Chính vì thế thành công lớn của các khúc ngâm là tác giả đã biết cáchkhai thác tâm trạng, biết cách sử dụng những thủ pháp nghệ thuật điêu luyệnnh kết cấu điệp-đối, từ láy, đặc biệt sử d
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh
- -cao thị việt nga
Câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc Việt
nam
Luận văn thạc sĩ ngữ văn chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
Mã số: 602201
Ngời hớng dẫn: TS Trần Văn Minh
Vinh, 2006
Trang 2Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Trong văn học Việt Nam, thể loại ngâm khúc đợc ra đời từ giữa thế
kỷ XVIII Đến nửa đầu thế kỷ XIX, thể loại này đạt đợc những thành tựu rực
rỡ, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển nền văn học nớc nhà
Hơn hai trăm năm đã trôi qua, nhng mỗi lần đọc lại những tác phẩmngâm khúc, tâm hồn chúng ta vẫn cảm thấy bồi hồi, rung động xót thơng trớcnhững hoàn cảnh, nỗi đau của nhân vật trong các khúc ngâm, nh Chinh phụ
ngâm (của Đặng Trần Côn, dịch nôm Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc
(Nguyễn Gia Thiều), Ai t vãn (Ngọc Hân công chúa), Thu dạ lữ hoài ngâm(Đinh Nhật Thận), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ) Những tác phẩm tiêu biểu này
đã đánh dấu một mốc son cho nền văn học Việt Nam trung đại
Thông qua các tác phẩm ngâm khúc, ngời đọc luôn đợc chứng kiến, ởng thức một hình thức nghệ thuật đầy sức sống, phong phú, tinh vi, giàumàu sắc âm thanh, nhạc điệu, diễn tả đợc những điều hết sức thầm kín trongtâm hồn con ngời
th-Nếu thơ Đờng luật diễn tả một khoảng khắc của tâm trạng, một cảm xúctrớc cảnh vật, một nỗi buồn thoáng qua thì ngâm khúc lại diễn tả một quátrình tâm trạng phong phú, phức tạp nhng nói chung là đứng yên, không pháttriển mà “ngng đọng lại trên một khối sầu” Với một đối tợng phản ánh nhvậy, nhà thơ nếu không nắm đợc sự phát triển biện chứng của tâm lý con ng-
ời, không có một tài năng nghệ thuật sẽ rất dễ rơi vào miêu tả đơn điệu, nhạtnhẽo Chính vì thế thành công lớn của các khúc ngâm là tác giả đã biết cáchkhai thác tâm trạng, biết cách sử dụng những thủ pháp nghệ thuật điêu luyện(nh kết cấu điệp-đối, từ láy, đặc biệt sử dụng câu hỏi tu từ rất nhiều, ), việc
sử dụng thủ pháp xây dựng hình tợng cho phù hợp với đặc điểm của nhữngtâm trạng ấy tạo thành một hệ thống thi pháp cụ thể, riêng biệt cho thể loạinày
Trang 3Trong tác phẩm ngâm khúc, bằng thủ pháp nghệ thuật điêu luyện, cáctác giả đã miêu tả những tâm trạng bi kịch quằn quại, đau thơng, dai dẳng, uuất, bế tắc của nhân vật, qua đó đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa rộnglớn và sâu sắc.
Để hiểu sâu sắc một tác phẩm văn học, phát hiện đợc nhiều điều mới
mẻ, độc đáo thì không thể không quan tâm đến những đặc điểm của các biệnpháp nghệ thuật mà các tác giả sử dụng Bởi vì, hình thức là phơng tiện đểchuyển tải nội dung ở năm khúc ngâm, các nhà thơ đã sử dụng rất nhiều câuhỏi tu từ
Việc nghiên cứu các tác phẩm ngâm khúc (cả về nội dung lẫn hình thứcnghệ thuật) là một công việc có ý nghĩa thiết thực và bổ ích Nhà phê bìnhvăn học ngời Nga Biê-lin-xky đã chỉ rõ: “Giữa hình thức và nội dung tácphẩm văn học mối quan hệ hoà hợp và hữu cơ”
2 Luận văn này của chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu câu hỏi tu từ đợc
dùng phổ biến trong các khúc ngâm
Câu hỏi (hay câu nghi vấn) là một trong bốn loại câu của tiếng Việt, xét theomục đích phát ngôn Qua việc phân tích cấu tạo và ngữ nghĩa của những câuhỏi tu từ đợc dùng trong các tác phẩm ngâm khúc, chúng tôi muốn góp phầnvào tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật biểu hiện của thể loại này trongvăn học trung đại Việt Nam Đây chính là lý do để chúng tôi chọn đề tài:
“Câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc Việt Nam”.
Trang 4các trích đoạn đó Đồng thời qua đó thấy đợc sắc thái của mỗi tác giả trongviệc sử dụng câu hỏi tu từ ở các tác phẩm ngâm khúc.
II Lịch sử vấn đề liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu thể loại ngâm khúc và các tác phẩm ngâm khúc đã đợcmột số nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đề cập tới Dới đây chúng tôi xin
điểm qua một vài tài liệu của các tác giả đi trớc có liên quan đến đề tài
1 Về thể loại ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam, đã có một
số tài liệu đề cập đến thể loại này ở cả hai mặt: nội dung và nghệ thuật biểuhiện
Trong giáo trình Văn học Việt Nam (cuối thế kỷ XVIII-hết thế kỷ XIX),Nxb Giáo dục, 2001, Nguyễn Lộc đã đề cập hai tác phẩm tiêu biểu: Chinh
phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc Theo tác giả, nội dung của hai tác
phẩm đó viết về bi kịch tâm trạng của các nhân vật Qua đó các tác giả ngâmkhúc đã đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa rộng lớn và sâu sắc NguyễnLộc đã khẳng định: Chính thành công của tác phẩm “là nghệ thuật biểu hiện tâmtrạng[16, 167] Tác giả các khúc ngâm đã biết cách khai thác các tâm trạng, xâydựng hình tợng và cấu trúc tác phẩm Ông đã nhận xét: Chính sự ra đời của Chinh
phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc đã khẳng định một cách vững chắc thể
ngâm trong văn học của giai đoạn này [16, 179]
Trần Đình Sử (trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam,Nxb Giáo dục, 1999) cho rằng: “Việc sáng tạo ra các khúc ngâm, vẫn là mộtsáng tạo thể loại độc đáo của thi ca Việt Nam Sự xuất hiện của thể loại đánhdấu một nhu cầu nội dung biểu đạt mới”[21, 181] Ông khẳng định: rõ ràngvới song thất lục bát trớc thế kỷ XVIII, ta thấy cha có thể ngâm (ví dụ nh: Tứ
thời khúc vịnh, Thiên nam ninh giám tuy là song thất lục bát nhng ngời ta
cha gọi là thể ngâm) Ông tán thành với Phan Ngọc: thể ngâm nên tính từ
Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, nhng ngâm của Đặng Trần Côn
không phải là song thất lục bát Ngâm nghĩa đen vốn là ngâm nga hoặc là rên
Trang 5rỉ do cơ thể đau đớn mà phát ra âm thanh Ngâm là tên một thể thơ ca TrungQuốc[21, 181].
Nội dung của thể ngâm, theo Trần Đình Sử khẳng định, là “niềm thơngtiếc oán hận một giá trị đã mất”[21, 182]
Xét về nghệ thuật, Trần Đình Sử cho rằng: “ở trữ tình nêu lên câu hỏi,
mà ở tự sự không hề biết đến câu hỏi Vì thế giới tự sự là một chỉnh thể, còntrong trữ tình thì thế giới tách thành “cái tôi” và xã hội, cho nên câu hỏi làkhông thể thiếu Đặc biệt là ở thể ngâm khúc, câu hỏi dày đặc và là hỏi về sốphận, về thế giới”[21, 186]
Nhóm biên khảo Những khúc ngâm chọn lọc (tập I, Lơng Văn Đang,Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc (1994) giới thiệu, biên khảo, ghi chú,Nxb Giáo dục) cho rằng: Thể loại khúc ngâm thực sự ra đời không phải với
Tứ thời khúc vịnh ở thế kỷ XVIII mà là với Chinh phụ ngâm của Đặng Trần
Côn, và nhất là với bản dịch tác phẩm ấy của Đoàn Thị Điểm ở giữa thế kỷXVII [5, 9] Đồng thời các tác giả còn khẳng định thành công lớn của cáckhúc ngâm là “tác giả biết cách khai thác tâm trạng và biết cách sử dụngnhững thủ pháp xây dựng hình tợng cho phù hợp với đặc điểm của nhữngtâm trạng ấy, tạo thành một hệ thống thi pháp cụ thể, riêng biệt của thểloại”[5, 17-18)
Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, NguyễnKhắc Phi (1997) đồng chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội), các tác giả
đã định nghĩa ngâm khúc là: thể thơ trữ tình dài hơi thờng đợc làm theo thểsong thất lục bát để ngâm nga, than vãn, nhằm bộc lộ những tâm trạngtình cảm buồn phiền, đau xót triền miên day dứt Vì thế, thể thơ còn đợc gọi
là vãn hay thán Trong văn học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí khá quantrọng và đặc biệt là phát triển mạnh trong giai đoạn thế kỷ XVIII đến giữa thế
kỷ XIX, với những tác giả nổi tiếng Đoàn Thị Điểm Phan Huy ích, NguyễnGia Thiều, Cao Bá Nhạ[8, 169]
Nh vậy, nhìn chung các nhà nghiên cứu văn học có sự thống nhất trongnhận định về hình thức thể loại, về quá trình hình thành, và nội dung cảm
Trang 6hứng chủ yếu của các tác phẩm ngâm khúc Song các nhà nghiên cứu mớidừng lại ở những nhận định có tính chất chung, khái quát của thể loại ngâmkhúc Tuy nhiên, chính những nhận định của các nhà nghiên cứu văn học đãgợi ý và nêu vấn đề để chúng tôi đi vào tiếp cận các tác phẩm ngâm khúc từgóc độ ngôn ngữ.
2 Nội dung và hình thức của các tác phẩm ngâm khúc tiêu biểu đã đợc
một số nhà nghiên cứu văn học Việt Nam quan tâm phân tích
Sách Đến với Chinh phụ ngâm khúc (nhiều tác giả, Nxb Thanh niên,2001) có viết: “Chinh phụ ngâm khúc là tập thơ dài đầu tiên bằng tiếng Việt
mở đờng cho những tập thi ca và văn xuôi có giá trị sau này Thi phẩm đầutiên lại là thi phẩm kiệt tác”[3, 26] Các tác giả cho rằng, ngoài sự tôn trọngnội dung của nguyên văn ra, giá trị của bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúccũng là “một giá trị hình thức”[3, 314]
Trong Giảng văn Chinh phụ ngâm khúc (Nxb Đại học S phạm Hà Nội I,khoa Ngữ văn, Trung tâm Việt Nam học, Hà Nội-1992), Đặng Thai Mai nhận
định: “Chinh phụ ngâm khúc là khúc ngâm của nỗi lòng” Ông cũng đề caothủ pháp nghệ thuật dùng câu hỏi trong tác phẩm này Ông viết: “Câu hỏi đợc
sử dụng ở trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc khá nhiều, hỏi nhng không
hề đợc một câu trả lời tiếp theo Câu hỏi ở đây thờng không phải nêu ranhững thắc mắc thiết tha về cứu cánh mà chỉ là thú nhận sự bất lực của conngời trớc những thực tế phũ phàng, cay nghiệt [18, 47] Ông cho rằng: “thànhcông trong tác phẩm Chinh phụ ngâm là ở trong dân tộc tính của hình thứckhúc ngâm”[18, 72]
Trong sách Đến với cung oán ngâm khúc (nhiều tác giả, Nxb Thanhniên) đã có nhận xét: “Giá trị của Cung oán ngâm khúc là giá trị nghệ thuậthình thức” [4, 491]
ở trờng Đại học Vinh, đã có các đề tài sau đây (về các khía cạnh ngônngữ trong các tác phẩm ngâm khúc) đợc bảo vệ: Điệp và đối trong thể ngâm
Trang 7khúc (Nguyễn Thị Kim Liên, luận văn thạc sĩ, 1998), Từ láy trong thể ngâm khúc (Lê Thị Hà, khoá luận tốt nghiệp, 2004).
3 Về loại câu nghi vấn (câu hỏi), đã có nhiều sách vở Ngữ pháp học
hay Phong cách học tiếng Việt đề cập đến Chúng tôi có thể kể ra một số tàiliệu sau đây có liên quan đến đề tài:
Trong các sách Ngữ pháp tiếng Việt hiện nay (chẳng hạn: Diệp QuangBan (1992), Đỗ Thị Kim Liên (1999), xét theo mục đích phát ngôn, câu hỏi(còn gọi câu nghi vấn) bao giờ cũng là loại câu đợc phân định trong hệ thốngbốn loại câu:
1 Câu tờng thuật (còn gọi: câu trần thuật, câu kể)
2 Câu hỏi (còn gọi: câu nghi vấn)
3 Câu cầu khiến (còn gọi: câu mệnh lệnh)
4 Câu cảm thán (còn gọi: câu cảm)Câu hỏi đợc phân ra:
+ Hoặc thành hai kiểu (theo mức độ hỏi): Câu hỏi toàn bộ và câu hỏi bộphận
+ Hoặc thành các kiểu (theo nhu cầu cần hay không cần câu trả lời):Câu hỏi đích thực và câu hỏi tu từ
Các tài liệu cũng đề cập đến các phơng tiện từ vựng và ngữ âm để thểhiện câu hỏi trong tiếng Việt
Trong 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục H,1996), khi xét về hình thức của câu hỏi tu từ, Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Câuhỏi tu từ là câu hỏi mà thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảmxúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cờng tính diễnngôn”[11, 194] Ông lấy ví dụ ở dạng tiêu biểu nhất:
Vì sao ngày một thanh tân?
Vì sao ngời lại mến thân hơn nhiều?
Vì sao cuộc sống ta yêu?
Mỗi giây mỗi phút sớm chiều thiết tha?
(Tố Hữu)
Trang 8Về ý nghĩa, vai trò và tác dụng của kiểu câu hỏi này, tác giả cho rằng:Câu hỏi tu từ thờng có ý nghĩa khẳng định, nhiều khi nhằm biểu lộ một tâm t,tình cảm, cảm xúc của ngời nói; ý nghĩa khẳng định hay phủ định một ý t-ởng; ý nghĩa mời mọc hay gợi ý thiết tha Tác dụng của kiểu câu hỏi này làchuyển mạch (đóng đoạn trên của bài thơ và mở ra đoạn mới).
Song tác giả còn nhận xét: ở trong thơ ca, loại câu hỏi này có ý nghĩakhẳng định “là sự miêu tả đầy hình ảnh và cảm xúc”[11, 195] Còn trong ngữcảnh của lời nói độc thoại, sự phản ứng đối với câu hỏi đợc chính ngời nóithực hiện mà không đòi hỏi một sự phản ứng ngôn ngữ nào từ phía ngời nghe.Còn trong tờng thuật và trong lời nói nửa trực tiếp, câu hỏi tu từ đợc sử dụng
nh một phơng tiện tái hiện những suy t của nhân vật hay tác giả [11, 196] Trong Phong cách học tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà(1998), Nxb Giáo dục), các tác giả đã dựa vào mục đích chuyển đổi tình tháikhi câu hỏi đợc dùng nh một biện pháp tu từ để chia câu hỏi thành bốn dạngchính:
1 Câu hỏi - khẳng định (còn gọi: câu hỏi tu từ)
2 Câu hỏi - cảm thán
3 Câu hỏi - gợi ý
4 Câu hỏi - nghi vấn
Đối với câu hỏi tu từ (dạng 1), các tác giả cho rằng “kiểu câu hỏi này ởtrong thơ trữ tình là cách nói truyền cảm”[12, 229] Đây là kiểu câu nhằmkhẳng định một ý kiến nào đó chứ không phải để nghe ngời đối thoại thôngtin lại điều mình muốn biết
Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đivào tìm hiểu, ý nghĩa, vai trò và tác dụng của câu hỏi trong phát ngôn vàtrong văn học Tuy có ví dụ để chứng minh song họ chỉ mới dừng lại ở mặtkhái quát mang tính chất chung mà cha có công trình nghiên cứu nào đặt ravấn đề câu hỏi tu từ trong tác phẩm văn học thành một hệ thống hoàn chỉnh,sinh động Đặc biệt cha ai đi vào khảo sát, thống kê,phân tích vai trò của câuhỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc hay trong một tác phẩm văn học
Trang 9Tuy nhiên, tính chất quy phạm của một công trình nghiên cứu văn học hayngữ pháp học và phong cách học tiếng Việt đã giới hạn các nhà nghiên cứu ởmức độ chỉ trình bày vấn đề mang tính chất chung và khái quát.
Vì vậy, chúng tôi có thể khẳng định rằng: đến nay, đề tài về câu hỏi tu
từ trong các tác phẩm ngâm khúc Việt Nam cha có ai nghiên cứu.Tuy nhiên,tất cả những công trình nghiên cứu dẫn trên là những gợi ý, là những định h-
ớng quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài luận văn “Câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc Việt Nam”
III nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
b Thống kê và phân loại số liệu về câu hỏi tu từ trong các khúc ngâmtiêu biểu
c Miêu tả cấu tạo cuả các câu hỏi tu từ trong các khúc ngâm tiêu biểu,
đặc biệt khảo sát các từ nghi vấn đợc dùng trong câu hỏi tu từ
d Phân tích vai trò biểu đạt nội dung tâm trạng nhân vật qua các câu hỏi
tu từ đợc dùng trong các tác phẩm ngâm khúc
2 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài khảo sát, miêu tả, phân tích tất cả các câu hỏi tu từ thống kê đợctrong năm tác phẩm ngâm khúc tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại đólà: Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm), Cung oán
ngâm khúc (của Nguyễn Gia Thiều), Ai t vãn (của Ngọc Hân công chúa), Thu dạ Lữ hoài ngâm (của Đinh Nhật Thận) và Tự tình khúc (của Cao Bá
Nhạ) Các khúc ngâm này đợc Lơng Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang,
Trang 10Nguyễn Lộc tuyển chọn, biên khảo và giới thiệu trong sách Những khúc
ngâm chọn lọc -(Tập I, II) Nxb Giáo dục, 1994
IV Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đợc các nhiệm vụ nói trên, chúng tôi sử dụng các phơngpháp nghiên cứu sau đây:
1 Phơng pháp thống kê-phân loại: Đợc dùng trong công đoạn xác định số
l-ợng, tần số sử dụng câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc tiêu biểu
2 Phơng pháp phân tích - miêu tả: Đợc dùng khi phân tích và miêu tả
câu hỏi trong các tác phẩm ngâm khúc ở hai phơng diện: Cấu tạo hình thức
và vai trò biểu đạt nội dung của chúng đối với tác phẩm
3 Phơng pháp so sánh: Đợc dùng khi so sánh định lợng câu hỏi tu từ
giữa các khúc ngâm và vai trò của chúng trong mỗi tác phẩm
4 Phơng pháp tổng hợp: Đợc dùng khi tiểu kết các chơng và kết luận
cho luận văn
V Đóng góp của luận văn
1 Cung cấp số liệu định lợng về câu hỏi tu từ trong thể loại ngâm khúc
2 Câú tạo của câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc tiêu biểu
3 Nêu đợc vai trò biểu đạt nội dung của câu hỏi tu từ trong các tácphẩm ngâm khúc cụ thể
4 Góp phần cho việc dạy-học các trích đoạn ngâm khúc trong chơngtrình Ngữ văn ở trờng phổ thông hiện nay
Trang 11nội dung Chơng 1: Giới thuyết các khái niệm liên quan
I Thể loại ngâm khúc trong văn học Việt nam
Việc sáng tạo ra các khúc ngâm là một sáng tạo thể loại độc đáocủa thi ca Việt Nam Ngâm khúc là một thể thơ trữ tình dài hơi, đợc viếtbằng ngôn ngữ của dân tộc mang đầy màu sắc âm thanh và nhạc điệu,
có khả năng diễn đạt đợc những điều hết sức thầm kín trong tâm hồncon ngời, có một nội dung và hình thức biểu đạt mới Vì vậy, đây cũng
là một thể loại tiêu biểu đợc các nhà nghiên cứu văn học quan tâmnhiều
1 Khái niệm về thể loại ngâm khúc
Vấn đề khái niệm về thể loại ngâm khúc đợc các nhà nghiên cứuvăn học đa ra nh sau:
Dơng Quảng Hàm (trong sách Việt Nam văn học sử yếu, HàNội,1950) cho rằng: Ngâm là một bài văn vần tả những tình cảm ở tronglòng, nhất là những tình buồn sầu đau thơng [7, 144]
Với định nghĩa trên, nhóm tác giả cuốn Đến với Cung oán ngâm khúc cho rằng: định nghĩa trên chỉ mới dựa theo nội dung và từng phần
của các tác phẩm nên nó cha hoàn toàn đầy đủ Theo họ, “Ngâm tậptrung vào việc miêu tả con ngời cá nhân riêng lẻ mà số phận của nó dobức tranh toàn cảnh xã hội rộng lớn đợc phản ánh trong tác phẩm quy
định Đây là bớc ngoặt lớn lao trong sự tiến triển của thể loại và nó biểuhiện một tính quy luật chung”[4, 639]
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997), đã định
nghĩa ngâm khúc: là thể thơ trữ tình dài hơi thờng đợc làm theo thể songthất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng tìnhcảm buồn phiền, đau xót triền miên day dứt Vì thế thể loại này còn đợcgọi là vãn hay thán Trong văn học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí
Trang 12khá quan trọng và đặc biệt là phát triển mạnh trong giai đoạn thế kỷXVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX, với những tác giả nổi tiếng Đoàn Thị
Điểm, Phan Huy ích, Nguyễn Gia Thiều, Cao Bá Nhạ [8, 169]
1.1 Các đặc trng của thể loại ngâm khúc
Ngâm khúc là một thể thơ độc đáo của văn học trung đại Việt Nam,
đợc hình thành vào cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, là một thểthơ trữ tình dài hơi, đợc viết bằng thể song thất lục bát một thể thơthuần tuý dân tộc, mang nội dung và hình thức sâu sắc
1.1.1 Đặc trng nội dung
Khuynh hớng đi sâu vào nội tâm của con ngời là một khuynh hớng
đậm nét của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầuthế kỷ XIX Bên cạnh truyện thơ và tuồng thì thể loại ngâm khúc cũng
là những tác phẩm trữ tình nên có xu hớng đi sâu vào nội tâm con ngời
rõ nét
Trong những tác phẩm ngâm khúc, nhà thơ thờng thông qua những
bi kịch của tâm trạng để đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa rộng lớn
và sâu sắc Qua nỗi đau buồn, cô đơn sầu muộn của ngời chinh phụ khinhớ thơng chồng nơi chiến trận, qua lời thở than của ngời cung nữ bịruồng rẫy bỏ quên nơi cung cấm, qua cách đối xử bất công, bị giam cầmhay bị đày đi nơi đất khách quê ngời của ngời lữ thứ…, các tác phẩm lầnlợt làm cho ngời đọc ý thức đợc một cách rõ nét, thấm thía thảm hoạcủa những cuộc chiến tranh phi nghĩa.Xã hội phong kiến hà khắc đã tànphá biết bao nhiêu gia đình hạnh phúc, đã cớp đi bao nhiêu tài hoa vànhan sắc Và rồi từ trung tâm của những bi kịch ấy, ngời ta lại nhận racái khát vọng sống của con ngời ở thời đại này đợc biểu hiện một cáchmạnh mẽ
Các tác phẩm ngâm khúc thờng diễn tả những tâm trạng phong phú
và phức tạp của các nhân vật, nhng nói chung là các tâm trạng đó ngng
đọng, không phát triển Thành công lớn của các khúc ngâm chính ở chổ
là các tác giả biết cách khai thác tâm trạng và biết cách sử dụng những
Trang 13thủ pháp xây dựng hình tợng nhân vật cho phù hợp với đặc điểm củanhững tâm trạng ấy, từ đó tạo nên một hệ thống thi pháp riêng biệt củathể loại này
Sự miêu tả và thể hiện những cảm xúc đa dạng ( th ờng là gắn vớiphong cảnh) trong ngâm khúc đã trở thành thủ pháp Nghệ thuật khắchọa tính cách động cho phép làm bộc lộ tính chất mâu thuẫn, biếnchuyển và phức tạp của thế giới bên trong con ngời Đây cũng là mộttrong những nét đặc trng của thể loại ngâm khúc
Chủ đề nội dung của các ngâm khúc là niềm thơng tiếc đau xótkhôn nguôi cho những giá trị nhân sinh đã mất (ng ời chết, tuổi trẻ phôipha, tình yêu nhạt phai hoặc bị rẻ rúng ) Nhân vật trữ tình hồi t ởng, lậtgiở lại từng trang kỷ niệm với một tình cảnh bi kịch, dờng nh không thểcứu vãn những gì đã mất
Trong các tác phẩm ngâm khúc, nhà thơ thờng thông qua những bikịch của tâm trạng để đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa rộng lớn,sâu sắc
Các khúc ngâm phơi trải tấm lòng đau xót, sầu tủi, tiếc hận, oántrách Đó là một kiểu thể hiện thi pháp trữ tình trung đại Nhà thơ bộc lộnỗi lòng bằng cách kể những biểu hiện, những phản ứng tâm trạng, tìnhcảm của các nhân vật Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ: cố tìm lại giá trịnhân sinh mà không tìm đợc; con ngời tuy không cam chịu mất mát giátrị nhng đành bất lực, do bất lực mà lòng khao khát càng mạnh thêm,càng day dứt, sầu hận, oán trách hơn
Nhìn chung, tâm trạng đợc thể hiện qua ngâm khúc là tâm trạngbuồn, u uất, bế tắc Vào đầu tác phẩm thờng là một lời than kéo dài, tiếp
đến là những câu hỏi day dứt, trăn trở khôn nguôi nh một nỗi ám ảnhdai dẳng Nói về Chinh phụ ngâm khúc, giáo s Đặng Thai Mai gọi đó làtâm trạng “ngng đọng lại trên một khối sầu” Nhận xét này, không chỉ
đúng với Chinh phụ ngâm khúc mà còn đúng với tất cả những tác phẩm
Trang 14thuộc thể loại ngâm khúc nói chung Nó tạo thành một sắc thái riêng,một nét độc đáo của loại tác phẩm này.
1.1.2 Đặc trng hình thức
Tác phẩm ngâm khúc đợc viết bằng thể song thất lục bát, một thểthơ mà nhịp điệu có tính chất chu kỳ, thích hợp với việc miêu tả một đốitợng có tính chất đứng yên ít biến động, phù hợp với việc bộc lộ tâmtrạng trữ tình
Ngâm khúc ra đời sau khi đã có thể song thất lục bát, thể thơ này
đã đợc ông Hoàng Sỹ Khải dùng để viết Tứ thời khúc vịnh (thế kỷ
XVII) Tuy nhiên cách gieo vần cha tạo đợc âm hởng hài hoà của câuthơ (chữ cuối câu bát ở khổ thơ trên, hiệp vần với chữ thứ ba câu thấtkhổ dới)
Vậy thể loại ngâm khúc thực sự ra đời không phải với Tứ thời khúc vịnh ở thế kỷ XVII mà là với Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn
và nhất là với bản dịch tác phẩm ấy của Đoàn Thị Điểm ở giữa thế kỷXVIII Có thể nói rằng, chính bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn
Thị Điểm đã mở đầu cho việc sáng tác các khúc ngâm, sáng tác nhữngtrờng ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc
Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc viết về tâm trạng đau buồn triềnmiên của ngời vợ có chồng ra chiến trận.Tiếp theo tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc là sự ra đời của hàng loạt tác phẩm ngâm khúc đợc viết bằng
thể song thất lục bát (nh Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều,
Ai t vãn của Ngọc Hân công chúa, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ ) Các
tác phẩm đó đánh dấu một khuynh hớng phát triển mới của văn học dântộc: khuynh hớng đi sâu vào nội tâm con ngời Đó là những tâm trạngbuồn bã, bi kịch, bế tắc, trăn trở, hy vọng, khát khao Điều này nó tạonên một sắc thái riêng, một nét độc đáo của loại ngâm khúc, và lý giảivì sao những khúc ngâm đợc gọi là thán hay vãn dùng để ngâm ngợi.Các tác giả những khúc ngâm đã biết cách khai thác triệt để đặc
điểm kết cấu của thể song thất lục bát Mỗi khổ thơ gồm một cặp hai
Trang 15câu 7 chữ (ngắt nhịp 3/4) và một cặp lục bát (với cách ngắt nhịp đadạng) ở thể song thất lục bát, hai câu song thất bao giờ cũng ngắt nhịptheo lối 3/4 (khác với thơ thất ngôn Đờng luật ngắt theo nhịp 4/3) Cáckhổ thơ song thất lục bát nối tiếp nhau, tạo thành một âm hởng có tínhchất chu kỳ Do đó, thể song thất lục bát thờng mang cảm giác đều đều,buồn buồn Điều đó thích hợp với việc miêu tả một đối tợng có tính chất
đứng yên, ít biến động Trong các tác phẩm ngâm khúc, hình tợng phongphú chủ yếu ở bề dày, chứ không phải ở bề cao
Trần Đình Sử (Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NxbGiáo dục, 1999) cho rằng, ngời ta nói hình thức của khúc ngâm là song thấtlục bát Điều đó đúng nhng cũng cha đủ Ngâm khúc đã phát triển tột độquan niệm trữ tình trung đại Chính việc kể lể tình cảm mới tạo khả năngsáng tác đợc khúc ngâm dài mà không cần đến cốt truyện
Đề tài trong tác phẩm ngâm khúc thờng là những bi kịch về tâmtrạng, trong đó nhân vật tự bộc lộ tâm trạng của mình Cái tôi trữ tình ở
đây có khi là cái tôi của nhân vật đợc tác giả h cấu (nh ngời chinh phụtrong Chinh phụ ngâm khúc, ngời cung nữ trong Cung oán ngâm khúc),nhng có khi là cái tôi của chính bản thân tác giả (nh Ngọc Hân trong Ai
t vãn hay Cao Bá Nhạ trong Tự tình khúc ).
Thể thơ song thất lục bát là thể thơ có khả năng tạo ra sự cân đốihài hoà Những phơng tiện nghệ thuật chủ yếu mà các tác giả sử dụng làhình thức kết cấu trùng điệp, phép đối và dùng từ láy Tính nhiều vầncủa khuôn thơ song thất lục bát làm cho tình cảm nhớ tiếc lại càng đ ợcthể hiện nổi bật, và do vậy nó có tác dụng với thể loại “ngâm”
Đặc biệt, một biện pháp trữ tình nữa của thể ngâm khúc là nêu câuhỏi (ở thể tự sự không hề biết đến câu hỏi) Vì thế giới tự sự là mộtchỉnh thể, còn trong trữ tình thì thế giới tách thành cái tôi và xã hội, chonên câu hỏi trong thể ngâm khúc là không thể thiếu Câu hỏi ở trong thơtrữ tình ít hơn, còn ở thể ngâm khúc, chúng ta bắt gặp một hệ thống câuhỏi dày đặc: hỏi về số phận, về nguyên nhân, về thời gian, không
Trang 16gian ; cùng với các câu hỏi là những câu than, câu mỉa Đây là nét đặctrng của khúc ngâm, bởi vì các khúc vịnh, khúc vãn (thán) thì nói chungkhông có câu hỏi hớng vào tồn tại.
Kết thúc của truyện Nôm là kiểu kết thúc có hậu, còn kết thúc củangâm khúc thuần tuý là mong ớc thầm kín Trong kiểu kết thúc tự do ấy,tấm lòng nhớ thơng, đau xót, cô đơn đặt lên hàng đầu
phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai t vãn, Thu dạ lữ hoài ngâm,
Tự tình khúc Đó là năm tác phẩm ngâm khúc tiêu biểu đợc chọn đa vào
sách Những khúc ngâm chọn lọc (tập I và tập II, Nxb Giáo dục,1994)
do nhóm tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Thạch Giang, Lơng Văn Đangtuyển chọn, biên khảo và giới thiệu
1.2.1 Chinh phụ ngâm khúc (nguyên tác Hán văn của Đặng Trần
Côn, dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm)
Tác giả nguyên tác (Hán văn) Chinh phụ ngâm khúc là Đặng Trần
Côn Ông sinh tại làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông cũ,
là ngời sống cùng thời với chúa Uy vơng Trịnh Giang, nghĩa là vàokhoảng nửa đầu thế kỷ XVIII Cụ thể ông sinh vào năm nào và mất nămnào không thấy nói rõ, nhng theo Hoàng Xuân Hãn, Đặng Trần Cônsống vào khoảng 1715-1745, thọ cha đến 40 tuổi
Ông là một ngời học rộng, biết nhiều, tuy đỗ đạt không cao, quanchức không to, lúc đầu ông nhận chức huấn đạo ở một tr ờng phủ, sau
đổi sang chính thức làm tri huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ, naythuộc Hà Tây Cuối cùng ông cũng chỉ làm đến chức Ngự sử đài chiếu
Trang 17khán, rồi mất Nhng tài thơ văn của danh sĩ họ Đặng thật nức tiếng mộtthời Phan Huy ích, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ đều khen ngợi và
đánh giá cao thơ ông
Trớc tác, thơ phú ông làm rất nhiều, nhng các tác phẩm đó đềusáng tác bằng Hán văn mà không thấy có tác phẩm nào viết bằng Việtvăn đợc truyền lại Tác phẩm viết bằng Hán văn gồm 470 câu thơ dàingắn khác nhau, đặt theo lối nhạc phủ, là thể loại gồm các bài thơ cổ thể
tự do, không bị gò bó về số câu, số chữ, cách gieo vần, niêm luật có thểphổ nhạc và hát lên đợc
Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc đợc sáng tác trong khoảng
1740-1742 là một trong những thời kỳ rối ren, loạn lạc nhất trong lịch sử ViệtNam lúc bấy giờ
Bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc của bà Đoàn Thị Điểm 1748) Bà là ngời phụ nữ có tài, có sắc Bà dịch Nôm tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc trong thời gian vắng chồng (1743-1745) Bản diễn Nôm
(1705-này là một áng văn hay nổi tiếng, gồm có 408 câu thơ Tác phẩm đ ợcphổ biến sâu rộng không kém Truyện Kiều Tác phẩm phản ánh một vấn
đề nóng hổi của thời đại và khát vọng hoà bình của dân tộc ta Tác phẩm
là lời than thở tha thiết, là tiếng kêu ai oán, sầu não tuyệt vọng của ng ờiphụ nữ có chồng đi chiến trận
Tác phẩm này ra đời đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triểncủa văn học dân tộc Nó nêu lên đợc một vấn đề bức thiết của thời đại
ảnh hởng của tác phẩm rất lớn đối với đơng thời, không chỉ trong thểloại ngâm khúc mà trong cả truyện thơ (nh Truyện Kiều )
Đề tài về ngời chinh phụ là đề tài thờng gặp trong văn học xa Đốitợng thể hiện trong tác phẩm không phải là cuộc sống bên ngoài mà làbản thân chủ thể Tác phẩm viết về đề tài bi kịch tâm trạng: một đôi vợchồng trẻ đang sống yên ấm, hạnh phúc thì bỗng dng chiến tranh xẩy ra,ngời chồng phải ra trận rồi biền biệt không về, ngời vợ ở nhà mòn mỏi
Trang 18trông đợi Nỗi niềm cô đơn, sầu muộn, nhớ thơng da diết nh những lớpsóng vỗ vào lòng nàng.
1.2.2 Cung oán ngâm khúc (của Nguyễn Gia Thiều)
Cung oán ngâm khúc là tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Gia
Thiều, đợc sáng tác hoàn toàn bằng chữ Nôm Đây là một trong nhữngtác phẩm chữ Nôm có ảnh hởng sâu sắc trong lịch sử phát triển của vănhọc dân tộc
Nguyễn Gia Thiều, sinh năm 1741 mất 1789, quê ở làng Liễu Ngạn,tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, tỉnh BắcNinh Sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, ông là ngời nổi tiếng thôngminh, học rộng, văn võ kiêm toàn Không những hiểu biết sâu sắc về vănhọc, lịch sử, triết học nh nhiều nhà văn nhà thơ cùng thời, mà ông còn rất
am tờng về âm nhạc, hội họa, trang trí, kiến trúc
Tác phẩm Cung oán ngâm khúc ra đời cách đây 200 năm, đợc sángtác khi Nguyễn Gia Thiều sống trong một tâm trạng vừa hối tiếc quákhứ, vừa lo lắng cho hiện tại, hốt hoảng trớc tơng lai Có thể nói Cung
oán ngâm khúc là sự giao thoa giữa những tâm trạng ấy.
Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều dựng lại tấn bi kịchcủa ngời cung nữ từng đợc chúa Xuân sùng ái, nhng sau đó bị lãng quênruồng bỏ Cung oán ngâm khúc là lời ngời phụ nữ bị ruồng bỏ, tha thiếtnguyện cầu về hạnh phúc
Tác phẩm trớc hết nhằm kể về những tâm trạng buồn đau, sầu nãonhng trong đó cũng nói đến nhiều niềm vui, hạnh phúc, có cơn giận giữ
và có tia hy vọng Đồng thời tác phẩm phản ánh, tố cáo cuộc sống ănchơi truỵ lạc của bọn vua chúa đã gây ra biết bao đau khổ cho ngời cungnữ, vừa muốn bộc bạch tâm trạng của mình trớc thời cuộc Tác giả đã ýthức đợc một cách sâu sắc sự sụp đổ không phơng cứu chữa của nhà nớcphong kiến Việt Nam lúc bấy giờ
Trong Cung oán ngâm khúc, bằng những câu thơ tràn đầy cảm xúc
và trí tuệ, Nguyễn Gia Thiều đã đánh thức mạnh mẽ lơng tri của ngời
Trang 19đọc để nhìn thẳng vào xã hội phong kiến, một xã hội đang tan rã vìchính những ung nhọt của nó.
1.2.3 Ai t vãn (của Ngọc Hân công chúa)
Tác phẩm Ai t vãn của Ngọc Hân công chúa (vợ vua Quang Trung)
Bà sinh năm 1770, mất 1799, quê ở làng Phú Ninh, phủ Từ Sơn, tỉnh BắcNinh Ngọc Hân ở trong cung nhà Lê từ bé, đợc rèn luyện kinh sử, tậplàm thơ văn
Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh, phù Lê, kếtduyên với công chúa Ngọc Hân
Tác phẩm đợc viết vào năm 1792 khi vua Quang Trung qua đời Ai
t vãn là khúc ngâm của công chúa Ngọc Hân bày tỏ lòng nhớ thơng và
đau buồn của mình đối với chồng Những tâm sự đó đợc diễn tả bằngthể song thất lục bát điêu luyện, thành thục, trôi chảy Ai t vãn là áng
văn đẹp đẽ, não nùng của công chúa Ngọc Hân, qua đó làm nổi bật vẻ
đẹp ngời anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ
đầu cũng lang thang nay đây mai đó, về sau ông đến ở tại một làng thuộchạt Mỹ Đức (nay là Hà Đông), giấu họ tên làm nghề dạy học kiếm sống quangày ở đây ông tởng có thể thoát khỏi oan ngục, nhng rồi có kẻ tố giác,
ông đã bị bắt giam Trong thời gian ở ngục, ông đã viết Tự tình khúc để
bộc bạch nỗi oan của mình
Tự tình khúc là tác phẩm ông bày tỏ chân thực hoàn cảnh bi thảm,
đau thơng, bộc bạch nỗi oan của mình để vua nhận rõ nỗi oan đó mà ânxá cho ông, để cho dòng họ ông khỏi tuyệt diệt, để cho vợ dại, con thơ
Trang 20và mẹ già có nơi nơng tựa Ông mong muốn khao khát đợc sống Nhngcái chết treo lơ lửng trớc mắt đã thôi thúc ông cất tiếng kêu thơng bi ai.Nội dung đau buồn ấy đợc ẩn chứa trong một khúc ngâm với đầy đủ âmthanh, nhịp điệu, hình ảnh và dày đặc những câu hỏi thảng thốt Chính
điều đó đã đem đến cho ngời đọc niềm xúc động mãnh liệt về một cảnhngộ bi thơng, một nỗi căm phẫn đối với xã hội hà khắc ấy, để rồi thôithúc ngời đọc hớng đến cái chân-thiện-mỹ với một tinh thần xót thơngcho đồng loại
1.2.5 Thu dạ lữ hoài ngâm (của Đinh Nhật Thận)
Đinh Nhật Thận là ngời huyện Thanh Chơng, tỉnh Nghệ An Ôngsinh năm 1815 và mất 1866, ông nổi tiếng thông minh, hay chữ, giỏi thơvăn Ông đã đậu tiến sĩ, đợc bổ làm tri phủ
Tác phẩm Thu dạ lữ hoài ngâm đợc viết trong thời gian ông bịtriệu về Huế ông viết tác phẩm bằng chữ Hán theo thể song thất lục bát
và diễn ra quốc âm cùng thể
Khúc ngâm này không bộc lộ một nỗi oán vọng, một lời cầu xinnào mà chỉ dàn trải nỗi sầu li biệt, một nỗi buồn da diết, một nỗi nhớnhung sầu muộn Khúc ngâm tạo ra ở ngời đọc nỗi bất bình với thế lựcphong kiến đã tạo ra cảnh ngộ ly tán mà tác giả đang phải sống
II Câu hỏi trong tiếng Việt
Trớc khi đi vào khảo sát, phân tích hoạt động của câu hỏi trong cáctác phẩm ngâm khúc chọn lọc, chúng tôi đi vào tìm hiểu khái niệm, cấutạo, đặc điểm và vai trò của câu hỏi đã đợc các nhà Ngữ pháp học hayPhong cách học tiếngViệt đề cập đến
2.1 Câu hỏi trong Ngữ pháp học tiếng Việt
Vẫn đề khái niệm, cấu tạo và mục đích sử dụng của câu hỏi đã đợc cácnhà ngữ pháp học tiếng Việt đề cập đến nh sau:
2.1.1 Khái niệm về câu hỏi
Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp học tiếng Việt , Nxb Giáo dục, 1999) đa ra
định nghĩa: Câu hỏi dùng để thể hiện sự nghi vấn của ngời nói về một vấn đề
Trang 21gì đó và mong muốn ngời nghe đáp lời Cuối câu nghi vấn thờng có dấuchấm hỏi (?) [14, 134]
Ví dụ: - Cô ấy có con?
- Phải
(Nguyễn Dậu)Nhờ ở trọng điểm hỏi chứa ở đại từ để hỏi cùng các yếu tố từ vựng trongcâu hỏi và câu đáp có thể ở dạng đầy đủ hoặc tỉnh lợc chỉ còn chủ ngữ, vị ngữhay bổ ngữ
Tùy theo vị thế của ngời đáp trong quan hệ tơng tác với ngời hỏi mà
ng-ời đáp có thể sử dụng các kiểu câu đáp với những tình thái phù hợp Việc sửdụng từ xng hô đứng trớc hay cuối câu có ảnh hởng đến sự thể hiện thái độcủa ngời đáp: tôn trọng, suồng sã, khinh ghét
Ví dụ: - Bà con lối xóm đã ai biết cha?
- Cha → không có chủ ngữ thể hiện sự bình đẳng
(Nguyễn Thi)
2.1.2 Cấu tạo và mục đích sử dụng của câu hỏi
a) Cấu tạo của câu hỏi:
Câu hỏi thờng sử dụng các phơng tiện cấu tạo sau:
*Câu hỏi dùng đại từ để hỏi: loại câu hỏi này chiếm số lợng nhiều nhất.Chúng đợc dùng để hỏi vào những điểm xác định trong câu Do đó ngay cảkhi câu bị tách ra khỏi ngữ cảnh, điểm hỏi trong câu vẫn xác định, nếu câu
đợc dùng để hỏi Có thể gọi kiểu câu này là kiểu câu nghi vấn trọng điểm xác
định Đại từ nghi vấn là đại từ đợc dùng vào chức năng tạo kiểu câu nghi vấnnày Đại từ nghi vấn có thể đợc dùng một mình nh gì, nào hoặc kết hợp với
từ khác: cái gì, bao nhiêu, làm gì, vì sao
Những đại từ nghi vấn thờng gặp có thể chia thành những khu vực có ýnghĩa khác nhau: Hỏi về ngời, vật , việc nh ai, gì, nào
Hỏi về ngời:
Ví dụ: Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Trang 22(Chinh phụ ngâm khúc) Hỏi về số lợng và thứ tự: bao nhiêu, mấy Khi hỏi về số lợng, từ để hỏi
đứng trớc danh từ
Ví dụ: Nức hơi mãnh ơn dày từ trớc,
Trải chốn nghèo tuổi đợc bao nhiêu
(Chinh phụ ngâm khúc)Hỏi về thời gian: bao giờ, bao lâu, chừng nào
Ví dụ: Đến bao giờ ngồi cùng kể chuyện
Kể hơng tình cho đến khách trung
(Thu dạ lữ hoài ngâm)Hỏi về không gian: đâu, chỗ nào, phía nào
Hỏi về tính chất cách thức: thế nào, sao, làm sao
Ví dụ: Phúc xa mòn mỏi thế nào,
Chút lòng thanh bạch nỡ nào mất không
(Tự tình khúc) Hỏi về nguyên nhân: vì sao, tại sao, do đâu, bởi đâu, sao
Ví dụ: Vì đâu nên nỗi dở dang,
Nghĩ mình, mình lại thêm thơng nỗi mình
Cớ sao cách trở nớc non, Khiến ngời thôi sớm thì hôm những sầu
(Cung oán ngâm khúc)
* Câu hỏi dùng phó từ: để tạo câu nghi vấn, tiếng Việt sử dụng các cặp phó từlàm thành các khuôn nghi vấn sau đây, với nội dung hỏi có khác nhau:
Cặp có không? Hỏi về tính chất khẳng định hoặc phủ định Điểm hỏi
là động từ, tính từ nằm ở chỗ dấu ba chấm, vị trí của “có” thờng là trớc vị tố,
tiếng “không” thờng đứng cuối câu
Nếu từ ngữ tại chỗ dấu ba chấm là động từ khác âm với “có” hoặc tính
từ, thì hai tiếng “có/ không” là phó từ khẳng định/phủ định kèm động từ, tính
từ Phó từ “có” cũng có thể vắng mặt
Trang 23Ví dụ: Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ,
Xe thế này có dở dang không?
(Cung oán ngâm khúc) Nếu tại chỗ dấu ba chấm là động từ có mang ý nghĩa “tồn tại” hoặc ýnghĩa “sở hữu” thì tiếng “có” là phó từ thờng vắng mặt
- Cặp có phải không? Hỏi về tính chất khẳng định hoặc phủ định,
điểm hỏi không xác định, chúng có thể tác động bất cứ điểm nào trong câu,
tổ hợp “có phải” thờng đứng đầu câu, tiếng “không” thờng đứng cuối câu, vàtrớc ngữ thái từ cuối câu nếu có, điểm hỏi cũng không xác định
- Cặp đã cha? hỏi về tính hoàn thành và không hoàn thành của động
từ, tính từ làm vị tố, nhng có thể tác động đến bất kỳ yếu tố nào trong vị tốhoặc đứng sau vị tố:
- Cặp có chăng:
Ví dụ: Chập chờn say tỉnh giữa đàng,
Hoa kia có biết đoạn trờng này chăng?
* Câu hỏi dùng quan hệ từ lựa chọn: hay, hay là hoặc Quan hệ từ
“hay” là quan hệ từ bình đẳng, nó đợc dùng trong câu nghi vấn có hạn chếtrong khả năng trả lời bằng cách sử dụng một trong những ý đã đợc ngời hỏi
đa ra Vì vậy câu nghi vấn này cũng đợc gọi là câu nghi vấn lựa chọn Nếucác khả năng đợc đa ra trong câu nghi vấn không đợc lựa chọn, thì ngời đáptrả lời bằng cách bác bỏ toàn bộ chúng
Các khả năng đa ra trong câu nghi vấn lựa chọn phải có liên hệ ý vớinhau, đồng thời phải có điểm khác nhau Nội dung điều đợc đa ra lựa chọn làkhông hạn chế, miễn là đủ rõ nghĩa
Ví dụ: Câu nghi vấn dùng quan hệ lựa chọn hay là
Đêm đêm lại hỏi trời giàThân này ô trọc hay là thanh cao?
(Tình tự khúc)
*Câu hỏi dùng tình thái từ biểu thị sắc thái nghi vấn: chúng gồm nhữngtình thái từ: à, , a, à, hả, hở, chi, ru, chăng loại này điểm hỏi sẽ rất mơ hồkhi đứng riêng, vì vậy thờng phải dựa vào ngữ cảnh để hỏi
Trang 24Ví dụ: Quân đa chàng ruổi lên đờng
Liễu dơng biết thiếp đoạn trờng này chăng?
Lầu hồn cung cấm ấy ru?
Anh hùng lại với trợng phu ai từ
* Câu hỏi dùng ngữ điệu: loại này thờng nâng cao giọng ở câu cuối vìkhông có những phơng tiện nghi vấn hỗ trợ Thông thờng phải có một câu t-ờng thuật (khẳng định hay phủ định) đứng trớc
b) Mục đích sử dụng của câu hỏi
Câu hỏi có mục đích trực tiếp và các mục đích khác không tơng ứng vớihình thức câu hỏi
- Mục đích trực tiếp (mục đích chính) của việc dùng câu hỏi là: Bằngcâu hỏi, ngời nói nêu lên điều mình cha biết (cha rõ, còn hoài nghi) để ngờinghe, bằng câu trả lời, giúp ngời hỏi biết hoặc rõ về điều đã nêu ra
- Ngoài ra, còn có những trờng hợp dùng hình thức là câu hỏi nhngkhông nhằm mục đích nêu trên, mà nhằm vào những mục đích khác Có thểchia thành 5 trờng hợp sau:
* Loại câu hỏi nhằm mục đích tu từ: Trong loại này, mục đích ( ý địnhthông tin) của ngời nói nằm chính ngay trong câu hỏi đó, vì vậy không cầnngời nghe đáp lại Ngời nói chọn hình thức câu hỏi nhằm mục đích tu từ, đểthông tin tác động đến ngời nghe một cách tinh tế, biểu cảm hơn:
Ví dụ: - Há chẳng phải đây là xứ phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thơng
Trang 25* Trờng hợp là câu hỏi có mục đích cầu khiến: loại này ngời nói đề nghị ngờinghe thực hiện một hành động nào đó Ngời nghe thờng phải có hành vi đáp lạibằng ngôn ngữ hay có hành động hởng ứng Dù ngời đó thực hiện hay không thựchiện thì anh ta cũng không còn vô can nh trớc.
Ví dụ: - Anh có thể chuyển hộ em chiếc cặp đợc không?
- Đây ạ (kèm hành động đa chiếc cặp)
→ Hoặc ngời đáp trả lời
- Em đợi anh một lát
* Trờng hợp câu hỏi có mục đích trả lời: loại này nhằm cung cấp thôngtin mà câu hỏi đặt ra
Ví dụ: - Chị định gặp tôi có việc gì?
- Sao ngày nghỉ anh không về?
(Nguyễn Minh Châu)
* Trờng hợp dùng câu hỏi trực tiếp xác nhận nội dung câu hỏi nghe thấytrớc đó theo chiều khẳng định hay phủ định
Ví dụ: - Sao gầy thế chị?
Gầy lắm à?
* Trờng hợp dùng câu hỏi để trực tiếp phản bác lại câu hỏi nghe thấy nétránh câu trả lời
Ví dụ: - Em có phải ngời ở đây không?
- Sao anh lại hỏi nh vậy?
Có trờng hợp dùng câu hỏi nhằm mục đích trả lời chất vấn về hậu quả
do nội dung câu hỏi đặt ra
Ví dụ: - Ông muốn gì hả ông dở hơi?
- Dọa tôi đấy hả?
Khi không có các phơng tiện đánh dấu khác, thì ngữ điệu đặc thù chocâu nghi vấn là ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi, dù trọng điểmhỏi đó đứng ở vị trí nào trong câu, và ở cuối câu không có hiện tợng hạ thấpgiọng một cách rõ rệt
2.2 C âu hỏi trong Phong cách học tiếng Việt
Trang 26Trớc khi đi vào khảo sát, phân tích hoạt động của câu hỏi tu từ trong cáctác phẩm ngâm khúc, chúng tôi tìm hiểu khái niệm, đặc điểm và vai trò củaloại câu hỏi này trong sách vở nghiên cứu về Phong cách học tiếng Việt.
2.2.1.Khái niệm về câu hỏi tu từ
Trong sách Phong cách học tiếng Việt (Nxb Giáo dục, 1999), ĐinhTrọng Lạc đã đa ra định nghĩa: “Câu hỏi tu từ là câu, về hình thức là câu hỏi,
mà về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc” [13, 287]
2.2.2 Đặc điểm hình thức của câu hỏi tu từ
Câu hỏi tu từ là câu về hình thức là câu hỏi, mà về thực chất mục đích là
để khẳng định hoặc phủ định một cách có cảm xúc
* Câu hỏi tu từ thờng dùng các phơng tiện từ vựng sau đây để thể hiện:
- Các đại từ nghi vấn nh: ai, nào, gì, thế nào, bao nhiêu, mấy, bao giờ
đợc dùng để hỏi vào những điểm xác định trong câu
- Các cặp phụ từ có không, đã cha
(Có khi chỉ dùng không, cha mà không dùng có, đã)
- Các tình thái từ nh: à, , nhỉ, nhé, chứ, chăng, hả
- Tổ hợp từ phải không hoặc có phải không
- Quan hệ từ lựa chọn hay, hay là
Khi viết, cuối câu nghi vấn thờng có dấu chấm hỏi (?)
* Câu hỏi tu từ có hai dạng:
- Dạng không đòi hỏi câu trả lời (dạng tiêu biểu nhất) thờng dùng ởtrong thơ ca nhằm tăng cờng tính diễn cảm của phát ngôn:
Ví dụ: Vì sao ngày một thanh tân?
Vì sao ngời lại mến thân hơn nhiều?
Vì sao cuộc sống ta yêu?
Mỗi giây mỗi phút sớm chiều thiết tha?
(Tố Hữu)
- Dạng đòi hỏi câu trả lời (thờng dùng trong lời nói diễn giảng và lờinói chính luận) nh là một phơng tiện hấp dẫn sự chú ý và khêu gợi trí tởng t-ợng của ngời nghe, nâng cao giọng điệu cảm xúc của phát ngôn, thay đổi hơivăn, điều hoà âm điệu, khiến cho việc trình bày, diễn giảng trở nên rõ ràng,
dễ hiểu
Trang 27Ví dụ: Một vấn đề nữa: Có nên gây ra những cuộc phê bình, luậnchiến trong lúc này không?
Chúng tôi trả lời: Có Điều ai cũng nhận thấy là
(Trờng Chinh) Luận văn của chúng tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểu câu hỏi tu từ ở dạngkhông đòi hỏi câu trả lời Dạng này thờng đợc dùng trong thơ ca, cụ thể ở
đây là trong các tác phẩm ngâm khúc tiêu biểu Còn dạng đòi hỏi câu trả lời(thờng đợc dùng trong lời nói diễn giảng và lời nói chính luận), chúng tôikhông đi vào tìm hiểu
2.2.3 Vai trò biểu đạt của câu hỏi tu từ
Câu hỏi tu từ về hình thức là câu hỏi mà về thực chất là câu khẳng địnhhoặc phủ định có cảm xúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉnhằm tăng cờng tính diễn cảm của phát ngôn
Dạng tiêu biểu nhất của câu hỏi tu từ là dạng không đòi hỏi câu trả lời
Đó là cách nói truyền cảm bằng hình thức câu hỏi
Ví dụ: Càng trông càng một xa vời,
Tấc lòng thảm thiết chín trời biết chăng?
(Ai t vãn)Hay: Chiếc thân tựa gối quan hà,
Nỗi niềm tâm sự trăng già thấu chăng?
(Tự tình khúc)Mục đích của câu hỏi tu từ thờng là khẳng định, qua đó làm cho hình t-ợng văn học đẹp đẽ lên gấp bội
Ví dụ: Em là ai? cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay không có tuổi?
Mái tóc em đây hay là mây là suối?
Đôi mắt em nhìn hay lửa chớp đêm đông?
Trang 28Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
(Bản dịch Nôm- Đoàn Thị Điểm)Hay: Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Cũng có khi câu hỏi tu từ có ý nghĩa mời mọc, gợi ý thiết tha
Ví dụ: Em không nghe mùa thu?
Lá thu rơi xào xạc
Ví dụ: Tiếng địch thổi đâu đây
Cớ sao nghe réo rắt?
Lơ lửng cao đa tận lng trời xanh ngắt
Mây bay gió quyến mây bay
(Thế Lữ)
Trong ngữ cảnh của lời nói độc thoại, sự phản ứng đối với câu hỏi đợcchính ngời nói thực hiện Trong những trờng hợp này, câu hỏi không đòi hỏimột sự phản ứng bằng ngôn từ nào từ phía ngời nghe Hình thức hỏi đem đếnmột nghiã giao tiếp mới
Ví dụ: Ai dạy làm rãy tốt, ai dạy đánh Pháp lâu, ai nói cán bộ ngời Kinh
th-ơng ngời Thợng nh thế nào? Đều là Bok Hồ dạy cả, có đúng không?
(Nguyên Ngọc) Trong tờng thuật và trong lời nói nửa trực tiếp, câu hỏi tu từ đợc sử dụng
nh là một phơng tiện tái hiện những suy t của nhân vật hay tác giả
Ví dụ: Núp muốn chạy về làng trớc Làng không còn gì nữa, con heo,con gà , con trâu, hột lúa, đem vô chỗ bí mật hết rồi Nhng Núp không muốncho nó đốt làng Từ ngày đánh Pháp đến nay, Núp đã dẫn làng Kông Hoa
Trang 29chạy chín lần, chín lần làm nhà mới, chín lần làng bị cháy.Lần này nó đốtnữa? không đợc, không cho nó đốt nữa! Núp chạy thẳng về làng Nhng, tớinửa đờng, dừng lại Giữ làng, bỏ rẫy à? Không đợc, phải giữ rẫy trớc AnhThế, huyện đã dặn Núp nh vậy.
(Nguyên Ngọc)
Câu hỏi tu từ đòi hỏi câu trả lời là những câu thờng đợc dùng trong lờinói diễn giảng và lời nói chính luận để làm phơng tiện hấp dẫn sự chú ý vàkhêu gợi trí tởng tợng của ngời nghe, nâng cao giọng điệu cảm xúc của phátngôn, thay đổi hơi văn, điều hoà âm điệu khiến cho việc trình bày, diễn giảitrở nên rõ ràng, dễ hiểu
Ví dụ: Nhng nói kinh tế, quyết định văn hóa của một dân tộc có phải tức
là nói văn hóa đẻ ra trong những điều kiện kinh tế nhất định phải chết theonhững điều kiện kinh tế đó không? Cố nhiên không Đành rằng
(Trờng Chinh)
Trang 30Chơng 2 câu hỏi tu Từ trong các tác phẩm ngâm khúc
1 kết quả thống kê và phân loại
1 Số liệu thống kê
Ngâm khúc là một thể thơ trữ tình dài hơi, thờng đợc làm theo thểsong thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tính cách,tâm trạng đau đớn triền miên dai dẳng của các nhân vật tr ớc cuộc đờidâu bể Vì thế câu hỏi tu từ đợc sử dụng trong các tác phẩm ngâm khúctơng đối nhiều nhằm để diễn tả tâm trạng phong phú, phức tạp của cácnhân vật Qua đó phản ánh cuộc chiến tranh phong kiến và một xã hội
hà khắc đã cớp đi hạnh phúc, tình yêu, cuộc sống của con ngời lơngthiện
Việc sử dụng câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc là mộtbiện pháp nghệ thuật độc đáo, chúng phù hợp với việc miêu tả tâm trạngphong phú, phức tạp của các nhân vật Hệ thống câu hỏi tu từ tạo thànhmột biểu hiện thi pháp cụ thể, riêng biệt cho thể loại ngâm khúc
Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các câu hỏi tu từ trong nămkhúc ngâm tiêu biểu đó là: Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch Nôm của
Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (của Nguyễn Gia Thiều), Ai t
vãn (của Ngọc Hân công chúa), Thu dạ lữ hoài ngâm (của Đinh Nhật
Thận) và Tự tình khúc (của Cao Bá Nhạ) Các khúc ngâm này do LơngVăn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc tuyển chọn, biên khảo vàgiới thiệu trong sách Những khúc ngâm chọn lọc - (Tập I, II) Nxb Giáodục, 1994 Kết quả thu đợc nh sau: Có 170 câu hỏi tu từ/1676 dòng thơ
Số liệu cụ thể của câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc tiêubiểu, chúng tôi sẽ trình bày qua bảng thống kê dới đây:
Bảng 1 : Số liệu thống kê câu hỏi tu từ trong năm tác phẩm ngâm
khúc tiêu biểu
Trang 31Số liệu Tên tác phẩm dòng thơ Số Số câu hỏi tu từ hỏi/ số dòng thơ Bình quân 1câu
Qua bảng thống kê số liệu trên chúng ta thấy:
Bình quân 1câu hỏi/ số dòng thơ của năm tác phẩm ngâm khúc là(9,85)
Trong đó, tác phẩm sử dụng bình quân 1câu hỏi/ số dòng thơ caonhất là Ai t vãn(5,56), thấp nhất là tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc(13,6)
Nhìn chung, các tác phẩm này sử dụng câu hỏi tu từ tơng đối nhiều
Điều này thể hiện hình thức nghệ thuật điêu luyện của các tác giả khúcngâm, đã tạo ra một thể loại tiêu biểu cho văn học trung đại Việt Namnói chung và thể loại ngâm khúc nói riêng
3 Phân loại câu hỏi tu từ trong các khúc ngâm
Cấu tạo của câu hỏi tu từ trong các tác phẩm ngâm khúc cũng rất
đa dạng Dựa vào cấu tạo (số lợng vế câu), chúng tôiphân biệt hai kiểucâu hỏi tu từ: Câu hỏi một vế và câu hỏi hai vế Dựa vào nội dung câu
Trang 32hỏi, chúng tôi phân biệt hai kiểu câu hỏi tu từ: Câu hỏi bộ phận và câuhỏi toàn bộ
3.1 Câu hỏi một vế và câu hỏi hai vế
- Chinh phu tử sĩ mấy ngời
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?
(Chinh phụ ngâm khúc)
- Đêm đêm lại hỏi trời già
Thân này ô trọc hay là thân cao?
(Tự tình khúc)
- Liễu bồ đôi chút cành thơ
Bao giờ bìu ríu bao giờ bồng mang?
(Tự tình khúc)Dựa vào nội dung hỏi (vào cả nòng cốt thông báo CN/VN hay chỉ hỏivào một bộ phận của câu) có thể phân thành hai kiểu:
3.2 Câu hỏi bộ phận và câu hỏi toàn bộ
a) Số liệu:
Trang 33Bảng 3: Số liệu thống kê câu hỏi tu từ bộ phận và toàn bộ trong các khúc ngâm
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây?
- Trên trớng gấm thấu hay chăng nhẽ?
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
(Chinh phụ ngâm khúc)
- Vì đâu nên nỗi dở dang?
Mà xui phận bạc nằm trong má đào
- Thôi thôi ngoảnh mặt làm thinh
Thử xem con tạo gieo mình nơi nao?
- Xe nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không?
(Cung oán ngâm khúc)
- Trằn trọc nỗi đêm thâu ngày tối
Biết cậy ai dập nỗi bi thơng?
- Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở
Nỗi sầu riêng ai gỡ cho xong?
- Cảnh li biệt nhiều phần bát ngát
Trang 34Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi?
- Càng trông càng một xa vời
Tấc lòng thảm thiết chín trời biết chăng?
(Ai t vãn)
- Ơn tiên đế bao giờ báo đáp?
Nợ phù sinh mấy kiếp đền bồi?
- Đen nào dơ đợc đan thầm?
Sầu nào ngăn đợc cao ngâm đôi ngày?
(Tự tình khúc)Dẫn dụ về một số câu hỏi toàn bộ trong các khúc ngâm:
- Sao kiếp ngời nỡ để đấy đây?
- Trong rèm dờng đã có đèn biết chăng?
(Chinh phụ ngâm khúc)
- Liệu thân này với cơ thiền phải nao?
- Cái hoa đã trót giao cành biết sao?
(Cung oán ngâm khúc)
- Cõi thọ sao hẹp bấy hoá công?
- Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai?
(Ai t vãn)
- Sao chẳng biết ngoài miền Bắc động?
- Hai anh ta có chóng hồi hơng?
(Thu dạ lữ hoài ngâm)
II từ nghi vấn trong câu hỏi tu từ ở các khúc ngâm
Từ nghi vấn đợc dùng trong câu hỏi tu từ ở các khúc ngâm tiêu biểu rấtphong phú và đa dạng dùng để nhấn mạnh những vấn đề trong câu
Chúng tôi thống kê các từ nghi vấn trong câu hỏi tu từ ở năm tácphẩm ngâm khúc tiêu biểu Kết quả thu đợc nh sau: có 78 lợt từ nghivấn/tổng số 170 câu hỏi, với 184 lợt dùng /78 lợt từ nghi vấn
1 Số liệu thống kê từ nghi vấn trong các khúc ngâm
Trang 351.1 Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm)
gồm 408 câu thơ
Chúng tôi thống kê đợc các từ nghi vấn sử dụng trong các câu hỏicủa tác phẩm: Có 15 từ nghi vấn/30 câu hỏi, với 33 l ợt dùng/15 từ nghivấn
Số từ nghi vấn và số lợt dùng của các từ nghi vấn
Trong dấu ( ) là thứ tự các câu thơ là câu hỏi tu từ có chứa từ nghivấn trong các khúc ngâm (xem phụ lục ở cuối luận văn)
1 Vì ai: 2 lợt dùng (câu 4,254)
2 Chăng: 4 lợt dùng (câu 48, 81, 196, 300)
3 Ai: 6 lợt dùng (câu 64, 64, 82, 111, 171, 175)
4 Nao: 1 lợt dùng (câu 66)
5 Nơi đâu: 1 lợt dùng (câu 90)
6 Bao nhiêu 1 lợt dùng (câu 94)
7 Nào ai: 3 lợt dùng (câu 100, 100, 153)
14 Với ai; 1 lợt dùng (câu 236)
15 Biết đâu: 1 lợt dùng (câu 292)
1.2 Cung oán ngâm khúc (của Nguyễn Gia Thiều) gồm có 356 câu
thơ
Chúng tôi thống kê đợc các từ nghi vấn sử dụng trong các câu hỏicủa tác phẩm: Có 19 từ nghi vấn/39 câu hỏi, với 42 l ợt dùng/19 từ nghivấn
Số từ nghi vấn và số lợt dùng của các từ nghi vấn
Trong dấu ( ) là thứ tự các câu thơ là câu hỏi tu từ có chứa từ nghivấn trong các khúc ngâm (xem phụ lục ở cuối luận văn)
Trang 3613 Nơi nao: 1 lợt dùng (câu 132)
14 Khi nào: 1 lợt dùng (câu 174)
1.3 Ai t vãn (của Ngọc Hân công chúa) gồm 164 câu thơ.
Chúng tôi thống kê đ ợc các từ nghi vấn sử dụng trong các câu hỏi của tácphẩm: Có 14 từ nghi vấn/25 câu hỏi, với 28 lợt dùng/14 từ nghi vấn
Số từ nghi vấn và số lợt dùng của các từ nghi vấn
Trong dấu ( ) là thứ tự các câu thơ là câu hỏi tu từ có chứa từ nghivấn trong các khúc ngâm (xem phụ lục ở cuối luận văn)
7 Ngày nào: 1 lợt dùng (câu 96)
8 Giờ sao: 2 lợt dùng (câu 101, 105)
14 Chi đâu: 1 lợt dùng (câu 158)
1.4 Thu dạ lữ hoài ngâm (của Đinh Nhật Thận) gồm 140 câu thơ.
Chúng tôi thống kê đợc các từ nghi vấn sử dụng trong các câu hỏicủa tác phẩm: Có 9 từ nghi vấn/21 câu hỏi, với 22 lợt dùng/ 9 từ nghivấn
Số từ nghi vấn và số lợt dùng của các từ nghi vấn
Trang 37Trong dấu ( ) là thứ tự các câu thơ là câu hỏi tu từ có chứa từ nghivấn trong các khúc ngâm (xem phụ lục ở cuối luận văn).
9 Bao giờ: 1 lợt dùng (câu 133)
1.5 Tự tình khúc (của Cao Bá Nhạ) gồm 608 câu thơ.
Chúng tôi thống kê đợc các từ nghi vấn sử dụng trong các câu hỏicủa tác phẩm: Có 21 từ nghi vấn/55 câu hỏi, với 59 lợt dùng/ 21 từ nghivấn
Số từ nghi vấn và số lợt dùng của các từ nghi vấn
Trong dấu ( ) là thứ tự các câu thơ là câu hỏi tu từ có chứa từ nghivấn trong các khúc ngâm (xem phụ lục ở cuối luận văn)
18 Dờng nào: 1 lợt dùng (câu 514
19 Bao nhiêu: 1 lợt dùng (câu 546)
Trang 38Qua bảng thống kê số liệu trên, chúng ta thấy:
Trong tổng số 170 câu hỏi tu từ có 78 lợt từ nghi vấn trong cả nămtác phẩm ngâm khúc Nhìn chung, các tác phẩm đều dùng số l ợt từ nghivấn tơng đối nhiều
Bảng 5 : Số liệu thống kê lợt từ nghi vấn trong câu hỏi tu từ ở các khúc ngâm
Qua bảng thống kê số liệu trên chúng ta thấy:
Nhìn chung, trong năm tác phẩm ngâm khúc số lợt dùng từ nghivấn xuất hiện tơng đối nhiều, có 180 lợt dùng từ nghi vấn trong tổng số
Trang 391/ Tuy câu hỏi tu từ trong năm khúc ngâm dùng nhiều từ (kết hợp từ) nghivấn khác nhau, nhng tần số sử dụng của chúng không đồng đều Có một số từ(kết hợp từ) có số lợng dùng cao hơn hẳn so với nhiều từ khác Chẳng hạn: ai (44lợt dùng), sao (30 lợt dùng), chăng (10 lợt dùng), nào (9 lợt dùng), chi (7 lợtdùng), mấy (7 lợt dùng), đâu (6 lợt dùng)…
2/ Xét theo ý nghĩa nội dung hỏi đợc biểu hiện qua các từ (kết hợp từ)nghi vấn trong các câu hỏi tu từ, có thể thấy các nội dung hỏi chủ yếu củacác nhân vật trữ tình trong năm khúc ngâm
* Hỏi về con ngời: 60 lợt từ đợc dùng, với các từ nghi vấn: ai, vì ai,
nào ai, với ai
* Hỏi về lý do: 43 lợt từ đợc dùng, với các từ nghi vấn: sao, cớ sao, vì
đâu, cớ gì, bởi đâu, giờ sao, lẽ đâu.
* Hỏi về khả năng: 14 lợt từ đợc dùng, với các từ nghi vấn: chăng, hay,
hay là.
* Hỏi về địa điểm: 11 lợt từ đợc dùng, với các từ nghi vấn: đâu, nơi
nào, nơi nao, nơi đâu, nao.
* Hỏi về thời gian: 6 lợt từ đợc dùng, với các từ nghi vấn: bao giờ, khi
nào, cha, ngày nào, giờ sao.
Số liệu trên cho thấy những mối quan tâm, bức xúc chủ yếu trong tâmtrạng của nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm
Trớc hết, đó là về con ngời (Ai gây ra nỗi này? Ai phải chịu tráchnhiệm? Ai quan tâm đến mình? Mình có thể chia sẻ nỗi lòng với ai? Mình cóthể đợc hởng hạnh phúc cùng ai?.v.v…)
Cuộc đời của các nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm phải chịu đựng,phải chứng kiến vô số những điều phi lý, bất công, ngang trái Các câu hỏi về
lý do của thực trạng ấy luôn trăn trở, đi về trong tâm trí họ Đó là lý do làmcho các câu hỏi về nội dung này đứng hàng thứ hai về số lần sử dụng
Ngoài ra, những câu hỏi về khả năng biến đổi, biến chuyển của thựctrạng, câu hỏi về địa điểm, về thời gian cũng canh cánh trong lòng các nhânvật trữ tình
Trang 402 Vị trí của từ nghi vấn trong các khúc ngâm
Việc sử dụng từ nghi vấn trong các khúc ngâm rất phong phú và đa dạng.Xét về vị trí, các từ nghi vấn Có thể đứng đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu ởmỗi vị trí khác nhau của từ nghi vấn, chúng đều mang sắc thái diễn tả khácnhau
Chẳng hạn, việc sử dụng từ nghi vấn của từ “ai” trong các tác phẩmngâm khúc rất phong phú và mang nhiều sắc thái diễn tả khác nhau Khi đứng đầu câu thơ:
Ai bày trò bãi bể nơng dâu?
Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dơng?
(Cung oán ngâm khúc)
Từ “ai” ở đây không chỉ là lời thở than, là tiếng kêu đau xót mà nóvang lên nh một câu hỏi day dứt trớc sự đổi thay phú phàng của số phận.Khi đứng giữa câu thơ:
Cậy ai mà gửi tới cùng, Để chàng thấu hết tấm lòng tơng t
Cậy ai mà gửi tới nơi,
Để chàng trân trọng dấu ngời tơng thân
(Chinh phụ ngâm khúc)
Từ “ai” ở đây thể hiện cả một nỗi niềm mong mỏi của ngời chinhphụ, có ai đó có thể giúp mình nhẵn gửi cho chàng hiểu tấm lòng nhớthơng vời vợi trong những tháng ngày cách xa…
Hay: Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng?
Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn?
(Cung oán ngâm khúc)
Từ “ai” ở đây lại nhẫn mạnh nhan sắc ngời con gái bị tàn phai, bâygiờ “ai trọng, ai nhìn”, nỗi xót xa vì thân phận bị bỏ rơi không th ơngtiếc
Khi ở cuối câu thơ:
Nào ai trang điểm màu thu,Hoa vàng chén bạc tạc thù với ai?
(Tự tình khúc)