ở cuốn sách này, tác giả đã khái quát các phơng diệncơ bản của thành ngữ tiếng Việt về đặc trng cấu trúc, ngữ nghĩa, phân biệtthành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Vâ thÞ diÖu hång
CÊu t¹o, ng÷ nghÜa vµ viÖc sö dông
líp thµnh ng÷ h¸n - viÖt trong ng«n ng÷ viÕt
Trang 2Trớc hết, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Văn Minh-ngời đã trực tiếp hớng dẫn tận tình chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Chúng tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô trong tổ ngôn ngữ của trờng Đại học Vinh đã có nhiều đóng góp và hớng dẫn khoa học giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp kết thúc khóa học, chúng tôi xin chân thành cảm ơn khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, Trờng Đại học Vinh, tập thể cao học XVI Lí luận ngôn ngữ đã tạo
điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã thờng xuyên an ủi, động viên chúng tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn.
Do những điều kiện khách quan và chủ quan luận văn có thể còn những
điểm cần bàn Chúng tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô và bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2010
Ngời thực hiện: Võ Thị Diệu Hồng
MụC LụC
Trang
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng nghiên cứu 6
4 Phơng pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 7
6 Bố cục của luận văn 8
Chơng 1: giới thuyết liên quan đến đề tài
Trang 31.1 Xung quanh khái niệm thành ngữ
1.1.1 Về định nghĩa thành ngữ 9
1.1.2 Về việc phân loại thành ngữ 11
1.1.3 Về nghĩa của thành ngữ 16
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 18
1.1.5 Giá trị sử dụng của thành ngữ trong hoạt động ngôn ngữ 24
1.2 Lớp thành ngữ Hán -Việt 1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt và việc mợn từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt 26
1.2.2 Lớp thành ngữ Hán - Việt 35
1.3 Tiểu kết chơng 1 36
Chơng 2: cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việtViệt trong tiếng việt 2.1 Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Hán - Việt 2.1.1 Khái quát về cấu tạo của thành ngữ Hán - Việt 38
2.1.2 Các dạng cấu trúc của thành ngữ Hán - Việt 41
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt 2.2.1 Khái quát về nghĩa của thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt 50
2.2.2 Các kiểu Việt hóa về nghĩa của thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt 52
2.3 Tiểu kết chơng 2 64
Chơng 3: Việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt trong ngôn ngữ viết Tiếng Việt
3.1 Việc dùng thành ngữ Hán - Việt trong thơ Nôm trung đại 3.1.1 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nôm trung đại 65
3.1.2.Th nh ngữ Hán - Việt trong thơ Nôm trung đại 67
3.2 Thành ngữ Hán - Việt trong văn chính luận tiếng Việt 3.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ văn chính luận tiếng Việt 79
3.2.2 Hồ Chí Minh dùng thành ngữ Hán - Việt trong văn chính luận 80
3.3 Tiểu kết chơng 3 93
Kết luận 95
Tài liệu tham khảo 97
Phụ lục 101
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt và tiếng Hán cùng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, cólịch sử phát triển lâu đời Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu diễn ra từvài thế kỷ trớc Công nguyên và đã kéo dài hàng ngàn năm Qua quá trình tiếpxúc đó, bên cạnh việc mợn rất nhiều từ ngữ của tiếng Hán để góp phần làmphong phú, đa dạng kho từ vựng tiếng Việt, ngời Việt còn mợn từ tiếng Hánmột số lợng khá lớn thành ngữ Những thành ngữ gốc Hán này khi đã đợc mợnvào tiếng Việt đợc gọi là lớp thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt và trở thành một bộ phận
đáng kể trong kho thành ngữ tiếng Việt Đến nay, bộ phận thành ngữ thuầnViệt đã đợc su tầm, giới thiệu và đợc nghiên cứu tơng đối toàn diện (cấu trúc,ngữ nghĩa, giá trị sử dụng, ); trong khi lớp thành ngữ Hán - Việt cha đợcViệt ngữ học quan tâm đầy đủ Vì thế, việc khảo sát lớp thành ngữ Hán - Việt
là cần thiết, nhằm xác định sự tơng đồng và khác biệt giữa lớp thành ngữ này
và bộ phận thành ngữ thuần Việt, mặt khác thấy đợc khả năng và giá trị củachúng trong hoạt động ngôn ngữ của ngời Việt
1.2 Là một đơn vị trong hệ thống từ vựng, các thành ngữ thuần Việt vàHán –Việt trong tiếng việt Việt đều có tính cố định về cấu trúc và ngữ nghĩa Tuy vậy, khi đợcngời Việt mợn vào để sử dụng, các thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt đã chịu những tác
động nhất định của quy luật tiếng Việt Có những biến đổi nào đã xảy ra vềcấu trúc và ngữ nghĩa ở lớp thành ngữ này để chúng tồn tại và đợc sử dụng
hiệu quả trong tiếng Việt, nhất là trong ngôn ngữ viết? Đề tài luận văn Cấu
tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng lớp thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt nhằm góp phần trả lời câu hỏi đó.
Trang 52 Lịch sử vấn đề
Cũng nh tục ngữ, thành ngữ thuộc loại đơn vị ngôn ngữ “làm sẵn” (vớinghĩa: chúng đã đợc tiền nhân tạo ra từ bao giờ đó; các thế hệ sau đã có sẵn đểdùng) Cũng nh từ, thành ngữ là một loại đơn vị từ vựng Nhng so với từ, thànhngữ có những khác biệt cả về hình thức lẫn nội dung Đến nay, thành ngữtiếng Việt đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu từ những góc độkhác nhau Dới đây, chúng tôi điểm lại lịch sử vấn đề nghiên cứu thành ngữtrong tiếng Việt theo ba hớng
2.1 Việc su tầm, biên soạn và nhận diện đơn vị thành ngữ tiếng Việta) Việc nhận diện, su tầm, biên soạn về thành ngữ trong nghiên cứuVăn học dân gian
Có lẽ công trình đầu tiên nghiên cứu thành ngữ ở nớc ta là cuốn “Về
tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh (1921) Trong đó, thành ngữ đợc Phạm
Quỳnh nhắc đến trong sự đối chiếu, so sánh với ca dao, tục ngữ Trong “Việt
Nam văn học sử yếu” (Dơng Quảng Hàm - 1951), ở phần đầu (Tìm hiểu về văn chơng bình dân), tác giả đã xác định sự khác nhau giữa thành ngữ và tục
ngữ; từ đó chỉ ra 2 đặc trng của thành ngữ tiếng Việt: a) Thành ngữ là đơn vịngôn ngữ tồn tại dới dạng sẵn có (mang tính tái hiện); b) Chức năng của thànhngữ là định danh (có cùng chức năng với từ, nhng khác với từ cách thức địnhdanh của thành ngữ bao giờ cũng mang màu sắc, hình ảnh có tính ẩn dụ)
Ngoài ra còn phải kể đến công trình “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của
Vũ Ngọc Phan (1971)
Đây là những công trình nghiên cứu lớn về Văn học dân gian, trong đócác tác giả đều chỉ ra những nét cơ bản nhất của thành ngữ, giúp ngời đọc cóthể nhận diện đơn vị này và tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu khác tiếp tụctìm hiểu đầy đủ các đặc trng khác của thành ngữ tiếng Việt
b) Từ góc độ ngôn ngữ học, nhiều tác giả đã góp phần minh định kháiniệm về đơn vị thành ngữ một cách cụ thể, rõ ràng hơn, nhất là qua việc phânbiệt thành ngữ và tục ngữ (hai đơn vị “làm sẵn” có những điểm gần gũi nhau)
Trong bài báo “Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ” (Tạp chí Ngôn
ngữ - 1972), Nguyễn Văn Mệnh nhấn mạnh: cần phải tìm cho ra ranh giới rõ
ràng giữa thành ngữ và tục ngữ Theo tác giả, cần dựa vào hai tiêu chí nộidung ngữ nghĩa và hình thái ngữ pháp để phân biệt thành ngữ và tục ngữ Nộidung của thành ngữ là tính hình ảnh; còn nội dung của tục ngữ là quy tắc, quy
Trang 6luật Về hình thái ngữ pháp, nói chung thành ngữ là cụm từ chứ không phải làcâu; còn tục ngữ thì ngợc lại, bất kỳ tục ngữ nào cũng là câu
Trong bài viết: “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ“ (1973),
Cù Đình Tú cũng cố gắng phân định thành ngữ và tục ngữ Theo ông, thànhngữ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, thực hiện chức năng định danh, đợc sử dụng đểgọi tên hiện tợng, tính chất, hành động Về phơng diện này, thành ngữ tơng đ-
ơng với từ; còn tục ngữ cũng nh những văn bản khác của sáng tác dân gian(nh ca dao, truyện cổ tích) luôn luôn có những thông báo
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì khẳng định: Tục ngữ là một cấu trúc cố
định trong đó nêu lên một cách đầy đủ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hộicủa nhân dân lao động; quán ngữ là một cấu trúc cố định đợc sử dụng nhiềulần với những phong cách, chức năng nhất định; còn thành ngữ là đơn vịtrung gian giữa một bên là quán ngữ, một bên là tục ngữ Nguyễn Thiện Giáp
đã dựa vào sự đối lập về hình thái và nội dung để phân biệt giữa thành ngữ vàtục ngữ
Mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt là việc
Nguyễn Lực và Lơng Văn Đang xuất bản cuốn Thành ngữ tiếng Việt (1976).
Tuy các soạn giả cha su tập hết các thành ngữ tiếng Việt nhng đây là mộtnguồn ngữ liệu rất bổ ích đối với việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt mộtcách hệ thống và chuyên sâu hơn Trong lời nói đầu, các soạn giả nêu quan
điểm về thành ngữ: giới hạn bên dới của thành ngữ là cụm từ gồm hai từ, còngiới hạn bên trên là câu; thành ngữ là đơn vị từ vựng trung gian nằm giữa haigiới hạn đó
Nh vậy, khi phân định thành ngữ và tục ngữ, các tác giả trên đều dựavào những đặc điểm sau đây của các đơn vị ngôn ngữ này: cấu trúc hình thái,nội dung ngữ nghĩa và chức năng của chúng trong hệ thống ngôn ngữ
2.2 Việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt nói chung trên các mặt: cấutạo, ng333ữ nghĩa và sử dụng
Trớc hết, có thể nhận thấy điều này trong nhiều giáo trình hoặc chuyên
luận về từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (chẳng hạn: Vấn đề cấu tạo từ của
tiếng Việt hiện đại (Hồ Lê 1976); Từ và vốn từ tiếng Việt (Nguyễn Văn Tu
-1985); Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (Đỗ Hữu Châu - 1987), Từ vựng ngữ
nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1999); Từ vựng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện
Giáp - 1998), v.v ) Trong những sách trên, các tác giả đều bàn về cụm từ cố
định nói chung và minh định khái niệm thành ngữ nói riêng
Trang 7Nguyễn Văn Tu (Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại - 1985) dùng cả
ch-ơng 7 để khảo sát những vấn đề về cụm từ cố định (thành ngữ) Sau khi nêukhái niệm về thành ngữ, tác giả đã dựa vào kết cấu ngữ pháp để chia thànhngữ thành hai loại chính: thành ngữ có hình thức nh câu đơn giản và thành ngữ
có hình thức nh câu phức hợp Tác giả tiếp tục chia nhỏ thành ngữ ra các cáctiểu loại Khác với những ngời khác xem thành ngữ chỉ là những cụm từ cố
định, Nguyễn Văn Tu xem thành ngữ là đơn vị thuộc bậc câu, nhng phần lớn
là những câu rút gọn
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt- 1998), dành khá
nhiều trang ở Chơng 1 để nêu khái niệm và đi sâu phân loại thành ngữ tiếngViệt Bằng việc phân biệt thành ngữ hoà kết và thành ngữ hợp kết, đồng thờiphân biệt ngữ định danh và cụm từ tự do, tác giả đã chỉ ra đợc nhiều đặc trng
về cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Có thể kể thêm một số tài liệu khác: “Về tính biểu trng của thành ngữ trong tiếng Việt” (Bùi Khắc Việt - 1978), “Tính biểu trng của thành ngữ tiếng Việt ” (Phan Xuân Thành - 1999), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho
tàng ca dao ngời Việt (Nguyễn Nhã Bản - 2003), v.v
Trớc khi xuất bản chuyên khảo Thành ngữ học tiếng Việt (2004), tác giả Hoàng Văn Hành cũng đã có các bài viết nh: “Suy nghĩ về cách dùng thành ngữ qua văn thơ Hồ Chủ tịch ” (1973), “Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hoá
đối xứng” (2001); “Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng trong tiếng Việt”
(2003) Cho đến nay, Thành ngữ học tiếng Việt là công trình chuyên sâu nhất
về thành ngữ tiếng Việt ở cuốn sách này, tác giả đã khái quát các phơng diệncơ bản của thành ngữ tiếng Việt về đặc trng cấu trúc, ngữ nghĩa, phân biệtthành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá và việc sử dụngthành ngữ trong giao tiếp Cuốn sách đã tạo một cơ sở lý thuyết đáng tin cậycho những ai muốn tiếp tục khám phá kho tàng thành ngữ của dân tộc Việt vàcủa từng địa phơng
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất rằng thành ngữ là đơn vị ngônngữ tơng đơng với từ nhng có những đặc điểm riêng về cấu tạo, ngữ nghĩa vàkhả năng sử dụng
Gần đây, thành ngữ đã là đề tài nghiên cứu của khá nhiều khóa luậnhoặc luận văn tốt nghiệp ngành Ngữ văn Chẳng hạn, ở Trờng Đại học Vinh đã
có những đề tài nh: Khảo sát cấu trúc thành ngữ tiếng Việt (Lê Thị Hải Vân, Khóa luận - 2006), Thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa trong tiếng
Việt (Trần Anh T, Luận văn - 2004), Hình ảnh biểu trng trong thành ngữ so
Trang 8sánh tiếng Việt (Bùi Thị Thi Thơ, Luận văn - 2006), Thành ngữ trong Truyện Kiều (Trần Thị Loan, Luận văn - 2005), Cách sử dụng thành ngữ trong các bài nói, bài viết của Hồ Chủ tịch (Nguyễn Thị Thúy Hòa, Luận văn -2005),
Các đề tài nh trên ngoài việc xác định khái niệm, đặc điểm cấu trúc - ngữnghĩa của thành ngữ đều tập trung chứng minh vai trò sử dụng của thành ngữtrong tác phẩm văn học Việt Nam
2.3 Những năm gần đây, một số ngời đã quan tâm đến lớp thành ngữ Hán Việt Tuy nhiên phần lớn đó là những công trình su tập và giải nghĩa các thành
-ngữ gốc Hán Chẳng hạn: Từ điển giải thích thành -ngữ gốc Hán (Nh ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành - 1994), Từ điển thành ngữ, tục ngữ
Hán Việt (Nguyễn Văn Hằng, Trần Thanh Liêm - 2005) Các nghiên cứu
chuyên sâu về lớp thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt còn ít; đó thờng là những bài viếtnhỏ lẻ, hoặc là một chơng, một mục trong giáo trình về tiếng Việt Chẳng hạn,
“Bình diện ngôn ngữ văn hoá xã hội của các thành ngữ gốc Hán” (Nguyễn
Văn Khang, Văn hoá dân gian - số 1/1994) Hoặc trong Từ điển thành ngữ
tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lơng Văn Đang - 1993) có những đề cập nhỏ đến bộ
phận thành ngữ Hán - Việt
Có thể nói, đến nay cha có công trình nào nghiên cứu lớp thành ngữ
Hán –Việt trong tiếng việt Việt một cách hệ thống và chi tiết Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Cấu
tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng lớp thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt với dụng ý qua đó có đợc cái nhìn đầy đủ và kỹ càng hơn về lớp
thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt, nhất là những biến đổi của chúng dớitác động của tiếng Việt khi chúng đợc mợn vào ngôn ngữ này
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
3.1 Mục đích
Qua khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa và việc sử dụng lớp thành ngữ Hán–Việt trong tiếng việt Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt, đề tài góp phần vào tiến trình nghiêncứu về kho tàng thành ngữ phong phú và đa dạng của dân tộc Việt
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt đến mục đích nói trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Xác định khái niệm thành ngữ Hán - Việt; su tập, thống kê và phânloại lớp thành ngữ Hán - Việt về mặt cấu tạo; xác định điểm tơng đồng vàkhác biệt về cấu tạo giữa lớp thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt và bộ phận thành ngữthuần Việt
Trang 9- Khảo sát - so sánh cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp thành ngữ Hán - Việtvới các thành ngữ Hán nguyên ngữ để xác định điểm bất biến và khả biến củathành ngữ Hán - Việt khi đợc mợn vào hệ thống từ vựng tiếng Việt.
- Khảo sát - phân tích việc sử dụng lớp thành ngữ Hán - Việt trong một
số phong cách chức năng của ngôn ngữ viết tiếng Việt (văn chính luận Hồ ChíMinh, thơ Nôm trung đại) để minh chứng cho giá trị sử dụng của lớp thànhngữ này
3.3 Đối tợng nghiên cứu
Các thành ngữ Hán Việt có trong các tài liệu: 1- Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lơng Văn Đang - 1993); 2- Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt
Nam ( Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào - 2008); 3- Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán (Nh ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành –Việt trong tiếng việt 1994).
Ngoài ra, chúng tôi còn dùng Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán Việt (Nguyễn
Văn Hằng, Trần Thành Liêm - 2005) để đối chiếu giữa thành ngữ Hán - Việt
và thành ngữ Hán nguyên ngữ để tìm hiểu những biến đổi của chúng khi đivào tiếng Việt
Để nghiên cứu việc sử dụng thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt trong ngôn ngữ viết
tiếng Việt, chúng tôi chọn Tuyển tập văn chính luận (Hồ Chí Minh), Quốc âm
thi tập (Nguyễn Trãi) và Truyện Kiều (Nguyễn Du) làm tài liệu khảo sát
Trang 10Là đề tài đầu tiên nghiên cứu về cấu tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng củalớp thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt, luận văn góp phầnvào tiến trình nghiên cứu về kho tàng thành ngữ tiếng Việt nói chung (với sựphong phú về số lợng, đa dạng về kiểu loại cấu tạo, ngữ nghĩa và cả về nguồngốc).
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục (danh sách thành ngữ Hán - Việt),phần Nội dung của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán - Việttrong tiếng Việt
Chơng 3: Việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt trong ngôn ngữ viết tiếngViệt
Chơng 1GIớI THUYếT LIÊN QUAN ĐếN Đề TàI1.1 Xung quanh khái niệm thành ngữ
1.1.1 Về định nghĩa thành ngữ
Thành ngữ là một đơn vị khá đặc biệt và cũng hết sức phức tạp củangôn ngữ Việc tìm ra những tiêu chí cụ thể, xác đáng để xác định khái niệm
về thành ngữ là điều không đơn giản vì vậy cho đến nay vẫn cha có khái niệm
Trang 11chuẩn về thành ngữ, mặc dầu vấn đề này rất đợc các nhà ngôn ngữ học quantâm nghiên cứu.
Tác giả Dơng Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu - 1951), ngời đầu
tiên đề cập đến thành ngữ tiếng Việt, quan niệm: “Thành ngữ là những lời nói
có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màumè”
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1975) trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt
đã định nghĩa về thành ngữ rất ngắn gọn: “Thành ngữ là những cụm từ cố
định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” [ 10 ; tr 12]
Tiếp đó tác giả Nguyễn Văn Tu, trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại
(1976) đã đa ra ý kiến: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đãmất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa kết hợp làm một khối vữngchắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa từng yếu tố tạo ra Cóthể có hình tợng cũng có thể không có Nghĩa của chúng cũng khác nghĩa củanhững từ nhng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [44; tr 189]
Trong chuyên khảo Vấn đề cấu tạo của tiếng Việt hiện đại, tác giả Hồ
Lê quan niệm : “Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại) có tínhvững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa để miêu tả một hình ảnh,một hình tợng, một tính cách hay một trạng thái nào đó” [21; tr 97]
Năm 1986, qua bài “Vài suy nghĩ góp phần xác định thành ngữ tiếng
Việt ,” Nguyễn Văn Mệnh có lời khẳng định khi so sánh thành ngữ với tụcngữ: “Về hình thức ngữ pháp nói chung mỗi thành ngữ là một cụm từ, chaphải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ là một câu”.[26 ; tr 12]
Giáo s Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt lại xác
định thành ngữ ở đặc tính tơng đơng với từ của chúng Ông cho rằng: “Cáiquyết định để xác định ngữ cố định là tính tơng đơng với từ của chúng về chứcnăng cấu tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tơng đơng với từ không phải chỉ vìchúng có tính sẵn có, bắt buộc nh từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thaythế cho một từ, ở vị trị các từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu” [6; tr 73]
Các tác giả Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học đa ra định nghĩa:
“Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa tạothành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa củacác thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động nh một từriêng biệt ở trong câu” [50; tr 271]
Trang 12Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử
đồng chủ biên - 1994) định nghĩa: “Thành ngữ tiếng Việt là đoạn câu, cụm từ
có sẵn, tơng đối cố định, bền vững, không nhằm diễn đạtmột ý, một nhận xét trọn vẹn nh tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm d-
ới một hình thức sinh động, hấp dẫn Dù ngắn hay dài, xét về nội dung ýnghĩa cũng nh về chức năng ngữ pháp, thành ngữ cũng chỉ tơng đơng nh từ,nhng là từ đã đợc tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động cótính nghệ thuật” [11 ; tr 249]
Tác giả Hoàng Văn Hành, ngời đợc xem là giáo s đầu ngành về thànhngữ học tiếng Việt, đã định nghĩa về thành ngữ: “Thành ngữ là một tổ hợp từ
cố định bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa Đợc
sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày đặc biệt là trong khẩu ngữ” [13 ; tr
27]
Tóm lại, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về thành ngữ nhng cũng cóthể thấy rằng về cơ bản tất cả các khái niệm trên đều thống nhất với nhau ởnội hàm của nó Sự khác nhau chỉ là ở những khía cạnh thuộc ngoại diên củakhái niệm Dựa vào định nghĩa của các nhà nghiên cứu đi trớc và qua quátrình khảo nghiệm, tìm hiểu, chúng tôi đi đến một cách hiểu khái quát vềthành ngữ: đó là những cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có chức năng
định danh và mang ý nghĩa biểu trng, đợc sử dụng tơng đơng nh từ
1.1.2 Về việc phân loại thành ngữ
Nh đã nói, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ hết sức phức tạp Việc xác
định đúng cái căn cứ (hoặc tiêu chuẩn) để phân loại thành ngữ là điều không
dễ Vì thế, đến nay đã có nhiều cách phân loại khác nhau Dới đây chỉ là một
số trong những cách phân loại đã có:
a) Phân loại thành ngữ theo số lợng thành tố trong cấu tạo Các tác giả
Lơng Văn Đang và Nguyễn Lực trong cuốn Thành ngữ tiếng Việt chia thành
Trang 132.2/ Kiểu thành ngữ là tổ hợp 4 từ đơn (nh: nhắm mắt xuôi tay; nhà
tranh vách đất; ăn bờ ở bụi…).
3/ Kiểu thành ngữ có kết cấu 5 hay 6 tiếng cũng tơng đơng nh kiểu kết
cấu trên (nh: trẻ không tha, già không thơng; treo đầu dê bán thịt chó ).
Một số thành ngữ có kết cấu từ bảy, tám, mời tiếng Chúng có thể do 2hay 3 ngữ đoạn, hoặc do 2 hay 3 mệnh đề liên hợp tạo thành một tổ hợp kiểu
ngữ cú dài cố định (nh: vênh váo nh bố vợ phải đấm; vén tay áo xô đốt nhà
táng giấy,…).
Rõ ràng, dựa vào số lợng thành tố là chỉ dựa vào hình thức, nên cáchphân loại này không phản ánh đợc tính chất quan hệ và đặc điểm bên trongcủa thành ngữ tiếng Việt
b) Phân loại thành ngữ theo kết cấu ngữ pháp
Dựa vào kết cấu ngữ pháp, tác giả Nguyễn Văn Tu chia thành ngữ ralàm các loại sau:
1/ Thành ngữ có cấu tạo là câu đơn giản Trong loại này, tác giả phânbiệt 2 kiểu:
1.1/ Kiểu câu đơn giản có đủ 2 thành phần chủ yếu (có thể thêm thànhphần thứ yếu) theo mô hình: [Chủ ngữ - Vị ngữ - Trạng ngữ (hoặc Bổ ngữ)]
Ví dụ: nớc đổ lá khoai; chuột sa chĩnh gạo; …
1.2/ Kiểu câu đơn giản chỉ có 2 thành phần chính theo mô hình [Chủ
ngữ - Vị ngữ] Ví dụ: bốn biển là nhà; tấc đất tấc vàng; …
2/ Thành ngữ có cấu tạo là câu phức hợp Những thành ngữ này có môhình [Chủ ngữ - Vị ngữ + Chủ ngữ - Vị ngữ] và không có liên từ Tác giả chialoại này thành 2 kiểu:
2.1/ Kiểu có mệnh đề phụ (nh: bút sa gà chết; bụng làm dạ chịu; …)
2.2/ Kiểu gồm 2 mệnh đề đẳng lập (nh: tai bay vạ gió; vờn không nhà
trống …)
3/ Ngoài ra, còn có loại thành ngữ với cấu tạo là tổ hợp các cụm từ
chính phụ Ví dụ: bán vợ đợ con; biệt tăm biệt tích; ăn tối lo mai; mang nặng
đẻ đau; bạ ăn bạ nói; giòn cời giòn khóc; ba đầu sáu tay; ba chân bốn cẳng;
…
Khi dựa vào cấu tạo ngữ pháp, tuy tác giả đã phân biệt khá cụ thể cácloại, kiểu, nhng cách phân loại này khó giúp khảo sát nội dung thành ngữtiếng Việt triệt để và chính xác
c) Phân loại thành ngữ theo số lợng cụm từ
Dựa vào tiêu chí này, ngời ta chia thành ngữ tiếng Việt thành 2 loại: 1/ Loại thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ Loại này gồm 2 kiểu:
Trang 141.1/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ chủ –Việt trong tiếng việt vị (C - V) Ví dụ:
2.1/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo liên hợp 2 cụm từ chủ –Việt trong tiếng việt vị [C V + C
-V] Ví dụ: máu chảy đầu rơi; miệng nói tay làm; …
2.2/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo là liên hợp 2 cụm từ chính phụ [C - P +
C - P] Ví dụ:
- Liên hợp 2 cụm danh từ: đầu voi đuôi chuột; nhà tranh vách đất; màn
trời chiếu đất;…
- Liên hợp 2 cụm động từ: vá trời lấp biển, ăn sóng nói gió; đội trời
đạp đất; …
- Liên hợp 2 cụm tính từ: bầm gan tím mật; mát lòng mát dạ; …
d) Phân loại thành ngữ dựa vào phơng thức cấu tạo nghĩa
Trong chuyên luận Thành ngữ học tiếng Việt, dựa vào phơng thức tạo
nghĩa, GS Hoàng Văn Hành phân biệt hai loại: thành ngữ so sánh và thànhngữ ẩn dụ; trong đó loại thứ hai gồm hai kiểu: thành ngữ ẩn dụ đối xứng vàthành ngữ ẩn dụ phi đối xứng Trong t liệu 3.225 thành ngữ tiếng Việt (trongchuyên luận trên), chúng tôi thống kê đợc 494 thành ngữ so sánh (15,31 %),1.891 thành ngữ ẩn dụ đối xứng (58,64 %) và 840 thành ngữ ẩn dụ phi đốixứng (26,05 %)
1/ Thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bền vững bắt nguồn từ phép sosánh, mang nét nghĩa biểu trng
Chúng ta cần phân biệt thành ngữ so sánh với tổ hợp so sánh tự do
Phép so sánh là [A t nh B] trong thực tế có 4 dạng: 1- [A t nh B], ví dụ: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải dịu hiền nh một ngời cha”(Hồ Chí Minh); 2- [A
nh B], ví dụ: “Thế địch nh lửa, thế ta nh nớc Nớc nhất định thắng lửa” (Hồ
Trang 15Chí Minh); 3- [t nh B], ví dụ: “ấp úng nh thúng đứt vành / Trả lời không đợc phải đành ngậm câm” (Ca dao); 4- [nh B], ví dụ: “Nh cá nằm trong chậu,
quân địch bị chết và bị thơng” (Hồ Chí Minh)
Còn cấu trúc của thành ngữ so sánh chỉ tơng ứng với dạng 3- và dạng
4-của phép so sánh: [t nh B]: bạc nh vôi; cứng nh đá; gầy nh hạc; lừ đừ nh từ
vào đền; … và [nh B]: nh gà mắc tóc; nh diều gặp gió; nh mèo thấy mỡ; …
Tiếng Việt có nhiều từ biểu thị quan hệ so sánh: nh, tày, nh thể, tựa,
tựa nh, nhng trong thành ngữ so sánh chủ yếu dùng từ nh Ví dụ: dai nh đỉa; béo nh con cun cút; nh môi với răng; coi ngời nh rác; …
Trong thành ngữ so sánh, vế B (chỉ cái so sánh) có vai trò quan trọng.Qua nó, chúng ta nhận thấy cách nhìn, cách nghĩ mang dấu ấn của cảnh sắcthiên nhiên, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi địaphơng đợc phản ánh vào trong thành ngữ Vì vậy, tuy nội dung so sánh nhnhau, nhng các ngôn ngữ khác nhau dùng hình ảnh so sánh (vế B) khác nhau
Ví dụ: đắt nh tôm tơi (Việt) - đắt nh bánh nóng (Anh); rẻ nh bèo (Việt) –Việt trong tiếng việt rẻ
nh rác (Anh); đẹp nh tiên (Việt) - đẹp nh giọt sơng (Bun ga ri); nh ngàn cân
treo sợi tóc (Việt) –Việt trong tiếng việt nh hòn đá treo sợi tơ cuống sen (Nhật Bản); v.v
Vế [t] (chỉ cái đợc so sánh) tuy thuộc cấu tạo thành ngữ so sánh, nhng
không phải khi nào cũng có mặt ở các thành ngữ nh: đỏ nh son, cời nh nắc
nẻ thì [t] bắt buộc có mặt; nhng lại vắng mặt ở các thành ngữ nh: nh chim sổ lồng; nh nớc vỡ bờ; nh voi uống thuốc gió; …
ý và đối lời Đối ý là đối ở cấp độ vế, còn đối lời là đối ở cấp độ yếu tố
Trong ví dụ đầu voi đuôi chuột ta thấy: đầu voi đối xứng với đuôi chuột
đây là đối xứng ở cấp độ vế, một bên là điều đề ra thì rất to tát rất hay ho nhngkết cục khi kết thúc, điểm lại thì mới chỉ làm đợc một phần rất nhỏ, méo mó,không đáng kể
Trang 16Nhng để có đợc quan hệ đối xứng về ý này là nhờ vào quan hệ đối xứnggiữa các yếu tố trong hai vế của thành ngữ gọi là quan hệ đối lời Chẳng hạntrong thành ngữ trên nhờ có quan hệ đối xứng giữa các yếu tố đầu và đuôi,chuột và voi mà ta suy ra đợc ý nghĩa của thành ngữ.
Hay trong thành ngữ mẹ tròn con vuông sở dĩ ta nhận ra quan hệ đối ý
(sau khi sinh mẹ khỏe khoắn, vẹn toàn, con lành lặn, kháu khỉnh) là nhờ quan
hệ đối xứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn với vuông Cũng nh thế, nhờ có quan hệ đối xứng giữa đầu với đuôi, xuôi với lọt trong thành ngữ đầu xuôi
đuôi lọt mà ta có đợc ý niệm về sự suôn sẻ, trót lọt.
Vấn đề là để xác lập quan hệ đối xứng giữa từng yếu tố trong hai vế củathành ngữ thì cần những điều kiện gì Trớc hết, trong quan hệ đối lập nội dung
và ngữ nghĩa của các yếu tố đối xứng nhau trong hai vế ở phần lớn các thànhngữ phản ánh những đặc trng thuộc cùng một phạm trù ngữ nghĩa:
Ví dụ: mẹ / con, tròn / vuông, đầu / đuôi, xuôi / lọt.
Cần chú ý các yếu tố đối xứng với nhau phải cùng một phạm trù từ loại,tức có cùng một thuộc tính ngữ pháp
Ví dụ: Trong thành ngữ: cà chua mắm mặn các yếu tố ở hai vế của thành ngữ này đều thuộc một phạm trù từ loại cụ thể: cà, mắm đều là danh từ,
chua, mặn đều là tính từ Hay trong thành ngữ mẹ tròn con vuông ở trên, mẹ, con là danh từ , tròn, vuông đều là tính từ.
Tóm lại, để có quan hệ đối xứng giữa các yếu tố trong thành ngữ thì cácyếu tố trong hai vế phải có sự tơng đồng về ngữ pháp, ngữ nghĩa
2.2 / Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Về mặt cấu tạo, kiểu thành ngữ này không có tính đối xứng và do đợccấu tạo giống hệt nh những cấu trúc ngữ pháp bình thờng nên còn gọi lànhững thành ngữ thờng Nếu đi sâu hơn nữa về cấu trúc thì chúng ta nhận thấynhững thành ngữ này đợc cấu tạo theo hai kiểu kết cấu ngữ pháp phổ biến: kếtcấu có một trung tâm và kết cấu có hai trung tâm
- Kết cấu một trung tâm gồm 3 kiểu sau: * Kết cấu danh ngữ (ví dụ:
bạn nối khố; cá mè một lứa; quân s quạt mo; nớc mắt cá sấu; mặt sắt đen sì ;
* Kết cấu động ngữ (ví dụ:
… bở hơi tai; trơ mắt ếch;… * Kết cấu tính ngữ
(ví dụ: gan cóc tía; nghèo rớt mùng tơi, giàu nứt đố đổ vách …
- Kết cấu hai trung tâm (kết cấu chủ- vị) Ví dụ: anh hùng mạt lộ; chó
cắn áo rách; gái đĩ già mồm; ăn mày cầm tinh bị gậy
Trong 4 cách phân loại thành ngữ tiếng Việt nêu trên, cách phân loạicủa Hoàng Văn Hành dựa vào phơng thức tạo nghĩa là hợp lý nhất Vì thế,
Trang 17trong luận văn, chúng tôi dựa vào cách phân loại này để thống kê, phân tích
đặc điểm của thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
1.1.3 Về nghĩa của thành ngữ
Khi nghiên cứu về thành ngữ, ngoài đặc điểm cấu tạo, còn cần xem xét
về mặt biểu hiện nghĩa của chúng bởi thành ngữ là một đơn vị từ vựng ngữnghĩa
Trên thực tế đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này nhng trongcác công trình nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa nói chung và thành ngữ nóiriêng, các nhà Việt ngữ học đều nhất trí ở quan niệm chung rằng nghĩa củathành ngữ có tính chất biểu trng, có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy
Theo Lơng Văn Đang và Nguyễn Lực:… “ Một bộ phận thành ngữtiếng Việt cũng có tính đa nghĩa nhng trong đó nghĩa bóng có tầm quan trọnghơn cả… Nghĩa này có tính khái quát, tợng trng cho toàn bộ tổ hợp” [25;tr.8] Nghĩa là ý nghĩa của thành ngữ là sự hòa hợp, chung đúc nghĩa của cácyếu tố tạo thành nhng đó không phải là sự hòa hợp nh một phép cộng giản đơnnghĩa của các yếu tố trong thành ngữ mà qua những hình ảnh, sự vật, hiện t-ợng bên ngoài cuộc sống để biểu trng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt
động phổ quát Nói cách khác, nghĩa của thành ngữ là một chỉnh thể đợc kháiquát từ nghĩa của các yếu tố tạo thành
Nghĩa của thành ngữ đợc xác định nh một chỉnh thể định danh tơng
đ-ơng với từ song khác với các đơn vị từ vựng khác, thành ngữ là loại định danhbậc hai Nghĩa là “Nội dung của thành ngữ không hớng tới điều đợc nhắc đếntrong nghĩa đen của các từ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì đó suy ra từchúng” [11 ; tr 29]
Ví dụ: Nghĩa của thành ngữ “cá nằm trên thớt” không phải miêu tả
một con cá nằm trên thớt nh quyển sách nằm trên bàn mà ngụ ý nói tới trạng
thái nguy hiểm đến sự sống còn; hay thành ngữ “mèo mù vớ cá rán“ không
phải đơn thuần là một con mèo bị mù lấy đợc một con cá rán nào đó mà nóchỉ sự may mắn đặc biệt bất ngờ
Cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thờng đợc diễn giải bằng một cụm từ
tự do trong đó có một từ trung tâm (hay một cụm từ trung tâm) và nhữngthành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm với những sắc tháiphụ Thành phần trung tâm là ý nghĩa nòng cốt, ý nghĩa cơ bản của thành ngữ
Ngữ nghĩa của thành ngữ thờng đợc nhắc đến với những đặc điểm nh:tính biểu trng, tính hình tợng, tính cụ thể, tính biểu thái, tính dân tộc Tất cả
Trang 18những đặc điểm này làm nên giá trị ngữ nghĩa độc đáo của thành ngữ trongcác hoạt động ngôn ngữ Trong số các đặc điểm nói trên các nhà nghiên cứuquan tâm nhiều đến nghĩa biểu trng Tính biểu trng đợc xem là đặc tính bản
chất nhất của thành ngữ Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt đã khẳng định: “Biểu trng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định và từ vựng
phải ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn.” [6,
tr 82]
Tính biểu trng là đặc điểm ngữ nghĩa quan trọng nhất của thành ngữlàm nên nét khác biệt quan trọng giữa thành ngữ với đơn vị tơng đơng với nó
là từ Đặc điểm nổi bật trong nghĩa của từ là tính võ đoán còn trong thành ngữ
là tính biểu trng Vấn đề biểu trng hóa làm sáng tỏ quá trình hình thành nghĩacủa thành ngữ Nh vậy, có nghĩa là nghĩa của thành ngữ đợc hình thành bằngcơ chế biểu trng hóa
Giáo s Hoàng Văn Hành đã nhấn mạnh điều này trong Thành ngữ học
tiếng Việt: “Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thờng là kết quả của hai hình thái
biểu trng hóa hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm)” [13;
tr 31]
Với so sánh ta có những thành ngữ nh: nh chó với mèo; béo nh bồ sứt
cạp; bạc nh vôi; chậm nh rùa; coi ngời nh rác, nh gà mắc tóc …
Với ẩn dụ ta có những thành ngữ nh: Sắc nớc hơng trời, nớc sông gạo
chợ, mớp đắng mạt ca, nát đá vàng phai …
Ngoài ra trên thực tế còn có một số thành ngữ dùng các hoán dụ để biểu
trng hóa ngữ nghĩa cho mình Ví dụ: mồm năm miệng mời; tai to mặt lớn …Hay một số thành ngữ khác nghĩa của nó đợc biểu trng hóa dựa trên cơ sở điển
tích, điển cổ: Bá Nha Tử Kỳ; Ngu Lang Chức Nữ; nợ nh chúa chổm v v
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ đợc xem là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, đơn vị có tính chấttrung gian giữa bậc từ vựng và bậc cú pháp Nghĩa là một mặt thành ngữ đợccấu tạo theo những mô hình cú pháp, mặt khác nó lại hoạt động nh một đơn vị
từ vựng Do đó cần phải phân biệt với các đơn vị liên quan nh thành ngữ vớitục ngữ, quán ngữ… Trong luận văn này, để thuận lợi cho việc khảo sát, phânloại thành ngữ, chúng tôi tập trung phân biệt hai đơn vị có quan hệ gần gũi vớinhau nhất đó là thành ngữ và tục ngữ
Trang 19Từ trớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngônngữ học quan tâm đến vấn đề này, có thể điểm qua các công trình tiêu biểusau:
Tác giả Dơng Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu đã
khẳng định: “ Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn,hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng, màdiễn đạt một ý hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè”
Theo Vũ Ngọc Phan, “ Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt một ý, mộtnhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán Còn thànhngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều ngời quendùng nhng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn”.[32; tr 31-32]
Ngoài ra, một số công trình khác nh: Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên, Lơng Văn Đang, Phơng Tri –Việt trong tiếng việt 1975), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Văn Tu - 1978), Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại (Hồ Lê - 1976)
cũng chú ý phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Tạp chí Ngôn ngữ cũng đã đăng nhiều bài viết về vấn đề này Chẳng
hạn, Nguyễn Văn Mệnh trong bài:”Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”
(Ngôn ngữ,số 3, 1972) đã chỉ ra rằng: “Nội dung của thành ngữ mang tính
chất hiện tợng còn nội dung của tục ngữ nói chung mang tính quy luật”
Cù Đình Tú trong bài “Góp ý về sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ”
(Ngôn ngữ, số 1, 1973) đã nêu: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục
ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mangchức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất hành động
Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị tơng đơng với từ Tục ngữ đứng
về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng
nh các sáng tạo khác của dân gian nh ca dao, truyện cổ tích, đều là các thôngbáo, nó thông báo một nhận định nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗitục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tởng” ở đâytác giả đã nêu ra những tiêu chí về mặt ngôn ngữ để phân biệt, cụ thể là: sựkhác nhau về cấu tạo ngữ pháp và về vị trí trong lời nói giữa thành ngữ và tụcngữ
Theo GS Hoàng Văn Hành, thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tơng
đồng có thể chuyển hoá lẫn nhau nhng về mặt bản chất là không giống nhau,xét về mọi phơng diện: hình thức cấu trúc, ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt vàchức năng của chúng trong giao tiếp xã hội Ông đã phân biệt hai đơn vị nàytheo 4 tiêu chí sau:
Trang 20- Về mặt hình thái cấu trúc: Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định (hoặckết cấu chủ vị) quan hệ hình thái; còn tục ngữ là câu (phát ngôn) cố định (cả
đơn và phức) quan hệ cú pháp
- Về chức năng biểu hiện nghĩa định danh: Thành ngữ có chức năng
định danh sự vật, hiện tợng, quá trình; còn tục ngữ có chức năng định danh sựkiện, sự tình, trạng huống
- Về chức năng biểu hiện hình thái nhận thức: Thành ngữ biểu hiện kháiniệm bằng hình ảnh biểu trng; còn tục ngữ biểu hiện phán đoán bằng hình t-ợng biểu trng
- Về đặc trng ngữ nghĩa: thành ngữ và tục ngữ đều có 2 tầng nghĩa đợctạo bằng phơng thức so sánh và ẩn dụ hoá
Nh vậy, các nhà nghiên cứu từ trớc đến nay đã đa ra nhiều cách thứckhác nhau để phân biệt hai đơn vị có quan hệ rất gần gũi nhau đó là thành ngữ
và tục ngữ Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu ý kiến của những ngời đi trớc,chúng tôi xin đa ra một số tiêu chí cụ thể sau nhằm phân biệt rõ hơn về hai
đơn vị ngôn ngữ này
1.1.4.1 Về cấu trúc
Thành ngữ và tục ngữ đều là những tổ hợp từ cố định song chúng khácnhau về cấp độ Thành ngữ tồn tại dới dạng cụm từ, có thể là cụm danh từ (ví
dụ: lều tranh vách đất; anh hùng rơm; mắt bồ câu …), có thể là cụm động từ
(ví dụ: chẻ đôi sợi tóc; lấp biển vá trời; đem con bỏ chợ …), có thể là cụm tính
từ (ví dụ: no xôi chán chè; bé hạt tiêu; héo ruột héo gan …); còn tục ngữ là
một câu hoàn chỉnh Theo GS Hoàng Văn Hành “ tục ngữ không những làmột câu hoàn chỉnh mà còn có thể nhận định tục ngữ là thông điệp nghệ
thuật” [11 ; tr 32) Còn tác giả Nguyễn Văn Mệnh thì khẳng định: “Về hình
thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ là một cụm từ, cha phải là một câuhoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu Theo quan
điểm của ngữ pháp chức năng, thành ngữ luôn có cấu trúc đề thuyết (thí dụ:
gần mực thì đen) Ngay cả những câu tục ngữ tồn tại nh cụm từ cố định thì bản
chất vẫn là cấu trúc đề thuyết, ví dụ: Cây cau, rau cải, nhân ngãi vợ, đầy tớ
con
Nhng vấn đề nhập nhằng là ở một số thành ngữ có hình thức cấu tạo nh
một câu đơn (một kết cấu C-V), ví dụ: áo gấm đi đêm; cá nằm trên thớt; chó
Trang 21ngáp phải ruồi; thậm chí là một câu ghép (hai kết cấu C-V), ví dụ: ma dập gió vùi Đối với những thành ngữ này nếu chỉ dựa vào tiêu chí cấu trúc thì
không thể phân biệt đợc với tục ngữ, mà cần phải dựa vào tiêu chí khác nữa đó
là chức năng ngữ nghĩa
1.1.4.2 Về chức năng ngữ nghĩa
Điểm khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ về chức năng ngữnghĩa là ở chỗ, thành ngữ chỉ có nghĩa định danh, còn tục ngữ phải có nghĩathông báo Nói cách khác, thành ngữ có nghĩa tơng đơng với từ còn tục ngữ cónghĩa tơng đơng với câu Về điều này, Cù Đình Tú đã khẳng định rất rõ: “Sựkhác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở sự khác nhau về chức năng:Thành ngữ là những đơn vị định danh, về mặt này thành ngữ tơng đơng với từ,còn tục ngữ cũng nh các sáng tạo khác của dân gian nh ca dao, truyện cổ tích
đều là các thông báo (“Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ.” (Ngôn
ngữ, số 1, 1973))
Thành ngữ là đơn vị tơng đơng với từ, do vậy nó cũng có tính hoànchỉnh về nghĩa nh từ và có chức năng định danh, hiển thị khái niệm thông quacác hình ảnh biểu trng Ngay cả thành ngữ có cấu trúc hình thức nh một câu,
ví dụ: chuột sa chĩnh gạo thì nghĩa mà ta tri nhận đợc từ thành ngữ này không
phải là một phán đoán mà chỉ là một biểu đạt cho cái đợc biểu đạt là “sự may
mắn” Nh vậy, nghĩa của thành ngữ chuột sa chĩnh gạo là sự định danh cho
một khái niệm cụ thể Tóm lại, thành ngữ là những tổ hợp chỉ có nghĩa địnhdanh
Tục ngữ thì khác hẳn nó không biểu thị khái niệm nh thành ngữ màbiểu thị những phán đoán, miêu tả một sự vật, một hoàn cảnh cụ thể Nghĩacủa tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, sự khẳng định về một chân lý,một lẽ thờng đối với một nền văn hoá nào đó Nghĩa là một t tởng hoàn chỉnh
[6 ; tr 75] Tục ngữ biểu thị phán đoán bằng hình tợng biểu trng Ví dụ: “Quá
mù ra ma” không dừng lại ở sự miêu tả một hiện tợng cá biệt của thiên nhiên.
Tính chân thực và điển hình của nó đã khiến ngời ta liên tởng từ những mốiquan hệ tất yếu giữa cái cụ thể của thiên nhiên đến những mối quan hệ tơng tựtrong đời sống, trong t duy của con ngời, nhiều khi nâng lên thành triết lí sâusắc Đó là: mỗi sự vật có một chừng mực nhất định, nếu vợt qua giới hạn đóthì sự vật này chuyển thành sự vật kia Đó chính là điều ngời ta muốn thôngbáo
Nh vậy, đặc trng ngữ nghĩa cho phép chúng ta phân biệt đợc thành ngữvới tục ngữ ở nét bản chất nhất của nó và giáo s Hoàng Văn Hành đã khái quát
Trang 22xác đáng rằng: “Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt biểu thị những kháiniệm một cách bóng bẩy còn tục ngữ là những câu ngôn bản đặc biệt biểu thịnhững phán đoán một cách nghệ thuật” [13 ; tr 31].
Tuy nhiên, có một số đơn vị thực sự gây khó khăn cho việc phân biệtthành ngữ với tục ngữ Đó là những đơn vị mang tính chất trung gian Có khi
đợc dùng nh một thành ngữ có khi lại đợc dùng nh một tục ngữ Theo chúngtôi, đối với những đơn vị này cần phải vận dụng thêm một tiêu chí nữa là tiêuchí chức năng dụng học
Ví dụ: Tổ hợp “ăn cỗ đi trớc lội nớc theo sau” vốn là tục ngữ bởi nó
biểu thị một phán đoán, một chân lý, một lẽ thờng có tính kinh nghiệm trongcuộc sống cũ, và đó là một lời khuyên: trong đời sống xã hội cũ nên tính saocho mình đựơc lợi nhất và gặp ít thiệt thòi nhất còn ai sao thì mặc Nhng trongngữ cảnh: “Mỗi ngời phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nớc nhà Chớ
nên ăn cỗ đi trớc lội nớc theo sau “ (Hồ Chí Minh) Lúc này câu tục ngữ đã
mất đi tính chất của một lời khuyên, một nhận xét, một chân lý mà hiển thịmột thái độ sống đáng phê phán: thái độ t lợi chỉ biết có mình còn ai ra sao thìmặc Lúc này câu tục ngữ hoạt động nh là thành ngữ
Ngợc lại, tổ hợp đàn gảy tai trâu vốn là một thành ngữ, chỉ việc làm vô
ích, không có tác dụng vì ngời tiếp thu không hiểu Nhng khi đi vào ngữ cảnh:
Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gơm đâu chém ruồi
(Ca dao)Thành ngữ này không còn là một tổ hợp định danh nữa mà ý nghĩa của
nó phát triển thành một phán đoán có tính chất khuyên răn của tục ngữ Câu
ca dao khuyên ta đừng làm những việc hảo huyền, mất công, vô ích
Qua việc phân tích ở trên chúng ta nhận thấy rằng giữa thành ngữ và tụcngữ tuy có một số nét tơng đồng có thể chuyển hoá cho nhau nhng về bản chất
là khác nhau về cả mặt hình thái, cấu trúc, chức năng ngữ nghĩa và chức năngcủa chúng trong hoạt động giao tiếp Vì vậy mặc dù không phải đơn giản nhngchúng ta có thể nhận diện đợc hai đơn vị này dựa trên những tiêu chí cụ thểvừa nêu
Trang 231.1.5 Giá trị sử dụng của thành ngữ trong hoạt động ngôn ngữ
Có thể nói rằng thành ngữ là một phơng tiện đắc dụng của tiếng Việtphổ thông Thành ngữ đợc sử dụng trong ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ văn ch-
ơng, trong ngôn ngữ chính luận, báo chí… thành ngữ trở thành một bộ phận từvựng vô cùng quan trọng trong tiếng Việt
Sở dĩ thành ngữ đợc a dùng nh vậy là do chính những khả năng u việtcủa nó Trớc hết, thành ngữ là đơn vị từ vựng tơng đơng nh từ nên sự vận dụng
nó vào trong câu là hợp lô gích và khá dễ dàng Thứ hai, thành ngữ có cấu trúc
đặc biệt, cấu trúc mang tính chất điệp - đối nh: nhà tranh vách đất; đi ngợc về
xuôi; một mất một còn Điệp và đối chính là yếu tố làm nên tính cân đối hài
hòa, nhịp nhàng của chúng Mặt khác, đối kết hợp với việc lặp lại một từ đơn
tiết lồng vào một từ ghép song song tạo nên hiện tợng điệp, ví dụ: nói thánh
nói tớng; một mất một còn Sự cấu tạo theo cách lồng chéo này càng làm cho
các yếu tố của thành ngữ kết hợp lại với nhau tạo thành một thể thống nhất có
âm điệu uyển chuyển, nhịp nhàng, có hình ảnh sinh động, giàu giá trị biểucảm Đây chính là u điểm nổi bật khi nó sử dụng trong ngôn ngữ thơ Nó gópphần làm cho câu thơ cân đối, nhịp thơ uyển chuyển, nhịp nhàng, giàu nhạc
điệu, hình tợng thơ đợc khắc họa sinh động, có giá trị biểu cảm cao Câu thơtrở nên dễ thuộc, dễ nhớ, gây ấn tợng mạnh khi tiếp xúc
Mặt khác, thành ngữ có khả năng ngữ nghĩa vợt trội so với các đơn vị từvựng tơng đơng Một trong những đặc điểm quan trọng tạo nên khả năng đó
của thành ngữ là tính biểu trng Ví dụ: thành ngữ múa rìu qua mắt thợ không
chỉ nói đến việc một ngời nào đó cầm rìu múa qua mắt một ngời thợ mà nóbiểu trng cho ý nghĩa “trổ tài, khoe tài, tỏ ra hiểu biết trớc ngời tài giỏi, thông
minh hơn mình” Hay thành ngữ mèo mù vớ cá rán không phải đơn thuần là
một con mèo bị mù lấy đợc con cá rán nào đó mà hình ảnh này biểu trng cho
“sự may mắn đặc biệt bất ngờ”
Đặc tính này của thành ngữ rất phù hợp với đặc trng của ngôn ngữ vănchơng, đặc biệt là tính hàm súc cô đọng, giàu hình ảnh, nhạc điệu và có giá trịbiểu đạt cao
Ví dụ: Non xanh nớc biếc tha hồ dạo
Rợu ngọt chè tơi mặc sức say
(Hồ Chí Minh)
Hay Nớc biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
(Nguyễn Trãi)
Trang 24Với những u điểm trên, thành ngữ đợc vận dụng nhiều trong giao tiếphằng ngày, đặc biệt nó đã trở thành một phơng tiện ngôn ngữ quan trọng gópphần làm nên giá trị của tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ ca
Trong thành ngữ tiếng Việt tồn tại một bộ phận các thành ngữ gốcngoại khá lớn, trong đó đa phần là thành ngữ gốc Hán Hầu hết các thành ngữHán-Việt đợc vay mợn vào tiếng Việt đều có thành ngữ thuần Việt đồng nghĩavới nó Tuy nhiên, lớp thành ngữ Hán-Việt này không bị thay thế mà còn pháthuy tác dụng của nó trong những hoàn cảnh sử dụng nhất định Điều này cóthể giải thích đợc Cũng giống nh các cặp từ Hán- Việt và thuần Việt đồngnghĩa, tuy thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán - Việt có điểm tơng đồngvới nhau về nghĩa nhng giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau trong sắcthái nghĩa, dẫn đến phạm vi sử dụng của chúng cũng khác nhau Cụ thể, theo
Trần Anh T (trong luận văn Thành ngữ đồng nghĩa và trái nghĩa trong tiếng
Việt) thì thành ngữ Hán-Việt thờng mang sắc thái trang trọng, màu sắc văn
ch-ơng, có tính trừu tợng, tĩnh tại; trong lúc đó thành ngữ thuần Việt lại sinh
động, mang màu sắc tự nhiên dễ hiểu, dễ tiếp thu Do đó, trong giao tiếp hằngngày và trong thơ ca dân gian ngời Việt chủ yếu sử dụng lớp thành ngữ thuầnViệt Còn trong văn học viết Việt Nam thì các tác giả đã sử dụng bộ phậnthành ngữ Hán - Việt với tần số nhiều hơn và đã tạo nên những sắc thái riêng,giá trị riêng mà nhiều lúc thành ngữ thuần Việt không thể chuyển tải đợc
Chính vì vậy, khi tìm hiểu về cách vận dụng thành ngữ tiếng Việt(thành ngữ thuần Việt) thì theo chúng tôi sự vận dụng thành ngữ trong ca dao
đợc xem là chuẩn mực Còn khi tìm hiểu về cách vận dụng thành ngữ Hán Việt thì chúng ta nên tìm hiểu trong văn học viết Với lí do đó, trong đề tàinày khi nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt trong hoạt độngngôn ngữ của ngời Việt chúng tôi khảo sát một số tác giả lớn của nền văn họcviết Việt Nam; đó là những ngời sử dụng thành công thành ngữ trong tácphẩm của mình
-1.2 Lớp thành ngữ Hán - Việt
1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt và việc mợn từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt
1.2.1.1 Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán -Việt
Hiện tợng tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tợng phổ biến của tất cả các cácngôn ngữ
Trang 25Phân tích vốn từ về mặt nguồn gốc, chúng ta thấy trong tiếng Việt hiện
đại cùng tồn tại những đơn vị có nguồn gốc khác nhau, nh gốc Nam á, gốcHán, gốc ấn - Âu Đó chính là hệ quả của những cuộc tiếp xúc ngôn ngữ đãdiễn ra trong lịch sử tiếng Việt Trong đó, những đơn vị có nguồn gốc Hánchiếm số lợng nhiều nhất Có thể nói hệ thống từ và ngữ Hán -Việt đã đi sâuvào hệ thống từ vựng tiếng Việt Trong tiếng Việt không có lĩnh vực nào lạikhông sử dụng hệ thống các đơn vị vay mợn này: từ hành chính –Việt trong tiếng việt công vụ,chính luận, báo chí đến ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Đó là kết quả của quátrình tiếp xúc ngôn ngữ Hán -Việt gắn liền với tiếp xúc văn hoá dân tộc trongnhững hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội và văn hoá cụ thể
từ khi Triệu Đà đem quân xâm lợc Âu Lạc (-179) và nhất là từ khi nhà Hán
đặt nền đô hộ ở Giao Chỉ, Cửu Chân (-111) đến năm 938, Ngô Quyền đánhbại quân Nam Hán giành lại độc lập Đây là một đợt tiếp xúc lâu dài, sâurộng, liên tục
Bộ máy cai trị của nhà Hán trong giai đoạn đầu còn lỏng lẻo, chỉ mới
đợc hình thành và cha có tác dụng chiều sâu Về thực chất bộ máy chínhquyền ngời Hán lúc này mới chủ yếu tập trung quyền lực ở trung ơng còn từhuyện trở xuống thì thực quyền vẫn nằm trong tay ngời Việt
Đến đầu công nguyên Vơng Mãng cớp ngôi nhà Hán lập ra nhà Tần.Sau đó nhà Đông Hán thay nhà Tần cử Tích Quang và Nhâm Diên sang làmthái thú ở nớc ta Lúc này bộ máy cai trị của chúng đã rất chặt chẽ, chúng tăngcờng bóc lột của cải và ra sức đồng hoá nhân dân ta Đến năm 679 lại đổithành "An Nam đô hộ phủ" Đến đây, bộ máy cai trị của nhà Đờng đã đi sâuxuống tận cơ sở để bóp ngẹt tinh thần quật khởi của ngời Việt Cuối thế kỉ IX,nhà Đờng suy yếu Đến năm 917 triều đình Nam Hán đợc thành lập, năm 930nhà Nam Hán đem quân tiến đánh nớc ta và cử Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu
Nh vậy, nớc ta đã bị phong kiến phơng Bắc đặt ách thống trị trong suốtmời thế kỉ Bộ máy cai trị và chủ trơng đồng hoá của các đế chế phơng Bắcngày càng mở rộng và phát triển Lúc này, do có sự phân hoá xã hội, các tầnglớp quý tộc phong kiến Việt Nam dần dần đã trở thành đại diện tiêu biểu cho
Trang 26lực lợng phát triển xã hội Họ đã đứng ra tập hợp lực lợng và kêu gọi quầnchúng nhân dân đứng lên đấu tranh.
b) Hoàn cảnh xã hội
Bộ máy chính quyền của ngời Hán đã đợc thiết lập ở nớc ta trong mộtthời gian dài, và ngày càng đợc thắt chặt kéo theo sự thâm nhập của ngời Hánvào các hoạt động quan trọng của ngời Việt ngày càng ảnh hởng sâu đậm.Từng đợt, từng đợt một ngời Hán đã thâm nhập vào Việt Nam bằng nhiều hìnhthức khác nhau, sống trà trộn với ngời Việt Nam, kẻ thì đi theo ngời nhà, ngờithì đi sang lánh nạn vì chính quốc loạn lạc, có kẻ vì phạm tội bị chính quốcbắt đi lu đày, có ngời sang để làm ăn buôn bán Ngoài ra những "kiều nhân"vốn là quan chức của chính quyền đô hộ, sau khi thôi làm quan, ở lại sinh cơlập nghiệp Đây là lực lợng đông đảo với con số lên đến hàng vạn ngời, đócũng là chủ trơng của ngời Hán đa c dân sang định c ở lẫn với ngời Giao Chỉ.Một sự thâm nhập ngợc lại, đó chính là con em ngời Việt đi lính cho ngời Hánnên cùng sinh sống với ngời Hán Tất cả những tầng lớp c dân ngời Hán này
đã ở lẫn với ngời Việt, gắn bó chặt chẽ với ngời Việt trong mọi hoạt động xãhội, tạo nên một quá trình tiếp xúc lâu dài và bền chặt giữa các tầng lớp c dântrong xã hội Việt Nam
Âu Lạc đang chuyển biến dần và đi vào một quá trình phong kiến hóa lâu dài.Chính cơ sở kinh tế xã hội này đã tạo điều kiện cho việc dễ dàng tiếp thu vănhóa Hán và làm cho ảnh hởng của nền văn hoá này ngày càng thấm sâu vào xãhội Việt Nam Lực lợng góp phần đắc lực nhất cho quá trình Hán hóa này trớchết là bộ máy quan lại Trung Quốc và tầng lớp đông đảo kiều nhân ngời Hán,
về sau còn có thêm vai trò của tầng lớp quyền quý ngời Việt Nam Hai tháithú đầu tiên đẩy mạnh chính sách đồng hóa nhân dân Việt Nam theo nền vănhóa Hán chính là Tích Quang và Nhâm Diên, sau đó đến Mã Viện - đây là kẻ
có nhiều âm mu xảo quyệt nhất trong việc đồng hóa xã hội Việt Nam trên con
đờng "Hán hóa", từ cách ăn mặc, lấy vợ, lấy chồng đến các nghi lễ trong làngxã Chúng mở các trờng học, một mặt để dạy cho con em lớp sĩ phu ngời
Trang 27Hán, ngời Việt nhng mặt khác lại kìm hãm, hạn chế việc học hành cũng nhtuyển dụng Phải nhờ đến cuối đời Đông Hán, Tam Quốc thì mới có thêm dịpnữa để cho việc học hành ở Giao Chỉ mới đợc đẩy mạnh thêm một bớc Lúcnày ở Trung Nguyên tình hình rất rối loạn, bọn quý tộc sĩ phu kéo nhau sangGiao Chỉ rất đông Bọn này nhờ vào Thái thú Nhiếp và Sĩ Nhiếp cũng dựa vàobọn này Sau đó ít lâu có nhiều ngời khác cũng mở trờng học Với không khíhọc hành nh vậy nên về sau sử gia phong kiến mới xem đây l một thời kỳ mởđầu cho nền học vấn ở Việt Nam v người chủ trì l Sĩ Nhiếp được họ tôn
l : "Nam Giao học tổ"
Phổ biến chữ Hán tức là phổ biến Nho giáo, vì vậy thời kì này Nho giáo
đợc truyền vào nớc ta một cách mạnh mẽ Đồng thời việc phổ biến chữ Háncòn gắn với phổ biến Đạo giáo, Phật giáo Ngợc lại việc phổ biến Nho, Đạo,Phật chính cũng lại là nhân tố thúc đẩy chữ Hán ngày càng phổ biến ở GiaoChâu
Sang đến thời Tuỳ Đờng, tầng lớp phong kiến Việt Nam đã tơng đối cóthế lực lúc này chế độ khoa cử cũng đã đợc dùng để thay thế chế độ sĩ tộcngày trớc Do đó, con cái của những gia đình có thế lực nhiều ngời đã đợc họchành đỗ đạt Trình độ Hán học của nho sĩ Việt Nam ngày càng đợc nâng cao(Khơng Công Phụ thi đỗ Tiến sĩ, làm đến chức tể tớng ở Trung Nguyên; nhiềucao tăng ở Việt Nam tinh thông cả Nho giáo, Đạo giáo, biết chữ Phạn, giỏichữ Hán, đã từng tham gia dịch thuật, trong đó có vị đã sang tận kinh đôTràng An để giảng kinh phổ cho vua Đờng )
Rõ ràng đến thời kì này nền văn hóa Hán nói chung, nền ngôn ngữ, văn
tự Hán nói riêng đã có đợc một ảnh hởng nhất định trên địa bàn Việt Nam.Nhất là những nơi trung tâm của chính quyền đô hộ Trong giai cấp phongkiến Việt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo, am hiểu Hánhọc và thông qua Hán học nắm đợc cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Chính
đây là một trong những lực lợng ra sức bảo vệ duy trì những gì tiếp thu đợc
tr-ớc đó về mặt văn hóa nhất là về mặt ngôn ngữ, văn tự và đã góp phần trongviệc củng cố, tuyên truyền cho vai trò của văn ngôn chữ Hán
1.2.1.2 Việc vay mợn từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt
Những nhân tố về chính trị xã hội và văn hóa nh đã trình bày ở trên đã
đa đến một cuộc tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra trong quá trình kéo dài hàng ngànnăm giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt đã làmcho vốn từ tiếng Việt phong phú lên do có sự bổ sung một số lợng lớn các từ
Trang 28gốc Hán bao gồm lớp từ tiền Hán - Việt, lớp từ Hán - Việt, lớp từ Hán - ViệtViệt hóa, lớp từ mợn qua khẩu ngữ Trong đó lớp từ Hán - Việt (gồm những từmợn tiếng Hán từ đời Đờng trở về sau, đọc theo âm Hán - Việt) chiếm số lợngnhiều nhất và có những giá trị nhất định trong cộng đồng ngời Việt Chúng đãtrở thành một bộ phận của vốn từ tiếng Việt nên chịu sự chi phối và vận hànhcủa quy luật tiếng Việt cả về ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Ta gọi đó làquá trình Việt hóa các yếu tố vay mợn và các từ Hán - Việt có mức độ Việthóa khác nhau
a) Về ngữ âm
Trên cơ sở Đờng âm đợc dạy ở Giao Châu, dới tác động của hệ thốngngữ âm tiếng Việt, ngời Việt đã tạo ra một hệ thống ngữ âm riêng để đọc lớp
từ này, cách đọc đó ngày càng xa dần cách đọc Đờng âm, trở thành cách đọc
hệ thống mà các nhà ngôn ngữ gọi là cách đọc Hán Việt Rồi cũng do sự pháttriển và biến đổi của ngữ âm tiếng Việt, một số từ Hán - Việt nhất là những từthờng dùng hàng ngày đã thay đổi diện mạo của mình, không giống với dạngngữ âm Hán - Việt ban đầu nữa và bắt đầu xuất hiện cách đọc Hán - Việt Việthóa Chẳng hạn:
Âm Hán Việt Âm Hán Việt Việt hóa
ânbáicáccancấpcậnchỉchủng
ơnváigácgangấpgầngiấygiốngb) Về cấu tạo
Từ Hán Việt cũng nh từ thuần Việt đều có những đặc điểm cấu tạogiống nhau, về số lợng yếu tố cấu tạo cũng nh phơng thức cấu tạo Sự khácnhau chỉ là trật tự của các yếu tố trong kiểu loại từ ghép phân nghĩa Vì vậyhầu hết các từ Hán - Việt hoạt động trong tiếng Việt ở dạng nguyên khối cảmô hình cấu tạo và yếu tố cấu tạo Tuy nhiên có một số trờng hợp khi đi vào
hệ thống từ vựng tiếng Việt đã có sự thay đổi
Trang 29Trong từ ghép đẳng lập, trật tự của các yếu tố thờng là cố định nhngcũng có một số từ có thể đảo trật tự yếu tố mà nghĩa vẫn không thay đổi Ví
dụ: tàn bạo = bạo tàn; giản đơn = đơn giản; tranh đấu = đấu tranh
Ngoài ra còn một số từ mợn nguyên khối từ tiếng Hán nhng khi đi vàotiếng Việt trật tự các yếu tố đã có sự thay đổi so với nguyên ngữ Ví dụ: nhiệt
náo (Hán) -> náo nhiệt (Việt); thích phóng (Hán) -> phóng thích (Việt); cáo tố (Hán) -> tố cáo (Việt); thơng tang (Hán) -> tang thơng (Việt).
Hay trong từ ghép chính phụ có nhiều từ ghép đợc sử dụng ở dạng rútgọn Ví dụ: thừa trần -> trần( nhà); lạc hoa sinh -> lạc; hồng huyết cầu ->
hồng cầu; bạch huyết cầu -> bạch cầu; vật lý học -> vật lý; tuyên truyền
huấn luyện -> tuyên huấn; mĩ nghệ phẩm -> mĩ nghệ; v.v
c) Về ngữ nghĩa
Từ gốc Hán nói chung, từ Hán - Việt nói riêng khi trở thành từ của tiếngViệt đều chịu sự chi phối của quy luật tiếng Việt trong đó có phơng diện ngữnghĩa So với tiếng Hán, diện mạo của ngữ nghĩa của từ Hán - Việt trong tiếngViệt cũng có những thay đổi theo 3 hớng sau đây nhằm đáp ứng nhu cầu hànhchức của tiếng Việt
1.- Hớng thu hẹp ý nghĩa
Nhiều yếu tố tiếng Hán khi đi vào tiếng Việt, tiếng Việt chỉ tiếp nhậnmột số nghĩa nào đó chứ không tiếp nhận tất cả các nghĩa vốn có của nó Ví
dụ: từ nhất trong Từ điển Từ Hải có 12 nghĩa: 1- tên chữ số; 2- tất cả; 3-thống
nhất; 4- đều; 5- cùng; 6- một mình; 7- hoặc; 8- lên; 9- thật; 10- tên của một
loài nhạc phổ; 11- biểu thị thanh điệu; 12- trợ từ Trong tiếng Việt, nhất chỉ
đ-ợc dùng với 2 nghĩa: 1) chỉ số thứ tự (thứ nhất, thứ hai ); 2) vị trí cao nhất về
danh dự (học nhất lớp, thứ nhất bảng, ) Tơng tự, từ thu trong Hán ngữ có 10
nghĩa, nhng vào tiếng Việt chỉ có 4 nghĩa đợc dùng là: 1) lấy vào (quần áo
phơi cha thu vào); 2) lấy những vật vốn thuộc quyền (thu nợ); 3) ghi lại hình
ảnh, âm thanh (thu âm, thu băng); 4) cất dấu (địa phơng - nó thu cái túi không tìm đợc) Từ tảo trong tiếng Hán có nghĩa là sáng sớm, vào tiếng Việt có nghĩa là sớm (tảo hôn); cớc trong tiếng Hán có nghĩa là chân, bàn chân, vào tiếng Việt có nghĩa chân núi (vùng sơn cớc).
2.- Hớng mở rộng nghĩa, phát triển thêm nghĩa mới.
Một số yếu tố tiếng Hán đi vào tiếng Việt, bên cạnh nghĩa gốc nh trong
tiếng Hán, còn phát triển thêm nghĩa mới Ví dụ: can (gan) vốn có nghĩa chỉ
một bộ phận của cơ thể, sang tiếng Việt có thêm nghĩa là sự dũng cảm; từ
Trang 30khám, ngoài nghĩa coi, xem, trong tiếng Việt còn có thêm nghĩa lục soát với thái độ nghi ngờ; từ bì có nghĩa là vỏ, da, vào tiếng Việt có có thêm nghĩa chỉ cái bao để đựng; từ tâm vốn có nghĩa chỉ tim, sang tiếng Việt có thêm nghĩa lòng dạ con ngời .v.v
Các yếu tố tiếng Hán đi vào tiếng Việt đợc Việt hoá về nghĩa theo hớng
mở rộng, phát triển nghĩa; đấy là một xu hớng phát triển mạnh Với nghĩa gốc(nh trong tiếng Hán), yếu tố Hán - Việt đó thờng phải hoạt động hạn chế, nh-
ng với nghĩa mới đợc tạo ra trong tiếng Việt, nó lại hoạt động tự do với t cách
là từ Chúng ta có thể khái quát thành mấy xu hớng phát triển nghĩa nh sau:
- Với yếu tố Hán - Việt là danh từ: nghĩa gốc chỉ loại sự vật (nh trongtiếng Hán), xung đột đồng nghĩa với từ thuần Việt nên với nghĩa này nó phảihoạt động hạn chế, nhng chúng có thể phát triển thêm nghĩa mới (không cótrong tiếng Hán), theo hớng chuyên môn hoá (so với nghĩa gốc), chỉ một tiểuloại cụ thể Với nghĩa phái sinh này yếu tố Hán Việt hoạt động tự do với cơng
vị là từ Ví dụ: bố có nghĩa là vải, có thêm nghĩa mới là một loại vải thô (vải
bố); côn có nghĩa là gậy, có thêm nghĩa mới là một loại gậy để múa võ, đánh
võ (đánh côn, múa côn); đao có nghĩa là con dao, có thêm nghĩa mới là một loại dao to dùng làm vũ khí (đánh bằng đao, vung đao giết giặc); địa có nghĩa
là đất, có thêm nghĩa mới là chỉ môn học về đất (học địa, môn địa); mã có nghĩa là con ngựa, có thêm nghĩa mới là tên một con cờ trong bộ cờ tớng, một
con bài trong bộ tam cúc (lên xe ăn mã); mộc có nghĩa là cây, có thêm nghĩa
mới là đồ làm bằng gỗ, nghề liên quan đến gỗ (đồ mộc, nghề mộc); thủ có nghĩa là cái đầu, có thêm nghĩa mới là cái đầu gia súc đã giết thịt (thủ lợn, thịt thủ); trà có nghĩa là chè, có thêm nghĩa mới là loại chè đợc sao chế từ búp
lá non của cây chè (trà Thái Nguyên, uống trà) v.v
- Với yếu tố Hán - Việt là tính từ: nghĩa gốc chỉ tính chất, trạng thái vậtchất (nh trong tiếng Hán), xung đột đồng nghĩa với từ thuần Việt nên với ýnghĩa này, yếu tố Hán - Việt đó phải hoạt động hạn chế, nhng chúng có thểphát triển thêm nghĩa mới (không có trong tiếng Hán), theo hớng chỉ trạng
thái tinh thần, hoặc chuyên biệt hoá (so với nghĩa gốc) Thí dụ: bạc vốn có nghĩa là mỏng, có thêm nghĩa mới là vô ơn, phụ tình, nhạt nhẽo (ăn ở bạc bẽo); bạch vốn có nghĩa là trắng, có thêm nghĩa mới là trắng toàn một màu,
rõ (trắng bạch, sáng bạch); hắc vốn có nghĩa là đen, có thêm nghĩa mới là mùi, tính cách khó chịu (mùi hắc, tính hắc); hoạt vốn có nghĩa là trơn, có
thêm nghĩa mới là nhanh nhẹn (hoạt bát, làm hoạt); hồng vốn có nghĩa là đỏ,
có thêm nghĩa mới màu đỏ nhạt (đỏ hồng, vải hồng); khinh vốn có nghĩa là
nhẹ, có thêm nghĩa mới là coi thờng, không tôn trọng (khinh ngời); minh vốn
Trang 31có nghĩa là sáng, có thêm nghĩa mới là sáng suốt (cụ còn minh); thâm vốn có nghĩa là sâu, có thêm nghĩa mới là bụng dạ ác, hiểm độc khó lờng (nói thâm,
ăn ở thâm); trọng vốn có nghĩa là nặng, có thêm nghĩa mới là tôn quý, đề cao (trọng nghĩa, trọng chữ tín) v.v
- Với yếu tố Hán - Việt là động từ: chúng có thể phát triển thêm nghĩamới theo một trong hai hớng: thêm nghĩa chuyên môn hoá (nh danh từ) hoặcthêm nghĩa chỉ tinh thần (nh tính từ) Ví dụ:
Phi vốn có nghĩa là bay, có thêm nghĩa mới là động tác chạy nhanh của ngựa, hoặc chạy nhanh nh bay (khẩu ngữ), (ngựa phi lên dốc, nó phi về nhà); tẩu vốn có nghĩa là chạy, có thêm nghĩa mới là chạy trốn vì làm điều trái (tẩu
khỏi làng); tống có nghĩa là tiễn đa, có thêm nghĩa mới là đuổi (tống ra khỏi nhà, tống vào tù); thính vốn có nghĩa là nghe, có thêm nghĩa mới là tinh tờng (tai thính); đả vốn có nghĩa là đánh, có thêm nghĩa mới là phê phán, chỉ trích (đánh về mặt tinh thần - đả cho nó một mẻ).
3.- Hớng chuyển nghĩa, biến đổi nghĩa
Có một số từ tiếng Hán khi trở thành yếu tố, hoặc từ Hán - Việt trongtiếng Việt, nghĩa của chúng chuyển nghĩa rất xa hoặc thay đổi hẳn nghĩa so
với nghĩa trong tiếng Hán Thí dụ: bồi hồi (Hán) vốn có nghĩa là đi đi lại lại, vào tiếng Việt là có nghĩa là xao xuyến, xốn xang, không yên trong lòng (lòng
bồi hồi); dã tâm (Hán) vốn có nghĩa là khát vọng, tham vọng, vào tiếng Việt
lại có nghĩa là lòng dạ, ý muốn độc ác nhằm mu hại ngời khác (dã tâm của kẻ thù); đáo để (Hán) vốn có nghĩa là cuối cùng, đến cùng, đến tận cùng; vào tiếng Việt có nghĩa là: 1) đanh đá, quá quắt (gặp phải ngời đanh đá); 2) mức
độ cao hơn hẳn bình thờng (đẹp đáo để, vui đáo để); giang hồ (Hán) vốn có
nghĩa là sông hồ, sau chuyển nghĩa chỉ cuộc sống phóng túng, tự do nay đây mai đó, vào tiếng Việt lại có nghĩa với hàm ý xấu, chỉ gái mại dâm, (gái giang
hồ); khôi ngô (Hán) vốn có nghĩa là ngời to lớn, cao lớn, vào tiếng Việt có
nghĩa là mặt mũi trông sáng sủa, thông minh, đẹp (cậu bé khôi ngô); khốn nạn (Hán) vốn có nghĩa là khó khăn, vào tiếng Việt có nghĩa là nhân cách hèn
mạt, tồi tệ (lũ khốn nạn); khúc chiết (Hán) vốn có nghĩa là cong queo, gãy khúc; sự việc tình tiết ẩn dấu không lộ ra, vào tiếng Việt có nghĩa là rành mạch, gãy gọn (trình bày khúc chiết); lịch sự (Hán) vốn có nghĩa là từng trải, thạo việc, vào tiếng Việt có nghĩa lại có nghĩa là giao thiệp phù hợp văn hoá
(nói năng, đón tiếp lịch sự); thủ đoạn (Hán) vốn có nghĩa là cách thức, phơng
pháp làm việc, vào tiếng Việt có nghĩa là mánh khoé khôn ngoan, xảo trá, đầy toan tính, lợi mình hại ngời; tử tế (Hán) vốn có nghĩa là ti mỉ, kỹ lỡng, chú ý,
Trang 32vào tiếng Việt có nghĩa: 1) nghiêm chỉnh, coi là đầy đủ, không sơ sài, lôi thôi (ăn mặc, cơm nớc tử tế); 2) có lòng tốt trong đối xử với nhau (sống tử tế với
mọi ngời)
1.2.2 Lớp thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, tuyệt đại đa số thành ngữ gốc ngoại đợc mợn từtiếng Hán Đó chính là hệ quả tất yếu của quá trình tiếp xúc văn hóa diễn rarất sớm, rất lâu dài giữa hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa, đa đến mộtcuộc tiếp xúc mạnh mẽ giữa hai ngôn ngữ Hơn nữa vay mợn là hiện tợng tấtyếu trong tiếp xúc ngôn ngữ, vay mợn xảy ra do nhu cầu khách quan củagiao tiếp Một khi ngôn ngữ cần phải bổ sung những thiếu hụt của mình về
từ, ngữ, hoặc cấu trúc ngữ pháp Nhng lí do cơ bản chính là tính chất gầngũi về loại hình giữa tiếng Hán và tiếng Việt (đều thuộc cùng loại hình ngônngữ đơn lập) Đây là thuận lợi đáng kể cho việc tiếp nhận các đơn vị vay m -
ợn từ tiếng Hán
Thành ngữ Hán -Việt trong tiếng Việt đợc chia làm 2 loại nhỏ: loại cógốc Hán và loại thành ngữ do ngời Việt tạo lập bằng chữ Hán Loại có gốcHán là những thành ngữ du nhập vào Việt Nam từ lâu đời, thông qua con đờngtrích từ Kinh sử là chủ yếu Là những đơn vị thành ngữ đợc nhập vào tiếngViệt thông qua cách đọc Hán - Việt Ngời truyền đạt những thành ngữ này làtầng lớp trí thức phong kiến hay "nói chữ" rồi lan dần ảnh hởng sang một bộphận trong nhân dân Còn loại thành ngữ do ngời Việt tạo lập bằng chữ Hánthì xuất hiện tha thớt hơn trong vốn từ vựng tiếng Việt, có thể do những “ông
đồ” hay chữ đặt ra Chúng có nghĩa phổ thông dễ hiểu hơn loại trên và về mặtkết cấu những thành ngữ này đã giống trật tự ngữ pháp của tiếng Việt Ví dụ:
thần thông biến hóa; bất khả xâm phạm; đồng tâm nhất trí; Chính vì vậy
trong luận văn về thành ngữ Hán Việt này, chúng tôi chỉ khảo sát nhữngthành ngữ gốc Hán mà không khảo sát các thành ngữ do ngời Việt tạo ra từcác yếu tố Hán
Sự có mặt của các thành ngữ gốc Hán không những đã bổ sung chothành ngữ tiếng Việt một số lợng đáng kể mà còn có vai trò quan trọng về mặtchất lợng nh góp thêm các đơn vị mang nội dung khái niệm mới, cùng thànhngữ thuần Việt tạo lập các nhóm đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, làm đa dạnghóa, sắc thái hóa nội dung biểu đạt
Những thành ngữ gốc Hán này khi đi vào tiếng Việt trở thành bộ phậncủa hệ thống từ vựng tiếng Việt, cũng nh các từ Hán -Việt chúng chịu sự tác
động của quy luật tiếng Việt Vì vậy mặc dầu là những đơn vị có tính cố định
Trang 33hóa rất cao nhng chúng vẫn có những biến đổi nhất định về mặt cấu tạo cũng
nh ngữ nghĩa để đáp ứng nhu cầu hành chức trong tiếng Việt Đặc biệt khi đivào hoạt động sử dụng thì chúng lại có những biến đổi vô cùng linh hoạt, điềunày có thể thấy rõ nhất trong hoạt động thơ ca của ngời Việt
Chính vì vậy, trong luận văn chúng tôi đi sâu vào khảo sát, phân tíchnhững biến đổi về cấu tạo cũng nh ngữ nghĩa của thành ngữ gốc Hán (thànhngữ Hán -Việt) khi vào hệ thống từ vựng của tiếng Việt (trong từ điển), cũng
nh trong tác phẩm văn chơng của ngời Việt qua một số tác giả tiêu biểu
1.3 Tiểu kết chơng 1
ở chơng 1, chúng tôi đã giới thuyết các khái niệm liên quan đến đề tài
để tạo cơ sở triển khai nội dung ở những chơng sau:
Trớc hết, đây là đề tài nghiên cứu về thành ngữ cho nên chúng tôi tìmhiểu chung về khái niệm, cấu tạo, ngữ nghĩa và vấn đề sử dụng thành ngữtiếng Việt Đồng thời để tiện cho việc khảo sát, tránh nhầm lẫn trong quá trìnhthống kê, chúng tôi đã phân biệt hai đơn vị gần gũi nhau là thành ngữ và tụcngữ
Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu về cấu tạo, ngữ nghĩa của thànhngữ Hán - Việt Vì vậy, chúng tôi đã giới thuyết khái quát một số vấn đề liênquan đến quá trình tiếp xúc văn hóa, ngôn ngữ Hán - Việt Cũng nh sơ lợc vềthành ngữ Hán - Việt để giúp ngời đọc có cái nhìn bớc đầu về lớp thành ngữnày từ đó hiểu sâu sắc hơn về chúng
Mặt khác, do luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu về việc sử dụng thành ngữ Hán
- Việt trong hoạt động ngữ văn của ngời Việt nên bớc đầu có giới thiệu sơ lợc
về vai trò của thành ngữ trong hoạt động ngôn ngữ của ngời Việt nói chung
và hoạt động ngữ văn của ngời Việt nói riêng để giúp ngời đọc thấy đợc giá trị
to lớn của thành ngữ Hán Việt trong tác phẩm văn chơng Việt Nam
Trang 34
Chơng 2
Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
Trong chơng 2, chúng tôi cố gắng xác định một số đặc điểm về cấu tạo
và ngữ nghĩa của lớp thành ngữ Hán -Việt đang có trong tiếng Việt Công việcnày gồm hai bớc Trớc hết, chúng tôi đối chiếu những thành ngữ Hán - Việt
trong tiếng Việt (ở “ Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán” của Nguyễn Nh
ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành) với những thành ngữ Hán nguyên
ngữ (ở “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán- Việt” của Nguyễn Văn Hằng, Trần
Thanh Liêm) để xác định những điểm giống nhau và khác nhau về cấu tạogiữa thành ngữ Hán - Việt với thành ngữ thuần Việt Tiếp theo, chúng tôi tìmhiểu và phân tích những biến đổi về cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ HánViệt khi đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt
2.1 Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
2.1.1 Khái quát về cấu tạo của thành ngữ Hán- Việt trong tiếng Việt
Qua khảo sát - đối chiếu các thành ngữ Hán -Việt có trong cuốn “Từ
điển giải thích thành ngữ gốc Hán” và các thành ngữ Hán-Việt có trong cuốn
“Từ điển thành ngữ tục ngữ Hán Việt”, chúng tôi thống kê đợc 933 thành ngữ
Hán–Việt trong tiếng việtViệt Đây là những thành ngữ của tiếng Hán đã đợc vay mợn vào trongtiếng Việt Theo số chữ (tiếng), thành ngữ Hán - Việt gồm 4 chữ, 5 chữ, hoặc
8 chữ, trong đó thành ngữ 4 chữ nhiều hơn cả
Trang 35Chúng tôi thấy tiêu chí “phơng thức tạo nghĩa” không chỉ phù hợp vớiviệc phân loại vốn thành ngữ thuần Việt (nh GS Hoàng Văn Hành đã thực
hiện trong chuyên luận Thành ngữ học tiếng Việt) mà còn có thể áp dụng cho
việc phân loại để khảo sát các thành ngữ Hán -Việt
Theo tiêu chí này, thành ngữ Hán -Việt gồm hai loại: thành ngữ sosánh, thành ngữ ẩn dụ; trong đó loại thành ngữ ẩn dụ có hai kiểu: thành ngữ ẩn
dụ đối xứng và thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng Trong bảng dới đây là kết quảphân loại 933 thành ngữ Hán -Việt chúng tôi thống kê đợc
Bảng 2.1 Các dạng cấu tạo theo phơng thức tạo nghĩa của thành ngữHán -Việt trong tiếng Việt
an nh bàn thạch
nh hổ thiêm dực thị tử nh quy
án binh bất động nhân vô thập toàn lâm khát quật tĩnh
Nhìn vào bảng 2.1., ta thấy tuyệt đại đa số thành ngữ Hán - Việt làthành ngữ ẩn dụ (895 đơn vị), trong khi thành ngữ so sánh chỉ có 38 đơn vị.Hai kiểu thành ngữ ẩn dụ: đối xứng và phi đối xứng không quá chênh nhau về
số lợng (438 so với 457)
2.1.1.1 Các kiểu cấu tạo của thành ngữ so sánh Hán -Việt
Tuy thành ngữ so sánh Hán -Việt trong tiếng Việt chỉ có 38 đơn vị(trên tổng số 933 thành ngữ Hán -Việt) nhng chúng cũng gồm đủ các kiểucấu tạo nh thành ngữ so sánh thuần Việt Cụ thể, thành ngữ so sánh Hán -Việt
có các kiểu cấu tạo sau đây:
1) [A nh B]: huynh đệ nh thủ túc; thế sự nh kỳ; ứng đối nh lu …
2) [A t nh B]: nam thực nh hổ, nữ thực nh miêu; nam vô tửu nh kì vô
phong…
Trang 363) [t nh B]: dị nh phản chởng; an nh Thái Sơn …
4) [nh B]: nh ng đắc thủy; nh tọa châm chiên; nh hoạch thạch điền …
Từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong thành ngữ so sánh Hán - Việtcũng khá phong phú đa dạng Cụ thể:
* Từ nh: tâm nh đao cát; dụng binh nh thần; nh ảnh tùy hình …
* Từ nhợc: khẩu nhợc huyền hà; môn đình nhợc thị …
* Từ tự: niên quang tự tiễn
* Từ đẳng: phúc đẳng hà sa
* Từ quá: danh quá kì thực
2.1.1.2 Các kiểu cấu tạo của thành ngữ ẩn dụ đối xứng Hán - Việt Các thành ngữ ẩn dụ đối xứng Hán Việt có 2 dạng cấu tạo sau:
1) Dạng cấu tạo theo mô hình [Ax - Ay]
Ví dụ: du thủ du thực ; hữu thủy hữu chung ; nhất cử nhất động
2) Dạng cấu tạo theo mô hình [Ax –Việt trong tiếng việt By]
Ví dụ: du sơn ngoạn thủy ; hữu dũng vô mu …
Nh vậy trong thành ngữ Hán - Việt ẩn dụ đối xứng tính chất đối và
điệp là hai đặc trng cơ bản để tạo nên sự đăng đối, hài hòa của nó
2.1.1.3 Khái quát về cấu tạo của thành ngữ Hán - Việt ẩn dụ phi đốixứng
Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê đợc 457 đơn vị thành ngữ Hán Việt
ẩn dụ có cấu tạo phi đối xứng, chiếm tỉ lệ 49,00%.Và qua phân tích cấu tạochúng tôi cũng nhận thấy loại thành ngữ này có cấu tạo giống mô hình cấu tạocủa thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng trong tiếng Việt Chúng gồm hai kiểucấu tạo sau:
1 - Kiểu kết cấu một trung tâm (kết cấu C-P)
+ Thành ngữ có kết cấu cụm danh từ: tam thốn chi thiệt …
+ Thành ngữ có kết cấu cụm động từ: táng tận lơng tâm …
2.- Kiểu kết cấu hai trung tâm (kết cấu C-V)
Ví dụ: Ngu Công di sơn; tái ông thất mã; anh hùng tơng ngộ
Trang 37Nh vậy, qua phần khảo sát và phân tích về đặc điểm cấu tạo của thànhngữ Hán -Việt ở trên chúng ta có thể nhận thấy về mặt cấu tạo thành ngữ HánViệt và thành ngữ thuần Việt có nhiều điểm tơng đồng nhau, điều đó tạo cơ sởcho chúng ta vay mợn các đơn vị thành ngữ của tiếng Hán cũng nh Việt hóacác đơn vị này mà chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu sau đây
2.1.2 Các dạng cấu trúc của thành ngữ Hán - Việt
2.1.2.1 Dạng cấu trúc nguyên thể
Cấu trúc nguyên thể là dạng cấu trúc mà thành ngữ giữ nguyên hình hàikhi đi vào sử dụng Những thành ngữ mợn tiếng Hán khi đi vào hệ thống từvựng tiếng Việt đợc dùng nguyên dạng chiếm tỉ lệ rất lớn so với toàn bộ thànhngữ Hán - Việt trong tiếng Việt Theo thống kê của chúng tôi, trong 933 thành
ngữ Hán - Việt , có 809 thành ngữ thuộc loại này Ví dụ: an bần lạc đạo; án
binh bất động; tự lực cánh sinh; an c lạc nghiệp; tham quyền cố vị; bạo hổ bằng hà; lu phơng bách thế; mãn nguyệt khai hoa ; tiền hô hậu ủng; thanh mai trúc mã;
Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao các thành ngữ này khi nhập vào hệthống từ vựng tiếng Việt mà vẫn giữ nguyên dạng về cấu trúc nh vậy Quaquá trình tìm hiểu, phân tích chúng tôi có suy nghĩ đến một số nguyên nhânsau đây:
Nguyên nhân đầu tiên mà chúng ta phải kể đến đó chính là tính bất biếncủa thành ngữ, nh đã giới thuyết ở Chơng 1, chúng ta có thể khẳng định rằng:thành ngữ là một đơn vị có tính cố định bền vững nhất của ngôn ngữ Kết cấuthành ngữ “chặt chẽ nh nắm đấm“, điều đó đã quy định đến cách sử dụng củathành ngữ Chính vì vậy các thành ngữ Hán - Việt khi đi vào hệ thống từ vựngtiếng Việt thờng đợc dùng nguyên khối
Nguyên nhân thứ hai cũng rất dễ hiểu đó chính là sự gần gũi về loạihình của tiếng Hán và tiếng Việt Nh ta đã biết tiếng Hán và tiếng Việt đềuthuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, có thanh điệu và đại bộ phậnthành ngữ Hán- Việt này đều có cấu trúc 4 âm tiết đợc tạo lập theo phơng thức
đối, điệp, so sánh, giống nh một số cấu trúc phổ biến trong thành ngữ thuầnViệt Điều này là một thuận lợi đáng kể giúp cho việc tiếp nhận các đơn vịnguyên dạng
Một nguyên nhân nữa khiến ta suy nghĩ đến khi lý giải về vấn đề nàychính là có rất nhiều thành ngữ Hán đợc hình thành từ các tích truyện, các câuchuyện lịch sử, các tác phẩm thơ ca của Trung Quốc, chúng gắn liền với lịch
Trang 38sử, văn hóa, t tởng của dân tộc này.Vì vậy, khi vay mợn những đơn vị này,chúng ta không thể tự ý thay thế, biến đổi cấu trúc của chúng, chẳng hạn các
thành ngữ: tam cố thảo l; bồng lai tiên cảnh; tái ông thất mã; bạo hổ bằng
hà; ngu công di sơn;
2.1.2.2 Dạng cấu trúc biến thể
Cấu trúc biến thể là dạng thành ngữ có biến đổi ít nhiều về mặt cấu trúc
so với dạng nguyên thể
Thành ngữ Hán-Việt khi đợc sử dụng trong tiếng Việt, đa phần là đợc
sử dụng nguyên khối Nói nh vậy không có nghĩa là chúng không có biến đổigì so với thành ngữ Hán nguyên gốc Thực tế khảo sát chúng tôi thấy bên cạnhnhững thành ngữ Hán đợc mợn nguyên khối trong tiếng Việt thì có một số l-ợng đáng kể các thành ngữ Hán - Việt khi đi vào hệ thống từ vựng của tiếngViệt đã có những thay đổi nhất định về cấu trúc Theo khảo sát của chúng tôi
số lợng các thành ngữ này chiếm khoảng 13,3% thành ngữ Hán - Việt trongtiếng Việt (với số lợng 124 đơn vị) Về điều này ta cũng hoàn toàn có thể giảithích đợc bằng những cơ sở lý luận rõ ràng
Trớc hết cũng nh các đơn vị ngôn ngữ khác, bên cạnh tính bất biếnthành ngữ còn có tính khả biến, bên cạnh tính cố định nó còn có tính biến đổi
linh hoạt, uyển chuyển F.De Saussure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại
c-ơng đã đề cập đến vấn đề này :“ bên cạnh tính bất biến ngôn ngữ còn có tính
khả biến, thời gian ngoài nhân tố đảm bảo tính liên tục của ngôn ngữ còn cótác dụng khác đó là tác dụng làm biến đổi nhanh các dấu hiệu ngôn ngữ“[35; tr 153] Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ nên bên cạnh tính bất biến nó
có tính khả biến.“ Tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn và tínhuyển chuyển của nó trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, không loạitrừ nhau“ [35; tr 29], mà có mối quan hệ biện chứng với nhau Nh vậy, tínhkhả biến là một thuộc tính cố hữu của ngôn ngữ nói chung và thành ngữ nóiriêng
Tuy nhiên theo chúng tôi điều đáng nói đối với sự biến đổi cấu trúc củaloại thành ngữ Hán - Việt khi đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, đó chính làquá trình Việt hóa các đơn vị từ vựng vay mợn từ tiếng Hán nói chung, trong
đó có thành ngữ Hán - Việt
Quá trình Việt hóa này đã diễn ra trên nhiều cấp độ khác nhau, ngữ âm,cấu trúc, ngữ nghĩa, Trong đó có thể thấy rất rõ là sự Việt hóa về mặt cấutrúc của thành ngữ Hán Việt Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng dới sự tác động
Trang 39của các quy luật tiếng Việt, cấu trúc của thành ngữ Hán Việt khi đi vào hệthống từ vựng tiếng Việt đã có những biến đổi rất linh hoạt, đa dạng và phongphú Cụ thể chúng tôi đã hệ thống đợc một số dạng cấu trúc phổ biến sau:dạng thay thế yếu tố cấu thành (thay yếu tố này bằng yếu tố khác so với thànhngữ gốc); dạng tỉnh lợc yếu tố hay dạng rút gọn (lợc bỏ một hoặc một số yếu
tố trong thành ngữ gốc); dạng đảo trật tự các yếu tố (hoán đổi vị trí các yếu tốtrong thành ngữ gốc); dạng đảo vế trong thành ngữ gốc (hoán đổi vị trí các vếtrong thành ngữ gốc) và cuối cùng là dạng vừa thay yếu tố vừa đảo trật tự cácyếu tố
a) Dạng thay thế các yếu tố cấu thành
Dựa trên cấu trúc của thành ngữ Hán nguyên ngữ, ngời Việt đã dùngbiện pháp thay một hoặc một số yếu tố trong thành ngữ gốc để tạo nên thànhngữ Hán - Việt trong tiếng Việt Sự thay thế này diễn ra ở nhiều mức độ khácnhau: thay một yếu tố, thay hai yếu tố, có thể thay ba yếu tố
a.1) Thay thế một yếu tố
Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê đợc 60 thành ngữ thuộc dạng này.Sau đây là bảng thống kê một số trờng hợp minh họa
Bảng2.2 Các thành ngữ Hán-Việt thay một yếu tố so với thành ngữ gốc
Qua tìm hiểu và phân tích những đơn vị trên chúng tôi nhận thấy một số
đặc điểm sau về mối quan hệ giữa yếu tố thay thế và yếu tố bị thay thế củathành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt với thành ngữ Hán nguyên ngữ
* Yếu tố thay thế và yếu tố bị thay thế có thể cùng phạm trù từ loại, ví
dụ, phúc -> quái (tính từ): tác oai tác phúc -> tác oai tác quái; loạn -> gian (tính từ): loạn thần tặc tử -> gian thần tặc tử; cửu -> thập (số từ): cửu tử nhất sinh -> thập tử nhất sinh; …
Trang 40* Yếu tố thay thế và yếu tố bị thay thế có thể đồng nghĩa (ví dụ: loạn =
gian; diểu = biệt( diểu vô âm tín >biệt vô âm tín) ; tề = đồng(tề tâm hợp lực
-> đồng tâm hợp lực)) ; hoặc trái nghĩa (ví dụ: phân (chia)- đồng (cùng): phân cam cộng khổ -> đồng cam cộng khổ)).
* Những yếu tố thay thế thờng dễ hiểu, gần gũi với ngời Việt hơn so với
yếu tố bị thay thế Ví dụ so sánh: diểu -> tuyệt (diểu vô âm tín - tuyệt vô âm
tín; tịch - lập (khai thiên tịch địa - khai thiên lập địa); phao - xuất (phao đầu
lộ diện - xuất đầu lộ diện); nhất - thợng (nhất lộ bình an - thợng lộ bình an).
* Yếu tố thay thế tạo nên sự đăng đối, hài hòa, cân xứng hơn so với yếu
tố bị thay thế trong thành ngữ gốc Ví dụ: đơn - thất -> đơn- độc (đơn thơng thất mã - đơn thơng độc mã); khắc - minh -> khắc- ghi (khắc cốt minh tâm -
khắc cốt ghi tâm).
a.2) Thay thế hai yếu tố
Qua khảo sát tổng hợp chúng tôi đã thống kê đợc 7 đơn vị thành ngữthuộc loại này:
Ví dụ: trờng thiên đại luận –Việt trong tiếng việt> trờng giang đại hải
nhất tâm nhất ý -> toàn tâm toàn ý
khởi tử hồi sinh -> cải tử hoàn sinh
lập thân xử thế -> đối nhân xử thế
a.3) Thay thế ba yếu tố
Theo khảo sát của chúng tôi có 4 thành ngữ thuộc loại này: xuất một vô
định -> xuất quỷ nhập thần; dân phú quốc cờng -> dân giàu nớc mạnh; khuynh thành khuynh quốc -> nghiêng nớc nghiêng thành; kết thảo hàm hoàn -> kết cỏ ngậm vành.
b) Dạng đảo trật tự các yếu tố
Đây là dạng cấu trúc giữ nguyên các yếu tố trong thành ngữ gốc nhngthay đổi trật tự giữa các yếu tố hay nói cách khác là thay đổi quan hệ giữa cácyếu tố Theo khảo sát và thống kê của chúng tôi, có 5 đơn vị thuộc loại này
Chẳng hạn, thành ngữ Hán “ phong thê ấm tử” có cấu tạo gồm hai cụm
danh từ theo quan hệ [P-C] + [P-C]; khi đi vào tiếng Việt thì đợc chuyển đổi
thành “tử ấm thê phong” (gồm hai cụm danh từ theo trật tự [C-P] + [C-P])
T-ơng tự, thành ngữ Hán “căn thâm cố đế “gồm hai cụm tính từ theo quan hệ