yên ấm trong gia đình

Gia đình người Mường là sự tổng hòa của nhiều nét đặc sắc Nó vừamang nét chung của gia đình Việt Nam (yêu thương, tình nghĩa) lại vừa cónhững nét riêng, đặc biệt trong quan hệ khe - mộng (thông gia) Tình thônggia ở đây rất đẹp, luôn là sự nể trọng Điều này chúng ta sẽ bắt gặp trongnhiều câu tục ngữ

Người Mường sáng tạo ra tục ngữ để biểu lộ tâm tư, tình cảm, tư tưởng

và quan niệm sống Tục ngữ thể hiện và hướng dẫn kinh nghiệm về cách nhìnnhận, bình giá, ứng xử, thực hành các vấn đề cuộc sống đưa ra Người

Ethiophia có câu: “Nói năng mà không tục ngữ chẳng khác chi thức ăn không

muối” [58, tr.10] Với người Mường cũng vậy, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc

thêm lời nói giúp con người diễn đạt cả những điều tưởng như khó có thể nói

ra Tục ngữ Mường đề cập đến mọi lĩnh vực và các mối quan hệ xã hội Đó làkho tàng tri thức quý báu của đồng bào về kinh nghiệm ứng xử trong đời sống

Trang 32

hàng ngày Quan hệ gia đình người Mường được phản ánh trong tục ngữ gồmnhiều mặt: quan hệ giữa cha mẹ và con cái; quan hệ giữa vợ và chồng; quan hệgiữa anh, chị, em; quan hệ dâu rể, họ hàng Do cư trú trên một địa bàn đồi núi,lại thích nghi với cuộc sống canh tác nương rẫy, nên để lao động sản xuất, đểtồn tại được thì ý thức cộng đồng, quan hệ gia đình và đức tính chăm chỉ cần cù

là rất quan trọng Đoàn kết đã trở thành một lẽ sống ăn sâu trong tiềm thức củađồng bào Với tình người thật thà, chất phác và lối sống cộng đồng sâu sắc, khi

đã tin nhau, người Mường thường sống chân thành Và các phát ngôn tục ngữ

đã phản ánh rõ nét tính cộng đồng dân tộc ấy

Gia đình chính là môi trường đầu tiên tác động đến tâm hồn và quátrình phát triển nhân cách con người Vì thế, quan hệ trong gia đình luôn đượcchú trọng và đi vào tục ngữ một cách tự nhiên Đó là tình cảm yêu thương,kính trọng của con cái đối với cha mẹ, tình cảm đoàn kết, gắn bó của anh chị

em, tình cảm yêu thương, chia sẻ của vợ chồng Trong gia đình, cha mẹ là tất

cả đối với con cái Có cha mẹ con có nơi chở che vững chắc Cha mẹ mất rồi

con hụt hẫng bấp bênh Tục ngữ đã nói rất sâu sắc và thấm thía: "Có cha có

mẹ như nhà có rường, không cha không mẹ như giường gãy chân".

Nếu trong ca dao Việt, công ơn cha mẹ được nói bằng hình ảnh:

Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Thì tục ngữ Mường lại nói rất cụ thể: "Công bố bằng bể, công mẹ

bằng trời" Mặc dù: “Củi nỏ dễ cháy nhà, người già hay lắm điều” nhưng tuổi

già luôn được đề cao, quý trọng Phụng dưỡng và kính yêu cha mẹ là đạo lýmuôn đời Anh em trong gia đình là tình máu mủ không bao giờ lìa bỏ Tụcngữ Mường cũng rất trân trọng những tình cảm ấy và nói bằng những hình

ảnh rất riêng, rất thật mà cũng rất sâu sắc: "Anh em ăn ở với nhau như bát

nước trong"

Trang 33

Trong xã hội Mường, cùng với các mối quan hệ khác trong gia đình,tình cảm vợ chồng được đề cao Tình yêu hòa hợp giữa vợ chồng có sức mạnh

to lớn Tục ngữ Mường phản ánh khát vọng yêu thương, ca ngợi tình yêu thủychung Trong vấn đề lựa chọn bạn đời, người Mường đề cao những phẩm

chất: chăm chỉ, đảm đang, tháo vát, nhanh nhẹn: “Muốn biết đàn ông hãy xem

bờ nà, muốn biết đàn bà hãy xem cạp váy” Vì nền kinh tế canh tác chủ yếu là

nương rẫy nên những phẩm chất trên luôn được đề cao, là một trong nhữngyếu tố để giữ gìn hạnh phúc gia đình Mỗi thành viên phải tự học các nếp cư

xử xã hội thông qua chính các mối quan hệ gia đình Tục ngữ Mường lànhững bài học giáo dục lối sống, kinh nghiệm ứng xử, cho đến nay vẫn còngiá trị, cần được trân trọng, giữ gìn và phát huy

1.3 Tiểu kết chương 1

Thực tế cho thấy, tục ngữ là loại phát ngôn đặc biệt, không ngừng đượctái hiện và tái sinh trong lời nói Về bản chất, tục ngữ là loại hình ngôn ngữsống động Tục ngữ, thành ngữ và ca dao là những thể loại khác nhau songgiữa chúng có mối quan hệ gắn bó, trong một số trường hợp có sự giao thoagây khó khăn trong việc phân biệt Tuy nhiên, khi gặp những đơn vị gây tranhcãi thì chúng ta nên kết hợp sử dụng nhiều tiêu chí và nên đặt trong từng hoàncảnh sử dụng sẽ có thể xác định được chính xác

Sở dĩ trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách dùng là "phát ngôn

tục ngữ" vì muốn nhấn mạnh tục ngữ như một đơn vị ngôn ngữ, một phương

tiện giao tiếp Tục ngữ Mường chính là phương tiện ngôn ngữ mà mỗi ngườidân Mường có thể vận dụng trong đời sống hàng ngày Quan hệ gia đìnhngười Mường được phản ánh trong tục ngữ gồm nhiều mặt Đó là những bàihọc giáo dục lối sống Tục ngữ Mường còn là nơi lưu giữ và truyền tải vốnvăn hoá dân gian đặc sắc, không chỉ có giá trị với dân tộc Mường mà còn làtài sản quý của dân tộc Việt Nam

Trang 34

Chương 2CẤU TRÚC CỦA CÁC PHÁT NGÔN THỂ HIỆN QUAN HỆ

GIA ĐÌNH TRONG “TỤC NGỮ MƯỜNG THANH HÓA”

2.1 Vấn đề cấu trúc của tục ngữ

2.1.1 Khái niệm cấu trúc

Theo "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học", cấu trúc có hai

nghĩa 1 Sự biểu thị khái quát hóa các đặc trưng bất biến của các thành phần

âm thanh, âm vị học, hình thái học, hình vị học trong bình diện quan hệ giữachúng với nhau, nghĩa là trong bình diện các quy tắc sử dụng các đơn vị ở cấp

độ thấp hơn để kiến tạo nên các đơn vị ở cấp độ cao hơn

2 Quan hệ ngữ pháp của các bộ phận trong một đơn vị cú pháp phức

hợp Cấu trúc câu [83, tr.45]

2.1.2 Cấu trúc của tục ngữ

Trong cuốn “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam”, tác giả Phan Thị

Đào cho rằng: “khi xác định kết cấu của một câu tục ngữ, cần phân tích xem

nó được cấu thành từ những yếu tố nào, quan hệ giữa các yếu tố đó ra sao”[28, tr.37] Vì thế, xác định kết cấu của một câu tục ngữ chủ yếu là xác địnhkết cấu lôgic của phán đoán mà câu đó thực hiện Tác giả cũng chỉ ra ba dạngkết cấu của tục ngữ, gồm: kết cấu lôgic, kết cấu so sánh, kết cấu đối xứng

Trong cuốn "Thành ngữ học tiếng Việt", GS Hoàng Văn Hành quan

niệm: "Dưới con mắt của ngữ nghĩa học, trong đó có một bộ phận tạo thành

là ngữ pháp học ngữ nghĩa, thì câu nói chung và tục ngữ nói riêng, baochứa trong mình không chỉ có cấu trúc ngữ pháp mà còn có cả cấu trúc ngữnghĩa Cấu trúc này bao gồm cả những yếu tố thuộc về nội dung miêu tảhiện thực (chức năng định danh) cũng như dụng ý thông báo (chức năngthông tin)" [38, tr.34]

Trang 35

Trong cuốn "Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp", tác giả Nguyễn Thái

Hòa xem tục ngữ là "một chỉnh thể gồm 6 yếu tố: vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi,kết cấu nghĩa hai trung tâm, tiền giả định, chủ đề và hàm ý thông báo" [47,tr.49] Tác giả đề cao việc gắn cấu trúc cú pháp với cơ cấu nghĩa khi phân tíchtục ngữ Theo ông, việc phân loại các khuôn hình tục ngữ không được chỉ dựavào hình thức mà còn phải xem xét cả nội dung Khi nghiên cứu tục ngữ cầndựa vào các quan hệ giữa phần nêu và phần báo Trong chuyên luận này, tácgiả đã giới thiệu mô hình tam giác ngữ nghĩa của V.V.Bogdanov

Hình 2.1

Trong mô hình này, “mối liên hệ giữa cấu trúc ngữ pháp và cảnh huống

là gián tiếp, còn lại là một thể thống nhất và trực tiếp, tạo thành một cấu trúcbiện chứng, mặc dù có thể phân xuất thành các đơn vị độc lập” [47, tr.49].Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa, những yếu tố ngoại hình của tục ngữ bao gồm:vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi

Trang 36

Đồng thời tác giả cũng bổ sung tam giác ngữ nghĩa cú pháp của mình.

ngôn về quan hệ gia đình trong "Tục ngữ Mường Thanh Hoá".

2.2 Những cấu trúc cơ bản của các phát ngôn thể hiện mối quan hệ gia

đình trong "Tục ngữ Mường Thanh Hóa"

Về cấu trúc tục ngữ, các tác giả có thể đi theo nhiều hướng nghiên cứukhác nhau với những tiêu chí và mục đích riêng Có thể đi sâu tìm hiểu cấutrúc cú pháp, xét xem đó là các cấu tạo đơn (một C - V) hay các cấu tạo liên

Trang 37

hợp (từ hai C - V trở lên) Ở đây, chúng tôi tìm hiểu tục ngữ Mường gắn vớicấu trúc ngữ nghĩa, xét theo lôgic nội dung của các phán đoán Với tục ngữMường, qua phân tích cấu trúc gắn với ngữ nghĩa, chúng tôi muốn nhấn mạnhtính thực hành của tục ngữ trong môi trường sử dụng

Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 302 phát ngôn tục ngữ thể hiệnquan hệ gia đình, chiếm 20,05% tổng số các câu tục ngữ Mường và phân loạitheo nội dung, có 4 nhóm chính, thể hiện qua bảng 2.1

Bảng 2.1:

Các quan hệ chính trong gia đình người Mường thể hiện qua tục ngữ

Bảng 2.2:

Các cấu trúc thể hiện quan hệ gia đình người Mường

Trang 38

4 Cấu trúc kéo theo 46 15,23%

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đặc điểm chung của các phát ngôntục ngữ này là thường có hai vế A và B với những cặp từ quan hệ như: cha mẹ

- con cái, vợ - chồng, anh - chị - em, dâu - rể Hai vế có quan hệ ngữ nghĩa,ngữ pháp với nhau, tồn tại tách rời nhau bằng ngữ điệu, trên văn bản viết làdấu phẩy Sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu từng cấu trúc

2.2.1 Cấu trúc tương đồng

2.2.1.1 Cấu trúc tương đồng trong tục ngữ

Có thể hiểu, cấu trúc tương đồng trong câu là mối quan hệ giữa các vếtrong một câu được xây dựng theo một mô hình nhất định hoặc theo một mốiquan hệ nhất định (trừ quan hệ đối lập), tạo nên một chỉnh thể

Ở đây, cấu trúc tương đồng trong các phát ngôn tục ngữ Mường vềquan hệ gia đình là những cấu trúc thể hiện mối quan hệ giống nhau giữa hai

vế A và B, trong đó vế A luôn chứa tiền giả định về tính tất yếu, vế B là kếtluận có ý nghĩa tương đồng dựa trên vế A Khi thực hiện phát ngôn, người nóigiả định có những thông tin mà người nghe đã biết Vì coi đó là thông tin đãbiết nên nói chung, những thông tin như thế không được nói ra Ngôn ngữ họcgọi những thông tin như vậy là thông tin tiền giả định Theo ngữ dụng học,thông tin tiền giả định là thông tin được người nói mặc nhiên chấp nhận làđúng và cho rằng người nghe chấp nhận là đúng khi phát ngôn được đưa ra.Tiền giả định không mang giá trị thông báo nhưng là cái nền, tạo điều kiện đểthông báo có ý nghĩa và được cụ thể hóa Có thể hiểu, tiền giả định là nhữnghiểu biết, tri thức về tự nhiên, xã hội mà những người tham gia giao tiếp mặcnhiên thừa nhận, bất tất phải bàn cãi Tiền giả định của một phát ngôn lànhững điều được xem là có trước phát ngôn đó, nếu không có tiền giả địnhnày thì không có phát ngôn đó

Trang 39

Các thành tố từ vựng trong cấu trúc tương đồng phải cùng thuộc mộttrường ngữ nghĩa liên tưởng Có như vậy thì người nghe mới có thể suy rađược nghĩa chung của các phát ngôn tục ngữ Nếu vế A là cụm danh từ thì vế

B cũng là cụm danh từ Ngược lại, nếu vế B có cấu tạo C - V thì vế A tất yếucũng cấu tạo là C - V

2.2.1.2 Biểu hiện của cấu trúc tương đồng trong tục ngữ Mường

Cấu trúc tương đồng có số lượng nhiều nhất, gồm 74 phát ngôn, chiếm24,50% tổng số các phát ngôn nói về quan hệ gia đình trong tục ngữ Mường.Bởi nội dung của tục ngữ thường là những bài học kinh nghiệm có tính giáodục cao Cấu trúc tương đồng lại thường có hai vế Vế đầu là các tri thức mọingười đều công nhận Vế sau là những kết luận dựa trên tính đúng đắn của vếđầu Vì vậy, cấu trúc tương đồng trong tục ngữ nâng cao hiệu quả trong đíchtác động mà người nói muốn hướng tới Các vế A và B thường có cấu trúcngữ pháp giống nhau và tương đồng về nghĩa

Qua khảo sát những cấu trúc tương đồng nói về các quan hệ gia đìnhtrong tục ngữ Mường, chúng tôi đã chia các phát ngôn tục ngữ thành bốnnhóm dựa trên nội dung giữa hai vế Cụ thể qua bảng 2.3 sau:

3 Thể hiện những đặc tính của con

người trong gia đình

Trang 40

4 Thể hiện những quan niệm về

Củi vu chằn nhá, ôông giá lằm méng (366)

(Củi nỏ dễ cháy nhà, người già hay lắm điều)

Cả hai vế đều thể hiện đặc điểm của đối tượng Theo cách nói của

người Mường, củi nỏ là củi đã phơi khô, già nắng, thường rất giòn, vì vậy dễ

bắt lửa Còn người già, do đã trải nghiệm cuộc sống nhiều, lại thêm đặc tínhsinh lý thường không minh mẫn, nên thích nói đi nói lại một vấn đề nào đấy

Do vậy, con cháu nên thông cảm điều đó mà một lòng thương yêu, kính trọng

Con ó chê bồ mế khò, chò ó chê chủ nghéo (271)

(Con không chê bố mẹ khó, chó không chê chủ nghèo)Phát ngôn này cũng có nội dung tương tự như trong tục ngữ Việt.Chúng ta thường nói, con cái không có quyền lựa chọn bố mẹ Người Mường

nói: dại cũng bố, rồ cũng mẹ Vì vậy, dù bố mẹ có nghèo khó hay trong tình

cảnh sa cơ lỡ vận, khốn cùng thì con cái cũng phải luôn tôn kính, hiếu thảo,làm trọn đạo lý Cũng như vế A, vế B đề cập đến tình cảm gắn bó của con vậtđược coi là trung thành nhất Chó là vật nuôi gần gũi trong các gia đình ngườiViệt cũng như người Mường Phát ngôn trên là sự nhận thức tất yếu Đó làtình cảm tốt đẹp cần gìn giữ

Cân chung chá trày tha trày ngọch, con chung rọch con khẹt con sương (197)

(Cây một cành quả the quả ngọt, con cùng khúc ruột đứa ghét,đứa thương)

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Anh, Hoàng Anh Nhân (1975), Đẻ đất đẻ nước, Ty Văn hóa Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẻ đất đẻ nước
Tác giả: Vương Anh, Hoàng Anh Nhân
Năm: 1975
2. Vương Anh (1995), Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa, Nxb VHDT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa
Tác giả: Vương Anh
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1995
3. Vương Anh (1997), Mo sử thi dân tộc Mường, Nxb VHDT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo sử thi dân tộc Mường
Tác giả: Vương Anh
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1997
4. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
5. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ tục ngữ trong ca dao, Nxb VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữtục ngữ trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2005
6. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn học dân gian Việt Nam - Những suy nghĩ, Nxb VHDT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam - Những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2000
7. Trương Kế Bính (1997), Việt Nam phong tục, Nxb SG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Trương Kế Bính
Nhà XB: Nxb SG
Năm: 1997
8. Nguyễn Thị Bình (2002), Các khía cạnh văn hóa Việt Nam, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khía cạnh văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
9. Trần Đức Các (1995), Tục ngữ với một số thể loại văn học, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ với một số thể loại văn học
Tác giả: Trần Đức Các
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1995
10. Yvonne Castellas (2002), Gia đình, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình
Tác giả: Yvonne Castellas
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
11. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1996
12. Nguyễn Tài Cẩn (1997), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
13. Nông Quốc Chấn (chủ biên, 1997), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb VHDT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số ViệtNam
Nhà XB: Nxb VHDT
14. Hà Châu (1970), “Bác Hồ với nguồn tục ngữ dân tộc”, Văn học, (3), tr.49-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với nguồn tục ngữ dân tộc”, "Văn học
Tác giả: Hà Châu
Năm: 1970
15. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa từ vựng, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học và Trunghọc chuyên nghiệp
Năm: 1987
16. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1996
17. Đỗ Hữu Châu, Hà Minh Toán (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Hà Minh Toán
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
18. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
19. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1989
20. Jean Chevalier - Alai Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng thế giới
Tác giả: Jean Chevalier - Alai Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 2.2 (Trang 39)
Bảng 2.1: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 2.1 (Trang 39)
Bảng 2.4: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 2.4 (Trang 52)
Bảng 2.5: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 2.5 (Trang 59)
Bảng 2.7: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 2.7 (Trang 70)
Bảng 3.1: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 3.1 (Trang 76)
Bảng 3.2: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 3.2 (Trang 85)
Bảng 3.3: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 3.3 (Trang 93)
Bảng 3.4: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 3.4 (Trang 96)
Bảng 3.5: - Cấu trúc và ngữ nghĩa của những phát ngôn thể hiện quan hệ gia đình trong ''tục ngữ mường thanh hoá''
Bảng 3.5 (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w