Lý do thứ hai khiến chúng tôi chọn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của ông làm đối tợng nghiên cứu là vì: Nguyễn Công Hoan là một trong số nhà văn ViệtNam hiện đại có tác phẩm đợc đa vào
Trang 1TR¦êNG §¹I HäC VINH KHOA NG÷ V¡N
Trang 2khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: Ngôn ngữ
Gv hớng dẫn : Đoàn Mạnh Tiến Học viên: Đỗ Thị Huyền
Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầygiáo hớng dẫn, tập thể các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, gia đình và tất cả bạn bè
Khóa luận này mới chỉ là tập sự bớc đầu, nên những khiếm khuyết là điềukhông thể tránh khỏi Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận đợc sự góp ý chân thành củacác thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận đợc hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Đỗ Thị Huyền
Trang 3Mục lục
Trang Mở đầu 1.
Nội dung 8.
Chơng Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 8.
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Hoan 8
1.2 Giới thuyết về truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 10
1.2.1 Truyện ngắn 10
1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 13
1.3 Giới thuyết về so sánh tu từ 15
1.3.1 Về khái niệm so sánh tu từ 15
1.3.2 Các yếu tố của so sánh tu từ 16
1.3.3 Đặc điểm của so sánh tu từ 17
1.3.4 Chức năng của so sánh tu từ 19
Chơng 2 Cấu trúc so sánh tu từ (SSTT) trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng 20.
2.1 Mô hình chung của SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng 20
2.1.1 Kiểu so sánh hoàn chỉnh 20
2.1.2 Kiểu so sánh biến thể 22
2.2 Các yếu tố của SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng 26
2.2.1 Yếu tố đợc so sánh (ĐSS) 26
2.2.2 Yếu tố chỉ cơ sở so sánh (CSSS) 33
2.2.3 Yếu tố chỉ quan hệ so sánh (QHSS) 36
2.2.4 Yếu tố chuẩn so sánh: (CSS) 40
2.3 Nhận xét chung về cấu trúc sstt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng 49
Chơng 3: Giá trị biểu hiện của so sánh tu từ (SSTT) trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng 53.
3.1 So sánh tu từ giúp Nguyễn Công Hoan khắc họa đợc nhân vật 54
3.1.1 So sánh tu từ thể hiện ngoại hình nhân vật 54
3.1.2 So sánh tu từ khắc họa tâm lý, tính cách, hành động của nhân vật 58 3.2 SSTT thể hiện một vài đặc điểm của ngòi bút Nguyễn Công Hoan 62
3.2.1.Nguyễn Công Hoan hay dùng lối so sánh quen thuộc của dân gian 62 3.2.2 Nguyễn Công Hoan thờng tạo nên lối so sánh mới lạ, độc đáo 66
Kết luận 72.
Tài liệu tham khảo 73.
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tà
1.1 Nói tới văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 không thể không nhắctới Nguyễn Công Hoan - một cây bút dồi dào sức sáng tạo, một tấm gơng lao động
nghệ thuật không mệt mỏi, “cây bút khai sơn phá thạch cho nền văn học trào phúng
Việt Nam” (Lu Trọng L) Nói tới Nguyễn Công Hoan là nói tới cây bút trào phúng
số một của dòng văn xuôi trào phúng Việt Nam cha có ngời kế tục, “Một nhà văn
châm biếm có biệt tài nhng lại mang tâm hồn thơ đôn hậu và trữ tình" (Thanh Tịnh).
Năm 1963, trong dịp mừng thọ ông 60 tuổi, Tô Hoài đã nhận xét: “… Nếu ta nhẩm
từ cái hồi mà lời văn bổng trầm khóc đứng khóc ngồi đến thời kỳ văn chơng sạch sẽ kiểu Tự Lực t“ ” hì lực lỡng nh một cây đô vật không có địch thủ, từ Kiếp hồng nhan
tới nay, truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan sừng sững tạo thành một thế Tam Đảo Ba Vì hùng vĩ, vợt qua hai thời kì, tiến vào cách mạng tháng tám …” (Tô
Hoài, ngời bạn đọc ấy, Văn nghệ số 2, 10/05/1963) Không chỉ có vậy, NguyễnCông Hoan còn là một cây bút chiến đấu dũng cảm trớc cờng quyền và bạo lực, luôn
Trang 5luôn vợt mình để sáng tạo và tồn tại Chính vì vậy Nguyễn Công Hoan là một niềm
tự hào của giới trí thức văn nghệ Việt Nam, niềm yêu thơng trong trái tim côngchúng bạn đọc Việt Nam
Ngay từ những buổi sơ khai của nền văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ, ông đãchọn và dám mở đờng một mình đi thẳng tới, viết những truyện trong đời sống bìnhthờng, về những con ngời cùng khổ bị bọn cờng hào, địa chủ, bọn tham ô quan lại đènén bóc lột đến cùng cực và bị giết hại, bằng con mắt nhìn đả kích, giễu cợt sâu cay,xuất phát từ tấm lòng căm giận kẻ cờng quyền và tình yêu thơng những con ngờicùng khổ đến phải rơi nớc mắt Văn ông giản dị dễ hiểu, câu chữ chọn lọc tinh tế vàsắc sảo Những cảnh huống xã hội, những nỗi lòng và số phận các nhân vật nh hiệnhình dới ngòi bút của ông, khiến khi truyện đã kết thúc nhng vẫn dội mạnh những
âm vang sâu lắng trong tâm trí ngời đọc đến phải bật lên tiếng cời mỉa mai chua chát
và nghẹn dòng nớc mắt
Toàn bộ tác phẩm của ông có giá trị nh một bộ bách khoa toàn th sống động
về xã hội Việt Nam dới thời Pháp thuộc Nó nh những chiếc gai nhọn trớc mắtnhững nhà cầm quyền đơng thời Vì thế, nhiều tiểu thuyết của ông bị cấm lu hành,nhiều truyện ngắn bị kiểm duyệt cắt bỏ hoặc bị xóa trắng Luôn luôn ông bị Sở mậtthám theo dõi và bị ngồi tù đến cách mạng tháng 8
Hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam mộtkhối lợng tác phẩm đồ sộ với hơn 300 truyện ngắn, hơn 20 tiểu thuyết và nhiều côngtrình nghiên cứu văn học có giá trị Nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết của ông đợcchuyển thể sang sân khấu và điện ảnh Tác phẩm của ông đợc dịch ra nhiều thứ tiếngtrên thế giới và đã có nhiều công trình thế giới và trong nớc nghiên cứu về ông và tácphẩm của ông Đó là lí do thứ nhất chúng tôi chọn Nguyễn Công Hoan và truyệnngắn của ông làm đối tợng nghiên cứu
Lý do thứ hai khiến chúng tôi chọn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của
ông làm đối tợng nghiên cứu là vì: Nguyễn Công Hoan là một trong số nhà văn ViệtNam hiện đại có tác phẩm đợc đa vào giảng dạy trong các nhà trờng của ta từ bậc
phổ thông với các tác phẩm nh: Đồng hào có ma, Mất cái ví… và hiện nay trong sách giáo khoa cải cách là Tinh thần thể dục đến bậc Cao đẳng, Đại học với các
chuyên đề riêng về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Hoan,
Chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu còn vì một lý do thứ ba nữa là:
Lâu nay các công trình khoa học nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
chỉ chủ yếu thiên về mặt nội dung mà ít chú ý về mặt ngôn ngữ Cấu trúc so sánh
tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng cũng là một đề tài
còn bỏ ngỏ, cha có tác giả nào đi sâu tìm hiểu một cách cụ thể, toàn diện, hệ thống
Trang 6Đi vào nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về cấu trúc hình thức vàgiá trị nội dung cũng nh nghệ thuật của biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan trớc cách mạng.
2 Mục đích của đề tài
Thông qua đề tài này khóa luận muốn đạt đợc 4 mục đích sau đây:
2.1 Làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc so sánh tu từ trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan trớc cách mạng trên cơ sở so sánh với mô hình cấu trúc so sánh tu từ trên
- Nguyễn Công Hoan, Toàn tập (tập 1), Nxb Văn học, 2003.
- Nguyễn Công Hoan, Toàn tập (tập 2), Nxb Văn học, 2003.
4 Lịch sử vấn đề
Trớc đến nay, đã có hơn 150 công trình lớn nhỏ nghiên cứu về tác phẩm củaNguyễn Công Hoan Tìm đọc các công trình đó, chúng tôi thấy có hai hớng nghiêncứu cơ bản sau:
Hớng thứ nhất: Nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ở góc độ
văn học ở phơng diện này, có rất nhiều bài viết, công trình khoa học đề cập đến nhcác công trình nghiên cứu của các tác giả: Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, LêThị Đức Hạnh mỗi công trình nhìn nhận từ một góc độ, phơng diện khác nhau nh-
ng nhìn chung tất cả đều thống nhất cho rằng: Truyện ngắn trào phúng của NguyễnCông Hoan có nét đặc biệt, độc đáo không lẫn vào đâu đợc
Trớc hết phải kể đến tác giả Phan Cự Đệ với ý kiến cho rằng: Đi vào thế giới“
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ta có cảm tởng nh bớc vào một khu triển lãm phong phú, nhiều màu, nhiều vẻ về những cảnh ngộ, những con ngời đang múa may, khóc cời trong xã hội cũ Có những truyện độc ác, tàn nhẫn, những truyện xấu xa, rởm hợm, những truyện thơng tâm, ai oán cùng những truyện nực cời, lố lăng trong xã hội thực dân phong kiến, đầy những bất công ngang trái Bên cạnh đó là phác
Trang 7thảo chân dung của một số vị tai to mặt lớn mà nhiều kẻ hách dịch, đầy quyền thế
đang sống phè phỡn trong giới thợng lu lúc bấy giờ"[8; 176].
Trong một số bài viết của mình về Nguyễn Công Hoan, tác giả Hoàng Hữu
Các khẳng định: “Nhà văn luôn đứng về phía những ngời bị áp bức, đau khổ và luôn
bênh vực họ Đối với những nhân vật này, Nguyễn Công Hoan để cho họ quằn quại
đến cùng trong cái hố bùn nhơ do chế độ cũ tạo ra Vì vậy, đọc truyện của ông ta vừa cời mỉa mai, vừa cời gằn lại vừa muốn đấm ngực mà thét lên căm phẫn trớc chế
độ thời ấy Đằng sau giọng văn giễu cợt của ông, ấm rực một trái tim nhân đạo cao cả…Ngòi bút Nguyễn Công Hoan đả kích, chế giễu kịch liệt bọn mọt dân vô liêm sỉ, những kẻ trắng trợn chà đạp nhân phẩm Vì yêu con ngời chân chính mà ông phanh phui đến cùng tâm địa của những kẻ xấu xa” [8; 215].
Còn Thúc Nhuận trong bài viết: Kép T Bền của ông Nguyễn Công Hoan đã đa
ra nhận xét: “Nguyễn Công Hoan là nhà văn chuyên tả những cảnh khốn nạn vừa về
vật chất vừa cả về tinh thần của hầu hết các hạng ngời trong xã hội Ông ta tả những cái đáng thơng nhng cũng không bỏ qua những cái đáng khinh, đáng bỉ…ông biết động lòng thơng đến hạng ngời xấu số, nên ông cứ để mắt quan sát đến họ, mắt thấy tai nghe hết những cảnh đời khốn nạn xấu xa, thô bỉ, đau đớn của hạng
nhất về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Tiếng cời của Nguyễn Công
Hoan vừa phong phú, đa dạng vừa có một bản sắc riêng, khó lẫn với tiếng cời của một nhà văn, nhà thơ nào khác… Tiếng cời của ông có nhiều nhịp độ, cung bậc, lúc thì phá lên giòn giã, vui đùa thoải mái, lúc lại châm biếm sâu cay, phũ phàng…” [8;
418]
Xu hớng thứ hai: Nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ở góc độ
ngôn ngữ học: Theo xu hớng này cũng đã có một số các công trình, bài viết đề cập
đến, tuy nhiên tất cả mới chỉ ở mức độ khái quát, nhận định chứ cha đi sâu vào từngvấn đề cụ thể
Trong một công trình nghiên cứu về hình thức nghệ thuật của truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan có tên Kỹ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan tác giả
Lê Thị Đức Hạnh đã viết: “Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ quần
chúng đợc chọn và nâng cao, đậm hơng vị của ca dao, tục ngữ Có khi tác giả đa ca dao, tục ngữ vào truyện một cách rất tự nhiên, thoải mái Những chữ dùng của ông
Trang 8thờng giản dị, giàu hình ảnh, cụ thể, hay so sánh, ví von làm cho ngời đọc dễ có những liên tởng thú vị… Nguyễn Công Hoan luôn giữ cho lời văn, ngôn ngữ trong truyện trong sáng, chính xác, mang bản sắc của tiếng nói dân tộc” [8; 395].
Tác giả Nguyễn Thanh Tú trong một bài viết có tên: Chất hài trong câu văn
Nguyễn Công Hoan đã chỉ ra một số đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ của truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan nh sau: “Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là một thứ ngôn
ngữ suồng sã để lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó từ d“ ới và từ trên, đập vỡ vỏ ngoài để nhìn vào bên trong… trong nội bộ câu văn Nguyễn Công Hoan th” ờng mang mâu thuẫn hài hớc đối chọi ở bên trong… Nguyễn Công Hoan có những lối ví von so sánh độc đáo, những liên tởng bất ngờ, thú vị… lối chơi chữ và phép nghịch nghĩa
đợc dùng phổ biến trong câu văn Nguyễn Công Hoan… Câu văn Nguyễn Công Hoan thờng ngắn gọn…" [8; 423, 430].
Qua đây chúng ta thấy, phơng diện ngôn ngữ trong các tác phẩm của NguyễnCông Hoan vẫn cha đợc quan tâm, nghiên cứu nhiều, mới chỉ một vài công trình đềcập đến ở mức độ chung chung, cha đi sâu vào từng vấn đề cụ thể, đặc biệt là ở biệnpháp so sánh tu từ
Thực tế trên đây đã thúc đẩy chúng tôi muốn đi vào nghiên cứu một cách cụthể, toàn diện cấu trúc của từng biện pháp tu từ trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan Tuy nhiên do điều kiện về thời gian, khả năng hạn chế vào phạm vi của mộtkhóa luận nên chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu một số biện pháp trong hệ thống cácbiện pháp nghệ thuật đợc Nguyễn Công Hoan vận dụng trong truyện ngắn của mình,
Khóa luận tiến hành thống kê tất cả các dạng so sánh tu từ trong 124 truyện
ngắn của Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng đợc in trong hai tập, Nguyễn Công
Hoan, Toàn tập (tập 1, 2), Nxb Văn học 2003.
b Phơng pháp so sánh - đối chiếu
Từ kết quả của phơng pháp thống kê phân loại, chúng tôi đi đến so sánh đốichiếu giữa các dạng cấu trúc của so sánh tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Trang 9với các mô hình cấu trúc so sánh tu từ thờng gặp trong tự nhiên, cũng nh giữa cácdạng cấu trúc so sánh tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, trên cơ sở đó chỉ
ra những nét tơng đồng và khác biệt giữa chúng
c Phơng pháp phân tích - tổng hợp
Từ sự phân tích các dạng mô hình so sánh tu từ cụ thể, chúng tôi đi đến kháiquát những dạng so sánh tu từ cơ bản trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớccách mạng
7 Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận đợc triển khai
trong 3 chơng:
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài.
Chơng 2: Cấu trúc SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng
Chơng 3: Giá trị biểu hiện của SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng
Trang 10Nội dung Chơng 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Hoan
1.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 06 tháng 03 năm 1903, tại làng Xuân Cầu, xãNghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh nay là tỉnh Hng Yên, trong một gia
đình nho học
Năm lên 9, Nguyễn Công Hoan lên Hà Nội học tai trờng Bởi, đến năm 19 tuổi
đậu sơ học Pháp Việt nhng không thi nào cấp thành chung, trờng Bởi mà trở về quê.Sau đó ra Hà Nội học trờng Nam s phạm và bắt đầu có tác phẩm đăng báo do Tản
Ba năm sau, khi Nguyễn Công Hoan 45 tuổi, ông đợc kết nạp vào Đảng lao
động Việt Nam tại chi bộ cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam
Sau khi hòa bình lập lại, (1954) ông trở về thủ đô làm việc ở Hội văn nghệViệt Nam, đến năm 1957 khi Hội nhà văn Việt Nam đợc thành lập, ông đợc bài làm
Chủ tịch Hội Năm 1969, tham gia biên soạn Từ điển tiếng Việt.
Ngày 6/6/1977, sau gần 60 năm cầm bút, Nguyễn Công Hoan đã từ trần tạibệnh viện Hữu Nghị Việt Xô (Hà Nội) để lại niềm tiếc thơng vô hạn cho đông đảo
Trang 11Nguyễn Công Hoan bắt đầu viết truyện ngắn từ cái buổi bình minh của vănxuôi bằng chữ Quốc ngữ Năm 1922, ông đã có một số truyện ngắn in trong tập
Truyện thế gian của Tản Đà th cục, một năm sau ông tự xuất bản tập Kiếp hồng nhan Khuynh hớng hiện thực của Nguyễn Công Hoan đợc d luận chú ý từ khi
những truyện ngắn của ông (thời kì 1928 - 1931) đợc đăng dần trên “An Nam tạo
chí” của Tản Đà dới mục Việt Nam nhị mục thế kỉ xã hội ba đào ký Cho đến năm
1935, ông đã cho ra mắt bạn đọc khoảng 80 truyện ngắn và một số tiểu thuyết có giá
trị nh: Lá ngọc cành vàng (1935), Ông chủ (1935).
Khi tập truyện ngắn Kép T Bền (1935) ra đời thì tên tuổi Nguyễn Công Hoan
đã nổi tiếng khắp Bắc - Trung - Nam
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là ngời đầu tiên khẳng định phơng pháp hiệnthực phê phán trong lĩnh vực truyện ngắn và là ngọn cờ đầu của dòng văn học hiệnthực phê phán nớc ta thời kì 1930 - 1945
Với hơn 200 truyện ngắn trớc cách mạng, Nguyễn Công Hoan đã hiển nhiêntrở thành một nhà văn lớn, một cây bút trào phúng đáng kính nể trong nền văn họchiện thực phê phán Việt Nam Ông đã đóng góp cho văn học dân tộc một khối lợnglớn các tác phẩm với nghệ thuật điêu luyện
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan sinh động, hấp dẫn là vì tác giả luôn thay
đổi thủ pháp nghệ thuật, thay đổi màu sắc và cung bậc tình cảm Có truyện viết để
gây căm hờn (Sáng, chị phu mỏ), có truyện viết để làm kinh tởm (Gói đồ nữ trang),
có truyện viết để gọi lòng thơng (Anh xẩm), lại có truyện viết để cời khoái trá (Samad ji; Anh hùng tơng ngộ) Nguyễn Công Hoan là ngời biết tổ chức cấu trúc
chặt chẽ và thay đổi cấu trúc hình thức rất linh hoạt Có những truyện là tấm bi hài
kịch ba màn (Ai khôn; Đàn bà là giống yếu; Một tấm gơng sáng) hoặc một tấm bi kịch ba màn (Chiếc quan tài I; II; III) có khi là bi, hài kịch lẫn lộn (Thằng ăn cắp),
có truyện kể theo lối viết th (Thế là mợ nó đi Tây), có truyện nhân vật là vật vô tri (Chiếc quan tài I), có truyện tác giả tự xng là nhân vật chính (Tôi tự tử), có truyện tác giả đả kích thẳng tay (Thịt ngời chết; Báo hiếu trả nghĩa cha), lại có truyện phải viết ngụ ngôn bóng gió (Đào kép mới, Ngậm cời chín suối, Ngời vợ lẻ bạn tôi).
Không chỉ có truyện ngắn, trong sự nghiệp sáng tác của mình Nguyễn CôngHoan còn viết cả tiểu thuyết, hồi ký, bút ký Tuy nhiên, so với truyện ngắn thì ở thểloại này Nguyễn Công Hoan cha thực sự thành công nhiều
Tóm lại, sự nghiệp của Nguyễn Công Hoan phong phú nhiều mặt, những tácphẩm của ông không những đợc bạn đọc trong nớc yêu mến mà còn có tiếng vangrộng khắp ở nớc ngoài Ghi nhận công lao to lớn của Nguyễn Công Hoan đối với nềnvăn học nớc nhà, Nhà nớc ta đã tặng thởng cho nhà văn Huân chơng Lao động hạng
Trang 12nhất, Giải thởng Hồ Chí Minh Nguyễn Công Hoan là tấm gơng của một ngời đãcống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho sự nghiệp văn học, tấm gơng của một nhà văncộng sản chiến đấu cho độc lập dân tộc và lý tởng xã hội chủ nghĩa
1.2 Giới thuyết về truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
1.2.1 Truyện ngắn
1.2.1.1 Đặc điểm truyện ngắn
Về khái niệm truyện ngắn, từ trớc đến nay đã có rất nhiều ý kiến khác nhau.Mỗi ý kiến nhìn nhận ở mỗi khía cạnh, phơng diện khác nhau Nhng nhìn chung hầuhết các ý kiến đều thống nhất với nhau ở các đặc điểm sau:
+ Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, khuôn khổ ngắn nhiều khi làm chotruyện có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian nh truyện cổ, giai thoại,truyện cời, hoặc gần với bài ký ngắn Nhng thực ra không phải, nó gần với tiểuthuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đơng thời
+ Nội dung của thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: Đời t, thế sự hay sửthi, nhng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đờicủa con ngời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sốngnhân vật Nhng cái chính mỗi truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà là ở cái
tự sự đối với cuộc đời Truyện ngắn trung đại cũng là truyện ngắn nhng gần vớitruyện vừa Truyện ngắn hiện đại khác hẳn Đó là một kiểu t duy khá mới, vì vậy,nói chung truyện ngắn đích thực xuất hiện muộn trong lịch sử văn học ở nhiều nớctrên thế giới, truyện ngắn gắn liền với báo chí: Khuôn khổ báo chí không cho phépdài Truyện ngắn nói chung không phải truyện của nó ngắn mà là cách nắm bắt cuộcsống của thể loại Tác giả truyện ngắn thờng hớng tới khắc họa một hiện tợng, pháthiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con ngời.Chính vì vậy trong truyện ngắn thờng rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Chỗ khácbiệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là, nếu nhân vật chính của tiểu thuyếtthờng là một thế giới, thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới
Truyện ngắn thờng không nhằm tới khắc họa những tính cách điển hình, có cátính đầy đặn trong tơng quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thờng hiện thâncho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời.Mặt khác, truyện ngắn có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạngcủa cuộc sống, gia hệ, bạn bè… Những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thờng hiện rathấp thoáng trong các nhân vật phụ
+ Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một thời gian, không gianhạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời,
về tình ngời Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà
Trang 13thờng đợc sử dụng theo nguyên tắc tơng phản hoặc liên tởng Bút pháp nghệ thuậtcủa truyện ngắn thờng là chấm phá.
+ Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô
đúc, có dung lợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm nhữngchiều sâu cha nói hết Ngoài ra, cái nhìn, giọng điệu cũng hết sức quan trọng, làmnên cái hay của truyện ngắn
tỏ rõ “chất tiềm thức lấn át ý thức” (chữ dùng của Đỗ Đức Hiểu).
Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải động Ngônngữ tự đối thoại, tự tranh cãi hay nói cách khác, ngôn ngữ lỡng lự nớc đôi… khiếncho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của các khả năng
Mỗi truyện ngắn hay thờng không tự nó đem đến cho ta một kết luận, khẳng
định hay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nó đặt ra trớc ngôn ngữ sự lựa chọn, hoặc nh
M.Bakhtin nói trớc sự “liên minh của lỡng lự”.
Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ truyện ngắn có phát biểu: Truyệnngắn nào của TseKhov cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta vì chúng đánh thứcdậy ở ta ý thức ham muốn, “giác ngộ” về sự biết phân vân, đắn đo hoặc nói nh cácnhà hiền triết phơng Đông - biết tìm cái có trong cái không, cái không trong cáicó…
Một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ truyện ngắn là lối hành văncô đọng, súc tích, không dẫn dắt dài dòng mà đi thẳng, trực tiếp đề cập đến vấn đề
đợc đặt ra Đặc điểm này cũng đã đợc nhà văn Nga M.Gorki nhấn mạnh nh sau:
“Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác
giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết các viết cô đọng”.
Nhà văn Việt Nam Ma Văn Kháng khi nói đến ngôn ngữ truyện ngắn cũng đãtừng bộc bạch rằng: Câu chữ tiêu dùng cho một truyện ngắn là yếu tố quyết định làcả một nỗ lực to lớn và… nh nó là yếu tố quyết định thành bại của một truyện ngắn.Truyện ngắn hay ở văn Ai đó đã nói và tôi nhận ra đúng là nh vậy Bởi vì có nhữngtruyện ngắn, nội dung câu truyện hình nh không có gì là quá đặc sắc mà sao đọcxong cứ mê li là thế nào! Câu chữ đã hút hồn ta đấy! Hay nh nhà văn Bùi Đình Thi
Trang 14nói: “Chữ trong văn xuôi cần có men” Đây thực sự là một ý kiến xác đáng, bởi vì
câu chữ nó tỏa hơng, nó rủ rê, dẫn dắt, nó quyến rũ ta, nó là cái hồn của câu truyện
1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Nh chúng ta đã biết, sáng tác của Nguyễn Công Hoan gồm nhiều thể loại,trong đó hai thể loại chính là truyện ngắn và truyện dài Số lợng truyện dài tuy khánhiều nhng phần thành công chủ yếu, cơ bản vẫn là ở lĩnh vực truyện ngắn Chínhthể loại này đã đa Nguyễn Công Hoan trở thành một trong những nhà văn hàng đầucủa dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Nói đến truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc hết phải nói tới đề tài mà nhàvăn lựa chọn Bởi chính đề tài nó thể hiện t tởng, lập trờng và con ngời của nhà văn
Có thể nói rằng, đề tài truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan khá là phong phú, đadạng, tạo thành những bức tranh giàu sức sống và sáng tạo, đem lại cho độc giảnhững cảm giác lý thú, bất ngờ Đọc sáng tác của ông, ta có thể bắt gặp nhiều loạingời thuộc nhiều tầng lớp xã hội, sừng sững hiện lên trên những trang sách Từ vuaquan, ngời lao động nghèo khổ khốn cùng đến nhà giáo, các nghệ sĩ, các cô đào Tấtcả đều có mặt trong tấn bi hài kịch đồ sộ với bao nhiều màn, lớp Trên sân khấu đó
đã diễn ra hầu nh đủ mọi tấn trò đời, bao nhiêu truyện ngắn là bấy nhiêu cảnh sốngcủa cái xã hội thối nát cũ Và chúng ta cũng thấy rằng, trên sân khấu ấy các nhân vậtcủa ông thờng đợc phân thành hai tuyến đối lập với tuyến những bọn thống trị màlên án, tố cáo bọn ngời tàn ác, bất lơng
Về bố cục, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều cách bố cục rất sinh
động Khi thì nhà văn đa ngời đọc đi dần vào vấn đề (Xin chữ cụ Nghè), khi thì rào
đón trớc bằng những câu tâm sự dí dỏm (Đồng hào có ma), lúc lại đột tả thẳng ngay vào sự vật (Hai cái bụng) hoặc ở chỗ khác lại miêu tả diễn biến của sự kiện theo trình tự thời gian (Xuất giá tòng phu), lúc lại xáo trộn thời gian: Việc xảy ra trớc kể trớc và việc xảy ra trớc kể sau (Lập gioòng)… Mặt khác, Nguyễn Công Hoan luôn
làm chủ đợc ngòi bút của mình, ít lan man, dài dòng, triền miên trong những sựkiện, những chi tiết, nói cách khác ông biết chinh phục độc giả bằng những bố cụtruyện chặt chẽ
Về văn phong, nói chung câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan khámới do ảnh hởng của văn Pháp và của các nhà thơ khác nh Tản Đà, Tú Xơng hayvăn học dân gian… Nhìn chung văn Nguyễn Công Hoan gọn gàng, sáng sủa, thiếtthực, linh hoạt
Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng đợc chọn lọc
và nâng cao, đậm hơng vị của ca dao, tục ngữ vào truyện một cách khá tự nhiên,
Trang 15thoải mái Những chữ dùng của ông thờng giản dị, giàu hình ảnh, cụ thể, hay sosánh, ví von làm cho ngời đọc dễ có những liên tởng thú vị.
Bên cạnh những đặc điểm liên quan đến hình thức nghệ thuật của truyện ngắnNguyễn Công Hoan ở trên thì khi xem xét truyện ngắn Nguyễn Công Hoan chúng tacòn thấy một đặc điểm khác cũng khá là nổi bật đợc xem đó là tính kịch trong tất cảcác truyện ngắn của ông Hay nói cách khác những truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan là những truyện ngắn đầy kịch tính
Xuất phát từ quan niệm coi cuộc đời là một sân khấu hài kịch: “Tôi là một
ng-ời bi quan, hoài nghi, nên khinh thế ngạo vật hay đùa và hay chế nhạo Sống dới chế
độ thống trị của thực dân, tôi thấy cái gì cũng là giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài Thế
mà thằng làm trò khôi hài, là thằng thực dân, lại làm ra mặt nghiêm chỉnh Thật là buồn cời Cho nên tôi hay chế giễu, mỉa mai để khôi hài tác giả việc khôi hài: Tôi coi thờng tất cả Tất cả, đối với tôi chỉ là trò cời Vì vậy, tôi hay pha trò cời…” Nên
nhà văn có một thái độ tiếp cận cuộc sống hết sức suồng sã, xóa bỏ, đạp đổ mọi tôn
ti trật tự, bóc trần mọi giáo lí giả tạo… để trơ ra một “thế giới bị lộn trái”… Chínhthực tế đời sống đầy kịch tính này đã tạo nên tính kịch trong truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan Đây cũng là nét độc đáo trong các truyện ngắn Nguyễn CôngHoan
Một sự độc đáo mà ta không hề bắp gặp ở một cây bút nào khác Bởi thế, Tô
Hoài đã gọi Nguyễn Công Hoan là “một tay đô vật không có địch thủ”, Giáo s Nguyễn Hoành Khung coi truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là “hiện tợng cha có tới
hai lần trong văn học Việt Nam” Còn Nguyễn Minh Châu thì cho rằng: “Với con mắt ấy, vừa cực đoan, vừa trào lộng, Nguyễn Công Hoan đã tạo nên phong cách truyện ngắn vô cùng độc đáo, đứng riêng một mình một miếng đất và không hề giống ai”.
Nh vậy, có thể nói rằng: Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mang những đặc
điểm riêng khá độc đáo, rõ nét, không lẫn với bất kì ai, thực sự tạo nên một phongcách riêng độc đáo - phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
1.3 Giới thuyết về so sánh tu từ
1.3.1 Về khái niệm so sánh tu từ
Về khái niệm so sánh tu từ, từ trớc đến nay đã đợc nhiều nhà phong cách học
đề cập đến, tuy có khác nhau về tên gọi (so sánh tu từ, so sánh hình ảnh hoặc sosánh nghệ thuật)
Nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa trong
cuốn Phong cách học tiếng Việt - NXB Giáo dục - H, 1982 cho rằng: "So sánh tu từ
Trang 16là sự đối chiếu hai đối tợng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tợng đặc điểm của một trong hai đối tợng đó".
Cũng đề cập đến so sánh tu từ nhng tác giả Nguyễn Thế Lịch trong Các yếu
tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật - tạp chí tiếng Việt 1/1988 lại nhấn mạnh đến
tính mục đích của so sánh tu từ, tác giả viết: “So sánh nghệ thuật thờng đợc biểu
hiện là một sự vật ra đối chiếu về một mặt nào đó đối với một sự vật khác loại nhng lại có đặc điểm tơng tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đa ra đó dễ dàng hơn”.
Còn tác giả Nguyễn Thái Hòa và Đinh Trọng Lạc trong một công trình viết
chung có tên: Phong cách học tiếng Việt [10] lại cho rằng tính cụ thể của hình ảnh, tính cảm xúc thẩm mỹ là hai yếu tố chủ yếu của so sánh tu từ: “So sánh là phơng
thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tơng đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của ngời đọc, ngời nghe”.
Nhng nói đến khái niệm so sánh tu từ không thể không kể đến khái niệm sosánh tu từ của tác giả Đinh Trọng Lạc Một khái niệm đợc hầu hết các nhà ngôn ngữ
thừa nhận: “So sánh (so sánh tu từ, so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ ngữ
nghĩa, trong đó ngời ta đối chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tợng” [9].
Nhìn lại các khái niệm trên ta thấy, tu có những cách gọi tên khác nhau, nhngnhững khái niệm đều có một cách hiểu chung đó là: so sánh tu từ là biện pháp tu từ,trong đó ngời ta đối chiếu, so sánh các sự vật, hiện tợng khác loại với nhau, nhằmtìm ra những nét giống nhau giữa chúng
1.3.2 Các yếu tố của so sánh tu từ
- ở dạng thức đầy đủ nhất, một so sánh tu từ có cấu tạo gồm 4 yếu tố
VD: Trời tối nh mực
(1) (2) (3) (4)+ Yếu tố (1): Yếu tố đợc (hoặc bị) so sánh
+ Yếu tố (2): Yếu tố thể hiện cơ sở so sánh (nêu rõ thuộc tính, trạng thái, hành
động của sự vật)
+ Yếu tố (3): Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh
+ Yếu tố (4): Yếu tố đa ra làm chuẩn để so sánh
- Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trờng hợp không đầy đủ cả 4 yếu tố
+ Có trờng hợp vắng yếu tố (1)
VD: Ướt nh chuột lột
Trang 17(Nhân tình tôi)+ Có trờng hợp vắng yếu tố (2):
VD: Cái tuổi 19, nh hoa xuân đợng nhị, nh trăng tròn đơng gơng.
(Nhân tình tôi)+ Có trờng hợp vắng cả yếu tố (1) và (2)
VD: Nh ma vào lng
(Bữa no… đòn)+ Có trờng hợp vắng yếu tố (3)
VD: Anh ta nhếch mép cời theo: một cái chớp nhoáng trong đêm hôm ba
mơi.
(Samadji I)Trong thực tế vận dụng các yếu tố có thể vắng hoặc đổi chỗ cho nhau, nhng
có một yếu tố không thể vắng đó là yếu tố (4) - yếu tố chuẩn so sánh
1.3.3 Đặc điểm của so sánh tu từ
a Tính cụ thể
Nh chúng ta đã biết, một trong những mục đích của so sánh là nhằm cụ thểhóa một thuộc tính của sự vật hoặc một trạng thái của hành động Vì vậy mà yếu tố
đợc chọn làm chuẩn so sánh luôn cụ thể
Chẳng hạn, cái trạng thái “mềm nhũn” của thằng ăn cắp khi bị đánh đau đợcNguyễn Công Hoan miêu tả cụ thể qua việc so sánh với “sợi bún”
VD: Nó mềm nh sợi bún, không dậy đợc
(Thằng ăn cắp)Tính cụ thể làm cho ngời đọc dễ dàng tiếp nhận điều tác giả định miêu tảthông qua so sánh ở những trờng hợp ấy yếu tố chuẩn so sánh đã cụ thể hóa những
điều đợc nêu trong yếu tố chỉ cơ sở so sánh Do vậy, giúp cho việc nhận thức về sựvật, hành động nêu ở yếu tố đợc so sánh rõ ràng hơn
b Tính biểu trng
Trong SSTT, yếu tố chuẩn so sánh càng mang đợc nhiều nét đặc trng, tiêubiểu cho thuộc tính của sự vật, trạng thái của hành động thì càng giúp ngời đọc, ngờinghe hiểu điều tác giả định nói dễ dàng hơn
Chẳng hạn, muốn nhấn mạnh trạng thái rách nát, nghèo khổ của ngời ăn màythì so sánh với “tổ đỉa” là một trong những so sánh hiệu quả nhất
VD: Nửa tháng sau nó lại đội nón rách cũ, lại khoác "cái khố tải xơ xác nh
tổ đỉa , ” lại ra phố Nối kiếm ăn
(Cái vốn để sinh nhai)
c Tính hình tợng
Trang 18So sánh tu từ là một cách hình tợng hóa thuộc tính của sự vật, trạng thái củahành động qua những hình ảnh làm chuẩn mới lạ, độc đáo Hay nói cách khác là, sosánh tu từ là hình thức biểu hiện bằng hình tợng, hình tợng càng hấp dẫn thì sánh tu
từ càng gây đợc ấn tợng đối với ngời đọc Để tạo nên những hình tợng đẹp ngời nghệ
sĩ ngôn từ phải có giác quan nhạy bén, phải có tâm hồn nhạy cảm tinh tế
VD: Ghê chửa! ông ấy tinh nh ma xó.
Đúng nh ý kiến của Pao lơ: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức” (dẫn theo Phong
cách học của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa).
VD: Mà càng thấy vắng bặt tin nhà, ruột anh càng rầu nh da, xót nh muối
(Kép t bền)
ở đây, nếu không có hình ảnh “da”, “muối” thì khó mà hình dung đợc cái tâmtrạng lo lắng, xót xa của anh T bền lúc này
Trang 19b Chức năng biểu cảm - cảm xúc
Bên cạnh chức năng nhận thức, so sánh tu từ còn biểu thị tình cảm, thái độ
đánh giả của tác giả trớc hiện thực đợc nói đến Hình ảnh, ngôn từ của so sánh tu từkhông hề khách quan mà trực tiếp thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với cuộc đời
Sự chọn lựa hình ảnh ở đây bao giờ cũng làm nổi bật cảm xúc
VD: Mỹ thuật nhất là cái ngực đầy nh cái ví của nhà t bản, nh cái óc cửa ông
Nghị trớc ngày họp hội đồng
(Samadji II)Với việc so sánh “cái ngực” một bộ phận kín đáo trên cơ thể ngời phụ nữ với
“cái ví” của nhà t bản và cái “óc” của ông Nghị đã thể hiện rõ thái độ của tác giả đốivới ngời đàn bà da đen dâm đãng này
Chơng 2 Cấu trúc so sánh tu từ (SSTT) trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng 2.1 Mô hình chung của SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tr-
+ Yếu tố 3: Yếu tố chỉ quan hệ so sánh (QHSS)
+ Yếu tố 4: Yếu tố chuẩn so sánh (CSS)
Chẳng hạn:
Ông ấy khỏe nh con vâm
ĐSS CSSS QHSS CSS
(Thằng ăn cắp) Tuy nhiên qua khảo sát cấu trúc sstt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan,chúng tôi thấy, sstt có thể đủ hoặc vắng một (hay một số) yếu tố, hoặc đảo trật tự
so sánh Điều này đợc cụ thể hóa trong các mô hình sau
2.1.1 Kiểu so sánh hoàn chỉnh
Qua khảo sát 124 truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng chúng tôithấy có 412 sstt Trong đó, số sstt có cấu trúc hoàn chỉnh là 257 trờng hợp(62,4%) So với Nam Cao thì đây là một con số hạn chế vì trong tổng số 353 SSTTtrong truyện ngắn của Nam Cao thì có tới 285 trờng hợp so sánh có cấu trúc dạngnày (80,7%)
Trang 20Giả sử ta gọi: M: là yếu tố đợc so sánh
a: là yếu tố chỉ cơ sở so sánh N: là yếu tố chuẩn so sánhThì ta có các mô hình cụ thể nh sau:
VD2: Trời vẫn tối đen nh mực
Kiểu so sánh này có 4 trờng hợp
VD1: Hú vía, từ đó ai nhứ tôi bằng mục văn nữ giới, tôi sợ hơn sợ chuột nhắt
Kiểu so sánh này có 13 trờng hợp
VD1: Những con giun đất màu đen to bằng ngón tay út nổi lềnh bềnh
(Chiếc quan tài)
So sánh tính chất “to” (a) của “con giun đất màu đen” (M) với “ngón tay út”(N) thực sự là một SSTT độc đáo, có sức ám ảnh lớn lao Nó không chỉ diễn tả đơcmức độ to lớn của con giun đất mà còn thể hiện đợc sự sợ hãi, kinh tởm của tác giảtrớc cảnh tợng đó
2.1.1.4 Kiểu so sánh : Ma bao nhiêu N bấy nhiêu
Có 3 trờng hợp:
Trang 21VD1: Ngoài kia tiếng gõ cửa mạnh bao nhiêu, trong này trống ngực tôi
mạnh bấy nhiêu.
(Samadji II)Bằng việc sử dụng cặp phụ từ hô ứng “bao nhiêu… bấy nhiêu” làm QHSS,Nguyễn Công Hoan đã tạo nên những SSTT thực sự ấn tợng với hiệu quả diễn đạtcao, không chỉ diễn tả đợc tính chất tơng ứng giữa các đối tợng so sánh mà còn diễntả đợc nhịp điệu, mức độ tơng ứng theo chiều hớng tăng dần
VD2: Tràng pháo tra hôm ấy nó tan xác bao nhiêu, thì ruột gan anh bị tan
tành bấy nhiêu.
(Nghĩ ngời ăn gió nằm ma)Nỗi đau đớn vì bị phụ tình của chàng trai đợc so sánh với sự tan tác của tràngpháo cới qua cặp phụ từ hô ứng “bao nhiêu… bấy nhiêu” đã giúp ngời đọc cảm nhận
đợc sự sâu sắc nỗi đau đớn đến tan nát cõi lòng của chàng trai bị phụ tình
2.1.2 Kiểu so sánh biến thể
Kiểu so sánh này trong truyện ngắn trớc cách mạng của Nguyễn Công Hoan
có 155 trờng hợp trong tổng số 412 SSTT (37,6%) So với Nam Cao thì đây là một tỷ
lệ lớn, vì trong tổng số 353 SSTT trong truyện ngắn của Nam Cao chỉ có 68 trờnghợp SSTT có cấu trúc dạng này (19,3%) Việc sử dụng kiểu cấu trúc này thờng gây
sự chú ý cho ngời đọc hơn bởi cách diễn đạt mới mẻ và ấn tợng
2.1.2.1 Kiểu so sánh không đầy đủ các yếu tố
có 144 trờng hợp, bao gồm các dạng cấu tạo cụ thể sau:
đây là gì
VD2: Nghe tin nh sét đánh ngang tai.
(Bố anh ấy chết)Cụm động từ “nghe tin” đợc so sánh trực tiếp với “sét đánh ngang tai” thôngqua QHSS “nh” đã giúp ngời đọc hình dung trạng thái của nhân vật khi nghe tin bốchết mặc dù không có yếu tố chỉ cơ sở so sánh
- Kiểu so sánh: M bằng N
VD1: Chỗ ở chỉ bằng cái lỗ mũi.
(Anh hùng tơng ngộ)
Trang 22ở ví dụ này không có yếu tố chỉ CSSS (a) mà chỉ có yếu tố M - yếu tố ĐSS(chỗ ở) cùng yếu tố CSS (cái lỗ mũi) và QHSS (bằng) nhng khi đọc nó ai cũng hiểu
ý tác giả dịch ở đây là gì? Đó là tính chất quá chật hẹp, nhỏ bé của chỗ ở nhà hàngxóm
VD2: Một việc bằng con muỗi
(Ông chủ báo chẳng bằng lòng)
So sánh “một việc” với “con muỗi” là một so sánh quen thuộc của ngời dânViệt Nam Và ở đây để diễn tả tính chất nhỏ bé vụn vặt của công việc, Nguyễn CôngHoan cũng dùng hình thức so sánh quen thuộc này
- Kiểu so sánh: M là N
VD1: Tôi cũng biết tình là dây oan.
(Anh hùng tơng ngộ)VD2: Ai hay mỗi đám cới là một vụ giết ngời, mà mỗi trái tim của đàn
bà là một con dao găm.
(Nghĩ ngời ăn gió nằm ma)Việc tạo ra những SSTT dạng này là một nỗ lực lớn của Nguyễn Công Hoan.Bởi mặc dù biết là khuyết yếu tố chỉ CSSS nhng mỗi chúng ta đều không biết phảitìm một từ hoặc cụm nào làm CSSS cho phù hợp, chính xác trong SSTT đó Chính vìvậy mà hiệu quả diễn đạt của những SSTT kiểu này đặc biệt lớn lao Nó có thể là ph-
ơng diện này, khía cạnh khác của yếu tố ĐSS, cũng có thể là bao gồm tất cả các
ph-ơng diện, các khía cạnh liên quan đến yếu ĐSS đều đợc so sánh với yếu tố chuẩn
- Kiểu so sánh: nh N
(Bữa no đòn)
ở ví dụ trên chỉ có hai yếu tố là yếu tố chỉ QHSS (nh) và yếu tố CSS (ma vào
đầu), còn các yếu tố khác đều bị khuyết Tuy nhiên, nó vẫn là những từ SSTT tồn tại
độc lập, là một câu tách biệt vì dụng ý nghệ thuật của tác giả Và ở đây, để nhấnmạnh sự khốn khổ, đau đớn mà thằng bé ăn mày phải chịu đựng, cũng nh nhằm tố
Trang 23cáo sự độc ác, tàn nhẫn của ngời đời khi cứ giáng từng trận ma đòn gánh, từng trận
ma đấm, đá, thụi, bịch xuống ngời thằng bé này
- So sánh: Ma: (;) N
VD: Quan ông vừa nói tiếp, vừa lả lơi cời, rồi ôm chầm lấy quan bà: một
con nhái bén bám vào một quả da chuột.
(Đàn bà là giống yếu)Với việc tạo ra một SSTT có tính chất đối chọi, trực tiếp nh vậy, Nguyễn CôngHoan đã dõng dạc lên án, tố cáo, mỉa mai thói dâm dục của bọn ngời thuộc tầng lớptrên trong xã hội đơng thời
Trên cơ sở những mô hình cấu trúc này chúng tôi đi vào miêu tả một cách cụthể cấu trúc của từng yếu tố trong SSTT trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoantrớc cách mạng để có đợc một cái nhìn tổng quát về SSTT trong tác phẩm của ông
2.1.2.2 Kiểu so sánh thay đổi số lợng các yếu tố: Ma nh N 1 , N 2 , N 3 …
Có 7 trờng hợp:
VD1: Mỹ thuật nhất là cái ngực đầy nh cái ví của nhà t bản , nh cái óc
của ông Nghị tr ớc ngày họp hội đồng
(Samadji I)
ở ví dụ này: M là “cái ngực”, a là “đầy” đợc so sánh với hai yếu tố đó là : N1
“cái ví của nhà t bản” và N2 "cái óc của ông Nghị trớc ngày họp hội đồng" giúp ngời
đọc hiểu đợc một cách thấu đáo, sâu sắc dụng ý nghệ thuật của tác giả, đây là mộtSSTT giàu chất khẳng định
VD2: Con ngựa chạy nh băm nh bổ
(Con ngựa già)
So sánh trạng thái chạy của con ngựa với cả hoạt động “băm” và “bổ”,Nguyễn Công Hoan đã diễn tả đợc mức độ hung dữ của con ngựa già
2.1.2.3 Kiểu so sánh đảo: nh N Ma
Có 4 trờng hợp:
VD: Mèo ra mất rồi, nh nghe tiếng sét, ông bàng hoàng
(Quyền chủ)Với việc đảo vị trí giữa các yếu tố, đa yếu tố CSS lên trớc, Nguyễn Công Hoan
đã tạo nên những SSTT có sức tác động mạnh mẽ, gây đợc sự chú ý của độc giảngay từ đầu vì kết cấu mới lạ, để lại ấn tợng mạnh cho ngời đọc
2.2 Các yếu tố của SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng
Trang 242.2.1 Yếu tố đợc so sánh (ĐSS)
Khảo sát 412 SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạngchúng tôi thấy: cấu trúc của yếu tố ĐSS không thuần nhất, có khi yếu tố ĐSS là từcũng có khi là cụm từ hoặc là một cấu C - V Tần số xuất hiện của chúng đợc trìnhbày cụ thể nh sau:
(25,4 %)
142(37,6 %)
140(37,0 %)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, yếu tố ĐSS là cụm từ và là kết cấu C - V có tần
số xuất hiện gần bằng nhau (chỉ chênh lệch 2 trờng hợp) và chiếm tỉ số cao, còn yếu
ĐSS là từ có số lần xuất hiện thấp nhất chỉ có 96 trờng hợp trên tổng số 378 SSTT
2.2.1.1 Yếu tố ĐSS là "từ".
Có 96 trờng hợp chia thành 3 tiểu loại
a Yếu tố ĐSS là danh từ
Có 62 trờng hợp:
- Yếu tố ĐSS là danh từ chỉ ngời, bộ phận cơ thể ngời
VD1: Cô Xuyến tơi nh cái hoa, đứng cạnh đèn, đếm tiền
(Cái thú tổ tôm)
Ví dụ trên đủ cả 4 yếu tố: Yếu tố ĐSS, yếu tố CSSS, yếu tố QHSS và yếu tốCSS Trong đó yếu tố ĐSS là danh từ chỉ tên riêng: Cô Xuyến Thông qua SSTT tácgiả muốn nhấn mạnh cái vẻ đẹp tơi tắn, vui vẻ toát ra từ tâm hồn khỏe khoắn, vui vẻcủa cô gái
VD2: Tóc thì bồng bềnh nh tổ quạ
(Thằng ăn cắp)
Ví dụ trên đây cũng đầy đủ cả 4 yếu tố và yếu tố đợc so sánh ở đây là chỉ bộphận cơ thể ngời: "Tóc", và việc tạo nên các SSTT này, tác giả muốn nhấn mạnh đếntình trạng mà nhân vật phải chịu đựng
- Yếu tố ĐSS là danh từ chỉ vật
VD1: Quần áo lấm nh chôn nh vùi.
(Mua bánh)VD2: Quan tài nh chiếc thuyền đáy phẳng, nó bập bềnh.
Trang 25(Chiếc quan tài)
ở hai ví dụ trên, bằng việc sử dụng SSTT, Nguyễn Công Hoan đã miêu tả làm
rõ trạng thái của từng nhân vật trong những hoàn cảnh cụ thể, nhất định: Đó là trạng
thái dơ bẩn của "quần áo" và trạng thái nổi trôi, vô định của "chiếc quan tài" cũng
nh của kiếp ngời
- Yếu tố ĐSS là danh từ chỉ thiên nhiên
VD: Trời tối nh mực.
(Sóng vũ môn)
Đây là một SSTT quen thuộc của ngời dân Việt Nam Để diễn tả mức độ tốităm của bầu trời đêm thì so sánh với “mực” là hiệu qua nhất, giúp con ngời đọc cảmnhận đợc rõ ràng, cụ thể mức độ đó qua thực tế
- Yếu tố ĐSS là danh từ chỉ động vật
VD1: Con ngựa chạy nh băm nh bổ.
(Con ngựa già)
VD2: Tay lể mể xách con chó mềm nh sợi bún, anh ta sấn lên đi trớc.
(Chuyện chó chết)
ở hai ví dụ trên, yếu tố ĐSS là danh từ chỉ động vật: “Con ngựa”, “con chó”
Và qua SSTT, Nguyễn Công Hoan nhằm lột tả trạng thái hoạt động của từng con vậttrong những hoàn cảnh cụ thể
- Yếu tố ĐSS là danh từ chỉ khái niệm trừu tợng
VD: Văn ch ơng sáng quắc nh ban ngày
(Ông chủ báo chẳng bằng lòng)
So sánh mức độ “sáng quắc” (lu loát, mạch lạc, giàu cảm xúc) của “văn
ch-ơng” với “ban ngày” là một so sánh độc đáo, một sự liên tởng mới lạ Từ một kháiniệm trừu tợng “văn chơng” tác giả cụ thể hóa bằng ngày, giờ cụ thể, giúp ngời đọchình dung đơc rõ hơn chất lợng văn chơng của những bài báo đợc đăng
b Yếu tố ĐSS là động từ
Có 6 trờng hợp
VD1: Hát nh con cuốc kêu thơng
(Anh Xẩm)Với việc so sánh hoạt động "hát" của anh Xẩm, với "con cuốc kêu thơng"Nguyễn Công Hoan không chỉ diễn tả đợc tình trạng ủ ê, rời rạc trong lời hát củaanh Xẩm mà còn phần nào thể hiện đợc cuộc đời ảm đạm thê lơng của anh
VD2: ăn nh tằm ăn rỗi
(Cái nạn ôtô II)
Trang 26Yếu tố ĐSS “ăn” đợc so sánh với “tằm ăn rỗi” đã lột tả hành động ăn uốngcủa bọn quan lại, tay sai…khi kéo đến nhà ông Chánh Năng ăn khao xe…
c Yếu tố ĐSS là đại từ
Có 28 trờng hợp đợc chia thành 4 tiểu nhóm sau:
- Yếu tố đợc so sánh là đại từ ngôi 1 số ít
VD1: Tôi ù ù cạc cạc nh vịt nghe sấm.
(Xin chữ cụ Nghè)VD2: Hôm nào đợc một vài đứa mới xin vào thì tôi vui vẻ, mà hôm nào
chúng nghỉ thì tôi ủ rủ nh chiếc khăn lau bảng đen nhúng nớc.
(Godautre)
Tự đem mình ra so sánh với một đối tợng khác loại nhằm diễn tả trạng tháicủa mình trong những hoàn cảnh nhất định là một hiện tợng đặc biệt chỉ có thể bắtgặp trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
- Yếu tố ĐSS là đại từ ngôi 2 số ít
VD1: Mày dại nh con cầy.
(Cái chết của các nhà đại văn hào)VD2: Nghĩa là anh phải nh cái máy
(Cái lò gạch bí mật)Vận dụng hình thức so sánh của dân gian, Nguyễn Công Hoan đã tạo nênnhững SSTT quen thuộc, gần gũi với độc giả, giúp ngời đọc tiếp nhận thông tin dễdàng, nhanh chóng
- Yếu tố ĐSS là đại từ ngôi 3 số ít
- Yếu tố ĐSS là đại từ ngôi 3 số nhiều
VD: Chúng nó ngu nh lợn.
(Tinh thần thể dục II)Qua các SSTT trên ta thấy, các SSTT có yếu tố ĐSS là đại từ thờng là nhữnglời chửi, những lời miệt thị Điều này cho thấy, hiện thực cuộc sống và con ngời ViệtNam đầu thế kỉ XX qua cái nhìn của Nguyễn Công Hoan thật khổ sở, đáng tội
2.2.1.2 Yếu tố ĐSS là cụm từ
Trang 27Khảo sát 412 SSTT trong 124 truyện ngắn trớc cách mạng của Nguyễn CôngHoan chúng tôi thấy: Số SSTT có yếu tố ĐSS là cụm từ có 142 trờng hợp, trong đócụm danh từ xuất hiện nhiều hơn cả, tiếp đến là cụm động từ, không có cụm tính từ.
a Yếu tố ĐSS là cụm danh từ (DT)
Có 114 trờng hợp đợc chia thành 4 tiểu loại sau:
- Yếu tố ĐSS là cụm danh từ có danh từ trung tâm chỉ ngời, bộ phận cơ thể
ngời
VD1: Vợ cả cậu nh con s tử cái.
(Oẳn tà rroằn)
VD2: Rồi, dới bộ râu mép nh một cái mũ nồi úp chụp lấy cái miệng chúm
chím, quan để ra một nụ cời móm.
(Đàn bà là giống yếu)
- Yếu tố ĐSS là cụm danh từ có danh từ trung tâm chỉ vật - sự vật
VD: ng áo lụa của bà L phồng lên nh cánh buồm.
(Phành! phạch)Qua việc so sánh “lng áo lụa của bà” với “cánh buồm” tác giả không chỉnhằm diễn tả hình dáng của chiếc áo lụa khi đợc con bé khốn khổ quạt mạnh mà cònngầm ẩn ý nghĩa tố cáo bọn ngời cậy có quyền có tiền mà hành hạ kẻ ăn ngời ở mộtcách tàn nhẫn
- Yếu tố ĐSS là cụm danh từ có danh từ trung tâm chỉ hiện tợng thiên nhiênVD1: Một trận m a nh trút nớc giáng xuống.
(Tôi nói dối bà thì tôi làm kiếp…)
VD2: Rồi khoảng đêm tr ờng nh miếng vải đen…đậy kín lấy từng phiến
thịt
(Bà chủ mất trộm)
- Yếu tố ĐSS là cụm danh từ có danh từ trung tâm chỉ khái niệm trừu tợng
VD: Sự xấu tốt với phong trào d luận xã hội nh là làn khói trớc ngọn gió to,
chỉ đánh loáng là không ai trông thấy nữa.
(Oẳn tà rroằn)Bằng việc so sánh một khái niệm trừu tợng với một hiện tợng trừu tợng khác,Nguyễn Công Hoan đã tạo nên một SSTT có màu sắc riêng, độc đáo, đòi hỏi sự vận
động trí tuệ và khả năng tởng tợng, hình dung của ngời đọc phải ở mức độ cao
b Yếu tố ĐSS là cụm động từ
Trang 28Tuy chỉ có 28 trờng hợp trong tổng số 142 SSTT có yếu tố ĐSS là cụm từ
nh-ng số SSTT có yếu tố ĐSS là cụm độnh-ng từ này cũnh-ng góp phần làm nên sự đa dạnh-ng,phong phú cho SSTT trong tác phẩm Nguyễn Công Hoan
VD: Nghe câu nói sau cùng nh đợc ăn bánh thánh anh T Bền có vẻ nghĩ
ngợi nhìn cha.
(Kép T Bền)
"Nghe câu nói sau cùng" của ông chủ rạp hát rằng: "Cậu cứ ở nhà mà học vở
đến hôm diễn thử lần cuối, cậu hãy đến rạp cũng đợc", Anh T Bền cảm thấy nhẹnhõm, thanh thản nh "đợc ăn bánh thánh"
2.2.1.3 Yếu tố ĐSS là kết cấu C - V
Yếu tố ĐSS là một kết cấu C - V đợc chia thành 5 tiểu loại nh sau:
a Yếu tố ĐSS là một kết cấu C - V có C là danh từ, V là động từ
VD1: ời Ng // xem đông nh kiến cỏ.
C: Danh từ chỉ ngờiV: Động từ
VD2: ớc N // chảy ào ào nh thác.
V: Động từ tự thânVD2: Bốn thân hình // nằm lù lù nh bốn cái mả.
C V (Cái tết của các nhà đại văn hào)C: Cụm danh từ chỉ ngời
V: Động từ biểu thị hoạt động tự thân
c Yếu tố ĐSS là một kết cấu C - V có C là cụm danh từ, V là cụm động từ
VD: Thằng ấy // cắm đầu cắm cổ chạy, nhanh nh mũi tên.
C V (Thằng ăn cắp)C: Cụm danh từ chỉ ngời
V: Cụm động từ có động từ trung tâm biểu thị ý nghĩa tự thân
d Yếu tố ĐSS là một kết cấu C - V có C là cụm danh từ, V là cụm tính từ
Trang 29VD: Một cái áo dài // sặc sỡ, chi chít những hoa là hoa, vẽ rắc rối nh thời
cục nớc tàu.
(Cô Kếu)C: Cụm danh từ chỉ vật
V: Cụm tính từ chỉ tính chất, đặc điểm
e Yếu tố ĐSS là một kết cấu C - V có C là đại từ, V là động từ
VD1: Nhng mỗi khi trở trời thì, khốn nạn thân nó, nó // thấy đau nh dần ở cái
khớp xơng bã vai và đầu gối. C V
(Cái vốn để sinh nhai)C: Đại từ chỉ thị ngôi thứ 3 số ít
V: Động từ cảm nghĩ nói năngVD2: Chúng tôi // ngồi câm nh thóc.
C V (Cái lò gạch bí mật)
C: Đại từ nhân xng ngôi một số nhiềuV: Động từ biểu thị hoạt động
* Bên cạnh những SSTT có yếu tố ĐSS thì qua khảo sát SSTT trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng, chúng tôi còn thấy có sự tồn tại củanhững SSTT vắng yếu tố ĐSS Cụ thể là có 34 trờng hợp vắng yếu tố ĐSS trên tổng
số 412 SSTT (8,2%)
VD1: Chậm nh sên
(Thanh! dạ!)VD2: Nhanh nh cắt
(Thiếu Hoa)Vắng yếu tố ĐSS làm cho SSTT trở nên đặc biệt hơn, tạo đợc sự chú ý nhiềuhơn của ngời đọc Tuy nhiên, phải đặt vào trong văn cảnh mới hiểu đợc điều tác giảcần diễn đạt, đi cùng với đó là hiện tợng gánh nặng cấu trúc cũng nh gánh nặng ngữnghĩa của SSTT lại phải dồn lên yếu tố chỉ CSSS làm nổi bật rõ tính chất, trạng thái
Trang 30- Thứ hai, yếu tố chỉ CSSS có thể là động từ hoặc tính từ Tuy nhiên, yếu tốchỉ CSSS là tính từ giữ vai trò chủ yếu với số lợng lớn: 212 trờng hợp trên tổng số
ăn cắp hai xu bún riêu
- Yếu tố chỉ CSSS là tính từ chỉ màu sắc
VD1: Thằng Cam thở hồng hộc, mặt xám nh con gà cắt tiết…
(Giết nhau)Qua việc so sánh màu “xám” của sắc mặt thằng Cam với “con gà cắt tiết”,Nguyễn Công Hoan đã diễn tả thành công cái vẻ mặt sợ sệt, khiếp hãi của thằngCam khi bị ngời bạn của chủ mắng
VD2: Đã vậy, tôi vẫn phải cời với bạn, nhng cái cời vàng nh miếng nghệ.
(Samadji I)Với việc dùng màu “vàng” để làm phơng diện so sánh của cái cời, NguyễnCông Hoan đã thực sự tạo nên một SSTT độc đáo, có khả năng biểu đạt cao, có sức
ám ảnh lớn đối với độc giả