Theo định nghĩa của UCP 600 của Phòng Thương mại Quốc tế ICC cũng đã đưa ra một định nghĩa, tín dụng chứng từ có nghĩa là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là “Tín dụng là bất cứ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Hà Nội – tháng 05 năm 2019
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN VÀ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Nhóm 10
1 Nguyễn Minh Thúy 1611120105
Phần 2.4 Chương 3
Thuyết trình Sửa tiểu luận
2 Nguyễn Thị Thu Phương 1611120086
3 Lê Hương Giang 1611120032
4 Lê Thị Minh 1611120072 Phần 2.3
Mở đầu, kết luận
Nhóm trưởng Thuyết trình
5 Tống Việt An 1611120002 Sửa tiểu luận
6 Vũ Thị Linh 1611120069
Phần 2.1
Thuyết trình
7 Lưu Thị Thu Uyên 1611120119
8 Đỗ Văn Quang 1611120090 Làm slide
9 Hà Thu Trang 1611120108
Phần 2.2 Chương 1
10 Bùi Thị Thu Hường 1611120049
11 Nguyễn Mỹ Hà 1611120034
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ BỘ CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C 3
1.1 Khái niệm về tín dụng chứng từ 3
1.2 Bộ chứng từ trong thanh toán L/C 3
1.2.1 Chứng từ thương mại 3
1.2.2 Chứng từ tài chính 4
1.2.3 Các chứng từ khác do thư tín dụng yêu cầu xuất trình 4
CHƯƠNG 2: NHỮNG SAI BIỆT THƯỜNG GẶP TRONG CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C 5
2.1 Sai biệt trong chứng từ vận tải 5
2.1.1 Các sai biệt thường gặp 5
2.1.2 Tình huống thực tế 6
2.2 Sai biệt trong chứng từ bảo hiểm 8
2.2.1 Các sai biệt thường gặp 8
2.2.2 Tình huống thực tế 9
2.3 Sai biệt trong chứng từ hàng hóa 10
2.3.1 Các sai biệt thường gặp 10
2.3.2 Tình huống thực tế 12
2.4 Sai biệt trong hối phiếu đòi nợ 13
2.4.1 Các sai biệt thường gặp 13
2.4.2 Tình huống thực tế 14
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO DO SAI BIỆT TRONG BỘ CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C 17
3.1 Đối với các nhà xuất, nhập khẩu 17
3.1.1 Phòng ngừa ở giai đoạn ký kết hợp đồng thương mại quốc tế đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 17
3.1.2 Phòng ngừa ở giai đoạn tổ chức, thực hiện giao dịch L/C đối với doanh nghiệp xuất, nhập khẩu 18
3.1.3 Phòng ngừa ở giai đoạn kiểm tra L/C 19
3.2 Đối với ngân hàng 20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam sở hữu một nền kinh tế đã và đang có những bước chuyển mình nhanh chóng và mạnh mẽ Mang mục tiêu bắt kịp với sự phát triển của kinh tế thế giới, chúng ta luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài; và đã đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ Trải qua nhiều sự kiện kinh tế lớn như gia nhập ASEAN năm 1995; trở thành thành viên của APEC năm
1998 và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2006, có thể nói Việt Nam là minh chứng cho một xu hướng hội nhập
Hoạt động xuất nhập khẩu, một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế
mở ngày nay Điều dễ nhận thấy là để đáp ứng được tất cả những yêu cầu này mà thị trường đòi hỏi, các trung gian tài chính cũng phát triển nhanh chóng Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch vụ thanh toán, góp phần phát triển hoạt động giao dịch giữa các công ty Việt Nam và nước ngoài, bởi thanh toán là khâu then chốt, giữ vai trò quan trọng trong hợp đồng ngoại thương Nhìn nhận được tầm quan trọng của việc thanh toán trong hợp đồng ngoại thương, các bên ký kết luôn lựa chọn các phương thức thanh toán thích hợp nhất nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong các trường hợp phát sinh tranh chấp
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ,… Trong đó, thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong ngoại thương do những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương thức thanh toán khác Tuy nhiên, đây cũng là phương thức thanh toán có quy trình nghiệp vụ phức tạp, liên quan đến nhiều công nghệ hiện đại, nhiều quy định nghiêm ngặt và phải giao dịch trên phạm vi quốc tế, dẫn đến một số rủi ro nhất định
mà chúng ta cần phải cẩn trọng và xem xét kỹ lưỡng khi lựa chọn sử dụng Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp của Việt Nam thường gặp khó khăn trong giao dịch bằng L/C mà chủ yếu nguyên nhân xoay quanh về thanh toán chậm trễ, khiếu kiện kéo dài, không được thanh toán và thậm chí là bị lừa, gây thiệt hại về thời gian và kinh tế của doanh nghiệp
Vì vậy, nhận thấy tính cần thiết của đề tài, nhóm chúng em đã quyết định đi
sâu tìm hiểu về đề tài “Các sai biệt thường gặp trong bộ chứng từ thanh toán theo
Trang 5L/C và những điểm cần lưu ý, phân tích trường hợp cụ thể” Bài tiểu luận có kết
cấu gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Những nét chính về bộ chứng từ thanh toán theo L/C
Chương 2: Những sai biệt thường gặp trong chứng từ thanh toán theo L/C
Chương 3: Giải pháp để hạn chế những rủi ro do sai biệt trong bộ chứng từ thanh toán theo L/C
Trong quá trình thực hiện tiểu luận này, chúng em chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ, chỉ bảo, sát sao của PGS.TS Đặng Thị Nhàn Tuy nhiên, chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót nên chúng em rất mong cô và các bạn đóng góp để kết quả của nhóm được hoàn thiện hơn
Trang 6Theo định nghĩa của UCP 600 của Phòng Thương mại Quốc tế ICC cũng đã đưa ra một định nghĩa, tín dụng chứng từ (có nghĩa là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ) là “Tín dụng là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết rõ ràng của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp”
1.2 Bộ chứng từ trong thanh toán L/C
1.2.1 Chứng từ thương mại
Chứng từ vận tải: Chứng từ được lập bởi người có trách nhiệm sau khi người bán giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm giao hàng quy định Chứng
từ vận tải bao gồm:
+ Vận đơn đường biển (Bill of lading)
+ Chứng từ vận tải đa phương thức
+ Biên lai gửi hàng đường biển (Seaway bill)
+ Vận đơn hàng không (Airway bill)
+ Chứng từ vận tải đường sắt (Railway bill), đường bộ và đường sông
Chứng từ bảo hiểm: Chứng từ do người bảo hiểm lập và cấp cho người được bảo hiểm làm bằng chứng cho hợp đồng bảo hiểm và điều tiết mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm Chứng từ bảo hiểm bao gồm:
+ Đơn bảo hiểm (Insurance Policy)
+ Giấy chứng nhận bảo hiểm (Certificate of insurance)
+ Tờ khai bảo hiểm bao (Declaration under an open cover)
Chứng từ hàng hóa bao gồm:
Trang 7+ Hóa đơn thương mại (Commercial invoice)
+ Phiếu đóng gói (Packing list)
+ Giấy chứng nhận chất lượng ( certificate of quality)
+ Giấy chứng nhận số và trọng lượng (Certificate of weight and quantity) + Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin)
+ Giấy chứng nhận kiểm dịch (Certificate of quarantine)
+ Giấy chứng nhận giám định (Certificate of inspection)
+ Giấy chứng nhận vệ sinh (Certificate of health)
+ Giấy chứng nhận hun khói (Certificate of fumigation)
+ Giấy chứng nhận khử trùng (Certificate of disinfection)
1.2.2 Chứng từ tài chính
Hối phiếu đòi nợ: Theo Đạo luật Hối phiếu Anh Quốc 1882 “Hối phiếu đòi nợ (Bill of exchange) là một mệnh lệnh vô điều kiện của một người ký phát (drawer) cho một người khác (drawee), yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu”
Hóa đơn: được sử dụng trong trường hợp thay hối phiếu để đòi tiền
1.2.3 Các chứng từ khác do thư tín dụng yêu cầu xuất trình
Các loại chứng từ khác mà thư tín dụng yêu cầu phải có khi xuất trình, ví dụ như: “Bản sao của bản fax thông báo giao hàng cho người yêu cầu”, “Biên lai bưu điện chứng minh đã gửi bộ vận đơn gốc kèm bộ chứng từ gửi hàng kèm bản sao cho người yêu cầu”
Trang 8CHƯƠNG 2: NHỮNG SAI BIỆT THƯỜNG GẶP TRONG
CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C 2.1 Sai biệt trong chứng từ vận tải
2.1.1 Các sai biệt thường gặp
Mục Shipper, Consignee, Notify party không khớp với các quy định trong L/C:
+ Mục Shipper: Ghi tên người bán trong hợp đồng hay trong L/C và không được viết tắt
+ Mục Consignee: Ghi tên và địa chỉ người nhận hàng (consignee) đúng với quy định của L/C Có thể nói đây là phần sai sót nhiều nhất trong vận đơn vì phần quy định rất khác nhau trong L/C
+ Mục Notify Party: Tên và địa chỉ người được thông báo khi tàu cập bến cảng phải là tên người mua, tên này đúng như trong L/C yêu cầu và không được viết tắt Nếu người được thông báo là một người khác thì trong L/C phải ghi rõ
Cảng bốc và cảng dỡ không khớp với quy định trong L/C
B/L xuất trình cho ngân hàng trễ hơn 21 ngày sau ngày lập vận đơn, hoặc xuất trình L/C đã hết thời hạn có hiệu lực
Trên B/L ghi hàng đã chất lên boong tàu (on deck cargo) thay vì đúng phải ghi là hàng đã để trong hầm tàu (on board)
B/L xuất trình không phải là vận đơn hoàn hảo
Ký hậu, chuyển nhượng B/L không đúng
Các thay đổi bổ sung trên vận đơn không có xác nhận của người lập (chữ ký và con dấu)
Vận đơn thiếu tính chính xác thực do người lập đơn không nêu rõ tính cách pháp lý đối với trách nhiệm chuyên chở lô hàng này
Trang 9 Mục cước phí: Không phù hợp với quy định của L/C: Do ở nước ta, hàng hoá nhập khẩu chủ yếu theo điều kiện giao hàng CIF và CFR nên hầu hết các L/C quy định cước phí trả trước “freight prepaid” Nếu vận tải đơn nêu cước phí phải thu “freight to collect” thì nhà nhập khẩu sẽ không chấp nhận chứng từ này
Đặc điểm của vận đơn: có thể là vận đơn đã xếp hàng (shipped on board B/L) hoặc vận đơn nhận hàng để xếp (received for shipment B/L) – loại vận đơn này không được Ngân hàng chấp nhận và từ chối thanh toán trừ khi có sự chấp nhận của người nhập khẩu;
Điều kiện chuyển tải; Nếu L/C quy định không cho phép chuyển tải (transhipment prohibited), trên B/L không được thể hiện bất cứ bằng chứng nào về
sự chuyển tải Nếu việc chuyển tải xảy ra, Ngân hàng chỉ chấp nhận chứng từ này khi
tên cảng chuyển tải, tên tàu và tuyến đường phải được nêu trên cùng một vận đơn
2.1.2 Tình huống thực tế
Công ty Hòa Bình của Việt Nam ký kết hợp đồng nhập khẩu TV với một công
ty D tại Hàn Quốc L/C được mở tại ngân hàng Agribank với các điều khoản cho phép thanh toán nhiều lần, giao hàng 3 đợt tháng 6,7,8/2008 với trọn bộ vận đơn gốc đầy đủ và sạch Ngân hàng thông báo H tại Hàn Quốc
Sau 2 chuyến giao hàng vào tháng 6,7 Ngân hàng Agribank đã thanh toán cho người hưởng lợi là Công ty D Tuy nhiên, vào lần giao hàng thứ 3, Ngân Hàng Agribank kiểm tra chứng từ và phát hiện có sai sót B/L có ghi chú “đã xếp hàng” (on board) nhưng không ghi rõ “ngày xếp hàng” Công ty Hòa Bình nhận thấy giá của
TV có xu hướng giảm vào tháng 8 nên yêu cầu ngân hàng từ chối thanh toán
Ngân hàng thông báo H cho rằng, 2 lần trước B/L có cùng lỗi như thế nhưng Agribank vẫn chấp nhận thanh toán Việc không thanh toán của Ngân hàng Agribank lần này là hành động không nhất quán và yêu cầu Agribank phải trả tiền
Trang 10 Người mở L/C (ở đây là Công ty Hòa Bình) yêu cầu ngân hàng từ chối thanh toán do giá trên thị trường gây bất lợi cho họ
Theo Điều 4 UCP600: “Tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua
bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, ngay cả khi tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó Do đó, sự cam kết của một ngân hàng về việc thanh toán, thương lượng thanh toán hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong tín dụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặc kiện cáo của người yêu cầu phát hành tín dụng phát sinh từ các quan hệ của họ với ngân hàng phát hành hoặc người thụ hưởng.”
Điều 14 UCP 600 cũng quy định ngân hàng chỉ kiểm tra bề mặt chứng từ xem
chúng có phù hợp hay không
Do đó, trong trường hợp bộ chứng từ hợp lệ, ngân hàng phát hành Agribank không thể dựa vào lý do giá cả trên thị trường giảm để từ chối thanh toán
Mặt khác, theo Điều A11 ISBP 745, các chứng từ vận tải bản gốc phải ghi rõ
ngày phát hành, ngày ghi chú đã bốc hàng, ngày giao hàng, ngày nhận hàng để chở, ngày gửi hàng, ngày chuyên chở, ngày nhận hàng để gửi đi hoặc ngày tiếp nhận có thể áp dụng Trên B/L mà bên bán xuất trình không ghi rõ ngày giao hàng, là cơ sở
để Agribank bắt lỗi
Về phía Ngân hàng thông báo H, họ cho rằng 2 lần trước, bộ chứng từ đều có lỗi như vậy nhưng Ngân hàng Agribank vẫn chấp nhận thanh toán Tuy nhiên, ngân hàng phát hành không có nghĩa vụ thanh toán nếu phát hiện ra bộ chứng từ không hợp lệ, dù cho những lần trước đã thanh toán Nếu bộ chứng từ không hợp lệ, ngân hàng thông báo không thể dựa vào các lần thanh toán trước để đòi tiền ngân hàng phát hành
Theo Điều 20 UCP 600: Vận đơn phải “chỉ rõ hàng hóa đã được xếp lên một
con tàu chỉ định tại cảng giao hàng quy định trong tín dụng bằng cụm từ in sẵn hoặc một ghi chú là hàng đã được xếp lên tàu, có ghi ngày tháng xếp hàng lên tàu Ngày phát hành vận đơn được coi như ngày giao hàng, trừ khi trên vận đơn có ghi chú hàng
đã xếp trên tàu có ghi ngày giao hàng, trong trường hợp này, ngày đã ghi trong ghi chú xếp hàng sẽ được coi là ngày giao hàng
Điều E6 ISBP 745 quy định tương tự
Trang 11 Kết luận:
Có 2 trường hợp xảy ra:
Hàng hóa không được được đóng trong container: Như đã đề cập ở trên theo
Điều 20 UCP 600, nếu không ghi ngày giao hàng thì ngày phát hành vận đơn sẽ được
coi như ngày giao hàng Trong trường hợp của tình huống, ngân hàng Agribank chỉ phát hiện ra việc không ghi ngày giao hàng chứ không có lỗi không ghi ngày phát hành vận đơn Như vậy, ngân hàng Agribank đã làm sai
Hàng hóa không được đóng trong container: Hàng sẽ không được vận chuyển trực tiếp lên tàu mà phải vận chuyển ra bãi container hoặc bãi gom hàng trước khi được giao lên tàu Trong trường hợp này, trên vận đơn phải có ghi chú ngày giao hàng
ra bãi container, ngày xếp hàng lên tàu và ngày phát hành vận đơn (như điều 20 UCP
quy định) Trong case, vận đơn được đóng dấu “on board”, vận đơn này là vận đơn của hàng hóa thông thường không được đóng trong container (Nếu là hàng hóa đóng trong container thì vận đơn sẽ là vận đơn nhận hàng để xếp “receive for shipment”) Như vậy, Agribank không có cơ sở để từ chối thanh toán
Ngoài ra, ngân hàng H còn có quyền đòi Agribank hoàn trả tiền và lãi trả chậm
theo Điều 13 UCP 600 “Ngân hàng phát hành sẽ chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại về
tiền lãi và chi phí phát sinh, nếu việc hoàn trả tiền không được thực hiện ngay khi có yêu cầu đầu tiên của ngân hàng hoàn trả phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng”
2.2 Sai biệt trong chứng từ bảo hiểm
2.2.1 Các sai biệt thường gặp
Trong thanh toán quốc tế, bảo hiểm hàng hóa có vai trò đặc biệt quan trọng Những sai sót trong chứng từ bảo hiểm sau sẽ khiến ngân hàng từ chối thanh toán:
Chứng từ bảo hiểm có ngày phát hành trễ hơn ngày bốc hàng lên tàu hoặc ngày nhận hàng để gửi hàng
Chứng từ bảo hiểm do nhà môi giới bảo hiểm cấp
Chứng từ bảo hiểm chưa được người mua bảo hiểm ký hậu
Loại tiền khi trong chứng từ bảo hiểm có sai biệt so với L/C
Mức mua bảo hiểm không đúng như quy định của L/C (Mức phí là 110% giá trị giá CIF)
Trang 12 Người mua bảo hiểm không ký hậu hoặc ký hậu không hợp lệ
Số bản chính được xuất trình không đủ theo yêu cầu của L/C
Có sai biệt ở băng số và băng chữ
2.2.2 Tình huống thực tế
Tình huống: Tranh chấp do tri ̣ giá bảo hiểm nhỏ hơn 110% giá tri ̣ hóa đơn
Một công ty ở Nam Định nhập khẩu bông sợi của một công ty ở Mexico để xuất sang Nhật Bản Phương thức thanh toán: L/C chuyển nhượng tuân thủ UCP 600 L/C chuyển nhượng yêu cầu xuất trình: hợp đồng bảo hiểm lập theo lệnh, ký hậu để trống, điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro, trị giá bảo hiểm là 110% trị giá hoá đơn, tính bằng USD Trị giá lô hàng là 340.000USD (đơn giá là 68USD/kg) Ngân hàng mở: Ngân hàng Fuji Bank Ngân hàng chuyển nhượng: Ngân hàng Vietcombank Hà nội, theo chỉ thị của công ty Nam Định chuyển nhượng cho công ty Mexico hưởng một phần
số tiền của L/C gốc là 250.000 (đơn giá là 45 USD/kg)
Bộ chứng từ đòi tiền của công ty Mexico xuất trình bao gồm hóa đơn trị giá 250.000USD và bảo hiểm đơn ghi số tiền bảo hiểm 250.000 x 110% = 275.000USD Sau khi kiểm tra chứng từ, Vietcombank thấy hợp lệ và thanh toán cho công ty Mexico Công ty Nam Định tiến hành thay thế hoá đơn và gửi đến Fuji Bank để đòi tiền Hoá đơn mới có trị giá 340.000USD Bộ chứng từ của công ty Nam Định đã bị
từ chối với lý do: Trị giá bảo hiểm 275.000 nhỏ hơn 110% trị giá hoá đơn (110% x 340.000 = 374.000USD)
Tranh chấp đã xảy ra Công ty Nam Đi ̣nh khiếu na ̣i FUJI Bank vì không thanh toán tiền cho công ty Công ty Nam Đi ̣nh yêu cầu thanh toán nhưng FUJI Bank từ chối thanh toán vì tri ̣ giá bảo hiểm 275.000 USD nhỏ hơn 110% hóa đơn
To ̀ a án giải quyết:
Theo Điều 28f UCP 600 quy định như sau:
1 Chứ ng từ bảo hiểm phải ghi rõ số tiền và cùng loa ̣i tiền của tín du ̣ng
2 Một yêu cầu của tín du ̣ng đối với mức bảo hiểm là theo tỉ lê ̣ phần trăm
củ a giá tri ̣ hàng hóa, tri ̣ giá hóa đơn hoă ̣c tương tự sẽ coi là số tiền được bảo hiểm tối thiểu
Nếu không quy đi ̣nh trong tín du ̣ng về mức bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm ít nhất phải bằng 110% của giá CIF hoăc CIP của hàng hóa
Trang 13Theo điều khoản trên thì phía FUJI Bank thanh toán là hơp lí vì giá tri ̣ bảo hiểm 275.000 USD nhỏ hơn 110% giá tri ̣ hóa đơn Công ty Nam Đi ̣nh không thể đòi tiền
Ba ̀ i học rút ra: Công ty Nam Đi ̣nh đã mắc sai lầm khi quy đi ̣nh điều khoản
chuyển nhượng cho người thứ 2 Đó là quy đi ̣nh mức bảo hiểm 110% giá tri ̣ hóa đơn
vớ i công ty Mexico Công ty Nam Đi ̣nh nên yêu cầu công ty Mexico mua 149,6% giá trị bảo hiểm lô hàng tri ̣ giá 250.000 USD
Tổng trị giá bảo hiểm = 250.000 x 149,6% = 374.000 USD
Như vâ ̣y công ty Nam Định sẽ không làm trái quy đi ̣nh ghi trong L/C
2.3 Sai biệt trong chứng từ hàng hóa
2.3.1 Các sai biệt thường gặp
Hóa đơn thương mại
Người bán cho rằng hoa hồng, tiền bản quyền và các loại phí khác không phải chịu thuế nên không ghi vào trong hóa đơn
Người xuất khẩu mua hàng từ nhà sản xuất rồi bán lại cho người nhập khẩu và chỉ ghi trên hóa đơn giá họ mua của người sản xuất chứ không ghi giá họ bán cho người nhập khẩu
Trị giá nguyên liệu của người nhập khẩu cung cấp cho người xuất khẩu
để sản xuất ra hàng hóa không được thể hiện trong hóa đơn
Nhà sản xuất nước ngoài gửi hàng thay thế cho một khách hàng và chỉ ghi giá thực thu của hàng hóa mà không thể hiện giá đầy đủ trừ đi tiền bồi thường cho hàng hó a khiếm khuyết đã giao trước đây và bị trả lại
Người giao hàng nước ngoài bán hàng có chiết khấu nhưng trên hóa đơn chỉ ghi giá thực thu mà không thể hiện số tiền chiết khấu
Người xuất khẩu bán hàng theo giá giao hàng (giá gắn với một điều kiện giao hàng nào đó ví dụ như giá CIF chẳng hạn) nhưng chỉ ghi hóa đơn theo giá FOB tại nơi xếp hàng và không ghi những chi phí tiếp theo sau
Người giao hàng ghi trên hóa đơn người nhập khẩu là người mua hàng nhưng trên thực tế người nhập khẩu chỉ là đại lý hoa hồng hoặc là bên chỉ nhận một phần tiền bán hàng cho việc làm trung gian của mình