Nhà văn nhìn cuộc sống, lẽ hiển nhiên không như những triết gia nhưng trong tác phẩm của họ một cảm quan mang màu sắc triết học vẫn hiện diện ở những cây bút nhiều trải nghiệm.. Trên thế
Trang 1nguyÔn thÞ minh huÖ
C¶m quan hiÖn sinh trong tiÓu thuyÕt ®oµn minh phîng
Chuyªn ngµnh: v¨n häc viÖt nam
Trang 2Vinh, ngày 25 tháng 12 năm 2009
Người thực hiện
Nguyễn Thị Minh Huệ
Trang 3MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng nghiên cứu 9
5 Đóng góp của đề tài 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1 Một số vấn đề chung về cảm quan hiện sinh và tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng 1.1.1 Cảm quan hiện sinh 11
1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh 11
1.1.2.Cảm quan hiện sinh 15
1.1.3 Vài nét về cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 19
1.2 Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng 24
1.2.1 Tiểu thuyết “Và khi tro bụi” 26
1.2.2 Tiểu thuyết “Mưa ở kiếp sau” 27
Chương2 Biểu hiện cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng 2.1 Cảm quan về thế giới 29
2.1.1 Thế giới phi lý 30
2.1.2 Thế giới xa lạ 37
2.1.3 Thế giới phân rã 44
2.2 Cảm quan về con người 49
2.2.1 Cuộc sống bi thiết của con người 51
2.2.1.1 Con người lạc loài trong không gian, thời gian 51
2.2.1.2 Con người vong thân 58
2.2.2 Cuộc sống ê chề, đổ vỡ, hoài nghi của con người 63
2.2.2.1 Con người bất khả tri, mang ám ảnh phi lí về cái chết 63
2.2.2.2 Con người vô minh, hoài nghi 69
2.2.3 Con người với khát vọng “khải huyền” 78
Trang 42.2.3.1 Khát vọng sống là mình 79
2.2.3.2 Khát vọng tìm thấy những mối liên hệ hữu lí 83
2.2.3.3 Khát vọng được cứu chuộc 85
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng 3.1 Kiểu tư duy hiện sinh 88
3.1.1 Tư duy bất khả 89
3.1.2 Tư duy gián đoạn 92
3.2 Cấu trúc 95
3.2.1 Cấu trúc mảnh vụn, đứt gẫy và gián đoạn 96
3.2.2 Cấu trúc lồng ghép 98
3.2.2.1 Đan xen nhiều mạch truyện 99
3.2.2.2 Lồng ghép điểm nhìn trần thuật 101
3.2.2.3 Kết cấu tạo độ “ hẫng” 103
3.3 Nhân vật 105
3.3.1 Phi điển hình hoá nhân vật 106
3.3.2 Phân mảnh nhân vật 107
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Từ giữa thế kỷ XIX đến nay phương Tây đã nở rộ nhiều triết thuyết
với nhiều khuynh hướng khác nhau, tạo nên một bức tranh lịch sử triết học đadạng và phong phú Một trong những trào lưu triết học có ảnh hưởng mạnh
mẽ tới đời sống văn hóa - xã hội phương Tây và nhiều quốc gia khác trên thếgiới (trong đó có Việt Nam) là triết học hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh sau khi gây một hiệu ứng sôi nổi và sâurộng trong văn học nghệ thuật, sau gần 20 năm ảnh hưởng ở bề nổi nay đãnhường chỗ cho nhiều trào lưu mới Ở Việt Nam, triết học hiện sinh khôngcòn là một vấn đề mới mẻ nhưng nó vẫn mang một sức hút khó cưỡng đối vớigiới cầm bút Những tư tưởng về nhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo,
sự ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại, nỗi ám ảnh về sự đổ vỡ của chủnghĩa hiện sinh vẫn tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn của khá nhiều nhàvăn khi họ đối diện với những đổi thay lớn lao, phức tạp của đất nước và thờiđại
1.2 Nhà văn nhìn cuộc sống, lẽ hiển nhiên không như những triết gia
nhưng trong tác phẩm của họ một cảm quan mang màu sắc triết học vẫn hiện
diện ở những cây bút nhiều trải nghiệm Hiểu về cảm quan mang màu sắc triết
học qua tác phẩm của nhà văn sẽ giúp người đọc hình dung được những nềntảng sâu xa chi phối đến quá trình sáng tác và những tư tưởng về thế giới, conngười mà người viết muốn gửi gắm
Trên thế giới, có những tên tuổi bất hủ được coi là gắn liền vớichủ nghĩa hiện sinh như: Franz Kafka, Albert Camus, Jean Paul Sartre,Marcel Proust… Trong tầm nhìn của văn học so sánh, chúng ta có thể thấyđược sự tác động mạnh mẽ của trào lưu văn học này đến nhiều nước trên thếgiới, mặt khác, trong tương quan đồng điệu nào đó về văn hoá, thời đại, cảm
Trang 6quan hiện sinh đã nảy sinh và mang những nét riêng do hoàn cảnh xã hội đấtnước quy định Nó đem đến cho văn học những điều vừa quen vừa lạ.
Ở Việt Nam, cuối những năm 80 của thế kỉ trước, cảm quanhiện sinh ngày càng chi phối khá rõ cái nhìn hiện thực của các nhà văn Người
ta có thể tìm thấy điều đó trong sáng tác của những tên tuổi khá quen thuộcvới công chúng như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, TạDuy Anh, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Đoàn Minh Phượng…
Thực chất, cảm quan hiện sinh không chỉ tác động, làm biến đổinội dung mà còn tạo ra động lực để thay đổi nghệ thuật biểu hiện của tiểuthuyết Nó tạo ra một cuộc cách tân mạnh mẽ từ nội dung đến hình thức củathể loại nền tảng trong văn học
Theo chúng tôi, cảm quan hiện sinh để dấu ấn đậm nét trongtiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng, yếu tố này còn có thể là tiền đề chonhững thể nghiệm táo bạo từ nội dung đến nghệ thuật tiểu thuyết của tác giảnày
Với tác phẩm Và khi tro bụi [49] của Đoàn Minh Phượng
-cuốn sách đoạt giải thưởng văn xuôi duy nhất của Hội nhà văn Việt Nam năm
2007 và cuốn tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau [48] đã cho thấy Đoàn Minh Phượng
là cây bút trẻ, tài năng
Vì những lý do trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Cảm
quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng với mong muốn góp
thêm một cách nhìn mới khi tìm hiểu tiểu thuyết của tác giả này Từ đó có thểgợi ý một cách tiếp cận cho những tiểu thuyết “khó đọc” hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện đầu thế kỉ XX, được các nhà triết học hiện
sinh phát biểu trong các công trình của mình Husserl viết “Hiện tượng học”,
Trang 7Heidegger viết “Triết học sinh tồn”, tác giả Sartre cũng viết “Hiện sinh, một
nhân bản thuyết”.
E Mounier nghiên cứu “Những chủ đề triết hiện sinh” [64], trong đó ông
đề cập đến Thuyết đề về sự bừng tỉnh triết lí Ông cho rằng “Thuyết hiện sinh
muốn giảm giá trị tính cách chắc chắn hay sự an tâm chủ quan, nơi ẩn náucuối cùng của sự bất động tinh thần, giúp cho các đam mê được sống động vàtiến tới chỗ nối kết con người hiện tồn với chân lý một cách sâu xa Thuyếthiện sinh đã theo con đường này một cách quyết liệt đến độ như cho rằng cáiquan trọng không phải là chân lý nhưng là thái độ của người biết” [64, 26];Thuyết đề về sự cải hóa cá nhân Ông nhấn mạnh “Triết hiện sinh nào cũngtriển khai ý niệm về sự cải hóa có tính cách biện chứng Mỗi triết thuyết đóđều diễn tả nhiều cách thức sống kể từ một cuộc sống đã mất tới cuộc sống đãtìm lại được Có một lực tàn phá chặt chẽ liên kết với cuộc sống của ta, đôikhi ta không thể nào phân biệt nó ra nổi, nó lôi kéo chúng ta luôn để làm sao
ta đánh mất cuộc sống đích thực - có một lực khác lại thôi thúc chúng ta phảilàm hòa với chính ta” [64, 95-96]
Chủ nghĩa hiện sinh là lí thuyết triết học và mỹ học được du nhập và cóảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam ViệtNam những năm 1954 - 1975 Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện khi chủ nghĩaduy linh nhân vị sụp đổ Nó nhanh chóng trở thành một phần trong đời sống
qua sự phổ biến của báo chí “Những tờ tạp chí lúc đó như Đại học, Sáng tạo,
Văn, Bách khoa…đều có những bài viết hay số báo đặc biệt về trào lưu triết
học và văn học này cùng những tác gia của nó như Jean-Paul Sartre, AlbertCamus… Hỗ trợ có hiệu quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗ lực dịchthuật ngày càng sâu rộng những đứa con tinh thần của các tác gia hiện sinh Về
lý thuyết là các công trình cuả F.Nietzsche, K.Jaspers, M.Heidegger, J.-P
Trang 8Sartre…Về sáng tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A.Camus, J.-P.Sartre,S.de Beauvoir, F.Sagan…
Ngay từ 1942, công trình của Nguyễn Đình Thi Triết học Nietzsche đã đưa
lại những hiểu biết ban đầu đúng đắn về Nietzche và gợi mở về chủ nghĩahiện sinh: “dùng trực giác chống lí trí, dùng bi quan chống lại lạc quan, dùngphi đạo đức chống luân lí” [56, 202]
Từ tháng 10-1961 đến tháng 9-1962, trên Tạp chí Bách Khoa, dưới bút
hiệu Trần Hương Tử, Trần Thái Đỉnh đã viết một loạt bài giới thiệu chủ nghĩa
hiện sinh, về sau được tập hợp thành chuyên khảo “Triết học hiện sinh” [19].
Văn phong khúc chiết, cách dẫn giải linh hoạt của một ngòi bút am hiểu và cóchủ kiến đã khiến cuốn sách của Trần Thái Đỉnh vượt ra ngoài ranh giớitrường ốc, đến với đông đảo bạn đọc và có một tác động không nhỏ thời ấy.Sau khi trình bày một cái nhìn tổng quan về chủ nghĩa hiện sinh, những đề tài
và hai ngành chính của nó, tác giả đã đi sâu phân tích quan niệm củaKiergaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre và Heidegger
Năm 1970, Lê Tôn Nghiêm viết hai công trình khá dày dặn để trình bày
triết học Heidegger: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương;
Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger Ở
cuốn thứ nhất tác giả giới thiệu Heidegger như là lời giải đáp cho những vấnnạn và bế tắc của triết học phương tây hiện đại Ở cuốn thứ hai trong một bốicảnh rộng hơn theo tiến trình tư tưởng từ thời Cận đại, Lê Tôn Nghiêm đã chothấy những đóng góp của Heidegger trong việc trả lời những câu hỏi của Kant
trong Phê phán lý tính thuần túy về vấn đề con người, từ đó tiến tới giải quyết vấn đề then chốt cho việc trả lời câu hỏi “Thế nào là tính thể con người” nhằm đặt nền móng cho khoa nhân thể học Đến công trình Những vấn đề
triết học hiện đại (NXB Ra khơi, Sài Gòn, 1970), Lê Tôn Nghiêm dành một
chương viết về chủ nghĩa hiện sinh
Trang 9Nói đến chủ nghĩa hiện ở Miền Nam, cần phải dành một chỗ quan trọngcho Nguyễn Văn Trung, không chỉ vì ông là một trong những giáo sư triết họcviết nhiều về trào lưu này mà còn vì các tác phẩm của ông có một tiếng vang
lớn trong những năm đó Nguyễn Văn Trung với bài nghiên cứu “Nhìn lại tư
trào hiện sinh tại miền Nam” đã trình bày ảnh hưởng của Sartre trên thế giới
để xác định chỗ đứng của ông trong phong trào cách mạng thế giới; trong cácyếu tố tạo ảnh hưởng trên của Sartre, Nguyễn Văn Trung chỉ nói đến yếu tố lýluận về văn học, nghệ thuật; Sartre và Việt Nam, trình bày nhận định về sự dunhập, phổ biến hiện sinh ở Miền Nam
Năm 1978 trong chuyên luận “Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa” tác
giả Đỗ Đức Hiểu một mặt thừa nhận vai trò tiên phong của F.Kafka đối vớivăn học hiện sinh cũng như những yếu tố hiện thực có tính chất tố cáo mộtchế độ quan liêu, một chế độ Nhà nước đầy áp bức, ngạt thở trong truyện củaF.Kafka Mặt khác, ông phê phán những yếu tố siêu hình về thân phận conngười siêu hình tràn ngập trong tác phẩm, lấn át cả một số yếu tố hiện thựcvốn không nhiều nhặn gì Tác giả Đỗ Đức Hiểu đã chỉ rõ “có thể nói tính thần
bí bao trùm cả tác phẩm của F.Kafka phi lý, lo âu, cô đơn, xa lạ, tuyệt vọng,
hư vô những khái niệm ấy về con người của F.Kafka tìm thấy ở huyền thoạimột hình thức biểu hiện phù hợp F.Kafka đã huyền thoại hoá một thế giới bịtha hoá [30,90]
Năm 1989 trong tác phẩm Mấy trào lưu triết học phương Tây, tác giả
Phạm Minh Lăng đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của chủ nghĩa hiệnsinh: vũ trụ, con người và đời người dưới con mắt của chủ nghĩa hiện sinh.Nhưng góc nhìn của tác giả vẫn còn giới hạn trong nhận thức phê phán
Năm 2002, Thụy Khuê với bài“Nỗi đau hiện sinh trong Bướm trắng”, tác giả đã trình bày những chủ đề ẩn trong Bướm trắng về tính chất phi lý của
Trang 10cuộc đời, về vấn đề tự tử, về sự ngộ nhận, về sự sa đọa của con người - những
đề tài chủ yếu của hiện sinh đều có mặt trong tác phẩm của Nhất Linh [69].Đáng chú ý là năm 2006, Nguyễn Tiến Dũng với công trình nghiên cứu
“Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam” Tác giả đã làm rõ
vấn đề trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh: “Con người như một nhân vị”[7,20] Đồng thời đã khái quái sự ra đời, phát triển và quá trình hiện diện củachủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam, từ đó chỉ ra những dấu ấn của chủ nghĩa hiệnsinh trong một số tác giả tiêu biểu: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập,Nguyễn Huy Thiệp…
Theo tác giả: “chưa có một trào lưu văn học nào như văn học hiện sinh màchỉ trong thời gian ngắn đã cho ra đời một khối lượng lớn đến thế…” Văn họchiện sinh: “quan niệm kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảm kịch, là thấtbại, vì vậy nó mang nặng chủ nghĩa bi quan xa lạ với chủ nghĩa lạc quan cách
mạng” [20, 134] Vì thế, nó ít có những tác phẩm lớn, ít giá trị nhân văn Năm 2006, Đỗ Minh Hợp với bài viết “Chủ nghĩa hiện sinh, nhìn từ góc
độ văn hóa”[34] và bài “Tự do và trách nhiệm trong đạo đức học hiện sinh”[35] Nhìn từ góc độ văn hóa, tác giả cho rằng “Trung tâm của chương
trình hiện sinh của thứ văn hóa tương đối hóa chính là mỗi cá nhân, là conngười cụ thể, điều này kéo theo sự thông tin hóa một cách tối đa chương trìnhhiện sinh của văn hóa Trong triết học hiện sinh, tình hình mới này được biểuthị ở luận điểm: con người có thể lựa chọn mọi thứ theo ý mình miễn là làmsao để sự lựa chọn ấy trở nên tự do Sự lựa chọn đó trong liệu pháp tâm lý là
ở tâm thế chối bỏ việc áp đặt cho con người những viễn cảnh nào đó và ở việcgiành cho nó khả năng tự mình lựa chọn con đường của mình, trong nghệthuật là ở việc từ bỏ mọi chuẩn tắc và quy tắc để có khả năng biểu thị tối đatính chủ quan của người sáng tạo” [34]
Trang 11Năm 2007 trên Tạp chí Triết học, Hoàng Văn Thắng viết bài “Quan niệm
của Gi.P.Xáctơrơ về con người trong “Hiện sinh một nhân bản thuyết”[67].
Tác giả nêu lên những phạm trù triết học được Gi.P.Xáctơrơ đề cập trong tác
phẩm này: Hữu thể và bản chất của con người; sự lo âu của con người; con
người và dự phóng; sự tự do của con người; con người và tha nhân
Cũng trên Tạp chí Triết học Đỗ Thị Hạnh với bài viết “Màu sắc hiện sinh
trong truyện ngắn “Ông già và biển cả” trong phạm vi một bài tiểu luận
người viết đã đi vào khảo sát và phân tích tác phẩm để làm nổi bật hình ảnhcủa “con người cô đơn” và “khát vọng dấn thân và nhập cuộc” [27]
Tháng 7 năm 2008, Trần Thiện Đạo đã tập hợp những bài báo mà tác giả
đã viết hoặc đã dịch và đã được in trên các tạp san Văn và Tân văn trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1970 tại Sài Gòn trong cuốn sách “Từ chủ
nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc” Tác giả không những đưa ra những định
nghĩa ngắn gọn và dễ hiểu về triết học hiện sinh, về thuyết cấu trúc mà còngiới thiệu cả không khí sinh hoạt văn học của Pháp thập niên 1950
Năm 2008, Đoàn Thị Cảnh với bài “Đọc “Gió lẻ” nhớ Jean Paul Satre và
Albert Camus” Tác giả chỉ ra sự ảnh hưởng của Jean Paul Sartre và Albert
Camus đối với tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
Trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2008, Huỳnh Như Phương có bài
“Chủ nghĩa hiện sinh ở Miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết)” [47] Tác giả đã khái quát việc tiếp nhận, truyền bá, vận dụng chủ
nghĩa hiện sinh trong bối cảnh bi đát của xã hội miền Nam những năm
1954-1975, khi con người khao khát tự do và quyền sống mong muốn suy tư vềchính tự do và thân phận làm người
Những công trình và bài viết trên đã đóng góp vào nền phê bình nước nhànhững ý kiến về tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh
Trang 12Cùng với quá trình đổi mới, quá trình toàn cầu hóa, những tác phẩm củanhững triết gia hiện sinh trở nên quen thuộc với đông đảo độc giả Việt Nam.Vấn đề nghiên cứu cảm quan hiện sinh thực chất không phải là vấn đề mới
mẻ Trong những nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, nhiều nhà nghiên cứu đãnhắc đến cảm quan bi đát về thế giới và con người của những triết gia hiệnsinh Trước cuộc sống dòn ải của con người, sự bất lực của nhận thức, conngười luôn lo âu và bất an Thế giới trở nên xa lạ và bí ẩn
Khi nghiên cứu về vấn đề hậu hiện đại, sự đổi mới của tiểu thuyết vấn đềcon người hoài nghi, vô minh, những cảm nghiệm chua chát, ê chề về thânphận con người được nhắc tới Thực chất, nó rất gần gũi với cảm quan hiệnsinh
Đoàn Minh Phượng là cây bút trẻ, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu, phê bình, những người yêu văn học Có thể thấy, cảm quan hiệnsinh là một đóng góp độc đáo trong tiểu thuyết của tác giả này
Tác phẩm của Đoàn Minh Phượng mới xuất hiện gần đây nên các côngtrình nghiên cứu quy mô về tác phẩm của bà chưa nhiều Chúng tôi chủ yếukhảo sát các bài viết về Đoàn Minh Phượng trên mạng, các bài báo hoặc lờigiới thiệu của nhà xuất bản về Đoàn Minh Phượng và tác phẩm của bà… Tuynhiên chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu về dấu hiệu hiện sinhtrong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng Chính điều ấy đã gợi mở cho chúngtôi quyết định lựa chọn và bắt tay vào thực hiện đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng chúng
tôi muốn khám phá những dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trên một số phươngdiện trong cấu trúc tự sự qua hai tiểu thuyết của tác giả
Trang 13Mặt khác thấy được cảm quan riêng của nhà văn khi khám phá thế giới, xãhội và con người để chỉ ra cái mới trong những tiểu thuyết này
Đồng thời chúng tôi cũng muốn đề xuất một hướng tiếp cận đối với nhữngtiểu thuyết chứa nhiều khả thể diễn dịch hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những dấu hiện hiện sinh trong hai tiểu
thuyết của Đoàn Minh Phượng Và khi tro bụi [49] của Đoàn Minh Phượng
-cuốn sách đoạt giải thưởng văn xuôi duy nhất của Hội nhà văn Việt Nam năm
2007 và cuốn tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau [48] Ngoài ra chúng tôi còn khảo
sát một số tác phẩm tiêu biểu của những nhà văn hiện sinh: Jean Paul Sartre,Albert Camus và các tác phẩm của một số nhà văn Việt Nam đương đại khác
để có cái nhìn so sánh
5 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinhcủa những người đi trước, chúng tôi cố gắng để có được những đóng góp mớikhi thực hiện đề tài này
Về đề tài: Luận văn chọn một hướng đi tương đối mới qua việc tìm hiểunhững biểu hiện của cảm quan hiện sinh trong hai tác phẩm cụ thể
Về nội dung: Khảo sát, phân tích một cách có hệ thống cảm quan hiện sinh
trong hai tiểu thuyết Và khi tro bụi [49] và Mưa ở kiếp sau [48] của Đoàn
Minh Phượng Từ kết quả nghiên cứu, bước đầu chỉ ra hướng tiếp cận có ýnghĩa đối với một số hiện tượng trong văn học Việt Nam đương đại
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp miêu tả, thống kê, phân loại
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
Trang 14- Các phương pháp liên ngành như tâm lí học sáng tạo, liên văn bản, phântâm học…với mục đích hỗ trợ nghiên cứu trong điều kiện bắt buộc phải giải
mã những vấn đề tương đối phức tạp và liên quan
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có ba chương Cụ thể nhưsau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về cảm quan hiện sinh và tiểu thuyết
Đoàn Minh Phượng
Chương 2: Biểu hiện cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết của Đoàn Minh
Phượng
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết của
Đoàn Minh Phượng
Chương 1, chúng tôi giới thuyết sơ lược về những vấn đề lí thuyết Trongkhuôn khổ của luận văn, vấn đề chủ nghĩa hiện sinh, ảnh hưởng của chủ nghĩahiện sinh tới văn học và vấn đề cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết ĐoànMinh Phượng được trình bày ngắn gọn và giản lược
Chương 2, chúng tôi đi sâu vào vấn đề cụ thể: cảm quan hiện sinh với thựctại và con người trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Trong đó gồm cảmquan về thế giới và cảm quan về con người Chúng tôi nghiên cứu khá kĩnhững vấn đề này vì thực chất cảm quan hiện sinh có ảnh hưởng đến mọi mặtnghệ thuật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng
Chương 3, chúng tôi tập trung vào kiểu tư duy hiện sinh, cách cấu trúc vàxây dựng nhân vật, theo chúng tôi mang màu sắc hiện sinh rõ nét nhất
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢM QUAN HIỆN SINH
VÀ TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG
1.1 Cảm quan hiện sinh
1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ những điều kiện lịch sử của một “phươngTây suy tàn” không phải chỉ do một nhà lý luận kiệt xuất nào đề ra mà donhiều người nối tiếp nhau hoàn thiện nó trong mấy thập kỷ vào giữa thế kỷ
XX Người ta có lý gọi đó là “phong trào hiện sinh” Người ta cho rằng, chủnghĩa hiện sinh là một “phong cách mới trong triết học” mà trước kia chưatừng có Nhưng bất cứ hình thái ý thức nào cũng có một lôgíc nội tại, cũng bắtnguồn từ những cơ sở đã được tích lũy từ trước
Xã hội duy lý hoá ở phương Tây sa vào khủng hoảng bởi vì nó phi nhân vịhoá con người, con người chỉ còn là "một lực lượng vật chất đơn thuần" Mộtkhi con người trở thành bần cùng kiệt quệ trong bộ máy khổng lồ của xã hộihiện đại thì sự suy sụp của cá nhân là một điều hiển nhiên Thân phận conngười đã như thế thì thành tựu kỹ thuật mà loài người giành được tất khôngphải bằng giá trị người của loài người mà bằng “giá trị suy đồi của đạo đức”.Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng, đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trịtrong xã hội Tây phương hiện đại Nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh và cáchình thức khác của chủ nghĩa phi duy lý hiện đại là sự khủng hoảng, sự bạihoại tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại.Nhà hiện sinh cho rằng tâm linh con người, hiện sinh của nhân vị đó mớichính là lĩnh vực của triết học
Chủ nghĩa hiện sinh lấy triết học đời sống của Nietzsche, hiện tượng họccủa Husserl làm tiền đề lý luận Kierkegaard người mở đường chủ nghĩa hiệnsinh đã kế thừa những di sản tư tưởng cần thiết của triết học Đức để đặt nền
Trang 17móng cho học thuyết của mình Heidegger trong Giải thích học hiện tượng
luận, ông cho rằng “Hiện sinh là sự tồn tại mà sự tồn tại mãi mãi chính là cái
tôi nhưng cái tôi đích thực bị tập thể nhân quần, xã hội bao vây, xâm chiếmcuối cùng đã biến thành cái người ta” [27]
Mọi chủ nghĩa hiện sinh đều lấy nhân vị với tính chủ thể làm nền tảng và
từ đó chống lại chủ nghĩa duy lý Nhưng ngay từ đầu họ cũng có một điểmkhác biệt: một đằng gắn hiện sinh với Chúa, một đằng trái lại Vì vậy, người
ta chia chủ nghĩa hiện sinh thành 2 xu hướng: chủ nghĩa hiện sinh tôn giáo vàchủ nghĩa hiện sinh vô thần hoặc chủ nghĩa hiện sinh hữu và tả Kierkegaard
là người khởi xướng chủ nghĩa hiện sinh và cũng là người đi đầu trong chủnghĩa hiện sinh tôn giáo Ngoài ra phải kể đến các nhà hiện sinh như Jaspers(Đức), Marcel (Pháp) Tiếp tục tư tưởng của Nietzsche về siêu nhân, xuhướng hiện sinh vô thần cho rằng siêu việt là con người phải luôn luôn vượtlên, tiến lên, con người phải tự thắng, tự vượt mình, phải thăng hoa, conngười luôn luôn là một dự phóng Sartre định nghĩa con người là cái nó chưa
là và không phải là cái nó đang là Cho nên phương châm trong cuộc sống củacon người được ông xác định như sau: “Con người phải hành động và chính
nhờ hành động mà tự làm nên mình Trong cuốn Chủ nghĩa hiện sinh là một
chủ nghĩa nhân đạo, Sartre đã dành nhiều trang để nói về sự không có Chúa
và từ đó đến tự do của con người Về cơ bản Sartre là nhà hiện sinh vô thần.Sartre là nhà chủ nghĩa hiện sinh hoàn thiện ở một mức cao Chủ nghĩa hiệnsinh của Sartre không dừng lại ở lý luận mà tạo nên một phong cách sống,Sartre đã nhìn thấy đúng cái phi lý vì nó mang tính duy lý đe dọa cuộc sốngcủa con người, của cá nhân
Đến nay, thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh có vị trí vững chắc trong đời sống
xã hội và đi vào lịch sử triết học hiện đại Lộ trình của chủ nghĩa hiện sinh trảiqua nhiều chặng đường, mang nhiều biến thể khác nhau, có lúc xung đột nhau
Trang 18nhưng từ mảng màu sặc sỡ đó vấn nổi lên một đối tượng chung, vẫn hội tụmột vấn đề trung tâm - vấn đề nhân vị Gọi là vấn đề trung tâm bởi vì các vấn
đề còn lại đều xuất phát từ đây, bổ sung và làm cho nó được cụ thể hoá hơn.Các nhà triết học hiện sinh dù có nhiều điểm khác biệt nhau, thậm chí cóngười không muốn học thuyết của mình mang tên chủ nghĩa hiện sinh nhưngvẫn gặp nhau ở vấn đề cơ bản lấy hiện sinh ở mỗi nhân vị là tính thứ nhất, là
có trước bản chất
Con người có thể được đề cập như một đối tượng của nghiên cứu khoa họcnhưng chủ nghĩa hiện sinh lại muốn đề cập tới con người như một hiện sinhcủa một tự do, vượt khỏi mọi khoa học Đó là một sinh lực tinh thần thực sựsống bằng tự do của mình trong những tình trạng cụ thể của thế giới loàingười Vì con người được sinh ra với những thể chất và tinh thần không lặplại ở bất cứ người nào khác Mỗi người có nhân vị, có cái đặc hữu của chủ thể
tự do Với triết học hiện sinh, khái niệm nhân vị đã đánh dấu một phong cáchmới trong triết học, có nghĩa nó là sản phẩm mới trong lịch sử
Tính không thống nhất hay tính sự kiện của nó là tuyệt đối Hiện sinh của
nó là phi lý, là thừa quá Mặt khác, trước khi có sự can thiệp của ý thức đểnhận thức về nó thì nó không là cái này sẽ là cái khác Rút cục nó chỉ là mộthỗn mang Do vậy người hiện sinh thấy đời thường mang màu sắc bi thảm
Kẻ thù của tự do là cái hữu thể vô hồn mà Heidegger bảo nó là tầm thường,Camus bảo nó là phi lý, Sartre bảo nó là gây buồn nôn Chẳng ai hiểu buồn nônnhư một cảm giác thông thường, như một sự lợm giọng do rối loạn tiêu hoágây nên Đó là một thái độ triết học về một trầm tư của con người trước cái phi
lý của đời, về một cảm tính khó chịu, nặng nề như ngạt thở trước cái hiện hữuchưa thành hiện sinh của con người, Rõ hơn nữa, đó là sự trừu tượng hoánhững mối quan hệ giữa con người và thế giới Khi người ta thấy một thế giớitiêu vong, một bức thành sụp đổ thì từ đó phát hiện ra một thế giới khác để hiện
Trang 19sinh Như vậy, buồn nôn là chìa khoá mở ra hiện sinh cho con người, nó có mộtgiá trị siêu hình một khi ta phát hiện ra cái cơ bản của hiện hữu là hiện sinh thìthế giới khác lập tức mở ra Thế giới ấy tràn đầy sức sống, chuyển động dữ dội,muôn hồng, nghìn tía, tươi vui Cái sức sống ấy được đánh thức bằng buồn nônlàm cho ta càng khó chịu đến tức giận trước cái phi lý bao trùm lên những cáibình thường, cái trừu tượng, cái có sẵn đã được xác lập, cái khuôn sáo khôcứng của những công thức không còn sức sống
Khi nói tới cô đơn của triết học hiện sinh người ta thường nghĩ đến phạmtrù cái chết Người theo chủ nghĩa hiện sinh xem cái chết như sự cố trongcuộc đời bi thảm của con người Cần phải hiểu cái chết cũng gắn bó với nhân
vị, có nghĩa là nếu cuộc sống này là của riêng tôi thì cái chết cũng là của riêngtôi, không ai có thể chết thay cho tôi nên cái chết cũng mang tính đặc hữu củariêng tôi
Chỉ có con người đã bị tha hoá như một định mệnh thì không cần phải lo
âu, không mảy may phải lo âu, con người hiện sinh thì khác hẳn: họ lo âu
Lo âu không giống với sợ sệt Sợ sệt là cái gì rõ rệt còn lo âu là ưu tư vềmột cái gì như xa xôi không có chân trời nào cả Bản chất của lo âu là xaoxuyến Lo âu mang hình thức một sự xao xuyến thường trực Lo âu triền miênkéo dài và khi không có giải pháp nào để thăng hoa thì con người sẽ sa vàotuyệt vọng Tuyệt vọng không phải là xuôi tay nhắm mắt mà là cửa mở cho sựgiải thích, cho sự phủ định cái hữu hạn, là đi tới cái vĩnh cửu, cái vô hạn, cáituyệt đối cái siêu việt Như vậy tuyệt vọng làm cho dự phóng hướng về tươnglai Con người lo âu xao xuyến không phải dừng mãi trong cảm tính mà phảinhập cuộc
Tóm lại, triết học hiện sinh “là triết học nhân vị mà chủ thể tri thức làchính nhân vị con người Các phạm trù phái sinh từ hiện sinh của con ngườikhông là những định nghĩa trừu tượng phổ quát như triết học cổ truyền, triết
Trang 20học duy lý đã làm mà mô tả để con người lộ dần ra những trắc diện và nhữngtrắc diện đó tạo thành sắc thái của cuộc sống của mỗi người chúng ta”[20,124].
Thuyết hiện sinh được coi là tư tưởng triết học duy tâm chủ quan, cá nhânchủ nghĩa cực đoan Song với tư cách là đại diện của trào lưu tư tưởng chủnghĩa nhân bản thì thuyết hiện sinh lại giàu tính thời đại Bài viết nhân dịpSartre qua đời đăng trên New York Times ngày 16-6-1980 có đoạn: “Chủnghĩa hiện sinh của Sartre phản ánh sự vỡ mộng trong phạm vi rộng lớn đốivới các tư tưởng hiện có của những người sống trong thời kỳ bão táp cáchmạng và hệ thống đế quốc thực dân tan vỡ từ sau đại chiến II đến nay”…
1.1.2 Cảm quan hiện sinh
Cảm quan không đơn thuần là giác quan hay cách nhìn, cách cảm nhận
mang tính trực giác Đó là những dấu ấn, quan niệm, cảm thức hình thànhtrong tâm hồn con người nó bao hàm cả trực giác, vô thức và ý thức
Cảm quan là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinhthần của con người được lưu giữ, chuyển đổi trong trong vô thức và ý thức
Cảm quan hiện sinh là cách nhìn, cách cảm nhận thế giới và cuộc sống
mang màu sắc hiện sinh của con người Thực chất, cảm quan về thế giới đượcsoi chiếu từ chính cảm quan về con người Cảm quan hiện sinh xuất phát từviệc con người coi thế giới như một mê cung, một cạm bẫy mà con người dấnthân Con người không hiểu được mình và ngơ ngác trước thế giới Vì thếcảm quan hiện sinh thấm đẫm sự hoài nghi, âu lo, bi thiết
Cảm quan hiện sinh xuất hiện trong thời kì “nền khoa học đã quy cả thếgiới lại chỉ còn đơn giản là một đối tượng khảo sát kĩ thuật và toán học đã loại
bỏ khỏi chân trời của nó cái thế giới cụ thể của sự sống” [50, 10] Sự phát
triển của khoa học đã đẩy con người vào những đường hầm của những bộmôn riêng biệt Càng đi tới trong sự hiểu biết của mình, con người bị mất đi
Trang 21cái nhìn tổng thể về thế giới và chính bản thân mình Heidegger đã gọi đó là
sự “quên mất con người”
Thế giới thiếu mất vị phán xét tối cao “Chúa đã chết” Khi đó, nó hiện ra trong một tình trạng nhập nhằng đáng sợ “Chân lý thần thánh duy nhất bị
tan rã” thành hàng trăm chân lý tương đối mà con người tự cảm nghiệm lấy.
Sự khủng hoảng bao trùm lấy con người Ám ảnh về ngày tận thế trở nên rõràng Con người bị cuốn đi, bị xâm chiếm trong một ma lực kì lạ siêu nhiên
“Người ta sinh ra mà có đòi được sinh ra đâu, bị nhốt trong cái cơ thể mình
không hề lựa chọn và cuối cùng để mà chết” [4, 33] Những cuộc chiến tranh
thế giới diễn đạt cho sự kinh hoàng khi không có gì xảy ra trên thế giới mangtính địa phương, tất cả mọi tai họa đều liên quan đến mọi người và con ngườingày càng bị quyết định bởi ngoại cảnh, bởi những tình thế không ai tránhthoát được
Con người nhận ra bản chất bất toàn nhỏ bé của mình Những hậu quảnặng nề đối với thiên nhiên, môi trường tác động trở lại con người Khôngcòn sự hoang mang với khát vọng khám phá thế giới, con người hoang mangkhi tìm hiểu chính bản thân mình Cái chết, ám ảm tha hương lưu lạc, ám ảnhhiện sinh không rời khỏi con người - đó là cảm quan hiện sinh
Thực ra, cảm quan hiện sinh và hậu hiện đại khó phân biệt rõ ràng Cảmquan hậu hiện đại đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạngthái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính
áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thangbảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồnghi tồn tại và tình trạng bất an của con người đấy là tinh thần chung nhất.Cảm quan hiện sinh hướng về con người cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể
Nó mang màu sắc bi đát của con người khi cảm nghiệm cuộc sống Con người
Trang 22vốn khao khát là một nhân vị độc đáo nhưng đồng thời họ phải chấp nhậnnhững giới hạn nhận thức, sự dòn ải của cuộc sống
Cảm quan hiện sinh thể hiện qua cảm quan về thế giới phi lí, xa lạ vàphân rã; cảm quan về con người vong thân, con người dần trở thành ngườithừa trong xã hội trong một quá trình tha nhân hoá đầy nghiệt ngã, mang ámảnh vô minh, hoài nghi, với khát vọng “khải huyền” bất thành
Cảm quan hiện sinh có thể được tác giả chủ động tiếp nhận và đưa vào tácphẩm, cũng có thể là sự thẩm thấu của vô thức
Có thể nói, nỗi lo âu (xao xuyến, liều, tuyệt vọng, thất bại) là ám ảnh củacon người hiện sinh Mỗi con người là một hữu thể, trong đó cái tự nó là mộtthảm kịch, là phi lí, là tầm thường, là hư vô cho nên rất đáng buồn nôn, conngười ở đó bị tha hóa, không thể sống không cô đơn cho nên bệnh của người
là buồn, là lo âu, là xao xuyến, bởi lẽ người là một hiện sinh độc đáo với hỗntạp cảm xúc, đặc biệt là sự chế ngự của chủ nghĩa bi quan Con người theochủ nghĩa bi quan, làm nên lịch sử của mình bằng những dự phóng, trongquan hệ không tránh được với tha nhân, vươn tới Thượng đế để đạt đến mộthiện sinh trung thực
Về mỹ học hiện sinh, các tác giả chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinhthường tìm cho mình một hình thức thể hiện phù hợp để diễn tả những suy tưhiện sinh của mình Nghệ thuật hiện sinh cũng mang tính chất “lộn xộn”, hỗnloạn Tuy nhiên, các tác giả vẫn tìm ra một sự thống nhất trong tổng thể hỗnloạn của ngôn từ, hình ảnh…Đó là thứ nghệ thuật tuân theo “cấu trúc robich”,muôn màu muôn vẻ nhưng vẫn liên kết với nhau theo một quy tắc nhất định.Người viết và người đọc phải “đồng sáng tạo”, cùng đối thoại với nhau để tìm
ra quy tắc này
Nói tới chủ nghĩa hiện sinh mà không nói tới văn học của nó thì chỉ biết nómột cách lờ mờ và hạn chế khả năng nhìn thấu nó
Trang 23Chỉ cần nói tới cuốn Buồn nôn của J.P.Sartre, tác phẩm đã đưa ông đến địa
vị vinh quang của giải thưởng Nobel văn học cũng đủ thấy văn học đóng vai
trò hàng đầu cùng với triết học trong chủ nghĩa hiện sinh Buồn nôn là một cuốn sách viết lại Đi tìm thời gian đã mất của Proust bằng một phong cách
khác và cũng mang một tham vọng không phải mô tả một thế giới xã hội màtìm cái bí mật của thời gian, vén màn để thấy được cái huyền nhiệm của hữuthể Ông hiểu rằng chân lý ở trong yên lặng mà nó chỉ có thể đạt được bởitiếng rì rào trái ngược của những từ và chỉ có qua phong cách văn học mới đạttới trực giác về chân lý
Cảm quan hiện sinh in dấu trong văn học thế giới với nhiều tên tuổi nổitiếng như Albert Camus, Bertolt Brecht, Samuel Beckett, Eugene Ionesco…Với nhiều hình tượng kịch và tiểu thuyết sống động, mới mẻ, Albert Camusmuốn làm nổi bật một đường dây lí luận về cuộc đời, một thứ triết học vềnhân sinh tìm nẻo xuyên thấm vào con người thời đại ngày nay Ông khôngphải là một nhà triết học nhưng lại xây dựng một lí thuyết độc đáo, lí thuyếthiện sinh phi lí Ông không bàn đến những vấn đề phức tạp như thực tế và hư
vô, tồn tại và bản thể… mà chỉ nói về ý nghĩa của “hiện sinh” và “thân phậncon người” Ionesco là một trong bốn nhà viết kịch phi lí tiêu biểu, có thể nói,nỗi cô đơn là một trong những siêu đề trong sáng tác của ông Thấm vào trongcác tác phẩm của ông là một nỗi cô đơn khủng khiếp, những suy tư triết họcđầy bi đát về “thân phận con người” và nỗi ám ảnh thường trực về cái chết.Chính sự lo âu, sự cô đơn ở bình diện triết học là dấu ấn của cảm quan hiệnsinh trong các vở kịch phi lí: “Tôi cảm thấy trơ trọi, trơ trọi ở tầm vũ trụ, nhưthể tôi là đấng sáng tạo ra chính bản thân mình” Kẻ cô đơn trong tiểu thuyếtcủa ông cũng là người đã cảm nhận được nỗi lo âu khắc khoải siêu hình Anh
ta cho rằng: “Cuộc sống, thế gian, mọi người tất cả đều là ảo ảnh” và “bị sinh
ra trong đời là nỗi bất hạnh lớn” và cảm thấy cảm giác “buồn nôn” như nhân
Trang 24vật Roquestin trong tiểu thuyết của Sartre “Ở trên bề mặt, tôi đã tính toán
tiền nong một cách máy móc Ở bên dưới, ứ đọng lại tất cả những thứ tư tưởng khó chịu này, những tư tưởng đã mặc lấy hình thức nhữnh lời tru rống không được thốt ra, những mối ngạc nhiên câm lặng và suốt ngày, suốt đêm chúng không rời khỏi tôi nữa Và rồi thì, ở bên dưới nữa, cơn Buồn nôn, còn rụt rè như một buổi bình minh” [51, 427] Nhân vật Roquetin luôn luôn buồn
nôn như một thái độ phản kháng
1.1.3 Vài nét về cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Chủ nghĩa hiện sinh đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội miền Namnhững năm 1954-1975 khi con người khao khát tự do và quyền sống, mongmuốn suy tư về chính tự do và thân phận làm người
Nó có ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống và nghệ thuật: sân khấu, điện ảnh,cải lương, đặc biệt là văn học Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố hiệnsinh trong những tác phẩm văn học cổ như Cung oán ngâm, TruyệnKiều….Tôn giáo trong đó có thiên chúa giáo và phật giáo cũng nhanh chóngtìm được tiếng nói chung với chủ nghĩa hiện sinh Đó là lúc các tác phẩm củaSartre được NXB Khai Trí dịch và in lần đầu năm 1970 Sau giải phóng,những năm 80-90, trào lưu hiện sinh cũng lan rộng Thời đó, một người được
gọi là trí thức phải có một bản dịch cuốn “Buồn nôn” của Sartre gối đầu
giường và phải là bản photo từ cuốn của Thư viện Quốc gia
Những nhà tư tưởng ở chế độ Sài Gòn quan tâm đến cái nhìn đối với đờisống Đời sống được miêu tả như một thảm kịch, một hư vô, như những hố thẳm
và con người bị treo chơi vơi hoàn toàn bất lực Con người hư vô hoá cuộc sống,
hư vô hoá cả lịch sử, không nhận thức được sự vận động của lịch sử
Đây là gian đoạn đen tối của lịch sử, con người sống trong sự khét lẹt củakhói súng, trong sự tuyệt vọng và ám ảnh của cái chết Trong những tác phẩmvăn học của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Thị Hoàng… cái
Trang 25chết, sự hư vô hiện diện thường trực Nguyễn Thị Hoàng ví cuộc sống là một
“thành lũy hư vô”, ở đó ngày lại ngày mọc lên những nấm mồ mới, ngàyChúa nhật cũng chỉ là một bãi chiến trường và ở trong cái “thành lũy hư vô”
đó “không có ánh sáng rực rỡ của sửng sốt ngạc nhiên và nồng nàn của xônxao rung cảm”, mọi cảm xúc bị lịm chìm, chỉ còn lại một người kéo lê cáithân xác trong cõi hồng trần mà thôi Lê Xuyên thường xuyên viết về chếtchóc, về sự khốn khổ của kiếp người Bên cạnh Lê Xuyên, Dương NghiễmMậu được đánh giá là một nhà văn xuất sắc với một lối viết hiện đại, thấmđầy chất hiện sinh, đi sâu vào thân phận con người, phơi bày những cảnh ngộlàm người trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lý
Chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gòn còn chịu ảnh hưởng từ phong trào phản vănhoá Mỹ Nó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng nổi loạn của con người Tuynhiên, nó đã biến đổi khỏi tư tưởng nổi loạn của triết học hiện sinh Không phảitheo mệnh đề - tôi nổi loạn vậy tôi hiện hữu mà là sự nổi loạn chủ yếu hướngtới thoả mãn cá nhân, con người trốn tránh hiện thực khốc liệt của cuộc chiến.Theo Huỳnh Như Phương, “Sau chiến tranh, hoàn cảnh xã hội đã thay đổi,chủ nghĩa hiện sinh không còn chỗ đứng trong sinh hoạt trí thức.” Nhưng chủnghĩa hiện sinh đã trở thành một phần trong đời sống tâm hồn người ViệtNam, nó hướng con người đến cuộc sống tự do, khẳng định nhân vị độc đáocủa mình Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác độngvào quá trình “nhà văn nắm bắt hiện trạng phi lý của thế giới duy lý hoá hiệnđại, thấy được thân phận nhỏ bé của của con người trước nền văn minh kĩthuật của thế giới hiện đại” [47]
Trên thực tế, các nhà văn Việt Nam không đồng thời là những tư tưởng giacủa triết hiện sinh kiểu J.P.Sartre hay A.Camus, họ cũng không là những kẻphục chế những ý tưởng kinh điển của chủ nghĩa hiện sinh Nhưng trong tácphẩm của họ, ở mức độ này hay mức độ khác bộc lộ một tri giác về thực tại
Trang 26và con người mang màu sắc của triết học hiện sinh mà chúng tôi tạm gọi làcảm quan hiện sinh Biểu hiện của cảm quan hiện sinh ở mỗi nhà văn và mỗithế hệ rất khác nhau nhưng theo chúng tôi, đây là một yếu tố khá quan trọngchi phối sâu sắc nội dung và hình thức của văn bản nghệ thuật.
Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, văn học “không chỉ phản ánhhiện thực” mà “suy ngẫm về hiện thực,” “áp sát hiện thực” Nó đi vào thânphận cá nhân với tư cách là nhân vị, sản phẩm của sự không nhất thiết, củangẫu nhiên cho nên nó từ chối đi vào điển hình, dù là tính cách hay hoàn cảnh
điển hình mà chỉ bằng lòng dừng lại ở cái “bản chất cụ thể” [20, 163]
Trong điều kiện hội nhập của nước ta hiện nay, các nhà văn hoàn toàn nắmbắt được hiện trạng phi lí của thế giới duy lí hóa hiện đại, thấy được thânphận nhỏ bé của con người trước nền văn minh kĩ thuật của thế giới hiện đại.Các nhà văn sáng tác theo cảm hứng hiện sinh có thể chịu ảnh hưởng của cácnhà văn nước ngoài do tiếp xúc với các tác phẩm của họ Nhưng trong thờiđại ngày nay, văn học so sánh cho phép chúng ta thấy những vấn đề lớn củathời đại đang đặt ra không chỉ cho một dân tộc mà cho cả hành tinh Nhữngvấn đề ấy mang tính chất toàn cầu và nhân loại Vấn đề thân phận bi thảm củacon người là một trong những vấn đề lớn ấy
Điểm qua các tác giả Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Nguyễn HuyThiệp…ta thấy các tác giả này không đi ra ngoài quỹ đạo của chủ nghĩa hiệnsinh: vấn đề con người như một hiện sinh, như một nhân vị, chối bỏ chứcnăng nhận thức, phản ánh hiện thực của văn học truyền thống, đề cao tâm linh
ở bên ngoài sự chỉ đường của trí tuệ; lấy chủ nghĩa bi quan làm nền tảng Họchưa phải là những tư tưởng gia của chủ nghĩa hiện sinh Họ chỉ là những nhàvăn muốn đưa vào tác phẩm của mình một số ý tưởng nào đó của chủ nghĩahiện sinh Vì vậy, ta khó có thể đòi hỏi họ phải có một hệ thống tư tưởngmang tính đồng kết Chính vì lẽ đó, chúng ta có thể thấy “hiện sinh” ở trong
Trang 27tác phẩm này mà không thấy có ở tác phẩm khác, thậm chí có những phươngpháp sáng tác không giống nhau, cùng chung sống trong một con người,trong một tác phẩm.
Trong cuốn tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng Nguyễn Quang lập
nhìn đời chỉ là những mảnh đời đen và trắng Với Nguyễn Quang Lập, mảnhđen là cái bản năng, là cái vô thức, mảng trắng, mảnh ánh sáng là cái đối lập
Ở tiểu thuyết này, Nguyễn Quang Lập muốn thông qua mảnh trắng để nói vềmảnh đen Một cái thị trấn nhỏ bé đang vận hành bởi những con người duy lýđến cứng nhắc, tiêu biểu là Đại úy Thìn Trong thời khóa biểu của Đại úy,người ta như sờ thấy cái nỗi nhớt nhát, chán chường của các nhân vật kiểuCamus Mỗi con người chỉ là một chi tiết nhỏ trong cái guồng máy ấy “Họđang cô độc trong cái xã hội mười lăm ngàn dân cư ngụ trong thị trấn”, ai sẽ
là người an ủi họ Làm cho con người ta có cảm giác như “đang ngồi dướinấm mồ rờn rợn” và “cái nhà này cũng là một ngục tù chứ đâu xa”
Trong cái ngột ngạt đó, nói theo kiểu của chủ nghĩa hiện sinh, trong cáicộng đồng của những tồn tại thô lậu, con người làm sao tránh khỏi buồn nôn
“Mỗi lúc mỗi ngấy lên nỗi buồn nôn”, “Buồn nôn, có cái gì ghê tởm đang ứđầy trong cổ”, “Trần tục nhìn vào chỉ thấy buồn nôn” Nhưng buồn nôn chỉđến và chỉ có ở những người dám đối diện với cái phần đen của mình Khibản thân họ không thể siêu việt, họ cảm thấy cô đơn, cô đơn như chưa bao giờđược cô đơn
Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng tư tưởng có tính tất yếu do vậy càng phảiphủ định Trái lại hiện sinh có tính không nhất thiết, tính ngẫu nhiên, từ nềntảng hiện sinh đã là một khiếm khuyết do đó đời là một bất đắc dĩ, là một sangã, một bỏ rơi, do vậy từ khởi thủy hiện sinh là một đau khổ, một thảm kịch
Phạm Thị Hoài cho nhân vật của mình trong Thiên sứ suy ngĩ rằng, người
ta không ai quyết định được thay ai, nếu có lựa chọn thì cũng không hề lựa
Trang 28chọn, lựa chọn chỉ là một ngụy tạo bởi vì quyết định táo bạo nhất cũng chỉnảy sinh từ ngẫu nhiên, từ xô đẩy của các dữ kiện.
Trong đối sánh với điều kiện đặc trưng của nền văn hóa phương Đông,chúng tôi nhận thấy: các tác giả chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinhkhông phủ nhận sạch trơn nền văn học truyền thống Viết về nhân vật lịch sửkhông phải để “đập phá thần tượng”, họ coi các nhân vật lịch sử không hiệnsinh, không có nhân vị Vì thế, họ muốn khai thác các nhân vật này theo mộthướng mới: nhìn họ như những cá thể hiện sinh với những sinh hoạt, hammuốn đời thường Nguyễn Huy Thiệp đã cho Nguyễn Trãi vốn là người giàutưởng tượng và là một nhà duy mỹ Chủ nghĩa duy mỹ là biểu hiện của mơtưởng vô thức Do vậy “cái đẹp là thứ không thể bình bầu, không thể tổ chức,không thể rao bán như món hàng chợ phiên” [64, 34]
Cảm quan hiện sinh tiếp tục in dấu trong những sáng tác của những nhàvăn trẻ như Thuận, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà
và đặc biệt đậm nét trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng…
Chúng ta bắt gặp sự ê chề trong thân phận con người qua tác phẩm củaThuận Những con người nhỏ bé, mất tích trong thế giới hối hả của cuộc sống.Rồi họ mất tích trong sự dửng dưng lạnh lùng của người thân Họ là nhữngngười bị lãng quên, những kẻ ngoại lề của cuộc sống
Trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương có sự hoài nghi về thế giới đầyrẫy tranh chấp Thiện - Ác Con người với ám ảnh về “trí nhớ suy tàn”, sự suytàn của lí trí, của những mối quan hệ và chính cuộc sống tẻ nhạt hàng ngày.Con người luôn ấp ủ một chuyến đi, là con người ưu tư của hiện sinh, khôngcam chịu cuộc sống như cỏ cây, khao khát tìm lại nhân vị tự do của mình.Cảm quan hiện sinh như một ám ảnh u buồn day dứt
Trang 29Tất cả những ý tưởng của chủ nghĩa hiện sinh mà chúng ta bắt gặp trongnhững nhà văn trên đã cho thấy có một sự du nhập, chịu sự tác động củanhiều nhà triết học hiện sinh của thế giới trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.Cảm quan hiện sinh - cảm quan về thế giới phi lí, xa lạ, phân rã, về cuộcsống ê chề bi đát của kiếp người luôn là một ám ảnh đối với nhà văn ĐoànMinh Phượng Nó chi phối từ nội dung đến nghệ thuật của tác phẩm ĐoànMinh Phượng đã thể hiện những cảm nghiệm già dặn trong trang viết Chúngtôi cố gắng làm rõ những cảm quan ấy để góp thêm một cách hiểu về nhữngtác phẩm mà nhiều người vẫn cho rằng chúng thiếu đi tính nhân văn hoặc quálai căng.
1.2 Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Bối cảnh hiện sinh với nền tảng văn hoá, xã hội, những dấu ấn thời hậuchiến đã tạo nên cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh PhượngVới Đoàn Minh Phượng viết văn dường như là một hành trình tìm lạinguồn cội, trở về với bản chất thật của mình: “Tôi đang cố gắng dừng lại Cácnhân vật trong truyện của tôi bắt đầu từ sự trở về Chuyện đó mới là khó chứđâu phải dễ như xách vali đi về ngôi nhà cũ là xong.” Bởi “Tôi thấy mình lạclõng và luôn có cảm giác như mình không tồn tại trên mặt đất Như thể mình
bị cắt rời khỏi phần máu thịt của mình” [44]
Đoàn Minh Phượng đã nhiều năm sống ở nước ngoài Cảm thức lưu lạc nhưmột phần vô thức trong con người chị Dường như, chị có nét gì hao hao vớinhân vật của mình hay nhân vật như một mảnh vỡ trong cuộc sống của chị, chịđang lắp ghép chúng với nhau để hoàn thiện đời sống tâm hồn của mình
Đoàn Minh Phượng viết không nhiều, lác đác vài truyện ngắn, tiểu thuyết
“Những tên sách, tên phim thật lạ, cứ gờn gợn buồn rầu, dự cảm bất an vàđích thực đàn bà: Hạt mưa rơi bao lâu , Và khi tro bụi, Tội lỗi hồn nhiên, Mưa
ở kiếp sau…” [73]
Trang 30Những tản văn, tiểu thuyết bắt đầu chào đời vì mục đích ghi lại tâm sự củachị nhiều hơn là nhu cầu viết văn Viết để còn biết mình đang sống Với chị,
“ở trong thế giới mơ hồ của tri thức và sự phân công mạnh mẽ của xã hội hiệnđại, chị thấy người ta xa lạ nhiều, chẳng ai phải chịu trách nhiệm cho ai Màcái sự chịu trách nhiệm đó, theo chị, đó mới là cơ sở bắt đầu của tình thương
yêu, là sợi dây ràng buộc mạnh mẽ nhất giữa người với người ” [44]
Với Đoàn Minh Phượng văn chương là cách thể hiện những trải nghiệm,thông qua những câu chuyện “Viết là cách sắp xếp một kinh nghiệm hay
“nhốt gió” (chữ của nhà văn Bình Nguyên Lộc) một cảm xúc, tìm cách chạmđến những điều ở vùng ven hay đáy của tâm tưởng Cho dù những điều saukhi được viết ra trên giấy không biết sẽ trở thành những sự thật hay mãi lànhững mộng mị Tôi cố gắng trung thành với ý nghĩ hơn là với chữ dù có khi
ý nghĩ còn quá mỏng manh bất định, mà chữ thì dường như đã có dòng chảy
dễ dàng êm xuôi rồi.” [42]
Với chị, sáng tạo có ý nghĩa giản dị: “Tôi cố gắng không để cho sự êm taicủa ngôn ngữ đưa mình đi, mà phải luôn luôn tự hỏi câu mình đang viết cónói được ý nghĩ hoặc cảm xúc - kể cả sự mong manh bất an của tâm tưởng -hay không?”[42]
Chị coi mình là người viết khá lạnh, với cách kể chuyện khá xưa Bởi vớichị “Viết là góp nhặt những đám mây trước khi chúng mất đi: ấn tượng, cảmxúc và ý nghĩ Viết để không tan Viết để chống lại sự mất mát.” [42]
Đọc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, chúng ta bắt gặp nỗi buồn miên viễn.
Nỗi buồn như một ám ảnh của kiếp hiện sinh Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượngviết về những khốc liệt của cuộc sống Đó là những câu chuyện bị lãng quêntrong cuộc sống, chị neo giữ nó qua văn chương với nỗi buồn u uẩn, hoangmang Mỗi câu chuyện giản dị là một ám ảnh
Trang 31Những bi kịch gia đình, những con người nhỏ bé xa lạ với thế giới xungquanh và với chính mình Con người không căn cước, mang sự vô minh, hoàinghi Thế giới phi lí, xa lạ, ám ảnh bởi sự đổ vỡ, hỗn loạn Cảm quan hiệnsinh về thế giới và con người đã để lại trong tác phẩm của chị những khắckhoải, da diết
1.2.1 Tiểu thuyết “Và khi tro bụi”
Cuốn tiểu thuyết được mở đầu bằng một câu thơ của Henry Vaughan
(1622 - 1695) được dịch qua lục bát: “ Và khi tro bụi rơi về
Trong thinh lặng đó cận kề quê hương” [6,49]
Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên là An Mi, có chồng vừa chết
trong một tai nạn, “Chồng tôi mất vì xe rơi xuống núi, ở một đoạn đèo trong
một đám sương mù…Anh ấy đi đâu qua đoạn đường ấy vào ngày ấy, giờ ấy, không một ai biết…Tôi muốn mang chiếc bình lên một ngọn đồi ở miền trung
du, đổ mớ tro của anh xuống đám cỏ và mang chiếc bình không về đặt ở thành cửa sổ, nơi tôi đã đứng suốt bảy ngày nhìn xuống con đường trước nhà Nhưng không ai cho tôi làm như vậy” [7, 49] Khi người chồng đã hóa
thành tro bụi, An Mi thấy hồn mình chỉ là một đám tro Không còn ngườiquen, không còn việc gì trên đời để làm, nơi chốn nào để đến, cô quyết địnhđặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình Mua một chiếc vé xe lửa, An Mi bắt đầuchuyến hành trình ba tháng, để hiểu được mình là ai trước khi chết Sợ rằngnếu ở lâu trên mặt đất, cô sẽ có người quen, có kỷ niệm, có một nơi chốnthuộc về mình An Mi chọn sống trên những chuyến tàu
Mua một cuốn sổ bằng mọi giá để ghi chép quá khứ của mình, An Mikhông biết viết gì lên đó Từng ấy năm tháng sống trên đời, cô chỉ viết gọn
trong hai câu ngắn: “Tôi là một đứa trẻ mồ côi Tôi đến từ một đất nước có
chiến tranh” [37, 49] Hai câu rất ngắn nhưng khó khăn lắm An Mi mới viết
Trang 32ra được Không chỉ người đọc khó khăn lắm mới biết được bí mật này màchính An Mi đến lúc cận kề cái chết mới can đảm nhìn lại nó.
Nhưng rồi khi chuẩn bị tìm đến cái chết, An Mi bất ngờ đọc được câuchuyện của người trực đêm khách sạn Câu chuyện bí ẩn của gia đình anh ta,những điều vô lý không thể chấp nhận được của những con người trong giađình đó đã khiến cô quyết tâm tìm hiểu sự thật, để mang lại sự công bằng cho
kẻ bất hạnh nhất trong câu chuyện của họ - người em bị mất tích Và rồi, khi sựthật được phơi bày cũng là lúc cô phát hiện những bí bật chứa sâu trong tâmhồn mình Có lẽ đó cũng là lúc An Mi hiểu thêm về cái chết của chồng cô…Nhà văn Đoàn Minh Phượng quan niệm rằng: Mỗi người có một câuchuyện, mỗi người là một dòng sông, nó chảy từ nguồn ra tới biển Dòng sông
là thứ chúng ta không thể cắt khúc rồi xóa đi khúc này, khúc nọ được, nó cần
có sự liên tục An Mi lại làm như vậy với đời mình Chỗ nào không vui thìxóa đi, bỏ đi Đến khi cuộc đời quá nhiều lỗ hổng không lấp được thì cô đơnkhông chịu nổi Vì sợ đau đớn, xóa đi những ký ức buồn của mình, vô tìnhxóa cả tình yêu, An Mi đã xóa đi nhiều ký ức quan trọng của cuộc đời mình
và cô phải trả giá Cô chỉ nhận ra điều mình đánh mất khi tro bụi rơi về
1.2.2 Tiểu thuyết “Mưa ở kiếp sau”
So với Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau có một cốt truyện phức tạp hơn.
Chi và Mai - hai chị em sinh đôi nhưng thực ra là hai chị em cùng cha khác
mẹ, Mai là con của chị Liên, Chi là con gái của dì Lan, cũng là hai chị emruột Chi từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm cha, người đã bỏ rơi mẹ cô lúc bà mangthai Khi đến nơi cô gặp hồn ma của Chi Để sắp xếp trả thù người cha bộiphản khi đang tâm giết chết đứa con gái bé bỏng của mình, hồn ma của Chi đãmượn chính thể xác của Mai trong những cơn mộng mị Người em gái dẫndắt, lôi cuốn chị vào một thế giới ma mị, một thế giới của loài người đầy rẫytội ác, lừa gạt, bội phản…
Trang 33Dằn vặt và vùng vẫy giữa lòng thương và lòng căm thù, sự bội phản, ĐoànMinh Phượng đã để cho nhân vật chính của mình kiên nhẫn chờ đợi sự gộtrửa những hận thù Nhưng xung đột chính của câu chuyện không phải là cuộcchiến dai dẳng giữa quá khứ và hiện tại của tội lỗi cần được trừng phạt mà làcuộc giằng xé đau đớn giữa lòng thương của Mai và sự hận thù của Chi Đểrồi Mai đã phải tàn phá thân thể mình để chống lại nỗi hận thù điên cuồng ấy.Tác giả đã giấu kín điều bí mật cho đến tận phút cuối cùng, sự thật là Mai mới
là con gái của dì Lan
Mưa ở kiếp sau là sự tiếp nối mạch cảm xúc u buồn về con người trong
tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Con người không quê hương, gia đình, conngười vừa tìm kiếm vừa trốn chạy trước những khốc liệt của cuộc sống Tiểuthuyết Đoàn Minh Phượng với những ám ảnh hiện sinh đã khơi dậy trong mỗingười những lo âu và bất an
Trang 34CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CẢM QUAN HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐOÀN MINH PHƯỢNG
2.1 Cảm quan về thế giới
Có thể khẳng định ngay rằng bối cảnh xã hội, chính trị, kinh tế của ViệtNam đầu thế kỷ XX với những diễn biến phức tạp của nó là nguyên nhân chủyếu dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong cách nhìn nhận của con người về xãhội, về thế giới xung quanh mình Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống
Mỹ đã cuốn con người vào vòng xoáy của những chiến công, của sự xả thâncống hiến Những đại tự sự đã lên ngôi và giữ vị trí thống soái trong một thờigian dài Nó đã cất lên thành tiếng hát ngợi ca hào sảng làm náo nức say mêhàng triệu trái tim con người Văn chương thời kỳ này cũng mang nhữngtrọng trách lớn lao của lịch sử
Con người thời kỳ này nhìn thế giới như một chỉnh thể thống nhất Không
có sự phân biệt giữa lý tưởng với con người và thời đại Tức là cả ba đã hoàtrộn thành một khối không thể tách rời, thế giới nằm trong sự toàn vẹn, tròntrịa chứa đựng những lý tưởng lớn lao, hoài bão lớn lao Đó là thế giới củanhững câu chuyện anh hùng, của những huyền thoại lung linh nhiều màu sắc,
là thế giới của những lý thuyết lớn mang tính toàn trị có tham vọng chi phối,điều hành toàn bộ đời sống con người Ở đó con người tin tưởng vào tất cảnhững gì đang có, tự hào về những gì đã có và náo nức, hân hoan trước những
gì sẽ có, những lý thuyết lớn được ngưỡng vọng, tôn vinh theo đuổi và khôngngừng được vun đắp Người ta có thể làm tất cả, hi sinh tất cả vì lý tưởng.Trước điều đó người ta thể hiện một thái độ tôn thờ, ngưỡng vọng, trangnghiêm, thành kính Những mỹ từ được sử dụng triệt để có mặt trong tất cảcác văn bản, trong lời nói, trong tiềm thức của cả một dân tộc Bởi thế người
ta theo một phản ứng dây chuyền, đã tôn sùng sự rập khuôn, ưu thích hình
Trang 35mẫu, yêu bề nổi, thích xây dựng những tấm gương lớn để cả dân tộc soichung.
Đó là thời đại cả nước làm cách mạng, cả xã hội đấu tranh, cả dân tộckhông ngủ Con người thời ấy anh hùng, kiên cường, bất khuất, gan dạ, trunghậu đảm đang Cuộc sống khi ấy chỉ tồn tại hai thái cực duy nhất: địch - ta;chỉ tồn tại những ranh giới rõ ràng: đen - trắng, tốt - xấu Con người của thờiđại ấy tin rằng không có gì tồn tại ngoài những anh hùng, những kỳ tích lớnlao Con người cất cao tiếng hát trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong văn cótiếng hát, trong thơ có tiếng hát
Con người tin rằng thế gới là ổn định, bất biến và họ đắm mình trongnhững khúc ca bi tráng hào hùng
Các nhà văn theo một tinh thần chung ấy đã công kênh hiện thực lớn những đại tự sự Ngòi bút của họ dù muốn hay không đều phải tô vẽ cho bứctranh hiện thực đang diễn ra trước mắt Hiện thực trong một khoảng khắc nào
-đó có thể bị xô lệch, xộc xệch nhưng cuối cùng nó sẽ được hàn gắn, lắp ghéplại theo bàn tay và ý muốn chủ quan của người nghệ sỹ Vì thế, đầy ắp trongthời kỳ này là niền tin về chân lý, là sự ngưỡng vọng, tôn sùng Giọng điệuchủ đạo là giọng ngợi ca, tán dương, thán phục Tiếng nói sử thi ấy giữ vị tríthống thoái suốt một thời kỳ dài Không ít nhà văn nói rất to, rất hào sảng và
họ trong một chừng mực nào đó đã bỏ qua tất cả những gì thuộc về cá nhân,những lo âu vụn vặt trong đời sống thường ngày để hướng ống kính vàonhững điều lớn lao, kỳ vĩ
Sau 1975, hiện thực hậu chiến bày ra những trái nghịch mâu thuẫn, éo le của nó Hiện thực đó đã khiến con người phải nhìn nhận khác đi về những đại
tự sự một thời giữ vị trí thống soái
Quá trình nhận thức của con người về hiện thực cuộc sống không phảidiễn ra theo một đường thẳng mà đi theo những con đường khúc khuỷu,
Trang 36quanh co, có nhiều ngã rẽ, góc khuất Đó là cả một cuộc vật lộn, đấu tranh với
hệ thống quan niệm cũ, đấu tranh với thói quen trong chính bản thân mỗingười Trong văn chương các nhà văn đã là người dò dẫm tự tìm lấy đường
đi, tức là xác định lại điểm nhìn hiện thực, vị thế của mình trong bối cảnhmới Người ta không thể dùng mỹ từ cho cuộc sống mới với đủ chiều kích,nghịch lý, mâu thuẫn của nó Đặc biệt đến văn học trong vài chục năm trở lạiđây, các nhà văn đã thể hiện sự tìm tòi và trở về những gì thuộc bản chất củahiện thực Họ đã đưa ra quan niệm mới về thế giới, về xã hội và những gìđang tồn tại xung quanh mình rằng: Cuộc sống chưa bao giờ là một chỉnh thểthống nhất, chưa bao giờ hoàn tất, chưa bao giờ có chân lý cuối cùng, chưabao giờ toàn vẹn
Cái nhìn thế giới mang cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn MinhPhượng đó là thế giới phi lí, xa lạ và phân rã
2.1.1 Thế giới phi lý
Trước khi trở thành một khái niệm triết học thì cái phi lý ấy đã tồn tại từrất lâu trong cảm giác của con người, vì một lẽ con người chỉ cảm thấy mọiđiều không phi lý khi thoã mãn nhu cầu hiểu biết về bản thân và thế giới Trênthực tế điều này lại dường như khó có thể xẩy ra, khi cuộc sống xưa nay vốnluôn nảy sinh và phát triển trên những chuỗi dài hoài nghi và chất vấn Nóicách khác, khi chúng ta đang sống nghĩa là chúng ta đang tạo cơ hội chonhững câu hỏi liên tục, không ngừng Đối với con người, hỏi vừa là niềmkhao khát của trí tuệ, vừa là khát vọng chiếm lĩnh thế giới xung quanh, vừa lànỗi lo lắng, tính toán cho xử thế Một số lớn những câu hỏi đã được nhữngkiến giải hợp thời nhưng còn nhiều rất nhiều, trong số đó vẫn là khoảng trống
và mãi mãi sẽ là khoảng trống, chẳng biết bao lâu mới được lấp đầy Chính tạinơi này, điều phi lý xảy ra Cảm thức phi lý đã tuột khỏi sự thâu tóm, sắp đặt
Trang 37của lý trí Như vậy, tuy không rõ ràng như cái hữu lý nhưng chắc chắn cái phi
lý cũng là điều có thật trong đời
Từ chỗ chỉ tồn tại trong ảo giác, cái phi lý dần dần bước vào phương pháp
tư duy và đóng vai trò ngụy biện, suy luận giải thiết để chứng minh cho chân
lý điều ngược lại Trên phương diện này, có thể xem “những gì tồn tại tráingược với quy tắc lôgíc chỉ là cái hữu hạn, cái phi lôgíc, cái ngoài quy luật,cái chưa hiểu biết mới là cái khôn cùng
Trở thành vấn đề của các triết thuyết khái niệm phi lý trong triết học làmột sự khái quát lại những điều chúng ta cảm nhận qua trực giác, đó là việcthừa nhận sự đầu hàng của trí tuệ, sự bất lực của nhận thức đối với những gìchưa biết nhưng lại hiện hữu hàng ngày trước con mắt chúng ta
Từ đó, có thể cho rằng “tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức,chống lại lý trí, không lý giải được bằng tư duy thì đều được coi là phi lý.Như vậy, cái phi lý là cái phản lý tính” [15, 15] Định nghĩa này của nền triếthọc hiện đại đã được phát triển thành chủ nghĩa phi lý tính Đặc điểm của chủnghĩa này là sự mất đi lòng tin vào lý trí, phủ nhận tư duy khoa học không đủkhả năng để nhận thức chân lý và hiện thực khách quan Thay vào đó, nó lạicho rằng thế giớí chỉ có thể nhận thức được bằng bản năng, bằng ý chí, bằngkinh nghiệm, bằng linh cảm, vô thức và trực giác
Khi giấc mơ đại tự sự tan vỡ, khát vọng khái quát thế giới đối với nhà văntrở nên xa vời Thế giới không còn chuẩn giá trị chung, trở nên bí ẩn, xa lạ,phi lí Thế giới phi lý trong văn học là thế giới của mỗi chủ thể sáng tạo Cóbao nhiêu chủ thể sáng tạo, khám phá cái phi lý thì có bấy nhiêu thế giới phi
lý trong văn học hình thành Có khi là sự phi lý của nhận thức, có khi là sựphi lý của bản thể, có khi là sự phi lý từ nội cảm, có khi là sự phi lý của thựctại bên ngoài, có khi là trạng thái sống của con người nhưng có khi lại là sựkiện phi lý thường nhật
Trang 38Thời kì hiện đại, khoảng cách thế giới và con người ngày càng lớn Sự phi
lí xuất hiện khi có sự tuyệt giao của con người và thế giới Con người tồn tạitrong những thế giới bị phân tách, thế giới của những mảnh lắp ghép: xa lạ, bí
ẩn đối với con người
Con người hiện sinh mang ý thức phản tỉnh Họ khao khát tìm hiểu thếgiới nhưng giấc mộng khám phá, bao quát, chinh phục toàn thế giới nhanhchóng tan vỡ Con người lạc trong mê cung của thế giới, họ bất lực khi nhậnthức và họ chấp nhận thế giới phi lí
Tính chất phi lý của cuộc đời được Đoàn Minh Phượng trình bày ngay từ
những trang đầu của cuốn tiểu thuyết Và khi tro bụi: Cái chết phi lý của người
chồng cũng đã chất dứt cuộc đời của An Mi An Mi không lý giải được cái
chết đột ngột của người chồng “Anh ấy đi đâu qua đoạn đường ấy vào ngày
ấy, giờ ấy, không một ai biết Anh không có việc gì cần làm hoặc người quen
ở vùng con đường ấy dẫn tới Tôi không hoàn toàn hiểu cái chết của anh”
[49, 7] An Mi không thể chấp nhận một thực tế “Chị phải chấp nhận chồng
chị chết rồi Chúng ta ai cũng chết Chị khóc bao nhiêu cũng được nhưng sau
đó thì phải tiếp tục sống như một người bình thường, đừng để cái tang này biến chị thành một hồn ma” [49, 8] Nỗi mất mát quá lớn trong tâm hồn An
Mi quyết định chọn cái chết để kết thúc cuộc đời mình “Tôi đi khỏi nhà, một
ngày nào đó sẽ chết trên đường, ở một nơi chốn không tên Trong ba tháng tôi sẽ nhặt nhạnh lại mình” [49, 12] An Mi chọn cách sống trên những
chuyến xe lửa bởi ở đó sẽ không gặp nhiều người, sẽ không gặp bất cứ ngườinào biết mình là ai, họ mãi mãi là người lạ, mỗi khi nói chuyện với ai đềukhông có lần thứ hai An Mi cần có ba tháng để nhặt nhạnh, cất giữ cái gì
mình có vào một nơi nào đó, lần này không phải là những cái rương “Những
gì tôi có, nó vô hình Tôi chưa biết cất chúng ở đâu, cũng như không ai biết gió thì cất ở đâu Xong việc tôi sẽ uống thuốc độc chết”[49, 13] Cuộc sống
Trang 39trên những con tàu, lang thanh khắp châu Âu, một lần dừng chân An Mi quyếtđịnh nhất thiết phải mua ngay một cuốn sổ bằng mọi giá để ghi lại hình ảnhcủa mình, để định nghĩa chính xác mình là ai trước khi từ giã cuộc đời Ngườitrực đêm khách sạn đã không bán mà tặng An Mi cuốn sổ ấy và cuốn sổ đã
mở đầu cho những bất ngờ liên tiếp Trong đó bày ra một thế giới phi lý vàmột câu chuyện đau thương Một người chồng giết vợ, đứa con trai năm tuổinhìn thấy cha giết mẹ, sợ quá, bỏ chạy vào rừng Người anh trai đã đi tìm em
trong tất cả các khu rừng trong ba năm và đã gặp Marcus trong rừng “Tôi
luôn nghĩ đến Marcus Có gì đẹp tôi cũng giành cho Marcus Em tôi thật tội nghiệp, thật can đảm Marcus” [49, 53] Người anh quyết định bỏ nhà, bỏ
trường ra đi, về tỉnh tìm việc làm, có chỗ ở và tiền để sống rồi quay lại đón
em Sau mười tháng nỗ lự làm việc anh quay lại đón Marcus nhưng khônggặp anh đau đớn tột cùng khóc suốt đêm, đã chờ ba ngày ở trước các cổngtrường tiểu học, đã đi khắp nơi gõ cửa hầu hết mọi căn nhà nhưng không ai
biết gì về Marcus “Tôi vật vã hàng đêm Sáng thứ bảy cuối cùng tôi bình tĩnh
hơn Tôi biết mình cần nhiều thời gian và kiên trì để đi tìm Marcus Tôi không thể buông mình trong tuyệt vọng rồi mất cả em trai lẫn việc làm Tôi quyết định trở lại khách sạn C Tôi phải đi làm thật gương mẫu, để có thể xin nghỉ không lương mà không mất việc Tôi cần phải sắp đặt một chương trình
đi tìm em tôi Trên đời, mọi mục đích đều có thể đạt được, nếu biết sắp đặt cái chương trình đi đến đó và làm đúng không sai” [49, 56] Thế nhưng, cuộc
đời lại là dòng sông mà không theo nguyên lý của dòng chảy chính Thật phi
lý người anh tưởng như có thể hi sinh cả cuộc đời cho người em lại yên phậnvới người tình của cha - người đã giết mẹ, chấp nhận gạt người em - lẽ sống
của anh ra khỏi cuộc đời mình…Cô giáo Sophie là người “Tôi nghĩ tới giọng
nói và bàn tay êm đềm của chị Có những con người sinh ra để ôm ấp người khác khi họ lạnh và khi họ chơi vơi”[49, 101] Sophie đã làm điều đó với cả
Trang 40người cha và Michael Sophie là người biết rõ tường tận bi kịch gia đình củaMichael Vậy mà khi nhìn những tấm ảnh chụp Marcus ở một nhà nuôi trẻ mồcôi phát triển không bình thường đã tự lừa dối đó không phải là Marcus và
câu chuyện tưởng tượng “Mẹ và em Marcus hiện ở Canada, Michael vừa
nhận được thư của hai người” [49, 126] Phi lý hết sức Tất cả mọi giăng mắc
của cuộc đời là một mớ bòng bong phi lý, ngộ nhận và bất khả tri.
Trong Mưa ở kiếp sau, thế giới phi lí là thế giới hư ảo, đầy bí ẩn tăm tối
đan xen trong thế giới thực Thế giới của Chi ám ảnh những người đang sống:buồn bã, u ám, oan khuất Thế giới phi lí đó hiện hữu thường trực, xâm lấnvào thế giới thực tại, nhưng đầy bí ẩn, xa cách với con người Đó là sự mâuthuẫn giữa khát vọng kiếm tìm sự thật và sự tăm tối vĩnh cửu trong thế giớihỗn mang
Hình ảnh Muôn Hoa trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau - Thánh địa của sự
sa đoạ, nơi mà “Thân thể bọn con gái bị vùi dập đau đớn Công việc rất khó
chỉ về mặt tâm lý, mà bọn con gái thì dễ hoang mang Đám con gái cứ không hiểu mình làm gì, tại sao khách lại đòi hỏi những điều lạ lùng ở chúng” [48,
112] Hình ảnh thế giới phi lý đó đầy ở khắp mọi nơi: “Muôn Hoa không phải
là một căn nhà xây trên một miếng đất nào đó, Muôn Hoa ở khắp nơi” [48,
113] Trong thế giới đó, cái phi lý như là bản chất của xã hội, một người bố
có thể giết chết đứa con gái bé bỏng của mình một cách vô tâm: “Cha biết là
tên lái xe sẽ úp cái gối lên mặt con Năm chỉ vàng cha đưa là để trả công hắn làm việc đó thay ông, chứ không phải để hắn mang về quê đưa cho chị họ hắn nuôi em Không có một chị họ nào ở quê hết Cha cũng biết như vậy Thoả thuận giữa cha và tên lái xe không bao giờ được nói ra bằng lời, nhưng
họ đã hiểu nhau tuyệt đối” [48, 175] Trong thế giới phi lý và bất khả tri đạo
đức và mọi giá trị bị đảo lộn: “Tôi cố gắng vượt qua nỗi kinh sợ Tôi kinh sợ