Trong những tư tưởng triết học đó, ngoài sự lý giải về quan niệm sống của con người thế giới quan thì Phật giáo đãdành rất nhiều nội dung cho những vấn đề liên quan đến con người, đếncuộ
Trang 1HỒ NGỌC ANH
NH¢N SINH QUAN PHËT GI¸O TRONG "tRUYÖN KIÒu"
CñA NGUYÔN DU - GI¸ TRÞ Vµ H¹N CHÕ
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hµ NéI - 2014
Trang 2tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Hùng Hậu
Vào hồi ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới được du nhậpvào nước ta vào khoảng thế kỷ I Mặc dù là một tôn giáo ngoại sinh,nhưng Phật giáo đã sớm khẳng định mình và tìm được chỗ đứng vữngchắc trong đời sống tinh thần cũng như trong nhiều hoạt động văn hoá xãhội khác của người Việt Nam
Để có thể nhanh chóng xác lập được vị thế của mình trong đời sống xãhội Việt Nam, tất nhiên bên cạnh việc lựa chọn con đường, cách thứctruyền bá phù hợp với tâm lý, truyền thống của người Việt thì không thểkhông nhắc đến nội dung giáo lý của nhà Phật Với tinh thần từ, bi, hỉ, xảcủa mình, Phật giáo đã tạo nên sự khác biệt với những hệ tư tưởng cùngthời được người Hán truyền bá vào Việt Nam Nếu như Nho giáo phải mấtmột thời gian khá dài khi mà xã hội Việt Nam đã tương đối phát triển mớiđược trọng dụng thì Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã nhanhchóng hoà mình vào nền văn hoá của người bản địa bằng những câuchuyện thần thoại mang tính nhân văn cao cả (những ông Bụt tốt bụng,thương, giúp người lương thiện khi gặp hoàn cảnh khó khăn…)
Chúng ta biết rằng Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo với hệthống thần linh và nghi lễ thờ cúng của mình, mà nó còn là một học thuyếttriết học tương đối thâm sâu Trong những tư tưởng triết học đó, ngoài sự
lý giải về quan niệm sống của con người (thế giới quan) thì Phật giáo đãdành rất nhiều nội dung cho những vấn đề liên quan đến con người, đếncuộc đời của con người (nhân sinh quan)
Có thể khẳng định rằng, những tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng sâu đậmtrong xã hội và con người Việt Nam đa phần và chủ yếu là những quanniệm xoay quanh vấn đề về con người và cuộc đời con người (nhân sinhquan) Những quan niệm này cùng với thời gian đã không ngừng thấm sâuvào hành vi, lời nói, sinh hoạt hàng ngày của người Việt (những quan niệm
về thiện ác, về nhân quả và nghiệp báo, khuyên con người làm lành lánh
Trang 4dữ…) Không những vậy, nó còn ảnh hưởng tới cả những chuẩn mực xãhội được cộng đồng thừa nhận, ảnh hưởng đến pháp luật của nhà nước,ảnh hưởng tới văn học nghệ thuật, tới không gian kiến trúc… của ngườiViệt Nam Nói cách khác, Phật giáo đã trở thành một phần không thể thiếutrong nền văn hoá mang đậm bản sắc của người Việt Nam.
Trong sự ảnh hưởng của Phật giáo tới văn học nghệ thuật Việt Nam,chúng ta không thể không nhắc tới một tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du,
đó là “Truyện Kiều” Đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có thể thấy rõ sựkhủng hoảng của xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế
kỷ XIX, thấy được cuộc sống của con người (đặc biệt là những người phụnữ) bị chà đạp và xâm hại nặng nề
Với Nguyễn Du, đằng sau câu chuyện về cuộc đời của Thuý Kiều lànhững day dứt, những băn khoăn, những niềm mong ước về một cuộc sốnghạnh phúc bình yên của mỗi con người Có thể cảm nhận được những ảnhhưởng sâu sắc mà Nguyễn Du đã tiếp nhận từ Phật giáo mà cụ thể là nhânsinh quan Phật giáo thông qua khái niệm nhân quả, nghiệp báo, tâm… thểhiện trong cuộc đời của Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Mã Giám Sinh….Truyện Kiều không chỉ dừng lại là một tác phẩm văn học đơn thuầnphản ánh tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX mànhững vấn đề do nó đặt ra vẫn không hề lạc hậu đối với xã hội Việt Namtrong giai đoạn hiện nay Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thị trường đãnảy sinh rất nhiều các vấn đề liên quan đến con người và xã hội, đặc biệt làcác vấn đề về đạo đức Đó là sự thống trị của đồng tiền, coi đồng tiền làtrên hết trong lối sống thực dụng của một số cá nhân Vì tiền họ sẵn sàngxâm hại các chuẩn mực đạo đức của xã hội, các giá trị văn hóa truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, những hình ảnh Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hà,Bạc Hạnh, Khuyển, Ưng… xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội Sựxuống cấp và băng hoại về đạo đức không chỉ diễn ra trong dân chúng màcòn xuất hiện ở một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý của nhà nước(giống như hình ảnh những tên quan lại phong kiến đã trực tiếp hoặc giántiếp đẩy Thúy Kiều và gia đình của mình vào khó khăn hoạn nạn) với tìnhtrạng tham nhũng, cửa quyền và vô cảm trước nhân dân
Trang 5Trong Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển vănhóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước,Đảng ta đã khẳng định: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triểntoàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc,đạo đức, lối sống và nhân cách Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người
vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân
và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình
và xã hội Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng;nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu,cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnhhưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người”
Chính vì vậy, việc phân tích và vận dụng tư tưởng tích cực về đạo đức,tôn giáo trong các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, tác phẩm “TruyệnKiều” của Nguyễn Du nói riêng để khuyến khích con người làm việc thiện,tránh xa việc ác, tự chịu trách nhiệm với những hành vi cá nhân của bảnthân… từ đó góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, lành mạnh hơn, hướngcon người đến giá trị chân - thiện - mỹ là việc làm hết sức cần thiết
Với tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn như vậy, nghiên cứu sinh đã
chọn đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du - Giá trị và hạn chế” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Trình bày và chỉ ra nhân sinh quan Phật giáo qua quan niệm về nghiệp
báo và nhân quả trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
- Chỉ ra những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du; ý nghĩa của việc nghiên cứu này.
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu là nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du.
3.2 Phạm vi nghiên cứu: luận án giới hạn việc phân tích nhân sinh
quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du chỉ trên khía cạnh thuyết nhân quả, nghiệp báo, khía cạnh khá nổi bật trong “Truyện Kiều”.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước về việc kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóanhân loại và những giá trị truyền thống của dân tộc
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: lịch sử - cụ thể, hệ thốnghóa, phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê, văn bản học …
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã khái quát và hệ thống hóa những nội dung cơ bản của nhân
sinh quan Phật giáo gắn với “Truyện Kiều”, cụ thể là những quan niệm về
nghiệp báo, nhân quả và sự tiếp biến của chúng ở Phật giáo Việt Nam
- Luận án đã chỉ ra được những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan
trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; ý nghĩa của việc nghiên cứu này.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần phát huy những giá trị nhân văn của Phật giáo
Việt Nam nói chung, tư tưởng Phật giáo trong văn học, trong “Truyện Kiều” nói riêng.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu vàgiảng dạy những môn học có liên quan đến tư tưởng Triết học (Phật giáo)Việt Nam; tôn giáo (Phật giáo) ở Việt Nam và văn học Việt Nam
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo nói chung, quan niệm về nhân quả, nghiệp
báo của Phật giáo trong “Truyện Kiều” nói riêng là những vấn đề đã và
đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ và góc độkhác nhau Có thể chia những công trình nghiên cứu về vấn đề này thànhnhững nhóm sau:
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo qua quan niệm về nghiệp báo, nhân quả
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới với một hệ thốngcác tư tưởng triết học đồ sộ Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu
về nhân sinh quan Phật giáo nói chung và quan niệm về nghiệp báo, luânhồi và nhân quả nói riêng như: Narada Thera (Phạm Kim Khánh dịch)
(1999), Đức Phật và Phật pháp, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh; Thích Thiện Siêu, Chữ nghiệp trong đạo Phật, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2002; Thích Chân Quang, Luận về nhân quả, Nhà xuất
bản Tôn giáo, Hà Nội, 2005; D J Kalupahana (Đồng Loại, Trần Nguyên
Trung dịch) Nhân quả - triết lý trung tâm Phật giáo, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2007; Diệu Thanh Đỗ Thị Bình, Đôi điều luận về nhân quả - nghiệp báo, 2009, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Số 4,
tr 40-41; Lưu Thị Quyết Thắng, Thử bàn về nhân sinh quan Phật giáo qua giáo lý duyên khởi, Tạp chí nghiên cứu Phật học, 2004, Số 5, Tr 6-10; Mộng Đắc, Vài nét về đạo Phật và thuyết Nhân quả, Tạp chí Nghiên cứu
tôn giáo, 2009, số 4 (70), tr 71 - 74; Văn Xương Đế Quân (Quảng Tráng
lược dịch), Nhân quả báo ứng, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2011 Thích Đạt Ma Phổ Giác, Nhân quả & số phận con người, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2013, Hà Nội; Thích Thiện Hoa, Xây dựng đời sống trên nền nhân quả, nghiệp và luân hồi, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2007;
Trang 8Nguyễn Hùng Hậu (Minh Không) (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
Thông qua những công trình này, tác giả luận án đã bước đầu nhậndiện được khái niệm, nội dung, phân loại và tính chất của các quan niệm
về nhân quả, nghiệp báo, luân hồi của Phật giáo Đó chính là cơ sở để tác giảluận án khai thác và triển khai vào luận án triết học của mình trong chương 2:Nhân sinh quan Phật giáo qua quan niệm về nhân quả, nghiệp báo
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du và nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
“Truyện Kiều” là một kiệt tác văn học được Nguyễn Du viết vào
khoảng những năm đầu của thế kỷ XIX Từ đó đến nay, đã có rất nhiều các
công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều” của ông.
Có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau: Hoài Thanh, Quyền sống của con người trong truyện Kiều của Nguyễn Du, Hội văn hoá Việt Nam, 1949; Trương Tửu, Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (Phê bình văn học), Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, 1956; Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2003; Lê Nguyên Cẩn, Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2011; Trịnh Bá Đĩnh (2002), Nguyễn
Du -Về tác giả và tác phẩm, Nhà Xuất bản Giáo dục; Mai Phương Chi (tuyển soạn) Truyện Kiều và lời bình / Nguyễn Khắc Viện, Đặng Thai
Mai, Đào Duy Anh Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005; Ngô
Quốc Quýnh, Thử tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du qua truyện Kiều, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2010; Nguyễn Quảng Tuân, Tìm hiểu Nguyễn
Du và Truyện Kiều, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; Trần Nho Thìn, Cảm nhận của Nguyễn Du về xã hội trong Truyện Kiều, Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, số 5 (tr 25-40), số 6 (tr 17-40), 2004
Thông qua những công trình này, tác giả luận án đã phần nào nắmđược thân thế, sự nghiệp và thời đại mà Nguyễn Du sống Đồng thời tác
giả cũng phần nào hiểu thêm về nội dung của “Truyện Kiều”, cũng như những đánh giá, nhận định khác nhau về “Truyện Kiều” và xã hội phong
Trang 9kiến đương thời (dù ở nhiều các khía cạnh và góc độ tiếp cận khác nhau).Trên cơ sở những nhận định và đánh giá ấy, tác giả triển khai tìm hiểu và
đánh giá “Truyện Kiều” dưới góc độ triết học của mình.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du thì cũng đã có những công trình (dù chưa nhiều) nghiên cứu về nhân
sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (Nếu có thì chủ yếu dưới những nội dung riêng lẻ, rời rạc Có thể kể đến: Huyễn Ý, Truyện Kiều qua cách nhìn của người học Phật, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh,
Tp Hồ Chí Minh, 2006; Thích Nhất Hạnh, Thả một bè lau, Nhà xuất bản
Văn hóa Sài gòn, Tp Hồ Chí Minh, 2009; Lê Văn Quán, “Góp phần tìm
hiểu triết lý đạo Phật trong Truyện Kiều”, Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (102)
2010 (tr.56-66)
Nhìn chung, những công trình này chưa đi sâu vào tìm hiểu sự ảnh
hưởng của thuyết nhân quả, nghiệp báo của Phật giáo trong “Truyện Kiều”
của Nguyễn Du, mà chỉ tiếp cận ở những góc độ chung như: quan niệm về
sự đau khổ, nguồn gốc của sự đau khổ, thiền, sự giải thoát… Đôi chỗ cáctác phẩm có nói đến nghiệp báo và nhân quả, nhưng còn thực sự chưa rõnét và chưa được tiếp cận dưới góc độ triết học
Trên cơ sở đó, tác giả đã kế thừa và phát triển nội dung của luận ándưới góc độ triết học để tìm hiểu sâu về quan niệm nhân quả, nghiệp báo
của Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
1.2 Một số vấn đề đặt ra qua các công trình nghiên cứu
Để có thể tiếp cận và nghiên cứu “Truyện Kiều” của Nguyễn Du dưới
góc độ triết học theo lát cắt Phật học để chỉ ra được những ảnh hưởng của
quan niệm nghiệp báo, nhân quả Phật giáo đối với nội dung của “Truyện Kiều”, luận án cần phải đặt ra và giải quyết được những vấn đề sau:
- Một là: cần phải khái lược lại những quan niệm về nhân quả, nghiệp
báo, luân hồi của Phật giáo, để từ đó làm công cụ tiếp cận và giải quyếtvấn đề thứ hai
- Hai là: cần phải chỉ ra được tư tưởng về nhân quả, nghiệp báo của Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thông qua cuộc đời của
Trang 10Thúy Kiều cũng như sự xuất hiện của các nhân vật khác trong “Truyện Kiều”.
- Ba là: Dưới góc độ triết học, tác giả luận án cần phải có những đánh
giá về giá trị và hạn chế của những quan niệm về nghiệp báo, nhân quả
trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Tiểu kết chương 1
Nội dung tư tưởng nhân sinh quan của Phật giáo cũng như những giá
trị tư tưởng của tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cùng với vấn đề nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã và đang
được khá nhiều các tác giả nghiên cứu dưới những góc độ tiếp cận khácnhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về
nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du một cách
có hệ thống dưới góc độ triết học khi chỉ ra những quan niệm về nghiệp
báo, nhân quả của Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng
như những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân sinh quan
Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Chương 2 NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
2.1 Cơ sở hình thành của nhân sinh quan Phật giáo
2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội cho sự hình thành nhân sinh quan Phật Giáo
Phật giáo là một trong số các học thuyết triết học - tôn giáo lớn trênthế giới, được hình thành vào khoảng thế kỷ V (TCN) ở Ấn Độ cổ đại.Giáo lý và tư tưởng của Phật giáo khá đa dạng và phong phú, nhưng về cơbản thì nội dung của tư tưởng Phật giáo chủ yếu hướng vào giải quyết vấn
đề con người và đời sống của con người, chỉ ra những đau khổ và cáchthức hóa giải những đau khổ đó (nhân sinh quan)
Cơ sở kinh tế xã hội cho sự ra đời Phật giáo với nội dung chủ yếu lànhững vấn đề thuộc về nhân sinh quan (những quan niệm về cuộc sống của
Trang 11con người, về hạnh phúc và đau khổ mà con người đang phải trải qua, vềđẳng cấp và sự bất bình đẳng…) chính là sự phân hoá và mâu thuẫn giaicấp, đẳng cấp hết sức sâu sắc trong xã hội Ấn Độ cổ đại trên mọi phươngdiện và mọi mặt của đời sống xã hội.
2.1.2 Cơ sở tư tưởng cho sự hình thành nhân sinh quan Phật giáo
Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đạiluôn gắn liền với những thành quả của khoa học, tư tưởng và tôn giáo đã
và đang tồn tại trong xã hội lúc bấy giờ Các hệ tư tưởng ra đời sau luônchịu sự ảnh hưởng và có tính kế thừa các tư tưởng của các học thuyết vàtrào lưu tư tưởng trước đó
Phật giáo nói chung, nhân sinh quan Phật giáo nói riêng ra đời trên cơ
sở kế thừa những tư tưởng triết học đương thời như: Samkhuya; Yoga;Nyaya; Mimansa; Vedanta (đây còn gọi là năm trường phái triết học chínhthống - tức là thừa nhận tính đúng đắn tuyệt đối của Vêda) với nội dungnhân sinh quan cơ bản xoay quanh quan niệm về nhân quả, nghiệp báo vàluân hồi
2.1.3 Đức Phật - người hình thành nên nhân sinh quan Phật giáo
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thời thơ ấu là một thái tử tên Siddhantha(Tất Đạt Đa), theo truyền thuyết, Ngài giáng sinh vào ngày 15-4 năm 624TCN tại vườn Lumbini (Lâm tỳ ni) cách thành Kapilavastu (Ca tỳ la vệ)khoảng 15 km Song thân của Ngài là Quốc Vương Suddhodana (TịnhPhạn) và Hoàng Hậu Màya (Ma da) thuộc dòng dõi Sakya (Thích Ca).Ngay từ khi sinh ra, Ngài đã được tiên đoán là sẽ là một vĩ nhân có thể cứugiúp nhân loại khỏi khổ đau Mặc dù được sống trong nhung lụa, giàusang, nhưng Ngài đã từ bỏ lên núi tu hành để tìm con đường giải thoát nỗikhổ cho chúng sinh Sau sáu năm tu hành khổ hạnh trên núi không thànhcông, Ngài xuống núi và ngộ ra Tứ diệu đế khi ngồi thiền 49 ngày dướigốc cây Bồ đề
Thông qua truyền thuyết về cuộc đời Đức Phật đã phần nào cho tathấy lý do ra đời nhân sinh quan Phật giáo - đó chính là sự quan tâm, mongmuốn hàng đầu của Đức Phật cho việc giải thoát con người khỏi sự đau
Trang 12khổ, bất hạnh - vấn đề thuộc về nhân sinh quan chứ không quá sa đà vào
những vấn đề thuộc siêu hình học bởi vì nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển.
2.2 Nội dung nhân sinh quan Phật giáo
Trong tư tưởng triết học của Phật giáo, nhân sinh quan là những quanniệm về con người và cuộc đời con người mà hạt nhân của nó chính là Tứdiệu đế và thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi Với những quan niệm
ấy, Phật giáo phủ nhận vai trò quyết định của một vị thượng đế tối cao đến
sự hình thành cũng như cuộc sống của con người Theo đó, Phật giáo chorằng con người nói riêng, giống hữu tình nói chung được hình thành theoluật nhân quả, nghiệp báo
2.2.1 Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện trong thuyết nghiệp báo
Nghiệp, theo quan niệm của Phật giáo, là hành vi hay hành động cótác ý Theo đó, tất cả những hành động có tác ý, dù biểu hiện bằng thân,khẩu, hay ý, đều tạo Nghiệp Tất cả những hành động có tác ý, thiện haybất thiện, đều tạo Nghiệp Những hành động không có chủ tâm (khôngtác ý, vô ý), mặc dầu đã biểu hiện bằng lời nói hay việc làm, đều khôngtạo Nghiệp
* Nguồn gốc của Nghiệp
Theo Phật giáo, sở dĩ chúng ta có những hành động (thân, khẩu, ý) tạoNghiệp là do vô minh và tham dục gây ra Vô minh là điểm khởi đầu củathập nhị nhân duyên - nguyên nhân gây đau khổ của con người Vô minhđược hiểu là lớp mây mù bao phủ, che lấp mọi sự hiểu biết của con người,làm cho con người không nhận thức được thực tướng của sự vật, hiệntượng (vạn pháp) hay không thấu hiểu chân tướng của chính mình ĐứcPhật có nói: “Vô minh là lớp ảo kiến mịt mù dày đặc trong ấy chúng sinhquay quần quanh lộn”
* Phân loại Nghiệp
Thông thường, Nghiệp được tạo tác trên cơ sở của thân, khẩu và ý.Tất nhiên, cả ba nghiệp trên đều xuất phát từ ý hay còn gọi là tâm Nhưthế, khi xét đến Nghiệp của một con người là xét đến thân Nghiệp, khẩu
Trang 13Nghiệp và ý Nghiệp Ngoài ba Nghiệp này, không còn một cái Nghiệpnào khác.
Tuy nhiên, tùy vào tiêu chí khác nhau mà nghiệp có những tên gọikhác nhau
1 Căn cứ vào tính chất và cảnh giới thì có: Thiện Nghiệp và Ác Nghiệp
2 Căn cứ theo tiến trình (từ nhân đến quả) của nghiệp thì có hai loạinghiệp cơ bản: Định nghiệp và Bất định nghiệp
3 Theo phương diện tác động: Sinh nghiệp; Trì nghiệp; Chướngnghiệp và Đoạn nghiệp
4 Theo năng lực (mức độ): Tập quán nghiệp; Cực trọng nghiệp; Cận
tử nghiệp; Tích lũy nghiệp
5 Theo thời gian trả quả: Hiện báo nghiệp; Sinh báo nghiệp; Vô hạnđịnh nghiệp và Vô hiệu nghiệp
2.2.2 Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện trong thuyết nhân quả
Nhân có thể được hiểu là năng lực phát động, là cái hạt, còn quả đượchiểu là sự hình thành của năng lực phát động ấy, là cái quả do hạt ấy sinh
ra Nhân và quả không tồn tại độc lập với nhau mà có liên quan mật thiếtvới nhau, đan lấy nhau, ảnh hưởng, tương phản và thừa tiếp nhau Một quảđược hình thành có thể do nhiều nhân tạo ra Một nhân cũng có thể chonhiều quả khác nhau Bản thân nhân, quả cũng chỉ mang tính tương đối.Nhân không thể sinh ra quả nếu thiếu Duyên Duyên là yếu tố tác độnggiữa “nhân” và “quả” Duyên cũng được hiểu là điều kiện, hoàn cảnh, môitrường…(điều kiện xấu được gọi là nghịch duyên, còn điều kiện tốt đượcgọi là thuận duyên)
Theo quan niệm của Phật giáo, tất cả mọi sự trên thế gian này đều donhân duyên hợp thành Tất nhiên, sự ràng buộc của nhân và duyên ấy khôngphải là ngẫu nhiên, mà nó hàm chứa nhân quả hay “nghiệp” ở trong đó
Cũng giống khái niệm nhân, quả, “duyên” cũng mang tính tương đối.Nghĩa là, trong mối quan hệ này, nó có thể được hiểu là duyên, nhưngcũng vẫn là nó, khi xem xét ở mối quan hệ khác thì lại trở thành nhân hoặcquả của một cái gì đó
Trang 14Tiểu kết chương 2
Trên cơ sở những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội cũng như kế thừanhững tư tưởng của các trường phái triết học trước đó, Phật giáo đã hìnhthành nên nội dung nhân sinh quan riêng có của mình Trong những vẫn đềthuộc nhân sinh quan ấy thì quan niệm về nghiệp báo, nhân quả và luânhồi là những tư tưởng cơ bản, nòng cốt của triết học Phật giáo Điểm nổibật của những tư tưởng này chính là sự phủ nhận vai trò của những lựclượng siêu nhiên, thần thánh chi phối đến sự hình thành và biến đổi củacon người cũng như cuộc sống của họ, mà khẳng định tính khách quan, vôthần khi nhấn mạnh đến sự thọ lãnh trách nhiệm của con người đối vớichính hành vi (thân, khẩu, ý) của mình trong quá khứ cũng như ở hiện tại
Chương 3 NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG “TRUYỆN KIỀU”
CỦA NGUYỄN DU
3.1 Khái lược chung về cuộc đời của Nguyễn Du và “Truyện Kiều”
3.1.1 Về cuộc đời của Nguyễn Du
Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử vô cùng rốiren và phức tạp Đất nước chia đôi, các thế lực phong kiến cầm quyền bịphân hóa, các cuộc khởi nghĩa chống đối của nhân dân nổi lên khắp nơicùng với các cuộc chiến tranh liên miên giữa hai nhà chúa đã đưa đất nướcvào chỗ suy sụp về mọi mặt, sản xuất nông nghiệp bị đình trệ vì các cuộcxung đột vũ trang cũng như bởi thiên tai, dịch bệnh… người dân rơi vàocảnh cơ cực và khốn đốn
Với hoàn cảnh xã hội đầy rối loạn như vậy, tinh thần tam giáo dườngnhư lại có cơ hội để phát triển Phật giáo không chỉ tiếp tục khẳng định vịtrí quan trọng ở tầng lớp bình dân mà còn được mở rộng ở tầng lớp nho sĩ
Thái độ “cư Nho mộ Thích”, “dĩ Phật tải Nho” là khá phổ biến trong tầng
lớp nho sĩ cũng như quan lại phong kiến thời kỳ này