1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của khẩu phần ăn đến năng suất sữa và tình trạng sức khỏe của bò sữa holstein friesian nuôi tại trang trại bò sữa công ty CPTP sữa TH, huyện nghĩa đàn, tỉnh nghệ an

78 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 245,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung tiền chất glucose glycoline trong khẩu phần của bò sữa đến trao đổi chất, năng suất sữa, khối lượng của bò giai đoạn sau đẻ.. AXBBH tiếp tục được h

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ QUYẾT THẮNG

ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN NĂNG SUẤT SỮA VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA BÒ SỮA HOLSTEIN FRIESIAN NUÔI TẠI TRANG TRẠI BÒ SỮA CÔNG TY CPTP SỮA TH, HUYỆN

NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Xuân Trạch

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan

và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội ngày 04 tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Quyết Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn GS.TS Nguyễn Xuân Trạch, TS Nguyễn Ngọc Hùng, TS Võ Văn Sự và

TS Trần Hiệp trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy hướng dẫn.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các các thầy cô giáo bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, khoa Chăn nuôi, học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn, góp ý sửa đổi cho tôt trong quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời, tôi xin được gửi lời biết ơn đối với Ban lãnh đạo công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài Cảm ơn các anh chị em làm việc tại Trung tâm thức ăn cụm trang trại số 2, các anh chị em bộ phận thức ăn,

bộ phận thông tin, bộ phận thú y làm việc tại trang trại bò sữa số 5, công ty CPTP sữa TH đã giúp đỡ về mọi mặt và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân, gia đình đã giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình thực hiện đề tài và luận văn./.

Hà Nội ngày 04 tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Quyết Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục sơ đồ, đồ thị vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thuyết khoa học 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tàı lıệu 4

2.1 Nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa 4

2.1.1 Nhu cầu thu nhận vật chất khô 4

2.1.2 Nhu cầu về năng lượng 5

2.1.3 Nhu cầu protein 6

2.2 Khả năng thu nhận thức ăn của bò 7

2.2.1 Cơ chế điều hòa thu nhận thức ăn của bò 7

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới lượng thu nhận thức ăn 9

2.3 Ảnh hưởng của thức ăn thu nhận đến năng suất sữa bò 21

2.4. Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng giai đoạn chuyển tiếp đến sức khỏe và sản lượng sữa của bò sau đẻ 23

2.5. Ảnh hưởng của bổ sung tiền chất glucose đến sức khỏe và năng suất sữa bò sau đẻ 26

2.5.1 Trao đổi năng lượng của bò sữa sau khi đẻ 26

2.5.2 Bệnh ketosis 27

2.5.3. Ảnh hưởng của bổ sung tiền chất Glucose đến sức khỏe và năng suất sữa của bò sau đẻ 29

Trang 5

Phần 3 Nộı dung và phương pháp nghıên cứu 35

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 35

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 35

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 35

3.2.1. Nội dung 1: Ảnh hưởng của mức cho ăn đến khối lượng, điểm thể trạng và năng suất của bò sữa giai đoạn trên 200 ngày của chu kỳ vắt sữa 35

3.2.2. Nội dung 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung tiền chất glucose (glycoline) trong khẩu phần của bò sữa đến trao đổi chất, năng suất sữa, khối lượng của bò giai đoạn sau đẻ. 38 3.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

Phần 4 Kết quả thảo luận 43

4.1. Ảnh hưởng của mức cho ăn đến năng suất sữa, khối lượng và điểm thể trạng của bò 43

4.1.1. Ảnh hưởng của mức cho ăn đến khả năng thu nhận thức ăn của bò 43

4.1.2 Ảnh hưởng của mức thu nhận thức ăn đến năng suất sữa của bò 45 4.1.3. Ảnh hưởng của mức cho ăn đến khối lượng và điểm thể trạng của bò47 4.1.4 Ảnh hưởng của mức cho ăn đến chi phí sản xuất sữa 48

4.2. Ảnh hưởng của tiền chất glucose đến năng suất sữa và thể trạng của bò sau đẻ 50

4.2.1 Ảnh hưởng của tiền chất Glucose đến nồng độ BHBA trong máu 50 4.2.2. Ảnh hưởng của tiền chất Glucose đến nồng độ Glucose trong máu 53

4.2.3. Ảnh hưởng của tiền chất Glucose đến khả năng thu nhận thức ăn của bò55 4.2.4. Ảnh hưởng của tiền chất Glucose đến năng suất sữa và khối lượng của bò sau đẻ 57

Phần 5 Kết luận và kıến nghị 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 60

Tàı lıệu tham khảo 61

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

NDF Xơ tan trong môi trường trung tính

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1.Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 36

Bảng 3.2.Thành phần khẩu phần thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) cho bò trên 200 ngày vắt sữa 36

Bảng 3.3.Thành phần dinh dưỡng 1 kg TMR khẩu phần bò trên 200 ngày vắt sữa 37 Bảng 3.4.Bố trí thí nghiệm 2 39

Bảng 3.5.Khẩu phần thức ăn dành cho bò 21 ngày trước khi đẻ 39

Bảng 3.6.Thành phần dinh dưỡng 1 kg TMR khẩu phần bò 21 ngày trước đẻ 40 Bảng 3.7.Khẩu phần thức ăn dành cho bò vắt sữa 0-30 ngày sau đẻ 40

Bảng 3.8.Thành phần dinh dưỡng 1 kg TMR khẩu phần bò 30 ngày sau đẻ 41

Bảng 4.1.Khả năng thu nhận thức ăn của bò ở các mức cho ăn khác nhau 44

Bảng 4.2.Năng suất sữa của bò theo mức cho ăn khác nhau 46

Bảng 4.3.Ảnh hưởng của mức cho ăn đến khối lượng và điểm thể trạng bò 48

Bảng 4.4.Hiệu quả kinh tế từ sữa của các mức cho ăn khác nhau 49

Bảng 4.5.Kết quả theo dõi nồng độ BHBA (mmol/L) trong máu của bò giai đoạn sau đẻ 51

Bảng 4.6.Kết quả theo dõi nông độ Glucose (mg/L) trong máu của bò giai đoạn sau đẻ 54

Bảng 4.7.Chi phí và mức thu nhận thức ăn của các nhóm bò 56

Bảng 4.8.Năng suất sữa và biến động khối lượng bò giai đoạn sau đẻ .58

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1 Thay đổi lượng thu nhận thức ăn ở bò theo giai đoạn của chu kỳ sữa

16

Sơ đồ 2.2 Con đường hình thành thể ketone trong gan và sử dụng thể ketone

cho năng lượng ở cơ và não. 28

Đồ thị 4.1 Lượng thức ăn thu nhận theo ngày thí nghiệm 45

Đồ thị 4.2 Biến động năng suất sữa theo ngày của các mức cho ăn 46

Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của mức cho ăn đển tiêu tốn thức ăn cho sản xuất sữa 48

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Vũ Quyết Thắng

Tên Luận văn: Ảnh hưởng của khẩu phần ăn đến năng suất sữa và tình trạng sức khỏe của bò sữa Holstein Friesian nuôi tại trang trại bò sữa công ty CPTP sữa TH, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu: Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến năng suất sữa, khối lượng cơ thể, điểm thể trạng cũng như hiệu quả kinh tế khi sử dụng các mức cho ăn khác nhau.

Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung tiền chất glucose đến năng suất sữa, biến động khối lượng cơ thể, năng suất sữa và tình trạng mắc bệnh ketosis ở bò giai đoạn sau đẻ.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương phápbố trí thí nghiệm để theo dõi các thông số trên cá thể bò Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học để bố trí thí nghiệm, lấy mẫu, xử lý số liệu và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan

và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của một số phần mềm Excel, Minitab.

- Sụt giảm khối lượng trước và cuối thí nghiệm của nhóm cho ăn 90%, 100%, 110% lần lượt là 3,73% và 2,72% và 0,03% (P<0,05).

- Điểm thể trạng nhóm cho ăn 90% giảm 0,013 điểm, nhóm cho ăn 100% tăng 0,003 và nhóm cho ăn 110% tăng 0,005 điểm (P >0,05).

- Sử dụng các mức cho ăn tăng và giảm 10% so với khẩu phần lý thuyết không làm thay đổi có ý nghĩa về năng suất sữa của bò trong thời gian ngắn Tuy nhiên khi

sử dụng mức cho ăn thấp hơn 10% so với khẩu phần lý thuyết cho hiệu quả kinh tế cao hơn mặt khác, sử dụng mức ăn thấp hơn 10% so với lý thuyết cũng làm giảm khối lượng của bò

ở mức đáng kể.

Trang 10

2 Ảnh hưởng của việc bổ sung tiền chất glucose (glycoline) trong khẩu phần của bò sữa đến năng suất sữa, khối lượng của bò giai đoạn sau đẻ

- BHBA trong máu của bò đẻ lứa 1 tại thời điểm 5-8 ngày sau đẻ của các nhóm

ĐC, TN1, TN2 và TN3 lần lượt là 0,7, 1,6, 0,95 và 1,6 mmol/L (P>0,05 giữa nhóm ĐC và TN2 với nhóm TN1 và TN3) Tại thời điểm 21-24 ngày vắt sữa lần lượt là 0,93, 1,78, 2,1 và 2,13 mmol/lit (P<0,05 giữa nhóm ĐC và các nhóm còn lại) Ở bò trưởng thành, BHBA tại thời điểm 5-8 ngày vắt sữa của các nhóm ĐC, TN1, TN2, TN3 lần lượt là 2,18, 2,12, 1,63 và 1,94 mmol/lit (P<0,05 giữa nhóm TN1 và TN2) Tại thời điểm 21-24 ngày vắt sữa lần lượt là 1,8, 1,51, 1,75 và 1,39mmol/lit (P<0,05 giữa nhóm ĐC và nhóm TN3).

- Chỉ số glucose trong máu ở bò đẻ lứa 1 giai đoạn 5-8 ngày vắt sữa của các nhóm

ĐC, TN1, TN2, TN3 lần lượt là 52,75, 36,00, 50,0 và 40,5 mg/lit P<0,05 giữa nhóm ĐC và nhóm TN1, TN3 Giai đoạn 21-24 ngày vắt sữa của các nhóm ĐC, TN1, TN2, TN3 lần lượt 50,0, 41,0, 47,75 và 38,25 mg/lit (P<0,05 giữa nhóm ĐC và nhóm TN2 với nhóm TN1, TN3) Ở bò trưởng thành Glucose trong máu giai đoạn 5-8 ngày vắt sữa của các nhóm ĐC, TN1, TN2, TN3 lần lượt là 30,71, 34,88, 42,4 và 35,5 mg/lit (P<0,05 giữa nhóm TN2 với các nhóm khác) Giai đoạn 21-24 ngày vắt sữa của các nhóm ĐC, TN1, TN2, TN3 lần lượt 37,5, 41,71, 43,86 và 41,14 mg/lit (P>0,05).

- Khả năng thu nhận thức ăn của bò trước khi đẻ của các nhóm ĐC, TN1, TN2

và TN3 lần lượt là 109%, 109%, 112% và 112% so với khẩu phần lý thuyết Giai đoạn 0-30 ngày sau đẻ lần lượt là 96,7%, 90,5%, 96,7% và 90,5% (P<0,05).

- Năng suất sữa của bò đẻ lứa 1 của các nhóm ĐC, TN1, TN2, TN3 lần lượt là 22,87, 23,33, 20,35, 21,15 lit/con/ngày Ở bò trưởng thành lần lượt là 29,39, 31,27, 30,02 và 29,12 lit/con/ngày (P<0,05 giữa nhóm TN1 và TN3).

- Biến động khối lượng ở ngày đầu đến ngày 30 sau đẻ của bò lứa đẻ 1

ở các nhóm lần lượt là -21,8, -86,3, -18,5 và -53,5 kg/con (P <0,05) Ở bò trưởng thành lần lượt là -55,2, -45,2, -59,56 và -51,5 kg/con (P>0,05).

- Không thấy tác dụng rõ rệt hiệu quả của việc sử dụng chất tiền glucose (glycoline) trong điều kiện chăn nuôi tại trang trại Bổ sung tiền chất glucose không làm tăng năng suất sữa của bò, cũng không làm giảm mức độ bệnh ketosis cận lâm sàng của bò sau đẻ Sử dụng tiền chất glucose làm tăng giá thành thức ăn, giảm hiệu quả kinh tế.

ix

Trang 11

THESIS ABSTRACT Master candidate: Vu Quyet Thang

Thesis title: Effect of diet rations on milk yield and health status of Holstein Friesian dairy cows raised on dairy farms of THMilk Joint Stock Company, Nghia Dan district, Nghe An province

Major: Animal Science Code: 60 62 01 05 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives: Evaluate the effect of using different feeding level to milk yield, body weight, body condition score of cows and economic efficiency Materials and Methods: Use the experimental layout method to monitor the parameters

of the cows Apply mathematical statistical analysis methods for experimental layout, sampling, data processing and result evaluation to ensure objective requirements and accuracy are allowed with the support of some software Excel, Minitab.

Main findings and conclusions

1 Effects of feeding levels on milk yield, body weight and body condition score.

- The feed intake of group fed 90%, 100% and 110% was 90%, 96% and 98% respectively The milk yield of the groups was 28.14 liters/cow/day, 28.22 liters/cow /day and 28.21 liters/cow/day (P> 0.05).

- The drop in body weight from first day and end of experiment of the group fed 90%, 100%, 110% was 3,73%, 2,72% and 0,03%, respectively (P < 0,05).

- The body condition score (BCS) of group fed 90% was decreased by 0,013, group fed 100% by 0,003 and group fed 110% by 0,005 (P> 0,05).

- Increased or decreased 10% feeding levels based in the theoretical diet did not significantly alter the milk yield of cows in the short term.

2 Effects of supplementation of glucose precursors (glycoline) in diets

on milk yield, body weight of dairy cow after calving.

- BHBA in the blood of first lactation cows at 5-8 day in milk (DIM) of group control (ĐC), TN1, TN2 and TN3 were 0,7, 1,6, 0,95 and 1,6 mmol/L, respectively (P >0,05 between group

ĐC, TN2 with group TN1, TN3) At 21-24 DIM were 0,93, 1,78, 2,1 and 2,13 mmol/l (P <0,05 between group TN1 and other groups) In adult cows, BHBA at milking 5-8 DIM of group ĐC, TN1, TN2, TN3 were 2,18, 2,12, 1,63 and 1,94 mmol/l, respectively (P <0,05 between group TN1 and TN2) At 21-24 DIM were 1,8, 1,51, 1,75 and 1,39 mmol/l, respectively (P <0,05 between group ĐC and group TN3).

Trang 12

- The glucose in blood test of first lactation cow at 5-8 DIM of group ĐC, TN1, TN2, TN3 were 52,75, 36,00, 50,0 and 40,5 mg/l, respectively (P <0,05 between group ĐC, TN2 with group TN1, TN3) At 21-24 DIM, result of group ĐC, TN1, TN2, TN3 were 50,0, 41,0, 47,75 and 38,25 mg/l, respectively (P <0,05 between group ĐC, TN2 with group TN1, TN3) In adult cows, glucose in the blood test at 5-8 DIM of group ĐC, TN1, TN2, TN3 were 30,71, 34,88, 42,4 and 35,5 mg/l, respectively (P <0,05 between group TN2 and other groups) At 21-24 DIM of groups ĐC, TN1, TN2, TN3 were 37,5, 41,71, 43,86 and 41,14 mg/l, respectively (P> 0,05).

- Feed intake of cows before calving of group ĐC, TN1, TN2, TN3 were 109%, 109%, 112% and 112%, respectively (P<0,05).

- The milk yield of first lactation cows of group ĐC, TN1, TN2, TN3 were 22,87, 23,33, 20,35, 21,15 liters/cow/day, respectively In adult cows were 29,39, 31,27, 30,02 and 29,12 liters/cow/day respectively (P <0,05 between group TN1 and TN3).

- Body weight drop on first DIM to DIM 30 of first lactation by were -21,8,

86,3, 18,5 and 53,5 kg/cow, respectively (P <0,05) In adult cows were 55,2, 45,2, 59,56 and -51,5 kg/cow, respectively (P>0,05).

No significant effect of use of glycoline precursors on body condition score was observed Addition of glucose precursors did not increase cow's milk yield, nor reduced the level

of subclinical ketosis in postpartum cows Using glucose precursors increases the cost of feed, reducing economic efficiency.

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, chăn nuôi bò sữa đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi bò sữa ngày càng đa dạng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội Ở Việt Nam, trong những năm gần đây chăn nuôi bò sữa đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt có sự thay đổi lớn về quy mô, phương thức chăn nuôi Các mô hình chăn nuôi bò sữa tập trung hình thành với sự đầu tư công nghệ, tài chính mạnh mẽ, điển hình là Công ty Cổ phần thực phẩm sữa

TH, Vinamilk, Mộc Châu, Hoàng Anh Gia Lai Trong đó đặc biệt nói đến công ty

Cổ phần Thực phẩm sữa TH đã áp dụng chăn nuôi quy mô tập trung công nghiệp đã khẳng định sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam Sự thành công đó càng được khẳng định khi các trang trại của công ty này được xây dựng và chăn nuôi tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An vốn là khu vực nắng nóng, điều kiện thời tiết rất khắc nghiệt đối với bò sữa Bước đầu thành công của công nghệ cao trong chăn nuôi bò sữa của Công ty CPTP sữa TH đồng thời khẳng định vai trò quyết định của việc áp dụng Công nghệ cao trong chăn nuôi, trong đó có công nghệ về dinh dưỡng và thức ăn.

Thức ăn quyết định rất nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của không chỉ công ty TH mà với tất cả bất kỳ trang trang trại bò sữa nào Với chi phí dành cho thức ăn chiếm 50-65% chi phí sản xuất ra 1 lít sữa, việc áp dụng chính xác, thành công công nghệ thức ăn sẽ là chìa khóa cho sự thành công của trang trại.

Với quy mô đàn hiện tại, công ty đang sử dụng phần mềm NDS kết hợp với Ration all để tính toán và xây dựng khẩu phần cho từng nhóm bò Tuy nhiên, do quy mô đàn lớn, cộng với đặc điểm sản xuất công nghiệp, công ty đang gặp khó khăn trong việc phân chia đàn thành từng nhóm nhỏ Thực tế mỗi nhóm bò đang nuôi nhốt từ 170-200 con, bao gồm các các chu kỳ sữa khác nhau Một số thời điểm, ngày vắt sữa (DIM) biến động lớn trong mỗi nhóm bò (từ 31 – 400 ngày), năng suất sữa cá thể bò trong nhóm cũng biến động từ 16 lít đến 65 lít/con/ngày Ở những giai đoạn này, công ty vẫn đang áp dụng chung chương trình cho ăn: sử dụng chung công thức cho các nhóm bò này Năm 2015, thức ăn thu nhận trung bình trong giai đoạn mùa hè của những nhóm này là khoảng 23 kg VCK/con/ngày.

Tỷ lệ bò có điểm thể trạng >3,75 tại thời điểm cạn sữa là 8% Đây là điểm thể

Trang 14

trạng không mong muốn cho bò sữa tại thời điểm cạn sữa, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất sữa ở chu kỳ tiếp theo Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này có thể do sự chênh lệch về chu kỳ sữa, năng suất sữa, ngày vắt sữa dẫn đến khẩu phần không cung cấp chính xác được theo nhu cầu của bò Xuất phát từ thực tế đó, mong muốn của nghiên cứu là thay đổi mức ăn của bò ở mức 90%, 110% so với lý thuyết nhằm đánh giá khả năng

ăn của bò, đánh giá tình trạng biến động khối lượng, điểm thể trạng của bò

và hiệu quả kinh tế, từ đó đưa ra mức cho ăn hợp lý nhất.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập đến dinh dưỡng trước và sau giai đoạn bò đẻ Đây là giai đoạn rất nhạy cảm đối với bò sữa cao sản Với nhu năng lượng phục vụ cho sản xuất lượng lớn sữa sau khi đẻ, trong khi thức ăn thu nhận không đáp ứng đủ nhu cầu, cơ thể cần huy động năng lượng từ mỡ Việc huy động năng lượng từ mỡ là sinh lý bình thường, cần thiết cho sự phục hồi điểm thể trạng chuẩn bị cho chu kỳ sữa mới cũng như chu kỳ sinh sản tiếp theo của gia súc Tuy nhiên việc huy động ở mức cao có thể làm mất cân bằng năng lượng, là nguyên nhân lớn dẫn đến mất điểm thể trạng quá mức giai đoạn sau khi đẻ, phát sinh tình trạng rối loạn dinh dưỡng sau đẻ, ảnh hưởng đến năng suất sữa Theo thực tế trong những năm gần đây, tình trạng một số bệnh như ketosis, đẻ khó, viêm nội mạc tử cung trên đàn bò TH đang ở mức khá cao Theo số liệu báo cáo của trại số 5, công ty CPTP sữa TH, năm 2015, tỷ lệ

bò đẻ khó cần can thiệp là 22%, tỷ lệ bệnh viêm nội mạc tử cung là 21%, tỷ lệ bệnh ketosis là 30- 35% ở các mức độ khác nhau Đây là biểu hiện của sự mất cân bằng năng lượng đối với đàn bò, là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sản xuất sữa, ngày động dục, tỷ lệ đậu thai Nhận thức được vấn đề này, ban quản lý, bộ phận chuyên môn của trang trại tiến hành tìm các giải pháp nhằm hạn chế sự mất cân bằng năng lượng của bò giai đoạn sau đẻ Thực tế trên thị trường có khá nhiều sản phẩm nhằm hạn chế huy động mỡ cho gia súc sau đẻ, như các chất tiền glucose như monopropylen glycol, glycerol, propionate , tuy nhiên trên thực tế đàn bò nuôi tại TH, việc bổ sung các tiền chất glucose này có thực sự giải quyết được việc mất cân bằng năng lượng hay không, có đem lại hiệu quả kinh tế hay không đặt cho công ty những thắc mắc lớn Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đi trả lời những câu hỏi trên, góp phần đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi của công ty.

Trang 15

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Trong chăn nuôi bò sữa công nghiệp, rất nhiều các giải pháp dinh dưỡng được đặt ra nhằm đảm bảo sức khỏe và năng suất sữa cho bò Tuy nhiên trong điều kiện chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp tại Việt Nam, việc triển khai các giải pháp đó có thực sự phù hợp và có hiệu quả hay không đang là dấu hỏi lớn Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra một số giả thuyết như sau:

- Khi sử dụng các mức ăn cao hơn và thấp hơn 10% so với nhu cầu

lý thuyết thì không làm ảnh hưởng đến thể trạng và sức sản xuất sữa của nhóm

bò Mức ăn thấp hơn nhưng không ảnh hưởng đến năng suất sữa, thể trạng của

bò thì cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

của cơ thể, từ đó giảm xeton huyết (BHBA) để hạn chế bệnh ketossis.

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá được hiệu quả của các mức ăn TMR sử dụng cho các nhóm bò đang nuôi tại trang trại TH để lựa chọn được mức ăn hợp lý nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong điều kiện thực tế của đơn vị.

- Đánh giá được tác dụng của việc bổ sung tiền chất glusose (Glycoline) đối với sức khỏe và năng suất sữa của bò giai đoạn sau sinh tại trang trại TH.

1.4 PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện trên đàn bò vắt sữa Holstein Friesian nuôi tại trang trại bò sữa công ty CPTP sữa TH tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

Thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017 1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Trên

cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài để đưa ra được mức cho ăn

TMR hợp lý theo đặc điểm sinh lý của đàn bò trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được

ý nghĩa của việc bổ sung những tiền chất Glucoze đối với sức khỏe

và sức sản xuất của bò giai đoạn sau sinh.

Thực tiễn: Giúp công ty quyết định mức cho ăn TMR và có bổ sung tiền glucose cho bò sữa hay không.

Kết quả của nghiên cứu cũng đồng thời là tài liệu tham khảo cho các đơn vị chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp trong điều kiện Việt nam.

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA BÒ SỮA

2.1.1 Nhu cầu thu nhận vật chất khô

Trong chăn nuôi bò sữa, việc xác định chính xác khả năng thu nhận theo vật chất khô (VCK) của gia súc là rất quan trọng Đây là cơ sở đầu tiên để xây dựng khẩu phần thức ăn cho gia súc Lượng thức ăn thu nhận tính theo VCK của gia súc phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như điều kiện sống, chất lượng khẩu phần ăn, chất lượng thức ăn, đặc điểm thể trạng gia súc, tình trạng sức khỏe, giai đoạn phát triển, sức sản xuất Trong điều kiện bình thường, lượng chất khô thu nhận chịu ảnh hưởng đầu tiên bởi khối lượng cơ thể, bởi vậy, cách đơn giản nhất là dựa vào thể trọng để ước tính lượng VCK thu nhận Theo Preston and Willis (1970) bò tơ (200 kg) sẽ thu nhận xấp xỉ 2,8-3% thể trọng Trong quá trình sinh trưởng khối lượng cơ thể chúng tăng lên thì tỷ lệ phần trăm lượng VCK thu nhận có xu hướng giảm xuống Theo McDonald et al (2002) lượng thu nhận VCK của bò sữa khoảng 2,8% thể trọng vào đầu chu kỳ sữa và 3,2% thể trọng vào thời điểm đỉnh sữa Đối với bò sữa, lượng thu nhận thức ăn còn liên quan tới năng suất sữa và cũng có thể ước tính theo phương trình:

đó Trung bình lượng thức ăn thu nhận giảm đến 20% so với giai đoạn ngay sau cạn sữa, đặc biệt chủ yếu tại tuần ngay trước khi đẻ Nguyên nhân chính dẫn đến giảm lượng thu nhận thức ăn có thể do bị căng thẳng, thay đổi trạng thái hormon, tăng thể xe tôn trong máu, bò bắt đầu huy động lượng mỡ dự trức trong các tổ chức cơ thể, và một nguyên nhân nữa là kích thước bê ngày càng tăng.

Theo NRC (2001), ước tính, một con bò sữa nặng 751 kg thu nhận khoảng 13,7 kg VCK tại 270 ngày mang thai, nhưng chỉ thu nhận 10,1 kg VCK ở 279 ngày mang thai Theo Wissconsin (2003), 1 con bò Holstein trước khi vào đẻ có

Trang 17

khả năng thu nhận bằng 1,75% trọng lượng cơ thể, tức khoảng 10,5 kg VCK Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những con có thu nhận thức ăn trước đẻ thấp cũng dẫn đến thu nhận thức ăn 3 tuần sau đẻ cũng giảm.

2.1.2 Nhu cầu về năng lượng

Trong giai đoạn cuối của chu kỳ mang thai, đồng thời với việc khi lượng chất khô thu nhận giảm, sự phát triển của bào thai và tăng trưởng tế bào vú tăng lên, vì vậy càng làm tăng nhu cầu dinh dưỡng cho khẩu phần Các nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell ước tính nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của bào thai và các mô khác có liên quan đến việc mang thai Nghiên cứu cho thấy các khuyến cáo năng lượng của NRC (1989) là thích hợp cho bò trưởng thành (0,57 Mcal/lb NE l ) (1,25 Mcal/kg) để đáp ứng nhu cầu duy trì và tăng trưởng của bào thai Tuy nhiên, mức

độ năng lượng này không chưa đáp ứng đủ nhu cầu của gia súc trong tuần trước khi đẻ do lượng thức ăn thu nhận giảm Đối với bò đẻ lứa 1 cũng cần phải tăng mức độ năng lượng của khẩu phần vì lượng vật chất khô thu nhận giảm, cũng như

bò cần thêm nhu cầu cho tăng trọng Vì những lý do này và vì hầu hết các trang trại không có cơ sở cho việc phân chia hai nhóm bò cạn sữa trước khi đẻ, hầu hết các nhà dinh dưỡng cân bằng khẩu phần ăn khi chứa khoảng 0,70 Mcal/lb NE l (1,54 Mcal/kg) Ngoài ra, đối với khẩu phần ăn của những nhóm bò này cần sử dụng thức

ăn thô xanh có hàm lượng xơ dễ tiêu hóa cao nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng của bò sau đẻ Cũng theo nghiên cứu, nếu khẩu phần không được không tính đến việc giảm lượng chất khô và tăng nhu cầu năng lượng bằng cách tăng mật độ năng lượng khẩu phần, bò sẽ huy động năng lượng từ mỡ lung và có mức axit béo không ester hóa (NEFA) cao trước khi đẻ Điều này sẽ làm giảm lượng chất khô thức ăn thu nhận trước khi đẻ và có thể gây nên các bệnh ketosis hay hội chứng gan nhiễm mỡ sau khi sinh Các nhà nghiên cứu Michigan State cho thấy lượng chất khô tăng 30% khi họ tăng nồng độ năng lượng trong chế độ ăn uống từ 0,60 Mcal/ lb NE l (1,32 Mcal/kg) đến 0,70 Mcal/lb NE l (1,54 Mcal/kg) protein từ 13 đến 16% vào khoảng 3 tuần trước khi đẻ Khối lượng chất khô tăng từ 26,5 pounds (12 kg)/ngày lên đến 34,5 pounds (15,7 kg)/ngày và vẫn trên 31 pounds (14 kg)/ngày cho đến tuần cuối cùng trước khi sinh Một nghiên cứu sâu hơn ở bang Michigan cho thấy những kết quả tương tự Nghiên cứu cũng kết luận rằng ăn một chế độ ăn giàu năng lượng cao hơn, protein cao dẫn đến việc huy động mỡ cơ thể ít hơn trước khi sinh.

Theo NRC (2001), yêu cầu 14,4 Mcal NE l mỗi ngày đối với giai đoạn đầu của

bò cạn sữa Do sự khác biệt về lượng chất khô ước lượng, nên nó sẽ chuyển

Trang 18

thành nồng độ năng lượng là 0,48 Mcal/lb (1,05 Mcal/kg) ở thời điểm mang thai

270 ngày (30,1 pounds (13,7 kg) chất khô) và 0,65 Mcal/lb (1,44 Mcal/Kg) ở thời điểm mang thai 279 ngày (22,2 cân Anh (10,1 kg) chất khô, tuy nhiên, đối với bò

đẻ chuyển sang giai đoạn tiết sữa đầu tiên, cần thêm nhiều năng lượng (16,9 Mcal/ngày) để chuẩn bị cho dạ cỏ, tăng kích thước và ngăn ngừa bệnh lệch dạ múi khế (DA) (NRC) (năm 2001) là 0,70-0,74 (1,54-1,62 Mcal/kg).

2.1.3 Nhu cầu protein

Theo đặc điểm sinh lý, giai đoạn phát triển, cũng như sức sản xuất, điều kiện sống của gia súc mà nhu cầu protein khác nhau Các nhà nghiên cứu đại học Cornell đã tăng hàm lượng đạm trong khẩu phần của bò đẻ lứa đầu tiên từ

12 đến 15% bằng protein thoát qua Mục tiêu của họ là đáp ứng các nhu cầu phát triển của vi sinh vật dạ cỏ và tối đa hóa sản xuất protein vi sinh và sau đó cung cấp thêm axit amin để đáp ứng nhu cầu còn lại của bò Kết quả cho thấy, giai đoạn sau đẻ, protein của sữa sau khi sinh tăng, và tỷ lệ phối đậu thai của

bò có xu hướng giảm Chúng cũng làm giảm tình trạng sụt giảm thể trạng bò sau khi sinh Kết quả đó có thể cho thấy nếu bổ sung protein cho khẩu phần bò trước đẻ, tỷ lệ bò bị nhiễm xeton hơn thấp sau khi đẻ.

Giai đoạn cuối kỳ mang thai, sự phát triển của bê con cần protein để tăng trưởng cơ bắp cũng như đốt cháy năng lượng Việc không đủ nguồn protein trước khi đẻ sẽ dẫn đến thiếu nguồn protein dự trữ sau khi đẻ Điều này có thể ảnh hưởng xấu tới sản xuất protein sữa Một số axit amin cụ thể có thể cần thiết để giúp làm sạch những khối mỡ tích tụ trên gan Các axit amin này cũng có thể giúp hấp thụ và sử dụng chất béo trong khẩu phần ăn để tạo ra năng lượng Protein cũng rất quan trọng trong việc hấp thụ canxi, giảm sốt sữa phụ và tăng lượng chất khô thu nhận Theo NRC (1989), khuyến cáo chỉ nên sử dụng 12% protein thô trong khẩu phần bò trước đẻ Các nhà nghiên cứu không chắc chắn về điều này Một số nghiên cứu thử nghiệm cho thấy không có phản ứng đối với protein bổ sung với lượng protein phân giải cao hơn là protein không phân huỷ Protein có thể phân huỷ có thể đã bị lãng phí và lượng nitơ tăng có thể ảnh hưởng xấu đến những con

bò này Một thử nghiệm khác của Cornell chỉ ra rằng cho ăn trên 12% CP trong giai đoạn trước khi đẻ làm giảm nguy cơ sót nhau và xeton huyết Thí nghiệm cũng áp dụng với nhiều đàn bò khác với lượng protein cao hơn trong khẩu phần Từ những kinh nghiệm này và nghiên cứu Cornell đã thảo luận trước đây, nhiều chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo rằng khẩu phần bò trước đẻ 14-15% CP với khoảng 30% protein đó ở dạng protein hòa tan (SIP),

Trang 19

60% ở dạng Protein phân giải (DIP), và 40% là protein không phân huỷ (UIP) Việc bổ sung một số protein đậu nành và protein động vật được đề nghị để cải thiện chất lượng axit amin của UIP Protein bổ sung đặc biệt quan trọng đối với bò đẻ lứa đầu tiên.

NRC (2001), khuyến nghị nên sử dụng mức 901 gam protein trao đổi (MP)

ở tuần lễ 270 và 810 gam ở 279 ngày mang thai Sử dụng lượng chất khô ước tính

là 30,1 pound (13,7 kg) và 22,2 pound (10,1 kg), tương ứng với 6,5% MP và 8% MP cho 270 và

279 ngày mang thai, hoặc 10,8% CP và 12,4% CP nếu chế độ ăn uống là hoàn toàn cân bằng cho các phân số protein Một chú thích trong các khuyến cáo của NRC (2001) cho người đọc biết rằng 12% CP có thể thực sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu bò vì lượng protein bị lãng phí

và trong các khuyến cáo về khẩu phần của bò cạn sữa gần giống với tiêu chuẩn của NRC.

2.2 KHẢ NĂNG THU NHẬN THỨC ĂN CỦA BÒ

2.2.1 Cơ chế điều hòa thu nhận thức ăn của bò

Ăn là tập hợp của nhiều động tác bao gồm việc tìm kiếm thức ăn, nhận dạng và vận động về phía thức ăn, quan sát cảm quan thức ăn, bắt đầu lấy thức

ăn và đưa thức ăn vào miệng Quá trình điều chỉnh của gia súc đối với lượng

ăn vào gồm có quá trình điều chỉnh xảy ra tức thì gọi là điều chỉnh ngắn hạn và còn điều chỉnh kéo dài gọi là điều chỉnh dài hạn Điều chỉnh ngắn hạn liên quan đến sự bắt đầu và kết thúc từng bữa ăn, còn điều chỉnh dài hạn là liên quan đến duy trì sự cân bằng năng lượng của cơ thể Bò ăn no cỏ thì dừng lại, đó là do

sự điều chỉnh ngắn hạn Bò béo ăn ít thức ăn hơn bò gầy Điều này có thể được giải thích qua hướng cân bằng năng lượng vì bò gầy có nhu cầu dinh dưỡng để tổng hợp mỡ trong khi đó bò béo lại không cần.

Có nhiều thuyết khác nhau giải thích cơ chế điều hoà lượng thu nhận thức ăn, trong đó có hai cơ chế quan trọng đáng chú ý đối với gia súc nhai lại là cơ chế sinh hoá và cơ chế vật lý Điều hoà sinh hoá diễn

ra gia súc khi ăn thức ăn tinh chứa các chất dinh dưỡng dễ tiêu hoá, còn điều hoà vật lý thường diễn ra khi gia súc ăn thức ăn thô khó tiêu hoá, chiếm nhiều chỗ trong dạ cỏ (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

- Cơ chế sinh hoá:

Theo cơ chế này khi trong máu có một hay một số sản phẩn trao đổi chất đặc biệt tăng lên thì sẽ gây ra một tín hiệu làm giảm tính ngon miệng của gia súc A xít béo bay hơi (AXBBH) được coi là những sản phẩm trao đổi gây ra tín hiệu

Trang 20

như vậy ở gia súc nhai lại Vài giờ sau khi ăn một lượng AXBBH trong dạ cỏ bắt đầu tăng do kết quả lên men thức ăn ở dạ cỏ Việc sản sinh ra AXBBH cao nhất thông thường xuất hiện trong dạ cỏ 2 đến 3 giờ sau khi ăn khẩu phần có nhiều thức ăn tinh và 4-5 giờ với khẩu phần có nhiều thức ăn thô AXBBH sản sinh ra trong dạ cỏ thường được hấp thu ngay vào trong máu đi đến gan và đến não Một khi AXBBH trong máu đạt đến một ngưỡng nhất định thì độ thèm ăn của con gia súc giảm Ngưỡng này cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhu cầu năng lượng của con vật AXBBH tiếp tục được hấp thu và chuyển hoá bởi tế bào, do vậy khi lượng AXBBH trong máu giảm thì độ thèm ăn của con vật lại tăng lên.

Vì tốc độ sản sinh AXBBH trong dạ cỏ khi cho ăn thức ăn thô thấp nên cơ chế này ít có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng thu nhận thức ăn thô.

Điều hoà vật lý liên quan đến sức chứa của đường tiêu hoá, chủ yếu là

dạ cỏ, và phụ thuộc vào chất lượng thức ăn Các loại gia súc nhai lại khác nhau có khả năng tiêu hoá thức ăn thô khác nhau Những loại gia súc nhai lại được chọn lọc tốt nhất thường có dung tích dạ cỏ thấp nhất nên thu nhận được ít thức ăn thô Thậm chí đối với cùng một cá thể, dung tích đường tiêu hoá cũng bị ảnh hưởng sự mang thai và chu kỳ sữa Dung tích

dạ cỏ cũng thay đổi theo mùa do sự thay đổi về chất lượng thức ăn.

No vật lý là một nhân tố cơ bản hạn chế lượng thu nhận khi bò được ăn thức

ăn thô chất lượng rất kém Khi chất lượng thức ăn thô giảm, tốc độ phân giải trong

dạ cỏ sẽ chậm hơn, gây ra một nhân tố no và do vậy mà làm giảm lượng thức ăn ăn vào Thức ăn xơ thô chất lượng thấp không chỉ có khả năng phân giải thấp mà vách

tế bào lignin hoá của nó cản trở sự xâm nhập và phân giải của VSV trong một thời gian dài và do đó được tiêu hoá một cách chậm chạp Các tiểu phần thức ăn sinh ra

từ quá trình phân giải này lưu lại trong dạ cỏ lâu hơn so với trường hợp thức ăn chất lượng cao trước khi kích thước của chúng đủ nhỏ để thoát qua được cửa tổ ong-lá sách Do lưu lại lâu trong dạ cỏ chúng choán chỗ và cản trở sự thu nhận thức ăn mới vào (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

Như đã đề cập ở trên, bò rất béo thường thu nhận ít thức ăn thô hơn

bò gầy Điều này cũng có thể giải thích theo cơ chế vật lý là sự tích lũy mỡ trong khoang bụng có thể giảm khoảng trống mà dạ cỏ có thể phình to khi

ăn no nên làm giảm lượng thu nhận thức ăn thô tự do của bò.

Trang 21

Nói tóm lại, lượng ăn vào được điều chỉnh bởi một loạt các tín hiệu ở các cấp độ và giai đoạn khác nhau Gia súc chọn thức ăn thông qua cảm quan hoặc mùi và quyết định ăn hay không Ở miệng, thức ăn có thể được nuốt hay không dựa vào vị và kết cấu của nó, nếu thức ăn quá độc thì gia súc có thể nhả ra Sau khi nuốt xong gia súc phải tiến hành quá trình tiêu hoá, hấp thu và trao đổi chất Sau khi hấp thu, hầu hết các chất dinh dưỡng tiêu hoá đi vào gan và tham gia chu trình chuyển hoá chung Trong dạ dày, ruột, gan và não có hàng loạt chất nhận cảm thông tin về áp lực, pH, độ thẩm thấu và nộng độ các loại chất hoá học để phát tín hiệu điều chỉnh sự thu nhận thức ăn tiếp theo.

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới lượng thu nhận thức ăn

Theo như phân tích ở trên thì sự thu nhận thức ăn của gia súc nhai lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính là nhu cầu dinh dưỡng (gia súc thu nhận thức ăn theo nhu cầu của cơ thể) và giới hạn của đường tiêu hoá (gia súc chỉ thu nhận được khối lượng thức ăn mà đường tiêu hoá cho phép) Ngoài ra, lượng thu nhận thức ăn còn bị chi phối bởi các yếu tố điều chỉnh khác nữa Liên quan đến những cơ chế điều hoà này, để có ý nghĩa thực tiễn hơn trong chăn nuôi có thể phân chia các yếu tố ảnh hưởng tới lượng thu nhận thức ăn theo ba nhóm yếu tố là thức ăn, gia súc và môi trường.

a Các yếu tố thức ăn và khẩu phần

Đối với gia súc nhai lại có một mối tương quan dương giữa tỷ lệ tiêu hoá

và lượng thu nhận thức ăn thô Thực ra thì lượng thu nhận thức ăn có liên quan chặt chẽ hơn với tốc độ phân giải (tiêu hoá) hơn là với bản thân tỷ lệ tiêu hoá, cho dù hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau Nói một cách khác, thức ăn nào được tiêu hoá nhanh thì có tỷ lệ tiêu hoá cao và lượng thu nhận lớn Đó là vì tốc độ tiêu hoá càng cao thì đường tiêu hoá được giải phóng càng nhanh tạo ra được càng nhiều không gian cho việc tiếp nhận thức ăn mới vào.Theo quan điểm động thái, có bốn thuộc tính kết hợp với nhau sẽ quyết định lượng thức ăn thô ăn vào là: độ hoà tan (A), phần không hoà tan nhưng có thể lên men được (B), tốc độ phân giải phần không hoà tan (C) và độ ngon miệng (Orskov, 2005) Vì vậy, điều rất quan trọng là phải hiểu biết các đặc tính này của mỗi loại thức ăn Ngoài ra, chế biến thức

ăn, cân bằng dinh dưỡng, cấu trúc khẩu phần và chế độ cho ăn cũng có ảnh hưởng lớn đến lượng thu nhận thức ăn (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

Trang 22

- Độ hoà tan của thức ăn

Thức ăn tinh chứa nhiều phần hoà tan (A), nhưng thức ăn thô cũng có chứa các phần có thể hoà tan như đường Đây là phần nằm phía trong của thành tế bào và được phân giải nhanh chóng sau khi ăn vào Kết quả là chúng chiếm rất ít khoảng không gian trong dạ cỏ Phần hoà tan của rơm có thể lên đến 10-15% và phần hoà tan của cỏ có thể từ 20-35%, phụ thuộc vào độ thành thục của cây và cách chế biến rơm và cỏ Phần hoà tan này của thức ăn thường được lên men thành axit lactic và các axit khác khi ủ chua Điều quan trọng là phần hoà tan này của thức ăn cần được bảo quản vì nó có ảnh hưởng rất lớn tới lượng thức ăn ăn vào Nhìn chung, đối với gia súc nhai lại thức ăn

có độ hoà tan cao thì lượng ăn vào được sẽ lớn (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

- Phần không hoà tan nhưng có thể lên men

Phần này (B) chiếm nhiều nhất trong thức ăn thô, biến động từ 20-50% phụ thuộc vào chất lượng thức ăn Khi cộng phần hoà tan (A) với phần không hoà tan nhưng có thể lên men (B) chúng ta có được tổng lượng chất khô có thể được phân giải trong dạ cỏ (A+B) và phần chất khô còn lại là phần không được phân giải (I) Tuy nhiên, đôi khi phần không hoà tan nhưng có tiềm năng lên men này lại được phân giải rất chậm do vậy thời gian lưu tại dạ cỏ không đủ lâu để được lên men hoàn toàn tai đây Một phần của phần không hoà tan nhưng có thể lên men sau đó được thải ra qua phân, và đó là lý do cần biết đến một đặc tính thứ ba của thức ăn là tốc

độ phân giải của phần không hoà tan (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

- Tốc độ phân giải của phần không hoà tan

Tốc độ phân giải (c) của phần không hoà tan có ảnh hưởng rất quan trọng đến lượng thức ăn thu nhận của gia súc Một bất lợi đối với loại thức

ăn có tốc độ phân giải thấp như rơm là phần còn lại không được phân giải

sẽ nhiều hơn Phần còn lại này thường dai hơn, đòi hỏi gia súc phải nhai lại

và nhu động dạ cỏ nhiều hơn để đưa chúng ra khỏi dạ cỏ Vì lý do này thức

ăn sẽ lưu lại ở dạ cỏ lâu hơn và là nguyên nhân giảm lượng thức ăn ăn vào Đối với thức ăn thô, chúng ta muốn chúng có phần không hoà tan được phân giải ở dạ cỏ càng nhanh càng tốt, còn đối với thức ăn tinh thì ngược lại chúng ta lại muốn chúng được phân giải trong dạ cỏ càng chậm càng tốt để đảm bảo rằng thức ăn không bị lên men quá nhanh làm rối loạn hệ sinh thái dạ

cỏ mà vẫn được tiêu hoá hoàn toàn sau đó ở ruột (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

Trang 23

- Tính ngon miệng

Một số thức ăn gia súc ăn ít hơn một số loại khác và đôi khi có loại cỏ bò

ăn nhưng cừu lại không ăn Nhiều loại cây họ đậu bò không thích ăn, nhất là khi cho ăn đơn điệu Những loại thức ăn mà bò ăn ít hơn bình thư ờng được coi là “không ngon miêng”, tuy khái niệm “tính ngon miệng” của thức ăn khó

mà định nghĩa được một cách chính xác Nhìn chung, tính ngon miệng không đươch cho là một yếu tố quan trọng quyết định lượng ăn vào, trừ một số ngoại

lệ như những thức ăn được bảo vệ để chống ăn vào (như có gai nhọn), bị nhiễm bẩn (như phân, nước giải) hay chế biến kém (ủ chua bị mốc hay lên men kém chất lượng) (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

- Khả năng “dễ vỡ” và chế biến thức ăn

Bình thường gia súc bằng cách nhai và nhai lại và vi khuẩn trong dạ cỏ bằng cách lên men đã phối hợp để giảm kích thước các mảnh thức ăn Các mảnh thức

ăn nhỏ lơ lửng trong dịch dạ cỏ cho phép chúng thoát khỏi dạ cỏ dễ dàng qua cửa

tổ ong-lá sách để giải phóng ra khỏi dạ cỏ, tăng cơ hội tiếp nhận thức ăn mới vào.

Do vậy, những loại thức ăn có tốc độ giảm kích thước trong dạ cỏ càng nhanh (dễ vỡ) thì lượng thu nhận tự do càng cao Điều này phụ thuộc nhiều vào cấu trúc và trạng thái vật lý của vách tế bào của thức ăn thực vật Một số loại thức ăn như rơm

có các mảnh dài và rất dai nên cần phải nhai rất nhiều Đối với các thức ăn khác, như cỏ khô chất lượng cao, gia súc không phải nhai nhiều.

Chúng ta có thể giúp gia súc bằng cách nghiền thức ăn thô trước khi cho ăn, nhưng việc này quá tốn kém và gia súc có thể làm việc này với giá rẻ nhất, ngoài ra những mảnh thức ăn nhỏ (do nghiền) lẽ ra được phân giải lại thoát khỏi dạ cỏ trước khi được lên men Vì vậy trong khi lượng thức ăn thu nhận cao hơn thì tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn thô nghiền mịn có thể thấp hơn Nhìn chung nghiền thức ăn thô không phải là cách mà người chăn nuôi thường sử dụng Chặt ngắn thì ngược lại không ảnh hưởng gì lớn đến tốc độ và tỷ lệ tiêu hoá thức ăn Chặt ngắn thức ăn thành các đoạn 1-10 cm chủ yếu là để thuận lợi hơn trong việc cho ăn, trộn thức ăn của người nuôi và lấy thức ăn của gia súc (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

- Cân bằng dinh dưỡng và cấu trúc khẩu phần ăn

Khi nuôi bò điều cốt yếu là làm sao cho ăn được càng nhiều thức ăn thô càng tốt Thức ăn thô xanh chất lượng càng cao, dinh dưỡng càng cân bằng so với nhu cầu của VSV dạ cỏ thì tốc độ tiêu hoá càng nhanh và lượng ăn vào được càng lớn Ngược lại, nếu thức ăn thô có chất lượng thấp thì lượng thu nhận tự do

Trang 24

sẽ rất thấp do mất cân bằng dinh dưỡng (thường thiếu protein, carbohydrate

dễ tiêu, khoáng và vitamin) nên không tối ưu hoá được hoạt động của VSV dạ

cỏ Do vậy, trong khẩu phần ngoài thức ăn thô thường cần cần phải bổ sung thêm dinh dưỡng để tối ưu hoá hoạt động của VSV dạ cỏ và/hay bổ sung cho nhu cầu sản xuất Lúc đó, lượng thu nhận thức ăn thô thực tế ngoài phụ thuộc vào tính chất của nó còn chịu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung

Bổ sung thức ăn tinh ở mức thấp thường có tác dụng kích thích vi sinh vật phân giải xơ ở dạ cỏ (nhờ cung cấp cân đối các yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho chúng) và do đó mà làm tăng lượng thu nhận thức ăn thô của khẩu phần cơ sở Tuy nhiên, khi bổ sung nhiều thức ăn tinh thì pH dạ cỏ bị

hạ xuống rất thấp, ức chế vi khuẩn phân giải xơ và hậu quả là làm giảm lượng thu nhận khẩu phần cơ sở Hiện tượng thay thế (giảm thu nhận khẩu phần cơ sở khi bổ sung thức ăn tinh) cũng có thể xảy ra khi bổ thức ăn tinh

bổ sung quá nhiều nên đã đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng và con vật dừng

ăn (do cơ chế sinh hoá phát huy tác dụng trước) trong khi vẫn chưa no bởi thức ăn thô (cơ chế vật lý chưa điều tiết) (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

D.L Palmquist et al (1978), trong nghiên cứu của mình đã thấy rằng khả năng thu nhận thức ăn theo vật chất khô (DMI) thấp nhất ở nhóm bò thí nghiệm đang trong giai đoạn đầu của chu kỳ vắt ăn khẩu phần có 42% VCK ngũ cốc và đậu tương nhưng không bổ sung thêm mỡ và cao nhất ở khẩu phần có bổ sung 5.7% mỡ thủy phân (hydrolyzed fat) Điều này không nhận thấy ở khẩu phần có 10.8% mỡ bổ sung Các chỉ tiêu năng suất sữa cũng như tỉ lệ protein

và mỡ sữa khác biệt giữa các lô thí nghiệm không có ý nghĩa thống kê.

Trong một thí nghiệm khác của D.L Palmquist et al (1978), khi cho bò ăn khẩu phần có chứa dẫn xuất ether và tỉ lệ đạm thô khác nhau theo các tổ hợp lần lượt (%) là: 1) 3.3, 13.6; 2) 2.9, 15.9; 3) 5.9, 13.5; và 4) 6.8, 16.3 Khẩu phần 1

và 2 chứa 50% ngũ cốc theo VCK trong khi khẩu phần 3&4 tỉ lệ này là 33% Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa các lô thí nghiệm về thu nhận thức ăn theo VCK cũng như sản lượng sữa ở bò thí nghiệm.

Theo Michel S Allen (2000), các đặc tính hóa lý của nguyên liệu thức ăn và tính tương tác giữa chúng có thể gây ra ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thu nhận thức ăn tính theo vật chất khô (DMI) ở bò đang cho sữa Những bất thường về đặc điểm lý tính của nguyên liệu gây nên sự căng phồng của dạ cỏ và dạ tổ ong hay những khoang khác của bộ máy tiêu hóa và do vậy giảm DMI ở bò sữa cao sản Sự lên men của các acid bay hơi cũng làm giảm DMI do tăng độ thẩm

Trang 25

thấu bên trong tuyến dạ cỏ-dạ tổ ong và do các ảnh hưởng đặc thù của Propionate Những đặc tính lí hóa của nguyên liệu khẩu phần ảnh hưởng trực tiếp đến DMI gồm có tỉ lệ chất xơ, mức độ thủy phân của tinh bột và xơ, kích thước và độ dễ vỡ của nguyên liệu, các sản phẩm ủ chua lên men, hàm lượng

vá đặc tính của mỡ, khối lượng cũng như mức phân hóa protein.

Tác giả M.A Bal et al (2000) đã cho bò vắt sữa ăn khẩu phần sử dụng cây ngô ủ chua thu hoạch vào giai đoạn ngô sữa non (65% DM độ ẩm thân cây) được băm nhỏ với kích thước 0.95; 1.45 hay 1.90 cm độ dài theo lí thuyết có qua chế biến bằng cách làm dập bằng trục ép có khe hở 1mm so sánh với nhóm đối chứng kích thước 0.95 cm không qua chế biến Thí nghiệm được thực hiện trên bò sữa giống Holstein 71 ngày vắt với thời gian thí nghiệm cho bò ăn 28 ngày Ngô cây ủ chua phối chế trong khẩu phần TMRcó chứa 50% thô xanh (67% cây ngô ủ chua và 33% cỏ alfalfa ủ chua) có bổ sung thêm 50% bột ngô và đậu tương tính theo VCK.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức thu nhận thức ăn theo VCK, năng suất sữa và mỡ sữa đều cao hơn ở nhóm bò thí nghiệm ăn ngô cây ủ chua qua chế biến so với nhóm đối chứng, tương ứng là 25.9 so với 25.3 kg/ngày; 46.0 so với 44.8kg/ngày và 1.42 so với 1.35 kg/ngày Không nhận thấy sự khác biệt đáng kể nào ở các chỉ tiêu theo dõi về ảnh hưởng của kích thước cây ngô băm khi ủ chua ở bò thí nghiệm.

Thí nghiệm cũng cho thấy tỉ lệ tiêu hóa tinh bột trong khẩu phần đối chứng thấp hơn so với ở bò ăn ăn ngô cây ủ chua chế biến cắt với kích thước nhỏ, trung bình và thô (95.1 và 99.3%, tương ứng) Tỉ

lệ tiêu hóa của NDF khẩu phần ở nhóm bò thí nghiệm ăn cây ngô qua chế biến băm nhỏ thấp hơn so với băm kích thước lớn cũng như so với nhóm đối chứng (28.4% vs 33.9 và 33.7%, tương ứng).

Nhóm tác giả đi tới kết luận ngô cây ủ chua đã qua chế biến cải thiện mức thu nhận thức ăn, làm tăng khả năng tiêu hóa tinh bột và sức sản xuất sữa ở bò vắt sữa.

- Chế độ cho ăn

Nếu cho ăn thức ăn tinh không rải đều trong ngày mà chỉ cho ăn theo bữa lớn thì sau mỗi bữa ăn pH dạ cỏ bị hạ đột ngột xuống rất thấp, ức chế vi khuẩn phân giải xơ nên làm giảm khả năng phân giải xơ và do đó mà giảm lượng thu nhận thức

ăn thô của khẩu phần cơ sở Khi trộn đều thức ăn tinh với thức ăn thô

Trang 26

để cho ăn rải đều trong ngày thì bò sẽ ăn được nhiều thức ăn thô hơn so với khi cho ăn riêng rẽ với khối lượng lớn trong ít bữa Việc trộn nhiều loại thức ăn thô với nhau để cho ăn đồng thời và liên tục sẽ làm cân bằng dinh dưỡng mọi lúc cho

vi sinh vật dạ cỏ nên hiệu quả phân giải thức ăn thô cũng tốt hơn Hơn nữa, thay mới thức ăn nhiều lần trong ngày cũng kích thích gia súc ăn nhiều thức ăn hơn là để thức ăn

cũ quá lâu trong máng ăn (liên quan đến tập tính ăn uống).

ta, khi mà con vật phải làm việc nhiều trong điều kiện thời tiết lạnh (nhu cầu dinh dưỡng cao hơn) mà lại không có thời gian để ăn (chưa nói có đủ thức

ăn hay không), dẫn đến tình trạng trâu bò “đổ ngã” vụ Đông.

- Thời gian phân phối thức ăn

A Nikkhah et al (2008) đã tiến hành các nghiên cứu trên bò đang cho sữa lứa

1 và bò đẻ nhiều lứa nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố thời gian cung cấp thức

ăn và sự tương tác của yếu tố này với mức thức ăn tinh khẩu phần cũng như lứa

đẻ tới mức thức ăn thi nhận, năng suất sữa và dưỡng chất trong máu Bò được cho

ăn khẩu phần có chứa thức ăn tinh cao theo tỉ lệ thô xanh: tinh là 38:62 và thức ăn tinh thấp theo tỉ lệ tương ứng là 51:49 vào thời điểm trong ngày lúc 9h00 và 21h00 Trong thời gian lấy mẫu, các tác giả theo dõi mức thu nhận thức ăn hàng ngày và thu nhận thức ăn theo khoảng cách 3h tính theo thời gian phân phối thức ăn Mẫu máu từ tỉnh mạch cổ cũng được lấy theo cách nhật 2h.

Kết quả thí nghiệm cho thấy việc thay đổi thời gian phân phối thức ăn từ mốc 9h00 sang 21h00 đã làm tăng thu nhận thức ăn sau 3h kể từ thời điểm cho

ăn từ 27 lên 37% của tổng mức thức ăn thu nhận trong ngày nhưng không có tác động tới tổng mức thức ăn thu nhận theo VCK (DMI) trong cả ngày So với thời điểm cấp thức ăn lúc 9h00, hàm lượng Glucose trong máu của bò cho ăn lúc 21h00 và kiểm tra mẫu 2h sau đó thấp hơn nhưng có mức Lactate và axit β- hydroxybutyrate cao hơn tại cả thời điểm 2 và 4h00 sau ăn Thời điểm cho ăn cũng không ảnh hưởng tới mức chỉ số trung bình lượng glucose, urea, lactate,

và axit β-hydroxybutyrate trong máu ở bò thí nghiệm.

Trang 27

Năng suất, tỉ lệ protein trong sữa không bị ảnh hưởng bời thời gian cung cấp thức ăn nhưng tỉ lệ mỡ sữa tăng từ 2.5 lên 2.9% và tổng lượng

mỡ tăng từ 0.98 lên 1.20 kg/ngày được ghi nhận ở bò lứa 1 nhưng không

có sự thay đổi tương tự ờ bò các lứa trên Không có sự khác biệt về mức tương tác giữa khẩu phần và thời gian cung cấp thức ăn tới các chỉ tiêu theo dõi như TNTA, năng suất sữa và dưỡng chất trong máu.

Kết quả thí nghiệm khuyến cáo sự ảnh hưởng của thời gian phân phối thức ăn cho bò sữa ở thời điểm 21h00 thay vì 9h00 tới chỉ tiêu sản lượng mỡ sữa ở bò lứa 1 hơn là các lứa trên.

- Điều kiện đồng cỏ chăn thả

Riêng đối với gia súc chăn thả thì lượng thu nhận thức ăn (cỏ gặm) không chỉ chịu ảnh hưởng bởi thành phần hoá học và tỷ lệ/tốc độ tiêu hoá của cây cỏ

mà còn phụ thuộc cấu trúc vật lý và phân bố của cỏ trên bãi chăn Thu nhân thức ăn khi chăn thả phụ thuộc ba yếu tố chính là: độ lớn miếng gặm (lượng VCK gặm được mỗi lần), tốc độ gặm (số miếng gặm/phút) và thời gian gặm cỏ Thông thường bò dành khoảng 8 giờ/ngày để gặm cỏ nên cần gặm được lượng

cỏ tối đa trong khoảng thời gian đó Để có được miếng gặm lớn và tốc độ gặm tối đa cỏ phải được phân bố phù hợp trên đồng cỏ Nói chung, bụi cỏ tương đối thấp (12-15cm) và dày cho phép gia súc gặm được miếng gặm lớn nhất Những cây cỏ cao có lá nhọn (như nhiều loại cỏ nhiệt đới) hạn chế độ lớn miếng gặm vì mỗi lần gặm con vật không thể lấy thức ăn đầy miệng được Mật

độ cỏ thấp cũng là một yếu tố hạn chế kèm theo sự gặm cỏ có lựa chọn của gia súc Trong điều kiện đồng cỏ chăn thả tốt có các bui cỏ thấp, dày và có khả năng tiêu hoá cao thì gia súc nhai lại sẽ gặm được lượng thức ăn tương đương với khi cho ăn trong máng tại chuồng, nhưng với đồng cỏ chất lượng kém thì chúng không thể thu nhận đủ lượng thức ăn theo khả năng tiêu hoá và nhu cầu dinh dưỡng (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

b Yếu tố gia súc

Ngoài các yếu tố liên quan đến thức ăn và khẩu phần nói trên, một số yếu tố khác có liên quan đến gia súc nhiều hơn cũng có ảnh hưởng lớn tới lượng thu nhận thức ăn thô.

- Sức chứa của đường ruột

Dung tích tiềm năng của dạ cỏ qui định lượng thức ăn gia súc có thể lên men trong một thời điểm Dạ cỏ của bê chưa đạt được kích thước như lúc trưởng

Trang 28

thành trước 10-12 tuần tuổi Vì vậy khả năng ăn các loại thức ăn xơ thô của bê

là thấp và do vậy cần cho chúng ăn những thức ăn thô có chất lượng tốt nhất Sức chứa của đường ruột ở gia súc trưởng thành chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khác nhau Nhìn chung, con vật càng lớn thì dung tích đường tiêu hoá càng lớn và có khả năng ăn được nhiều thức ăn hơn Đó là lý do chính để lấy thể trọng hay khối lượng trao đổi làm căn cứ để ước lượng lượng thức ăn thu nhận Tuy nhiên, cũng có thể quan sát trong thực tế thông qua bề ngoài thấy một số gia súc có thể trọng không lớn lắm nhưng có phần bụng rất phát triển nên ăn được rất nhiều thức ăn thô Khi bò đã đ ủ béo lượng thức ăn thu nhận

có xu hướng ổn định cho dù khối lượng cơ thể tiếp tục tăng Điều này có thể là

do tích luỹ mỡ bụng làm giảm dung tích dạ cỏ (cơ chế vật lý), nhưng cũng có thể là do hiệu ứng trao đổi chất (cơ chế sinh hoá).

- Trạng thái sinh lý

Trạng thái sinh lý của gia súc nhai lại ảnh hưởng đến lượng thu nhận thức ăn, liên quan đến nhu cầu năng lượng và sức chứa của đường tiêu hoá Gia súc đang sinh trưởng có thể tích xoang bụng tăng dần nên ăn được ngày càng nhiều thức ăn Gia súc sau một thời kỳ đói ăn sẽ ăn nhiều thức ăn hơn do nhu cầu tăng trọng nhanh hơn (tăng trọng bù) Đối với gia súc mang thai, có hai yếu tố ảnh huởng ngược nhau đến lượng thu nhận thức ăn: thứ nhất là nhu cầu dinh dưỡng để phát triển thai tăng nên lượng

ăn vào cần phải tăng (cơ chế sinh hoá) và thứ hai là vào giai đoạn cuối thai phát triển mạnh làm cho kích thước xoang bụng bị thu hẹp nên lượng ăn vào bị hạn chế, nhất là khi khẩu phần chủ yếu là thức ăn thô (cơ chế vật lý).

Đồ thị 2.1 Thay đổi lượng thu nhận thức ăn ở bò theo giai đoạn

của chu kỳ sữa

Trang 29

Vào đầu chu kỳ vắt sữa lượng thu nhận thức ăn của bò tăng lên (đồ thị 2.12) Hiện tượng này chủ yếu mang bản chất sinh lý do nhu cầu dinh dưỡng cho tiết sữa ngày càng tăng, mặc dù cũng có thể có liên quan đến sự điều tiết vật lý do giảm mỡ tích trữ trong xoang bụng Có sự lệch pha nhất định (chậm hơn) giữa tăng lượng thu nhận thức ăn so với tăng nhu cầu năng lượng cho tiết sữa Vào đầu chu kỳ sữa bò giảm trọng và được bù lại ở cuối chu kỳ khi năng suất sữa giảm mà lượng thu nhận thức ăn vẫn cao.

- Tập tính ăn uống

Gia súc nhai lại cũng như các gia súc gia cầm khác không tiếp nhận thức ăn một cách ngẫu nhiên mà có sự lựa chọn cẩn thận, đặc biệt là để chống bị ngộ độc Có được khả năng chọn lọc thức ăn vì dường như mang tính bẩm sinh của loài cho phép cảm nhận được các chất dinh dưỡng cụ thể và độc tố có trong thức ăn thông qua mùi vị Có một vài con đường trao đổi chất nào đó tồn tại để chuyển các thông tin liên quan tới hiệu quả trao đổi chất của một loại thức ăn nào đó lên não và sau đó hình thành nên phản xạ thích hoặc không thích loại thức ăn đó Mặt khác, sự nhận thức của con vật về một loại thức ăn nào đó cũng được hình thành qua quá trình học tập, nhất là ở độ tuổi còn non Quá trình nhận thức thức ăn này liên quan đến hai quá trình học tập: học tập

xã hội (học từ mẹ, anh chị em, bạn đàn, những gia súc lớn tuổi có kinh nghiệm ) và tự học (thông qua những trải nghiệm và sai lầm của bản thân) Cảm nhận đối với thức ăn nói chung không ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tiến trình điều khiển tiếp nhận thức ăn của gia súc nhai lại, nhưng quan trọng đối với thói quen gặm cỏ và ăn thức ăn Bò và cừu thích ăn cỏ non hơn là cỏ già và khô, thích

ăn lá hơn thân Nhìn không thật quan trọng trong khi chăn thả, ví như gia súc chăn

ở chổ tối và có thể ăn được ngay cả tối hoàn toàn Ngửi và nếm là thói quen của gia súc gặm cỏ Chúng không chấp nhận ăn cỏ ở nơi có phân của chính nó mới thải ra.

Vị của thức ăn đóng vai trò quan trọng trong quá trình cảm nhận thức ăn vì nó có liên kết chặt chẽ với các thông tin phản hồi sau khi ăn.

Yếu tố tâm lý và kinh nghiệm có ảnh hưởng nhiều đến việc con vật có chịu ăn một thức ăn mới hay không Chẳng hạn, lần đầu tiên cho bò ăn rơm ủ urê rất có thể bò từ chối không chịu ăn, nhưng nếu được tập cho ăn dần bằng cách trộn lẫn với cỏ thì về sau bò lại rất thích ăn loại thức ăn này và lượng thu nhận cao hơn so với ăn rơm không xử lý có thể tới 1,5 lần Khi trong đàn có những gia súc khác ăn một loại thức ăn nào đó, kể cả thức ăn mới, thì còn vật cũng sẽ “yên

Trang 30

tâm” bắt chước ăn thử và rồi quen dần Bê con thường “học theo” mẹ

để ăn những thức ăn mới Cung cấp mới nhiều lần trong ngày thì bò sẽ thích ăn nhiều hơn sau mỗi lần thay mới thức ăn đó, nhất là thức ăn xanh, và giảm được sự biến động về chất lượng của thức ăn ăn vào.

Khoảng không gian tiếp cận thức ăn và thiết kế khu vực cho ăn có ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận thức ăn của bò khi chúng muốn ăn Tăng mật độ bò

ở nơi cho ăn sẽ làm giảm hoạt động ăn mà tăng sự tranh giành nhau giữa chúng, làm cho bò tiếp xúc được với thức ăn ít hơn Dùng róng ngăn để tách riêng bò, như dùng rào chắn thức ăn phía đầu bò, làm giảm sự tranh giành thức ăn và cho phép mỗi bò tiếp cận thức ăn được tốt hơn, nhất là những con lép vế trong đàn.

Theo R.J Grant et al (2001), khả năng thu nhận thức ăn (TNTA) ở bò sữa phụ thuộc vào độ chứa của dạ cỏ, dạ tổ ong và các cơ chế sinh lí cơ thể nhưng việc phân chia nhóm bò sẽ có ảnh hưởng tới thu nhận thức ăn do tăng sự thoải mái, cải thiện khả năng cạnh tranh thức ăn, các điều kiện sống khác và tình trạng sức khỏe Việc phân chia nhóm bò kĩ lưỡng sẽ hạn chế tối đa mức ảnh hưởng của việc cạnh tranh quá mức tới thu nhận thức ăn và làm tăng các khía cạnh tích cực của việc nuôi ăn theo nhóm chẳng hạn như làm tăng tính giao lưu bầy đàn.

Việc nuôi nhốt bò lứa 1 tách khỏi các lứa trên giúp bò ăn nhiều hơn và năng suất cũng cao hơn Cần xem xét kĩ lưỡng không gian chỗ đứng ăn, mức

độ sẵn có của thức ăn và kiểu hệ thống cung cấp thức ăn một khi tính toán quy

mô phân chia mỗi nhóm sao cho hợp lí nhất Nhóm tác giả cho rằng việc nuôi nhốt theo nhóm lớn (>200 bò) là bình thường nếu cung cấp đủ chỗ ăn vì điều này ảnh hưởng tới mức độ thoải mái cũng như tập tính ăn uống của bò.

Nếu nuôi nhốt theo mật độ quá cao thì sẽ làm giảm các hoạt động liên quan tới ăn uống, làm thay đổi tập tính nghỉ ngơi và giảm hoạt động dạ cỏ Những ảnh hưởng nếu có sẽ chỉ xảy ra khi chuyển đổi nhóm nuôi nhốt trong vòng từ 3-7 ngày Tuy nhiên, ảnh hưởng của việc nuôi nhốt theo nhóm là rất lớn ở khía cạnh thay đổi tập tính ăn uống của bò sữa (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

c Các yếu tố môi trường và sức khỏe

- Điều kiện thời tiết khí hậu

Điều kiện thời tiết khí hậu là những yếu tố môi trường quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của cơ thể và do vậy mà ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn Các yếu tố đó bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, gió, bức xạ, thời

Trang 31

gian chiếu sáng và lượng mưa Trong các yếu tố này nhiệt độ và ẩm độ

là những yếu tố đáng quan tâm và có tầm quan trọng thực tiễn nhất.

Bò là động vật máu nóng, vì vậy chúng phải cố gắng duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định mặc dù nhiệt độ môi trường luôn thay đổi Muốn vậy, bò phải giữ được sự cân bằng giữa nhiệt sinh ra trong cơ thể và nhiệt thải ra khỏi cơ thể Thân nhiệt bình thường ở bò ổn định trong khoảng 38,5 -39 o C Tổng lượng nhiệt sinh ra trong cơ thể bò (HP) bao gồm nhiệt được giải phóng từ năng lượng dùng cho duy trì và lao tác của cơ thể cùng với toàn bộ sinh nhiệt (HI) Do vậy, bò có khối lượng cơ thể càng lớn thì nhu cầu năng lượng duy trì càng nhiều và cuối cùng nhiệt sinh ra càng nhiều Thức ăn thô nhiệt đới có chất lượng thấp, khó tiêu nên làm tăng sinh nhiệt (liên quan đến thu nhận và tiêu hoá thức ăn) và do vậy mà tăng tổng lượng nhiệt sinh ra Khi năng suất của bò càng cao thì nhiệt thừa sinh ra trong cơ thể bò càng nhiều (do HI hình thành tăng).

Toàn bộ nhiệt thừa sinh ra phải được giải phóng khỏi cơ thể Các phương thức chính để thải nhiệt ở bò gồm bốc hơi nước, dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ nhiệt.

Sự bốc hơi nước qua da (đổ mồ hôi) và phổi (thở) là con đường chủ yếu để thải nhiệt Sự thoát nhiệt bằng cách bốc hơi nước của bò phụ thuộc nhiều vào ẩm độ môi trường Ẩm độ môi trường càng cao thì càng cản trở bốc hơi nước nên quá trình thải nhiệt sẽ càng khó khăn Mặt khác, nhiệt độ của môi trường cao lại cản trở thải nhiệt từ cơ thể qua con đường dẫn nhiệt, chưa nói chúng phải nhận thêm năng lượng bức xạ nhiệt từ môi trường nóng xung quanh Chính vì thế, trong môi trường càng nóng ẩm thì sự thải nhiệt thừa càng bị trở ngại Bức xạ nhiệt của môi trường cao và lưu thông gió kém (những ngày oi bức) thì quá trình thải nhiệt của bò thông qua bức xạ và đối lưu càng khó khăn Do vậy, trong môi trường nóng ẩm và oi bức con vật buộc phải hạn chế lượng thu nhận thức ăn để giảm sinh nhiệt Trong trường hợp nhiệt thừa sinh ra trong cơ thể lớn hơn khả năng thải nhiệt vào môi trường thì thân nhiệt tăng và bò xuất hiện stress nhiệt Bò bị stress nhiệt thì thu nhận thức ăn càng giảm và năng suất giảm tùy theo mức độ nghiêm trọng.

Nói chung, ở nhiệt độ môi trường thấp dưới vùng đẳng nhiệt (khoảng nhiệt độ trong đó sinh nhiệt trong cơ thể ổn định, được xác định cho mỗi loại gia súc riêng) thì thu nhận thức ăn tăng và ngược lại khi nhiệt độ môi trường nằm trên vùng đẳng nhiệt thì lượng thu nhận thức ăn giảm xuống Ví dụ, bò gốc ôn đới trung bình giảm thu nhận thức

ăn 2% khi tăng 1oC trên mức 25oC (Vũ Duy Giảng và cs., 2008).

Trang 32

J.W West et al (2003), khi nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ, độ ẩm môi trường đến lượng VCK thu nhận (DMI), năng suất sữa và nhiệt độ của sữa nhận thấy rằng trong điều kiện mát mẻ (17-29,5 0 C và THI trung bình trong khoảng 66,8-73,6) DMI thay đổi không đáng kể Ngược lại, thời tiết nóng ẩm (22,5 and 34,4°C và THI 72,1- 83,6) làm giảm đáng kể DMI và năng suất sữa ở bò đang cho sữa Nhiệt độ của trung bình của sữa đo vào thời gian buổi chiều đồng thời cũng tăng lên 39,6 and 39,2°C ở bò thí nghiệm giống Holstein và Jersey.

Các giải pháp cải thiện môi trường nóng ẩm cần chú ý xử lí tác động của yếu tố nhiệt độ nóng trên cơ thể bò Ngoài ra, cần lưu ý giảm nhiệt ở những thời điểm nóng nhất trong ngày đồng nghĩa với việc bò bị stress nhiệt mạnh nhất kể cả thời gian buổi sáng khi bò chưa bị nóng.

Theo J.W West (2003), trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm thì khả năng tự làm mát của bò thông qua cơ chế bức xạ, truyền dẫn hay đối lưu nhiệt tỏ ra không mấy hữu hiệu Khi nhiệt độ môi trường tăng lên cơ chế giải nhiệt ở bò chủ yếu dựa trên hoạt động của tuyến mồ hôi và hô hấp (thở) Khi độ ẩm không khí tăng cao thì cũng đồng nghĩa với việc cản trở quá trình tự bốc hơi làm mát của cơ thể và như vậy khó ngăn ngừa nhiệt đột cơ thể tăng lên Tác giả đi tới kết luận rằng các yếu tố môi trường như nhiệt độ và chỉ số nhiệt độ-độ ẩm THI tăng sẽ làm tăng nhiệt độ cơ thể bò trên ngưỡng bình thường và trực tiếp làm giảm khả năng tiếp nhận thức ăn, năng suất sữa cũng như hiệu quả sản xuất.

Ở một nghiên cứu khác của J.W West (2003), tác giả cũng chỉ ra rằng, các giải pháp làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết nóng ẩm có thể là mái che nắng, chuồng nhốt hay tăng thêm quạt gió và số lượng vòi phun nước tắm cho bò để làm giảm nhiệt cơ thể

và cải thiện chỉ số thu nhận VCK Cần chú ý chọn lọc bò qua nhiều thế hệ có khả năng thích ứng với môi trường nóng ẩm.

Nhu cầu dinh dưỡng của bò trong điều kiện stress nhiệt nóng

ẩm thay đổi nên phối chế khẩu phần cần chú ý tới chiều hướng giảm mức thu nhận thức ăn theo VCK và do vậy phải thay đổi yêu cầu về dinh dưỡng, tăng mật độ dưỡng chất của khẩu phần, tránh cung cấp thừa dinh dưỡng và duy trì hoạt động bình thường của dạ cỏ.

Việc duy trì sức sản xuất của bò sữa trong điều kiện khí hậu nóng ẩm phụ thuộc rất lớn tới các yếu tố như làm mát, kĩ thuật phối chế khẩu phần ăn cũng như công tác chọn lọc di truyền những bò có tính trạng chịu đựng môi trường nóng.

Trang 33

Tác giả N Bareille et al (2003), khảo sát mức độ thu nhận thức ăn DMI

và năng suất sữa ở bò có những rối loạn về sức khỏe nhận thấy rằng ngay trong ngày bò bị chẩn đoán mắc các triệu chứng bệnh tiêu chảy, viêm vú có

hệ thống, thể keton, sốt sữa thì DMI có thể giảm từ 6.7- 14.7 kg và sản lượng sữa giảm 4.1-25.7kg Sản lượng sữa giảm tích lũy trong quá trình viêm vú hệ thống, tổn thương bầu vú hay sinh đôi có thể lên tới 109-160 kg

và DMI giảm tổng số trong khoảng 46-72 kg sau khi bò bị các triệu chứng viêm vú hệ thống, keton hay tổn thương chân móng Các tác giả tính toán rằng khi DMI giảm 1kg thì năng suất sữa giảm theo 1.94kg.

2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN THU NHẬN ĐẾN NĂNG SUẤT SỮA BÒ J.A Bines (1976) khi xem xét sự tương quan của mức thức ăn thu nhận với năng suất sữa của bò nhận thấy rằng trạng thái sinh lý của bò ảnh hưởng

đến tổng lượng năng lượng mà bò sẽ sử dụng và từ đó xác định nhu cầu thức ăn cần Đặc biệt, đối với khẩu phần năng lượng thấp thì bất

kể ảnh hưởng nào của trạng thái sinh lí cơ thể tác động tới sức chứa của khoang bụng đều liên quan tới mức thu nhận thức ăn Ví dụ, ở bò

tơ, hoặc béo mập hay bò mang thai sức chứa khoang bụng giảm nếu

so với bò già tuổi hơn, bò có thể trạng gầy hay không mang thai.

Nhìn chung, mức năng lượng thu nhận sẽ tăng lên nếu hàm lượng năng lượng tiêu hóa khẩu phần tăng và mức tăng sẽ ổn định đến khi gia súc được đáp ứng đủ nhu cầu của mình Thông thường, khi mức năng lượng khẩu phần không bị hạn chế thì việc tăng mức thu nhận thức ăn sẽ đáp ứng được các nhu cầu năng lượng đầu ra ở bò sữa Hiệu ứng có thể không tức thì nhưng theo đó mức thu nhận thức ăn sẽ đạt đỉnh ở thời điểm bò vượt qua đỉnh năng suất sữa.

Trang 34

Hệ số tương quan giữa thức ăn thu nhận và năng suất sữa thông thường là thấp trong khi người ta nhận thấy tương quan rõ rệt giữa thu nhận thức ăn và trọng lượng bò cho sữa.

Tác giả S Agenäs et al (2003), tiến hành nghiên cứu các chỉ tiêu kỹ thuật như thu nhận thức ăn theo VCK, năng suất và thành phần sữa ở bò có điểm thể trạng khác nhau tại thời điểm bò đẻ Thí nghiệm được tiến hành trên bò đẻ nhiều lứa các mức năng lượng khác nhau trong thời gian bò mang thai can sữa

ít nhất 8 tuần trước khi đẻ Khẩu phần TMR có chứa 3 mức năng lượng thấp (L), trung bình (M) và cao (H) là 71, 106 và 177 KJ/ ngày, tương ứng Sau đẻ, bò được cho ăn tự do một loại khẩu phần khác Các tác giả nhận thấy trong giai đoạn đầu của chu kì vắt sữa, không có sự khác biệt đối với chỉ số thức ăn thu nhận Tuy nhiên, từ tuần 6-12, DMI giảm ở bò ăn khẩu phần H và điều này liên quan tới việc mất cân bằng khẩu phần trong thời gian dài ở nhóm bò này Năng suất sữa bình quân ở bò thí nghiệm là 38.5±0.8 kg trong 4 tuần sữa đầu tiên và không có sự khác biệt giữa các nhóm khẩu phần Sự hao mòn cơ thể lớn nhất từ tuần 1-4 sau đẻ được ghi nhận ở nhóm bò ăn khẩu phần H Ảnh hưởng của các kiểu khẩu phần thí nghiệm khác biệt không có đáng

kể tới tỉ lệ mỡ và protein của sữa và điều này cho thấy trong giai đoạn đầu vắt sữa, bò có khả năng bù đắp được mức dưỡng chất thấp thu nhận trong thời kì khô chửa kể cả khi chúng được nuôi theo khẩu phần chất lượng cao.

Nhóm bò thí nghiệm có tính trạng di truyền mỡ sữa thấp thì trong lượng

cơ thể được ghi nhận có xu hướng cao hơn trong suất thời gian thí nghiệm E.S Kolver et al (1998), so sánh ảnh hưởng của khẩu phần ăn phối trộn tổng hợp TMR ở bò sữa cao sản so với khẩu phần chăn thả trên đồng

cỏ chất lượng cao Mức thu nhận thức ăn khác nhau đáng kể giữa nhóm chăn thả và ăn TMR (19.0 và 23.4 kg DMI) Sản lượng sữa của 2 nhóm tương ứng là 29.6 và 44.1 kg/ngày và điểm thể trạng là 2.0 và 2.5 Chất lượng đồng

cỏ cao cho phép bò có mức thu nhận NDF tương tự như ở bò ăn TMR nhưng lại thiếu 19% lượng chất hữu cơ tính theo VCK và năng lượng thuần cần cho tạo sữa Nghiên cứu cho thấy đối với bò cao sản chăn thả thì yếu

tố hạn chế đầu tiên đó là năng lượng trao đổi ME cho nhu cầu sản xuất sữa hơn là các yếu tố khác như protein hay các axit amin.

Trang 35

2.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ NUÔI DƯỠNG GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP ĐẾN SỨC KHỎE VÀ SẢN LƯỢNG SỮA CỦA BÒ SAU ĐẺ

Giai đoạn chuyển tiếp là giai đoạn mang thai cuối của bò, thai phát triển tương đối hoàn chỉnh, bò bước vào giai đoạn chuẩn bị cho quá trình đẻ cũng như các hoạt động tiết sữa Giai đoạn này thông thường kéo dài 3-4 tuần Tác giả R.B Greenfield et al (2000), tiến hành các nghiên cứu để khẳng định vai trò của công tác nuôi dưỡng bò giai đoạn chuyễn tiếp để tránh những tác động xấu ảnh hưởng tới sức sản xuất của bò trong những lứa kế tiếp Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein thô khẩu phần cũng như lượng protein không phân giải trong dạ cỏ (RUP) cho ăn giai đoạn trước khi đẻ tới trạng thái sức khỏe và sức sản xuất sau đẻ Khẩu phần với các tỉ lệ CP và RUP khác nhau gồm: 12% CP và 26% RUP, 16% CP và 26% RUP, 16% CP và 33% RUP, hay 16% CP và 40% RUP theo VCK Tất cả bò thí nghiệm đều cho ăn chung khẩu phần sau đẻ chứa 18% CP và 40% RUP) từ ngày 1 tới ngày 56 của chu kì vắt (DIM) Trong giai đoạn trước đẻ, mức thu nhận thức ăn theo VCK (DMI) không khác biệt giữa các nhóm khẩu phần thí nghiệm Ở giai đoạn sau đẻ, DMI (kg/ngày) cao hơn

có ý nghĩa (P<0.05) trong suốt thời gian thí nghiệm 56 ngày vắt sữa ở bò ăn khẩu phần chứa 12% CP:26% RUP so với tất cả các khẩu phần còn lại chứa 16% CP (21.8

so với 19.8, 18.6 và 18.6; 12% CP:26% RUP so với 16% CP:26% RUP, 16% CP:33% RUP and 16% CP:40% RUP).

N.I Nielsen et al (2004) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá cách propylene glycol (PG) được chuyển hóa trong dạ cỏ và gan và ảnh hưởng như thế nào đến các chất chuyển hóa, hoocmon, thành phần gan, lượng thức ăn ăn vào và sản xuất sữa, để đánh giá xem liệu PG có khả năng ngăn ngừa quá mức sự huy động mỡ trong cơ thể và mất cân bằng trong sự trao đổi carbohydrate và chất béo và do đó làm giảm nguy cơ mắc bệnh ketosis PG làm giảm tỷ lệ phân tử của axetat thành propionat trong các axit béo dễ bay hơi (VFA) bởi vì một phần của PG được chuyển hóa thành propionate trong dạ cỏ Các PG còn lại được hấp thu trực tiếp từ dạ cỏ

mà không có sự thay đổi và đi gluconeogenesis qua đường pyruvate Uống PG sẽ làm tăng insulin lên 200-400% trong vòng 30 phút sau khi ướt, cho thấy rằng PG được hấp thu khá nhanh Việc phân bổ PG cũng làm tăng glucose huyết tương, mặc dù đáp ứng có giới hạn, có thể là do sự gia tăng insulin PG làm giảm nồng độ trong huyết tương của các axit béo không este hóa (NEFA) và beta-hydroxybutyrate (BHB), đặc biệt ở bò sữa đang bú sớm với mức độ NEFA

Trang 36

tương đối cao PG cũng làm giảm hàm lượng triacylglycerol (TG) trong gan và nồng

độ các thể ketone trong sữa và do đó có tính chất chống lại ketogenic Các yếu tố, chẳng hạn như trạng thái trao đổi chất của động vật, thời gian lấy mẫu máu liên quan đến thời gian nuôi PG, phương pháp bổ sung và liều PG ảnh hưởng đến cường độ đáp ứng trong các thông số máu Nói chung, PG không ảnh hưởng đáng

kể đến sản xuất sữa, nhưng đối với bò ở giai đoạn lứa đẻ sớm PG có xu hướng làm tăng sản lượng sữa và giảm tỷ lệ phần trăm chất béo sữa, trong khi tỷ lệ protein sữa không thay đổi Như vậy, PG không có ảnh hưởng đến sản lượng sữa được điều chỉnh năng lượng (ECM) Nói chung, PG không ảnh hưởng đến lượng thức ăn

ăn vào Tuy nhiên, vì tính ngon miệng thấp của nó có thể làm giảm lượng thức ăn

ăn vào nếu không được trộn lẫn kỹ lưỡng với các thành phần thức ăn khác hoặc ướt PG có thể nâng cao hiệu quả sinh sản nhưng cần nhiều nghiên cứu để khẳng định điều này PG có một số tác dụng phụ bao gồm mất thẩm mỹ, chảy nước bọt, tăng thông khí phế quản và trầm cảm Tuy nhiên, chỉ có một số bò thể hiện những dấu hiệu này và có thể có sự khác biệt lớn về tính nhạy cảm Hiệu quả giảm của PG đối với NEFA, nồng độ TG ở gan và hàm lượng chất béo sữa cho thấy PG làm tăng

sự cân bằng năng lượng của bò ở giai đoạn tiết sữa sớm Cùng với tính chất chống lại ketogenic của PG, điều này cho thấy rằng PG có thể làm giảm nguy cơ ketosis lâm sàng và cận lâm sàng.

S McNamara et al (2003), đã có nghiên cứu thăm dò ảnh hưởng của các mức năng lượng trong khẩu phần khác nhau đến mức thu nhận thức ăn theo vật chất khô (VCK), sức sản xuất sữa, thành phần sữa, trọng lượng cơ thể, điểm thể trạng trong thời kì 8 tuần sau đẻ Nghiên cứu thực hiện ở giai đoạn bò Holstein 4 tuần cuối của thai kì Bò thí nghiệm cho ăn theo 3 mức khẩu phần gồm cỏ ủ chua: rơm, 75:25 tính theo VCK (SS), cỏ ủ chua (S), và

cỏ ủ chua + 3 kg thức ăn tinh/ngày (C) thời kì trước đẻ, và 2 khẩu phần (4 kg hay 8 kg thức ăn tinh hàng ngày + cỏ ủ chua, choăn tự do) thời kì sau đẻ.

Bò thí nghiệm được nuôi theo chế độ cho ăn cá thể bắt đầu 4 tuần trước đẻ

và các chỉ tiêu theo dõi trong 8 tuần của kì vắt sữa.

Ở thời kì trước đẻ, có sự khác nhau về mức TNTA theo VCK giữa các lô thí nghiệm (7,4 kg, 8,1 kg và 9,9 kg/ngày đối với khẩu phần SS, S, và C, tương ứng) Từ tuần 1 đến 8 sau đẻ, mức TNTA theo VCK cũng có khác biệt giữa các lô SS và C tương ứng là 13,5 và 14,2 kg/ngày Năng suất sữa, sản lượng mỡ sữa và protein cũng khác nhau giữa các lô SS, S và C tương ứng là 24,2; 26,2, và

Trang 37

28,2 kg/ngày), mỡ (933, 1063, and 1171 g/ngày), và protein (736, 797, và

874 g/ngày).

Điểm thể trạng của bò giữa các nhóm thí nghiệm sử dụng khẩu phần tỷ lệ cỏ

ủ chua:rơm 75:25 và khẩu phần cỏ ủ chua + 3 kg thức ăn tinh (−0,09 và 0,12 của tổng điểm thể trạng BCS) trong thời kì trước đẻ và giữa khẩu phần tỷ lệ cỏ ủ chua:rơm 75:25 và khẩu phần cỏ ủ chua so sánh với khẩu phần cỏ ủ chua + 3kg thức ăn tinh (0,02; 0,06, và −0,26 của điểm thể trạng) trong tuần 1 đến 8 sau đẻ Trọng lượng cơ thể thay đổi giữa khẩu phần ủ chua: rơm 75:25 và khẩu phần cỏ

ủ chua so với khẩu phần cỏ ủ chua + 3 kg thức ăn tinh trong cả hai giai đoạn từ tuần 1 tới 4 (−0,23, −0,37, và −1,25 kg/ngày) và tuần 1 tới 8 (0,18, 0,10, và −0,58 kg/ngày) của thời kì sau đẻ Thể trọng và điểm thể trạng được ghi nhận thấp hơn ở thời điểm sinh ở bò ăn khẩu phần dung cỏ chua : rơm 75:25 so với khẩu phần cỏ ủ chua + 3 kg thức ăn tinh Thí nghiệm cũng cho thấy nếu bổ sung nhiều hơn lượng thức ăn tinh trong khẩu phần bò sau đẻ thì sẽ làm tăng lượng thức ăn thu nhận, tăng năng suất sữa, lượng mỡ, protein sữa nhưng đồng thời giảm hao mòn cơ thể trong 8 tuần đầu chu kì vắt.

Nghiên cứu này đi tới kết luận rằng khi cho ăn khẩu phần năng lượng cao trong 4 tuần cuối của thời kì khô chửa sẽ cải thiện năng suất sữa của bò ở giai đoạn đầu của chu kì vắt.

Theo R J Grant et al (1995), ở bò sữa, giai đoạn nuôi chuyển tiếp được khái niệm bởi hai thời kì: 5-7 ngày trước đẻ và 0-21 ngày sau đẻ Trước ngày

đẻ, bò thường giảm mức ăn đến 30% nhưng sau đẻ chỉ số này phải được tăng lên nhanh chóng Cho ăn hạn chế có thể làm giảm số lần ăn của bò tới 50% nhưng một khi bò ăn tự do với thời gian cung cấp thức ăn ổn định và thời gian

ăn có thể hạn định trong khoảng 8h thì năng suất của bò không bị ảnh hưởng ở giai đoạn giữa chu kì vắt Lịch trình cho ăn có thể ảnh hưởng tới TNTA nhưng cần thiết phải xem xét yếu tố phân giải protein và tinh bột Ở thời kì đầu của chu kì vắt, khi tăng tần số cho ăn bằng TMR thì có thể cải thiện được mức TNTA của bò với điều kiện thức ăn lên men từ mức trung bình đến cao và yếu

tố nuôi dưỡng không được tốt Cho bò sữa cao sản ăn tăng lượng thức ăn mỗi lần cho ăn sẽ giảm bớt thời gian ăn và tần số nhu động dạ cỏ trên đơn vị thức

ăn thu nhận Kiểm soát mức TNTA và lịch trình cho ăn cần phải thức hiện khác nhau đối với bò sữa có lứa đẻ khác nhau và điều này cần được xem xét một khi tiến hành chia nhóm để nuôi dưỡng, quản lí Việc phân chia nhóm bò có ảnh hưởng tới năng suất sữa và mức độ ngon miệng của vật nuôi.

Trang 38

2.5 ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG TIỀN CHẤT GLUCOSE ĐẾN SỨC KHỎE VÀ NĂNG SUẤT SỮA BÒ SAU ĐẺ

2.5.1 Trao đổi năng lượng của bò sữa sau khi đẻ

Cân bằng năng lượng âm là hình thức nguồn dinh dưỡng cung cấp từ thức

ăn thu nhận không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng của cơ thể Ở bò sữa, giai đoạn

2 đến 3 tuần trước khi đẻ, và khoảng 8-12 tuần sau khi đẻ, bò thường rơi vào trạng thái mất cân bằng năng lượng Mức độ mất cân bằng năng lượng ở bò phụ thuộc vào công tác chăm sóc quản lý đàn bò cũng như tiềm năng di truyền của đàn bò Đây là giai đoạn có thể gây stress cho bò Ở giai đoạn sau đẻ, ở bò cao sản, nhu cầu năng lượng của bò có thể tăng lên đến 300% Những thay đổi lớn này đòi hỏi

sự phối hợp các quá trình sinh học trong các mô khác nhau dẫn đến những thay đổi về chuyển hóa nhằm đảm bảo rằng tiềm năng di truyền của bò đối với sản lượng sữa bị khai thác nhưng đồng thời duy trì cân bằng sinh lý Khi cơ chế điều tiết thất bại, cơ thể sẽ bị mất cân bằng sinh lý, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh cao Trong cơ chuyển hóa, hệ thống nội tiết đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa Tỷ lệ hormon tăng trưởng đối với insulin cao trong máu của bò ở giai đoạn tiết sữa sớm, dẫn đến việc huy động các axit béo từ triglyceride mô mỡ (TG) Độ nhạy của mô mỡ lên các tín hiệu phân giải lipolytic cũng được cải thiện đáng kể trong chu kỳ sữa Axit béo được giải phóng từ mô

mỡ phát tán dưới dạng các axit béo không este (NEFA), là nguồn năng lượng chính cho bò trong giai đoạn này Tỷ lệ phần trăm máu NEFA sử dụng trong gan khá ổn định, do đó nồng độ NEFA trong máu phản ánh mức độ huy động

mô mỡ (Pullen et al., 1989) Trong gan NEFA có thể chuyển thành triglycerides, được kết hợp vào lipoprotein và phóng thích vào tuần hoàn, được oxy hóa năng lượng hoặc được chuyển đổi thành cơ thể ketone.

Do đó, các yếu tố stress và quản lý dinh dưỡng kém dẫn đến giảm lượng thức ăn thu nhận theo VCK sẽ dẫn đến sự tăng nồng độ NEFA ở bò

đẻ (Drackley, 1999) Mức độ sau đó giảm dần trong sáu tuần đầu của chu kỳ sữa với bò phát triển ketosis giảm chậm hơn (Schwalm and Schultz, 1976).

Có thể nói, vấn đề trao đổi năng lượng giai đoạn chuyển đổi, giai đoạn sau đẻ luôn là vấn đề cần thường xuyên được quan tâm trong chương trình xây dựng và kiểm soát thức ăn cho bò sữa, góp phần rất nhiều trong việc hạn chế tối đa bệnh dinh dưỡng trên bò.

Trang 39

2.5.2 Bệnh ketosis

Ketosis hay xeton huyết là biểu hiện của rối loạn trao đổi chất gây lên khi hàm lượng của thể xeton và hàm lượng glucose trong máu trung bình hoặc thấp Thể ketone là một nhóm chất gồm acetone, axit acetoacetic và β- hydroxybutyric (BHBA), nhóm chất này làm cho pH máu giảm mạnh, khiến cho hồng cầu mất năng lực vận chuyển ôxy và carbonic, dẫn đến rối loạn tất cả các chức năng sống Sự hình thành thể ketone trong cơ thể bắt đầu từ các axit béo phân giải từ lipid ở gan Axit béo bị β ôxy hoá chuyển thành acetyl-CoA, rồi thành acetoacetyl-CoA và từ đây hình thành β hydrôxyburate và acetone β- hydroxybutyrate lại đi vào máu rồi đi theo một quá trình ngược lại là hình thành acetoacetate và acetyl CoA Acetyl-CoA đi vào chu trình tricarboxylic axit (TCA cycle) để cho ra năng lượng (sơ đồ 2.2).

Rối loạn này xuất hiện ở cả thể mãn và cấp tính Thông thường nó xuất hiện ở 2 tuần đầu của chu kỳ cho sữa giao động từ 8,9 – 34% (Ingvartsen, 2006; Rushen et al., 2008) Biểu hiện lâm sàng ở bò là do glucose trong máu ở bò thấp hơn mức nhu cầu để hỗ trợ chức năng thần kinh và não bộ và bò thường

có biểu hiện rối loạn chức năng thần kinh Bò bị ketosis thường kém ăn, giảm sản lượng sữa (Goff, 2006a) Có 4 loại ketosis đó là: ketosis nước tiểu, ketosis trung bình, ketosis axit butyric và ketosis dưới mức ăn (Ingvartsen, 2006) Thông thường ketosis xảy ra ở tuần thứ 2 – 4 sau khi đẻ (Goff, 2006a), nó phát triển khi nhu cầu glucose vượt quá khả năng tổng hợp glucose (gluconeogensis của gan dẫn đến tăng tổng hợp xeton và do đó nồng độ của

nó trong máu, nước tiểu và sữa tăng lên Các rối loạn chủ yếu thấy ở bò béo phì, kết quả của bệnh ketosis làm giảm lượng thu nhận thức ăn và tăng nguy

cơ huy động chất béo ở gia súc (Ingvartsen, 2006) Nguyên nhân chính dẫn đến

bò bị ketosis và gan nhiễm mỡ là bò quá béo ở thời điểm sinh đẻ, sự huy động

mỡ quá thừa từ mô mỡ của cơ thể, chất dinh dưỡng thu nhận thấp, hoặc có thể

có thêm các yếu tố môi trường và quản lý khác (Ingvartsen, 2006) Ketosis cũng

là hệ lụy của mất cân bằng năng lượng trong thời gian bò đẻ, để đáp ứng nhu cầu về năng lượng, cơ thể đã huy động và phân giải NEFA từ cơ thể và gan không thể chuyển hóa toàn bộ chúng thành năng lượng mà thành chất trung gian là thể xeton (Rushen et al., 2008).

Ngày đăng: 16/07/2021, 06:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w